Với vị trí, vai trò của một Ngành giao tiếp và phục vụ người dân, người lao động và đơn vị sử dụng lao động nên ngành BHXH đã xác định được tầm quan trọng của việc thực hiện chỉ đạo của
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -
NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG
HOÀN THIỆN MÔ HÌNH CUNG CẤP DỊCH VỤ
CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
HÀ NỘI - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -
NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG
HOÀN THIỆN MÔ HÌNH CUNG CẤP DỊCH VỤ
CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
Trang 3HÀ NỘI - 2015
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trình bày trong luận văn này là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng, kết quả của luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Hoàng Phương
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Ðể hoàn thành luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Quản lý kinh tế với đề tài
tác giả đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, đồng nghiệp và người thân
Lời đầu tiên tôi xin dành bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới thầy giáo -
TS Nguyễn Thanh Chương là người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn cho tôi cả chuyên môn và phương pháp nghiên cứu và chỉ bảo cho tôi nhiều kinh nghiệm trong thời gian thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cám ơn các đồng nghiệp trong Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập dữ liệu và cung cấp thông tin của luận văn
Tôi xin chân thành cám ơn các thầy, cô giáo trong Trường Đại học kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội và bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như trong quá trình hoàn thành luận văn này
Sau cùng, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình đã luôn tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học cũng như thực hiện luận văn
Mặc dù với sự nỗ lực cố gắng của bản thân, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của quý Thầy, quý Cô, đồng nghiệp và bạn bè để luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin gửi lời kính chúc sức khỏe và hạnh phúc tới toàn thể Quý thầy cô, bạn
bè
Tôi xin chân thành cảm ơn
Trang 6MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT i
DANH MỤC HÌNH VẼ BIỂU ĐỒ ii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH CUNG CẤP DỊCH VỤ CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI 5
1.1 Tổng quan nghiên cứu 5
1.2 Lý luận chung về mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH 8
1.2.1 Định nghĩa mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH 8
1.2.2 Nội dung mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH 12
13
1.2.3 Các tiêu chí đánh giá mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH 15
1.3 Yếu tố ảnh hưởng đến mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH 16
1.3.1 Nhóm yếu tố thuộc môi trường vĩ mô 16
1.3.2 Nhóm yếu tố thuộc cơ quan BHXH 17
1.3.3 Nhóm yếu tố thuộc về đối tượng tham gia BHXH, BHYT 17
1.4 Mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH các nước trên thế giới 17
1.4.1 Mô hình cung cấp dịch vụ BHXH tại Singapore 17
1.4.2 Mô hình cung cấp dịch vụ BHXH tại Vương quốc Anh 18
1.4.3 Mô hình cung cấp dịch vụ BHXH tại Liên bang Nga 20
1.4.4 Mô hình cung cấp dịch vụ BHXH tại Trung Quốc 21
1.4.5 Mô hình cung cấp dịch vụ BHXH tại Ba Lan và Phần Lan 24
1.4.6 Mô hình cung cấp dịch vụ BHXH tại Hàn Quốc 24
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Phương pháp luận 25
2.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 25
2.2.1 Phương pháp phân tích 25
2.2.2 Phương pháp tổng hợp 26
2.2.3 Phương pháp so sánh 27
2.2.4 Phương pháp thống kê mô tả và nghiên cứu tài liệu 27
Trang 72.3 Địa điểm và thời gian thực hiện nghiên cứu 28
2.4 Các bước thực hiện và thu thập số liệu 28
2.5 Các công cụ được sử dụng 29
CHƯƠNG 3 TH C TR NG MÔ HÌNH CUNG CẤP DỊCH VỤ CỦA BHXH VIỆT NAM HIỆN NAY 30
3.1 Giới thiệu về BHXH Việt Nam 30
3.2 Thực trạng đối tượng tham gia BHXH, BHYT và các mối quan hệ giao dịch với cơ quan BHXH 32
3.2.1 Tổng quan 32
3.2.2 Lĩnh vực BHYT 35
3.2.3 Lĩnh vực BHXH 37
3.3 Thực trạng mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Việt Nam hiện nay 38
3.3.1 Mô hình cung cấp dịch vụ đăng ký tham gia BHXH của BHXH Việt Nam .38
3.3.2 Thực trạng thu các khoản đóng góp của BHXH Việt Nam 44
3.3.3 Thực trạng cấp thẻ BHYT và Sổ BHXH 48
3.3.4 Mô hình chi tiết chi trả quyền lợi BHXH 50
3.4 Đánh giá chung về mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Việt Nam hiện nay 63
3.4.1 Những điểm đạt được 63
3.4.2 Những điểm tồn tại 64
CHƯƠNG 4 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN MÔ HÌNH CUNG CẤP DỊCH VỤ CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM 75
4.1 Định hướng phát triển phát triển Bảo hiểm xã hội Việt Nam đến năm 2020 75
4.2 Giải pháp hoàn thiện mô hình cung cấp dịch vụ của Bảo hiểm xã hội Việt Nam .76
4.2.1 Giải pháp hoàn thiện Mô hình cung cấp dịch vụ đăng ký của BHXH Việt Nam 76
4.2.2 Giải pháp hoàn thiện Mô hình cấp thẻ BHYT, sổ BHXH của BHXH Việt Nam 80
4.2.3 Giải pháp hoàn thiện Mô hình chi tiết chi trả quyền lợi BHXH của BHXH Việt Nam 85
4.2.4 Giải pháp hoàn thiện Mô hình thu của BHXH Việt Nam 88
Trang 84.2.5 Giải pháp hoàn thiện hệ thống CNTT đồng bộ để hoàn thiện mô hình cung cấp các dịch vụ của BHXH Việt Nam 91 KẾT LUẬN 103 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
Trang 9i
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
1 CNTT Công nghệ thông tin
2 BHXH Bảo hiểm xã hội
3 BHYT Bảo hiểm y tế
4 BHTN Bảo hiểm thất nghiệp
Trang 10ii
DANH MỤC HÌNH VẼ BIỂU ĐỒ
Hình 1.2: Mô hình cung cấp dịch vụ của Bảo hiểm xã hội Việt Nam 13
Hình 1.3: Mô hình cung cấp dịch vụ của Bảo hiểm xã hội Việt Nam 14
theo mô hình giao dịch điện tử 14
Hình 1.3: Mô hình các bước xử lý hồ sơ của Bảo hiểm xã hội Việt Nam 14
theo mô hình giao dịch điện tử 14
Hình 3.1: Mô hình tổ chức cung cấp dịch vụ của Bảo hiểm xã hội Việt Nam 31
Hình 3.2: Mô hình cung cấp dịch vụ đăng ký tham gia BHXH hoàn toàn bằng hồ sơ giấy của BHXH Việt Nam 39
Hình 3.3: Mô hình cung cấp dịch vụ đăng ký tham gia BHXH bằng điện tử qua internet của BHXH Việt Nam 40
Hình 3.4: Mô hình thực hiện chi trả hiện tại - Ốm đau + thai sản ( 1 ) 52
Hình 3.5: Mô hình thực hiện chi trả hiện tại - Ốm đau + thai sản (2) 53
Hình 3.6: Biểu đồ tự động hóa thực hiện chi trả hiện tại - Ốm đau + thai sản 54
Hình 3.7: Mô hình chi trả trợ cấp thất nghiệp hiện tại (1) 55
Hình 3.8: Mô hình chi trả trợ cấp thất nghiệp hiện tại (2) 56
Hình 3.9: Mô hình chi trả trợ cấp thất nghiệp hiện tại (3) 57
Hình 3.10: Biểu đồ tự động hóa thực hiện chi trả chế độ thất nghiệp hiện tại 58
Hình 3.11: Mô hình thực hiện chi trả Hưu trí - Tai nạn lao động - Bệnh nghề nghiệp - Tử tuất hiện tại (1) 59
Hình 3.12: Mô hình thực hiện chi trả Hưu trí - Tai nạn lao động – 60
Bệnh nghề nghiệp - Tử tuất hiện tại (2) 60
Hình 3.13: Biểu đồ tự động hóa thực hiện chi trả Hưu trí - Tai nạn lao động – 61
Bệnh nghề nghiệp - Tử tuất hiện tại 61
Hình 3.14: Mô hình thực hiện chi trả chế độ 62
Hình 3.15: Biểu đồ tự động hóa thực hiện chi trả chế độ 63
Hình 3.16: Mô hình đề xuất cung cấp dịch vụ đăng ký tham gia BHXH của BHXH Việt Nam 77
Trang 111
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo Báo cáo môi trường kinh doanh 2014 của Ngân hàng Thế giới (WB) công
bố về chỉ số nộp thuế, thời gian doanh nghiệp (DN) ở Việt Nam làm thủ tục về BHXH
là 335 giờ/năm (trong tổng số 872 giờ), số lần nộp là 12 lần/năm (trong tổng số 32 lần nộp thuế) cao hơn mức bình quân chung của các nước Asean Báo cáo trên cho ta thấy đơn vị sử dụng lao động phải tốn nhiều thời gian, công sức và chi phí khi thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến BHXH, điều này tác động rất lớn đến môi trường đầu
tư và kinh doanh ở Việt Nam Để quyết liệt giải quyết vấn đề trên, Chính phủ đã ban hành nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 18/3/2014 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại thông báo số 288/TB-VPCP ngày 25/7/2014 của Văn phòng Chính phủ trong đó yêu cầu BHXH Việt Nam giảm 1/3 số lần và 50% số giờ thực hiện các thủ tục hành chính trong lĩnh vực BHXH, BHYT, BHTN Phấn đấu chỉ
