Quan điểm về con người trong Triết học Mác - Lênin Những quan điểm triết học trước Mác về con người Quan điểm triết học Mác xít về con người Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về con người. Phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay Những thành tựu của việc phát huy nhân tố con người ở nước ta Hạn chế của việc phát huy nhân tố con người ở nước ta hiện nay Giải pháp cơ bản phát huy nhân tố con người ở nước ta hiện nay Phát huy nhân tố con người trong hoạt động quân sự
Trang 1MỤC LỤC
Trang
1 Quan điểm về con người trong Triết học Mác - Lênin 5
1.1 Những quan điểm triết học trước Mác về con người 5
1.2 Quan điểm triết học Mác xít về con người 7
1.3 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về con người 12
2 Phát huy nhân tố con người trong sự
nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay
Con người là một trong những vấn đề trung tâm của các trào lưu triết học
Từ thời cổ đại cho tới nay đã có nhiều nhà khoa học, ngành khoa học đi sâu nghiêncứu các mặt khác nhau của con người
Trang 2Các trường phái triết học trong lịch sử triết học trước Mác khi tìm câu trả lờicho các vấn đề: Con người là gì? Bản chất con người thế nào? Vị trí của con người
ra sao trong thế giới tự nhiên? nhưng đều rơi vào chủ nghĩa duy tâm hoặc duy vậtsiêu hình Ngược lại với quan điểm đó, Chủ nghĩa Mác nói chung và triết học Mácnói riêng xem xét vấn đề con người là trung tâm của mọi khoa học xã hội và nhânvăn Nhất là, với sự ra đời của quan điểm duy vật lịch sử, lần đầu tiên vấn đề conngười có được vị trí mà nó cần phải có, chủ nghĩa Mác ra đời xuất phát từ conngười và mục đích cuối cùng là soi sáng cho sự nghiệp giải phóng cho mỗi conngười và cho cả loài người
Lịch sử của thế giới ngày nay đã khẳng định vai trò động lực của con ngườitrong quá trình phát triển Thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam đã chứng minhrằng nhân tố con người có ý nghĩa quyết định cho xu hướng vận động của thếgiới đương đại Mục tiêu cao nhất, bao trùm của chủ nghĩa xã hội là độc lập, tự do,hạnh phúc của con người Cách mạng Việt Nam là một cuộc cách mạng vì mụcđích giải phóng con người
Xuất phát từ thực tế của đất nước trước và sau đổi mới cũng như nắm bắt được
xu hướng phát triển của các nước trên thế giới, từ Đại hội Đảng lần thứ VI đến nay,Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức ngày càng đầy đủ hơn vai trò của con người;coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội
NỘI DUNG
1 Quan điểm về con người trong Triết học Mác - Lênin
1.1 Những quan điểm triết học trước Mác về con người
1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo về con người
Trang 3Họ cho rằng con người do lực lượng siêu nhiên sinh ra và được thể hiện đậmnét trong giáo lý các tôn giáo Nội chung các giáo lý tôn giáo đều quan niệm conngười do thần thánh, Thượng đế sinh ra, cuộc sống con người do đấng tối cao anbài sắp đặt Giáo lý Ki-tô cho rằng con người phải phục tùng khởi nguyên đấng tốicao là chúa trời (vì chúa trời sinh ra tất cả)
Ở những nước chịu ảnh hưởng của Khổng giáo, Phật giáo và Lão giáo, triếthọc cũng giải thích nguồn gốc con người hoặc từ một đấng thần linh tối cao, hoặc
từ một lực lượng thần bí có sức mạnh vạn năng Theo Phật giáo: con người sinh ratrong vòng luân hồi và nó gắn với mọi đau thương, mọi khổ hạnh nơi trần thế “Đời
là bể khổ, tình là dây oan” Theo Mạnh Tử, con người sinh ra vốn là tốt (thiện), dokhông biết tu dưỡng, chịu ảnh hưởng của tập quán xấu mà xa dần cái tốt, thông qua
tu dưỡng mà con người có thể hiểu được lẽ phải và giữ được cái tốt của mình.Khác với Mạnh Tử, Tuân Tử lại cho rằng, con người sinh ra vốn ác, nhưng có thểcải biến được; phải chống lại cái ác thì con người mới tốt được
1.1.2 Quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình về con người
Trong lịch sử triết học ở cả phương Tây và phương Đông, thời nào cũng có
tư tưởng duy vật, gắn liền với thực tiễn xã hội Tuy nhiên bàn về nguồn gốc, bảnchất con người, tư tưởng thống trị trong thời cổ đại và trung đại, vẫn là quan điểmduy tâm Thời cận đại, nhận thức về nguồn gốc và bản chất con người có một bướctiến đáng kể Các nhà duy vật Pháp thế kỷ XVIII và Phoibắc, nhà duy vật lớn trongtriết học cổ điển Đức, đều phê phán mạnh mẽ quan điểm duy tâm, thần bí và tìmcách giải thích nguồn gốc bản chất con người theo quan điểm duy vật
Với sự ra đời thuyết tiến hoá các loài của Đácuyn, các nhà triết học duy vậtnói trên đã có căn cứ khoa học để chỉ ra nguồn gốc phi thần thánh của con người
“Không phải chúa đã sáng tạo ra con người theo hình ảnh của chúa mà chính conngười đã tạo ra chúa theo hình ảnh của con người” Lời nói sắc sảo này củaPhoiơbắc đã được C.Mác và Ph.Ăngghen đánh giá cao khi hai ông nói về vai trò củacác nhà duy vật trong việc phê phán những quan điểm duy tâm thần bí về nguồn gốc
và bản chất của con người
Trang 4Tuy nhiên các nhà duy vật siêu hình họ đã quá tuyệt đối hóa mặt sinh vật,mặt vật chất và mặt bản năng trong con người - đó là con người “sinh vật hoá”
