1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu chế định thương mại dịch vụ của tổ chức thương mại thế giới và các giải pháp hoàn thiện pháp luật thương mại việt nam từ yêu cầu của việc gia nhập WTO

108 62 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 10,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, các quốc gia muốn gia nhập WTO cần phải có một hệ thống pháp luật minh bạch, phù hợp theo các yêu cầu của WTO trong các lĩnh vực như thương mại hàng hoá, sở hữu trí tuệ, thương

Trang 2

NGUYỀN VẦN CẢNH

NGHIÊN CỨU CHẼ Đ|NH th ư ơ n g mại d ịc h vụ c ủ a Tổ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI VÀ C Á C GIẢI PHẤP HOẰN THIỆN PHÁP LUẬT THUONG MẠI VIỆT NAM TỪ YẼU CẦU CỦA ■ ■ ■ ■

VIỆC VIỆT NAM GIA NHẬP WTO ■ ■ ■

Trang 3

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn cản h

Trang 4

Úc - Viện trưởng Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, tuy rất bận trong công tác chuyên môn và công tác quản lý của mình nhưng đã dành nhiều thời gian hướng dẫn tác giả một cách tận tình, chu đáo.

Xin cảm ơn các thầy, cô giáo Viện Nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, Trường Đại học Luật Hà Nội, Phòng Đào tạo Viện Nghiên cứu Nhà nước, Khoa Sau đại học Trường đại học Luật Hà Nội đã truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm cũng như đã giúp đỡ tác giả hoàn thành đề tài luận văn

Xin chân thành cảm ơn Khoa Sau đại học, Trường đại học Ngoại thương và các anh chị, các bạn đồng nghiệp đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi và động viên khuyến khích để tác giả hoàn thành công việc học tập và nghiên cứu /

Trang 5

CHƯƠNG I: NHŨNG VẤN ĐÊ l ý l u ậ n c h u n g v ề c h ế đ ịn h t h ư ơ n g m ạ i

DỊCH VỤ CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIÓI 6

1.1 KHÁI NIỆM VỀ DỊCH v ụ VÀ THƯƠNG MẠI DỊCH v ụ 6

1.1.1 Dịch vụ, thương mại dịch vụ là gì? 6

1.1.1.1 Dịch vụ 6

1.1.1.2 Thương mại dịch vụ 8

1.1.2 Những đặc điểm cơ bản của thương mại dịch vụ hiện nay 9

1.1.2.1 Tính chất khó thương mại hóa của hoạt động dịch vụ 9

1.1.2.2 Tính đa dạng của các hình thức thương mại dịch vụ 10

1.1.2.3 Vai trò của doanh nghiệp độc quyền trong ngành dịch vụ 10

1.1.2.4 Sự can thiệp của Nha nước thông qua các biện pháp tác động tới khả nàng cung cấp và tiêu dùng dịch vụ 11

1.1.3 Vai trò của thương mại dịch vụ trong nền kinh tế thế giới 12

1.1.3.1 Thúc đẩy lưu thông dịch vụ quốc tế 12

1.1.3.2 Là một bộ phận quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế thế giới, tạo giá trị thặng dư cao 13

1.1.3.3 Là bộ phận tăng trưởng cao trong thương mại quốc tế 13

1.1.3.4 Là một trong những nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh trong kinh doanh quốc tế 14

1.2 CHẾ ĐỊNH THƯƠNG MẠI DỊCH v ụ CỦA T ổ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (W TO) 14

1.2.1 Giới thiệu chung về W TO 14

1.2.2.1 Mục tiêu của GATS 21

1.2.2.2 Phạm vi áp dụng của GATS 22

1.2.2.3 Các phương thức cung cấp dịch vụ theo GATS 23

1.2.2.4 Những nguyên tắc điều chỉnh thương mại dịch vụ 23

1.2.2.5 Các ngành dịch vụ trong GATS 29

1.2.2.6 Danh mục cam kết cụ thể của các quốc gia thành viên 29

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG MẠI DỊCH v ụ Ở VIỆT NAM 34

2.1 THỤC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 34

2.1.1 Thực trạng hoạt động thương mại nói chung 34

Trang 6

2.1.2 Thực trạng hoạt động thương mại dịch vụ 35

2.1.2.1 Nhận xét chung 35

2.1.2.2 Những kết quả, thành tựu 35

2.2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 40

2.2.1 Thực trạng pháp luật thương mại Việt Nam trước khi ban hành Luật thương mại năm 1997 40

2.2.1.1 Đánh giá thực trạng pháp luật thương mại Việt Nam trước thời kỳ đổi m ới 40

2.2.1.2 Đánh giá thực trạng pháp luật thương mại Việt Nam kể từ khi có đường lối đổi mới (từ 1988 đến 1997) 41

2.2.2 Đánh giá thực trạng pháp luật thương mại từ khi ban hành Luật thương mại Việt Nam năm 1997 45

2.2.2.1 Những thành tựu: 46

2.2.2.2 Những tồn tại 53

2.2.3 Đánh giá sự khác biệt của pháp luật thương mại Việt Nam đối với các quy định chung của W TO 62

2.2.3.1 Sự khác biệt của pháp luật thương mại Việt Nam nói chung với các quy định của W T O 62

2.2.3.2 Sự khác biệt giữa Luật thương mại Việt Nam năm 1997 với các quy định của W TO 64

2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THUƠNG MẠI DỊCH v ụ 66 2.3.1 Nhận xét chung về thực trạng pháp luật thương mại dịch vụ ở Việt Nam 66

2.3.1.1 Việt Nam chưa có khái niệm hoàn chỉnh về thương mại p.ich vụ 66

2.3.1.2 Pháp luật về thương mại dịch vụ nước ta còn manh mún, rải rác và chưa đồng bộ 66

2.3.1.3 Pháp luật về thương mại địch vụ còn mang dấu ấn của cơ chế kế hoạch hoá tập trung 67

2.3.2 Thực trạng của pháp luật Việt Nam về một số nghành dịch vụ quan trọng 68

2.3.3 Đánh giá sự khác biệt của pháp luật Việt Nam về thương mại dịch vụ so với các chế định tương ứng GATS 70

2.3.3.1 Những điểm khác biệt về các nguyên tắc chung điều chỉnh thương mại dịch vụ 70

2.3.3.2 Những điểm khác biệt trong một số lĩnh vực quan trọng 72

Trang 7

TỪ YÊU CẦU CỦA VIỆC VIỆT NAM GIA NHẬP WTO 75

3.1 NGHIÊN c ú u KINH NGHIỆM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI CỦA MỘT SỐ NƯỚC 75

3.1.1 Đặc điểm, kinh nghiệm hoàn thiện pháp luật thương mại của Hoa Kỳ 75

3.1.2 Kinh nghiệm hoàn thiện pháp luật của Cộng hoà Pháp 76

3.1.3 Kinh nghiệm hoàn thiện pháp luật thương mại của Singapore 81

3.2 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TỪ YÊU CẦU CỦA VIỆC VIỆT NAM GIA NHẬP W TO 82

3.2.1 Quan điểm chỉ đạo khi hoàn thiện pháp luật thương mại Việt Nam 82

3.2.2 Các nguyên tắc cơ bản trong việc hoàn thiện pháp luật thương mại Việt Nam 84 3.2.3 Các giải pháp cụ thể vê hoàn thiệp pháp luât thưưng mại Việt Nam 84

3.2.3.1 Sửa đổi bổ sung Luật thương mại Việt Nam năm 1997 84

3.2.3.2 Kịp thời ban hành đầy đủ các văn bản dưới luật để hướng dẫn thi hành Luật thương m ại 89

3.2.3.3 Tích cực, chủ động tham gia ký kết các điều ước quốc tế về thưomg mại 89

3.2.3.4 Tiếp tục hoàn thiện pháp luật Việt Nam nói chung và các văn bản pháp luật chuyên ngành nói riêng 90

3.2.3.5 Khẩn trương ban hành luật cạnh tranh 91

3.3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THƯƠNG MẠI DỊCH v ụ 92 3.3.1 Sửa đổi Luật thương mại Việt Nam Iiăm 1997 theo hướng coi Luật này là đạo luật khung điều chỉnh các hoạt động thương mại ở Việt Nam trong đó có hoạt động thương mại dịch vụ 92

3.3.2 Khẩn trương xây dựng, ban hành mới hoặc sừa đổi, bổ sung các đạo luật chuyên ngành về dịch vụ theo hướng tiếp cận dần với cách hiểu của WTO/GATS 92

3.3.3 Các giải pháp cho từng lĩnh vực cụ thể 93

Kết lu ậ n 97

Trang 8

GATS General agreement on

Trade and Services Hiệp định chung về Thương mại và Dịch vụGATT General agreement on

Tariffs and Trade Hiệp định chung về Thuế quan và Mậu dịchMFN Most Favoured Nation Tối huệ quốc

NT National Treatment Đối xử quốc gia

WTO World Trade Organisation Tổ chức Thương mại thế giới

ITO International Trade

Organization Tổ chức Thương mại quốc tế

Trang 9

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỂ TÀI.

Sự phát triển của các ngành dịch vụ trong khoảng 2 thập niên trở lại đây đã thực

sự làm chuyển biến nhận thức chung về vai trò của các ngành dịch vụ trong nền kinh

tế Năm 1982, tổng giá trị thương mại dịch vụ của thế giới vào khoảng 500 tỷ USD thì năm 1992 đã đạt con số 1.000 tỷ USD Hiện nay, thương mại dịch vụ chiếm 20% giá trị thương mại của thế giới Liên minh châu Âu (EU) (chiếm khoảng 43% tổng thương mại dịch vụ của EU, sử dụng trên 42% lực lượng lao động xã hội và đóng góp gần 50% tổng sản phẩm quốc nội của các nước thuộc liên m inh)[l] Các quốc gia trên thế giới đã nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển các ngành dịch vụ cũng như xây dựng được khuôn khổ pháp lý chung nhằm tăng cường hnạt động trao đổị mua bán dịch vụ

Đối với Việt Nam, xuất phát điểm là một quốc gia đang phát triển có nén kinh tế chuyển đổi, hiện nay quan niệm về vai trò, nội dung của dịch vụ đối với nước ta còn

có nhiều bất cập Thậm chi, những khái niệm mới mẻ trong lĩnh vực dịch vụ tài chính

và dịch vụ viễn thông cơ bản trong GATS vẫn còn gây nhiều tranh cãi ở nước ta Điều đó đang và có thể cản trở không nhỏ đến việc xây dựng và triển khai các chính sách phát triển và quản lý dịch vụ của nước ta một cách thích hợp, hiệu quả

Toàn cầu hoá kinh tế, tự do hoá thương mại, Hên kết kinh tẽ khu vực và thế giới hiện nay đã trở thành xu thế nổi bận và không một nền kinh tế nào có thể đứng ngoài quá trình này nếu muốn tranh thủ một cơ hội để phát triển Từ chỗ bị bao vây, cấm vận, hiện nay Việt Nam có quan hệ ngoại giao với trên 170 nước, thị trường xuất khẩu được mở rộng trên khắp các châu lục Tháng 1 năm 1995 Việt Nam đã đệ đơn xin gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và trở thành quan sát viên của WTO Tháng 8 năm 1996 Việt Nam đã hoàn thành Bản "Bị vong lục về chế độ ngoại thương" và gửi cho Ban Thư ký WTO để chuyển tới các thành viên Ban Công tác Bản Bị vong lục giới thiệu về tổng quan về tình hình kinh tế, chính sách kinh tế vĩ mô

và chính sách thương mại hoàn hoá, dịch vụ và sở hữu trí tuệ của Việt Nam Việt Nam đã nhận 1552 câu hỏi về chính sách kinh tế - thương mại, đến tháng 12/2003 đã

có 7 phiên họp của Ban Công tác về Việt Nam gia nhập WTO (phiên họp thứ 8 dự kiến diễn ra đầu quý 2/2004) Để trở thành thành viên của WTO Việt Nam phải thực hiện rất nhiều cổng việc, như tiến hành đàm phán song phương với 18 nước như Mỹ,

LỜI NÓI ĐẦU

Trang 10

Nhật Bản, EU, Pháp, Hàn Quốc, các nước Mỹ Latinh [20] và đặc biệt là "phải đảm

bảo các luật, quy tắc và quy phạm hành chính của nước mình tương thích với các nghĩa vụ được quy định trong các hiệp định của W ĨO " như Điều XVI.4 của Hiệp

