1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HOÀN THIỆN mô HÌNH CUNG cấp DỊCH vụ

118 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 841,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu “Quản lý phi tập trung đối với hệ thống bảo hiểm xã hội và cơ chế huy động sự tham gia của người dân vào việc quản lý hoạt động bảo hiểm xã hội một mô hình phù hợp với các nướ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-o0o -NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG

HOÀN THIỆN MÔ HÌNH CUNG CẤP DỊCH VỤ

CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-o0o -NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG

HOÀN THIỆN MÔ HÌNH CUNG CẤP DỊCH VỤ

CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu trình bày trong luận văn này là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng, kết quả củaluận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Nguyễn Hoàng Phương

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Ðể hoàn thành luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Quản lý kinh tế với đề tài nghiên cứu: Hoàn thiện mô hình cung cấp dịch vụ của Bảo hiểm xã hội Việt Nam”, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, đồng nghiệp và người thân.

Lời đầu tiên tôi xin dành bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới thầy giáo

-TS Nguyễn Thanh Chương là người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướngdẫn cho tôi cả chuyên môn và phương pháp nghiên cứu và chỉ bảo cho tôi nhiều kinhnghiệm trong thời gian thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cám ơn các đồng nghiệp trong Bảo hiểm xã hội Việt Nam đãgiúp đỡ tôi trong quá trình thu thập dữ liệu và cung cấp thông tin của luận văn

Tôi xin chân thành cám ơn các thầy, cô giáo trong Trường Đại học kinh tế - Đạihọc Quốc gia Hà Nội và bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như trongquá trình hoàn thành luận văn này

Sau cùng, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình đã luôn tạo điều kiện tốtnhất cho tôi trong suốt quá trình học cũng như thực hiện luận văn

Mặc dù với sự nỗ lực cố gắng của bản thân, luận văn không tránh khỏi nhữngthiếu sót Tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của quý Thầy, quý Cô, đồngnghiệp và bạn bè để luận văn được hoàn thiện hơn

Tôi xin gửi lời kính chúc sức khỏe và hạnh phúc tới toàn thể Quý thầy cô, bạnbè

Tôi xin chân thành cảm ơn

Trang 6

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT i

DANH MỤC HÌNH VẼ BIỂU ĐỒ ii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH CUNG CẤP DỊCH VỤ CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI 5

1.1 Tổng quan nghiên cứu 5

1.2 Lý luận chung về mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH 8

1.2.1 Định nghĩa mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH 8

1.2.2 Nội dung mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH 12

13

1.2.3 Các tiêu chí đánh giá mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH 15

1.3 Yếu tố ảnh hưởng đến mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH 16

1.3.1 Nhóm yếu tố thuộc môi trường vĩ mô 16

1.3.2 Nhóm yếu tố thuộc cơ quan BHXH 17

1.3.3 Nhóm yếu tố thuộc về đối tượng tham gia BHXH, BHYT 17

1.4 Mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH các nước trên thế giới 17

1.4.1 Mô hình cung cấp dịch vụ BHXH tại Singapore 17

1.4.2 Mô hình cung cấp dịch vụ BHXH tại Vương quốc Anh 18

1.4.3 Mô hình cung cấp dịch vụ BHXH tại Liên bang Nga 20

1.4.4 Mô hình cung cấp dịch vụ BHXH tại Trung Quốc 21

1.4.5 Mô hình cung cấp dịch vụ BHXH tại Ba Lan và Phần Lan 24

1.4.6 Mô hình cung cấp dịch vụ BHXH tại Hàn Quốc 24

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Phương pháp luận 25

2.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 25

2.2.1 Phương pháp phân tích 25

2.2.2 Phương pháp tổng hợp 26

2.2.3 Phương pháp so sánh 27

2.2.4 Phương pháp thống kê mô tả và nghiên cứu tài liệu 27

Trang 7

2.3 Địa điểm và thời gian thực hiện nghiên cứu 28

2.4 Các bước thực hiện và thu thập số liệu 28

2.5 Các công cụ được sử dụng 29

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG MÔ HÌNH CUNG CẤP DỊCH VỤ CỦA BHXH VIỆT NAM HIỆN NAY 30

3.1 Giới thiệu về BHXH Việt Nam 30

3.2 Thực trạng đối tượng tham gia BHXH, BHYT và các mối quan hệ giao dịch với cơ quan BHXH 32

3.2.1 Tổng quan 32

3.2.2 Lĩnh vực BHYT 35

3.2.3 Lĩnh vực BHXH 37

3.3 Thực trạng mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Việt Nam hiện nay 38

3.3.1 Mô hình cung cấp dịch vụ đăng ký tham gia BHXH của BHXH Việt Nam .38

3.3.2 Thực trạng thu các khoản đóng góp của BHXH Việt Nam 44

3.3.3 Thực trạng cấp thẻ BHYT và Sổ BHXH 48

3.3.4 Mô hình chi tiết chi trả quyền lợi BHXH 50

3.4 Đánh giá chung về mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Việt Nam hiện nay 63

3.4.1 Những điểm đạt được 63

3.4.2 Những điểm tồn tại 64

CHƯƠNG 4 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN MÔ HÌNH CUNG CẤP DỊCH VỤ CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM 75

4.1 Định hướng phát triển phát triển Bảo hiểm xã hội Việt Nam đến năm 2020 75

4.2 Giải pháp hoàn thiện mô hình cung cấp dịch vụ của Bảo hiểm xã hội Việt Nam 76

4.2.1 Giải pháp hoàn thiện Mô hình cung cấp dịch vụ đăng ký của BHXH Việt Nam 76

4.2.2 Giải pháp hoàn thiện Mô hình cấp thẻ BHYT, sổ BHXH của BHXH Việt Nam 80

4.2.3 Giải pháp hoàn thiện Mô hình chi tiết chi trả quyền lợi BHXH của BHXH Việt Nam 85

4.2.4 Giải pháp hoàn thiện Mô hình thu của BHXH Việt Nam 88

Trang 8

4.2.5 Giải pháp hoàn thiện hệ thống CNTT đồng bộ để hoàn thiện mô hình cung cấp các dịch vụ của BHXH Việt Nam 91KẾT LUẬN 103DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

Trang 9

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

1 CNTT Công nghệ thông tin

2 BHXH Bảo hiểm xã hội

3 BHYT Bảo hiểm y tế

4 BHTN Bảo hiểm thất nghiệp

Trang 10

DANH MỤC HÌNH VẼ BIỂU ĐỒ

Hình 1.2: Mô hình cung cấp dịch vụ của Bảo hiểm xã hội Việt Nam 13

Hình 1.3: Mô hình cung cấp dịch vụ của Bảo hiểm xã hội Việt Nam 14

theo mô hình giao dịch điện tử 14

Hình 1.3: Mô hình các bước xử lý hồ sơ của Bảo hiểm xã hội Việt Nam 14

theo mô hình giao dịch điện tử 14

Hình 3.1: Mô hình tổ chức cung cấp dịch vụ của Bảo hiểm xã hội Việt Nam 31

Hình 3.2: Mô hình cung cấp dịch vụ đăng ký tham gia BHXH hoàn toàn bằng hồ sơ giấy của BHXH Việt Nam 39

Hình 3.3: Mô hình cung cấp dịch vụ đăng ký tham gia BHXH bằng điện tử qua internet của BHXH Việt Nam 40

Hình 3.4: Mô hình thực hiện chi trả hiện tại - Ốm đau + thai sản ( 1 ) 52

Hình 3.5: Mô hình thực hiện chi trả hiện tại - Ốm đau + thai sản (2) 53

Hình 3.6: Biểu đồ tự động hóa thực hiện chi trả hiện tại - Ốm đau + thai sản 54

Hình 3.7: Mô hình chi trả trợ cấp thất nghiệp hiện tại (1) 55

Hình 3.8: Mô hình chi trả trợ cấp thất nghiệp hiện tại (2) 56

Hình 3.9: Mô hình chi trả trợ cấp thất nghiệp hiện tại (3) 57

Hình 3.10: Biểu đồ tự động hóa thực hiện chi trả chế độ thất nghiệp hiện tại 58

Hình 3.11: Mô hình thực hiện chi trả Hưu trí - Tai nạn lao động - Bệnh nghề nghiệp - Tử tuất hiện tại (1) 59

Hình 3.12: Mô hình thực hiện chi trả Hưu trí - Tai nạn lao động – 60

Bệnh nghề nghiệp - Tử tuất hiện tại (2) 60

Hình 3.13: Biểu đồ tự động hóa thực hiện chi trả Hưu trí - Tai nạn lao động – 61

Bệnh nghề nghiệp - Tử tuất hiện tại 61

Hình 3.14: Mô hình thực hiện chi trả chế độ 62

Hình 3.15: Biểu đồ tự động hóa thực hiện chi trả chế độ 63

Hình 3.16: Mô hình đề xuất cung cấp dịch vụ đăng ký tham gia BHXH của BHXH Việt Nam .77

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo Báo cáo môi trường kinh doanh 2014 của Ngân hàng Thế giới (WB) công

bố về chỉ số nộp thuế, thời gian doanh nghiệp (DN) ở Việt Nam làm thủ tục về BHXH

là 335 giờ/năm (trong tổng số 872 giờ), số lần nộp là 12 lần/năm (trong tổng số 32 lầnnộp thuế) cao hơn mức bình quân chung của các nước Asean Báo cáo trên cho ta thấyđơn vị sử dụng lao động phải tốn nhiều thời gian, công sức và chi phí khi thực hiện cácthủ tục hành chính liên quan đến BHXH, điều này tác động rất lớn đến môi trường đầu

tư và kinh doanh ở Việt Nam Để quyết liệt giải quyết vấn đề trên, Chính phủ đã banhành nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 18/3/2014 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cảithiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và ý kiến chỉ đạocủa Thủ tướng Chính phủ tại thông báo số 288/TB-VPCP ngày 25/7/2014 của Vănphòng Chính phủ trong đó yêu cầu BHXH Việt Nam giảm 1/3 số lần và 50% số giờthực hiện các thủ tục hành chính trong lĩnh vực BHXH, BHYT, BHTN Phấn đấu chỉ

số môi trường kinh doanh của Việt Nam tối thiểu đạt mức trung bình của nhóm nướcASEAN-4 trên một số chỉ tiêu chủ yếu theo thông lệ quốc tế; ngay trong năm 2015phải giảm số giờ giao dịch BHXH xuống dưới 49,5 giờ

Với vị trí, vai trò của một Ngành giao tiếp và phục vụ người dân, người laođộng và đơn vị sử dụng lao động nên ngành BHXH đã xác định được tầm quan trọngcủa việc thực hiện chỉ đạo của Chính phủ về cải cách thủ tục hành chính, giảm giấy tờ

và giảm thời gian giao dịch giữa đơn vị sử dụng lao động với cơ quan BHXH Trongthời gian qua, việc cải cách thủ tục hành chính đã có nhiều chuyển biến quan trọng vàmang lại hiệu quả tích cực, BHXH Việt Nam triển khai nhiều đợt rà soát, cắt giảmgiấy tờ thủ tục hành chính theo khảo sát đề xuất của chính đơn vị sử dụng lao động.Tuy nhiên, theo đánh giá của WB, nếu BHXH Việt Nam không đánh giá lại mô hìnhcung cấp dịch vụ hiện tại từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện mô hình thì ngànhBHXH không thể giải quyết từ gốc của vấn đề và việc cắt giảm thủ tục hành chính vàgiảm thời gian giao dịch BHXH của đơn vị sử dụng lao động không thể tiến xa hơnđược nữa

