Đại đoàn kết dân tộc là một giá trị tinh thần to lớn, một truyền thống cực kì quý báu của dân tộc ta, được hun đúc trong suốt mấy nghàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đoàn kết đã trở thành một động lực to lớn, một triết lý nhân sinh và hành động để dân tộc ta vượt qua bao biến cố, thăng trầm của thiên tai, địch họa, để tồn tại và phát triển bền vững. Kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu lý luận đoàn kết giai cấp, tập hợp lực lượng cách mạng, về vai trò quần chúng nhân dân của chủ nghĩa Mác - Lênin, trên cơ sở thực tiễn cách mạng Việt Nam và thực tiễn cách mạng thế giới đã sớm hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc. Với nhãn quan chính trị sắc bén, với tinh thần nhân văn cao cả, suốt cả cuộc đời, Hồ Chí Minh đã không ngừng xây dựng, hoàn thiện một hệ thống quan điểm về đại đoàn kết dân tộc, tích cực truyền bá tư tưởng đoàn kết trong toàn Đảng và các cấp chính quyền, trong các tầng lớp nhân dân, kể cả đồng bào Việt Nam ở xa Tổ quốc.
Trang 11.1 Thực chất vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn
kết dân tộc vào sự nghiệp đổi mới ở nước ta 101.2 Những vấn đề có tính quy luật vận dụng tư tưởng Hồ
Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc vào sự nghiệp đổi mới
Chương 2 TÌNH HÌNH VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN VẬN DỤNG
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC VÀO SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở NƯỚC TA
2.1 Tình hình và yêu cầu vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về
2.2 Một số giải pháp cơ bản vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh
về đại đoàn kết dân tộc vào sự nghiệp đổi mới ở nước ta
Trang 2Đại đoàn kết dân tộc là một giá trị tinh thần to lớn, một truyền thống cực
kì quý báu của dân tộc ta, được hun đúc trong suốt mấy nghàn năm đấu tranhdựng nước và giữ nước Đoàn kết đã trở thành một động lực to lớn, một triết lýnhân sinh và hành động để dân tộc ta vượt qua bao biến cố, thăng trầm củathiên tai, địch họa, để tồn tại và phát triển bền vững Kế thừa và phát huytruyền thống dân tộc, tiếp thu lý luận đoàn kết giai cấp, tập hợp lực lượng cáchmạng, về vai trò quần chúng nhân dân của chủ nghĩa Mác - Lênin, trên cơ sởthực tiễn cách mạng Việt Nam và thực tiễn cách mạng thế giới đã sớm hìnhthành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc Với nhãn quan chính trịsắc bén, với tinh thần nhân văn cao cả, suốt cả cuộc đời, Hồ Chí Minh đãkhông ngừng xây dựng, hoàn thiện một hệ thống quan điểm về đại đoàn kếtdân tộc, tích cực truyền bá tư tưởng đoàn kết trong toàn Đảng và các cấp chínhquyền, trong các tầng lớp nhân dân, kể cả đồng bào Việt Nam ở xa Tổ quốc
Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Người đã được quán triệt và thựchiện trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam đã thiết thực góp phần tập hợplực lượng, tạo ra sức mạnh to lớn có ý nghĩa quyết định vào thắng lợi của sựnghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa Quan điểm và thực tiễn chỉ đạo vấn đề đại đoàn kết dân tộccủa Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị, là cơ sở, nền tảng, là kim chỉ namđịnh hướng cho Đảng, Nhà nước ta trong giai đoạn cách mạng mới
Kế thừa, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dântộc, trong những năm đổi mới vừa qua, Đảng ta luôn nhất quán trong nhậnthức và khẳng định đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở liên minh giai cấpcông nhân với giai cấp công nhân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo củaĐảng là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là nguồn sức mạnh,động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi của
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Những thành tựu đạt được của hơnhai mươi năm đổi mới là hết sức to lớn và có ý nghĩa lịch sử, đã đưa lại cho
Trang 3đất nước ta sự thay đổi cơ bản và toàn diện; thế và lực, uy tín của chúng tatrên trường quốc tế được nâng cao Điều đó là minh chứng sáng ngời thể hiệngiá trị tư tưởng đại đoàn kết dân tộc với sự phát triển của đất nước Tuy nhiên,bên cạnh những thành tựu đạt được thì khối đại đoàn kết toàn dân tộc, mốiquan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân chưa thật bền chặt và đang đứngtrước những khó khăn, thách thức mới.
Vì vậy, để góp phần khắc phục những hạn chế, thực hiện thắng lợi sựnghiệp đổi mới toàn diện đất nước, với mục tiêu: “Đẩy mạnh toàn diện côngcuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nướccông nghiệp theo hướng hiện đại; đến giữa thế kỷ XXI nước ta trở thành mộtnước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa” [13, tr.149] thìnghiên cứu và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dântộc là việc làm có giá trị lý luận và thực tiễn quan trọng
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Nghiên cứu những nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dântộc đến nay đã có nhiều công trình, nhiều bài viết khoa học tiếp cận và đề cậpdưới nhiều góc độ, phạm vi khác nhau, khá toàn diện và sâu sắc, tập trung chủyếu trên các vấn đề:
Nhóm vấn đề nghiên cứu về nguồn gốc hình thành và nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc Trong các công trình như:
Võ Nguyên Giáp, Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam [15]; Nguyễn Bích Hạnh - Nguyễn Văn Khoan, Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại
đoàn kết và mặt trận đoàn kết dân tộc [19]; Đinh Xuân Lý, Một số chuyên đề
về tư tưởng Hồ Chí Minh [28]; Trần Quang Nhiếp, Tuyên truyền tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc [69]; Phùng Hữu Phú (chủ biên), Chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh [70] Dưới các góc độ tiếp cận khác nhau, song các
tác giả đều thừa nhận và khẳng định, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết nóichung, tư tưởng về đại đoàn kết dân tộc nói riêng không phải ra đời từ một
Trang 4mảnh đất trống mà hình thành, phát triển và hoàn thiện trên nền tảng: kế thừatruyền thống đoàn kết, cố kết cộng đồng của dân tộc Việt Nam; sự khảo cứu,trải nghiệm về những bài học thất bại, thành công của phong trào cách mạngtrong nước và thế giới; những quan điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác -Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, về vấn đề đoàn kết dântộc, đoàn kết giai cấp và tập hợp lực lượng ; lòng yêu thương con người vàtinh thần khoan dung là nhân tố chủ quan có ý nghĩa đặc biệt quan trọng hìnhthành nên tư tưởng của Người về đại đoàn kết Tuy nhiên, trong các yếu tố trênthì lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin là nhân tố có ý nghĩa quyết định nhất tạonên sự phát triển về chất trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc.
Cùng với khẳng định nguồn gốc hình thành, các công trình nghiên cứutrên đã khái quát một số nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạiđoàn kết dân tộc Các tác giả đều nhất quán nhận định tư tưởng đại đoàn kếtdân tộc là một nội dung có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống tư tưởngcủa Người Đại đoàn kết dân tộc là đường lối chiến lược, là mục tiêu vànhiệm vụ hàng đầu có ý nghĩa quyết định tới mọi thành công của cách mạngViệt Nam Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân, trên cơ sở lấy liênminh công - nông - trí thức làm nền tảng, đồng thời mở rộng và tập hợp tất cảnhững lực lượng có thể tranh thủ vào Mặt trận dân tộc thống nhất đặt dưới sựlãnh đạo của Đảng Về cách thức để thực hiện đại đoàn kết dân tộc, tuy khácnhau về góc độ tiếp cận, nhưng nhìn chung các tác giả đều cho rằng trong tưtưởng của Người thì bảo đảm vấn đề lợi ích tối cao của dân tộc và nhữngquyền lợi cơ bản của nhân dân lao động là nguyên tắc, phương thức cơ bảnnhất để quy tụ khối đại đoàn kết toàn dân Bên cạnh đó, muốn xây dựng khốiđại đoàn kết dân tộc bền vững cần có phương pháp tuyên truyền, giáo dục,vận động quần chúng thật sự khoa học để họ nhận thức được sự cần thiết phảitập hợp lại, từ đó tự giác tham gia công việc cách mạng Đại đoàn kết dân tộcđược xây dựng và củng cố vững chắc còn phụ thuộc vào cách thức ứng xử sao
Trang 5cho có thể mở rộng đến mức cao nhất trận tuyến cách mạng và thu hẹp đếnmức tối đa trận tuyến thù địch, điều đó phụ thuộc rất nhiều vào nhân tố chủquan là tinh thần nhân văn và tấm lòng bao dung của Người
Nhóm vấn đề về tình hình và giải pháp vận dụng, phát huy tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc vào sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay.