định thành lập WTO Như vậy, các quốc gia muốn gia nhập WTO cần phải có một hệ thống pháp luật minh bạch, phù hợp theo các yêu cầu của WTO trong các lĩnh vực như thương mại hàng hoá, sở hữu trí tuệ, thương mại dịch vụ để tạo ra môi trường công bằng, không phân biệt nhằm thúc đẩy việc phát triển mậu dịch về hàng hoá và dịch vụ giữa các quốc gia thành viên

Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX cũng đã khẳng định rõ phải "đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật, phải nghiên cứu sửa đổi bổ sung khung pháp luật, phải nghiên cứu sửa đổi bổ sung Luật Thương mại và các văn bản pháp luật có liên quan đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế" của Việt Nam trong giai đoạn mới

Trong bối cảnh như vậy, việc nghiên cứu chế định thương mại dịch vụ của Tổ chức Thương mại thế giới và tìm ra các giải pháp hoàn thiẹn pháp luật thương mại Việt Nam nói chung và pháp luật Việt Nam về thương mại dịch vụ nói riêng gop phần vào việc chuẩn bị đàm phán để Việt Nam sớm gia nhập WTO và thực hiện các cam kết các quy định của WTO sau khi được gia nhập là vấn đề cấp bách và cần thiết Đây cũng chính là lý do để tác giả đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu chế định thương mại dịch vụ của Tổ chức Thương mại Thế giới và giải pháp hoàn thiện pháp luật thương mại Việt Nam từ yêu cầu của việc Việt Nam gia nhập WTO”

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN c ú u

Trong thời gian gần đây, nhiều nhà khoa học trong nước đã tập trung nghiên cứu

về thương mại dịch vụ Ví dụ như đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu các điều ước

quốc t ế về thương mại, đặc biệt là thương mại dịch vụ trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh t ế quốc t ể ’ do Trung tâm ICTC - Viện Nghiên cứu Thương mại, Rộ

Thương mại thực hiện Đề tài này đã xem xét dưới góc độ khách quan về yêu cầu mà quá trình hội nhập KTQT đặt ra cho các ngành dịch vụ, đề tài đã được nghiệm thu

năm 2003 Đề tài cấp Bộ: “Cơ sở khoa học xây dựng định hướng, mục tiêu, giải pháp

nhầm đẩy mạnh xuất nhập khẩu dịch vụ của Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010” do

Vụ CSTM Đa biên, Bộ Thương mại thực hiện và đã được nghiệm thu vào tháng 3

n m 2002 Đề tài này nghiên cứu về quan điểm xuất nhập khẩu các ngành dịch vụ để

Trang 11

tim cách ước lượng và xác định các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu chung trong thương mại dịch vụ.

Bên cạnh đó một số đề tài nghiên cứu pháp luật thương mại Việt Nam và pháp luật Việt Nam về thương mại dịch vụ Ví dụ như đề tài NCKH độc lập cấp nhà nước

“Những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển pháp luật thương mại và hàng hải quốc gia và quốc tế trong điều kiện Việt Nam hội nhập khu vực và th ế giới'’' do PGS TS

Nguyễn Thị Mơ Trường đại học Ngoại thương chủ nhiệm đề tài, đề tài này nghiên cứu, luận giải về lý luận và thực tiẻn, xu thế phát triển tất yếu của pháp luật thương mại và đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật thương mại trong điều kiện hội nhập

Mặc dù vậy, do hạn chế về phạm vi, mục tiêu cũng như yêu cầu chuyên sâu, các

đề tài nêu trên chỉ xử lý ở góc độ này hay góc độ khác đối với những vấn đề liên quan đến thương mại dịch vụ hay những vấn đề về pháp luật thương mại Việt Nam

Vì vậy, có thể nói chưa có công trình nghiên cứu khoa học hay luận văn thạc sỹ luật học nào nghiên cứu một cách tương đối toàn diện và hệ thống về chế định thương mại dịch vụ của Tổ chức Thương mại thế giới và giải pháp hoàn thiện pháp luật thương mại Việt Nam từ yêu cầu của việc Việt Nam gia nhập WTO Có thể nói, đây

là luận văn thạc sỹ đầu tiên nghiên cứu vấn đề này

3 MỤC ĐÍCH CỦA ĐÊ TÀI LUẬN VĂN

- Làm rõ các khái niệm, các quy tắc, các quy định về thương mại dịch vụ trong GATSẠVTO;

- Đề ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật thương mại Việt Nam nói chung và pháp luật Việt Nam về thương mại dịch vụ nói riêng nhằm đẩy nhanh tiến trình Việt Nam gia nhập WTO và thực hiện các cam kết, các quy định của WTO sau khi trở thành thành viên của Tổ chức này

4 NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI

Làm rõ khái niệm về thương mại dịch vụ, vị trí của GATS trong WTO và một số vấn đề lý luận chung về chế định thương mại dịch vụ của Tổ chức Thương mại thế giới

Đánh giá thực trạng hoạt động thương mại, thực trạng pháp luật thương mại nói chung và thực trạng hoạt động thương mại dịch vụ, thực trạng pháp luật về thương mại dịch vụ ở Việt Nam nói riêng

Trang 12

Đưa ra các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật thương mại Việt Nam nói chung và pháp luật Việt Nam về thương mại dịch vụ nói riêng từ yêu cầu của việc Việt Nam gia nhập WTO.

5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN c ú u

- Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định, các nguyên tắc pháp lý của GATSẠVTO và những quy định của pháp luật thương mại Việt Nam, của pháp luật Việt Nam về thương mại dịch vụ

- Phạm vi nghiên cứu:

Lĩnh vực pháp luật thương mại và pháp luật về thương mại dịch vụ là lĩnh vực rộng lớn và phức tạp Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của mình đề tài giới hạn ở việc phân tích các chế định thương mại dịch vụ của GATS/WTO, các quy định của pháp luật thực định về thương mại Việt Nam nói chung và pháp luật Việt Nam về thương mại dịch vụ nói riêng mà không đi sâu phân tích theo từng ngành, phân ngành cụ thể

6 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ú u

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài là chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và các quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về phát triển kinh tế trong thời kỳ đổi mới Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như thông kê tổng hợp, phân tích, so sánh để nghiên cuu bản chất những hiện tượng của đối tượng nghiên cứu

7 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phân mở đầu, phần kết luận, các danh mục, nội dung luận văn được kết cấu thành 3 chương, cụ thể:

Chương I: Những vấn đề lý luận chung về chế định thương mại dịch vụ của Tổ chức Thương mại thế giới

Chương II: Thực trạng pháp luật thương mại và pháp luật về thương mại dịch vụ của Việt Nam

Chương III Phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật thương mại Việt Nam nhằm đẩy nhanh tiến trình Việt Nam gia nhập WTO

Trang 13

CHƯƠNG I: NHŨNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN CHUNG VỂ CHẼ ĐỊNH THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ CỦA T ổ CHỨC THƯƠNG MẠI THE GIỚI.

1.1 KHÁI NIỆM VỀ DỊCH v ụ VÀ THƯƠNG MẠI DỊCH v ụ

1.1.1 Dịch vụ, thương mại dịch vụ là gì?

Thương mại dịch vụ hiểu một cách nôm na là việc trao đổi, mua bán, kinh doanh các hoạt động dịch vụ nhằm thu lợi nhuận Với cách hiểu như vậy, để nhận thức rõ hơn về thương mại dịch vụ chúng ta cần phải làm rõ dịch vụ là gì và mua bán trao đổi dịch vụ là gì?

1.1.1.1 Dịch vụ.

- Trong đời sống hàng ngày, ta thấy các hoạt động dịch vụ diễn ra rất đa dạng ở

khắp mọi nơi Không ai có thể phủ nhạn vai trò quan trọng của dịch vu trona nền sản xuất xã hội, song dịch vụ là gì vẫn còn là một vấn đề đang bàn luận Thực tế, hiện nay vẫn tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về dịch vụ, nhimg chưa có được một định nghĩa nào về dịch vụ có thể chấp nhận ở phạm vi toàn cầu

- Một cách định nghĩa kinh điển dựa trên tính chất của dich vụ: Dịch vụ là một loại sản phẩm vô hình và không thể cầm nắm được Định nghĩa này xử lý tới hai vấn

đề cơ bản đối với dịch vụ: Thứ nhất, dịch vụ là một “sản phẩm” tức là kết quả của

quá trình lao động và sản xuất nhằm thoả mãn một nhu cầu nào đó của con người

Thứ hai, khác với hàng hoá, thuộc tính của dịch vụ là tính vô hình và không thể sờ

nắn được Thêm vào đó dịch vụ khác hàng hoá ở chỗ không thể lưu trữ được Những khác biệt trên giữa hàng hóa và dịch vụ được thời báo Nhà kinh tế “The Economist”

nêu rõ khi thời báo này khẳng định “bất kỳ thứ gì được mua bán trong thương mại

mà không th ể rơi vào chân bạn” đấy là dịch vụ Trên thực tế, việc xác định các dịch

vụ căn cứ vào những thuộc tính của dịch vụ là không hoàn toàn chính xác do nhiều loại dịch vụ không hội đủ những thuộc tính đó (Một số loại dịch vụ là hữu hình như báo cáo của tư vấn viên ghi trên đĩa mềm, một số loại dịch vụ dịch vụ có thể dự trữ được như hệ thống trả lời điện thoại)

Định nghĩa về dịch vụ do T.p Hill đưa ra năm 1977 có ảnh hưởng khá lớn tới các

nhà nghiên cứu về lĩnh vực này Theo Hill, “dịch vụ là sự thay đổi về điều kiện hay

trạng thái của người hay hàng hoá thuộc sở hữu của một chủ th ể kinh tế nào đó do

sự tác động của chủ th ể kinh iế khác với sự đồng ý trước của người hay chủ thể kinh

Trang 14

tế ban đầu” Định nghĩa này tập trung vào sự thay đổi điều kiện hay trạng thái nên

tránh được việc định nghĩa dịch vụ dựa trên tính vô hình Các tiêu chí như vô hình, có thể lưu trữ trở thành các yếu tố mà dịch vụ có thể có Ngoài ra, Hill cũng nhấn mạnh tới sự khác biệt giữa sản xuất dịch vụ và sản phẩm dịch vụ Sản phẩm của một hoạt

động dịch vụ là sự thay đổi về điều kiện hay trạng thái của người hoặc hàng hoá bị tác động, trong khi quá trình sản xuất dịch vụ là hoạt động tác động tới người hoặc

hàng hoá thuộc sở hữu của một chủ thể kinh tế nào đó.