Hiện nay, mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Việt Nam hiện nay gồm rấtnhiều tác nghiệp thủ công và phải chuyển hồ sơ cứng qua các phòng ban khác nhau mà

Trang 12

chưa có sự trao đổi thông tin giữa các đơn vị (trong ngành cũng như ngoài ngành nhưThuế, Trung tâm giới thiệu việc làm thuộc Bộ Lao động - Thương binh và xã hội), ứngdụng công nghê thông tin trong mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH chưa nhiều, cơsở dữ liệu thông tin về người tham gia còn chưa có, … Chưa đa dạng hóa các hìnhthức và kênh cung cấp dịch vụ BHXH khác nhau Mô hình cung cấp dịch vụ BHXHthời gian qua đã có chuyển biến sau khi BHXH Việt Nam ký hợp đồng chi trả BHXHthông qua bưu điện, đặc biệt sau khi Thủ tướng Chính phủ nhấn nút khai trương cổngthông tin điện tử BHXH vào ngày 18/05/2015 chính thức đưa vào sử dụng hệ thốnggiao dịch điện tử giữa ngành BHXH và đơn vị sử dụng lao động Tuy nhiên các hoạtđộng trên vẫn mang tính chất đơn lẻ và giải quyết tình thế để đẩy nhanh thực hiện nghịquyết 19/NQ-CP mà chưa được triển khai trên một kế hoạch tổng thể nhằm hoàn thiện

mô hình cung cấp dịch vụ BHXH một cách chuẩn mực và phù hợp với hoàn cảnh củaBảo hiểm xã hội Việt Nam hiện nay

Với phân tích trên có thể thấy, đề giảm số giờ giao dịch BHXH xuống dưới49,5 giờ theo chỉ đạo của Chính phủ, đòi hỏi phải hoàn thiện mô hình hình cung cấpdịch vụ của BHXH Việt Nam Với mong vận dụng những kiến thức đã học vào thựctiễn và hoàn thiện mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Việt Nam trong thời gian tới,

tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Hoàn thiện mô hình cung cấp dịch vụ của Bảo hiểm xã

hội Việt Nam” làm luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Quản lý kinh tế tại Trường Đại học

kinh tế, Đại học quốc gia Hà Nội

Câu hỏi nghiên cứu của luận văn: Mô hình cung cấp dịch vụ là gì? Mô hình

cung cấp dịch vụ của Bảo hiểm xã hội Việt Nam là gì? Bảo hiểm xã hội Việt Nam cầnphải thay đổi mô hình cung cấp dịch vụ như thế nào để có thể giảm các thao tác thủcông, rút ngắn thời gian giao dịch cũng như giải quyết hồ sơ?

2 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Mục tiêu chung

Mục đích của luận văn là đi sâu, nghiên cứu, làm rõ những cơ sở lý luận về môhình cung cấp dịch vụ của BHXH đồng thời phân tích thực trạng mô hình cung cấpdịch vụ của BHXH Việt Nam giai đoạn hiện nay để từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện

mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Việt Nam nhằm đáp ứng:

- Đáp ứng chủ trương về cải cách hành chính của ngành BHXH;

Trang 13

- Cải tiến phương thức thực hiện dịch vụ công đối với công dân, doanh nghiệptheo hướng thuận tiện, đơn giản, nhanh chóng khi giải quyết chế độ, chính sáchBHXH, BHYT;

- Đáp ứng về chủ trương hiện đại hóa các hoạt động của BHXH VN dựa trênquá trình đẩy mạnh ứng dụng CNTT theo hướng chính quyền điện tử

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Mô hình cung cấp dịch vụ của Bảo hiểm

xã hội Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu: Trong khuôn khổ đề tài này, đề tài tập trung nghiên cứu,

đề xuất các chính sách, giải pháp một số giải pháp nhằm hoàn thiện mô hìnhcung cấp dịch vụ của Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Phạm vi thời gian: Số liệu được lấy trong giai đoạn 2012-2014

4 Đóng góp của luận văn

- Luận văn góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới môhình cung cấp dịch vụ BHXH nhằm phục vụ tốt cho người lao động, người dân vàdoanh nghiệp, góp phần thúc đẩy cải cách hành chính chung và cải thiện môi trườngkinh doanh quốc gia

- Những định hướng và khuyến nghị của luận văn góp phần đưa ra các gợi ý đểđưa vào chiến lược phát triển ngành BHXH cho giai đoạn 2016-2020; Kế hoạch vàkhung kiến trúc chính phủ điện tử của Ngành

- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, phục vụ cho việc sơ kết, tổngkết, đánh giá về công tác cải cách hành chính của ngành BHXH trong thời gian tới

- Luận văn cũng có thể sử dụng làm tư liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiêncứu cho việc xây dựng CSDL quốc gia về BHXH trong tương lai

Trang 14

5 Những dự kiến đóng góp của Luận văn

 Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, phục vụ cho việc sơ kết, tổngkết, đánh giá về công tác cải cách mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH trongthời gian tới

 Luận văn cũng có thể sử dụng làm tư liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu,xây dựng và phát triển mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH trong tương lai

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, hình vẽ, danh mục tài liệutham khảo, Luận văn bao gồm 4 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Việt Nam

Chương 4: Giải pháp hoàn thiện mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Việt

Nam

Trang 15

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH CUNG CẤP

DỊCH VỤ CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI

1.1 Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học công nghệ hiệnđại, kinh tế trí thức và toàn cầu hoá; xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâurộng, đòi hỏi Việt Nam cần có môi trường kinh doanh thuận lơi, các thủ tục hànhchính cần đơn giản

Các thủ tục hành chính của ngành BHXH Việt Nam là một trong những thủ tụchành chính vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề như: các mẫu biểu hồ sơ quá nhiều, thủ tục rắcrối, thời gian nộp còn tốn nhiều thời gian cho doanh nghiệp

Mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Việt Nam cần có những thay đổi để cảithiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia đang là một yêucầu cấp bách và thiết thực hiện nay khi Thủ tướng Chính phủ tại thông báo số 288/TB-VPCP ngày 25/7/2014 của Văn phòng Chính phủ trong đó yêu cầu BHXH Việt Namgiảm 1/3 số lần và 50% số giờ thực hiện các thủ tục hành chính trong lĩnh vực BHXH,BHYT, BHTN Có khá nhiều công trình của các nhà khoa học, với cách tiếp cận vàphạm vi khác nhau, nghiên cứu phương hướng, giải pháp về mô hình cung cấp dịch vụcủa BHXH Việt Nam Các công trình này là những tiền đề tiêu biểu cho các nghiêncứu của các thế hệ học viên, như:

Bài viết “Mô hình nhà nước phúc lợi kiểu Đông Á và những gợi ý cho Việt

Nam”, (2014) của tác giả Phạm Thị Hồng Điệp Bài viết trình bày về định nghĩa Nhà

nước phúc lợi là nhà nước có trách nhiệm bảo đảm sự phúc lợi và thịnh vượng củangười dân và biết tôn trọng luật lệ quốc tế Đồng thời tác giả đã nêu ra những đặc thùcủa mô hình nhà nước phúc lợi kiểu Đông Á với trường hợp điển hình là Hàn Quốcvới phương châm không cung cấp về tài chính mà chỉ thực hiện chức năng quản lý cácchương trình BHXH Từ kinh nghiệm phát triển hệ thống phúc lợi xã hội kiểu Đông Ácủa Hàn Quốc, tác giả đã đưa ra một số gợi ý cho Việt Nam như: cần vận dụng bài họccủa các nước Đông Á

Nghiên cứu “Cải cách dịch vụ hành chính công ở Việt Nam” (2003) Thuộc

chương trình nghiên cứu: Các giải pháp thúc đẩy cải cách hành chính ở Việt Nam do

Trang 16

TS Nguyễn Ngọc Hiến chủ nhiệm chương trình Tác giả đã phân tích thực trạng cungứng dịch vụ hành chính công trong các cơ quan nhà nước Việt Nam như mô hình “mộtcửa”, mô hình “Trung tâm dịch vụ hành chính công” tại Hà Nội để tìm ra những tồntại, vướng mắc trong cung ứng dịch vụ hành chính công Tác giả nêu nguyên nhân vàđưa ra các giải pháp cải tiến dịch vụ hành chính công

Nghiên cứu “Quản lý phi tập trung đối với hệ thống bảo hiểm xã hội và cơ chế

huy động sự tham gia của người dân vào việc quản lý hoạt động bảo hiểm xã hội một

mô hình phù hợp với các nước cho thu nhập thấp” (Diễn đàn kinh tế, tài chính Việt –

Pháp, Khóa họp lần thứ tư, TP.HCM tháng 9/2003) Tác giả Alain Letourmy (Chuyênviên nghiên cứu cấp cao thuộc Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Cộng hòaPháp – CNRS) đã trình bày những đặc điểm cơ bản của mô hình quản lý phi tập trung

và có sự tham gia của người dân đối với hoạt động bảo hiểm xã hội và những điểmkhác so với các hình thức quản lý khác đối với hệ thống bảo hiểm xã hội Ở phần haitác giả nêu rõ những ưu điểm và nhược điểm của việc áp dụng mô hình này tại cácnước có thu nhập thấp, đồng thời trình bày một số nguyên nhân lý giải cho sự áp dụngrộng rãi mô hình này tại các nước có thu nhập thấp Cuối cùng, tác giả giới thiệu qua

về tình hình thành lập và hoạt động của các tổ chức bảo hiểm xã hội được tổ chức vàquản lý theo mô hình phi tập trung

Bài viết “Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về cung cấp dịch vụ hành

chính công trực tuyến tại thành phố Đà Nẵng” (2013) của tác giả Trương Điện Thắng

đăng trên tạp chí Cổng Thông tin điện tử thành phố Đà Nẵng Tác giả đưa ra các giảipháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về cung cấp dịch vụ hành chính công trựctuyến tại thành phố Đà Nẵng như: Tiếp tục hoàn thiện thể chế pháp lý cho cung cấpdịch vụ hành chính công trực tuyến; Tổ chức, quản lý cung cấp dịch vụ; Xây dựng môhình, lộ trình triển khai cung cấp dịch vụ hành chính công trực tuyến; Nâng cao chấtlượng đội ngũ công chức thực hiện quản lý và cung cấp dịch vụ hành chính công trựctuyến

Bào cáo: “Việt Nam:Phát triển một hệ thống bảo hiểm xã hội hiện đại - Những

thách thức hiện tại và các phương án lựa chọn cho cải cách trong tương lai” (6/2012)

của tác giả Nguyễn Nguyệt Nga (Ngân hàng Thế giới) Tác giả đã chỉ ra những vấn đềquan trọng cần phải đổi mới để phát triển một hệ thống hưu trí hiện đại cho Việt Namnhư: BHXHVN còn yếu về qui hoạch hệ thống công nghệ thông tin và năng lực hỗ trợ

Trang 17

Cần phải có một kế hoạch về công nghệ thông tin đồng bộ để phát triển môi trườngthông tin chung cho những nhiệm vụ chuẩn như thu phí bảo hiểm, tính toán trợ cấphưu trí, chi trả trợ cấp hưu trí Cần nhiều cố gắng hơn nữa để mở rộng độ bao phủ của

hệ thống bảo hiểm bắt buộc và của khu vực tự kinh doanh/phi chính thức, tăng cườngcông bằng, đảm bảo bền vững tài chính, và củng cố công tác thực thi và quản lý