Được phân tích, luận giải trong các công trình, bài viết như: Lưu Ngọc Khải,
Đoàn kết là sức mạnh – tư tưởng chiến lược cách mạng của chủ tịch Hồ Chí Minh [25]; Nguyễn Đức Ngọc, Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết dân tộc và
sự vận dụng của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay [67]; Trần Văn Phòng, Phát huy vai trò to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới [72]; Nguyễn Thị
Giang,“Dưới ngọn cờ đại đoàn kết của Hồ Chí Minh, phát huy sức mạnh
toàn dân tộc trong giai đoạn phát triển mới của đất nước”, in trong tập Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết với vấn đề phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kì mới [22].
Với cách tiếp cận đa chiều, song các tác giả đều nhận định tư tưởng HồChí Minh về đại đoàn kết dân tộc dù phản ánh một giai đoạn lịch sử đã quasong vẫn chứa đựng trong lòng những hạt nhân hợp lý, có giá trị to lớn trongcông tác tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân tộc vào sự nghiệp đổi mới ở nước
ta hiện nay Để tăng cường, củng cố và phát huy vai trò của khối đại đoàn kếttoàn dân tộc trong giai đoạn cách mạng mới, phần lớn các tác giả đều thốngnhất một số vấn đề chủ yếu như: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lýcủa Nhà nước đối với công tác xây dựng, phát huy vai trò của khối đại đoàn kếttoàn dân tộc; Đoàn kết rộng rãi các giai cấp, tầng lớp nhân dân trên cơ sở coitrọng việc củng cố khối liên minh công nhân, nông dân với đội ngũ trí thứcdưới sự lãnh đạo của Đảng; Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động, phát huyvai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong công tác tập hợp lực lượng
Trang 6Trên hướng tiếp cận khác, một số tác giả trong các công trình nghiêncứu của mình lại khẳng định, để vận dụng một cách có hiệu quả tư tưởng HồChí Minh về đại đoàn kết dân tộc trong giai đoạn hiện nay thì vấn đề có ýnghĩa hết sức quan trọng là tiến hành công tác tuyên truyền tư tưởng củaNgười về sức mạnh của khối đại đoàn kết, đoàn kết dân tộc; đẩy mạnh cuộcvận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Cùng vớicông tác tuyên truyền tư tưởng của Người, công tác đấu tranh nhằm vô hiệuhóa âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc của chủ nghĩa đế quốc vàcác thế lực thù địch, nhất là “chiến lược diễn biến hòa bình” cũng cần đượcchú trọng Bởi lẽ, một trong những nội dung ưu tiên trọng điểm trong “chiếnlược diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc đang tiến hành chống phácông cuộc đổi mới đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay làchia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc Thực hiện tốt chính sách giai cấp,chính sách xã hội cũng là một giải pháp quan trọng nhằm tăng cường sứcmạnh đoàn kết toàn dân tộc bởi chính sách giai cấp, chính sách xã hội thựcchất là chính sách vì con người, là động lực quan trọng nhằm giải quyết mốiquan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa cống hiến và hưởng thụ Chính sáchđúng, đặc biệt giải quyết hài hòa các mối quan hệ về lợi ích giữa các giai cấp,tầng lớp sẽ là chất keo kết dính đoàn kết của mỗi thành viên trong xã hội vàtăng thêm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng
Nhận xét chung, các công trình nghiên cứu trên đều rất đáng trân trọng,thể hiện quá trình nghiên cứu công phu về tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của
Hồ Chí Minh cùng những khám phá có giá trị trong việc đề xuất những giảipháp vận dụng Tuy nhiên, đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứumột cách cơ bản, hệ thống dưới góc độ triết học, cũng như đề xuất một hệthống giải pháp cơ bản nhằm vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kếtdân tộc trong giai đoạn hiện nay Từ những lí do chủ yếu và thôi thúc trên, tác
Trang 7giả chọn vấn đề “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc vào sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay” làm luận văn nghiên cứu.
3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
* Mục đích của luận văn: Nghiên cứu cơ bản, hệ thống tư tưởng Hồ
Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và sự vận dụng của Đảng trong công cuộcđổi mới ở nước ta, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm vận dụng tưtưởng của Người về đại đoàn kết dân tộc trong tình hình hiện nay
* Nhiệm vụ của luận văn:
Làm rõ những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạiđoàn kết dân tộc
Luận giải thực chất và những vấn đề có tính quy luật vận dụng tư tưởng
Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc vào sự nghiệp đổi mới ở nước ta
Khái quát tình hình vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dântộc trong những năm đổi mới, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp cơ bảnnhằm vận dụng tư tưởng của Người về đại đoàn kết trong giai đoạn hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Bản chất và những vấn đề có tính quy luật
vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc vào sự nghiệp đổimới hiện nay
* Phạm vi nghiên cứu: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn
kết dân tộc vào xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân từ đổi mới đến nay
5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận của luận văn: Hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam vềđoàn kết dân tộc, đoàn kết giai cấp, về tập hợp lực lượng trong tiến trình đấutranh cách mạng
Trang 8* Cơ sở thực tiễn: Thực tiễn lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết toàn
dân của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình đấu tranh giải phóng vàthống nhất đất nước, đặc biệt trong công cuộc đổi mới hiện nay
* Phương pháp nghiên cứu: Vận dụng phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Luận văn sử dụng tổnghợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học xã hội và nhân văn như phântích và tổng hợp, lịch sử và lôgíc, quy nạp và diễn dịch, nghiên cứu tài liệu vàphương pháp chuyên gia
6 Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần khẳng định tính đúng đắntrong tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và sự vận dụng sáng tạo củaĐảng ta trong quá trình lãnh đạo cách mạng, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới
Tác giả bước đầu đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần vậndụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc vào sự nghiệp đổi mới ởnước ta hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm: phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tàiliệu tham khảo và phụ lục
Chương 1
Trang 9THỰC CHẤT VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CÓ TÍNH QUY LUẬT
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN
TỘC VÀO SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở NƯỚC TA 1.1 Thực chất vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc vào sự nghiệp đổi mới ở nước ta
1.1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và những vấn
đề đặt ra đối với đoàn kết dân tộc trong điều kiện hiện nay
* Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc
Quan niệm của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết, đại đoàn kết dân tộc.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc là một bộ phận quantrọng hợp thành trong hệ thống tư tưởng của Người về những vấn đề cơ bảncủa cách mạng Việt Nam Nghiên cứu toàn bộ di cảo của Người có thể nhậnthấy cụm từ đoàn kết được sử dụng một cách đều đặn, điều đó nói lên sự quantâm đối với vấn đề đoàn kết ở mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh của lịch sử, đồngthời tỏ rõ tầm chiến lược tư tưởng đoàn kết của Người Đoàn kết có thể hiểumột cách đơn giản là sự tập hợp, kết thành một khối thống nhất, cùng hoạtđộng vì một mục đích chung nào đó Còn đại đoàn kết là đoàn kết rộng rãi tứcmuốn nhấn mạnh tới thành phần, quy mô, lực lượng của khối đoàn kết
Hồ Chí Minh nói nhiều tới đoàn kết, đại đoàn kết, tuy nhiên chỉ một lần
duy nhất Người định nghĩa về khái niệm đại đoàn kết: “Đại đoàn kết tức là trước
hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân là công nhân, nôngdân và các tầng lớp nhân dân lao động khác Đó là nền gốc của đại đoàn kết Nócũng như cái nền của nhà, cái gốc của cây Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, cònphải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác” [54, tr.438] Tư tưởng về đại đoàn kếttiếp tục được Hồ Chí Minh cụ thể hóa hơn trong các cụm từ như: “đại đoàn kếttoàn dân”, “đoàn kết toàn dân”, “đoàn kết dân tộc”, “toàn dân tộc ta đoàn kết”.Tuy cách diễn đạt có thể khác nhau, nhưng nội hàm của các khái niệm trên đềuthống nhất khi khẳng định lực lượng của khối đại đoàn kết là của toàn thể nhân
Trang 10dân Việt Nam Trong bài viết Ba mươi năm hoạt động của Đảng, Hồ Chí Minh
đã chỉ rõ nội hàm của khái niệm đoàn kết dân tộc: “Đảng ta đã khéo tập hợp mọilực lượng yêu nước và tiến bộ trong Mặt trận dân tộc thống nhất, thực hiện đạiđoàn kết dân tộc để đấu tranh chống đế quốc và phong kiến” [62, tr.18]
Như vậy, đại đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh là đại đoànkết các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng của đấtnước, đoàn kết mọi thành viên trong đại gia đình dân tộc Việt Nam dù sốngtrong nước hay định cư ở nước ngoài thành một khối vững chắc trên cơ sởthống nhất về mục tiêu chung và những lợi ích căn bản
Vai trò của đại đoàn kết dân tộc được xác định là mục tiêu chiến lược, nguyên nhân cơ bản quyết định mọi thành công của cách mạng Việt Nam.