- Ngoài ra, cũng có cách hiểu khác mang tính tổng quát hơn về dịch vụ: Dịch vụ

là việc làm thay đổi điều kiện và chất lượng đối với chủ thể do sự tác động của chủ thể khác nhằm thoả mãn nhu cầu của chủ thể đó Định nghĩa này cho ta một cái nhìn toàn diện hon về dịch vụ và là định nghĩa rộng về dịch vụ .Xét trên định nghĩa rộng của dịch vụ như vậy thì mọi hoạt động kinh tế của con người đều có thể trở thành dịch vụ và cơ bản đã làm thay đổi nhận thức thông thường về dịch vụ và hàng hoá

Có hai góc độ quan trọng phân biệt quá trình sản xuất dịch vụ khi xem xét vấn đề

này: Nếu trên là góc độ của một doanh nghiệp thì mọi hoạt động của người lao động,

kỹ sư, các cán bộ tài chính, kế toán đối với chủ doanh nghiệp đẻu được xem là các

dịch vụ do họ cung cấp cho chủ doanh nghiệp Nếu trên góc độ ngành kinh doanh,

thì việc doanh nghiệp tự san xuất hoàn toàn một sản phẩm là không phát sinh dịch vụ trừ khi ít nhất một công đoạn của sản xuất phải được thực hiện bởi một doanh nghiệp hay cá nhân khác Điều này rất quan trọng để có thể nhận thức khái niệm về dịch vu Dịch vụ không thể sinh ra nếu như không có sự tách rời về chủ thể tiêu dùng và chủ thể cung cấp Ví dụ, một doanh nghiệp sản xuất ô tô có thể tự mình thực hiện tất cả các công đoạn sản xuất ra một chiếc ô tô thành phẩm hoặc doanh nghiệp đó có thể thuê doanh nghiệp khác thực hiện một công đoạn nào đó của quá trình sản xuất Nhận thức hiện nay lại cố phân tách giữa sản xuất hàng hóa và sản xuất dịch vụ Thật

ra, không có sự phân biệt giữa quá trình sản xuất hàng hóa hay dịch vụ Ví dụ, việc sản xuất một chiếc xe ô tô được hiểu là sản xuất hàng hóa nhưng các công đoạn của quá trình này như sơn, hàn, lắp ráp lại có thể được hiểu là các hoạt động sản xuất jịch vụ nếu doanh nghiệp này sử dụng doanh nghiệp khác gia công hoặc thực hiện cho mình Các Mác đã phân tích sự tách rời giữa tư bản công nghiệp và tư bản thương nghiệp do sự chuyên môn hóa Khi xã hội càng có tính chuyên môn hóa cao

hì sự tách rời giữa các công đoạn tạo nên các ngành dịch vụ mới Phân tích trên cho

a thấy thuật ngữ “dịch vụ” bao trùm một phạm vi rộng lớn các hoạt động kinh tế

Trang 15

- Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, dịch vụ là “những hoạt động phục vụ nhằm

thoả mãn nhu cầu sản xuất, kinh doanh và sinh hoại" Do nhu cầu đa dạng và phân

công lao động xã hội nên có nhiều loại dịch vụ, như dịch vụ phục vụ sản xuất kinh doanh, dịch vụ phục vụ sinh hoạt công cộng (giáo dục, y tế, giải trí), dịch vụ cá nhân

dưới hình thức những dịch vụ gia đình, Như vậy, trong Từ điển Bách khoa Việt

Nam người ta quan niệm dịch vụ là những hoạt động phục vụ.

-Từ phân tích trên có thể định nghĩa dịch vụ như sau: Dịch vụ là sản phẩm của

lao động, không tồn tại dưới dạng vật thể, được tiêu dùng đồng thời với quá trinh cung cấp, nhằm thảo mãn nhu cầu của sản xuất, của tiêu dùng và sức khoẻ con người.

1.1.ỉ 2 Thương mại dịch vụ.

Do chưa có sự thống nhất về khái niệm địch vụ nên cũng có nhiểu cách hiêu khác nhau về thương mại dịch vụ

Thứ nhất, từ sự tiếp cận về khái niệm dịch vụ theo nghĩa rộng là một lĩnh vực

hoạt động kinh tế, bao gồm toàn bộ những ngành kinh tế nhưng không thuộc các ngành công nghiệp, nông nghiệp ta có thể hiểu thương mại dịch vụ là khái niệm dùng

để chỉ những hoạt động thương mạ> trong lĩnh vực dịch vụ Ở đây, thuật ngữ “thương

mại” không chỉ bao gồm hành vi mua bán mà là bất cứ hành vi nào có mục đích tìm kiếm lợi nhuận

7 hứ hai, nếu hiểu dịch vụ theo nghĩa hẹp là một loại sản phẩm của lao động xã

hội thì thương mại dịch vụ là khái niệm dùng để Cuỉ hành Vi “mua bán” các sản phẩm dịch vụ trên thị trường Khác với thương mại hàng hóa, đối tượng được mua bán trong thương mại dịch vụ là sản phẩm dịch vụ chứ không phải là hàng hóa Thị trường dịch vụ và giá cả của dịch vụ cũng bị chi phối bởi các quy luật khách quan (quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, ) như đối với thị trường hàng hóa Sản phẩm dịch vụ không những được trao đổi trên thị trường quốc gia mà còn cả trên thị trường quốc tế

Như vậy, thương mại dịch vụ là sự trao đổi về dịch vụ giữa các cá nhân, tổ chức

với nhau vì mục đích thương mại.

Tuy vậy, không phải tất cả các loại dịch vụ đều có thể trao đổi hay mua bán, đặc biệt trong trao đổi quốc tế ví dụ nhơ các dịch vụ của các bà nội trợ, dịch vụ công

Trang 16

cộng, dịch vụ thuộc chức năng quản lý nhà nước, dịch vụ do các đoàn thể và rất nhiều các dịch vụ hỗ trợ khác trong quá trình sản xuất và kinh doanh.

Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT), tiền thân của WTO, hầu như chỉ tập trung vào việc xây dựng một môi trường thương mại hay trao đổi bình đẳng về hàng hóa WTO sớm khắc phục điều đó và mở rộng phạm vi điều chỉnh thương mại trong lĩnh vực dịch vụ Tuy nhiên, WTO chưa điều chỉnh đến các loai sản phẩm và dịch vụ có mục tiêu phi thương mại Để khắc phục vấn đề đó, Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (sau đây gọi tắt là GATS) đã liệt kê các loại dịch vụ với việc chia thành 12 ngành lớn (155 phân ngành), bao gồm:

- Các dịch vụ kinh doanh bao gồm dịch vụ chuyên môn và các dịch vụ khác;

- Dịch vụ liên lạc (viễn thông và bưu chính);

1.1.2 Những đặc điểm cơ bản của thương mại dịch vụ hiện nay

Cho đến thập kỷ 70, các nhà kinh tế học vẫn cho rằng ngành dịch vụ là tập hợp chủ yếu của những những hoạt động phi thương mại, nhận định này được phát triển dựa trên đặc điểm cơ bản của các lĩnh vực dịch vụ là tính chất vô định hình và sự chi phối chặt chẽ của tính chất đó tới khả năng cung cấp và tiêu dùng dịch vụ Quá trình sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm dịch vụ hầu như diễn ra đồng thời và cần thiết phải gắn liền với một khu vực địa lý nơi mà nhà cung cấp dịch vụ yêu cầu phải có sự hiện diện thực tế Việc cung cấp dịch vụ có thể coi là bị giới hạn trong điều kiện nhất định

Trang 17

vì về cơ bản dịch vụ cần có sự tiếp xúc cần thiết của người tiêu dùng và người cung cấp dịch vụ; Việc cung cấp dịch vụ phải được pháp luật tại nơi diễn ra các hoạt động cung cấp dịch vụ cho phép Điều kiện như vậy chỉ có thể đạt được tối đa khi hoạt động cung cấp dịch vụ trong phạm vi một quốc gia, một vùng lãnh thổ nơi mà những hạn chế và quy định đối với việc cung cấp dịch vụ là tương đối thuần nhất Điều này thể hiện rõ nét tính chất khó thương mại hoá của dịch vụ.

Cùng với xu thế phát triển, đa dạng hoá các loại hình dịch vụ thì khả năng thương mại hoá của các ngành dịch vụ cũng không ngừng được cải thiện Từ những năm đầu thập kỷ 80 và đặc biệt là cuối thế kỷ này, các ngành dịch vụ đang ngày càng phát triển vượt bậc khiến nhiều lĩnh vực dịch vụ hoàn toàn có thể được thương mại hoá với hiệu quả cao Năm 1982, kim ngạch dịch vụ chỉ đạt 400 tỷ USD thì năm

1992 đã đạt đến 1000 tỷ USD Tốc độ tăng trưởng thương mại hàng năm của các ngành dịch vụ luôn có mức tăng trưởng cao hơn (7,7%/năm) so với tốc độ tăng trưởng kim ngạch hàng hoá (3-4%/nãm) [27]

1.1.2.2 Tính đa dạng của các hình thức thương mại dịch vụ.

Khác với thương mại hàng hóa, đối tượng của thương mại là hàng hóa cụ thể được trao đổi và chính sách thương mại là những biện pháp ảnh hưởng đến việc tiếp thị và mua bán hàng hóa đó trên thị trường cua một nước Thương mại dịch vụ hay thương mại các hàng hóa vô hình không được thể hiện một cách đơn giản là sự trao đổi đơn thuần mà là việc trao đổi đó được thể hiện dưới nhiêu hình thức khác nhau GATS đã đưa ra 4 hình thức cung cấp dịch vụ như vừa nêu tại phần định nghĩa về thương mại dịch vụ, theo đó mô tả các khả năng cung cấp của nhà cung cấp dịch vụ Các hình thức này đều được chấp nhận rộng rãi trên toàn thế giới

1.1.2.3 Vai trò của doanh nghiệp độc quyền trong ngành dịch vụ.

Trong lĩnh vực dịch vụ, nhiều ngành dịch vụ có mức tập trung tư bản cao, sử dụng công nghệ hiện đại và quy mô lớn Do vậy, nhiều ngành dịch vụ thực tế đã hình thành độc quyền tự nhiên của nhà nước hoặc chịu sự chi phối của một số doanh nghiệp độc quyền như ngân hàng, viễn thông, hàng không, vận tải biển Tại hầu hết các quốc gia, những doanh nghiệp dịch vụ lớn nhất trong những ngành này là do một hoặc một số doanh nghiệp chủ đạo nắm giữ Tính chất độc quyền trong hoạt động thương mại dịch vụ là cần thiết và khách quan Sự phát triển của dịch vụ nhờ đó mới

có những thành tựu đáng kể trong việc đảm hảo cung ứng dịch vụ một cách rộng rãi,

Trang 18

với qui mô và chất lượng ngày một tăng Một trong những yêu cầu quan trọng của hoạt động cung ứng dịch vụ là việc đảm bảo một hệ thống cơ sở hạ tầng tốt cho nền kinh tế, trong đó nhiều loại nhu cầu mang tính chất xã hội mà nhà nước bắt buộc phải thực hiện qua hệ thống độc quyền mới đảm bảo hiệu quả Ví dụ, việc xây dựng các bến cảng, sân bay, hệ thống viễn thông, trạm xá, bệnh viện đều là những loại dịch vụ cần có sự phân bổ trục tiếp của nhà nước mà thông thường tính độc quyền mới có thể thực hiện được Một ví dụ khác là những nhu cầu dịch vụ đối với các vùng sâu, vùng xa, khó khăn mà lợi ích kinh tế từ hoạt động cung cấp dịch vụ là rất thấp, trong khi đó do yêu cầu về chính sách xã hội, nhà nước không thể không cung cấp Điều này chỉ có thể được thực hiện khi nhà nước phải có sự hoán đổi giữa nghĩa vụ thực hiện trách nhiệm đó với quyền được cung cấp dịch vụ một cách độc quyền Mặc dầu vậy, trong nhiều trường hợp khác, độc quyền lại có tác dụng ngược lại tức là sự suy giảm về chất lượng và khả năng trục lợi “tự nhiên” của các doanh nghiệp độc quyền này Điều đó có nghĩa, tự thân độc quyền trong những ngành dịch vụ không phải là một khái niệm xấu, nhất là trong lĩnh vực dịch vụ mà vấn đề là việc tạo dựng động lực cạnh tranh và tự hoàn thiện của doanh nghiệp độc quyền đó Trong xu thế toàn cầu hóa ngày nay, việc thực hiện tự do hóa thương mại dịch vụ bao hàm cả vấn

đề tạo lập môi trường cạnh tranh trong điều kiện có độc quyền

1.1.2.4 Sự can thiệp cua Nhà nước thông qua các biện phap tác động tới khả năng cung cấp và tiêu dùng dịch vụ.

Do dịch vụ về cơ bản là một sản phẩm vô hình mà việc nhà nước can thiệp vào hoạt động thương mại dịch vụ thường chỉ được thực hiện thông qua việc làm cản trở khả năng cung cấp của nguời cung cấp dịch vụ hoặc khả năng tiêu dùng của người tiêu dùng dịch vụ Một hoạt động cung cấp và tiêu dùng dịch vụ thông thường đòi hỏi sự hiện diện đồng thời của người sản xuất dịch vụ cũng như đối tượng tiêu dùng dịch vụ Những biện pháp của nhà nước chỉ phát huy hiệu lực nếu như nhà nước có thể kiểm soát hiệu quả hay có sự ghi nhận cần thiết về những giao dịch dịch vụ Ta cũng thấy rằng, giao dịch về dịch vụ trong thương mại quốc tế được thực hiện thông qua 4 hình thức cung cấp dịch vụ (cách thức cung cấp và tiêu dùng dịch vụ trong nước cũng có những vấn đề tương tự)