Với quan niệm coi bản chất con người là sinh vật, chủ nghĩa duy vật siêu hìnhgiải quyết vấn đề con người chỉ là sự thỏa mãn về nhu cầu vật chất, nhu cầu sinh vật,kích thích con người lao vào cuộc sống vật chất tầm thường, đẩy một bộ phận ngườichạy theo lối "sống gấp" - lối sống theo nhịp điệu hối hả, sống tranh thủ, gấp gáp,sống nhanh, sống vượt lên thời gian, vượt ra không gian, sống ích kỷ, sống chỉ biếtmình, không biết đến đồng loại Cả hai cách tiếp cận trên về con người đều dẫn đếnchủ nghĩa cực đoan về con người: Họ đã từ tuyệt đối hóa đến thần bí hóa mặt tinhthần của con người, hạ thấp mặt sinh vật (phần xác) và ngược lại, không thấy đượccon người là một thể thống nhất giữa mặt vật chất và mặt tinh thần
Tóm lại, vấn đề con người triết học đã được đặt ra và giải đáp từ thời cổ đại
và được coi như vấn đề trung tâm Dù ở phương Đông hay phương Tây, dù đó làquan điểm duy vật hay duy tâm thì vấn đề con người đều được giải thích dựa trênlập trường giai cấp của các nhà tư tưởng Mỗi bước tiến của lịch sử, vấn đề đó lạiđược nâng lên một tầm cao mới Tuy nhiên, tư tưởng triết học trước Mác vẫn cònnhiều hạn chế ở chỗ nghiên cứu, xem xét con người một cách trực quan, thơ ngâychỉ dừng ở mức độ mô tả chứ chưa khoan sâu vào bản chất; cách lý giải còn mangtính tôn giáo, duy tâm và siêu hình như: xem xét con người một cách tĩnh tại, cô lập,phân định rạch ròi giữa linh hồn với thể xác, giữa cái tự nhiên và cái xã hội màkhông thấy giữa chúng có sự thống nhất tác động lẫn nhau, chuyển hoá cho nhau
Như vậy, tất cả các quan điểm trước Mác về con người chưa thoát khỏi tínhchất duy vật siêu hình hoặc duy tâm thần bí Song, nó đã để lại những tư tưởng quýgiá về nguồn gốc, bản chất con người, làm cơ sở, tiền đề, điều kiện cho triết họcMác kế thừa, phát triển đưa ra quan điểm khoa học về con người
1.2 Quan điểm triết học Mác xít về con người
Khắc phục những hạn chế đồng thời kế thừa có chọn lọc các quan điểmtrong cách tiếp cận con người của các trường phái triết học trước đó, con ngườitrong triết học Mác tiếp cận là con người thực tiễn, con người hiện thực gắn với
Trang 5nền sản xuất vật chất của xã hội Đây là con người trong môi trường tự nhiên và xãhội, từ đó chỉ ra nguồn gốc tự nhiên, xã hội của con người trong lịch sử, mối quan
hệ con người với xã hội, tự nhiên và chính bản thân mình
Với quan điểm duy vật triệt để và phương pháp biện chứng về lịch sử xã hội
và về con người, Mác đã đưa ra một quan niệm hoàn chỉnh về khái niệm conngười, cũng như về bản chất con người: “Con người là sinh vật có tính xã hội, làsản phẩm cao nhất trong quá trình tiến hoá của tự nhiên và lịch sử xã hội, là chủthể sáng tạo ra toàn bộ nền văn hoá vật chất và tinh thần của xã hội”
Triết học Mác chỉ rõ hai mặt, hai yếu tố cơ bản cấu thành con người là mặt sinhhọc và mặt xã hội Con người có mặt tự nhiên, vật chất, nhục thể, sinh vật, tộc loại.Đồng thời, con người có mặt xã hội, tinh thần, ngôn ngữ, ý thức, tư duy, lao động,giao tiếp, đạo đức Hai mặt đó hợp thành một hệ thống năng động, phức tạp, luôn luônbiến đổi, phát triển Về vai trò của con người, triết học Mác - Lênin khẳng định, conngười là chủ thể hoạt động thực tiễn Bằng hoạt động thực tiễn, con người sáng tạo ramọi của cải vật chất, tinh thần, đồng thời sáng tạo ra cả bộ óc và tư duy của mình
Triết học Mác - Lênin xuất phát từ quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử đãtiếp cận sự hình thành, phát triển con người trong lịch sử sản xuất vật chất Từ đó,khẳng định lao động là điều kiện chủ yếu quyết định sự hình thành, phát triển của conngười Chính trong lao động, thông qua lao động mà con người biến đổi điều kiện tựnhiên bên ngoài; làm biến đổi bản chất tự nhiên, cải tạo bản năng sinh học của conngười; đồng thời hình thành và phát triển những phẩm chất xã hội của mình
Con người khác con vật ở chỗ, con vật sống dựa hoàn toàn vào tặng phẩm của
tự nhiên, còn con người phải bằng lao động sản xuất để cải tạo tự nhiên, sáng tạo racủa cải vật chất, thoả mãn nhu cầu ngày càng phát triển của mình Lịch sử sản xuấtvật chất cũng là lịch sử con người cải tạo tự nhiên phù hợp với nhu cầu tồn tại vàphát triển của mình Mác khẳng định: “Nhờ sản xuất mà giới tự nhiên biểu hiện ra làtác phẩm của con người”, làm cho tự nhiên “có tính người”, tự nhiên được “nhânloại hoá” Lịch sử phát triển của tự nhiên gắn bó hữu cơ với lịch sử phát triển của xãhội loài người Vì vậy, Mác nói: “Con người đứng trước một tự nhiên có tính lịch sử
và một lịch sử có tính tự nhiên”
Trang 6Triết học Mác - Lênin khẳng định, thông qua lịch sử sản xuất vật chất, nhờlao động mà một loài sinh vật mới ra đời - con người có lý tính, mang tính chất xãhội Lao động đã biến đổi bản chất tự nhiên của tổ tiên loài người Khoa học đãchứng minh rằng con người là một tổ chức sinh vật có trình độ phát triển cao nhấttrên hành tinh, từ một loài sinh vật có xương sống phát triển lên, là một nấc thangcao nhất trong lịch sử tiến hoá của các giống loài qua hàng trăm triệu năm Laođộng đã cải tạo bản năng sinh học của con người, bắt bản năng phục tùng lý trí,phát triển bản năng con người thành một trạng thái mới về chất Mác cho rằng,
“trong con người, ý thức thay thế bản năng, hoặc bản năng con người là bản năng