Đại đoàn kết dân tộc trong tư tưởng của Hồ Chí Minh không chỉ đơngiản là phương pháp tổ chức, tập hợp lực lượng, mà cao hơn là một bộ phậnhữu cơ, một tư tưởng xuyên suốt trong đường lối chiến lược cách mạng,Người khẳng định: “Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là mộtthủ đoạn chính trị” [54, tr.438] Có thể nói đoàn kết dân tộc vừa là điều kiệntiên quyết, sống còn đối với sự nghiệp cách mạng, đồng thời là tôn chỉ, mụcđích, là nhiệm vụ hàng đầu mà sự nghiệp cách mạng cần hướng và đạt tới
Với Hồ Chí Minh, đại đoàn kết không phải là một chủ trương, một chiếnlược xuất phát từ nguyện vọng, từ ý muốn chủ quan của lực lượng lãnh đạo mà
là sự đúc kết những đòi hỏi khách quan của sự nghiệp cách mạng do quần chúngtiến hành Nếu như xuất phát từ nhu cầu của lực lượng lãnh đạo cách mạng, đạiđoàn kết dân tộc sẽ chỉ dừng lại là một thủ đoạn chính trị nhằm đạt được mụcđích, một ý đồ nhất định Ngược lại, nhìn nhận đoàn kết dân tộc như một đòi hỏi
tự thân, khách quan của quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh tự giải phóngthì đại đoàn kết là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân Do đó, trong tiến trìnhlãnh đạo cách mạng, Người yêu cầu không được có bất cứ lúc nào lơ là nhiệm
vụ xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc Xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc
Trang 11không chỉ dừng lại trong nhận thức mà được cụ thể hóa trong mọi bước đi, giaiđoạn phát triển của cách mạng, Người nói: “Ta đoàn kết để đấu tranh cho thốngnhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà” [54,tr.438]
Sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước là một côngviệc hết sức hệ trọng, to lớn và vô cùng khó khăn Nhiệm vụ đó chỉ có thể thànhcông khi quy tụ được sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc vì đoàn kết mới tạonên sức mạnh, tạo nên lực lượng hùng hậu có thể đương đầu và chiến thắng kẻthù Thực tiễn cách mạng đã trả lời giữa đoàn kết và thành công có mối quan hệchặt chẽ với nhau bởi phạm vi, mức độ, quy mô của thành công trước hết phụthuộc vào chính quy mô và mức độ của khối đại đoàn kết Là người lãnh đạo tốicao cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắcđoàn kết không chỉ tạo nên sức mạnh mà là vấn đề có ý nghĩa quyết định tới việcsống còn, thành bại, được mất trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù Để lý giải mộtnước Việt Nam nghèo nàn, lạc hậu lại có thể đương đầu và đánh bại một tênthực dân đầu sỏ có ưu thế tuyệt đối về vật chất, phương tiện chiến tranh, Ngườinói: “Toàn dân Việt Nam chỉ có một lòng: Quyết không làm nô lệ, Chỉ có một ýchí: Quyết không chịu mất nước, Chỉ có một mục đích: Quyết kháng chiến đểtranh thủ thống nhất và độc lập cho tổ quốc Sự đồng tâm của đồng bào ta đúcthành một bức tường đồng vững chắc xung quanh Tổ quốc Dù địch hung tàn,xảo quyệt đến mức nào, đụng đầu nhằm bức tường đó, chúng cũng phải thất bại”[46, tr.151-152] Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã trả lời, có đoàn kết mới cóthắng lợi, càng gặp kẻ thù lớn, càng khó khăn gian khổ bao nhiêu lại cần phảiđoàn kết chặt chẽ, rộng rãi và vững chắc bấy nhiêu Trong quá trình lãnh đạocách mạng, Người đặc biệt quan tâm tới vấn đề đoàn kết vì đoàn kết là mấu chốtcủa thắng lợi và rút ra một bài học lớn đồng thời là quy luật mang tính sống còncủa dân tộc Việt Nam: “Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kếtmuôn người như một thì nước ta độc lập, tự do Trái lại lúc nào dân ta khôngđoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn” [40, tr.217]
Trang 12Về lực lượng và sức mạnh của đại đoàn kết dân tộc.
Lực lượng của khối đại đoàn kết dân tộc là toàn dân trong đó lấy liên minh công - nông - trí làm nền tảng.