Trong Phương thức cung cấp 1 (cung cấp qua biên giới) thì khả năng quản lý

của nhà nước chỉ giới hạn là các biện pháp hạn chế sự tiêu dùng của bản thân người tiêu dùng dịch vụ của nước mình Điều này là do Nhà nước không thể hạn chế đối

Trang 19

với đối tượng cung cấp dịch vụ thuộc quốc gia khác Cách thức quản lý và hạn chế thông thường là nhà nước thực hiện giám sát và ngăn chặn các loại dịch vụ bất hợp pháp như dịch vụ sử dụng dịch vụ viễn thông không qua hệ thống truyền dẫn trong nước, dịch vụ cung cấp các thông tin có nội dung xấu Một cách thức quản lý phổ biến thứ hai là nhà nước thừa nhận hoặc không thừa nhận một giao dịch là hợp pháp

để cho phép hoặc không cho phép thực hiện thanh toán quốc tế để từ đó, hạn chế sự phát triển của một số loại dịch vụ mà nhà nước không khuyến khích

Đối với Phương thức 2 (tiêu dùng ngoài lãnh thổ), Nhà nước chỉ có thể thực hiện

quản lý thương mại dịch vụ thông qua các nhà tiêu dùng dịch vụ của nước mình Tuy nhiên, nói chung, nhà nước ít có khả năng điều chỉnh hay hạn chế tiêu dùng dịch vụ của người tiêu dùng mà việc giao dịch thương mại chỉ phụ thuộc vào qui định hay chính sách của nước sở tại Khả năng can thiệp của nhà nước là hạn chế việc sử dụng ngoại tệ đối với người tiêu dùng nước mình tại nước ngoài hay ngược lại là việc khuyến khích người nước ngoài phát triển tiêu dùng tại nước mình

Đối với Phưcmg thức 3 và 4 (hiện diện thương mại và hiện diện của thể nhàn),

đây là cách thức quan trọng nhất để dịch vụ có thể được sản xuất và tiêu dùng có hiệu quả Cũng chính trong hai hình thức hiện diện thương mại này mà vai trò của nhà nước có thê phát huy tối đa do nhà nước vừa có thể can tluệp đến khả năng cung cấp và khả năng tiêu dùng dịch vụ thông qua những chính sách khác nhau

1.1.3 Vai trò của thương mại dịch vụ trong nền kinh tế thế giới.

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển như vũ bão cùa khoa học công nghệ, những tiến bộ trong lĩnh vực như tin học, viễn thông, công nghệ tin học đã thay đổi nhận thức của con người về tính khả năng và hiẹn thực trong hoạt động chương mại của nhiều ngành dịch vụ Những dịch vụ mới được hình thành và phát triển chứa đựng những "kết tinh trí tuệ" đã trở thành những mũi nhọn của các quốc gia hiện nay trên thế giới [16] Vai trò của thương mại dịch vụ đối với nền kinh tế thể

hiện ở một số mặt sau đây:

1.1.3.1 Thúc đẩy hãí thông dịch vụ quốc tế.

Sự tiến bộ và phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật trong những năm qua [rong các lĩnh vực tin học và viễn thông đang dần làm thay đổi nhận thức của con Igười về khả năng và tính hiện thực trong thương mại của nhiều ngành dịch vụ Điển hình nhất là các ngành dịch vụ là “kết tinh trí tuệ” thường được cung cấp gắn với khả lăng chứa đựng và lưu chuyển của các dòng thông tin như viễn thông, tài chính,

Trang 20

nghe nhìn, các dịch vụ tư vấn, thiết kế, giáo dục Những sự phát triển này, kết hợp với nhiều thay đổi trong nhu cầu của người tiêu dùng, đã thúc đẩy lưu thông dịch vụ quốc tế Ngược lại, tác động kinh tế của các ngành dịch vụ cũng chứng tỏ có một nguy cơ tương tự như trong thương mại hàng hoá là sự méo mó, chệch hướng trong hoạt động thương mại dịch vụ.

ỉ 1.3.2 Là một bộ phận quan trọng trong việc phát triển nền kinh tếih ếg iớ i, tạo giá trị thặng dư cao.

Trước đây, kinh tế học chính trị của Stalin đã viết: "Muốn đánh giá kinh tế của một nước nào có phát triển hay không thì phải xem xét tỷ trọng giữa công nghiệp và nông nghiệp của nước đó, nếu tỷ trọng của công nghiệp càng cao thì nền kinh tế của nước đó càng phát triển Tình hình ngày nay lại khác, kinh tế của một nước phát triển hay không, mấu chốt là phải xem tỷ trọng của ngành dịch vụ của nước đó đối với toàn bộ nền kinh tê” [5] Ngày nay, nhiều ngành dịch vụ đã trở thành một cấu thành của hệ thống cơ sở hạ tầng quan trọng của nền kinh tế và đang đóng góp không nhỏ tới đầu vào của tất cả các ngành kinh tế trên thế giới không chỉ với nước phát triển

mà cả những nưức đang phát tnẽn Tuy những ngành dịch vụ không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội nhưng chúng lại tạo ra giá trị thặng dư do có khai thác sức lao động, tr' thức, chất xám của con người Đóng góp của các ngành dịch vụ trong GDP cua các nén kinh tế thường dao động từ 40% (ở các nước đang phát triển) đến 70% (ở các nước phát triển)[26, tr 7-9] Giá trị sản lượng do các ngành dịch vụ của Việt Nam mang lại khoảng 40-42%[18]

1.1.3.3 Là bộ phận tăng trưởng cao trong thương mại quốc tế.

Trong thương mại quốc tế, ngành dịch vụ là bộ phận tăng trưởng nhanh nhất, mạnh nhất trong thương mại toàn cầu và cả trong đầu tư trực tiếp nước ngoài Trong khoảng một thập kỷ trở lại đây, kim ngạch thương mại quốc tế của các ngành dịch vụ trong nền kinh tế chiếm 1/5 Hiệu quả của các ngành dịch vụ ngày càng tăng về tỷ suất lợi nhuận của dịch vụ đối với các ngành sản xuất khác Đầu tư trực tiếp đối với các ngành dịch vụ luôn luôn chiếm đến 3/5 giá trị đầu tư trực tiếp trên thế giới, tập trung vào các ngành như du lịch, viễn thông, tài chính, giải trí Tiềm năng phát triển thương mại dịch vụ ngày càng khả quan, thể hiện như tốc độ tăng trưởng sản lượng dịch vụ trên thế giới từ năm 1990-2000 là 2,9%, gấp đôi sự tăng trưởng sản lượng nông sản (1,4%) Đóng góp của thương mại dịch vụ vào nền kinh tế toàn cầu là 64%

so với năm 1990 là 57%[ i lí I ->]

Trang 21

1.1.3.4 Là một trong những nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh trong kinh doanh quốc tế.

Cùng với sự phát triển của thương mại quốc tế, thương mại dịch vụ cũng có một

số thay đổi Vai trò của sự liên kết khai thác hiệu quả hoạt động của các ngành dịch

vụ được đánh giá cao và được coi là nhân tố quyết định nàng lực cạnh tranh của các

tổ chức hoạt Cióng trong lĩnh vực thương mại dịch vụ cũng như ( I la các quốc gia trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ Mặt khác, các ngành dịch vụ hỗ trợ cho sản xuất hàng hoá đã có sự phát triển mạnh mẽ và dần tách khỏi chức năng hỗ trợ để trở thành những ngành độc lập hơn, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh trong kinh doanh quốc tế Các ngành dịch vụ sản xuất được hiểu là các ngành dịch vụ trung gian giữa các yếu tố cơ sở hạ tầng và người sản xuất, nhằm hỗ trợ người sản xuất sử dụng một cách hiệu quả nhất nguồn đầu vào là các yếu tố cơ sở hạ tầng Các dịch vụ sản xuất được cung cấp trong nhiều công đoạn của sản xuất như nghiên cứu khả thi dự án đáu

tư, nghiên cứu thị trường, thiết kế sản xuất, các dịch vụ trong giai đoạn sản xuất: kiểm tra chất lượng, thuê mua tài chính, kế toán, quản lý nhân sự, các dịch vụ sau sản xuất như tiếp thị, quảng cáo, phản phối bán hàng

1.2 CHẾ ĐỊNH THƯƠNG MẠI DỊCH v ụ CỦA T ổ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO).

1.2.1 Giới thiệu chung về WTO

12.1.1 Quá trình hình thành và hoạt động.

> Quá trình hình thành:

- Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) được thành lập ngày 01/01/1995 là kết quả vòng đòm phán Uruguay kéo dài trong suốt 8 năm Sự ra đời của WTO đã tạo ra một khuôn khổ pháp lý mang tính toàn cầu và một cơ chế thi hành hiệu quả cho sự hợp tác giữa các nước trong lĩnh vực liên quan đến hoạt động thương mại vì sự ổn định và tăng trưởng chung Ý tưởng về một tổ chức thương mại toàn cầu đã có manh nha từ cách đây hơn nửa thế kỷ, khi các nước nỗ lực không thành để thành lập Tổ chức Thương mại quốc tế (ITO - International Trade Organization) Và WTO ra đời không phải là kết quả một sớm một chiều Nó là sự kế thừa và phát triển, là kết tinh

nỗ lực của các quốc gia trên thế giới phấn đấu vì một nền thương mại quốc tế lành mạnh sung mãn hơn, làm động lực cho nền kinh tế ngày càng đi lên và thịnh vượng

Trang 22

Trong suốt gần 50 năm phần lớn thương mại hàng hoá của thế giới được aiều tiết bởi Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại ra đời năm 1947 (GATT) và bắt đầu

có hiệu lực kể từ ngày 01/01/1948, trong khi hiến chương của ITO vẫn còn đang được các nước đàm phán 23 nước đó đã trở thành thành viên của GATT (chính thức gọi là “các bên thoả thuận tham gia” - contraching parties) Sự thành công của GATT trong việc thúc đẩy tự do hoá thương mại thế giới thời kỳ này là không thể tranh cãi Chỉ riêng việc cắt giảm thuế quan, theo thỏa thuận đạt được tại vòng đàm phán, đã góp phần đưa tốc độ tăng trưởng của thương mại toàn cầu lên một kỷ lục: bình quân 8% trong hai thập niên 50 và 60 Và tự do hoá mậu dịch đã giúp cho tốc độ tăng trưởng của thương mại luôn vượt tốc độ tăng trưởng kinh tế trong suốt thời kỳ GATT tồn tại - một thước đo về khả năng các nước có thể buôn bán với nhau được hưởng lợi từ thương mại Việc một loạt các nước xin gia nhận tại vòng đàm phán Urugoay cho thấy hệ thống thương mại đa biên được công nhận như là một tiền đề pháp lý cho

sự phát triển và là một công cụ pháp lý quốc tế để thực hiện cải cách về kinh tế thương mại

- Tuy nhiên, đến thập niên 80 thì Hiệp định chung không còn đáp ứng được những yêu cầu thực tế như thập niên 40 nữa, ít nhất thì hệ thống thương mại thế giởi

đã trở nên phức tạp và quan trọng hơn rất nhiều so với 40 nàm trước Nền kinh tế thế giới đang trong quá trình toàn cầu hoá, đầu tư quốc tế bùng nổ, thương mại dịch vụ,

sở hữu trí tuệ - hai lĩnh vực khong được GATT điều chỉnh đã trở thành lợi ích cơ bản của nhiều Iiước Đối với một số khía cạnh khác người ta cũng thấy GATT còn nhiều bất cập Ví dụ: Đối với lĩnh vực nông nghiệp, những lỗ hổng trong hệ thống quy tắc

và thoả thuận đã bị lợi dụng triệt để và các nỗ lực nhằm tự do hoá thương mại hàng nông sản đã không thành công Trong lĩnh vực hàng dệt may chỉ đạt được một thoả thuận duy nhất là Hiệp định đa sợi (Multi-Fibre Agreement) tạm thời vẫn nằm ngoài khuôn khổ của GATT Bên cạnh đó, hệ thống giải quyết tranh chấp hoạt động kém hiệu quả do thủ tục chậm chạp và không có cơ chế pháp lý đảm bảo cho việc thi hành các quyết định

- Như đã nêu ở ngay dòng đầu tiên của Hiệp định thành lập, WTO sẽ kế thừa và

tôn chỉ mục đích của GATT, đó là: “Giải quyết quan hệ thương mại giữa các nước

với nhau nhằm mục đích nâng cao mức sống, đảm bảo việc làm thúc đẩy tăng thu nhập thực t ế và nhu cầu thực sự của người dân; mở rộng sản xuất và trao đổi hàng hoá; dịch vụ; tận dụng được các nguồn tài nguyên của th ế giới sao cho phù hợp với

Trang 23

mục tiêu tăng trưởng bền vững và cuối cùng là bảo vệ môi trường đi đôi với phát triển kinh t ể \ Hơn thế nữa, WTO đã đưa vào phương hướng hành động của mình

những điểm rất tiến bộ mà trước đây GATT chưa chính thức tuyên bố, đó là: “nỗ lực

để đảm bảo rằng các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là các quốc gia kém phát triển nhất duy trì được tỷ phần tăng trưởng trong thương mại quốc tế tương xứng với nhu cầu phát triển kinh tế của các quốc gia đó” Đây chính là những thành tựu đặc biệt có

ý nghĩa, là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài của các quốc gia nhỏ và yếu thuộc thế

giới thứ ba trong việc xây dựng từng bước một “trật tự kinh tế th ế giới mới” dân chủ

và công bằng hơn, đảm bảo quyền lợi cho những nước đang phát triển

> H oạt động của WTO:

- Mục tiêu hoạt động của WTO.