đã được ý thức” Lao động là điều kiện chủ yếu quyết định sự hình thành phát triểnphẩm chất xã hội của con người Trong lao động tất yếu hình thành quan hệ xã hội,thông qua hoạt động giao tiếp hình thành lên ngôn ngữ, nhận thức, tình cảm, ý chí
và cả phương pháp tư duy của con người Vì vậy, Ăngghen khẳng định: “Trên ýnghĩa cao cả nhất thì lao động sáng tạo ra chính bản thân con người”
Nhờ lao động mà con người vừa tách khỏi tự nhiên, vừa hoà nhập với tựnhiên trở thành một thực thể sáng tạo Hoạt động lịch sử đầu tiên mang ý nghĩa sángtạo chân chính của con người là chế tạo ra công cụ lao động Con người bắt đầu lịch
sử của mình từ đó Nhờ công cụ lao động - tư liệu của mọi tư liệu - sức mạnh vật chấtđầu tiên mà con người tách khỏi tự nhiên, tách khỏi loài vật với tư cách là một chủ thểhoạt động thực tiễn xã hội Đồng thời bằng hoạt động cải tạo tự nhiên, con người hoànhập với tự nhiên, biến “tự nhiên thứ nhất” thành “tự nhiên thứ hai”, “tự nhiên thứba”, sáng tạo ra của cải, tri thức, tinh thần Như vậy sáng tạo là thuộc tính tối cao củacon người Bản chất con người là sáng tạo ngay từ đầu với đầy đủ ý nghĩa của nó
Triết học Mác - Lênin tiếp cận con người trong tính toàn vẹn, khẳng định conngười là một chỉnh thể tồn tại và phát triển trong sự thống nhất giữa mặt sinh học vàmặt xã hội Đây là một chỉnh thể phức tạp, năng động, luôn luôn vận động, phát triển
Về mặt sinh học, con người tồn tại ở cấp độ cơ thể, biểu hiện trong các hiệntượng sinh lý, di truyền, thần kinh, điện - hoá và các quá trình khác của cơ thể Vềmặt này, con người phục tùng các quy luật của tự nhiên, sinh học Về mặt xã hội,con người tồn tại ở cấp độ nhân cách, biểu hiện trong những quá trình ý thức, tính
Trang 7cách, tính khí, là chủ thể quan hệ xã hội, lao động, giao tiếp, tinh thần Về mặt này.con người phục tùng các quy luật xã hội
Con người tồn tại và phát triển trong tính toàn vẹn thống nhất của hai quátrình sinh học và xã hội Sự hình thành phát triển con người thông qua một quátrình thống nhất giữa cơ chế di truyền và hoạt động xã hội Cơ chế di truyền quyếtđịnh quá trình tiến hoá sinh học của con người, tạo nên cơ sở sinh học cho sự tiếnhoá xã hội Quá trình gia nhập hoạt động xã hội, gia nhập vào bối cảnh văn hoálịch sử của quần thể xã hội đã quyết định sự hình thành phát triển những phẩm chất
xã hội của con người Đây là một quá trình thống nhất và phức tạp Trong đó, cơchế di truyền không chỉ quyết định về mặt sinh học là chủ yếu mà còn gắn liền với
sự hình thành phát triển bản năng xã hội của con người Ngược lại, quá trình tậpnhiễm trong cuộc sống xã hội không chỉ quyết định mặt xã hội của con người màcòn cải biến mặt sinh học, làm cho cái sinh học thích nghi với hoạt động xã hội
Triết học Mác - Lênin tiếp cận con người trong hệ thống con người - môitrường cư trú, từ trái đất đến vũ trụ Môi trường là điều kiện cần thiết cho sự tồn tại
và phát triển của con người Đó là toàn bộ hoàn cảnh tự nhiên và xã hội được thuhút vào quá trình đời sống con người Theo nghĩa rộng nhất môi trường bao gồmmôi trường tự nhiên và môi trường xã hội Con người hình thành, phát triển trongmôi trường tự nhiên - xã hội
Trước hết, con người tồn tại trong hệ thống tương tác của tất cả các lực lượng
tự nhiên Con người là một bộ phận của tự nhiên, giao tiếp với tự nhiên và phụ thuộcvào tự nhiên Con người thuộc về giới tự nhiên, nằm trong giới tự nhiên, sống trênhành tinh và phụ thuộc vào các quá trình cơ, lý, hoá, sinh học của hành tinh
Con người tồn tại trong môi trường xã hội, thông qua xã hội mà thíchnghi với tự nhiên Bởi vì, xã hội là một bộ phận của giới tự nhiên, một kết cấuvật chất đặc thù của giới tự nhiên Toàn bộ quần thể xã hội hoạt động trong giới
tự nhiên, chỉ có thể tồn tại và phát triển trong mối quan hệ hài hoà với tự nhiên.Mác khẳng định : “Chừng nào loài người còn tồn tại thì lịch sử của họ và lịch sử
tự nhiên quy định lẫn nhau” Như vậy, bản chất con người là tổng hoà các thuộctính tự nhiên - sinh học - xã hội
Trang 8Con người vừa là một chỉnh thể đơn nhất, vừa mang những phẩm chất của
hệ thống các quan hệ xã hội Đó là một hệ thống năng động, phát triển thống nhấtgiữa cái chung, cái đặc thù và cái riêng Thuộc tính chung nhất và cao nhất củacon người là sáng tạo Con người mang những phẩm chất đặc thù đại biểu chomột xã hội lịch sử - cụ thể, đại biểu cho một dân tộc, giai cấp, tập đoàn xã hội, tậpthể, nhóm xã hội, gia đình… Những phẩm chất xã hội của con người mang dấu ấncủa một thời đại lịch sử và những quan hệ xã hội cụ thể Cái riêng của con người dođặc điểm di truyền, do điều kiện sống riêng của mỗi người quy định Nhờ nhữngphẩm chất riêng mà phân biệt được giữa cá nhân này và cá nhân khác về trí tuệ, tìnhcảm, ý chí, động cơ hành động, tính cách Mác nói: “Con người là một thực thể xãhội mang tính cá nhân”