Kế thừa và nâng tầm tư duy chính trị truyền thống của cha ông: “Nướclấy dân làm gốc”; đồng thời thấm nhuần nguyên lý mác xít “Cách mạng làngày hội của quần chúng”, Hồ Chí Minh đã tìm sức mạnh và cái cẩm nang thần
kì của công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước ở lực lượng
vô địch của nhân dân: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân Trongthế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” [57, tr.276]
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, dân, nhân dân có một nội hàm rất rộng.Người dùng các khái niệm này để chỉ tất cả mọi con dân của nước Việt Nam,những người được gọi là “con Lạc cháu Hồng” Tư tưởng đại đoàn kết dân tộccủa Người là đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân, các giai cấp, các chính đảng,đoàn thể, các dân tộc, tôn giáo, kể cả những người trước đây lầm đường lạc lốinhưng đã biết hối cải, quay về với chính nghĩa của dân tộc Đoàn kết trong tưtưởng của Người là đoàn kết rộng rãi, mở rộng và tranh thủ tất cả những lựclượng và bộ phận có thể tranh thủ Nguyên tắc đoàn kết rộng rãi được Ngườikhẳng định: “Ai có tài, có sức, có đức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụnhân dân thì ta đoàn kết với họ” [54, tr.438], và “Bất kỳ ai mà thật thà tán thànhhòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chốngchúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ” [54, tr.438]
Tuy nhiên, đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh hoàn toàn xa lạ với tưtưởng điều hòa giai cấp, xóa nhòa bản chất giai cấp bởi Người luôn nhấn mạnh:
“Không khi nào nhượng bộ một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào đườnglối thỏa hiệp” [37, tr.3] Trong thành phần đông đảo tạo nên lực lượng của khốiđoàn kết phải xác định đâu là nền tảng và những lực lượng nào tạo ra cái nềntảng đó Ngay trong chặng đường hoạt động cách mạng đầu tiên, Hồ Chí Minh
đã sớm chỉ ra lực lượng nòng cốt trong khối đại đoàn kết dân tộc: “Công nông là
Trang 13người chủ cách mệnh” [34, tr.266] Tư tưởng đó của Người tiếp tục được quántriệt và thực hiện nhất quán trong toàn bộ đường lối của cách mạng Việt Nam.Nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc tiếp tục được khẳng định: “Đại đoàn kếttức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta làcông nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác”, và sau này Người
bổ sung thêm nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc là liên minh giữa côngnhân, nông dân với trí thức: “Trong sự nghiệp cách mạng, trong sự nghiệp xâydựng xã hội chủ nghĩa, lao động trí óc có một vai trò quan trọng và vẻ vang; vàcông, nông, trí cần phải đoàn kết chặt chẽ thành một khối” [57, tr.214]
Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh luôn có sự kết hợp hài hòa,quyện chặt và nhất quán giữa yếu tố dân tộc và yếu tố giai cấp Đoàn kết dântộc trên cơ sở lấy liên minh công nông làm gốc, không một lúc nào quên đi lợiích giai cấp song Người cũng có một tư duy vượt trước khi khẳng định chủnghĩa dân tộc là một động lực lớn của cách mạng Việt Nam
Sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc chỉ được phát huy khi tập hợp trong Mặt trận dân tộc thống nhất đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Cả dân tộc hay toàn dân chỉ có thể tạo nên một sức mạnh to lớn, trởthành lực lượng vô địch khi được tổ chức thành một khối chặt chẽ, được giácngộ sâu sắc về mục tiêu lý tưởng, được định hướng bởi một đường lối chínhtrị đúng đắn, nếu không thì dù quần chúng nhân dân có số đông tới hàng triệungười cũng chỉ là một số đông không có sức mạnh, rời rạc
Ngay từ khi tìm ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh
đã rất lưu ý tới công tác tập hợp quần chúng, đưa họ vào những tổ chức yêunước phù hợp với đặc điểm của từng giới, lứa tuổi, giai cấp, tôn giáo Bao trùmtất cả là tư tưởng muốn thu nạp được đông đảo các tầng lớp nhân dân vào Mặttrận dân tộc thống nhất Mặt trận cần thu nạp được đông đảo quần chúng nhândân, những người ít nhiều có tinh thần yêu nước, Mặt trận cần là một tổ chứcrộng rãi Rộng rãi nhằm thực hiện đoàn kết được nhiều tổ chức, nhiều lực lượng
Trang 14không phân biệt giàu nghèo, đảng phái, xu hướng chính trị Người nói: “Mặttrận bao gồm tất cả những người yêu nước, không phân biệt khuynh hướngchính trị, tín ngưỡng, tôn giáo, giai cấp xã hội, nam nữ và tuổi tác” [49, tr.25].
Do đó Mặt trận không chỉ thu hút được mọi tầng lớp lao động nghèo khổ, bị ápbức, mà còn thu hút được cả tầng lớp trên không thuộc nhân dân lao động vàmột bộ phận phân hóa trong hàng ngũ của kẻ thù Trong Mặt trận, xương sống
và sức mạnh chủ yếu của khối đại đoàn kết là khối liên minh công nông làm nềntảng, Người nói: “Lực lượng chủ yếu trong khối đại đoàn kết dân tộc là côngnông, cho nên liên minh công nông là nền tảng của mặt trận dân tộc thống nhất”[62, tr.18] Mối quan hệ giữa Mặt trận với liên minh công nông phản ánh về mặt
tổ chức xã hội mối quan hệ biện chứng giữa dân tộc và giai cấp Trong đó, táchbiệt hoặc nhấn mạnh một chiều vai trò của Mặt trận hoặc liên minh công nôngđều không đúng với biện chứng của đời sống cách mạng, không đúng vớinguyên tắc đoàn kết của Người Tuyệt đối hóa vai trò, vị trí của liên minh côngnông, hạ thấp vai trò của Mặt trận sẽ dẫn đến cực đoan, “tả khuynh” và bệnh côlập, hẹp hòi Ngược lại, nhấn mạnh, đề cao một chiều vai trò của Mặt trận, xemnhẹ liên minh công nông sẽ dẫn tới hữu khuynh, vô chính phủ Người từng nóirằng: “Trong chính sách đoàn kết cần phải chống hai khuynh hướng sai lầm: côđộc, hẹp hòi và đoàn kết vô nguyên tắc” [54, tr.438]
Trong lực lượng phong phú của Mặt trận, Đảng Cộng sản Việt Nam đượcxác định là một thành viên, bởi Đảng là bộ phận ưu tú nhất của giai cấp côngnhân Tuy nhiên, Đảng không phải là một thành viên bình thường, mà là ngườilãnh đạo của khối đại đoàn kết toàn dân Một trong những nhiệm vụ hàng đầu củaĐảng là tuyên truyền, giáo dục để quần chúng giác ngộ sự cần thiết phải đoàn kếtlại; chọn lựa những hình thức, phương pháp tổ chức thích hợp để có thể thu hútrộng rãi các lực lượng yêu nước, tiến bộ trong dân chúng; hướng dẫn khối đạiđoàn kết toàn dân đấu tranh, lao động sáng tạo theo những mục tiêu, nhiệm vụphù hợp với lợi ích thiêng liêng của dân tộc và nguyện vọng chính đáng của nhân
Trang 15dân Người cũng nhấn mạnh quyền lãnh đạo Mặt trận không phải Đảng tự phongcho mình, mà phải được nhân dân thừa nhận: “Đảng không thể đòi hỏi Mặt trậnthừa nhận quyền lãnh đạo của mình, mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thànhnhất, hoạt động nhất và chân thực nhất Chỉ trong đấu tranh và công tác hàngngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnhđạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo” [38, tr.139]
Tóm lại, lực lượng góp thành sức mạnh của đại đoàn kết dân tộc là toàndân, trong đó lấy liên minh công - nông - trí thức làm nền tảng được tập hợptrong một Mặt trận thống nhất đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Thực tiễn đãtrả lời chỉ trên cơ sở tuân thủ nguyên tắc này, đại đoàn kết dân tộc mới có sứcsống bền vững và trường tồn
Phương thức thực hiện đại đoàn kết dân tộc.
Đại đoàn kết được xây dựng dựa trên cơ sở bảo đảm lợi ích tối cao của dân tộc và những lợi ích chính đáng của nhân dân lao động.
Thực tiễn lịch sử đã xác nhận, suy đến cùng, mối quan hệ giữa các tầnglớp nhân dân trở nên bền chặt hay không do chính vấn đề lợi ích quy định.Ngược lại nếu không thỏa mãn những vấn đề tối thiểu về lợi ích thì mọi khẩuhiệu về đoàn kết chỉ là những khẩu hiệu trống rỗng Tuy nhiên, mối quan hệlợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp luôn là vấn đề hết sức phức tạp, chồng chéo,luôn chứa đựng những yếu tố thống nhất, mâu thuẫn và không ngừng vậnđộng biến đổi cùng với đời sống thực tiễn
Là một đất nước có một kết cấu giai tầng phong phú mang nhiều nét đặcthù của một xã hội nửa thực dân phong kiến, Hồ Chí Minh hiểu sâu sắc về nhậnthức, thái độ của mỗi tầng lớp nhân dân là hết sức khác nhau, Người nhận định:
“Dân chúng không nhất luật như nhau Trong dân chúng, có nhiều tầng lớp khácnhau, trình độ khác nhau, ý kiến khác nhau Có lớp tiền tiến, có lớp lừng chừng,
có lớp lạc hậu” [46, tr.296] Do chính môi trường, hoàn cảnh sống khác nhau đónên nhận thức và hành động không thể nhất quán, thậm chí có những xung đột vềvấn đề lợi ích Nhằm quy tụ sức mạnh của cả dân tộc hướng vào mục tiêu chung,
Trang 16tạo nên hợp lực trong công cuộc đấu tranh giải phóng đất nước, Hồ Chí Minh đãtìm kiếm, trân trọng và phát huy những yếu tố tương đồng, thống nhất để khắcchế, giải quyết các yếu tố khác biệt, mâu thuẫn Yếu tố tương đồng để quy tụ sứcmạnh của cả dân tộc phải phản ánh được khát vọng cháy bỏng của mọi người ViệtNam yêu nước, đó là phương châm “Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết”.