+ Tự do hoá thương mại hàng hoá và dịch vụ thông qua đàm phán nhằm cắt giảm thuế quan, loại bỏ các hạn chế số lượng, quy chế hoá các trở ngại phí thuế qua, tiến tới một thị trường thương mại thế giới tự do hơn

+ Không phân biệt đối xử giữa các nước, tuy nhiên vẫn tạo điều kiện để phát triển kinh tế bằng cách chấp nhận một cách mềm dẻo các thoả thuận riêng và ngoại lệ

+ Thiết lập và củng cố môi trường để thương mại quốc tế phát triển, môi trường

đó phải đảm bảo tính trong suốt và tiên liệu được

+ Khuyến khích sự hội nhập của các nước đang phát triển vào nền kinh tế thếgiới

+ Giải quyết tranh chấp nhanh gọn, hợp lý, hiệu quả

- Chức năng và nhiệm vụ của WTO.

Là một tổ chức kinh tế mang tính toàn cầu, phạm vi hoạt động rất rộng, WTO đảm nhận một nhiệm vụ khá phức tạp, đó là: từng bước xây dựng một môi trường mại thế giới tự do, lành mạnh, tạo điều kiện tối đa cho các hoạt động thương mại phát triển, đóng góp vào sự tăng trưởng và thịnh vượng chung của kinh tế toàn cầu Đổng thời, phối hợp cùng các tổ chức quốc tế khác thúc đẩy nhanh hơn nữa quá trình

tự do hoá và hội nhập toàn diện của nền kinh tế thế giới, để thực hiện nhiệm vụ trên WTO có 6 chức năng cơ bản sau:

+ Xây dựng mới, sửa đổi các nguyên tắc pháp lý quốc tế về thương mại, đảm bảo

cơ chế pháp lý để các nước thành viên thực hiện những nguyên tắc đó Các nguyên tắc và quyết định của WTO có hiệu lực bắt buộc đối với tất cả các thành viên có khả

Trang 24

năng làm cho mọi thành viên phải thực hiện Bất kỳ nước thành viên nào một khi đã thừa nhận “Hiệp định WTO” và các hiệp định phụ khác thì nước đó cần phải điều chỉnh hay chuyển đổi các quy định của pháp luật của mình sao cho phù hợp với quy định của WTO, điều này đã được ghi rõ trong Điều 16 của “Hiệp định WTO” và các nước phải tuân thủ khi gia nhập.

+ T ổ chức các cuộc đàm phán mậu dịch đa biên mà nội dung của nó rất đa dang, đề cập tới nhiều lĩnh vực khác nhau của hoạt động thương mại Thông qua các

cuộc đàm phán như vậy, việc tự do hoá thương mại của các nước trên thế giới sẽ phát triển mạnh mẽ hơn

+ Giải quyết các tranh chấp về thương mại quốc tế.

Bất cứ thành viên nào của WTO khi thấy lợi ích của mình bị xâm hại trong hoạt động kinh tế trên một thị trường nào đó vì thành viên khác đang thực hiện một chính sách trái với quy định của WTO, thì có thể khởi kiện lên cơ quan giai quyết tranh chấp của WTO và yêu cầu nước kia không được tiếp tục thực hiện các hành vi xâm hại đến lợi ích của mình, khi cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO phán xét thì bất

cứ thành viên nào cũng cũng có nghĩa vụ thực hiện phán xét trên, vì đây là nghĩa vụ của các thành viên Trước đây WTO chỉ có uỷ ban cấp dưới (Panel) xét xử những vụ được khởi tố, nhưng nay WTO có thêm Uỷ ban cấp trên (Applate Boday) cho nên trong trường hợp cá bên không đồng ý với phán quyết của Uỷ ban cấp dưới thì có thể khiếu nại lên Uy ban cấp trên để xét xử lại

+ Đánh g ìí ử nh kỳ về chính sách thương mại của các nước nhằm thúc đẩy phát

triển kinh tế thị trường

+ Giám sát việc thực hiện các hiệp định đa phương và đa biên của WTO

+ Phối hợp cùng các tổ chức quốc tế khác trong việc tham gia hoạch định những chính sách kinh tế toàn cầu

1.2.1.2 Những nguyên tắc cơ bản của WTO.

> Nguyên tắc không phân biệt đối xử.

Đây là nguyên tắc quan trọng nhất của WTO được kế thừa từ GATT, nguyên tắc này sử dụng hai công cụ pháp lý song song để điều chỉnh mối quan hệ thương mại

giữa các thành viên: Chế độ Đãi ngộ tối huệ quốc (Most Favoured Nation - MFN) và

chế độ đãi ngộ quốc gia (National Treatment -NT)

Nguyên tắc Đãi ngộ tối huệ quốc quy định thương mại thế giới phải được tiến hành trên cơ sở không phân biệt đối xử giữa các quốc gia, có nghĩa là nếu một nước

Trang 25

thành viẽn đã, đang và sẽ dành những ưu đãi hay không áp dụng các hạn chế thương mại hàng hoá, dịch vụ, đối tượng sở hữu trí tuệ do thương nhân trong nước và nước ngoài cung cấp.

> Nguyên tắc tự do hoá thương mại.

Tất cả các nước kể cả nước ngèo nhất để có lợi khi tham gia vào thương mại quốc tế vì mỗi nước đều có lợi thế so sánh tương đối trong việc sản xuất hiệu quả một số mặt hàng, dịch vụ phục vụ cho những phân đoạn thị trường nhất định Ví dụ: Nhờ vào điều kiện tự nhiên, đất đai phù hợp Việt Nam sản xuất được nhiều lúa rẻ và hiệu quả hơn nhiều so với Nhật Bản Ngược lại, với ưu thế vợt trội về công nghệ Nhật Bản có lợi thế trong việc sản xuất ôtô Như vậy, tốt hơn cả là Nhật Bản xuất khẩu ôtô sang Việt Nam còn Việt Nam xuất khẩu gạo sang Nhật Bản Do vậy, việc gia nhập vào nền kinh tế thế giới đồng nghĩa với việc tạo ra môi trường thương mại thông thoáng ngay ở mỗi nước thông qua việc xây dựng, điều chỉnh và hoàn thiện hệ thống pháp luật thương mại của mình

> Nguyên tắc cạnh tranh.

Mục tiêu tự do hoá thương mại của WTO gắn liền với việc đảm bảo cạnh tranh công bằng, bởi bất cứ một hàng rào thương mại nào cũng đem lại những ưu đãi đặc biệt cho một nhóm nhỏ thương nhân, làm cho môi trường kinh doanh trở nên méo

mó, mất tính trong suốt Dễ thấy là các quy tắc không phân biệt đối xử được đưa ra

để đảm bảo cho hoạt động thương mại được tiến hành trên cơ sở bình đẳng Cũng với mục đích đó, những nguyên tắc về trợ cấp, chống bán phá giá ra đời

trợ của nhà nước, có thể bán hàng của mình dưới giá trị thị trường nhằm chiếm thêm thị phần Hành động này đe doạ hoạt động của những doanh nghiệp khác, thậm chí

có thể đẩy họ đến chỗ phá sản và nếu công ty này có thế chiếm được vị trí độc quyền

đủ để áp đặt mức giá cao đối với hàng hoá thì thiệt hại là không thể tính được, WTO

đã chia trợ cấp thành 3 loại:

+ Trợ cấp bị cấm: Gồm trợ cấp khuyẽn khích hàng nội địa thay thế hàng nhập

khẩu và trợ cấp xuất khẩu (gồm trợ cấp trực tiếp, trợ cấp cho nhập khẩu nguyên vật liệu phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu, cấp tín dụng ưu đãi)

+ Trợ cấp có th ể bị trả đũa: Là những trợ cấp gây tổn hạn thực có hoặc có thể

hoặc làm mất đi những lợi ích của ngành sản xuất của nước nhập khẩu

T Ú VIỆN

•UUNG đ a i HOC l ŨẦ ĩ h a N ỏ!

PHONG Ồ O C Ị U í

Trang 26

+ Trợ cấp dược chấp nhận: Là trợ cấp vì mục tiêu nghiên cứu, kiểm soát bệnh

tật, hỗ trợ thay đổi cơ cấu nông nghiệp

thấp hơn giá hàng tương tự trên thị trường nước nhập khẩu, nếu không có giá nội địa thì lấy một trong hai mức giá sau để so sánh:

+ Mức giá cao nhất của sản phẩm tương tự được xuất khẩu tới một nước thứ ba

+ Giá sản xuất tại nước xuất khẩu cộng chi phí bán hàng và lãi

Tuy nhiên, WTO cho rằng việc bán phá giá đó có gây phương hại tới nền sản xuất của nước nhập khẩu hay không, nếu có các bên được phép đánh một khoản thuế, gọi là thuế chống bán phá giá, nhằm triệt tiêu lợi nhuận có được từ việc làm này nhưng giá trị không được cao hơn biên độ phá giá của sản phẩm đó Tuy nhiên, chống bán phá gía chỉ áp dụng khi biên độ phá giá lớn hơn 2% giá hàng xuất khẩu và khối lượng hàng hoá bị bán phá giá lớn hơn 3% tổng lượng hàng hoá xuất nhập khẩu.Đối với sở hữu trí tuệ, WTO đưa ra nguyên tắc nhằm hạn chế các hop đồng lixăng có tính cạnh tranh không lành mạnh Những người chủ sở hữu các bản quyền, bằng sáng chế, quyền sở hữu trí tuệ có thể lại cấp thêm giấy phép, cho phép cá nhân khác sao chép lại nhãn hiệu hàng hoá đã được bảo hộ, từ đó dẫn đến việc hạn chế sự cạnh tranh Trong trường hợp này chính phủ được quyền hành động để ngăn cản các hợp đồng chuyển giao giấy phép đó

> Nguyên tắc công nhận đa biên vẽ tiêu chuẩn chất lượng.

Các nước thường đòi hỏi hàng nhập khẩu phải đáp ứng yêu cầu về một sỏ' tiêu chuẩn để đảm bảo an toàn cho sức khoẻ của con người, vật nuôi, cây trồng bảo vệ môi trường và bảo vệ các lợi ích của người tiêu dùng Do vậy, các doanh nghiệp phải

có những giấy phép, giấy chứng nhận cần thiết của nước nhập khẩu đối với sản phảin của mình Và muốn có được giấy phép, nói chung họ phải có sự điều chỉnh sản xuất

và các hoạt động kinh doanh cho phù hợp với các nước khác nhau Điều này làm tăng chi phí và ngăn cản các doanh nghiệp tận dụng việc sản xuất quy mô lớn Để thương mại hoạt động có hiệu quả hơn, những cố gắng đáng kể nhằm thống nhất hệ thống tiêu chuẩn trên toàn thế giới đã được đưa ra Các nước được khuyến khích công nhận

đa biên về tiêu chuẩn chất lượng Có nghĩa là, khi các doanh nghiệp chứng minh được rằng hàng hoá dịch vụ của họ đạt được những tiêu chuẩn nội địa tương đương với tiêu chuẩn của nước nhập khẩu thì nước này phải chấp nhận hàng hoá đó Và vào tháng 05/1997 một cam kết công nhận đa biên về bằng cấp kế toán quốc tế đã ra đời

Trang 27

Tuy nhiên, đó chỉ là sự khuyến khích vì vậy đến nay WTO vẫn cho phép các nước được đưa ra những nguyên tắc riêng của mình với điều kiện những nguyên tắc đó phải:

+ Dựa trên cơ sở khoa học

+ Không được gây ra cản trở lớn cho hoạt động thương mại

+ Không được phân biệt đối xử

> Nguyên tắc minh bạch hoá chính sách.