Bào cáo: “Việt Nam:Phát triển một hệ thống bảo hiểm xã hội hiện đại - Những

thách thức hiện tại và các phương án lựa chọn cho cải cách trong tương lai” (6/2012)

của tác giả Nguyễn Nguyệt Nga (Ngân hàng Thế giới) Tác giả đã chỉ ra những vấn đềquan trọng cần phải đổi mới để phát triển một hệ thống hưu trí hiện đại cho Việt Namnhư: BHXHVN còn yếu về qui hoạch hệ thống công nghệ thông tin và năng lực hỗ trợ.Cần phải có một kế hoạch về công nghệ thông tin đồng bộ để phát triển môi trườngthông tin chung cho những nhiệm vụ chuẩn như thu phí bảo hiểm, tính toán trợ cấphưu trí, chi trả trợ cấp hưu trí

Bào cáo: “Cải tiến các quy trình nghiệp vụ thu Bảo hiểm xã hội Việt Nam”

(2015) Nhóm tư vấn Ngân hàng Thế giới (WB) Báo cáo đã rà soát quy trình nghiệp

vụ và tìm ra điểm mạnh, điểm yếu của Mô hình cấp, thu, đăng ký hiện hành để đưa ranhững khuyến nghị như: Mã số định danh duy nhất cho đơn vị sử dụng lao độn /đốitượng nộp tiền; Mã định danh duy nhất cho người tham gia BHXH; Quy định về traođổi thông tin giữa BHXH Việt Nam và Tổng cục Thuế

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nói trên về cải cách hành chính ở ViệtNam Chưa có một công trình nghiên cứu nào đi sâu vào việc phân tích thực trạng,tổng hợp các điểm mạnh, điểm yếu những điểm còn tồn tại của Mô hình cung cấp dịch

vụ của BHXH Việt Nam Nhằm bổ sung thêm một nghiên cứu cụ thể và đưa ra nhữnggiải pháp thiết thực để cải các thủ tục hành chính của ngành BHXH Việt Nam thôngqua việc hoàn thiện mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Việt Nam, tôi đã lựa chọn

đề tài mang tên “Hoàn thiện mô hình cung cấp dịch vụ của Bảo hiểm xã hội Việt Nam”

làm đề tài nghiên cứu của luận văn Những vấn đề lý luận và thực tiễn về cải cáchhành chính công và BHXH trong các tài liệu, nghiên cứu nói trên là tài liệu tham khảo

vô cùng quý giá và bổ ích để tác giả kế thừa, sử dụng, vận dụng và phát triển trongcông trình nghiên cứu của mình

Với những nội dung trong luận văn này, tác giả mong muốn sẽ góp phần hoànthiện Mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Việt Nam Luận văn xin kế thừa và tiếp

Trang 18

thu có chọn lọc những kết quả nghiên cứu đã công bố có liên quan để phục vụ cho mụcđích nghiên cứu của mình.

1.2 Lý luận chung về mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH

1.2.1 Định nghĩa mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH

* Mô hình cung cấp dịch vụ:

Hiện nay hầu hết các lĩnh vực hoạt động của con người đều được thực hiện theocác mô hình ở những mức độ khác nhau, đặc biệt đối với lĩnh vực điều khiển các hệthống như kỹ thuật và xã hội Bởi vì điều kiển chính là quá trình thu nhận thông tin,nhận dạng thông tin đó cần xử lý như thế nào và đưa ra quyết định thích hợp Quátrình này được tiếp diễn liên tục nhằm đưa hệ thống vận động theo một mục tiêu địnhtrước

Mô hình cung cấp dịch vụ là khuôn khổ, cách thức hoạt động, cách thức,phương thức cung cấp dịch vụ của chủ thể cung cấp dịch vụ dựa trên cơ cấu, phươngthức tổ chức hoạt động và các yêu cầu về chất lượng dịch vụ được đưa ra

* Mô hình cung cấp dịch vụ BHXH:

Mô hình cung cấp dịch vụ BHXH là khuôn khổ, cách thức hoạt động cung cấpdịch vụ, quy định trình tự và thời gian thực hiện các nghiệp vụ bảo hiểm, các quá trình,các bước giải quyết hồ sơ yêu cầu với đầy đủ thông tin của đối tượng tham gia do cơquan BHXH cung cấp cho người lao động và đơn vị sử dụng lao động

Như vậy mô hình cung cấp dịch vụ BHXH là hình thức và công cụ mô tả sựgiải quyết của đơn vị bảo hiểm theo yêu cầu của các đối tượng tham gia bảo hiểm vàcác đối tượng tham gia bảo hiểm cần cung cấp đầy đủ theo mẫu biểu của bảo hiểm xãhội đưa ra

Để thực hiện chính sách BHXH, ở một số nước, một cơ quan Chính phủ đượcgiao vừa đảm nhận cả chức năng quản lý nhà nước về BHXH và vừa tổ chức thực hiệncác nghiệp vụ BHXH, cung cấp dịch vụ BHXH (thường là Bộ Lao động hoặc Bộ Phúclợi xã hội, hoặc Bộ lao động và an sinh xã hội…) Đa số các nước hoạt động BHXH(quản lý quỹ, quản lý đối tượng, thực hiện thu - chi BHXH) được coi là một loại dịch

vụ công, được giao cho một hoặc một số cơ quan BHXH độc lập đảm nhận Các cơquan này hoạt động dưới sự điều hành của Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng quản lý

Trang 19

Dù mô hình có thể được tổ chức khác nhau, nhưng hoạt động sự nghiệp BHXHvới tư cách là hoạt động dịch vụ công, có những chức năng chung là:

(i) Quản lý đối tượng tham gia BHXH (bao gồm cả người tham gia và ngườithụ hưởng BHXH);

(ii) Tổ chức thu - chi trả các trợ cấp BHXH;

(iii) Quản lý hoạt động tài chính BHXH (gồm cả đầu tư tăng trưởng QuỹBHXH)…

Về mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH, có thể nêu một số mô hình điển hình

là Đức, Trung quốc và Ba lan

Nước Đức là nước có lịch sử phát triển BHXH sớm nhất Ngay từ những năm

50 của Thế kỷ XIX, dưới thời Tể tướng Bismark, những điều luật BHXH đầu tiên đãđược ban hành Cho đến nay, hoạt động BHXH của Cộng hoà Liên bang Đức thựchiện với ba hệ thống là: Hệ thống BHXH bắt buộc; Hệ thống BHXH tư nhân; Hệthống BHXH ở các xí nghiệp

Một trong những đặc thù trong mô hình cung cấp dịch vụ BHXH của Cộng hoàLiên bang Đức là có sự phân chia ra việc quản lý và thực hiện các chế độ BHXH.Không có các tổ chức BHXH thực hiện cùng một lúc nhiều chế độ, mà thông thườngmỗi tổ chức chỉ chịu trách nhiệm cho một số chế độ nhất định Do đó, người lao động

có thể tham gia vào các hệ thống BHXH khác nhau Ví dụ, công chức Nhà nước khôngphải đóng BHXH theo tiền lương cá nhân, nhưng phải đóng thuế chung, trong đó cóphần để đảm bảo các chế độ hưu Công chức có thể tham gia vào hệ thống BHXH tưnhân để có mức thụ hưởng cao hơn (ngoài mức do hệ thống của Nhà nước chi trả) Cónhiều tổ chức cùng tham gia thực hiện các chế độ BHXH, trong đó có các tổ chứcBHXH tư nhân, đã giúp cho hoạt động BHXH có hiệu quả hơn, người lao động có cơhội được thụ hưởng BHXH tốt hơn Với mô hình tự quản này, có thể có một số cơquan BHXH khác nhau, thực hiện cho các nhóm đối tượng khác nhau như BHXH chonhững người lao động trong ngành đường sắt, BHXH cho lao động ngành hàng không,BHXH cho cảnh sát và quân đội…

Đối với mô hình cung cấp dịch vụ BHXH của Trung quốc, các chế độ BHXHchỉ được áp dụng ở các khu vực thành thị và trong các doanh nghiệp Tại các địaphương, nhất là ở vùng nông thôn Trung Quốc có thể vận dụng các chế độ BHXH ápdụng ở khu vực thành thị để cụ thể hoá thực hiện các chế độ BHXH khác nhau, nhưng

Trang 20

chủ yếu là chế độ là hưu trí và thất nghiệp Như vậy, ở Trung quốc thực hiện mô hình

đa tầng (thành thị, doanh nghiệp và nông thôn) Cách quản lý có tính tự quản caonhưng vẫn dưới sự kiểm soát của nhà nước

Ở Ba Lan, mô hình cung cấp dịch vụ BHXH được tổ chức khá phức tạp, đadạng Về quản lý nhà nước có 3 bộ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về BHXH là

Bộ Lao động và chính sách xã hội (quản lý các chế độ hưu, thất nghiệp, trợ cấp giađình, TNLĐ, BNN, một phần chế độ ốm đau và thai sản ); Bộ Nông nghiệp và pháttriển nông thôn (thực hiện một phần chế độ hưu trí, một phần chế độ TNLĐ và BNN,một phần chế độ ốm đau và thai sản; BHXH cho nông dân và quản lý quỹ BHXH nôngdân); Bộ y tế (quản lý chế độ chăm sóc y tế và quỹ BHYT) Theo mô hình này, BHXHcho nông dân là một nhánh riêng, hoạt động độc lập, theo quy định của pháp luật.Ngoài ra, trong hệ thống BHXH còn có loại hình Quỹ hưu trí mở (Open PensionFunds), để những người tham gia các hệ thống nêu trên có thể tham gia thêm (tựnguyện), để có mức thụ hưởng BHXH cao hơn Hệ thống BHXH cho nông dân(KRUS) mặc dù do nhà nước lập ra (chủ tịch KRUS do Thủ tướng bổ nhiệm), nhưngtoàn bộ hoạt động do một Hội đồng điều hành, gồm đại diện nhà nước, đại diện tổchức xã hội - nghề nghiệp, đại diện nghiệp đoàn của những người nông dân cá thể KRUS ngoài trụ sở chính có 16 chi nhánh trong toàn quốc và 256 văn phòng địaphương

Về mô hình cung cấp dịch vụ BHXH, như đã nêu, dù là nằm trong một Bộ hoặc

là cơ quan độc lập nhưng đa số các nước đều thành lập Hội đồng quản trị hoặc Hộiđồng quản lý BHXH để điều hành các hoạt động sự nghiệp BHXH Hội đồng quản trị/quản lý là cơ quan cao nhất thực hiện chính sách BHXH của mỗi quốc gia Hội đồngnày gồm đại diện của nhà nước, đại diện người lao động (công đoàn) và giới chủ Hộiđồng hoạt động tương tự như Hội đồng quản trị trong các doanh nghiệp/công ty Giámđốc/Tổng giám đốc BHXH do Hội đồng quản trị/quản lý bầu ra Có một số nước,ngoài Hội đồng quản trị/quản lý trung ương còn có Hội đồng quản trị/quản lý Vùnghoặc Bang, ngành… Nhìn chung, Hội đồng quản trị/quản lý chỉ đạo điều hành hoặcđiều hành toàn bộ các hoạt động của hệ thống sự nghiệp BHXH