Con người mang tính nhân loại Đây là thuộc tính vốn có hình thành trongsuốt chiều sâu lịch sử của cuộc sống cộng đồng phổ biến rộng lớn nhất Tính nhânloại thể hiện trong thuộc tính chung nhất cao nhất của con người là sáng tạo vàtrong những giá trị văn hoá chung mà nhân loại đạt được Tính nhân loại còn đượcthể hiện trong những quy tắc chuẩn mực của cuộc sống chung được hình thành nhưnhững đạo lý Tính nhân loại thể hiện trong những giá trị chung mà con ngườiquan tâm như nhân đạo, dân chủ, công bằng xã hội, hoà bình, bảo vệ môi trườngsinh thái Cơ sở của tính nhân loại là từ bản chất xã hội của con người, do yêu cầukhách quan của cuộc sống cộng đồng là con người phải dựa vào người khác,nương tựa vào nhau để tồn tại và phát triển
Trong xã hội có giai cấp, con người mang tính giai cấp Mỗi người là mộtthành viên của giai cấp mang địa vị kinh tế xã hội của giai cấp đó Địa vị kinh tế xãhội mang tính khách quan, do toàn bộ điều kiện sinh hoạt vật chất quy định, mặc dùmỗi thành viên giai cấp có thể ý thức được hoặc không ý thức được địa vị của mình.Tính giai cấp và tính nhân loại trong con người vừa đồng nhất vừa khác biệt Conngười tồn tại thông qua những cá nhân hiện thực với tư cách là các chủ thể hànhđộng xã hội Tính nhân loại vĩnh hằng Bởi vì, trật tự kinh tế, chính trị xã hội cóthể bị thay đổi, nhưng con người luôn luôn phải biết dựa vào người khác, khai thác
sự phong phú của người khác để tồn tại, làm phong phú cho mình là không bao giờ
Trang 9mất đi Mặt khác, trong xã hội còn chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, còn quan hệđối kháng giai cấp thì con người còn mang tính giai cấp Các giai cấp và các hệthống xã hội tương ứng vẫn là chủ thể chủ yếu của xã hội hiện thực Không baogiờ có một “lợi ích nhân loại thuần khiết” Nó được phản ánh trong nhận thức,trong hoạt động thực tiễn không tách rời lợi ích các giai cấp.
Hoạt động của con người bị chi phối bởi tính tất yếu Tính tất yếu tồn tạidưới hình thức các quy luật khách quan Mặc dù con người nhận thức được quyluật khách quan hay không thì lịch sử xã hội vẫn vận động phát triển theo quy luật.Hoạt động của con người là sự thống nhất giữa tất yếu và tự do Hoạt động conngười có ý thức là hoạt động tiếp cận dần, nắm bắt quy luật khách quan làm tiền đềcho sự sáng tạo Lịch sử xã hội loài người là lịch sử con người vươn lên giành lấy
tự do ngày càng cao hơn Hoạt động của con người là sự thống nhất giữa tất yếu và
tự do Con người muốn tự do, trước hết phải được giải phóng về mặt xã hội, phải
có chế độ kinh tế xã hội tạo điều kiện tốt nhất cho hoạt động con người vươn tới tự
do Một xã hội bao gồm trong đó những con người phát triển tự do, toàn diện chính
là mục tiêu của chủ nghĩa cộng sản
Triết học Mác - Lênin nghiên cứu sự hình thành, phát triển con người trongquá trình lịch sử, khẳng định bên cạnh mặt chủ đạo của con người là sáng tạo, còn
có hiện tượng con người bị tha hoá Tha hoá là quá trình xã hội trong đó hoạt độngcủa con người và sản phẩm của nó biến thành một lực lượng độc lập thù địch vàthống trị lại con người Nguồn gốc của tha hoá là do sự phát triển của phân cônglao động xã hội và sự xuất hiện chế độ tư hữu Khắc phục sự tha hoá là một quátrình lâu dài, gắn liền với xoá bỏ chế độ tư hữu Triết học Mác - Lênin chính là lýluận triết học về khắc phục sự tha hoá của con người, trước hết là lý luận giảiphóng con người khỏi mọi áp bức, bóc lột
Như vậy, triết học Mác - Lênin trên cơ sở quan điểm duy vật biện chứng vềlịch sử, tiếp cận con người trong tính chỉnh thể của nó, đem lại một hình ảnh toàn vẹn,đúng đắn về con người, khôi phục lại địa vị vốn có của con người trong lịch sử Conngười hình thành, phát triển thông qua một quá trình tiến hoá sinh học - xã hội Tậptrung nhấn mạnh bản chất xã hội của con người: “Trong tính hiện thực của nó, bản
Trang 10chất con người là tổng hoà các quan hệ xã hội” Con người là chủ thể sáng tạo lịch sử.Triết học Mác - Lênin là học thuyết về sự giải phóng con người, vì hạnh phúc conngười Đây là cơ sở để bác bỏ những luận điểm tư sản, xét lại cho rằng triết học Mác
bỏ quên vấn đề con người, không xây dựng học thuyết về con người
1.3 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về con người
Xuất phát từ hiện thực khách quan, trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, từkhi đổi mới đến nay, Đảng ta luôn đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi sự pháttriển và coi việc phát huy nhân tố con người là một trong những nhiệm vụ chiến lược
Do đó, Đảng ta đã có nhiều quan điểm, chủ trương đúng đắn về phát huy nhân tố conngười Quan điểm, chủ trương của Đảng về phát huy nhân tố con người có sự pháttriển theo hướng ngày càng rõ nét và hoàn thiện hơn qua mỗi thời kỳ Đại hội
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (năm 1991), trong “Cương lĩnh xâydựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, Đảng ta khẳng định: “pháthuy nhân tố con người trên cơ sở bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi vànghĩa vụ công dân; kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa đời sốngvật chất và đời sống tinh thần; giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi íchlâu dài; giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội” Như vậy, tại Đại hội này, pháthuy nhân tố con người được hiểu là sự đảm bảo giữa quyền và lợi ích của công dân;nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân; đáp ứng cả nhu cầu trước mắt