số môi trường kinh doanh của Việt Nam tối thiểu đạt mức trung bình của nhóm nước ASEAN-4 trên một số chỉ tiêu chủ yếu theo thông lệ quốc tế; ngay trong năm 2015 phải giảm số giờ giao dịch BHXH xuống dưới 49,5 giờ
Với vị trí, vai trò của một Ngành giao tiếp và phục vụ người dân, người lao động và đơn vị sử dụng lao động nên ngành BHXH đã xác định được tầm quan trọng của việc thực hiện chỉ đạo của Chính phủ về cải cách thủ tục hành chính, giảm giấy tờ
và giảm thời gian giao dịch giữa đơn vị sử dụng lao động với cơ quan BHXH Trong thời gian qua, việc cải cách thủ tục hành chính đã có nhiều chuyển biến quan trọng và mang lại hiệu quả tích cực, BHXH Việt Nam triển khai nhiều đợt rà soát, cắt giảm giấy tờ thủ tục hành chính theo khảo sát đề xuất của chính đơn vị sử dụng lao động Tuy nhiên, theo đánh giá của WB, nếu BHXH Việt Nam không đánh giá lại mô hình cung cấp dịch vụ hiện tại từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện mô hình thì ngành BHXH không thể giải quyết từ gốc của vấn đề và việc cắt giảm thủ tục hành chính và giảm thời gian giao dịch BHXH của đơn vị sử dụng lao động không thể tiến xa hơn được nữa
Hiện nay, mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Việt Nam hiện nay gồm rất nhiều tác nghiệp thủ công và phải chuyển hồ sơ cứng qua các phòng ban khác nhau mà
Trang 122
chưa có sự trao đổi thông tin giữa các đơn vị (trong ngành cũng như ngoài ngành như Thuế, Trung tâm giới thiệu việc làm thuộc Bộ Lao động - Thương binh và xã hội), ứng dụng công nghê thông tin trong mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH chưa nhiều, cơ
sở dữ liệu thông tin về người tham gia còn chưa có, … Chưa đa dạng hóa các hình thức và kênh cung cấp dịch vụ BHXH khác nhau Mô hình cung cấp dịch vụ BHXH thời gian qua đã có chuyển biến sau khi BHXH Việt Nam ký hợp đồng chi trả BHXH thông qua bưu điện, đặc biệt sau khi Thủ tướng Chính phủ nhấn nút khai trương cổng thông tin điện tử BHXH vào ngày 18/05/2015 chính thức đưa vào sử dụng hệ thống giao dịch điện tử giữa ngành BHXH và đơn vị sử dụng lao động Tuy nhiên các hoạt động trên vẫn mang tính chất đơn lẻ và giải quyết tình thế để đẩy nhanh thực hiện nghị quyết 19/NQ-CP mà chưa được triển khai trên một kế hoạch tổng thể nhằm hoàn thiện
mô hình cung cấp dịch vụ BHXH một cách chuẩn mực và phù hợp với hoàn cảnh của Bảo hiểm xã hội Việt Nam hiện nay
Với phân tích trên có thể thấy, đề giảm số giờ giao dịch BHXH xuống dưới 49,5 giờ theo chỉ đạo của Chính phủ, đòi hỏi phải hoàn thiện mô hình hình cung cấp dịch vụ của BHXH Việt Nam Với mong vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn và hoàn thiện mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Việt Nam trong thời gian tới,
tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Hoàn thiện mô hình cung cấp dịch vụ của Bảo hiểm xã hội Việt Nam” làm luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Quản lý kinh tế tại Trường Đại học
kinh tế, Đại học quốc gia Hà Nội
Câu hỏi nghiên cứu của luận văn: Mô hình cung cấp dịch vụ là gì? Mô hình
cung cấp dịch vụ của Bảo hiểm xã hội Việt Nam là gì? Bảo hiểm xã hội Việt Nam cần phải thay đổi mô hình cung cấp dịch vụ như thế nào để có thể giảm các thao tác thủ công, rút ngắn thời gian giao dịch cũng như giải quyết hồ sơ?
2 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục tiêu chung
Mục đích của luận văn là đi sâu, nghiên cứu, làm rõ những cơ sở lý luận về mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH đồng thời phân tích thực trạng mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Việt Nam giai đoạn hiện nay để từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện
mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Việt Nam nhằm đáp ứng:
- Đáp ứng chủ trương về cải cách hành chính của ngành BHXH;
Trang 133
- Cải tiến phương thức thực hiện dịch vụ công đối với công dân, doanh nghiệp theo hướng thuận tiện, đơn giản, nhanh chóng khi giải quyết chế độ, chính sách BHXH, BHYT;
- Đáp ứng về chủ trương hiện đại hóa các hoạt động của BHXH VN dựa trên quá trình đẩy mạnh ứng dụng CNTT theo hướng chính quyền điện tử
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Mô hình cung cấp dịch vụ của Bảo hiểm
xã hội Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: Trong khuôn khổ đề tài này, đề tài tập trung nghiên cứu,
đề xuất các chính sách, giải pháp một số giải pháp nhằm hoàn thiện mô hình cung cấp dịch vụ của Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Phạm vi thời gian: Số liệu được lấy trong giai đoạn 2012-2014
4 Đóng góp của luận văn
- Luận văn góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới mô hình cung cấp dịch vụ BHXH nhằm phục vụ tốt cho người lao động, người dân và doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy cải cách hành chính chung và cải thiện môi trường kinh doanh quốc gia
- Những định hướng và khuyến nghị của luận văn góp phần đưa ra các gợi ý để đưa vào chiến lược phát triển ngành BHXH cho giai đoạn 2016-2020; Kế hoạch và khung kiến trúc chính phủ điện tử của Ngành
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, phục vụ cho việc sơ kết, tổng kết, đánh giá về công tác cải cách hành chính của ngành BHXH trong thời gian tới
- Luận văn cũng có thể sử dụng làm tư liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu cho việc xây dựng CSDL quốc gia về BHXH trong tương lai
Trang 14 Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, phục vụ cho việc sơ kết, tổng kết, đánh giá về công tác cải cách mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH trong thời gian tới
Luận văn cũng có thể sử dụng làm tư liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu, xây dựng và phát triển mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH trong tương lai
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, hình vẽ, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn bao gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Việt Nam
Chương 4: Giải pháp hoàn thiện mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Việt
Nam
Trang 155
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH CUNG CẤP
DỊCH VỤ CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI
1.1 Tổng quan nghiên cứu
Trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, kinh tế trí thức và toàn cầu hoá; xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, đòi hỏi Việt Nam cần có môi trường kinh doanh thuận lơi, các thủ tục hành chính cần đơn giản
Các thủ tục hành chính của ngành BHXH Việt Nam là một trong những thủ tục hành chính vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề như: các mẫu biểu hồ sơ quá nhiều, thủ tục rắc rối, thời gian nộp còn tốn nhiều thời gian cho doanh nghiệp
Mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Việt Nam cần có những thay đổi để cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia đang là một yêu cầu cấp bách và thiết thực hiện nay khi Thủ tướng Chính phủ tại thông báo số 288/TB-VPCP ngày 25/7/2014 của Văn phòng Chính phủ trong đó yêu cầu BHXH Việt Nam giảm 1/3 số lần và 50% số giờ thực hiện các thủ tục hành chính trong lĩnh vực BHXH, BHYT, BHTN Có khá nhiều công trình của các nhà khoa học, với cách tiếp cận và phạm vi khác nhau, nghiên cứu phương hướng, giải pháp về mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Việt Nam Các công trình này là những tiền đề tiêu biểu cho các nghiên cứu của các thế hệ học viên, như:
Bài viết “Mô hình nhà nước phúc lợi kiểu Đông Á và những gợi ý cho Việt Nam”, (2014) của tác giả Phạm Thị Hồng Điệp Bài viết trình bày về định nghĩa Nhà
nước phúc lợi là nhà nước có trách nhiệm bảo đảm sự phúc lợi và thịnh vượng của người dân và biết tôn trọng luật lệ quốc tế Đồng thời tác giả đã nêu ra những đặc thù của mô hình nhà nước phúc lợi kiểu Đông Á với trường hợp điển hình là Hàn Quốc với phương châm không cung cấp về tài chính mà chỉ thực hiện chức năng quản lý các chương trình BHXH Từ kinh nghiệm phát triển hệ thống phúc lợi xã hội kiểu Đông Á của Hàn Quốc, tác giả đã đưa ra một số gợi ý cho Việt Nam như: cần vận dụng bài học của các nước Đông Á
Nghiên cứu “Cải cách dịch vụ hành chính công ở Việt Nam” (2003) Thuộc
chương trình nghiên cứu: Các giải pháp thúc đẩy cải cách hành chính ở Việt Nam do
Trang 166
TS Nguyễn Ngọc Hiến chủ nhiệm chương trình Tác giả đã phân tích thực trạng cung ứng dịch vụ hành chính công trong các cơ quan nhà nước Việt Nam như mô hình “một cửa”, mô hình “Trung tâm dịch vụ hành chính công” tại Hà Nội để tìm ra những tồn tại, vướng mắc trong cung ứng dịch vụ hành chính công Tác giả nêu nguyên nhân và đưa ra các giải pháp cải tiến dịch vụ hành chính công