Mẫu số chung của khối đại đoàn kết dân tộc, theo Người là chân lý:
“Không có gì quý hơn độc lập tự do” Độc lập, tự do là nội dung cơ bản vềquyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của mỗi quốc gia dân tộc, của mỗi cánhân, thành viên trong dân tộc đó Quyền được sống, quyền tự do và quyềnmưu cầu hạnh phúc là thiêng liêng và bất khả xâm phạm của mỗi con người.Song, con người không bao giờ là một chủ thể tách biệt xã hội, con ngườiluôn là con người xã hội và sống trong lòng mỗi quốc gia dân tộc cụ thể Vì lẽ
đó, quyền của con người luôn gắn liền với quyền của quốc gia, dân tộc Conngười chỉ có thể mưu cầu hạnh phúc cho chính mình, được sống và được tôntrọng phẩm giá khi quốc gia dân tộc độc lập, tự do Như vậy, xác định mụctiêu phản ánh được lợi ích căn bản, cấp bách và nóng bỏng nhất của toàn thểdân tộc Việt Nam đang sống trong cảnh độc lập, tự do của Tổ quốc bị đe dọa
là phương thức quan trọng để quy tụ sức mạnh toàn dân tộc của Người
Không chỉ dừng lại ở những khẩu hiệu chung, đối với Người, độc lậpdân tộc chỉ có giá trị khi gắn liền với tự do, hạnh phúc, với cơm no áo ấm củangười dân lao động, Người nói: “Nước độc lập mà dân không hưởng hạnhphúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lí gì” [41, tr.58] và “Dân chỉ biết
rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ” [42, tr.152]
Vì vậy, ngay trong những ngày đấu tranh gian khổ của nhân dân ta, Hồ ChíMinh rất chăm lo tới đời sống cho nhân dân với phương châm vừa khángchiến vừa kiến quốc, từng bước nâng cao đời sống vật chất, quyền tự do dânchủ cho đông đảo nhân dân lao động Người luôn phấn đấu làm cho dân thấyđược giá trị và từng bước được hưởng quyền tự do dân chủ Người đồng thờicăn dặn, mọi đường lối chủ trương của chính quyền phải phản ánh được tâm
Trang 17tư nguyện vọng và lợi ích của quảng đại quần chúng nhân dân, chính quyềnphải thật sự vì dân, phấn đấu cho quyền lợi của nhân dân: “Việc gì có lợi chodân ta phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân ta phải hết sức tránh” [41,tr.56-57] Chỉ với thái độ như vậy mới thực sự lôi kéo, tập hợp được đông đảocác tầng lớp nhân dân, phát huy cao nhất sự chủ động sáng tạo của từngngười, từng bộ phận, trên mọi lĩnh vực để đưa cách mạng tới thắng lợi.
Đại đoàn kết được xây dựng trên cơ sở đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục đối với quần chúng nhân dân.
Để tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, Hồ Chí Minh rất chú trọng tiếnhành công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục quần chúng Công tác tuyêntruyền theo Người là một khoa học, nghệ thuật cách mạng, do vậy các tổ chức vàcán bộ cách mạng phải không ngừng tìm tòi lựa chọn nội dung, hình thức phùhợp để chuyển tải đường lối của Đảng một cách sâu rộng tới nhân dân
Muốn làm được điều đó, việc quan trọng hàng đầu đòi hỏi nội dungtuyên truyền, giáo dục, vận động phải phản ánh đúng những nguyện vọng sâu
xa và những lợi ích cơ bản nhất của dân chúng Ở đây có những quyền lợi,nguyện vọng chung có thể gắn kết mọi thành viên của dân tộc nhưng cũng cónhững nguyện vọng riêng phù hợp với một bộ phận dân chúng, giai cấp Do đó,nội dung tuyên truyền, giáo dục cần phải đáp ứng được hai yêu cầu trên Thấmnhuần sâu sắc quan điểm thực tiễn của chủ nghĩa Mác, nên tùy theo hoàn cảnh
và yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng, Hồ Chí Minh luôn đưa vào cươnglĩnh cách mạng của Đảng những mục tiêu chiến lược phản ánh những khátvọng cháy bỏng của nhân dân Nếu như trong những năm tháng tiến hành đấutranh giành độc lập tự do cho dân tộc, nội dung tuyên truyền và khẩu hiện hànhđộng của Người là “độc lập dân tộc và người cày có ruộng” thì trong cuộckháng chiến trường kì chống thực dân Pháp, Người lại nhấn mạnh “Dân tộctrên hết, Tổ quốc trên hết”, và trong cuộc Kháng chiến chống đế quốc Mỹ là
“Không có gì quý hơn độc lập tự do” Không chỉ sáng tạo trong việc xác địnhnội dung tuyên truyền, giáo dục phù hợp với tâm lý, nguyện vọng chung của cả
Trang 18cộng đồng dân tộc, Hồ Chí Minh còn hết sức nhạy cảm, sáng suốt trong lựachọn những nội dung tuyên truyền, vận động sát hợp với từng đối tượng cụ thể,từng cộng đồng xã hội Có được nội dung tuyên truyền, vận động đúng đắn làcần thiết, song hiệu quả tập hợp, đoàn kết lực lượng cách mạng còn phụ thuộcvào việc sử dụng các hình thức tuyên truyền, vận động sao cho phù hợp vớitừng đối tượng cụ thể, và chính Người là một điển hình mẫu mực về việc sửdụng hiệu quả các hình thức tuyên truyền, vận động quần chúng.
Trong công tác tuyên truyền, giáo dục quần chúng, Hồ Chí Minh đặc biệtlưu ý giải quyết hai mối quan hệ có tính chất nền tảng, quyết định tới sức mạnhcủa khối đại đoàn kết toàn dân, đó là quan hệ giữa các dân tộc trong cộng đồngdân tộc Việt Nam và quan hệ giữa các tôn giáo Do những điều kiện lịch sử đểlại cùng với âm mưu chia để trị của thực dân phong kiến, mối quan hệ giữa cácdân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, mối quan hệ giữa miền ngược vàmiền xuôi, giữa đồng bào lương - giáo có những rạn nứt, nghi hoặc Người đãđấu tranh kiên trì, bền bỉ để xóa bỏ những hiềm khích, xây dựng khối đoàn kếtgiữa các dân tộc, trên cơ sở lợi ích chung thống nhất của quốc gia; đoàn kết gắnliền với thực hiện quan hệ dân tộc bình đẳng, tôn trọng, thương yêu và giúp đỡnhau; đoàn kết trên cơ sở tôn trọng văn hóa, phong tục, tập quán của nhau, kiênquyết chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi: “Đảng và Chính phủ ta luônluôn kêu gọi các dân tộc xóa bỏ xích mích do đế quốc và phong kiến gây ra,cùng nhau đoàn kết chặt chẽ trên cơ sở bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ” [61,tr.587] Trong giải quyết mối quan hệ giữa các tôn giáo, Người luôn nhấn mạnhđến những nét tương đồng, những mẫu số chung của những giá trị chân, thiện,
mỹ để hạn chế, khắc phục những khác biệt, quy tụ khối đại đoàn kết toàn dân
Hồ Chí Minh luôn đề cao, trân trọng những khía cạnh nhân bản của đạo đức tôngiáo trong giáo lý nguyên sơ của các tôn giáo để kêu gọi mọi người dù theonhững tín ngưỡng tôn giáo khác nhau cùng đoàn kết hướng tới một mục tiêuchung: “Chúa Giêxu dạy: Đạo đức là bác ái; Phật Thích ca dạy: Đạo đức là từ bi;Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa” [50, tr.225]
Trang 19Như vậy, trong tư tưởng của Người, để không ngừng củng cố và tăngcường khối đại đoàn kết dân tộc thì công tác tuyên truyền, giáo dục, vận độngquần chúng có một vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng Điều cần lưu ý phải luôn
có một nội dung và hình thức tuyên truyền phù hợp với từng đối tượng, từnggiai đoạn cách mạng cụ thể và đặc biệt coi trọng giáo dục tinh thần đoàn kếtgiữa các dân tộc, các tôn giáo trong cộng đồng dân tộc Việt Nam
Xóa bỏ mặc cảm, định kiến và bệnh hẹp hòi trên tinh thần độ lượng, khoan dung là phương thức quan trọng để xây dựng đại đoàn kết dân tộc.