và lợi ích lâu dài… Đây là một quan điểm khá toàn diện mở đường cho những quanđiểm tiến bộ về phát huy nhân tố con người ở các kỳ Đại hội sau này
Tại Đại hội VIII (năm 1996), Đảng ta khẳng định sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa ở nước ta là một quá trình phát triển mang tính cách mạng sâu sắc trongtất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nó không phải do bất kỳ lực lượng siêu nhiênnào mang lại mà là sự nghiệp của quảng đại quần chúng với tư cách là nguồn lựcquyết định Nguồn lực cơ bản, to lớn, quyết định này phải có hàm lượng trí tuệ,phẩm chất ngày một cao mới có thể đáp ứng được sự nghiệp công nghiệp hóa, hiệnđại hóa to lớn này: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn củacon người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa,hiện đại hóa” Nhân tố con người chính là yếu tố số một, là nguồn cội, động lực
Trang 11chính tạo nên lực lượng sản xuất - nhân tố quyết định tốc độ và sự phát triển bềnvững của phương thức sản xuất mới ở nước ta trong điều kiện hội nhập quốc tế Vìvậy, muốn đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa một cách bền vữngkhông thể không chăm lo phát triển con người, con người vừa là mục tiêu, vừa làđộng lực của sự phát triển.
Từ sau Đại hội VIII, Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết về nhiều lĩnh vực liênquan trực tiếp đến việc chăm sóc, bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người Nghịquyết Trung ương 2 khóa VIII (12/1996) về định hướng chiến lược phát triển giáodục, đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000
đã thể hiện rõ quan điểm của Đảng về phát triển nguồn nhân lực Nghị quyết nêu rõ:
“Lấy việc phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh vàbền vững” Mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục là xây dựng những thế hệ con ngườithiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đồng thời xác định:Giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu; giáo dục, đào tạo là sự nghiệp của toànĐảng, của Nhà nước và của toàn dân; phát triển giáo dục, đào tạo gắn với nhu cầuphát triển kinh tế - xã hội, những tiến bộ khoa họ - công nghệ và củng cố quốc phòng,
an ninh; thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục và đào tạo; giữ vai trò nòng cốtcủa nhà trường công lập đi đôi với đa dạng hóa các loại hình giáo dục, đào tạo, trên cơ
sở Nhà nước thống nhất quản lý Phát triển nguồn lực con người một cách toàn diện
về cả trí tuệ, sức khỏe, đạo đức, thái độ,…; phát triển nguồn nhân lực phải là sự quantâm và trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội bằng nhiều biện pháp, trong
đó giáo dục và đào tạo là then chốt; mọi kế hoạch xây dựng, phát triển kinh tế - xã hộiphải được đặt trong mối quan hệ không thể tách rời với kế hoạch đầu tư cho chính sựphát triển về nhân cách, trí tuệ, tình cảm, niềm vui và hạnh phúc của mỗi người, mỗigia đình và cả cộng đồng Việt Nam, cho xây dựng và phát triển nguồn nhân lực nhiều
về số lượng, mạnh về chất lượng
Đại hội X, Đảng ta đã xác định cần phải tập trung đổi mới toàn diện giáo dục
và đào tạo, chấn hưng giáo dục Việt Nam để phát triển nguồn nhân lực có chất lượngcao Các giải pháp thực thi được tập trung hơn khá cụ thể: Quản lý quá trình phát triểndân số và nguồn nhân lực trong mối quan hệ với phát triển kinh tế - xã hội; đổi mới
Trang 12phương thức đào tạo, phát triển nguồn nhân lực; phát triển nguồn nhân lực gắn với tạoviệc làm, tạo việc làm tại chỗ thông qua phát triển sản xuất, tập trung vào các sảnphẩm có giá trị kinh tế cao, xuất khẩu Đảng còn tiếp tục khẳng định: chiến lược conngười phải nằm ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Mọi chủ trương, chính sách nhằm pháthuy nhân tố con người đều xuất phát từ quan điểm cho rằng nhân dân là người sángtạo ra lịch sử, là chủ nhân thực sự của xã hội, là chủ thể của mọi hoạt động kinh tế,văn hóa, xã hội và mục tiêu của toàn bộ sự nghiệp cách mạng là phục vụ nhân dân
Đại hội X đã thể hiện tư duy đổi mới, khoa học của Đảng trong xây dựng conngười Việt Nam là xây dựng nhân cách của con người Việt Nam với nội dung toàndiện, từ bồi dưỡng và phát triển thể lực, năng lực trí tuệ với phương pháp tư duy khoahọc sáng tạo, không ngừng nâng cao trình độ học vấn, văn hóa, nhận thức tư tưởng,thế giới quan, đạo đức cách mạng, kế thừa những tinh hoa của truyền thống dân tộc,đáp ứng được những yêu cầu của con người mới trong xã hội công nghiệp, văn minh,hiện đại, Xây dựng con người Việt Nam hướng tới sự phát triển không chỉ chấtlượng cá thể con người, mà còn là sự phát triển của cả cộng đồng dân tộc Việt Nam,trước hết là chất lượng phát triển của giai cấp công nhân với vai trò, sứ mệnh dẫn dắt
xã hội của khối liên minh công - nông - trí thức - lực lượng cơ bản nhất của xã hội.Xây dựng con người Việt Nam theo quan điểm phát triển nguồn nhân lực cho sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hướng tới tương lai, cần tập trung đầu tư củatoàn xã hội vào sự nghiệp giáo dục - đào tạo thế hệ trẻ Việt Nam, chuẩn bị đầy đủ cho