Nghiên cứu “Quản lý phi tập trung đối với hệ thống bảo hiểm xã hội và cơ chế huy động sự tham gia của người dân vào việc quản lý hoạt động bảo hiểm xã hội một
mô hình phù hợp với các nước cho thu nhập thấp” (Diễn đàn kinh tế, tài chính Việt –
Pháp, Khóa họp lần thứ tư, TP.HCM tháng 9/2003) Tác giả Alain Letourmy (Chuyên viên nghiên cứu cấp cao thuộc Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Cộng hòa Pháp – CNRS) đã trình bày những đặc điểm cơ bản của mô hình quản lý phi tập trung
và có sự tham gia của người dân đối với hoạt động bảo hiểm xã hội và những điểm khác so với các hình thức quản lý khác đối với hệ thống bảo hiểm xã hội Ở phần hai tác giả nêu rõ những ưu điểm và nhược điểm của việc áp dụng mô hình này tại các nước có thu nhập thấp, đồng thời trình bày một số nguyên nhân lý giải cho sự áp dụng rộng rãi mô hình này tại các nước có thu nhập thấp Cuối cùng, tác giả giới thiệu qua
về tình hình thành lập và hoạt động của các tổ chức bảo hiểm xã hội được tổ chức và quản lý theo mô hình phi tập trung
Bài viết “Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về cung cấp dịch vụ hành chính công trực tuyến tại thành phố Đà Nẵng” (2013) của tác giả Trương Điện Thắng
đăng trên tạp chí Cổng Thông tin điện tử thành phố Đà Nẵng Tác giả đưa ra các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về cung cấp dịch vụ hành chính công trực tuyến tại thành phố Đà Nẵng như: Tiếp tục hoàn thiện thể chế pháp lý cho cung cấp dịch vụ hành chính công trực tuyến; Tổ chức, quản lý cung cấp dịch vụ; Xây dựng mô hình, lộ trình triển khai cung cấp dịch vụ hành chính công trực tuyến; Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức thực hiện quản lý và cung cấp dịch vụ hành chính công trực tuyến
Bào cáo: “Việt Nam:Phát triển một hệ thống bảo hiểm xã hội hiện đại - Những thách thức hiện tại và các phương án lựa chọn cho cải cách trong tương lai” (6/2012)
của tác giả Nguyễn Nguyệt Nga (Ngân hàng Thế giới) Tác giả đã chỉ ra những vấn đề quan trọng cần phải đổi mới để phát triển một hệ thống hưu trí hiện đại cho Việt Nam như: BHXHVN còn yếu về qui hoạch hệ thống công nghệ thông tin và năng lực hỗ trợ
Trang 177
Cần phải có một kế hoạch về công nghệ thông tin đồng bộ để phát triển môi trường thông tin chung cho những nhiệm vụ chuẩn như thu phí bảo hiểm, tính toán trợ cấp hưu trí, chi trả trợ cấp hưu trí Cần nhiều cố gắng hơn nữa để mở rộng độ bao phủ của
hệ thống bảo hiểm bắt buộc và của khu vực tự kinh doanh/phi chính thức, tăng cường công bằng, đảm bảo bền vững tài chính, và củng cố công tác thực thi và quản lý
Bào cáo: “Việt Nam:Phát triển một hệ thống bảo hiểm xã hội hiện đại - Những thách thức hiện tại và các phương án lựa chọn cho cải cách trong tương lai” (6/2012)
của tác giả Nguyễn Nguyệt Nga (Ngân hàng Thế giới) Tác giả đã chỉ ra những vấn đề quan trọng cần phải đổi mới để phát triển một hệ thống hưu trí hiện đại cho Việt Nam như: BHXHVN còn yếu về qui hoạch hệ thống công nghệ thông tin và năng lực hỗ trợ Cần phải có một kế hoạch về công nghệ thông tin đồng bộ để phát triển môi trường thông tin chung cho những nhiệm vụ chuẩn như thu phí bảo hiểm, tính toán trợ cấp hưu trí, chi trả trợ cấp hưu trí
Bào cáo: “Cải tiến các quy trình nghiệp vụ thu Bảo hiểm xã hội Việt Nam”
(2015) Nhóm tư vấn Ngân hàng Thế giới (WB) Báo cáo đã rà soát quy trình nghiệp
vụ và tìm ra điểm mạnh, điểm yếu của Mô hình cấp, thu, đăng ký hiện hành để đưa ra những khuyến nghị như: Mã số định danh duy nhất cho đơn vị sử dụng lao độn /đối tượng nộp tiền; Mã định danh duy nhất cho người tham gia BHXH; Quy định về trao đổi thông tin giữa BHXH Việt Nam và Tổng cục Thuế
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nói trên về cải cách hành chính ở Việt Nam Chưa có một công trình nghiên cứu nào đi sâu vào việc phân tích thực trạng, tổng hợp các điểm mạnh, điểm yếu những điểm còn tồn tại của Mô hình cung cấp dịch
vụ của BHXH Việt Nam Nhằm bổ sung thêm một nghiên cứu cụ thể và đưa ra những giải pháp thiết thực để cải các thủ tục hành chính của ngành BHXH Việt Nam thông qua việc hoàn thiện mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Việt Nam, tôi đã lựa chọn
đề tài mang tên “Hoàn thiện mô hình cung cấp dịch vụ của Bảo hiểm xã hội Việt Nam”
làm đề tài nghiên cứu của luận văn Những vấn đề lý luận và thực tiễn về cải cách hành chính công và BHXH trong các tài liệu, nghiên cứu nói trên là tài liệu tham khảo
vô cùng quý giá và bổ ích để tác giả kế thừa, sử dụng, vận dụng và phát triển trong công trình nghiên cứu của mình
Với những nội dung trong luận văn này, tác giả mong muốn sẽ góp phần hoàn thiện Mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Việt Nam Luận văn xin kế thừa và tiếp
Trang 188
thu có chọn lọc những kết quả nghiên cứu đã công bố có liên quan để phục vụ cho mục đích nghiên cứu của mình
1.2 Lý luận chung về mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH
1.2.1 Định nghĩa mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH
* Mô hình cung cấp dịch vụ:
Hiện nay hầu hết các lĩnh vực hoạt động của con người đều được thực hiện theo các mô hình ở những mức độ khác nhau, đặc biệt đối với lĩnh vực điều khiển các hệ thống như kỹ thuật và xã hội Bởi vì điều kiển chính là quá trình thu nhận thông tin, nhận dạng thông tin đó cần xử lý như thế nào và đưa ra quyết định thích hợp Quá trình này được tiếp diễn liên tục nhằm đưa hệ thống vận động theo một mục tiêu định trước
Mô hình cung cấp dịch vụ là khuôn khổ, cách thức hoạt động, cách thức, phương thức cung cấp dịch vụ của chủ thể cung cấp dịch vụ dựa trên cơ cấu, phương thức tổ chức hoạt động và các yêu cầu về chất lượng dịch vụ được đưa ra
* Mô hình cung cấp dịch vụ BHXH:
Mô hình cung cấp dịch vụ BHXH là khuôn khổ, cách thức hoạt động cung cấp dịch vụ, quy định trình tự và thời gian thực hiện các nghiệp vụ bảo hiểm, các quá trình, các bước giải quyết hồ sơ yêu cầu với đầy đủ thông tin của đối tượng tham gia do cơ quan BHXH cung cấp cho người lao động và đơn vị sử dụng lao động
Như vậy mô hình cung cấp dịch vụ BHXH là hình thức và công cụ mô tả sự giải quyết của đơn vị bảo hiểm theo yêu cầu của các đối tượng tham gia bảo hiểm và các đối tượng tham gia bảo hiểm cần cung cấp đầy đủ theo mẫu biểu của bảo hiểm xã hội đưa ra
Để thực hiện chính sách BHXH, ở một số nước, một cơ quan Chính phủ được giao vừa đảm nhận cả chức năng quản lý nhà nước về BHXH và vừa tổ chức thực hiện các nghiệp vụ BHXH, cung cấp dịch vụ BHXH (thường là Bộ Lao động hoặc Bộ Phúc lợi xã hội, hoặc Bộ lao động và an sinh xã hội…) Đa số các nước hoạt động BHXH (quản lý quỹ, quản lý đối tượng, thực hiện thu - chi BHXH) được coi là một loại dịch
vụ công, được giao cho một hoặc một số cơ quan BHXH độc lập đảm nhận Các cơ quan này hoạt động dưới sự điều hành của Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng quản lý
Trang 19(ii) Tổ chức thu - chi trả các trợ cấp BHXH;
(iii) Quản lý hoạt động tài chính BHXH (gồm cả đầu tư tăng trưởng Quỹ BHXH)…
Về mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH, có thể nêu một số mô hình điển hình
là Đức, Trung quốc và Ba lan
Nước Đức là nước có lịch sử phát triển BHXH sớm nhất Ngay từ những năm
50 của Thế kỷ XIX, dưới thời Tể tướng Bismark, những điều luật BHXH đầu tiên đã được ban hành Cho đến nay, hoạt động BHXH của Cộng hoà Liên bang Đức thực hiện với ba hệ thống là: Hệ thống BHXH bắt buộc; Hệ thống BHXH tư nhân; Hệ thống BHXH ở các xí nghiệp
Một trong những đặc thù trong mô hình cung cấp dịch vụ BHXH của Cộng hoà Liên bang Đức là có sự phân chia ra việc quản lý và thực hiện các chế độ BHXH Không có các tổ chức BHXH thực hiện cùng một lúc nhiều chế độ, mà thông thường mỗi tổ chức chỉ chịu trách nhiệm cho một số chế độ nhất định Do đó, người lao động
có thể tham gia vào các hệ thống BHXH khác nhau Ví dụ, công chức Nhà nước không phải đóng BHXH theo tiền lương cá nhân, nhưng phải đóng thuế chung, trong đó có phần để đảm bảo các chế độ hưu Công chức có thể tham gia vào hệ thống BHXH tư nhân để có mức thụ hưởng cao hơn (ngoài mức do hệ thống của Nhà nước chi trả) Có nhiều tổ chức cùng tham gia thực hiện các chế độ BHXH, trong đó có các tổ chức BHXH tư nhân, đã giúp cho hoạt động BHXH có hiệu quả hơn, người lao động có cơ hội được thụ hưởng BHXH tốt hơn Với mô hình tự quản này, có thể có một số cơ quan BHXH khác nhau, thực hiện cho các nhóm đối tượng khác nhau như BHXH cho những người lao động trong ngành đường sắt, BHXH cho lao động ngành hàng không, BHXH cho cảnh sát và quân đội…