Trải qua gần 100 năm thống trị của đế quốc nước ngoài, và xa hơn làhàng nghàn năm phong kiến với những âm mưu thủ đoạn “chia để trị” củathực dân và thậm chí do những sai lầm ấu trĩ của cán bộ cách mạng nên giữamột bộ phận các dân tộc, tôn giáo, giai cấp còn có những khoảng cách, nghihoặc, rạn nứt trong quan hệ Bởi vậy, những tàn tích của những định kiến quákhứ do đế quốc, phong kiến để lại còn đè nặng lên tư tưởng và tình cảm củaquần chúng nhân dân Muốn xây dựng khối đại đoàn kết, muốn tập hợp, độngviên và phát huy sức mạnh của tất cả các lực lượng, theo Hồ Chí Minh tất yếuphải san bằng những hố sâu ngăn cách đó: “Cần phải xóa bỏ hết thành kiến,cần phải thật thà đoàn kết với nhau, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ, để cùngphục vụ nhân dân” [50, tr.391]
Muốn xóa bỏ được những thành kiến, theo Người, phải có một lòng baodung, biết nâng niu, trận trọng và khuyến khích mặt tốt, mặt thiện trong mỗi conngười để khơi dậy phần tốt được nảy nở như hoa mùa xuân, và phần xấu bị héomòn đi để họ trở về với cộng đồng dân tộc Đối với những người có thói hư tậtxấu, trừ hạng người phản lại Tổ quốc, cũng cần giúp họ tiến bộ bằng cách làmcho phần thiện trong họ nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơibời Chính sách khoan hồng đại độ trong tư tưởng của Người là xóa bỏ nhữnghận thù, định kiến và mặc cảm quá khứ trên cơ sở khai thác những yếu tố “tươngđồng”, tôn trọng những yếu tố “dị biệt”; nhân lên mẫu số chung những yếu tốtâm lý, văn hóa, lợi ích dân tộc; khơi dậy trong tâm hồn mọi người tinh thần của
Trang 20những người mang dòng máu Lạc Hồng; trân trọng cái phần thiện, dù nhỏ nhất ởmỗi con người Trong nhận thức của Người, có tấm lòng độ lượng sẽ có được sựcảm hóa sâu sắc: “Sông to, biển rộng, thì bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độlượng nó rộng và sâu Cái chén nhỏ, cái đĩa cạn, thì một chút nước cũng đầytràn, vì độ lượng của nó hẹp nhỏ ” [48, tr.644] Như vậy, có thể khẳng định,mọi tư tưởng, mọi sự sáng tạo của Hồ Chí Minh đều xuất phát từ lòng yêuthương, kính trọng và tin tưởng ở con người, tin tưởng ở nhân dân Người từngnói rằng đã là người Việt Nam thì ai cũng có ít nhiều lòng yêu nước Với tấmlòng nhân ái bao la, lòng tin vô hạn đối với nhân dân, dân tộc, Người đã giànhtrọn tình yêu thương và sự tin tưởng vào khả năng tiến bộ của con người, biếtkhơi dậy trong họ những khả năng tiềm tàng, thức tỉnh và giáo dục họ đứng lênđấu tranh cho sự nghiệp chính nghĩa của quốc gia dân tộc.
Trên thực tế, quan điểm khoan dung, độ lượng và niềm tin vào nhân tínhcon người đã giúp Hồ Chí Minh: “Đoàn kết tất cả những người thật sự yêu Tổquốc, yêu hòa bình, không phân biệt họ thuộc đảng phái nào, tôn giáo nào, tầnglớp nào và quá khứ họ đã hợp tác với phe nào” [55, tr.61] Tinh thần khoan dungcủa Người là sự kế tục và phát triển truyền thống nhân ái, bao dung của dân tộc
Đó là thái độ trân trọng, cái nhìn rộng lượng, là chấp nhận sự giao lưu, tương tácgiữa cái chung và cái riêng, cái đồng nhất và dị biệt để đạt tới cái chung, cái hòađồng để cùng phát triển Lòng khoan dung của Người đã có sức cuốn hút và cảmhóa kì diệu, đã làm thất bại mọi âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết của kẻ thù; đãtập hợp được đông đảo các nhân sỹ, trí thức có tên tuổi, kể cả các hoàng tộc,quan lại đứng trong khối đại đoàn kết toàn dân để tạo nên một sức mạnh vô địch
* Những vấn đề đặt ra đối với đoàn kết dân tộc trong điều kiện hiện nay
Sự nghiệp đổi mới ở nước ta được bắt đầu từ Đại hội VI của Đảng (1986)
và tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện trong các kì đại hội tiếp theo Với tính chấtsâu sắc, với quy mô rộng rãi trên mọi phương diện của đời sống, với mục đíchtối cao và nhân bản đem lại hạnh phúc thực sự cho con người nên về bản chất,công cuộc đổi mới đất nước hiện nay là tiếp tục thực hiện cuộc cách mạng xã hội
Trang 21chủ nghĩa đã được xác định trong giai đoạn cách mạng trước đây Hơn lúc nàohết, sự nghiệp lớn lao đó muốn đạt tới kết quả mong muốn cần huy động đượctrí tuệ, tài lực và sự cố kết của toàn thể mọi thành viên trong đại gia đình dân tộcViệt Nam, trong đó sức mạnh của khối đại đoàn kết được xác định là nguồn sứcmạnh cơ bản nhất, có ý nghĩa nhất bởi: “Đoàn kết là lực lượng mạnh nhất củachúng ta” [53; tr.368] Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, xây dựng khối đạiđoàn kết dân tộc cần tính đến những điều kiện mới mà trước đó chưa đặt ra:
Một là, đại đoàn kết diễn ra trong điều kiện đất nước hòa bình, độc lập, thống nhất.
Trải qua hàng chục năm chiến tranh nên mong muốn và khát vọng phụchưng đất nước, đẩy mạnh công cuộc đổi mới để rửa nỗi nhục nghèo khổ, mở ra mộtchương mới rạng rỡ cho dân tộc có thể tự hào sánh vai với các cường quốc nămChâu là nguyện vọng thiết tha của mọi người Việt Nam yêu nước Tuy nhiên, cầnnhận thức trong môi trường bình đẳng và mỗi cá nhân được khuyến khích làm giàumột cách chính đáng thì mỗi người, mỗi giai cấp, mỗi tầng lớp luôn hành động vàtìm kiếm, theo đuổi và chinh phục những lợi ích nhất định Trong quá trình theođuổi và tìm kiếm những lợi ích đó sẽ tạo nên một hệ thống những nhu cầu, động cơ
đa dạng và phức tạp, đan xen và không ngừng tác động qua lại chi phối lẫn nhau.Lợi ích tương đồng có thể tạo nên một hệ thống những hợp lực khiến con ngườixích lại gần nhau hơn, gắn bó và cố kết với nhau trong hành động Tuy nhiên, xãhội luôn là một tập hợp người đa dạng, phức tạp nên thực tiễn săn tìm lợi ích khôngthể tránh khỏi những lệch pha, va chạm, xung đột về mặt lợi ích Khi cùng theođuổi những lợi ích sẽ có người toại nguyện khi đạt được mục đích của mình, vàđương nhiên bên cạnh người được là kẻ mất Kẻ mất, người được sau một cuộc đuatranh về lợi ích thì khó có thể có một sự đồng cảm và chia sẻ
Thực tiễn cuộc sống đã trả lời, những xung đột, mâu thuẫn về lợi íchvật chất là nền tảng và mấu chốt nhất của mọi sự xung đột xã hội Đó là một
Trang 22sự thật mà Đảng và Nhà nước cần phải tính đến trong quá trình xây dựng vàcủng cố khối đại đoàn kết dân tộc hiện nay.