họ lập thân, lập nghiệp; có đủ sức khoẻ, tài năng, đạo đức, ý thức và bản lĩnh chính trị.Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986 - 2006),Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Con người là vốn quý nhất, phát triển con người với tưcách vừa là động lực, vừa là mục tiêu của cách mạng, của sự nghiệp đổi mới đấtnước; gắn vấn đề nhân tố con người với tinh thần nhân văn nhằm tạo điều kiện chocon người phát triển toàn diện, sống trong một xã hội công bằng và nhân ái với nhữngquan hệ xã hội lành mạnh Con người và sự phát triển con người được đặt vào vị trítrung tâm của chiến lược kinh tế - xã hội, mở rộng cơ hội, nâng cao điều kiện cho conngười phát triển”
Trang 13Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2015, Đảng ta xác định: tăngtrưởng kinh tế nhanh và bền vững; nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nềnkinh tế; con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể pháttriển; tạo chuyển biến mạnh về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, phát huynhân tố con người Đại hội XI của Đảng nêu rõ mục tiêu tổng quát là: “Đến năm 2020nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” Để đạt được mụctiêu đó, Đảng đã xác định ba khâu đột phá chiến lược, trong đó “Phát triển nhanhnguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao” được coi là khâu đột phá thứhai Đồng thời, Đại hội XI đưa ra quan điểm phát huy nhân tố con người trên cơ sở
“Mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồnlực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển” Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày4/11/2013 của Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) của Đảng về đổi mới căn bản, toàndiện giáo dục và đào tạo, đã chỉ rõ: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sựnghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển,được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”.Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 của Hội nghị Trung ương 9 (khóa XI) vềxây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bềnvững đất nước tiếp tục khẳng định: Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Namphát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhânvăn, dân chủ và khoa học Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của
xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệvững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Tại Đại hội XII, Đảng ta khẳng định: “Thực hiện nhiệm vụ xây dựng con ngườiđáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế cóbước chuyển biến quan trọng: gắn nhiệm vụ xây dựng văn hóa, con người với nhiệm
vụ xây dựng và phát triển đất nước; gắn xây dựng môi trường văn hóa với xây dựngcon người; bước đầu hình thành những giá trị mới về con người với các phẩm chất vềtrách nhiệm xã hội, ý thức công dân, dân chủ, chủ động, sáng tạo, khát vọng vươnlên” Từ nhận định này, có thể nhận thấy thành tựu to lớn của nước ta trong thời gian
Trang 14qua trong phát triển con người là đã xây dựng được một hệ giá trị mới của con ngườiViệt Nam hiện nay.
Kế thừa quan điểm của các kỳ Đại hội trước, nhất là từ Hội nghị Trung ương 9khóa XI (tháng 5/2014); xuất phát từ thực tiễn phát triển con người Việt Nam trongthời gian qua; ở Đại hội XII, Đảng ta đã đưa ra mục tiêu tổng quát về xây dựng, pháttriển con người như sau: “Xây dựng và phát triển con người Việt Nam phát triển toàndiện đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xãhội chủ nghĩa” Nghị quyết Đại hội XII, Đảng ta đã gắn nhân tố con người gắn vớixây dựng văn hoá làm nền tảng tinh thần với hàm ý văn hoá và con người là cặp đôibiện chứng, trong đó con người là chủ thể sáng tạo văn hoá và thụ hưởng các giá trị,sản phẩm văn hoá Ngoài ra, yếu tố con người đề cập lần này là những con người rất
cụ thể, con người phải có nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực, kỹ năng, trách nhiệm
xã hội,… việc xây dựng con người phải thông qua hoạt động thực tiễn, cụ thể củatừng người, chứ không nói chung chung Trong 6 nhiệm vụ trọng tâm của nhiệm kỳĐại hội XII, Đảng ta đã chỉ rõ những nhiệm vụ cụ thể của việc phát huy nhân tố conngười như: “Phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; tậptrung xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làmviệc; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh”
Đại hội XII khẳng định: “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diệnphải trở thành một mục tiêu của chiến lược phát triển Đúc kết và xây dựng hệ giá trịvăn hóa và hệ giá trị chuẩn mực của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa,hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhâncách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa
vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật” Đảng ta cũng khẳng định cần đẩy mạnh pháttriển giáo dục và đào tạo để phát triển toàn diện con người: “Giáo dục là quốc sáchhàng đầu Phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồidưỡng nhân tài” Đây là quan điểm mà Đảng ta luôn nhất quán, mang tính định hướngchiến lược trong xây dựng, phát triển con người Việt Nam Để phát huy được vai tròcủa giáo dục và đào tạo trong phát triển toàn diện con người, mọi hoạt động của hệthống giáo dục và đào tạo cần phải hướng vào việc xây dựng, phát triển con người