Đối với mô hình cung cấp dịch vụ BHXH của Trung quốc, các chế độ BHXH chỉ được áp dụng ở các khu vực thành thị và trong các doanh nghiệp Tại các địa phương, nhất là ở vùng nông thôn Trung Quốc có thể vận dụng các chế độ BHXH áp dụng ở khu vực thành thị để cụ thể hoá thực hiện các chế độ BHXH khác nhau, nhưng
Trang 2010
chủ yếu là chế độ là hưu trí và thất nghiệp Như vậy, ở Trung quốc thực hiện mô hình
đa tầng (thành thị, doanh nghiệp và nông thôn) Cách quản lý có tính tự quản cao nhưng vẫn dưới sự kiểm soát của nhà nước
Ở Ba Lan, mô hình cung cấp dịch vụ BHXH được tổ chức khá phức tạp, đa dạng Về quản lý nhà nước có 3 bộ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về BHXH là
Bộ Lao động và chính sách xã hội (quản lý các chế độ hưu, thất nghiệp, trợ cấp gia đình, TNLĐ, BNN, một phần chế độ ốm đau và thai sản ); Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (thực hiện một phần chế độ hưu trí, một phần chế độ TNLĐ và BNN, một phần chế độ ốm đau và thai sản; BHXH cho nông dân và quản lý quỹ BHXH nông dân); Bộ y tế (quản lý chế độ chăm sóc y tế và quỹ BHYT) Theo mô hình này, BHXH cho nông dân là một nhánh riêng, hoạt động độc lập, theo quy định của pháp luật Ngoài ra, trong hệ thống BHXH còn có loại hình Quỹ hưu trí mở (Open Pension Funds), để những người tham gia các hệ thống nêu trên có thể tham gia thêm (tự nguyện), để có mức thụ hưởng BHXH cao hơn Hệ thống BHXH cho nông dân (KRUS) mặc dù do nhà nước lập ra (chủ tịch KRUS do Thủ tướng bổ nhiệm), nhưng toàn bộ hoạt động do một Hội đồng điều hành, gồm đại diện nhà nước, đại diện tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đại diện nghiệp đoàn của những người nông dân cá thể KRUS ngoài trụ sở chính có 16 chi nhánh trong toàn quốc và 256 văn phòng địa phương
Về mô hình cung cấp dịch vụ BHXH, như đã nêu, dù là nằm trong một Bộ hoặc
là cơ quan độc lập nhưng đa số các nước đều thành lập Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng quản lý BHXH để điều hành các hoạt động sự nghiệp BHXH Hội đồng quản trị/quản lý là cơ quan cao nhất thực hiện chính sách BHXH của mỗi quốc gia Hội đồng này gồm đại diện của nhà nước, đại diện người lao động (công đoàn) và giới chủ Hội đồng hoạt động tương tự như Hội đồng quản trị trong các doanh nghiệp/công ty Giám đốc/Tổng giám đốc BHXH do Hội đồng quản trị/quản lý bầu ra Có một số nước, ngoài Hội đồng quản trị/quản lý trung ương còn có Hội đồng quản trị/quản lý Vùng hoặc Bang, ngành… Nhìn chung, Hội đồng quản trị/quản lý chỉ đạo điều hành hoặc điều hành toàn bộ các hoạt động của hệ thống sự nghiệp BHXH
* Các mô hình cung cấp dịch vụ BHXH
Trang 2111
Do nhu cầu thực tế của người lao động và trên cơ sở những đặc điểm kinh tế -
xã hội của mỗi quốc gia, hiện nay trên thế giới có nhiều mô hình cung cấp dịch vụ BHXH, như:
- Mô hình BHXH nhà nước thuần túy Theo mô hình này, chỉ có một tổ chức
BHXH thực hiện các chính sách BHXH của nhà nước Mô hình này có đặc điểm là quản lý được đối tượng trong thị trường lao động (dù có thuộc thành phần kinh tế nào, thuộc khu vực có quan hệ lao động hay không thuộc khu vực có quan hệ lao động );
có quỹ BHXH lớn, đủ khả năng chi trả các trợ cấp BHXH trong mọi trường hợp Tuy nhiên, mô hình thường có xu hướng hoạt động cứng nhắc, hành chính hóa, cửa quyền
- Mô hình BHXH quốc gia và BHXH ngành (bắt buộc) Ở một số nước, ngoài
hệ thống BHXH quốc gia, pháp luật BHXH cho phép BHXH ngành/lĩnh vực, do những đặc thù về nghề nghiệp Ví dụ, hệ thống BHXH quốc gia chỉ quản lý những người lao động; hệ thống BHXH cho công chức, thực hiện các chế độ BHXH cho công chức và viên chức công; hệ thống BHXH cho quân đội (sĩ quan); hệ thống BHXH cho nhân viên hàng không; đường sắt (gọi chung là BHXH ngành) Ưu điểm của hệ thống này là tạo ra tính đa dạng trong hoạt động BHXH; gắn kết người tham gia BHXH làm việc lâu dài cho ngành và thực hiện được những chế độ đặc thù, ví dụ, đối với công chức và sĩ quan quân đội, không thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp Nhược điểm của mô hình này là, khi người lao động di chuyển trong thị trường lao động (ra khỏi ngành chẳng hạn), việc tính toán BHXH sẽ phức tạp Tuy nhiên, với việc ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, thì việc này sẽ được giải quyết không khó khăn
- Mô hình BHXH kết hợp giữa bắt buộc và tự nguyện Đây là mô hình nhằm (i)
nâng cao khả năng thụ hưởng cho người lao động và (ii) tạo điều kiện cho người lao động dễ dàng di chuyển trong thị trường lao động Đối với trường hợp thứ nhất, người lao động có thể vừa tham gia BHXH bắt buộc vừa tham gia BHXH tự nguyện (của một hệ thống) để mong có được lợi ích cao hơn khi thụ hưởng BHXH; hoặc chỉ tham gia BHXH bắt buộc hoặc chỉ tham gia BHXH tự nguyện Đối với trường hợp thứ hai, người lao động có thể tham gia vào một hoặc một số hệ thống BHXH (ví dụ hệ thống BHXH quốc gia và hệ thống BHXH ngành) Ưu điểm của mô hình này là tạo ra tính
đa dạng trong hoạt động BHXH, tạo cơ hội tốt nhất cho người lao động, tùy thuộc vào điều kiện cá nhân để tham gia Hạn chế của mô hình này là tính phức tạp trong quản lý
Trang 22Đối với Việt Nam, chính sách BHXH là thống nhất, do Nhà nước ban hành Cơ quan thực hiện chính sách BHXH hiện nay là BHXH Việt Nam Mô hình cung cấp dịch
vụ của BHXH Việt Nam là mô hình BHXH nhà nước thuần túy
1.2.2 Nội dung mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH
* Mô hình cung cấp dịch vụ BHXH theo mô hình một cửa BHXH
Hơn 15 năm qua, Nhà nước ta đã quan tâm nhiều đến việc cải thiện dịch vụ hành chính trong giải quyết mối quan hệ với tổ chức và công dân thông qua Chương trình tổng thể về cải cách hành chính, đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, công khai và thuận tiện cho người dân Quá trình này được đánh dấu bằng sự ra đời Nghị quyết 38-CP ngày 4/5/1994 của Chính phủ về cải cách một bước thủ tục hành chính trong giải quyết công việc của công dân, tổ chức Tiếp đó, Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa” ở các cơ quan nhà nước và chính quyền địa phương được ban hành theo Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg ngày 4/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ Ngày 20/6/2006 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 144/2006/QĐ-TTg về việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000 vào hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước Tiến thêm một bước nữa, ngày 10/1/2007 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 30/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đơn giản hoá thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007-2010 (gọi tắt là Đề án 30) và ngày 22/6/2007 Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg về ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương thay thế cho Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg nhằm hoàn thiện hơn nữa việc thực hiện cơ chế “một cửa” cho phù hợp với từng loại thủ tục hành chính
Thực hiện Quyết định số 884/QĐ-BHXH ngày 25/8/2011 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam về việc Ban hành Quy định tiếp nhận và trả kết quả giải quyết các thủ tục hành chính về BHXH, BHYT
Trang 2313
Mô hình “một cửa” liên thông là sự phối hợp giữa bộ phận “Một cửa” với các
bộ phận nghiệp vụ tại BHXH quận, huyện được khoa học, đồng bộ theo quy trình khép kín, qua đó, xây dựng được một cơ chế điều hành thống nhất trong cơ quan, tập trung đầu mối để xử lý hiệu quả công việc cho mọi tổ chức, cá nhân, đồng thời giảm bỏ các khâu trung gian không cần thiết, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân đến giao dịch tại cơ quan BHXH để giải quyết các chế độ chính sách BHXH, BHYT nhanh chóng mà không phải đến trực tiếp từng bộ phận chuyên môn, phòng chuyên môn
Hiện nay, BHXH tại các quận huyện áp dụng mô hình cung cấp dịch vụ BHXH theo mô hình một cửa BHXH có thể được khái quát như sau:
Hình Error! No text of specified style in document 1: Mô hình cung cấp dịch vụ
của Bảo hiểm xã hội Việt Nam
* Mô hình cung cấp dịch vụ BHXH theo mô hình giao dịch điện tử