* Các mô hình cung cấp dịch vụ BHXH

Trang 21

Do nhu cầu thực tế của người lao động và trên cơ sở những đặc điểm kinh tế

-xã hội của mỗi quốc gia, hiện nay trên thế giới có nhiều mô hình cung cấp dịch vụBHXH, như:

- Mô hình BHXH nhà nước thuần túy Theo mô hình này, chỉ có một tổ chức

BHXH thực hiện các chính sách BHXH của nhà nước Mô hình này có đặc điểm làquản lý được đối tượng trong thị trường lao động (dù có thuộc thành phần kinh tế nào,thuộc khu vực có quan hệ lao động hay không thuộc khu vực có quan hệ lao động );

có quỹ BHXH lớn, đủ khả năng chi trả các trợ cấp BHXH trong mọi trường hợp Tuynhiên, mô hình thường có xu hướng hoạt động cứng nhắc, hành chính hóa, cửa quyền

- Mô hình BHXH quốc gia và BHXH ngành (bắt buộc) Ở một số nước, ngoài

hệ thống BHXH quốc gia, pháp luật BHXH cho phép BHXH ngành/lĩnh vực, donhững đặc thù về nghề nghiệp Ví dụ, hệ thống BHXH quốc gia chỉ quản lý nhữngngười lao động; hệ thống BHXH cho công chức, thực hiện các chế độ BHXH chocông chức và viên chức công; hệ thống BHXH cho quân đội (sĩ quan); hệ thốngBHXH cho nhân viên hàng không; đường sắt (gọi chung là BHXH ngành) Ưu điểmcủa hệ thống này là tạo ra tính đa dạng trong hoạt động BHXH; gắn kết người thamgia BHXH làm việc lâu dài cho ngành và thực hiện được những chế độ đặc thù, ví dụ,đối với công chức và sĩ quan quân đội, không thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp.Nhược điểm của mô hình này là, khi người lao động di chuyển trong thị trường laođộng (ra khỏi ngành chẳng hạn), việc tính toán BHXH sẽ phức tạp Tuy nhiên, với việcứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, thì việc này sẽ được giải quyết không khókhăn

- Mô hình BHXH kết hợp giữa bắt buộc và tự nguyện Đây là mô hình nhằm (i)

nâng cao khả năng thụ hưởng cho người lao động và (ii) tạo điều kiện cho người laođộng dễ dàng di chuyển trong thị trường lao động Đối với trường hợp thứ nhất, ngườilao động có thể vừa tham gia BHXH bắt buộc vừa tham gia BHXH tự nguyện (củamột hệ thống) để mong có được lợi ích cao hơn khi thụ hưởng BHXH; hoặc chỉ thamgia BHXH bắt buộc hoặc chỉ tham gia BHXH tự nguyện Đối với trường hợp thứ hai,người lao động có thể tham gia vào một hoặc một số hệ thống BHXH (ví dụ hệ thốngBHXH quốc gia và hệ thống BHXH ngành) Ưu điểm của mô hình này là tạo ra tính

đa dạng trong hoạt động BHXH, tạo cơ hội tốt nhất cho người lao động, tùy thuộc vàođiều kiện cá nhân để tham gia Hạn chế của mô hình này là tính phức tạp trong quản lý

Trang 22

quỹ và quản lý đối tượng Tuy nhiên, cũng như trên, với sự ứng dụng của công nghệthông tin hiện đại, điều này cũng sẽ được khắc phục.

Các mô hình trên chỉ có thể thực hiện được có hiệu quả khi có cơ chế “liênthông” trong hoạt động BHXH Trong kinh tế thị trường “liên thông” trong hoạt độngBHXH là cần thiết, khách quan đối với các hệ thống BHXH

Đối với Việt Nam, chính sách BHXH là thống nhất, do Nhà nước ban hành Cơ quan thực hiện chính sách BHXH hiện nay là BHXH Việt Nam Mô hình cung cấp dịch

vụ của BHXH Việt Nam là mô hình BHXH nhà nước thuần túy.

1.2.2 Nội dung mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH

* Mô hình cung cấp dịch vụ BHXH theo mô hình một cửa BHXH

Hơn 15 năm qua, Nhà nước ta đã quan tâm nhiều đến việc cải thiện dịch vụhành chính trong giải quyết mối quan hệ với tổ chức và công dân thông qua Chươngtrình tổng thể về cải cách hành chính, đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính theohướng đơn giản, công khai và thuận tiện cho người dân Quá trình này được đánh dấubằng sự ra đời Nghị quyết 38-CP ngày 4/5/1994 của Chính phủ về cải cách một bướcthủ tục hành chính trong giải quyết công việc của công dân, tổ chức Tiếp đó, Quy chếthực hiện cơ chế “một cửa” ở các cơ quan nhà nước và chính quyền địa phương đượcban hành theo Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg ngày 4/9/2003 của Thủ tướng Chínhphủ Ngày 20/6/2006 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 144/2006/QĐ-TTg về việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO9001:2000 vào hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước Tiến thêm một bướcnữa, ngày 10/1/2007 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 30/QĐ-TTg phêduyệt Đề án đơn giản hoá thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giaiđoạn 2007-2010 (gọi tắt là Đề án 30) và ngày 22/6/2007 Thủ tướng Chính phủ cóQuyết định số 93/2007/QĐ-TTg về ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, mộtcửa liên thông tại các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương thay thế cho Quyếtđịnh số 181/2003/QĐ-TTg nhằm hoàn thiện hơn nữa việc thực hiện cơ chế “một cửa”cho phù hợp với từng loại thủ tục hành chính

Thực hiện Quyết định số 884/QĐ-BHXH ngày 25/8/2011 của Tổng Giám đốcBHXH Việt Nam về việc Ban hành Quy định tiếp nhận và trả kết quả giải quyết cácthủ tục hành chính về BHXH, BHYT

Trang 23

Mô hình “một cửa” liên thông là sự phối hợp giữa bộ phận “Một cửa” với các

bộ phận nghiệp vụ tại BHXH quận, huyện được khoa học, đồng bộ theo quy trình khépkín, qua đó, xây dựng được một cơ chế điều hành thống nhất trong cơ quan, tập trungđầu mối để xử lý hiệu quả công việc cho mọi tổ chức, cá nhân, đồng thời giảm bỏ cáckhâu trung gian không cần thiết, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân đếngiao dịch tại cơ quan BHXH để giải quyết các chế độ chính sách BHXH, BHYT nhanhchóng mà không phải đến trực tiếp từng bộ phận chuyên môn, phòng chuyên môn

Hiện nay, BHXH tại các quận huyện áp dụng mô hình cung cấp dịch vụ BHXHtheo mô hình một cửa BHXH có thể được khái quát như sau:

Hình 1.1: Mô hình cung cấp dịch vụ của Bảo hiểm xã hội Việt Nam

* Mô hình cung cấp dịch vụ BHXH theo mô hình giao dịch điện tử

Mô hình cung cấp dịch vụ BHXH theo mô hình giao dịch điện tử là mô hìnhgiao dịch hồ sơ giữa đơn vị sử dụng lao động và cơ quan BHXH thông qua chươngtrình phần mềm mà không cần đến cơ quan BHXH

- Lợi ích của mô hình giao dịch điện tử:

+ Tiết kiệm thời gian giao dịch;

+ Thống nhất được nội dung công việc;

+ Tiết kiệm chi phí đi lại;

+ Chấp nhận hồ sơ điện tử, giảm thủ tục hồ sơ giấy;

+ Nhanh chóng, thuận lợi

Đầu ra

(Văn bản, giấy tờ hành chính)

Kết quả của đầu ra/ tác động

CƠ QUAN BHXH

CƠ QUAN BHXH

ĐƠN VỊ GIAO DỊCH HỒ SƠ ĐIỆN TỬ

Trang 24

Hình 1.3: Mô hình cung cấp dịch vụ của Bảo hiểm xã hội Việt Nam

theo mô hình giao dịch điện tử

Hình 1.3: Mô hình các bước xử lý hồ sơ của Bảo hiểm xã hội Việt Nam

theo mô hình giao dịch điện tử

Mô hình các bước xử lý hồ sơ của Bảo hiểm xã hội Việt Nam theo mô hìnhgiao dịch điện tử như sau:

Bước 1: Đơn vị thực hiện kê khai hồ sơ điện tử Thu BHXH, BHYT, BHTN bắtbuộc từ chương trình iBHXH sau đó chuyển file hồ sơ được lập qua chương trìnhBHXH Signing để ký

Bước 2: Sau khi hồ sơ của đơn vị được ký thì chuyển hồ sơ thông qua Cổngthông tin điện tử BHXH Việt Nam

Bước 3: Cổng thông tin điện tử BHXH Việt Nam sẽ tự động chuyển hồ sơ điện

tử do đơn vị nộp vào phần mềm iQLBH của cơ quan BHXH

Bước 4: Phòng, bộ phận Thu sau khi nhận được hồ sơ từ Cổng thông tin điện tửchuyển đến trên chương trình iQLBH Cán bộ chuyên quản sau khi kiểm tra hồ sơ củađơn vị trình lên lãnh đạo phòng, bộ phận Thu duyệt Sau khi lãnh đạo duyệt hồ sơ hợp

lệ Cán bộ chuyên quản thực hiện import số liệu vào chương trình SMS

PHÒNG, BỘ PHẬN TIẾP NHẬN VÀ QUẢN LÝ

HỒ SƠ

PHÒNG, BỘ PHẬN TIẾP NHẬN VÀ QUẢN LÝ

HỒ SƠ

PHẬN THU PHÒNG, BỘ PHẬN THU

PHÒNG, BỘ PHẬN SỔ THẺ

PHÒNG, BỘ PHẬN SỔ THẺ

Giao dịch trực tiếp

B1

BHXH Signing Signing BHXH Giao dịch

điện tử

Cổng thông tin điện tử BHXH Việt Nam

Cổng thông tin điện tử BHXH Việt Nam

B5

B6b

B6

a

Trang 25

Bước 5: Cán bộ phòng, bộ phận Sổ thẻ nhận hồ sơ điện tử từ phòng, bộ phậnThu, kiểm tra và xử lý.Sau khi thực hiện xong thì bàn giao thẻ BHYT, sổ BHXH chophòng Tiếp nhận & Quản lý hồ sơ.