Khi tiến hành các hoạt động thương mại, các doanh nghiệp thường vấp phải những khó khăn vì họ không nắm được nguyên tắc, luật lệ cũng như sự bất đồng về ngôn ngữ, sự khác biệt về phong tục tập quán ở thị trường đó Đặc biệt, trong khi làm thủ tục xuất nhập khẩu, kiểm tra chất lượng hàng hoá trước khi xếp hàng, xin giấy phép để giảm thiểu sức cạnh tranh từ bên ngoài

Hiện nay., WTO đã thiết lập những đ iu mối cung cấp thông tin ở 2 cấp: chính phủ và doanh nghiệp (và tiến tới thiết lập hệ thống chung trên toàn thế giới) Các đầu mối ở cấp chính phủ đưa ra thông tin về luật lệ, quy tắc điều chỉnh hoạt động thương mại Các đầu mối ở cấp doanh nghiệp, trực tiếp liên lạc với các nhà kinh doanh, cho

họ biết về những khía cạnh thương mại và kỹ thuật trong việc cung cấp hàng hoá dịch vụ, tình hình thị trường, các yêu cầu về chất lượng cần có Ngoài ra, khi áp dụng hay thực thi các biện pháp có ảnh hưởng đến hoạt động thương mại, các chính phủ phải thông báo rộng rãi công khai ở trong và ngoài nước

WTO còn thường xuyên rà soát các chính sách thương mại của các nước thành viên để đảm bảo việc minh bạch hoá chính sách đã và đang được thực hiện và giúp

đỡ họ điều chỉnh hệ thống pháp lý, chính sách thương mại của mình cho phù hợp các quy định của WTO

> Nguyên tắc khuyên khích cải cách và hội nhập.

Việc tất cả các nước tiến hành mở cửa mở cửa thị trường, cho phép cạnh tranh tự

do ngay tức khắc thì kết quả tất yếu là sự sụp đổ của rất nhiều nền kinh tế còn yếu kém Vì vậy các nước đang ở giai đoạn đầu của sự phát triển cần có các biện pháp bảo hộ nhằm tạo dựng các ngành sản xuất, ổn định thị trường WTO đã đưa ra những

ưu đãi đáng kể đối với những nước này, những ưu đãi đó là:

- Miễn giảm bớt nghĩa vụ trong việc thực hiện TRIPS, TRIM và GATS

- Phạm vi thực hiện các thoả thuận về thuế quan sẽ được thu hẹp hơn các nước phát triển

Trang 28

- Các nước tiên tiến áp dụng hệ thống ưu đãi phổ cập chung cho các nước đang

và chậm phát triển (thấp hơn mức thuế của tối huệ quốc) đối với một số mặt hàng cụ thổ

- Trong các cuộc đàm phán, nguyên tắc có đi có lại được mở rộng thành có đi có lại tương đối, áp dụng tuỳ thuộc mức độ phát triển của các nước

- Được phép áp dụng nguyên tắc trợ cấp xuất khẩu bị cấm, cho phép có thời hạn

1.2.2 GATS - Chế đình thương mại dịch vụ của WTO và những nội dung của GATS.

Do việc đưa vấn đề về thương mại dịch vụ vào Hiệp định chung 1947 không thành nên cho đến khi kết thúc vòng đàm phán Uruguay, tức là 48 năm sau đó, phạm

vi điều chỉnh của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) chỉ giới hạn trong lĩnh vực hàng hoá mà không bao hàm d dịch vụ Được đàm phán tại Vòng đàm phán Uruguay, Hiệp định chung về thương mại dịch vụ - GATS đã ra đời, mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển của thương mại dịch vụ Đây là phụ lục IB của Hiệp định Marrakesh thành lập WTO có hiệu lực từ ngày 01/01/1995 GATS là tập hợp đầu tiên các quy định đa phương có hiệu lực thi hành bắt buộc, điều chỉnh thương mại dịch vụ quốc tế Các quy dịnh này áp dụng đối với mọi loại hình dịch vụ, trừ các loại thuộc thẩm quyền điều chỉnh riêng của chính phủ Điều này chỉ hạn chế đối với việc cung ứng các dịch vụ không nhằm mục đích thương mại hoặc không nhằm cạnh tranh với một hoặc một số nhà cung ứng dịch vụ khác

1.2.2.1 Mục tiêu của GATS.

GATS thành lập nên một khuông khổ đa phương các nguyên tắc và quy định về thương mại dịch vụ với mục tiêu mở rộng thương mại theo các điều kiện minh bạch hoá và tự do hoá hơn nữa và như là một công cụ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của

Trang 29

tất cả các đối tác trong thương mại vì sự phát triển của các nước đang phát triển, cụ thể mục tiêu của GATS là:

- Thiết lập một khuôn khổ đa biên cho những nguyên tắc và quy tắc của thương

mại dịch vụ nhằm mở rộng thương mại trong lĩnh vực này trong điều kiện minh bạch

và tự do hoá dần dần và là một trong những công cụ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tất cả các đối tác trong thương mại và vì sự phát triển của các nước đang phát triển

- Đạt được tự do hoá thương mại dịch vụ ở mức ngày càng cao hơn thông qua

những vòng đàm phán đa biên liên tiếp nhằm tăng cường lợi ích của các bên tham gia trên cơ sở cùng có lợi và đảm bảo sự cân bằng chung về quyền và nghĩa vụ, đồng thời tôn trọng các mục tiêu trong chính sách quốc gia

- Tạo thuận lợi đ ể các nước đang phát triển tham gia ngày càng nhiều hơn vào

thương mại dịch vụ và mở rộng xuất khẩu dịch vụ của mình, trong đó cần nhờ vào

tăng cường năng lực dịch vụ trong nước, hiệu quả và khả năng cạnh tranh

7.2.2.2 Phạm vi áp dụng của GATS.

Phạm vi áp dụng của GATS được quy định tại Điều I, theo đó Hiệp định áp dụng đối với các biện pháp tác động tới thương mại dịch vụ của các nước thành viên Đó là những biện pháp tác động tới:

- Hoạt động mua, thanh toán hay sử dụng một dịch vụ

- Sự tiếp nhận hay sử dụng các dịch vụ gắn liền với việc cung cấp dịch vụ, các dịch vụ được các thành viên đó yêu cầu phải đưa ra phi’<: vụ công chúng một cách phổ biến

- Sự hiện diện, bao gồm cả hiện diện thương mại, của những người thuộc một thành viên để cung cấp dịch vụ trên lãnh thổ của một thành viên khác

Tuy nhiên, GATS không điều chỉnh mọi biện pháp tác động tới thương mại dịch

vụ, mà chỉ điều chỉnh những biện pháp tác động tới thương mại dịch vụ được áp dụng bởi: Chính quyền trung ương, khu vực hoặc địa phương và các cơ quan phi chính phủ trong việc thực thi quyền hạn được chính quyền trung ương, khu vực hoặc địa phương giao cho

GATS không điều chỉnh tàn bộ các loại hình dịch vụ Những loại dịch vụ sau đày không thuộc phạm vi điều chỉnh của GATS:

- Những quy định về di trú;

- Những dịch vụ thực hiện quyền lực nhà nước;

Trang 30

- Chính sách ngân sách và các biện pháp thuế;

- Hệ thống thuế quan;

- Một số mặt trong lĩnh vực bảo hộ các nhà đầu tư liên quan đến di chuyển tưbản;

- Quản lý tỉ giá ngoại hối

1.2.2.3 Các phương thức cung cấp dịch vụ theo GATS.

Thương mại dịch vụ theo GATS, được hiểu là sự cung cấp dịch vụ theo 4 phương thức sau đây:

- Phương thức 1: Cung ứng qua biên giới - dịch vụ được cung ứng từ một nuớc

sang một nước khác (Ví dụ: gọi điện thoại từ Việt Nam sang Mỹ); đặc điểm của đặc điểm loại hình cung cấp dịch vụ này là chỉ có bản thân dịch vụ là đi qua biên giới, còn người cung cấp dịch vụ không có mặt tại nước nhận dịch vụ

- Phương thức 2: Tiêu dùng ở ngoài lãnh thổ - người tiêu dùng của một nước

(hoặc tài sản của họ) tiêu dùng dịch vụ tại một nước khác, ví dụ khi người Việt Nam

đi du lịch ở Trung Quốc theo tuyến du lịch theo công ty của Việt Nam đứng ra tổ chức

- Phương thức 3: Hiện diện thương mại - một công ty nước ngoài thành lập chi

nhánh hoặc công ty con để cung cấp dịch vụ tại một nước khác, ví dụ một ngân hàng của Mỹ thành lập chi nhánh tại Việt Nam Phương thức này liên quan trực tiếp đến việc đầu tư tại thị trường nước khác để thiết lập công việc kinh doanh

Phương thức 4: Hiện diện của thể nhân - tức là công dân nước này trực tiếp

cung ứng dịch vụ ở nước khác, ví dụ như các ca sỹ của Việt Nam ỉsang Mỹ biểu diễn theo các chương trình do các nhà tổ chức Mỹ thực hiện

Như vậy, GATS chỉ điều chỉnh những biện pháp của các nước thành viên tác động tới thương mại dịch vụ được thực hiện thông qua bốn phương thức cung cấp dịch vụ nói trên Dịch vụ được cung cấp qua những phương thức đó là bất kỳ loại dịch vụ nào, ngoại trừ dịch vụ được cung cấp trong khi thi hành thẩm quyền của chính phủ (những dịch vụ được cung cấp không trên cơ sở thương mại, hoặc không trên cơ sở cạnh tranh với một hoặc nhiều người cung cấp dịch vụ)

1.2.2.4 Những nguyên tắc điều chỉnh thương mại dịch vụ.

Các quy định và biện pháp cơ bản tại GATS được dựa trên các nguyên tắc cơ bản của GATT như có cân nhắc đến một số đặc thù của thương mại dịch vụ

Trang 31

> Nguyên tắc tối huệ quốc (Most Favored National Treatment - MFN):

Tối huệ quốc là một trong những nguyên tắc cơ bản của GATS, nguyên tắc này cũng được quy định trong GATT 1947 Được quy định tại Điều II 1 của GATS: “Đối với các biện pháp được quy định tại Hiệp định, mỗi thành viên phải dành ngay và vô điều kiện của các thành viên khác không kém phần thuận lợi hơn so với dịch vụ và cung ứng dịch vụ của bất kỳ thành viên nào khác” Điều này có nghĩa là nếu một thành viên cho phép và tạo điều kiện cho các công ty nước ngoài nào đó (kể cả nước không phải thành viên) hoạt động, ví dụ như trong lĩnh vực ngân hàng, thì thành viên

đó cũng phải cho phép và tạo điều kiện như cho công ty của thành viên khác hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, Nghĩa vụ này được áp dụng kể cả trong trường hợp thành viên không có cam kết cụ thể về việc cho các công ty nước ngoài tiếp cận thị trường của mình

Theo quy định của GATS, chế độ đối xử tối huệ quốc phải được áp dụng ngay lập tức và vô điều kiện Tức là một nước thành viên dành sự đối xử MFN cho dịch vụ

và người cung cấp dịch vụ của một nước thành viên khác nhưng không yêu cầu phải đáp ứng bất kỳ một điều kiện nào Tuy nhiên, chế độ đối xử tối huệ quốc bị hạn chế trong một số trường nhất định, cụ thể:

Thứ nhất, GATS cho phép các nước thành viên được miễn trừ đối xử tối huệ

quốc đối với những biện pháp nhất định thông qua đàm phán Các thành viên phải quy định rõ trong Danh mục miễn trừ đối xử tối huệ quốc những biện pháp được miễn trừ và thời hạn miễn trừ v ề nguyên tắc, các miễn trừ không được vượt quá thời hạn 10 năm Danh mục miễn trừ đối xử tối huệ quốc là bộ phận không thể tách rời của GATS

Thứ hai, các nước thành viên có thể dành cho nước lân cận những thuận lợi

nhằm thúc đẩy thương mại mại dịch vụ trong phạm vi vùng cận biên Trong các khu vực tự do mậu dịch cận biên, các nước thành viên có chung đường biên giới có thể dành những ưu đãi cho nhau mà không phụ thuộc vào nghĩa vụ thực hiện đối xử tối huệ quốc đã cam kết trong trong Danh mục cam kết cụ thể

> Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (Natioml Treatment - NT):

- Nguyên tắc đối xử quốc gia được quy định tại Điều XVII của GATS, theo đó trong những lĩnh vực được ghi trong Danh mục cam kết cụ thể, mỗi thành viên phải dành cho các dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài sự đối xử giống như họ dành cho dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ tương tự trong nước Điều XVII.3 quy

Trang 32

định nếu có sự sửa đổi các điều kiện cạnh tranh theo hướng có lợi cho các công ty nước sở tại thì sẽ bị coi là phân biệt đối xử Theo quy định của GATS, nước thành viên chỉ có nghĩa vụ tuân theo nguyên tắc đãi ngộ quốc gia khi nước đó đã có cam kết cụ thể về việc cho phép các công ty nước ngoài tiếp cận thị trường của mình, chứ không phải tuân thủ nguyên tắc này trong các lĩnh vực không cam kết Đặc biệt, kể

cả trong trường hợp không có cam kết thì GATS cũng vẫn quy định một số hạn chế đối với việc áp dụng nguyên tắc đãi ngộ quốc gia cho thương mại dịch vụ

- Theo quy định của GATS, các thành viên phải loại bỏ 6 loại hạn chế sau đây trong những lĩnh vực có cam kêt mở cửa thị trường:

+ Các hạn chế về số lượng người cung cấp dịch vụ dưới hình thức hạn ngạch, độc quyền, toàn quyền cung cấp dịch vụ hoặc yêu cầu đáp ứng nhu cầu kinh tế

+ Hạn chế về tổng giá trị các giao dịch dịch vụ hoặc tài sản dưới hình thức hạn ngạch hoặc yêu cầu đáp ứng nhu cầu kinh tế

+ Hạn chế số lưựng các hoạt động dịch vụ hoặc số lượng d-ch vụ đầu ra tính theo số lượng đơn vị dưới hình thức hạn ngạch hoặc yêu cầu đáp ứng nhu cầu kinh tế.+ Hạn chế số lượng thể nhân có thể được tuyển dung trong một iũih vực dịch vụ

cụ thể hoặc một người cung cấp dịch vụ được phép tuyển dụng cần thiết hoặc trực tiếp liên quan đến việc cung cấp một dịch vụ cụ thể dưới hình thức hạn ngạch hoặc yêu cầu về nhu cầu kinh tế

+ Các biện pháp hạn chế hoặc yêu cầu các hình thức pháp nhân cụ thể hoặc liên doanh thông qua đó người cung cấp dịch vụ có thể cung cấp dịch vụ

+ Hạn chế về tỷ lệ vốn góp của bên nước ngoài bằng việc quy định giới hạn phần trăm tối đa cố phần của bên nước ngoài hoặc tổng giá tri đầu tư nước ngoài tính đơn hoặc tính gộp

Kể từ khi GATS có hiệu lực tới nay, số lượng các ngành dịch vụ được đưa vào Danh mục cam kết cụ thể ngày càng mở rộng Hơn 70 nước thành viên WTO đã lập lộ trình cam kết áp dụng nguyên tắc NT cho dịch vụ chuyên môn, dịch vụ du lịch, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác; khoảng

30 nước đã lập lộ trình cam kết cho dịch vụ giáo dục, dịch vụ văn hóa, thể thao

Sự mở rộng phạm vi các ngành dịch vụ được cam kết áp dụng nguyên tắc NT là một trong những thách thức đối với các nước chậm phát triển đang đàm phán gia nhập GATS, trong đó có Việt Nam

> Nguyên tắc công khai, minh bạch hóa (Publicity, transparency):

Trang 33

Minh bạch là một trong những nguyên tắc then chốt của tự do hoá đa phương

Nó cho phép phát hiện những hạn chế và những biện pháp bảo hộ trái quy định của GATS, tạo điều kiện tốt hơn để các nhà cung cấp dịch vụ tiếp cận thị trường các thành viên và cùng cạnh tranh

Nghĩa vụ chính của các thành viên trong vấn đề này là công bố và thông báo sớm các thông tin quy định chung như thiết lập đầu mối cung cấp thông tin, qua đó các thành viên khác có thể thu nhận được những thông tin về hệ thống luật định liên quan đến thương mại qua các lĩnh vực dịch vụ của nhau đáp úng mối quan tâm của

họ GATS quy định các thành viên có nghĩa vụ công bố và thông báo cho Hội đồng thương mại dịch vụ tất cả các biện pháp được áp dụng có ảnh hưởng đến sự vận hành của GATS, kể cả những hiệp định và điều ước quốc tế mà họ ký kết và tham gia, những luật mới thông qua hoặc sửa đổi, những quy định dưới luật hoặc thủ tục hành chính liên quan đến các lĩnh vực hoặc tiểu linh vực dịch vụ Mặt khác các thành viên cũng có nghĩa vụ đáp ứng trong thời hạn sớm nhất những biện pháp như đã nêu trên,

và phải lập những đầu mối cung cấp thông tin Tuy nhiên, nguyên tắc công khai không bắt buộc các ihành viên phải công bố những thông tin bí mật mà việc công bố

có thể gây trở ngại cho việc thực hiện pháp luật hoặc làm hại lợi ích quốc gia

Đối với các nước đang phát triển, GATS quy định hai điểm đặc biệt sau đây:

- Các nước phát triển phải lập các đầu mối tiếp xúc có nhiẹm vụ cung cấp những hướng dẫn đặc biệt cho các nhà cung cấp dịch vụ của những nước phát triển Những thông tin này bao gồm những cl dẫn về dịch vụ công nghệ có thể được, các khía cạnh kỹ thuật và thương mại cua việc cung cấp dịch vụ, việc đăng ký, công nhận để đạt được những yêu cầu có tính chuyên môn Trong khi các nhà cung cấp dịch vụ của các nước đang phát triển có thể đưa đầu mối tiếp xúc của các nước phát triển để được đáp ứng, các nhà cung ứng dịch vụ của các nước phát triển phải chuyển yêu cầu thông tin của họ đối với các nước đang phát triển thông qua chính phủ của nước đó

- Các nước đang phát triển có thể thành lập các điểm đầu nối thông tin muôn hơn 2 năm so với thời hạn quy định cho các nước phát triển (tức vào ngày 01/01/2997)

> Nguyên tắc từng bước tự do hóa thị trường dịch vụ.

Cũng giống với thương mại hàng hoá, yêu cầu của tự do hoá thị trường thương mại dịch vụ chỉ có thể đạt được một cách thực tế nếu như các nước thành viên có nhũng cam kết cụ thể về biện pháp mở cửa thị trường dịch vụ, xoá bỏ dần rào cản -

Trang 34

những thể chế quy định cua pháp luật cản trở sự thâm nhập của nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài.

Để tiến hành tự do hoá thương mại dịch vụ, GATS yêu cầu mỗi nước thành viên phải đưa ta một lịch trình những cam kết cụ thể của mình theo các yêu cầu liên quan đến: Các điều kiện, quy định giới hạn, những đảm bảo liên quan đến cam kết bổ sung, giới hạn thời gian phù hợp cho việc thực hiện các cam kết, thời gian cam kết có hiệu lực

Theo quy định của GATS, “tiến trình tự do hóa được tiến hành với sự quan tâm đúng mức đến mục tiêu chính sách quốc gia và trình độ phát triển của mỗi thành viên.” Mục tiêu của nguyên tắc này là nhằm đạt được mức độ tự do hóa thương mại dịch vụ ngày càng cao hơn, hướng tới giảm hoặc loại bỏ những trở ngại đối với thương mại dịch vụ trên cơ sở cùng có lợi và bảo đảm cân bằng tổng thể quyền lợi và nghĩa vụ Tiến trình tự do hóa từng bước được đẩy mạnh thông qua từng vòng đàm phán (song phương hoặc đa biên) theo hướng tăng dần mức độ của các cam kết cụ thể

> Nguyên tắc đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các nước thành viên đang phát triển vàì hoặc đang trong quá trình chuy< n đổi.

Nguyên tắc này không chỉ kế thừa những quy định ưu đãi của GATT về thương mại hàng hóa dành cho các nước đang phát triển, mà còn mở rộng áp dụng cho thương mại dịch vụ, đầu tư và quyền sở hữu trí tuệ Đây là thành quả đấu tranh liên tục của các Iiước đang phát triển qua những vòng đàm phán trong khuôn khổ GATT, đặc biệt là Vòng đàm phán Ưrugoay Bởi vì, một trong những nguyên tắc cơ bản trong quan hệ quốc tế nói chung, thương mại quốc tế nói riêng là bình đẳng và cùng

có lợi Tuy nhiên, trên thực tế, ưu thế trong thương mại quốc tế thuộc về những nước công nghiệp phát triển với tiềm lực lớn về công nghệ, tài chính Trong khi đó, bất lợi thuộc về các nước đang phát triển do khoảng cách lớn về trình độ phát triển với các nước phát triển Vì vậy, nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử chỉ có ý nghĩa đối với các nước đang phát triển khi họ được hưởng những ưu đãi nhất định hơn so với các nước phát triển, nhờ đó thúc đẩy họ tham gia vào hệ thống thương mại đa biên, hạn chế phần nào bất lợi và tận dụng được những lợi ích của hệ thống thương mại đa biên

Theo quy định của GATS, nguyên tắc đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các nước thành viên đang phát triển thể hiện ở những nội dung sau đây:

Trang 35

Thứ nhất, những cam kết cụ thể đại dược thông qua đàm phán phải bảo đảm các

nước thành viên đang phát triển tăng cường năng lực cạnh tranh của các ngành dịch

vụ, nâng cao khả năng tiếp cận các kênh phân phối và hệ thống thông tin; đồng thời,

mở cửa thị trường trong các lĩnh vực và phương thức cung cấp gắn liền với mối quan tâm xuất khẩu của các nước thành viên đang phát triển

Thứ hai, về đàm phán mở cửa thị trường dịch vụ, những nước phát triển phải áp

dụng phương pháp loại trừ (không mở cửa lĩnh vực nào thì phải liệt kê trong Danh mục cam kết cụ thể và những lĩnh vực còn lại đều phải mở cửa), nhưng các nước đang nước đang phát triển được áp dụng phương pháp “chọn-cho” Nghĩa là mở cửa lĩnh vực nào thì liệt kê lĩnh vực đó trong Danh mục cam kết cụ thể, các lĩnh vực không liệt kê là không cam kết Hơn nữa, các thành viên đang phát triển được hưởng

sự linh hoạt thích đáng trong việc mở cửa thị trường với ít lĩnh vực hơn, tự do hóa ít loại hình giao dịch hơn Tuy nhiên, việc chọn lĩnh vực dịch vụ để cam kết không được thực hiện một cách tuỳ ý mà phải thông qua đàm phán Thực tế cho thấy các nước phát triển thường gây áp lực để các nước đang phát triển đưa nhiều lĩnh vực dịch vụ vào cam kết mở cửa thị trường

Thứ ba, trong thời han 2 năm kể từ ngày Hiệp định WTO có hiệu lực, các nước

thành viên phát triển và các thành viên khác, tùy theo khả năng, sẽ lập những điểm liên lạc để tạo điều kiện cho những người cung cấp dịch vụ cua các nước thành viên đang phát triển tiếp cận thông tin về thị trường của những nước đó