Mô hình cung cấp dịch vụ BHXH theo mô hình giao dịch điện tử là mô hình giao dịch hồ sơ giữa đơn vị sử dụng lao động và cơ quan BHXH thông qua chương trình phần mềm mà không cần đến cơ quan BHXH
- Lợi ích của mô hình giao dịch điện tử:
+ Tiết kiệm thời gian giao dịch;
+ Thống nhất được nội dung công việc;
+ Tiết kiệm chi phí đi lại;
+ Chấp nhận hồ sơ điện tử, giảm thủ tục hồ sơ giấy;
+ Nhanh chóng, thuận lợi
Đầu ra
(Văn bản, giấy tờ hành chính)
Kết quả của đầu ra/ tác động
CƠ QUAN BHXH
Trang 2414
Hình Error! No text of specified style in document 3: Mô hình cung cấp dịch vụ
của Bảo hiểm xã hội Việt Nam theo mô hình giao dịch điện tử
Hình Error! No text of specified style in document 3: Mô hình các bước xử lý hồ
sơ của Bảo hiểm xã hội Việt Nam theo mô hình giao dịch điện tử
Mô hình các bước xử lý hồ sơ của Bảo hiểm xã hội Việt Nam theo mô hình giao dịch điện tử như sau:
Bước 1: Đơn vị thực hiện kê khai hồ sơ điện tử Thu BHXH, BHYT, BHTN bắt buộc từ chương trình iBHXH sau đó chuyển file hồ sơ được lập qua chương trình BHXH Signing để ký
Bước 2: Sau khi hồ sơ của đơn vị được ký thì chuyển hồ sơ thông qua Cổng thông tin điện tử BHXH Việt Nam
Bước 3: Cổng thông tin điện tử BHXH Việt Nam sẽ tự động chuyển hồ sơ điện
tử do đơn vị nộp vào phần mềm iQLBH của cơ quan BHXH
PHÒNG, BỘ PHẬN TIẾP NHẬN VÀ QUẢN LÝ
Cổng thông tin điện tử
B5
B6b
B6
a
Trang 2515
Bước 4: Phòng, bộ phận Thu sau khi nhận được hồ sơ từ Cổng thông tin điện tử chuyển đến trên chương trình iQLBH Cán bộ chuyên quản sau khi kiểm tra hồ sơ của đơn vị trình lên lãnh đạo phòng, bộ phận Thu duyệt Sau khi lãnh đạo duyệt hồ sơ hợp
lệ Cán bộ chuyên quản thực hiện import số liệu vào chương trình SMS
Bước 5: Cán bộ phòng, bộ phận Sổ thẻ nhận hồ sơ điện tử từ phòng, bộ phận Thu, kiểm tra và xử lý.Sau khi thực hiện xong thì bàn giao thẻ BHYT, sổ BHXH cho phòng Tiếp nhận & Quản lý hồ sơ
Bước 6a: Đối với đơn vị thực hiện giao nhận hồ sơ qua Bưu điện thì thực hiện như sau:
Bưu điện đến đơn vị nhận bộ hồ sơ BHXH bản gốc và phiếu hẹn sau đó nộp bộ
hồ sơ này cho phòng Tiếp nhận & Quản lý hồ sơ đồng thời nhận kết quả về cho đơn vị
Bước 6b: Đối với đơn vị thực hiện giao nhận hồ sơ trực tiếp tại cơ quan BHXH Đơn vị mang bộ hồ sơ BHXH bản gốc và phiếu hẹn đến nộp cho phòng Tiếp nhận & Quản lý hồ sơ của cơ quan BHXH và đồng thời nhận kết quả
Trường hợp hồ sơ hoặc dữ liệu chưa hợp lệ thực hiện như sau:
Bước 7: Phòng, bộ phận Thu phát hiện hồ sơ điện tử do đơn vị nộp lên không hợp lệ thì CBCQ thực hiện gửi email thông báo cho đơn vị
Bước 8: Trường hợp phòng, bộ phận Sổ thẻ phát hiện dữ liệu và hồ sơ chưa đúng, báo lại phòng, bộ phận Thu để thực hiện điều chỉnh
1.2.3 Các tiêu chí đánh giá mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH
1 Tiêu chí phản ánh yếu tố cấu thành đầu vào mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH
Các yêu cầu dịch vụ của Đối tượng tham gia BHXH chính là nhu cầu hay mong đợi của Đối tượng tham gia BHXH với những dịch vụ mà họ cần thụ hưởng Các yêu cầu của Đối tượng tham gia BHXH tuy là thuộc về chính người dân, nhưng việc thể hiện các yêu cầu này dưới một hình thức nhất định lại do cơ quan BHXH Việt Nam đặt ra (hồ sơ BHXH) Vì vậy, nếu bộ hồ sơ này gồm nhiều loại giấy tờ và Đối tượng tham gia BHXH khó thực hiện (thể hiện ở cách viết hoặc điền vào nhiều mẫu biểu khác nhau) thì sẽ gây khó khăn cho Đối tượng tham gia BHXH trong việc thoả mãn nhu cầu của mình Như vậy, các yêu cầu về hồ sơ hành chính cũng là tiêu chí đánh giá
mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Hơn nữa, việc giới hạn địa điểm và thời gian tiếp nhận hồ sơ bảo hiểm bản cứng cũng là một tiêu chí quan trọng đánh giá mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH
Trang 2616
2 Tiêu chí về quá trình giải quyết các yêu cầu của cán bộ, công chức
Sau khi tiếp nhận các yêu cầu của Đối tượng tham gia BHXH, quá trình giải quyết hồ sơ phải trải qua các bộ phận khác nhau Hồ sơ càng phải chuyển qua nhiều bộ phận thì càng có dễ có sai sót, và cho thấy sự kết nối, trao đổi thông tin giữa các bộ phận (trong và ngoài ngành BHXH) rất yếu và kém hiệu quả đồng thời khiến thời gian
xử lý hồ sơ bị kéo dài Đây chính là tiêu chí quan trọng đánh giá mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH
3 Tiêu chí phản ánh đầu ra của mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH
Đầu ra của mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH là kết quả giải quyết các yêu cầu của Đối tượng tham gia BHXH, thể hiện bằng những văn bản, giấy tờ hành chính
mà Đối tượng tham gia BHXH nhận được từ các cơ quan hành chính nhà nước Để đánh giá kết quả này, cần xem xét ở ba tiêu chí sau:
Thứ nhất, kết quả trả cho Đối tượng tham gia BHXH có đúng thời gian quy định hay không
Thứ hai, khoảng thời gian giải quyết công việc trong bao lâu Điều này thuộc trách nhiệm của cơ quan BHXH
Thứ ba, những kết quả trả cho Đối tượng tham gia BHXH có chính xác hay không Nếu thiếu chính xác, sẽ gây phiền toái cho người dân khi sử dụng những giấy
tờ đó vào việc thoả mãn một nhu cầu nào đó
1.3 Yếu tố ảnh hưởng đến mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH 1.3.1 Nhóm yếu tố thuộc môi trường vĩ mô
1.3.1.1 Những thay đổi về luật pháp, thể chế
BHXH Việt Nam đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng Chính Phủ, sự quản lý Nhà nước của Bộ Lao động Thương binh - Xã hội và các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan Chính vì vậy, sự thay đổi Luật BHXH và Luật BHYT, hay các Nghị quyết, chính sách của Chính phủ về lĩnh vực hành chính, BHXH, BHYT, BHTN… đều có sự ảnh hưởng đến mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Đặc biệt, trong năm 2015, khi Luật BHXH mới và Luật BHYT mới có hiệu lực, BHXH Việt Nam cần xem xét để điều chỉnh mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH tuân theo sự chỉ đạo của Chính phủ
1.3.1.2 Sự phối hợp đồng bộ giữa các Ngành BHXH, Thuế, Công an và tư pháp
Trang 2717
Trong hoạt động của mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Việt Nam, còn có
sự liên quan đến thông tin, số liệu giữa các Ngành BHXH, Thuế, Công an và tư pháp
Vì vậy, sự phối hợp đồng bộ giữa các Ngành BHXH, Thuế, Công an và tư pháp sẽ góp phần giúp hoàn thiện hơn mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH
1.3.1.3 Mức độ phổ cập CNTT trên toàn quốc
Hiện nay, các ứng dụng CNTT ngày càng phát triển, mức độ phổ cập CNTT trên toàn quốc sẽ góp phần làm cho những cải cách của mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH thiết thực và hiệu quả hơn
1.3.2 Nhóm yếu tố thuộc cơ quan BHXH
1.3.2.1 Những thay đổi về tổ chức của cơ quan BHXH
1.3.2.2 Tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ của BHXH cho phù hợp với định hướng phát
triển CNTT
1.3.2.3 Sự quan tâm chỉ đạo sát sao của lãnh đạo BHXH và Ngân sách dành cho phát triển CNTT
1.3.2.4 Nguồn nhân lực CNTT của BHXH
Để mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH hoàn thiện hơn cần các giải pháp ứng dụng CNTT trong mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Để làm được điều này thì nguồn nhân lực BHXH là một yếu tố quyết định
1.3.2.5 Khả năng phổ biến các dịch vụ BHXH, BHYT đến người tham gia BHXH
1.3.3 Nhóm yếu tố thuộc về đối tượng tham gia BHXH, BHYT
1.3.3.1 Khả năng sử dụng CNTT
1.3.3.2 Mức độ quan tâm đến lĩnh vực BHXH, BHYT
1.4 Mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH các nước trên thế giới
1.4.1 Mô hình cung cấp dịch vụ BHXH tại Singapore
Tại Singapore, Quỹ Dự phòng Trung ương (CPF) ở Singapore đóng vai trò là đơn vị quản lý BHXH CPF vẫn được coi là mô hình tiêu chuẩn cho quản lí BHXH trên thế giới
Điểm nổi bật của triết lý CPF là chú trọng đến dịch vụ khách hàng CPF là một trong những cơ quan BHXH thân thiện nhất với khách hàng trên thế giới CPF đã đạt tới những cấp độ rất cao trong việc thông tin với, và tham gia vào, quỹ được thuận tiện cho người sử dụng lao động và người lao động Hiện có các công nghệ tiên tiến cho
Trang 2818
phép giao tiếp thông tin thường xuyên và hiệu quả giữa Quỹ và các bên có liên quan Một lợi ích cụ thể là sử dụng điện thoại thông minh và các ứng dụng khác cho phép các doanh nghiệp nhỏ thực hiện trực tuyến các việc chuyển dữ liệu và đóng phí bảo hiểm cho Quỹ
Bản thân CPF trực tiếp thu phí bảo hiểm và thực hiện giám sát đối với các doanh nghiệp có quy mô từ 123.000 nhân viên Quỹ hoàn toàn có quyền đưa ra các hình thức phạt đối với các doanh nghiệp vi phạm