Bước 6a: Đối với đơn vị thực hiện giao nhận hồ sơ qua Bưu điện thì thực hiệnnhư sau:

Bưu điện đến đơn vị nhận bộ hồ sơ BHXH bản gốc và phiếu hẹn sau đó nộp bộ

hồ sơ này cho phòng Tiếp nhận & Quản lý hồ sơ đồng thời nhận kết quả về cho đơn vị

Bước 6b: Đối với đơn vị thực hiện giao nhận hồ sơ trực tiếp tại cơ quan BHXH.Đơn vị mang bộ hồ sơ BHXH bản gốc và phiếu hẹn đến nộp cho phòng Tiếpnhận & Quản lý hồ sơ của cơ quan BHXH và đồng thời nhận kết quả

Trường hợp hồ sơ hoặc dữ liệu chưa hợp lệ thực hiện như sau:

Bước 7: Phòng, bộ phận Thu phát hiện hồ sơ điện tử do đơn vị nộp lên khônghợp lệ thì CBCQ thực hiện gửi email thông báo cho đơn vị

Bước 8: Trường hợp phòng, bộ phận Sổ thẻ phát hiện dữ liệu và hồ sơ chưađúng, báo lại phòng, bộ phận Thu để thực hiện điều chỉnh

1.2.3 Các tiêu chí đánh giá mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH

1 Tiêu chí phản ánh yếu tố cấu thành đầu vào mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH

Các yêu cầu dịch vụ của Đối tượng tham gia BHXH chính là nhu cầu hay mongđợi của Đối tượng tham gia BHXH với những dịch vụ mà họ cần thụ hưởng Các yêucầu của Đối tượng tham gia BHXH tuy là thuộc về chính người dân, nhưng việc thểhiện các yêu cầu này dưới một hình thức nhất định lại do cơ quan BHXH Việt Namđặt ra (hồ sơ BHXH) Vì vậy, nếu bộ hồ sơ này gồm nhiều loại giấy tờ và Đối tượngtham gia BHXH khó thực hiện (thể hiện ở cách viết hoặc điền vào nhiều mẫu biểukhác nhau) thì sẽ gây khó khăn cho Đối tượng tham gia BHXH trong việc thoả mãnnhu cầu của mình Như vậy, các yêu cầu về hồ sơ hành chính cũng là tiêu chí đánh giá

mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Hơn nữa, việc giới hạn địa điểm và thời giantiếp nhận hồ sơ bảo hiểm bản cứng cũng là một tiêu chí quan trọng đánh giá mô hìnhcung cấp dịch vụ của BHXH

2 Tiêu chí về quá trình giải quyết các yêu cầu của cán bộ, công chức

Sau khi tiếp nhận các yêu cầu của Đối tượng tham gia BHXH, quá trình giảiquyết hồ sơ phải trải qua các bộ phận khác nhau Hồ sơ càng phải chuyển qua nhiều bộphận thì càng có dễ có sai sót, và cho thấy sự kết nối, trao đổi thông tin giữa các bộ

Trang 26

phận (trong và ngoài ngành BHXH) rất yếu và kém hiệu quả đồng thời khiến thời gian

xử lý hồ sơ bị kéo dài Đây chính là tiêu chí quan trọng đánh giá mô hình cung cấpdịch vụ của BHXH

3 Tiêu chí phản ánh đầu ra của mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH

Đầu ra của mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH là kết quả giải quyết các yêucầu của Đối tượng tham gia BHXH, thể hiện bằng những văn bản, giấy tờ hành chính

mà Đối tượng tham gia BHXH nhận được từ các cơ quan hành chính nhà nước Đểđánh giá kết quả này, cần xem xét ở ba tiêu chí sau:

Thứ nhất, kết quả trả cho Đối tượng tham gia BHXH có đúng thời gian quyđịnh hay không

Thứ hai, khoảng thời gian giải quyết công việc trong bao lâu Điều này thuộctrách nhiệm của cơ quan BHXH

Thứ ba, những kết quả trả cho Đối tượng tham gia BHXH có chính xác haykhông Nếu thiếu chính xác, sẽ gây phiền toái cho người dân khi sử dụng những giấy

tờ đó vào việc thoả mãn một nhu cầu nào đó

1.3 Yếu tố ảnh hưởng đến mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH 1.3.1 Nhóm yếu tố thuộc môi trường vĩ mô

1.3.1.1 Những thay đổi về luật pháp, thể chế

BHXH Việt Nam đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng Chính Phủ, sựquản lý Nhà nước của Bộ Lao động Thương binh - Xã hội và các cơ quan quản lý Nhànước có liên quan Chính vì vậy, sự thay đổi Luật BHXH và Luật BHYT, hay cácNghị quyết, chính sách của Chính phủ về lĩnh vực hành chính, BHXH, BHYT,BHTN… đều có sự ảnh hưởng đến mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Đặc biệt,trong năm 2015, khi Luật BHXH mới và Luật BHYT mới có hiệu lực, BHXH ViệtNam cần xem xét để điều chỉnh mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH tuân theo sự chỉđạo của Chính phủ

1.3.1.2 Sự phối hợp đồng bộ giữa các Ngành BHXH, Thuế, Công an và tư pháp

Trong hoạt động của mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Việt Nam, còn có sựliên quan đến thông tin, số liệu giữa các Ngành BHXH, Thuế, Công an và tư pháp Vìvậy, sự phối hợp đồng bộ giữa các Ngành BHXH, Thuế, Công an và tư pháp sẽ gópphần giúp hoàn thiện hơn mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH

Trang 27

1.3.1.3 Mức độ phổ cập CNTT trên toàn quốc.

Hiện nay, các ứng dụng CNTT ngày càng phát triển, mức độ phổ cập CNTTtrên toàn quốc sẽ góp phần làm cho những cải cách của mô hình cung cấp dịch vụ củaBHXH thiết thực và hiệu quả hơn

1.3.2 Nhóm yếu tố thuộc cơ quan BHXH

1.3.2.1 Những thay đổi về tổ chức của cơ quan BHXH

1.3.2.2 Tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ của BHXH cho phù hợp với định hướng pháttriển CNTT

1.3.2.3 Sự quan tâm chỉ đạo sát sao của lãnh đạo BHXH và Ngân sách dành cho pháttriển CNTT

1.3.2.4 Nguồn nhân lực CNTT của BHXH

Để mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH hoàn thiện hơn cần các giải pháp ứngdụng CNTT trong mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Để làm được điều này thìnguồn nhân lực BHXH là một yếu tố quyết định

1.3.2.5 Khả năng phổ biến các dịch vụ BHXH, BHYT đến người tham gia BHXH

1.3.3 Nhóm yếu tố thuộc về đối tượng tham gia BHXH, BHYT

1.3.3.1 Khả năng sử dụng CNTT

1.3.3.2 Mức độ quan tâm đến lĩnh vực BHXH, BHYT

1.4 Mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH các nước trên thế giới

1.4.1 Mô hình cung cấp dịch vụ BHXH tại Singapore

Tại Singapore, Quỹ Dự phòng Trung ương (CPF) ở Singapore đóng vai trò làđơn vị quản lý BHXH CPF vẫn được coi là mô hình tiêu chuẩn cho quản lí BHXHtrên thế giới

Điểm nổi bật của triết lý CPF là chú trọng đến dịch vụ khách hàng CPF là mộttrong những cơ quan BHXH thân thiện nhất với khách hàng trên thế giới CPF đã đạttới những cấp độ rất cao trong việc thông tin với, và tham gia vào, quỹ được thuận tiệncho người sử dụng lao động và người lao động Hiện có các công nghệ tiên tiến chophép giao tiếp thông tin thường xuyên và hiệu quả giữa Quỹ và các bên có liên quan.Một lợi ích cụ thể là sử dụng điện thoại thông minh và các ứng dụng khác cho phépcác doanh nghiệp nhỏ thực hiện trực tuyến các việc chuyển dữ liệu và đóng phí bảohiểm cho Quỹ

Trang 28

Bản thân CPF trực tiếp thu phí bảo hiểm và thực hiện giám sát đối với cácdoanh nghiệp có quy mô từ 123.000 nhân viên Quỹ hoàn toàn có quyền đưa ra cáchình thức phạt đối với các doanh nghiệp vi phạm.

Một chi tiết đáng quan tâm là mã số nhận dạng cá nhân của quỹ ban đầu doCPF khởi xướng sau đó đã được sử dụng thành Mã số Nhận dạng Cá nhân Quốc gia(SINGPass) và nay được cấp bởi Bộ Nội vụ nhưng được sử dụng cho các tương tác cánhân giữa mọi cơ quan chính phủ

CPF cũng khác biệt so với nhiều cơ quan BHXH khác ở điểm việc đầu tư củaQuỹ được thực hiện bởi một cơ quan là một "cánh tay" hiệu quả của Bộ Tài chính

Mặc dù chi phí quản lí chiếm tỷ lệ thấp và mức độ công nghệ hóa cao, cơ quannày vẫn có số nhân viên tương đối lớn (1600) so với số lượng người tham gia bảohiểm không nhiều, 3,38 triệu, trong đó khoảng một nửa, 1,74 triệu có tham gia đóngbảo hiểm theo ủy quyền của họ trong 3 tháng gần đây Hiện có gần 400 cán bộ làmviệc tại bộ phận CNTT là minh chứng cho nỗ lực xác định trọng tâm là công nghệ đểcung cấp dịch vụ có chất lượng cao

Sự tương tác giữa CPF và các cơ quan Chính phủ khác thông qua kết nối cơ sở

dữ liệu của CPF với các CSDL của các Bộ khác ở mức độ cao Việc nhập dữ liệu vàomột CDSL, ví dụ đăng kí một doanh nghiệp mới, sẽ được chuyển tự động tới tất cả cácCSDL có liên quan

1.4.2 Mô hình cung cấp dịch vụ BHXH tại Vương quốc Anh

Việc đóng phí bảo hiểm cho Chương trình BHXH Anh được thực hiện thôngqua dịch vụ thu (HMRC) trong khi các quyền lợi bảo hiểm được tính toán và chi trảthông qua dịch vụ hưu trí (cũng là cơ quan chịu trách nhiệm về chăm sóc xã hội và cácdịch vụ khác cũng như chi trả lương hưu) Việc đóng sẽ được thực hiện chung cho mọiloại hình an sinh xã hội theo quy định của chương trình BHXH Anh ngoại trừ các vấn

đề về tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp Ở Anh các bảo hiểm này do doanh nghiệpđóng riêng theo chính sách bảo hiểm cụ thể với các nhà bảo hiểm tư nhân

Số lượng doanh nghiệp đóng bảo hiểm và vào dữ liệu điện tử hàng tháng đến cơquan Dịch vụ Thu ngày càng tăng cao

Có sự tách biệt giữa chi trả các quyền lợi bảo hiểm - dịch vụ y tế và tài trợ cho

cơ sở y tế là trách nhiệm của Cơ quan Y tế trực thuộc cơ quan Dịch vụ Y tế Quốc gia.Các dược phẩm có trong danh sách quốc gia được phê duyệt và được kê đơn bởi các

Trang 29

cán bộ y tế được đăng kí được cấp cho người tham gia bảo hiểm với chi phí tối đa là7,2 Bảng Anh Mức này bằng khoảng 1% mức lương tuần trugn bình quốc gia Dolương hưu được chi trả bởi Dịch vụ Hưu trí, quyền lợi bảo hiểm thất nghiệp và mấtkhả năng thuộc trách nhiệm của Cơ quan Lao động và Hưu trí thông qua các Trungtâm Việc làm.