Trang 15Việt Nam có thế giới quan khoa học, trí tuệ và đạo đức; gắn với thực hiện quyền conngười, quyền và nghĩa vụ công dân, nâng cao trí lực và kỹ năng sống, đáp ứng yêucầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, của nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, của kinh tế tri thức và xã hội họctập, của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Đảng ta cũngkhẳng định muốn phát huy nhân tố con người cần phải biết đấu tranh chống lại sự suythoái, xuống cấp về đạo đức về con người có thể phát triển một cách toàn diện: “Đấutranh phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác, thấp hèn, lạc hậu; chống các quan điểm, hành
vi sai trái, tiêu cực ảnh hưởng xấu đến xây dựng nền văn hóa, làm tha hóa con người
Có giải pháp ngăn chặn và đẩy lùi sự xuống cấp về đạo đức xã hội, khắc phục nhữngmặt hạn chế của con người Việt Nam”
Những quan điểm của Đảng về phát huy nhân tố con người trong suốt chặngđường phát triển có tác động rất lớn đến việc phát huy nhân tố con người trong giaiđoạn hiện nay Nhờ có những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, trình độdân trí ngày càng cao, đời sống của người dân được cải biến rõ nét, con người đượctạo điều kiện phát triển toàn diện, cả về thể chất lẫn tinh thần; cả về thể lực, trí lực vàtâm lực Đảng ta luôn luôn thể hiện sự quan tâm, coi con người là vốn quý nhất, chăm
lo cho hạnh phúc của con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta Thựchiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vìlợi ích trăm năm thì phải trồng người” đã luôn trở thành tư tưởng xuyên suốt trongtoàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng ta
2 Phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay
2.1 Những thành tựu của việc phát huy nhân tố con người ở nước ta
Đảng và Nhà nước ta sớm nhận thức rõ vai trò quyết định của nhân tố conngười và luôn đặc biệt quan tâm xây dựng con người Việt Nam mới và phát huy nhân
tố con người trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước Tiếp theo tinh thần cácĐại hội trước, Đại hội XII của Đảng đề ra nhiệm vụ: “Phát huy nhân tố con người
Trang 16trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; tập trung xây dựng con người về đạo đức,nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc; xây dựng môi trường văn hóa lànhmạnh” Vấn đề đặt ra là phải có các giải pháp đột phá để phát huy có hiệu quả vai trònhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Trong các chặng đường đấu tranh cách mạng, Đảng, Nhà nước ta đã pháthuy được sức mạnh của mỗi con người Việt Nam cũng như của cả dân tộc cho sựnghiệp giải phóng đất nước Trong thời kỳ 1975 -1985, do nhiều nguyên nhân khácnhau, vai trò của nhân tố con người chưa được nhận thức đầy đủ và cũng chưa cómột hệ giải pháp phát huy có hiệu quả vai trò nhân tố con người trong xây dựng,phát triển đất nước Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta nhận thức
rõ con người vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển đất nước và đề ra nhữnggiải pháp nhằm phát huy tối đa nhân tố con người Việt Nam trong sự nghiệp xâydựng, phát triển đất nước Kết quả đạt được đó là:
Một là, Đảng và Nhà nước ta đã có chiến lược đào tạo, phát triển nguồn lực
con người Việt Nam Từ khi đổi mới (1986) đến nay, các Đại hội Đảng đều đặc biệtquan tâm tới giáo dục - đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát triển conngười Việt Nam Ngày 19/4/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số579/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020.Trong đó nêu rõ: mỗi bộ, ngành và địa phương phải xây dựng quy hoạch phát triểnnhân lực đồng bộ với chiến lược, kế hoạch phát triển chung của mình Chiếnlược được triển khai thực hiện bằng các biện pháp, hành động cụ thể, tiếp tục hoànthiện và thực hiện có hiệu quả một số cơ chế, chính sách ưu đãi trong công tác đào tạo
và thu hút nhân tài (chế độ tiền lương, tiền thưởng, nhà ở, điều kiện và các phươngtiện làm việc) nhằm tránh tình trạng chảy máu chất xám Đặc biệt là xây dựng vàphát triểnđội ngũ các nhà lãnh đạo, quản lý giỏi;đội ngũ chuyên gia quản trị doanhnghiệp giỏi, lao động lành nghề và cán bộkhoa học - công nghệđầu đàn Đại hội XIIcủa Đảng xác định,phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một trong bakhâu đột phá quyết định sự phát triển bền vững đất nước
Hai là, Đảng, Nhà nước đã có cơ chế, chính sách cán bộ tương đối toàn diện,
đồng bộ từ quy hoạch nguồn, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, đánh giá, sử dụng, đãi
Trang 17ngộ,v.v Công tác cán bộ được thực hiện theo nguyên tắc: “Đánh giá và sử dụng đúngcán bộ trên cơ sở những tiêu chuẩn, quy trình đã được bổ sung, hoàn thiện, lấy hiệuquả công tác thực tế và sự tín nhiệm của nhân dân làm thước đo chủ yếu Không bổnhiệm cán bộ không đủ đức, đủ tài, cơ hội chủ nghĩa Thực hiện nghiêm quy chế thôichức, miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý Kịp thời thay thế cán bộyếu kém về phẩm chất, năng lực, không hoàn thành nhiệm vụ, uy tín giảm sút ”.