Hai là, đại đoàn kết diễn ra trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong thời kì đổi mới, mô hình kinh tế chúng ta thực hiện là phát triển nềnkinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Nhờ có đường lối đúng, chúng ta
đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn, đời sống vật chất, tinh thần của đại đa
số nhân dân có sự cải thiện rõ rệt Tuy nhiên, cùng với những thành tựu đã đạtđược, nền kinh tế thị trường cũng để lại sự phân hóa giàu nghèo diễn ra ngày mộtsâu sắc thêm Đây là nhân tố có khả năng tác động tiêu cực tới sự cố kết xã hội
Mặc dù Nhà nước khuyến khích người dân làm giàu chính đáng songkhông phải ai cũng có điều kiện và khả năng để làm giàu, nhất là đồng bào trongdiện chính sách, đồng bào ở vùng sâu vùng xa Trong dân cư, một bộ phận nhờnhững ưu thế nhất định trong nhận thức, kinh nghiệm và khả năng tiếp cận cácnguồn lực nên giàu lên nhanh chóng Sự phân hóa giàu nghèo giữa các giai cấp,tầng lớp ngày càng sâu sắc như nhận định của Đảng ta là “ngày càng doãng ra”;khoảng cách giàu nghèo ngày càng cách xa và trầm trọng hơn giữa các vùngmiền, giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi là một thực tế cóthật Cùng với việc phân hóa giàu nghèo, kinh tế thị trường cũng tạo ra tâm lýchạy theo đồng tiền, làm giàu bằng mọi giá, cạnh tranh không lành mạnh làm phainhạt truyền thống tình nghĩa, tương thân tương ái trong cộng đồng Kinh tế thịtrường cũng gây ra nhiều tệ nạn xã hội như buôn lậu, trốn thuế, mại dâm làmnhức nhối trong toàn xã hội và khiến lòng dân không yên Điều đáng lưu ý, vì lợiích khiến một bộ phận bất chấp tất cả, làm giàu bằng mọi cách và sẵn sàng chàđạp lên lợi ích chân chính của người khác Nghiêm trọng hơn, có một bộ phậnkhông nhỏ cán bộ, đảng viên có chức có quyền đã lợi dụng quyền lực do Đảng vànhân dân giao cho để vơ vét, làm giàu một cách bất chính Tình trạng tham nhũng,tha hóa trong một bộ phận không nhỏ cán bộ công quyền làm xói mòn niền tin của
Trang 23dân vào Đảng và Nhà nước Trong cuộc sống không thiếu những chủ trươngchính sách đưa ra không hợp lòng dân nhằm phục vụ cho “lợi ích nhóm” giữa một
bộ phận cán bộ công quyền móc ngoặc với bên ngoài Điều đó khiến nhân dânthiếu sự tin tưởng vào những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Đây
là nguyên nhân dẫn tới các vụ khiếu kiện đông người, có lúc có nơi rất gay gắt, tạo
kẻ hở cho các thế lực thù địch kích động chia rẽ khối đại đoàn kết
Tất cả những phân tích trên để khẳng định rằng, xây dựng khối đạiđoàn kết toàn dân trong điều kiện phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thànhphần là một vấn đề thực tiễn mới mẻ Để quy tụ được sự đoàn kết của mọingười trong sự nghiệp chung cần có một tư duy tiếp cận mới, tránh sự rậpkhuôn như xây dựng khối đại đoàn kết trong thời gian trước đây
Ba là, đại đoàn kết diễn ra trong điều kiện hội nhập quốc tế.
Hội nhập với quốc tế đã tạo nên sự thay đổi tích cực trên mọi phương diệncủa đời sống xã hội, nhưng cùng với việc đón nhận những luồng gió trong lành,chúng ta đồng phải đối diện với sự xâm nhập hàng ngày, hàng giờ của các “luồnggió độc” bởi giao lưu về văn hóa là một nội dung quan trọng của hội nhập Trongquá trình đó ta không chỉ tiếp nhận những cái hay, cái tốt đẹp mà còn bị tác động,chi phối bởi những cái phản văn hóa, phản giá trị làm ảnh hưởng và xói mònnghiêm trọng tới thuần phong mỹ tục của dân tộc, làm băng hoại các giá trị đạođức truyền thống Mở cửa hội nhập cùng quá trình phát triển mạnh mẽ cácphương tiện thông tin truyền, thông bên cạnh lợi ích góp phần nâng cao dân trí thì
sự yếu kém trong công tác định hướng và kiểm duyệt thông tin đã và đang tạo kẽ
hở để các thế lực thù địch kích động, xuyên tạc gây ảnh hưởng tiêu cực tới khốiđoàn kết Đồng thời chúng dễ dàng tiếp cận, nắm bắt những mâu thuẫn nảy sinhtrong một bộ phận nhân dân, lợi dụng những sai lầm nhất định trong đường lối,chủ trương và quá trình thực hiện của các cấp chính quyền từ đó tiến hành chia rẽ
sự đoàn kết thống nhất giữa các tầng lớp nhân dân Trong đó kẻ địch chú trọngkhoét sâu vào mâu thuẫn, tạo sự bất bình và nghi kị giữa một bộ phận nhân dân
Trang 24với các cấp chính quyền, với Đảng và Nhà nước Đây là một nhân tố tiềm ẩnnhưng có thể gây nên những hậu quả nghiêm trọng khiến xã hội bất ổn vì sự mấtniềm tin của người dân vào chính quyền có thể tạo nên những khủng hoảng, xungđột - cái cớ để các thế lực thù địch tiến hành can thiệp
Sự giao lưu, tương tác, tự do trong tiếp cận thông tin là những nhân tố
có thật đã và đang trực tiếp tác động tới quá trình xây dựng khối đại đoàn kếttoàn dân Đây là những điều kiện mới mà giai đoạn trước đó không có được
Do vậy, để xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc đạt được hiệu quảthì nhất thiết chủ thể cần phải bám sát sự vận động, phát triển sinh động củathực tiễn để có chủ trương và giải pháp phù hợp
1.1.2 Quan niệm vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc vào sự nghiệp đổi mới ở nước ta
Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được xác định
là nền tảng tư tưởng của Đảng và là kim chỉ nam cho mọi hành động của cáchmạng Việt Nam Tư tưởng của Người nói chung, tư tưởng về đại đoàn kết dântộc nói riêng là những chân lý cách mạng đã được sự kiểm nghiệm nghiêmkhắc của lịch sử, đã khẳng định tính chân lý trong cuộc đấu tranh giành độclập dân tộc và thống nhất đất nước Tuy phản ánh một giai đoạn lịch sử đãqua song những vấn đề trong nhận thức về vai trò, lực lượng, phương thứcnhằm thực hiện đoàn kết rộng rãi toàn dân để tạo nên một sức mạnh to lớncủa Người vẫn chứa đựng những hạt nhân hợp lý, có giá trị đối với chúng tatrong công cuộc đổi mới hiện nay Tuy nhiên, cần nhận thức tư tưởng Hồ ChíMinh về đại đoàn kết dân tộc được hình thành trong một hoàn cảnh lịch sửđặc biệt khi vận mệnh, độc lập, tự do của Tổ quốc và số phận của mỗi ngườidân đang đứng trước những thử thách nghiêm trọng, sống còn Do đó, nếu bênguyên những luận điểm đã được khái quát trong một hoàn cảnh đã qua vàxem đó là một chân lý trong điều kiện hiện tại sẽ là một sai lầm Thực tiễnxây dựng khối đại đoàn kết toàn dân trong giai đoạn hiện nay đang đặt ra
Trang 25nhiều vấn đề hết sức mới mẻ Bởi vậy, để tư tưởng của Người về đại đoàn kếtdân tộc luôn là kim chỉ nam cho công tác tập hợp lực lượng thì tư tưởng đócần tiếp tục được bổ sung và phát triển sao cho phản ánh một cách sinh độngthực tiễn của sự nghiệp đổi mới Với cách tiếp cận đó, tác giả đưa ra quan
niệm: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc vào sự nghiệp