Trách nhiệm đảm bảo thu bảo hiểm thuộc về Dịch Vụ Thu Dịch vụ Thu thựchiện kiểm toán các doanh nghiệp mọi yếu tố về nộp thuế và được đưa ra các hình phạtđối với các trường hợp vi phạm Đối với lao động tự do (tự làm công cho bản thân),việc áp đặt đóng bảo hiểm là một vấn đề lớn đối với thuế thu nhập cá nhân Việc đóngbảo hiểm của đối tượng này tỷ lệ với mức thu nhập hộ tự kê khai để nộp thuế Thực tế

có hiện tượng che dấu thu nhập rõ ràng ở nhóm đối tượng này với những người nhậnthù lao bằng tiền mặt cho các dịch vụ và không kê khai với cơ quan Dịch vụ Thu, vớimục đích trốn thuế TNCN Các quyền lợi BHXH đối với người lao động tư do khôngrộng rãi như với các lao động tại các doanh nghiệp

Mỗi người dân trên 16 tuổi (kể cả khi còn đi học và chưa đi làm) đều được nhậnmột Mã số Nhận dạng bảo hiểm Quốc gia cho cả đời Người đủ tư cách về bảo hiểmquốc gia, sẽ được nhận một thẻ bảo hiểm quốc gia (bằng nhựa) cho cả đời - thẻ không

có ảnh Trên thẻ chỉ có mã số (có 2 chữ cái - 6 chữ số và một chữ cái ở cuối, tên vàngày sinh của chủ thẻ) Mã số này được sử dụng cho cả BHXH và các vấn đề về thuế

Cơ quan Dịch vụ Y tế Anh có nhiều điểm tương tự Việt Nam - một người đăng

kí với một cơ sở khám chữa và trong điều kiện bình thường chỉ được đến khám chữatại cơ sở đó Các trường hợp cấp cứu có thể được chấp nhận tại mọi cơ sở y tế nhưngviệc điều trị không cấp cứu cần có sự ủy quyền của cơ sở y tế đã đăng kí đối với cơ sở

dự định điều trị Việc điều trị tại bệnh viện có thể mất nhiều thời gian, do vậy tỷ lệtham gia BHYT tư nhân trong tổng dân số ngày càng cao, nhằm tránh tình trạng chậmchễ trong các bệnh viện công do việc cho phép điều trị tại các bệnh viện tư nhân

Cá nhân cần điều trị y tế phải đăng kí với bác sỹ của mình (tuy nhiên do nhucầu, có thể không thể đăng kí được với bác sỹ mong muốn) Để đăng kí với ngườihành nghề y đòi hỏi phải có thẻ đăng kí do Quỹ ủy thác y tế địa phương cấp vào lầnđầu tiên cá nhân đó đi khám chữa bệnh ở trong nước Thẻ này cần được thay đổi khi cánhân/gia đình thay đổi địa chỉ thường trú

Trang 30

Nước Anh có cơ sở cho việc đóng bảo hiểm của người lao động khác so với laođộng tự do Người lao động đóng phí bảo hiểm tại nguồn, khấu trừ hàng tháng bởidoanh nghiệp cùng với các loại thuế khác như GTGT, thuế thu nhập doanh nghiệp màdoanh nghiệp phải thực hiện Người lao động tự do đóng BHXH bao gồm trong tổng

số "thuế" mà họ nộp Việc đóng bảo hiểm này thực hiện hàng năm - thông thường làsau 8 tháng

Thông tin đóng bảo hiểm được cơ quan Dịch vụ Thu cấp cho cơ quan Dịch vụHưu trí Quy trình lưu giữ sổ sách ở Anh đơn giản hơn nhiều do cấu trúc quyền lợi ỞAnh, những khác biệt về lương hưu chỉ là do thời gian công tác khác nhau Hai ngườihưởng lương hưu có thời gian đóng bảo hiểm tối đa là 30 năm nhận cùng một mứclương hưu, không phụ thuộc vào mức lương họ nhận khi làm việc Họ có thể nhậnđược lương hưu cao hơn do các đặc thù cá nhân nhưng không được chi trả từ BHXH

Nước Anh không thực sự phát triển trong việc sử dụng công nghệ trong cungcấp thông tin tới người tham gia Ví dụ người tham gia không thể truy cập trực tuyếnthông tin cá nhân của mình Đối tượng muốn có thông tin về các quyền lợi đượchưởng cần gửi yêu cầu bằng văn bản tới cơ quan liên quan

Thực tế ở Anh cho thấy một số ví dụ qua đó thấy được nhu cầu giám sát thậntrọng việc ứng dụng CNTT Cho đến nay đã có 2 sự cố liên quan đến ứng dụng CNTT

Sự cố đầu tiên là trong lĩnh vực lương hưu do chi phí và thời gian cho việc tái pháttriển CNTT vượt quá dự kiến và sự cố thứ hai liên quan đến nỗ lực kết nối tất cả cácbác sỹ với một cơ sở dữ liệu sau đó đã phải chấm dứt giữa chừng

1.4.3 Mô hình cung cấp dịch vụ BHXH tại Liên bang Nga

Mô hình cung cấp dịch vụ BHXH của Nga rất thú vị do ngay sau sự tan rã củaLiên bang Xô Viết, các yếu tố của chương trình xã hội được hình thành bởi đóng gópcủa các doanh nghiệp và việc thu phí được thực hiện bởi các quỹ Hiện các doanhnghiệp đóng góp vào 3 quỹ - quỹ thứ nhất là cho lương hưu, quỹ thứ hai là cho khuvực BHYT liên bang và quỹ thứ ba là cho khu vực BHYT tương đương với cấp độtỉnh ở Việt Nam Các doanh nghiệp khấu trừ thuế TNCN và chuyển cho Thanh traThuế Nhà nước tách biệt với các đóng góp BHXH

Trong một thời gian dài việc trốn nghĩa vụ bảo hiểm thường xuyên ở mức rấtcao - các doanh nghiệp không báo cáo một mức lương thống nhất lên cả 3 quỹ Từ

2001 được quyết định hình thành hệ thống thuế thống nhất Theo đó các doanh nghiệp

Trang 31

khấu trừ và nộp các khoản thuế TNCN, BHXH, BHYT lên cơ quan Thanh tra ThuếNhà nước Lí do đưa ra đề xuất này là mức độ tham gia sẽ tăng lên do không còn tồntại khả năng báo cáo các mức lương khác nhau lên các cư quan khác nhau Một lí dokhác là do có sự giám sát của Cơ quan thuế, các doanh nghiệp sẽ báo cáo và nộp bảohiểm đúng thời hạn và đầy đủ hơn

Tuy nhiên ở Nga, mô hình và thực tế triển khai có nhiều khác biệt so với cácnước khác trên thế giới Tỷ lệ tổng thu của các quỹ xã hội liên tục giảm Nguyên nhân

là do quản lí kém việc tuân thủ chính sách của Thanh tra Thuế Nhà nước - các doanhnghiệp nhanh chóng nhận ra rằng cơ quan này có rất ít quyền lợi trong việc bảo đảmrằng các doanh nghiệp đóng các loại phí bảo hiểm nghiêm túc Và nếu việc nộp thuếđược thực hiện nghiêm túc thì Thanh tra Thuế cũng có rất ít quyền lợi trong việc bảođảm ở mức độ cao việc phân bổ chi trả cho các quỹ xã hội Hậu quả là các doanhnghiệp ngay lập tức triển khai việc nộp thuế đầy đủ, nhưng gần như không nộp cácloại phí bảo hiểm, dẫn đến các vấn đề nghiêm trọng về nguồn thu của các quỹ này

Năm 2010, Liên bang Nga quyết định quay về phương thức các khoản nộp choquỹ xã hội do doanh nghiệp thực hiện được chuyển trực tiếp đến các quỹ xã hội và y

tế Với việc này, các quỹ đã có thực quyền hơn

1.4.4 Mô hình cung cấp dịch vụ BHXH tại Trung Quốc

Trung Quốc có đầy đủ các loại hình bảo hiểm tương tự như Việt Nam Mặc dùcác chính sách được đưa ra ở cấp trung ương, nhưng do số lượng thực tế người thamgia hệ thống BHXH, các công việc hành chính được thực hiện ở cấp tỉnh Hiện TrungQuốc nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật của Liên minh Châu Âu trong lĩnh vực BHXH, hỗtrợ 6 tỉnh

Có 4 vấn đề lớn liên quan đến việc quản lí BHXH ở Trung Quốc

Thứ nhất là mọi người dân Trung Quốc đều được cấp mã sỗ nhận dạng quốcgia Mã số này được cấp bởi cơ quan tương tự như Bộ Nội vụ của Việt Nam Ngoại trừkhi đi ra nước ngoài cần sử dụng hộ chiếu với số hộ chiếu riêng, mã số nhân dạngquốc gia được sử dụng chung cho tất cả các cơ quan chính quyền để nhận dạng ngườidân Thẻ có ảnh cá nhân và được cấp đổi với thời hạn 10 năm cho người lớn Ngoài racòn có hệ thống đăng kí khác gọi là "houkou" (hộ khẩu) nhưng hệ thống này liên quanđến việc đăng kí thường trú chính thức của người dân Ví dụ công dân làm việc trong

Trang 32

các cơ quan nhà nước khi chính thức chuyển từ một địa điểm sang địa điểm mới sẽđược cấp hộ khẩu mới.

Vấn đề thứ hai là Chính phủ Trung Quốc thừa nhận CNTT là then chốt đối vớiviệc quản lí hiệu quả chương trình BHXH Chính Phủ phát triển chương trình "Bảohiểm vàng" theo đó cung cấp nguồn vốn quan trọng cho các cơ quan BHXH cấp tỉnh

để xây dựng các hệ thống CNTT địa phương Trong phần lớn trường hợp, khoản kinhphí do Chính Phủ cấp cho CNTT được cấp có điều kiện, là các cơ quan BHXH địaphương cần đánh giá phân tích các quy trình nghiệp vụ của mình Tuy nhiên ở phầnlớn các địa phương còn tồn tại nhiều vấn đề liên quan đến việc truyền thông còn phảitriển khai Ở phần lớn các địa phương chưa có các CSDL hiệu quả do việc truyền dữliệu từ một cấp tới một cấp khác trong hệ thống BHXH còn hạn chế Nhưng không thểnói rằng chưa có tỉnh nào thực hiện được việc này, tuy nhiên những tỉnh thành công lànhững địa phương như Bắc Kinh, Thượng Hải, có diện tích nhỏ và có năng lực truyềnthông tương đối mạnh

Thứ ba, Trung Quốc có những vấn đề tồn tại tương tự Việt Nam trong lĩnh vựcBHYT Thực tế tồn tại việc thanh toán vượt mức đối với các bác sỹ và kê đơn vượtmức đối với việc cấp phát thuốc Để phần nào khắc phục tình hình này (đây là vấn đềthực tế đối với đa số các quốc gia trên thế giới), đòi hỏi mọi cơ sở y tế có hệ thốngmáy tính kết nối với CSDL BHYT và với văn phòng BHXH địa phương để có thểgiám sát theo thời gian thực việc thanh toán của hệ thống BHYT Mặc dù trong quyềnhạn thì cơ quan này không ngăn ngừa tình trạng gian lận, nhưng văn phòng BHXH cóthể thẩm tra CSDL để có các thông tin thống kê và sử dụng các số liệu thống kê đểtăng cường kiểm tra giám sát các bác sỹ và nhà thuốc Hệ thống này có thể cung cấpcác thông tin về các kết luận chuẩn đoán của các nhân viên y tế để tìm ra các trườnghợp gian lận, họ cũng có thể xác định các xu hướng sử dụng thuốc để xác định xemcác bác sỹ liên tục kê đơn các loại thuốc không gốc hay không, các hệ thống có thểkiểm soát việc thanh toán hóa đơn thuốc và đảm bảo việc cấp phát thuốc được giám sátnhằm giảm thiểu việc cấp phát vượt mức ở một địa điểm trong khi không cung cấp đủở địa điểm khác

Ở các địa phương nhận được hỗ trợ kỹ thuật, thực hiện triển khai chương trìnhchú trọng về quy trình nghiệp vụ Ví dụ tốt nhất về vấn đề này là ở tỉnh Hồ Nam, vănphòng BHXH địa phương đã viết lại toàn bộ chương trình máy tính, tuy nhiên như đã

Trang 33

nói ở trên, việc viết lại chương trình này được thực hiện sau khi phân tích kết quả đánhgiá toàn bộ quy trình nghiệp vụ hiện hữu Ví dụ đối với lĩnh vực hưu trí, việc đánh giáquy trình nghiệp vụ đề xuất giảm 99 tác nghiệp thủ công xuống còn 33 Đã có nhiềutranh luận về khả năng tiếp tục giảm số lượng tác nghiệp thủ công, tuy nhiên vấn đềnày được hoãn lại để xem xét 24 tháng sau khi triển khai các phần mềm cũng như quytrình nghiệp vụ mới.