Một chi tiết đáng quan tâm là mã số nhận dạng cá nhân của quỹ ban đầu do CPF khởi xướng sau đó đã được sử dụng thành Mã số Nhận dạng Cá nhân Quốc gia (SINGPass) và nay được cấp bởi Bộ Nội vụ nhưng được sử dụng cho các tương tác cá nhân giữa mọi cơ quan chính phủ
CPF cũng khác biệt so với nhiều cơ quan BHXH khác ở điểm việc đầu tư của Quỹ được thực hiện bởi một cơ quan là một "cánh tay" hiệu quả của Bộ Tài chính
Mặc dù chi phí quản lí chiếm tỷ lệ thấp và mức độ công nghệ hóa cao, cơ quan này vẫn có số nhân viên tương đối lớn (1600) so với số lượng người tham gia bảo hiểm không nhiều, 3,38 triệu, trong đó khoảng một nửa, 1,74 triệu có tham gia đóng bảo hiểm theo ủy quyền của họ trong 3 tháng gần đây Hiện có gần 400 cán bộ làm việc tại bộ phận CNTT là minh chứng cho nỗ lực xác định trọng tâm là công nghệ để cung cấp dịch vụ có chất lượng cao
Sự tương tác giữa CPF và các cơ quan Chính phủ khác thông qua kết nối cơ sở
dữ liệu của CPF với các CSDL của các Bộ khác ở mức độ cao Việc nhập dữ liệu vào một CDSL, ví dụ đăng kí một doanh nghiệp mới, sẽ được chuyển tự động tới tất cả các CSDL có liên quan
1.4.2 Mô hình cung cấp dịch vụ BHXH tại Vương quốc Anh
Việc đóng phí bảo hiểm cho Chương trình BHXH Anh được thực hiện thông qua dịch vụ thu (HMRC) trong khi các quyền lợi bảo hiểm được tính toán và chi trả thông qua dịch vụ hưu trí (cũng là cơ quan chịu trách nhiệm về chăm sóc xã hội và các dịch vụ khác cũng như chi trả lương hưu) Việc đóng sẽ được thực hiện chung cho mọi loại hình an sinh xã hội theo quy định của chương trình BHXH Anh ngoại trừ các vấn
đề về tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp Ở Anh các bảo hiểm này do doanh nghiệp đóng riêng theo chính sách bảo hiểm cụ thể với các nhà bảo hiểm tư nhân
Trang 2919
Số lượng doanh nghiệp đóng bảo hiểm và vào dữ liệu điện tử hàng tháng đến cơ quan Dịch vụ Thu ngày càng tăng cao
Có sự tách biệt giữa chi trả các quyền lợi bảo hiểm - dịch vụ y tế và tài trợ cho
cơ sở y tế là trách nhiệm của Cơ quan Y tế trực thuộc cơ quan Dịch vụ Y tế Quốc gia Các dược phẩm có trong danh sách quốc gia được phê duyệt và được kê đơn bởi các cán bộ y tế được đăng kí được cấp cho người tham gia bảo hiểm với chi phí tối đa là 7,2 Bảng Anh Mức này bằng khoảng 1% mức lương tuần trugn bình quốc gia Do lương hưu được chi trả bởi Dịch vụ Hưu trí, quyền lợi bảo hiểm thất nghiệp và mất khả năng thuộc trách nhiệm của Cơ quan Lao động và Hưu trí thông qua các Trung tâm Việc làm
Trách nhiệm đảm bảo thu bảo hiểm thuộc về Dịch Vụ Thu Dịch vụ Thu thực hiện kiểm toán các doanh nghiệp mọi yếu tố về nộp thuế và được đưa ra các hình phạt đối với các trường hợp vi phạm Đối với lao động tự do (tự làm công cho bản thân), việc áp đặt đóng bảo hiểm là một vấn đề lớn đối với thuế thu nhập cá nhân Việc đóng bảo hiểm của đối tượng này tỷ lệ với mức thu nhập hộ tự kê khai để nộp thuế Thực tế
có hiện tượng che dấu thu nhập rõ ràng ở nhóm đối tượng này với những người nhận thù lao bằng tiền mặt cho các dịch vụ và không kê khai với cơ quan Dịch vụ Thu, với mục đích trốn thuế TNCN Các quyền lợi BHXH đối với người lao động tư do không rộng rãi như với các lao động tại các doanh nghiệp
Mỗi người dân trên 16 tuổi (kể cả khi còn đi học và chưa đi làm) đều được nhận một Mã số Nhận dạng bảo hiểm Quốc gia cho cả đời Người đủ tư cách về bảo hiểm quốc gia, sẽ được nhận một thẻ bảo hiểm quốc gia (bằng nhựa) cho cả đời - thẻ không
có ảnh Trên thẻ chỉ có mã số (có 2 chữ cái - 6 chữ số và một chữ cái ở cuối, tên và ngày sinh của chủ thẻ) Mã số này được sử dụng cho cả BHXH và các vấn đề về thuế
Cơ quan Dịch vụ Y tế Anh có nhiều điểm tương tự Việt Nam - một người đăng
kí với một cơ sở khám chữa và trong điều kiện bình thường chỉ được đến khám chữa tại cơ sở đó Các trường hợp cấp cứu có thể được chấp nhận tại mọi cơ sở y tế nhưng việc điều trị không cấp cứu cần có sự ủy quyền của cơ sở y tế đã đăng kí đối với cơ sở
dự định điều trị Việc điều trị tại bệnh viện có thể mất nhiều thời gian, do vậy tỷ lệ tham gia BHYT tư nhân trong tổng dân số ngày càng cao, nhằm tránh tình trạng chậm chễ trong các bệnh viện công do việc cho phép điều trị tại các bệnh viện tư nhân
Trang 3020
Cá nhân cần điều trị y tế phải đăng kí với bác sỹ của mình (tuy nhiên do nhu cầu, có thể không thể đăng kí được với bác sỹ mong muốn) Để đăng kí với người hành nghề y đòi hỏi phải có thẻ đăng kí do Quỹ ủy thác y tế địa phương cấp vào lần đầu tiên cá nhân đó đi khám chữa bệnh ở trong nước Thẻ này cần được thay đổi khi
cá nhân/gia đình thay đổi địa chỉ thường trú
Nước Anh có cơ sở cho việc đóng bảo hiểm của người lao động khác so với lao động tự do Người lao động đóng phí bảo hiểm tại nguồn, khấu trừ hàng tháng bởi doanh nghiệp cùng với các loại thuế khác như GTGT, thuế thu nhập doanh nghiệp mà doanh nghiệp phải thực hiện Người lao động tự do đóng BHXH bao gồm trong tổng
số "thuế" mà họ nộp Việc đóng bảo hiểm này thực hiện hàng năm - thông thường là sau 8 tháng
Thông tin đóng bảo hiểm được cơ quan Dịch vụ Thu cấp cho cơ quan Dịch vụ Hưu trí Quy trình lưu giữ sổ sách ở Anh đơn giản hơn nhiều do cấu trúc quyền lợi Ở Anh, những khác biệt về lương hưu chỉ là do thời gian công tác khác nhau Hai người hưởng lương hưu có thời gian đóng bảo hiểm tối đa là 30 năm nhận cùng một mức lương hưu, không phụ thuộc vào mức lương họ nhận khi làm việc Họ có thể nhận được lương hưu cao hơn do các đặc thù cá nhân nhưng không được chi trả từ BHXH
Nước Anh không thực sự phát triển trong việc sử dụng công nghệ trong cung cấp thông tin tới người tham gia Ví dụ người tham gia không thể truy cập trực tuyến thông tin cá nhân của mình Đối tượng muốn có thông tin về các quyền lợi được hưởng cần gửi yêu cầu bằng văn bản tới cơ quan liên quan
Thực tế ở Anh cho thấy một số ví dụ qua đó thấy được nhu cầu giám sát thận trọng việc ứng dụng CNTT Cho đến nay đã có 2 sự cố liên quan đến ứng dụng CNTT
Sự cố đầu tiên là trong lĩnh vực lương hưu do chi phí và thời gian cho việc tái phát triển CNTT vượt quá dự kiến và sự cố thứ hai liên quan đến nỗ lực kết nối tất cả các bác sỹ với một cơ sở dữ liệu sau đó đã phải chấm dứt giữa chừng
1.4.3 Mô hình cung cấp dịch vụ BHXH tại Liên bang Nga
Mô hình cung cấp dịch vụ BHXH của Nga rất thú vị do ngay sau sự tan rã của Liên bang Xô Viết, các yếu tố của chương trình xã hội được hình thành bởi đóng góp của các doanh nghiệp và việc thu phí được thực hiện bởi các quỹ Hiện các doanh nghiệp đóng góp vào 3 quỹ - quỹ thứ nhất là cho lương hưu, quỹ thứ hai là cho khu vực BHYT liên bang và quỹ thứ ba là cho khu vực BHYT tương đương với cấp độ
Trang 31Tuy nhiên ở Nga, mô hình và thực tế triển khai có nhiều khác biệt so với các nước khác trên thế giới Tỷ lệ tổng thu của các quỹ xã hội liên tục giảm Nguyên nhân
là do quản lí kém việc tuân thủ chính sách của Thanh tra Thuế Nhà nước - các doanh nghiệp nhanh chóng nhận ra rằng cơ quan này có rất ít quyền lợi trong việc bảo đảm rằng các doanh nghiệp đóng các loại phí bảo hiểm nghiêm túc Và nếu việc nộp thuế được thực hiện nghiêm túc thì Thanh tra Thuế cũng có rất ít quyền lợi trong việc bảo đảm ở mức độ cao việc phân bổ chi trả cho các quỹ xã hội Hậu quả là các doanh nghiệp ngay lập tức triển khai việc nộp thuế đầy đủ, nhưng gần như không nộp các loại phí bảo hiểm, dẫn đến các vấn đề nghiêm trọng về nguồn thu của các quỹ này
Năm 2010, Liên bang Nga quyết định quay về phương thức các khoản nộp cho quỹ xã hội do doanh nghiệp thực hiện được chuyển trực tiếp đến các quỹ xã hội và y
tế Với việc này, các quỹ đã có thực quyền hơn
1.4.4 Mô hình cung cấp dịch vụ BHXH tại Trung Quốc
Trung Quốc có đầy đủ các loại hình bảo hiểm tương tự như Việt Nam Mặc dù các chính sách được đưa ra ở cấp trung ương, nhưng do số lượng thực tế người tham gia hệ thống BHXH, các công việc hành chính được thực hiện ở cấp tỉnh Hiện Trung Quốc nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật của Liên minh Châu Âu trong lĩnh vực BHXH, hỗ trợ 6 tỉnh
Có 4 vấn đề lớn liên quan đến việc quản lí BHXH ở Trung Quốc
Thứ nhất là mọi người dân Trung Quốc đều được cấp mã sỗ nhận dạng quốc gia Mã số này được cấp bởi cơ quan tương tự như Bộ Nội vụ của Việt Nam Ngoại trừ khi đi ra nước ngoài cần sử dụng hộ chiếu với số hộ chiếu riêng, mã số nhân dạng
Trang 3222