Việc ghi nhận sự đối xử ưu đãi dành cho các nước đang phát triển trong các hiệp định của WTO nói chung, GATS nói riêng thể hiện sự tiến bộ trong quan hệ thương mại quốc tế hiện nay Tuy nhiên, phần lớn những ưu đãi được quy định chỉ mang tính định hướng, thiếu tính cụ thể và khả thi Chẳng hạn như Điều 19 của GATS quy

định: “Sự linh hoạt thích đáng cho các thành viên đang phát triển trong việc mở cửa

thị trường với ít lĩnh vực hơn, tự do hóa ít loại hình giao dịch hơn ” Những ưu đãi nhìn chung vẫn chưa phản ánh đúng khoảng cách lớn về trình độ phát triển giữa các nước thành viên phát triển và đang phát triển Ví dụ, Hiệp định dịch vụ viễn thông cơ bản cho phép các nước có thu nhập thấp kéo dài thêm 6 năm so với các nước phát triển trong việc mở cửa thị trường dịch vụ viễn thông, nhưng thực tế các nước đó lạc hậu hơn các nước phát triển trong lĩnh vực này từ 20 đến 30 năm

Trang 36

1.2.2.5 Các ngành dịch vụ trong GATS.

Như đã trình bày ở trên, GATS không đưa ra một khái niệm dịch vụ cụ thể mà chỉ định nghĩa việc cung cấp dịch vụ dựa trên bốn phương thức (mode) cung cấp GATS cũng phân loại các ngành dịch vụ được trao đổi nhằm mục đích thương mại, ngoại trừ những ngành được cung cấp để phục vụ cho mục đích của chính phủ được chia thành 12 lĩnh vực:

- Các dịch vụ kinh doanh bao gồm dịch vụ chuyên môn và các dịch vụ khác;

- Dịch vụ liên lạc (viễn thông và bưu chính);

có thể đều được đưa vào bảng cam kết của các thành viên, thì trên thực tế các cam kết ràng buộc chỉ tồn tại ở những ngành dich vụ đã được lựa chọn bởi một thành viên khi đưa ra cam kết

1.2.2.6 Danh mục cam kết cụ thể của các quốc gia thành viên.

Danh mục cam kết cụ thể thực chất là lộ trình mở cửa thị trường dịch vụ của một thành viên, được xây dựng thông qua đàm phán Các danh mục này chính là yếu tố bảo đảm cho việc tự do hóa thương mại dịch vụ trên phạm vi toàn cầu Mỗi danh mục phải quy định rõ những dịch vụ được cam kết, điều kiện tiếp cận thị trường, điều kiện về đối xử quốc gia, thời hạn các cam kết có hiệu lực Danh mục cam kết cụ thể

là bộ phận không thể tách rời của GATS, có giá trị ràng buộc về mặt pháp lý đối với

Trang 37

thành viên cam kết Các thành viên có thể sửa đổi hoặc rút lại bất kỳ cam kết nào trong Danh mục của mình trong thời hạn 3 năm kể từ ngày các cam kết đó có hiệu lực, nhưng phải thông báo cho Hội đồng Thương mại dịch vụ chậm nhất 3 tháng trước ngày dự định sửa đổi hoặc rút lại.

Cần lưu ý rằng các thành viên chỉ thực hiện đối xử quốc gia và bảo đảm tiếp cận thị trường đối với những dịch vụ được cam kết trong Danh mục cam kết cụ thể Các nước thành viên không bắt buộc phải áp dụng nguyên tắc đối xử quốc gia đối với những dịch vụ không nằm trong Danh mục cam kết cụ thể Hơn nữa, ngay cả khi cam kết một dịch vụ nào đó, một thành viên có thể đặt những điều kiện nhất định cho việc áp dụng đối xử quốc gia, hoặc bảo lưu phân biệt đối xử giữa người cung cấp dịch vụ nước ngoài và người cung cấp dịch vụ trong nước Ví dụ, Danh mục cam kết

cụ thể về dịch vụ tài chính của Thái Lan quy định: dịch vụ môi giới và đại lý bảo hiểm được cung cấp theo phương thức hiện diện thương mại sẽ không hạn chế đối xử quốc gia chừng nào phần vốn gổp của nước ngoài không vượt quá 25%

1.2.2.7 Các trường hợp ngoại lệ.

GATS quy định inột số trường hợp ngoại lệ (exception), theo đó các nước thành viên được miễn trừ thực hiện nghĩa vụ theo quy định của GATS Những trường hợp ngoại lệ đó bao gồm:

sau đây:

+ Miễn trừ M F N tạm thời: Phụ lục về các miễn trừ thuộc Điều II của GATS quy

định những điều kiện, theo đó một nước thành viên được miễn trừ thực hiện đối xử MFN Thông qua đàm phán, các thành viên xác định danh mục các miễn trừ cũng như thời hạn áp dụng miễn trừ (về nguyên tắc, không vượt quá 10 năm)

Miễn trừ MFN đối với sự đối xử khác biệt theo các hiệp định hoặc thoả thuận quốc tế về tránh đánh thuế hai lần

Không áp dụng đối xử quốc gia trong trường hợp đánh thuế hoặc thu thuế trực tiếp một cách công bằng và hiệu quả đối với dịch vụ hoặc người cung cấp dịch vụ của các thành viên khác (Điều 14 GATS)

+ Mua sắm của chính phủ (Public Procurement): Không áp dụng các nguyên

tắc không phân biệt đối xử (MFN, NT) và tiếp cận thị trường đối với những quy định

về giao dịch dịch vụ của các cơ quan nhà nước phục vụ hoạt động của nhà nước và không mang mục đích thương mại

Trang 38

+ Hội nhập kinh tế: Vào thời điểm thành lập WTO, trên thế giới đã và đang tồn

tại nhiều thoả thuận khu vực về khối mậu dịch tự do hoặc liên minh kinh tế Vì vậy GATS không ngăn cản các thành viên tham gia những hiệp định (song phương hoặc khu vực) về tự hóa hóa thương mại dịch vụ, với điều kiện những hiệp định đó được

ký giữa các thành viên của GATS, bao trùm những lĩnh vực dịch vụ chủ yếu, xóa bỏ hoặc giảm đáng kể mọi sự phân biệt đối xử giữa các bên tham gia theo nguyên tắc đối xử quốc gia Các pháp nhân được thành lập theo pháp luật của một bên tham gia hiệp định và có hoạt động kinh doanh đáng kể trên lãnh thổ của các bên tham gia hiệp định được quyền hưởng sự đãi ngộ theo hiệp định đó Nếu một hiệp định thoả mãn những yêu cầu trên chỉ bao gồm các nước đang phát triển, thì các bên tham gia hiệp định có thể dành sự ưu đãi hơn cho các pháp nhân của nhau

+ Ngoại lệ chung và ngoại lệ vì lý do an ninh: Các thành viên được thực hiện

các hiện pháp cần thiết không phụ thuộc vào quy định của GATS để bảo vệ đạo đức

xã hội, trật tự công cộng; cuộc sống và sức khỏe con người, động thực vật; để bảo

đ iin việc tuân thủ pháp luật và bảo vệ an ninh quốc gia

1.2.2.8 Các phụ lục gắn liền với GAĨS.

Vì thương mại dịch vụ rất đa dạng và phức tạp, mỗi lĩnh vực clịch vụ cụ thể có những đặc thù riêng, nên đến cuối Vòng đàm phán Urugoay tháng 12/1993, các cuộc đàm phán về dịch vụ tài chính, dịch vụ viễn thông, dịch vụ vận tải biển, vận tải hàng không vẫn chưa kết thúc Vì vậy, khi kết thúc Vòng đàm phán Urugoay các nước nhất trí ghi nhận kết quả đàm phán đã đạt được về từng dịch vụ cụ thể trong những phụ lục gắn liền với GATS Nội dung của các phụ lục chỉ bao gồm những quy đ nh chung cho từng lĩnh vực dịch vụ, còn những vấn đề cụ thể sẽ tiếp tục được đàm phán sau khi kết thúc Vòng đàm phán Urugoay Từ đó tới nay, các cuộc đàm phán về dịch

vụ tài chính và dịch vụ viễn thông cơ bản đã kết thúc với việc thông qua Hiệp định về dịch vụ tài chính và Hiệp định viễn thông cơ bản

Các phụ lục cấu thành nội dung của GATS bao gồm:

- Phụ lục về các miễn trừ thuộc Điều II: là phụ lục quy định những điều kiện,

theo đó một thành viên được miễn trừ thực hiện nghĩa vụ đối xử MFN Kèm theo phụ lục này là Danh mục các miễn trừ MFN

- Phụ lục về di chuyển của thể nhân: áp dụng cho những biện pháp tác động đến

thể nhân (cá nhân) là những người cung cấp dịch vụ của một nước thành viên, hoặc những thể nhân được một người cung cấp dịch vụ của một thành viên tuyển dụng để

Trang 39

thực hiện việc cung cấp dịch vụ Các thể nhân của một nước thành viên tìm kiếm việc làm trên thị trường không thuộc phạm vi điều chỉnh của phụ lục.

- Phụ lục về dịch vụ vận tải hàng không: điều chỉnh thương mại trong dịch vụ

vận tải hàng không Phụ lục khẳng định quy định của GATS không làm thay đổi nghĩa vụ của một thành viên theo các điều ước quốc tế về hàng không đã có hiệu lực trước khi GATS có hiệu lực Phụ lục chỉ áp dụng cho những biện pháp tác động tới dịch vụ sửa chữa và bảo trì máy bay, bán và tổ chức marketing dịch vụ vận tải hàng không, dịch vụ đặt vé máy bay qua mạng điện tử

- Phụ lục vể dịch vụ tài chính: áp dụng đối với các biện pháp tác động đến cung

cấp dịch vụ tài chính Theo quy định của Phụ lục, dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào mang tính chất tài chính, được người cung cấp dịch vụ của một nước thành viên cung cấp, bao gồm dịch vụ bảo hiểm và các dịch vụ liên quan tới bảo hiểm, dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác (không bao gồm bảo hiểm) Các nước thành viên có quyền áp dụng những biện pháp thận trọng để bảo vệ nhà đầu tư, người gửi tiền, đảm bảo tính thống nhất và ổn định của hệ thống tài chính

- Phụ lục vê' đàm phán dịch vụ vận tải biển: đàm phán về dịch vụ vận tải biển

trong khuôn khổ GATS sẽ tiến hành trên cơ sở tự nguyện Đàm phán sẽ nhằm đạt được cam kết về giảm bớt dẫn tới loại bỏ những hạn chế trong lĩnh vực vận tải biển quốc tế, các dịch vụ hỗ trợ, việc tiếp cận và sử dụng các thiết bị cảng theo một lịch trinh nhất định Trước khi kết thúc đàm phán, đối xử MFN và Phụ lục miễn trừ MFN không áp dụng đối với lĩnh vực này Khi kết thúc đàm phán, các thành viên được quyền thay đổi hoặc rút bỏ những cam kết đã đạt được trong lĩnh vực vận tải biển tại Vòng đàm phán Urugoay Nếu đàm phán không thành công, Hội đồng Thương mại dịch vụ sẽ quyết định tiếp tục hoặc chấm dứt đàm phán

- Phụ lục về thông tin viễn thông: áp dụng cho các biện pháp tác động đến việc

tiếp cận và sử dụng dịch vụ và mạng lưới thông tin viễn thông công cộng (không bao gồm mạng lưới truyền qua cáp hoặc phát sóng truyền thanh, truyền hình) Dịch vụ viễn thông công cộng là dịch vụ viễn thông phục vụ công chúng Mạng viễn thông công cộng là kết cấu hạ tầng thông tin viễn thông công cộng cho phép thực hiện thông tin viễn thông giữa hai hoặc nhiều điểm xác định Mỗi thành viên sẽ đảm bảo cho người cung cấp dịch vụ của các thành viên khác đuực tiếp cận và sử dụng dịch vụ

và hệ thống viễn thông công cộng trên cơ sở không phân biệt đối xử để cung cấp những dịch vụ được liệt kê trong Danh mục cam kết của mình Các thành viên có thể

Trang 40

áp đặt những điều kiện nhất định đối với tiếp cận và sử dụng dịch vụ, mạng viễn thông công cộng.

Ngày đăng: 11/04/2020, 07:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w