Kết quả chủ yếu của việc xây dựng các quy tình nghiệp vụ và phần mềm mới làviệc giảm mức độ gian lận trong ghi chép các dữ liệu đóng bảo hiểm và chi trả lươnghưu Hệ thống lương hưu dựa trên cơ sở mức lương hàng tháng và số tháng đóng abỏhiểm Các quy trình mới và phần mềm liên quan đã xây dựng hệ thống kiểm soát bổsung đối với hệ thống Các cá nhân không thể tự chỉnh sửa dữ liệu đóng bảo hiểm màkhông tham vấn với cấp giám sát và quy trình đỏi hỏi sự tương tác với hồ sơ đóng bảohiểm của doanh nghiệp nhằm đảm bảo rằng tổng số tiền đóng bảo hiểm của tất cả nhânviên phải bằng số tiền mà doanh nghiệp chuyển trả cho cơ quan bảo hiểm

Đối với việc chi trả đã có nhiều cải tiến quan trọng trong kiểm soát nội bộ Đây

là một trong những vấn đề gây nhiều tranh luận nhất Trước đây, các nhân viên có thểthực hiện tính toán và phê chuẩn mức lương hưu, tạo điều kiện cho tham nhũng vàgian lận khi đưa ra mức lương hưu cao hơn cho bạn bè, gia đình, người thân Hiện naynhân viên ở cấp thấp nhất của tổ chức không được quyền phê chuẩn mức lương hưunữa - đây là nhiệm vụ của cấp giám sát cao hơn, là cấp được phe echuân rmức lươnghưu trên thực tế Các địa phương chi trả lương hưu qua tài khoản ngân hàng ngày càngnhiều hơn Việc này là quan trọng nếu không người được hưởng hưu trí sẽ phải đềnghị cơ quan BHXH chi trả thông qua cán bộ ở cấp xã (hiện có cán bộ BHXH xã vàcán bộ BH y tế xã là những người nhận và chi trả lương hưu)

Trung Quốc cũng phải đối mặt với những vấn đề tương tự Việt Nam - như chưa

có quy định pháp lí về chữ kí điện tử Các doanh nghiệp ngày càng sử dụng công nghệ

để gửi dữ liệu đóng BH nhiều hơn tới các cơ quan BHXH địa phương, tuy nhiên bản

dữ liệu điện tử không được chấp nhận trong trường hợp có tranh chấp pháp lí về mứclương hưu do văn phòng bảo hiểm xác định Việc này đòi hỏi có văn bản tài liệu intrên giấy tuy nhiên ở nhiều địa phương cơ quan BHXH chấp thuận tài liệu có chữ kítrên bản tóm lược hàng năm chứ không yêu cầu phải nộp tài liệu in trên giấy hàngtháng Ở một số địa phương như Thượng Hải, Bắc Kinh, việc quét tài liệu (scan) được

Trang 34

thực hiện để lưu trữ điện tử các tài liệu giấy để có thể in ra khi có tranh chấp Các địaphương khác từ chối phương pháp quét tài liệu này do vấn đề chi phí và thực tế hiệnnay đó được coi là hình thức "phô tô copy đắt đỏ".

Ở Trung Quốc hiện có nhiều kinh nghiệm khác nhau về thu phí bảo hiểm Phầnlớn các tỉnh đòi hỏi doanh nghiệp chuyển dữ liệu và chuyển phí bảo hiểm trực tiếp đến

cơ quan BHXH Một số ít các địa phương khác như tỉnh Sha'an lại sử dụng mô hìnhthu bảo hiểm đặc thù, theo đó phí bảo hiểm được chuyển đến cơ quan Thuế Số 6 tỉnhnhận được hỗ trợ kỹ thuật của EU lại không bị các ưu điểm của việc chuyển tráchnhiệm thu phí bảo hiểm đến cơ quan Thuế thuyết phục

1.4.5 Mô hình cung cấp dịch vụ BHXH tại Ba Lan và Phần Lan

Các nước này được đề cập đến do việc họ có chính sách BHXH cho nông dân

và công nhân nông nghiệp Ở cả 2 nước này có hệ thống BHXH cho lao động nôngnghiệp và các người phụ thuộc vào họ tách biệt với hệ thống BHXH chung Các hệthống này dựa trên mức đóng góp - ở Ba Lan mức đóng góp dựa trên diện tích đất củangười nông dân còn ở Phần Lan thì dựa trên số lượng nông sản người nông dân bán rathị trường Trong cả 2 trường hợp, phí đóng bảo hiểm chỉ bằng khoảng 10% tổng mứcchi trả quyền lợi bảo hiểm, khoản thiếu hụt được bù bởi ngân sách nhà nước và đượctính như khoản trợ giá cho lĩnh vực nông nghiệp

1.4.6 Mô hình cung cấp dịch vụ BHXH tại Hàn Quốc

BHXH tại Hàn Quốc do 4 cơ quan nhà nước cung cấp 4 loại hình Bảo hiểm(BHXH, BHYT, Bảo hiểm tai nạn lao động, Bảo hiểm thất nghiệp) Người lao độnghoặc doanh nghiệp có thể lựa chọn hình thức nộp hồ sơ, nộp tiền, vay tiền trực tuyếntrên mạng internet; đến trụ sở cơ quan BHXH trong giờ làm việc hoặc thông qua cáccửa hàng 24h Sử dụng 1 tờ khai duy nhất cho cả 4 loại Bảo hiểm nêu trên (sắp tới sẽkhai chung với tờ khai Thuế) và được số hóa gửi lên Trung tâm G4C (Group 4Copration) Tại đây hệ thống tự động tách số liệu về cho 4 cơ quan nêu trên

Trang 35

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Phương pháp luận

Phương pháp luận là hệ thống lý luận về phương pháp nghiên cứu, phươngpháp nhận thức và cải tạo hiện thực; là hệ thống chặt chẽ các quan điểm, nguyên lý chỉđạo việc tìm kiếm, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp Tất cả nhữngnguyên lý nào có tác dụng gợi mở, định hướng, chỉ đạo đều là những lý luận vànguyên lý có ý nghĩa phương pháp luận Mặc dù vậy, triết học macxit với tư cách làphương pháp luận chung nhất và phổ biến không thể thay thế phương pháp luận củacác khoa học cụ thể

Phương pháp duy vật biện chứng: Là phương pháp luận nghiên cứu, xem xét sựviệc, hiện tượng trong các mối liên hệ, ảnh hưởng tác động lẫn nhau không ngừng nảysinh, vận động và giải quyết mâu thuẫn làm cho sự vật phát triển

Phương pháp duy vật lịch sử: Là phương pháp luận nghiên cứu duy vật về lịch

sử phát triển của xã hội loài người Chính đời sống vật chất quyết định đời sống tinhthần của con người

Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và phương pháp luậnduy vật lịch sử để phân tích đánh giá thực trạng mô hình cung cấp dịch vụ của BHXHViệt Nam giai đoạn 2011-2014, để từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện mô hìnhcung cấp dịch vụ của BHXH Việt Nam cho thời gian tới

2.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể

2.2.1 Phương pháp phân tích

Phân tích trước hết là phân chia cái toàn thể của đối tượng nghiên cứu thànhnhững bộ phận, những mặt, những yếu tố cấu thành giản đơn hơn để nghiên cứu, pháthiện ra từng thuộc tính và bản chất của từng yếu tố đó, và từ đó giúp chúng ta hiểuđược đối tượng nghiên cứu một cách mạch lạc hơn, hiểu được cái chung phức tạp từnhững yếu tố bộ phận ấy

Khi chúng ta đứng trước một đối tượng nghiên cứu, chúng ta cảm giác đượcnhiều hiện tượng đan xen nhau, chồng chéo nhau làm lu mờ bản chất của nó.Vậymuốn hiểu được bản chất của một đối tượng nghiên cứu chúng ta cần phải phân chia

nó theo cấp bậc

Trang 36

Nhiệm vụ của phân tích là thông qua cái riêng để tìm ra được cái chung, thôngqua hiện tượng để tìm ra bản chất, thông qua cái đặc thù để tìm ra cái phổ biến.

Khi phân chia đối tượng nghiên cứu cần phải: Xác định tiêu thức để phân chia;Chọn điểm xuất phát để nghiên cứu; Xuất phát từ mục đích nghiên cứu để tìm thuộctính riêng và chung

Trong Luận văn của mình, tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích trong quátrình tiếp cận với đối tượng nghiên cứu là mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Đểhiểu được mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH là gì, trước tiên chúng ta cần phảihiểu được các khái niệm về mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH và mô hình cung cấpdịch vụ của BHXH, nội dung và các tiêu chí đánh giá mô hình cung cấp dịch vụ củaBHXH

Phương pháp phân tích không chỉ được tác giả sử dụng triệt để trong Chương 1khi đề cập đến các vấn đề mang tính lý luận mà còn được tác giả sử dụng trong hầu hếtcác phần còn lại của Luận văn

2.2.2 Phương pháp tổng hợp

Bước tiếp theo của phân tích là tổng hợp Tổng hợp là quá trình ngược với quátrình phân tích, nhưng lại hỗ trợ cho quá trình phân tích để tìm ra cái chung cái kháiquát Từ những kết quả nghiên cứu từng mặt, phải tổng hợp lại để có nhận thức đầy

đủ, đúng đắn cái chung, tìm ra được bản chất, quy luật vận động của đối tượng nghiêncứu

Phân tích và tổng hợp là hai phương pháp gắn bó chặt chẽ, quy định và bổ sungcho nhau trong nghiên cứu và có cơ sở khách quan trong cấu tạo, trong tính quy luậtcủa bản thân sự vật Trong phân tích, việc xây dựng một cách đúng đắn tiêu thức phânloại làm cơ sở khoa học hình thành đối tượng nghiên cứu bộ phận ấy, có ý nghĩa rấtquan trọng Trong nghiên cứu tổng hợp vai trò quan trọng thuộc về khả năng liên kếtcác kết quả cụ thể (có lúc ngược nhau) từ sự phân tích, khả năng trừu tượng, khái quátnắm bắt được mặt định tính từ rất nhiều khía cạnh định lượng khác nhau

Phương pháp tổng hợp giúp tác giả đưa ra những nhận định và đánh giá kháiquát về vấn đề nghiên cứu trong luận văn của mình Ngay từ Chương 1, khi giới thiệutổng quan về tình hình nghiên cứu, từ việc đề cập đến các công trình nghiên cứu ởnước ngoài và trong nước, tác giả đã tóm tắt, tổng hợp lại những vấn đề chính có liên