quốc gia được sử dụng chung cho tất cả các cơ quan chính quyền để nhận dạng người dân Thẻ có ảnh cá nhân và được cấp đổi với thời hạn 10 năm cho người lớn Ngoài ra còn có hệ thống đăng kí khác gọi là "houkou" (hộ khẩu) nhưng hệ thống này liên quan đến việc đăng kí thường trú chính thức của người dân Ví dụ công dân làm việc trong các cơ quan nhà nước khi chính thức chuyển từ một địa điểm sang địa điểm mới sẽ được cấp hộ khẩu mới
Vấn đề thứ hai là Chính phủ Trung Quốc thừa nhận CNTT là then chốt đối với việc quản lí hiệu quả chương trình BHXH Chính Phủ phát triển chương trình "Bảo hiểm vàng" theo đó cung cấp nguồn vốn quan trọng cho các cơ quan BHXH cấp tỉnh
để xây dựng các hệ thống CNTT địa phương Trong phần lớn trường hợp, khoản kinh phí do Chính Phủ cấp cho CNTT được cấp có điều kiện, là các cơ quan BHXH địa phương cần đánh giá phân tích các quy trình nghiệp vụ của mình Tuy nhiên ở phần lớn các địa phương còn tồn tại nhiều vấn đề liên quan đến việc truyền thông còn phải triển khai Ở phần lớn các địa phương chưa có các CSDL hiệu quả do việc truyền dữ liệu từ một cấp tới một cấp khác trong hệ thống BHXH còn hạn chế Nhưng không thể nói rằng chưa có tỉnh nào thực hiện được việc này, tuy nhiên những tỉnh thành công là những địa phương như Bắc Kinh, Thượng Hải, có diện tích nhỏ và có năng lực truyền thông tương đối mạnh
Thứ ba, Trung Quốc có những vấn đề tồn tại tương tự Việt Nam trong lĩnh vực BHYT Thực tế tồn tại việc thanh toán vượt mức đối với các bác sỹ và kê đơn vượt mức đối với việc cấp phát thuốc Để phần nào khắc phục tình hình này (đây là vấn đề thực tế đối với đa số các quốc gia trên thế giới), đòi hỏi mọi cơ sở y tế có hệ thống máy tính kết nối với CSDL BHYT và với văn phòng BHXH địa phương để có thể giám sát theo thời gian thực việc thanh toán của hệ thống BHYT Mặc dù trong quyền hạn thì cơ quan này không ngăn ngừa tình trạng gian lận, nhưng văn phòng BHXH có thể thẩm tra CSDL để có các thông tin thống kê và sử dụng các số liệu thống kê để tăng cường kiểm tra giám sát các bác sỹ và nhà thuốc Hệ thống này có thể cung cấp các thông tin về các kết luận chuẩn đoán của các nhân viên y tế để tìm ra các trường hợp gian lận, họ cũng có thể xác định các xu hướng sử dụng thuốc để xác định xem các bác sỹ liên tục kê đơn các loại thuốc không gốc hay không, các hệ thống có thể kiểm soát việc thanh toán hóa đơn thuốc và đảm bảo việc cấp phát thuốc được giám
Trang 33Kết quả chủ yếu của việc xây dựng các quy tình nghiệp vụ và phần mềm mới là việc giảm mức độ gian lận trong ghi chép các dữ liệu đóng bảo hiểm và chi trả lương hưu Hệ thống lương hưu dựa trên cơ sở mức lương hàng tháng và số tháng đóng abỏ hiểm Các quy trình mới và phần mềm liên quan đã xây dựng hệ thống kiểm soát bổ sung đối với hệ thống Các cá nhân không thể tự chỉnh sửa dữ liệu đóng bảo hiểm mà không tham vấn với cấp giám sát và quy trình đỏi hỏi sự tương tác với hồ sơ đóng bảo hiểm của doanh nghiệp nhằm đảm bảo rằng tổng số tiền đóng bảo hiểm của tất cả nhân viên phải bằng số tiền mà doanh nghiệp chuyển trả cho cơ quan bảo hiểm
Đối với việc chi trả đã có nhiều cải tiến quan trọng trong kiểm soát nội bộ Đây
là một trong những vấn đề gây nhiều tranh luận nhất Trước đây, các nhân viên có thể thực hiện tính toán và phê chuẩn mức lương hưu, tạo điều kiện cho tham nhũng và gian lận khi đưa ra mức lương hưu cao hơn cho bạn bè, gia đình, người thân Hiện nay nhân viên ở cấp thấp nhất của tổ chức không được quyền phê chuẩn mức lương hưu nữa - đây là nhiệm vụ của cấp giám sát cao hơn, là cấp được phe echuân rmức lương hưu trên thực tế Các địa phương chi trả lương hưu qua tài khoản ngân hàng ngày càng nhiều hơn Việc này là quan trọng nếu không người được hưởng hưu trí sẽ phải đề nghị cơ quan BHXH chi trả thông qua cán bộ ở cấp xã (hiện có cán bộ BHXH xã và cán bộ BH y tế xã là những người nhận và chi trả lương hưu)
Trung Quốc cũng phải đối mặt với những vấn đề tương tự Việt Nam - như chưa
có quy định pháp lí về chữ kí điện tử Các doanh nghiệp ngày càng sử dụng công nghệ
để gửi dữ liệu đóng BH nhiều hơn tới các cơ quan BHXH địa phương, tuy nhiên bản
Trang 3424
dữ liệu điện tử không được chấp nhận trong trường hợp có tranh chấp pháp lí về mức lương hưu do văn phòng bảo hiểm xác định Việc này đòi hỏi có văn bản tài liệu in trên giấy tuy nhiên ở nhiều địa phương cơ quan BHXH chấp thuận tài liệu có chữ kí trên bản tóm lược hàng năm chứ không yêu cầu phải nộp tài liệu in trên giấy hàng tháng Ở một số địa phương như Thượng Hải, Bắc Kinh, việc quét tài liệu (scan) được thực hiện để lưu trữ điện tử các tài liệu giấy để có thể in ra khi có tranh chấp Các địa phương khác từ chối phương pháp quét tài liệu này do vấn đề chi phí và thực tế hiện nay đó được coi là hình thức "phô tô copy đắt đỏ"
Ở Trung Quốc hiện có nhiều kinh nghiệm khác nhau về thu phí bảo hiểm Phần lớn các tỉnh đòi hỏi doanh nghiệp chuyển dữ liệu và chuyển phí bảo hiểm trực tiếp đến
cơ quan BHXH Một số ít các địa phương khác như tỉnh Sha'an lại sử dụng mô hình thu bảo hiểm đặc thù, theo đó phí bảo hiểm được chuyển đến cơ quan Thuế Số 6 tỉnh nhận được hỗ trợ kỹ thuật của EU lại không bị các ưu điểm của việc chuyển trách nhiệm thu phí bảo hiểm đến cơ quan Thuế thuyết phục
1.4.5 Mô hình cung cấp dịch vụ BHXH tại Ba Lan và Phần Lan
Các nước này được đề cập đến do việc họ có chính sách BHXH cho nông dân
và công nhân nông nghiệp Ở cả 2 nước này có hệ thống BHXH cho lao động nông nghiệp và các người phụ thuộc vào họ tách biệt với hệ thống BHXH chung Các hệ thống này dựa trên mức đóng góp - ở Ba Lan mức đóng góp dựa trên diện tích đất của người nông dân còn ở Phần Lan thì dựa trên số lượng nông sản người nông dân bán ra thị trường Trong cả 2 trường hợp, phí đóng bảo hiểm chỉ bằng khoảng 10% tổng mức chi trả quyền lợi bảo hiểm, khoản thiếu hụt được bù bởi ngân sách nhà nước và được tính như khoản trợ giá cho lĩnh vực nông nghiệp
1.4.6 Mô hình cung cấp dịch vụ BHXH tại Hàn Quốc
BHXH tại Hàn Quốc do 4 cơ quan nhà nước cung cấp 4 loại hình Bảo hiểm (BHXH, BHYT, Bảo hiểm tai nạn lao động, Bảo hiểm thất nghiệp) Người lao động hoặc doanh nghiệp có thể lựa chọn hình thức nộp hồ sơ, nộp tiền, vay tiền trực tuyến trên mạng internet; đến trụ sở cơ quan BHXH trong giờ làm việc hoặc thông qua các cửa hàng 24h Sử dụng 1 tờ khai duy nhất cho cả 4 loại Bảo hiểm nêu trên (sắp tới sẽ khai chung với tờ khai Thuế) và được số hóa gửi lên Trung tâm G4C (Group 4 Copration) Tại đây hệ thống tự động tách số liệu về cho 4 cơ quan nêu trên
Trang 35Phương pháp duy vật biện chứng: Là phương pháp luận nghiên cứu, xem xét sự việc, hiện tượng trong các mối liên hệ, ảnh hưởng tác động lẫn nhau không ngừng nảy sinh, vận động và giải quyết mâu thuẫn làm cho sự vật phát triển
Phương pháp duy vật lịch sử: Là phương pháp luận nghiên cứu duy vật về lịch
sử phát triển của xã hội loài người Chính đời sống vật chất quyết định đời sống tinh thần của con người
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và phương pháp luận duy vật lịch sử để phân tích đánh giá thực trạng mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Việt Nam giai đoạn 2011-2014, để từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Việt Nam cho thời gian tới
2.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.2.1 Phương pháp phân tích
Phân tích trước hết là phân chia cái toàn thể của đối tượng nghiên cứu thành những bộ phận, những mặt, những yếu tố cấu thành giản đơn hơn để nghiên cứu, phát hiện ra từng thuộc tính và bản chất của từng yếu tố đó, và từ đó giúp chúng ta hiểu được đối tượng nghiên cứu một cách mạch lạc hơn, hiểu được cái chung phức tạp từ những yếu tố bộ phận ấy
Khi chúng ta đứng trước một đối tượng nghiên cứu, chúng ta cảm giác được nhiều hiện tượng đan xen nhau, chồng chéo nhau làm lu mờ bản chất của nó.Vậy muốn hiểu được bản chất của một đối tượng nghiên cứu chúng ta cần phải phân chia
nó theo cấp bậc
Trang 36Trong Luận văn của mình, tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích trong quá trình tiếp cận với đối tượng nghiên cứu là mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Để hiểu được mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH là gì, trước tiên chúng ta cần phải hiểu được các khái niệm về mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH và mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH, nội dung và các tiêu chí đánh giá mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH
Phương pháp phân tích không chỉ được tác giả sử dụng triệt để trong Chương 1 khi đề cập đến các vấn đề mang tính lý luận mà còn được tác giả sử dụng trong hầu hết các phần còn lại của Luận văn
2.2.2 Phương pháp tổng hợp
Bước tiếp theo của phân tích là tổng hợp Tổng hợp là quá trình ngược với quá trình phân tích, nhưng lại hỗ trợ cho quá trình phân tích để tìm ra cái chung cái khái quát Từ những kết quả nghiên cứu từng mặt, phải tổng hợp lại để có nhận thức đầy
đủ, đúng đắn cái chung, tìm ra được bản chất, quy luật vận động của đối tượng nghiên cứu
Phân tích và tổng hợp là hai phương pháp gắn bó chặt chẽ, quy định và bổ sung cho nhau trong nghiên cứu và có cơ sở khách quan trong cấu tạo, trong tính quy luật của bản thân sự vật Trong phân tích, việc xây dựng một cách đúng đắn tiêu thức phân loại làm cơ sở khoa học hình thành đối tượng nghiên cứu bộ phận ấy, có ý nghĩa rất quan trọng Trong nghiên cứu tổng hợp vai trò quan trọng thuộc về khả năng liên kết các kết quả cụ thể (có lúc ngược nhau) từ sự phân tích, khả năng trừu tượng, khái quát nắm bắt được mặt định tính từ rất nhiều khía cạnh định lượng khác nhau
Phương pháp tổng hợp giúp tác giả đưa ra những nhận định và đánh giá khái quát về vấn đề nghiên cứu trong luận văn của mình Ngay từ Chương 1, khi giới thiệu tổng quan về tình hình nghiên cứu, từ việc đề cập đến các công trình nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước, tác giả đã tóm tắt, tổng hợp lại những vấn đề chính có liên
Trang 3727
quan đến việc cải cách thủ tục hành chính và tái cấu trúc BHXH Việt Nam nói chung
và vấn đề mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH nói riêng
2.2.3 Phương pháp so sánh
So sánh (hoặc so sánh đối chiếu) là một thao tác nghiên cứu được dùng trong nhiều ngành khoa học khác nhau Vai trò quan trọng ít hay nhiều của thao tác nghiên cứu này là tùy thuộc vào đặc điểm bản chất của đối tượng nghiên cứu, và do đó vào nhiệm vụ của ngành khoa học nghiên cứu đối tượng ấy Có những ngành khoa học nếu không vận dụng phương pháp nghiên cứu so sánh thì không thể giải quyết nổi những vấn đề cơ bản phát sinh trong quá trình nghiên cứu đối tượng
Phương pháp so sánh được tác giả sử dụng khá triệt để trong Chương 3 của luận văn khi nghiên cứu về thực trạng mô hình cung cấp dịch vụ công BHXH Việc phân tích thực trạng dựa trên phân tính tính hợp lý của các quy trình nghiệp vụ; của mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Việt Nam hiện nay, đưa ra đánh giá và khuyến nghị, từ
đó đề xuất sâu hơn về giải pháp
2.2.4 Phương pháp thống kê mô tả và nghiên cứu tài liệu
Thống kê là một hệ thống các phương pháp bao gồm thu thập, tổng hợp, trình bày số liệu, tính toán các đặc trưng của đối tượng nghiên cứu nhằm phục vụ cho quá trình phân tích, dự đoán và ra quyết định
Thống kê mô tả là các phương pháp có liên quan đến việc thu thập số liệu, tóm tắt, trình bày, tính toán và mô tả các đặc trưng khác nhau để phản ánh một cách tổng quát đối tượng nghiên cứu, ở đây chính là thực trạng của các quy trình nghiệp vụ Thống kê và so sánh là hai phương pháp được sử dụng song hành với nhau trong luận văn Các phương pháp thống kê mô tả, thống kê phân tích được sử dụng trong quá trình nghiên cứu luận văn để phân tích thực trạng mô hình cung cấp dịch vụ của bảo hiểm xã hội Các phương pháp này cũng giúp cho việc tổng hợp tài liệu, tính toán các
số liệu được chính xác, phân tích tài liệu được khoa học, phù hợp, khách quan, phản ánh được đúng nội dung cần phân tích
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: là phương pháp thu thập thông tin hoàn toàn gián tiếp, không tiếp xúc với đối tượng khảo sát
- Các số liệu thứ cấp được sắp xếp theo từng nội dung nghiên cứu của luận văn
Trang 3828
- Số liệu thứ cấp dạng thô được tổng hợp từ các nguồn tài liệu sẵn có của Bảo hiểm xã hội Việt Nam thông qua các văn bản hướng dẫn và báo cáo về công tác quy hoạch của các đơn vị và được xử lý trên phần mềm Excel
2.3 Địa điểm và thời gian thực hiện nghiên cứu
Địa điểm: Nghiên cứu được thực hiện tại BHXH Việt Nam
Thời gian: Thời gian thực hiện nghiên cứu là giai đoạn 2012 – 2014, tầm nhìn
2020
2.4 Các bước thực hiện và thu thập số liệu
Tác giả thực hiện Luận văn theo tuần tự các bước nghiên cứu như sau:
Bước 1: Nghiên cứu tài liệu nhằm xác định khung lý thuyết, cơ sở lý luận về
mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH
Bước này chủ yếu phục vụ cho công tác nghiên cứu tại chương 1 Trong chương này tác giả chủ yếu thu thập tài liệu trên các văn bản, đề tài, đề án, chế độ chính sách về mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Việt Nam và mốt số nước trên thế giới, các báo cáo và kết quả nghiên cứu của các đề tài có liên quan, các bài báo, tạp chí
đã đăng những vấn đề liên quan đến mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Việt Nam hiện nay …
Trong phần này tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích, tổng hợp… để liệt kê, trình bày những khái niệm cơ bản, những nội dung quan trọng liên quan đến mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH được đề cập tại chương 1 như: Định nghĩa mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH, nội dung mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH, các tiêu chí đánh giá mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH… Để
từ đó tìm ra những điểm mới mà các tác giả trước chưa thực hiện
Bước 2: Thu thập tài liệu, số liệu phục vụ phân tích thực trạng mô hình cung
cấp dịch vụ của BHXH Việt Nam hiện nay
Bước này chủ yếu phục vụ cho chương 3 Trong bước này tác giả thu thập số liệu thứ cấp dạng thô trên các báo cáo tổng kết của BHXH Việt Nam, Ngân hàng thế giới Nguồn Internet: http://tapchibaohiemxahoi.gov.vn/, http://www.bhxhbqp.vn/, http://tinbaohiem.com/
Các số liệu thu thập này được xử lý bằng phần mềm Exel
Trang 3929
Trong chương này tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả, tổng hợp, phân tích, so sánh để thu thập thông tin, phân tích số liệu về mức độ tự động hóa hiện tại của mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Việt Nam, đánh giá những mặt ưu điểm, hạn chế và tìm ra nguyên nhân của những hạn chế của mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Việt Nam hiện nay
Bước 3: Trên cơ sở phân tích thực trạng mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH
Việt Nam tác giả đề xuất một số giải pháp hoàn thiện mô hình cung cấp dịch vụ của BHXH Việt Nam
2.5 Các công cụ được sử dụng
Luận văn chủ yếu sử dụng phần mềm Excel để xử lý số liệu
Trang 4030
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG MÔ HÌNH CUNG CẤP DỊCH VỤ
CỦA BHXH VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1 Giới thiệu về BHXH Việt Nam
- BHXH Việt Nam được thành lập ngày 16 tháng 02 năm 1995 trên cơ sở thống nhất các tổ chức BHXH ở Trung ương và địa phương thuộc hệ thống Lao động - Thương binh và Xã hội và Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam để giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo công tác quản lý quỹ BHXH và thực hiện các chế độ, chính sách BHXH theo pháp luật của Nhà nước
- BHXH là chính sách lớn của Đảng và Nhà nước góp phần bảo đảm ổn định đời
sống cho người lao động ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy sự nghiệp
xây dựng đất nước, bảo vệ tổ quốc
- BHXH là sự đảm bảo thay thế được bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm bảo đảm an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội
- Chính sách BHXH là một bộ phận quan trọng trong chính sách kinh tế và xã
hội của Nhà nước, là những chủ trương, quan điểm, nguyên tắc BHXH để giải quyết các vấn đề xã hội liên quan đến một tầng lớp đông đảo người lao động và các vấn đề kích thích phát triển kinh tế của từng thời kỳ Trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau, chính sách BHXH được Nhà nước đề ra và thực hiện phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội từng giai đoạn
- Mô hình tổ chức BHXH Việt Nam được tổ chức và quản lý theo hệ thống dọc, tập trung thống nhất từ trung ương đến địa phương, gồm có:
1 Ở Trung ương là BHXH Việt Nam
2 Ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là BHXH tỉnh, thành phố trực thuộc BHXH Việt Nam
3 Ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh là BHXH huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc BHXH tỉnh