Ba là, Đảng, Nhà nước đã có chính sách thu hút nguồn nhân lực là người Việt
Nam ở nước ngoài tham gia xây dựng, phát triển đất nước Đảng đã ban hành Nghịquyết 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 về Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài,nhằm phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc, khơi dậy tiềm lực và phát huy nhân tốcon người của Việt kiều, nhất là những người có tài, các nhà doanh nghiệp đóng góp
về vật chất, tinh thần, tài năng cho sự nghiệp xây dựng đất nước
Bốn là, Đảng, Nhà nước đã xây dựng hệ thống các chính sách đối với từng giai
tầng xã hội để phát huy tối đa tiềm năng, sức mạnh của toàn dân trong sự nghiệp đổimới và hội nhập Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm phát triển giáo dục, đào tạo; bồidưỡng, phát triển giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng; Xây dựng, pháthuy vai trò giai cấp nông dân - chủ thể của quá trình phát triển nông nghiệp, xây dựngnông thôn mới; Xây dựng đội ngũ trí thức ngày càng lớn mạnh, phát triển đội ngũdoanh nhân cả về số lượng và chất lượng; có cơ chế, chính sách tạo điều kiện, độngviên cựu chiến binh tích cực tham gia xây dựng, phát triển đất nước
Năm là, Đảng, Nhà nước khẳng định đại đoàn kết toàn dân tộc là chiến lược
lâu dài trong sự nghiệp cách mạng Do đó, đã thường xuyên hoàn thiện các cơ chế,chính sách, bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòaquan hệ giữa các dân tộc Chăm lo giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực, đội ngũ cán bộ
là người dân tộc thiểu số Nhờ vậy, đã phát huy cao độ sức người, sức của của đồngbào các dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Sáu là, Đảng, Nhà nước thường xuyên quan tâm hoàn thiện chính sách về
tín ngưỡng, tôn giáo, phát huy các giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôngiáo Quan tâm, tạo điều kiện các tôn giáo hoạt động theo hiến chương, điều lệcủa tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, theo quy định của pháp luật
Trang 18Do vậy, nhìn chung đã phát huy được sự đóng góp tích cực của các tín đồ tôngiáo vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
2.2 Hạn chế của việc phát huy nhân tố con người ở nước ta hiện nay
Cùng với những kết quả đạt được thì việc phát huy nhân tố con người ViệtNam trong xây dựng, phát triển đất nước thời gian qua vẫn chưa đáp ứng yêu cầu, vẫncòn không ít những hạn chế, yếu kém cần phải tập trung khắc phục, cụ thể:
Một là, việc đổi mới công tác cán bộ chưa có đột phá lớn Đánh giá cán bộ vẫn
là khâu yếu nhất qua nhiều nhiệm kỳ nhưng chưa có tiêu chí cụ thể và giải pháp khoahọc để khắc phục Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy bằng cấp, chưađược ngặn chặn, đẩy lùi Do đánh giá cán bộ không đúng, dẫn đến không xác địnhđúng yêu cầu, tiêu chí đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ cán bộ Do vậy, chưatuyểnchọn, sử dụng được nhiều người thực tài, có đức, có tâm Những hạn chế, khiếm khuyếttrong công tác cán bộ là một điểm yếu cản trở việc phát huy nhân tố con người ViệtNam
Hai là, công tác giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực còn nhiều bất cập Giáo
dục và đào tạo chưa thực sự trở thành quốc sách hàng đầu, thành động lực phát triển.Chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu, nhất là giáo dục đạihọc, giáo dục nghề nghiệp Đầu tư cho giáo dục và đào tạo chưa hiệu quả Chính sách,
cơ chế tài chính cho giáo dục và đào tạo chưa phù hợp Chưa chú trọng đúng mứcgiáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng làm việc Vì vậy, mà nguồn nhân lực của nước
ta còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu
Ba là, chưa tạo ra được môi trường thuận lợi cho việc phát huy tối đa nhân tố
con người Việt Nam Các chính sách nhằm phát huy nhân tố con người dường nhưđều đã có, nhưng những chính sách này khó đi vào cuộc sống Không ít người đi họctập ở nước ngoài đã không về nước do không tìm được việc làm phù hợp; không cómôi trường làm việc thuận lợi; chế độ tiền lương còn nhiều bất cập; v.v Với đội ngũtrí thức còn thiếu môi trường dân chủ trong nghiên cứu khoa học; giai cấp công nhâncòn nhiều khó khăn về đời sống vật chất, tinh thần do mức lương thấp, thường xuyênthiếu việc làm; nông dân là người được hưởng lợi ít nhất từ những thành quả của sự
Trang 19nghiệp đổi mới Với doanh nhân thì còn vướng nhiều cơ chế, chính sách “xin - cho,bao cấp” trá hình cản trở; một bộ phận lớn thanh niên không tìm được việc làm Những bất cập này đã cản trở việc phát huy nhân tố con người Việt Nam trong xâydựng, phát triển đất nước.
Bốn là, một bộ phận không nhỏ những cán bộ trong các cơ quan hành chính
nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập cũng chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ.Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII đãchỉ rõ: “ nhìn tổng thể, đội ngũ cán bộ đông, nhưng chưa mạnh; tình trạng vừa thừa,vừa thiếu cán bộ xảy ra ở nhiều nơi; sự liên thông giữa các cấp, các ngành còn hạnchế Tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số chưa đạt mục tiêu đề
ra Thiếu những cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, nhà khoa học và chuyên gia đầu ngànhtrên nhiều lĩnh vực Năng lực của đội ngũ cán bộ chưa đồng đều, có mặt còn hạn chế,yếu kém; nhiều cán bộ, trong đó có cả cán bộ cấp cao thiếu tính chuyên nghiệp, làmviệc không đúng chuyên môn, sở trường; trình độ ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp và khảnăng làm việc trong môi trường quốc tế còn nhiều hạn chế Không ít cán bộ trẻ thiếubản lĩnh, ngại rèn luyện Một bộ phận không nhỏ cán bộ phai nhạt lý tưởng, giảm sút
ý chí, làm việc hời hợt, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức,lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” Một số cán bộ lãnh đạo, quản
lý, trong đó có cả cán bộ cấp chiến lược, thiếu gương mẫu, uy tín thấp, năng lực,phẩm chất chưa ngang tầm nhiệm vụ, quan liêu, xa dân, cá nhân chủ nghĩa, vướngvào tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm Không ít cán bộ quản lý doanhnghiệp nhà nước thiếu tu dưỡng, rèn luyện, thiếu tính Đảng, lợi dụng sơ hở trong cơchế, chính sách, pháp luật, cố ý làm trái, trục lợi, làm thất thoát vốn, tài sản của Nhànước, gây hậu quả nghiêm trọng, bị xử lý kỷ luật đảng và xử lý theo pháp luật”
2.3 Giải pháp cơ bản phát huy nhân tố con người ở nước ta hiện nay
2.3.1 Thống nhất nhận thức về phát huy nhân tố con người
Phát huy nhân tố con người là phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo củamỗi người, tạo điều kiện cho mỗi người phát triển toàn diện, phát huy tối đa tàinăng, năng lực của cá nhân cho sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước Đặc biệt