Trang 37

quan đến việc cải cách thủ tục hành chính và tái cấu trúc BHXH Việt Nam nói chung

và vấn đề mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH nói riêng

2.2.3 Phương pháp so sánh

So sánh (hoặc so sánh đối chiếu) là một thao tác nghiên cứu được dùng trongnhiều ngành khoa học khác nhau Vai trò quan trọng ít hay nhiều của thao tác nghiêncứu này là tùy thuộc vào đặc điểm bản chất của đối tượng nghiên cứu, và do đó vàonhiệm vụ của ngành khoa học nghiên cứu đối tượng ấy Có những ngành khoa học nếukhông vận dụng phương pháp nghiên cứu so sánh thì không thể giải quyết nổi nhữngvấn đề cơ bản phát sinh trong quá trình nghiên cứu đối tượng

Phương pháp so sánh được tác giả sử dụng khá triệt để trong Chương 3 của luậnvăn khi nghiên cứu về thực trạng mô hình cung cấp dịch vụ công BHXH Việc phântích thực trạng dựa trên phân tính tính hợp lý của các quy trình nghiệp vụ; của mô hìnhcung cấp dịch vụ của BHXH Việt Nam hiện nay, đưa ra đánh giá và khuyến nghị, từ

đó đề xuất sâu hơn về giải pháp

2.2.4 Phương pháp thống kê mô tả và nghiên cứu tài liệu

Thống kê là một hệ thống các phương pháp bao gồm thu thập, tổng hợp, trìnhbày số liệu, tính toán các đặc trưng của đối tượng nghiên cứu nhằm phục vụ cho quátrình phân tích, dự đoán và ra quyết định

Thống kê mô tả là các phương pháp có liên quan đến việc thu thập số liệu, tómtắt, trình bày, tính toán và mô tả các đặc trưng khác nhau để phản ánh một cách tổngquát đối tượng nghiên cứu, ở đây chính là thực trạng của các quy trình nghiệp vụ.Thống kê và so sánh là hai phương pháp được sử dụng song hành với nhau trong luậnvăn Các phương pháp thống kê mô tả, thống kê phân tích được sử dụng trong quátrình nghiên cứu luận văn để phân tích thực trạng mô hình cung cấp dịch vụ của bảohiểm xã hội Các phương pháp này cũng giúp cho việc tổng hợp tài liệu, tính toán các

số liệu được chính xác, phân tích tài liệu được khoa học, phù hợp, khách quan, phảnánh được đúng nội dung cần phân tích

Phương pháp nghiên cứu tài liệu: là phương pháp thu thập thông tin hoàn toàngián tiếp, không tiếp xúc với đối tượng khảo sát

- Các số liệu thứ cấp được sắp xếp theo từng nội dung nghiên cứu của luận văn

Trang 38

- Số liệu thứ cấp dạng thô được tổng hợp từ các nguồn tài liệu sẵn có của Bảohiểm xã hội Việt Nam thông qua các văn bản hướng dẫn và báo cáo về công tác quyhoạch của các đơn vị và được xử lý trên phần mềm Excel

2.3 Địa điểm và thời gian thực hiện nghiên cứu

Địa điểm: Nghiên cứu được thực hiện tại BHXH Việt Nam

Thời gian: Thời gian thực hiện nghiên cứu là giai đoạn 2012 – 2014, tầm nhìn2020

2.4 Các bước thực hiện và thu thập số liệu

Tác giả thực hiện Luận văn theo tuần tự các bước nghiên cứu như sau:

Bước 1: Nghiên cứu tài liệu nhằm xác định khung lý thuyết, cơ sở lý luận về mô

hình cung cấp dịch vụ của BHXH

Bước này chủ yếu phục vụ cho công tác nghiên cứu tại chương 1 Trongchương này tác giả chủ yếu thu thập tài liệu trên các văn bản, đề tài, đề án, chế độchính sách về mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Việt Nam và mốt số nước trên thếgiới, các báo cáo và kết quả nghiên cứu của các đề tài có liên quan, các bài báo, tạp chí

đã đăng những vấn đề liên quan đến mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Việt Namhiện nay …

Trong phần này tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phântích, tổng hợp… để liệt kê, trình bày những khái niệm cơ bản, những nội dung quantrọng liên quan đến mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH được đề cập tại chương 1như: Định nghĩa mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH, nội dung mô hình cung cấpdịch vụ của BHXH, các tiêu chí đánh giá mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH… Để

từ đó tìm ra những điểm mới mà các tác giả trước chưa thực hiện

Bước 2: Thu thập tài liệu, số liệu phục vụ phân tích thực trạng mô hình cung

cấp dịch vụ của BHXH Việt Nam hiện nay

Bước này chủ yếu phục vụ cho chương 3 Trong bước này tác giả thu thập sốliệu thứ cấp dạng thô trên các báo cáo tổng kết của BHXH Việt Nam, Ngân hàng thếgiới Nguồn Internet: http://tapchibaohiemxahoi.gov.vn/, http://www.bhxhbqp.vn/,http://tinbaohiem.com/

Các số liệu thu thập này được xử lý bằng phần mềm Exel

Trang 39

Trong chương này tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả, tổng hợp, phântích, so sánh để thu thập thông tin, phân tích số liệu về mức độ tự động hóa hiện tạicủa mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Việt Nam, đánh giá những mặt ưu điểm, hạnchế và tìm ra nguyên nhân của những hạn chế của mô hình cung cấp dịch vụ củaBHXH Việt Nam hiện nay.

Bước 3: Trên cơ sở phân tích thực trạng mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH

Việt Nam tác giả đề xuất một số giải pháp hoàn thiện mô hình cung cấp dịch vụ củaBHXH Việt Nam

2.5 Các công cụ được sử dụng

Luận văn chủ yếu sử dụng phần mềm Excel để xử lý số liệu

Trang 40

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG MÔ HÌNH CUNG CẤP DỊCH VỤ

CỦA BHXH VIỆT NAM HIỆN NAY

3.1 Giới thiệu về BHXH Việt Nam

- BHXH Việt Nam được thành lập ngày 16 tháng 02 năm 1995 trên cơ sở thốngnhất các tổ chức BHXH ở Trung ương và địa phương thuộc hệ thống Lao động -Thương binh và Xã hội và Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam để giúp Thủ tướngChính phủ chỉ đạo công tác quản lý quỹ BHXH và thực hiện các chế độ, chính sáchBHXH theo pháp luật của Nhà nước

- BHXH là chính sách lớn của Đảng và Nhà nước góp phần bảo đảm ổn định đời

sống cho người lao động ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy sự nghiệpxây dựng đất nước, bảo vệ tổ quốc

- BHXH là sự đảm bảo thay thế được bù đắp một phần thu nhập cho người laođộng khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động vàbệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tàichính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nước theopháp luật, nhằm bảo đảm an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồngthời góp phần bảo đảm an toàn xã hội

- Chính sách BHXH là một bộ phận quan trọng trong chính sách kinh tế và xã hội

của Nhà nước, là những chủ trương, quan điểm, nguyên tắc BHXH để giải quyết cácvấn đề xã hội liên quan đến một tầng lớp đông đảo người lao động và các vấn đề kíchthích phát triển kinh tế của từng thời kỳ Trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế khácnhau, chính sách BHXH được Nhà nước đề ra và thực hiện phù hợp với mục tiêu,nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội từng giai đoạn

- Mô hình tổ chức BHXH Việt Nam được tổ chức và quản lý theo hệ thống dọc,tập trung thống nhất từ trung ương đến địa phương, gồm có:

1 Ở Trung ương là BHXH Việt Nam

2 Ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là BHXH tỉnh, thành phố trực thuộcBHXH Việt Nam

3 Ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh là BHXH huyện, quận, thị xã,thành phố trực thuộc BHXH tỉnh

Ngày đăng: 02/05/2020, 21:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Alain Letourmy, 2003. Quản lý phi tập trung đối với hệ thống bảo hiểm xã hội và cơ chế huy. Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Cộng hòa Pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý phi tập trung đối với hệ thống bảo hiểm xã hội vàcơ chế huy
2. Đỗ Hoàng Toàn, Mai Văn Bửu, 2008. Giáo trình quản lý Nhà nước về kinh tế, Nhà xuất bản đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý Nhà nước về kinhtế
Nhà XB: Nhà xuất bản đại học Kinh tế quốc dân
4. Bảo hiểm xã hội Việt Nam, 2014. Quyết định 686 QĐ-BHXH ngày 30/5/2014 về sửa đổi, bổ sung, thay thế một số thủ tục thuộc lĩnh vực Thực hiện chính sách BHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm xã hội Việt Nam, 2014
5. Bảo hiểm xã hội Việt Nam, 2014. Quyết định 1018/QĐ-BHXH ngày 1/10/2014 về Sửa đổi một số nội dung tại các quyết định ban hành quy định quản lý Thu, Chi BHXH và BHYT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm xã hội Việt Nam, 2014
9. Đặng Đức Đam. Một số vấn đề về đổi mới quản lý dịch vụ công ở Việt Nam, Ban nghiên cứu Cải cách hành chính của Văn phòng Chỉnh phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về đổi mới quản lý dịch vụ công ở Việt Nam
10. Phạm Thị Hồng Điệp, 2 014. Quản lý nhà nước đối với dịch vụ công Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước đối với dịch vụ công Kinhnghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam
11. Phạm Thị Hồng Điệp, 2 015. Mô hình nhà nước phúc lợi kiểu Đông Á và những gợi ý cho Việt Nam. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình nhà nước phúc lợi kiểu Đông Á vànhững gợi ý cho Việt Nam
12. Học viện chính trị hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, 2008. Giáo trình quản lý kinh tế, Nhà xuất bản Lý luận chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trìnhquản lý kinh tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Lý luận chính trị
14. Lê Chi Mai, 2 003. Cải cách dịch vụ hành chính công ở Việt Nam. Thuộc chương trình nghiên cứu: Các giải pháp thúc đẩy cái cách hành chính ở Việt Nam. Chủ nhiệm chương trình: TS. Nguyễn Ngọc Hiến Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách dịch vụ hành chính công ở Việt Nam
15. Nguyễn Nguyệt Nga, 2003. Việt Nam:Phát triển một hệ thống bảo hiểm xã hội hiện đại - Những thách thức hiện tại và các phương án lựa chọn cho cải cách trong tương lai. Ngân hàng Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam:Phát triển một hệ thống bảo hiểm xã hộihiện đại - Những thách thức hiện tại và các phương án lựa chọn cho cải cáchtrong tương lai
17. Ngân hàng thế giới tại Việt Nam, 2015. Báo cáo Cải tiến các quy trình nghiệp vụ thu BHXH Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngân hàng thế giới tại Việt Nam, 2015
19. Trương Diện Thắng, 2013. Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về cung cấp dịch vụ hành chính công trực tuyến tại Thành phố Đà Nẵng. Cổng Thông tin điện tử thành phố Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về cungcấp dịch vụ hành chính công trực tuyến tại Thành phố Đà Nẵng
3. Bảo hiểm xã hội Việt Nam, 2014. Quyết định số 1236/QĐ – BHXH ngày 21/11/2014 v/v Ban hành và Quy định quản lý, sử dụng hệ thống danh mục dùng chung, chỉ tiêu báo cáo ngành BHXH Khác
8. Ban Hợp tác quốc tế - BHXH Việt Nam, 2010. Chính sách Bảo hiểm xã hội của một số quốc gia trên thế giới Khác
13. Luật BHXH, Luật BHYT và các văn bản hướng dẫn (2015), Nhà xuất bản Lao động Khác
16. Nghị quyết 19/NQ-CP ngày 18/3/2014 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w