đổi mới là một quá trình sử dụng tổng hợp các phương thức nhằm nâng cao nhận thức hệ giá trị tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Người và bổ sung, phát triển hệ giá trị đó phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới đồng thời hiện thực hóa những vấn đề lý luận được khái quát vào thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Quan niệm trên bao hàm ba vấn đề cơ bản sau:
Một là, đây là quá trình sử dụng tổng hợp các phương thức nâng cao nhận thức hệ giá trị tư tưởng đại đoàn kết dân tộc đối với các chủ thể vận dụng.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc là một bộ phận quan trọngcấu thành tư tưởng của Người Nó bao gồm một hệ thống những luận điểm vềvai trò, lực lượng, phương thức trong thực hiện khối đại đoàn kết dân tộc nhằmphát huy cao nhất sức mạnh của toàn dân trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng.Những luận điểm của Người trong xây dựng khối đoàn kết là những chân lý củamột giai đoạn lịch sử, song vẫn chứa đựng những hạt nhân hợp lý có ý nghĩa đặcbiệt quan trọng về mặt phương pháp luận đối với chúng ta trong quá trình tậphợp lực lượng nhằm tạo ra một hợp lực mạnh mẽ thực hiện thắng lợi sự nghiệpđổi mới hiện nay Bởi vậy, yêu cầu nhận thức và nâng cao nhận thức đối với cácchủ thể về bản chất khoa học, cách mạng tư tưởng của Người về đại đoàn kếtdân tộc là vấn đề có tính nguyên tắc, là giai đoạn đầu tiên có ý nghĩa nền tảngtrong quá trình vận dụng vào thực tiễn công cuộc đổi mới
Đại đoàn kết là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân bởi đại đoàn kếtthành công sẽ đem lại lợi ích thiết thực cho chính đông đảo quần chúng nhândân Vì lẽ đó, chủ thể nhận thức, quán triệt và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minhvào thực tiễn công cuộc đổi mới không phải là trách nhiệm của riêng ai, càng
Trang 26không phải của riêng lực lượng lãnh đạo cách mạng mà của mọi người, mọicấp, mọi nghành, mọi lực lượng, của cả hệ thống chính trị Tuy nhiên, trongviệc quán triệt và vận dụng, Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chứcđoàn thể đóng vai trò đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa quyết định tới thành côngcủa việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào sự nghiệp đổi mới Khẳng địnhvai trò mang tính quyết định của Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các tổ chứcđoàn thể trong việc vận dụng tư tưởng của Người bởi đây là lực lượng nòngcốt, chủ yếu trong việc tổ chức giáo dục, định hướng đối với các tầng lớp nhândân; đồng thời là lực lượng quán triệt và cụ thể hóa tư tưởng đại đoàn kết vàothực tiễn thông qua các chủ trương, đường lối, chính sách của mình
Với tầm quan trọng có ý nghĩa quyết định trong việc nhận thức, chuyểntải các giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc tới đông đảoquần chúng nhân dân, nên trách nhiệm đối với chủ thể lãnh đạo cách mạng làhết sức nặng nề Vấn đề đặt ra đối với họ là cần được trang bị những kiếnthức cơ bản về tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh Không dừng lại ở đó, họcòn phải tiến hành có hiệu quả công tác tuyên truyền đối với mọi tầng lớpnhân dân để dân hiểu, dân tin và hành động theo Đây là điều kiện tiên quyết
để tư tưởng của Người đi vào thực tế đời sống và phát huy hiệu quả, trở thànhmột giá trị tinh thần bền vững, có sức lan tỏa trong đời sống xã hội và biếnthành một “lực lượng vật chất to lớn” như Mác đã từng nói: “Cố nhiên là vũkhí phê phán không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vậtchất chỉ có thể đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trởthành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”
Hai là, đây là quá trình bổ sung, phát triển hệ giá trị tư tưởng đại đoàn kết dân tộc phù hợp với yêu cầu, điều kiện của tình hình cách mạng mới
Từ nhận thức đúng, trên cơ sở quán triệt phương thức tập hợp lực lượng,chủ thể vận dụng cần bám sát sự vận động, biến đổi của thực tiễn để tiếp tục bổsung, phát triển tư tưởng của Người phù hợp với yêu cầu của giai đoạn cách
Trang 27mạng mới Trong điều kiện hiện nay, sự bổ sung, phát triển tư tưởng Hồ ChíMinh là một đòi hỏi cấp thiết và được thể hiện trên một số nội dung sau:
Thứ nhất, cần xác định và mở rộng hơn nữa thành phần khối đại đoàn kết dân tộc.
Trước đây, trong một thời gian dài do những mặc cảm, định kiến và sựchi phối của lập trường giai cấp nên khối đại đoàn kết toàn dân trên thực tếkhông được mở rộng Đó là một tổn thất, một mất mát lớn đối với sự nghiệpcách mạng của chúng ta vì chia rẽ, phân liệt là triệt tiêu đi sức mạnh và độnglực của sự phát triển đất nước Bởi vậy, nhiệm vụ đặt ra trong giai đoạn hiệnnay cần phải thu hút và lôi cuốn được đông đảo mọi thành phần trong đại giađình dân tộc Việt Nam vào một Mặt trận thống nhất Phạm vi của khối đạiđoàn kết toàn dân cần hướng tới đoàn kết các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầnglớp, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng của đất nước, mọi thành phần kinh tế,giữa người trong Đảng và ngoài Đảng, người đang công tác và người đã nghỉhưu, người Việt Nam dù sống trong nước hay định cư ở nước ngoài Phạm vicủa khối đại đoàn kết cần được mở rộng là vấn đề mang tính nguyên tắc,
trong đó chú trọng tới thu hút và tập hợp các nhà doanh nhân, các kiều bào
Việt Nam đang sinh sống ở nước ngoài Đây là một nhân tố mới, là “nguồn
vốn” hết sức quan trọng không thể thiếu có thể tạo nên những cú hích, nhữngđộng lực mới mẻ và hiệu quả trong đổi mới và hội nhập
Thứ hai, xây dựng mục tiêu của đại đoàn kết trong giai đoạn mới phản ánh những nguyện vọng sâu xa và quyền lợi cơ bản nhất của mọi tầng lớp nhân dân.
Hồ Chí Minh từng nói rằng: “Trong việc phá hoại chống kẻ thù đòi độclập thì dễ dàng kéo cả toàn dân Trong việc kiến thiết thì khó kéo hơn, vì nóđụng chạm đến quyền lợi của một đôi giai từng trong nước” [40, tr.20] Bởivậy, để tăng cường khối đại đoàn kết trong giai đoạn hiện nay nhất thiết phảitìm ra mục tiêu mới làm nền tảng để quy tụ sức mạnh toàn dân trên cơ sởphản ánh nguyện vọng và quyền lợi cơ bản nhất của các tầng lớp nhân dân
Trang 28Vì lẽ đó, mục tiêu chung của khối đại đoàn kết hiện nay cần phải hướng
tới là giữ vững độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vì dân giàu, nước mạnh,
xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Mục tiêu đó phản ánh nguyện vọng và
lợi ích chung nhất của toàn thể dân tộc Việt Nam đồng thời cũng thể hiện sựdung nạp, thừa nhận và tôn trọng mục tiêu riêng, lợi ích riêng của các giai cấp,tầng lớp, các thành phần kinh tế, nói chung là của mọi người dân Chỉ trongđiều kiện đất nước độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ mới tạo môi trườnghòa bình, ổn định để mọi người có thể yên tâm làm ăn, phát triển kinh tế Mụctiêu chung cần hướng tới làm cho nước mạnh lên, đây là khát vọng nung nấucủa mọi người Việt Nam có lòng tự tôn dân tộc Và như một lôgíc, muốn nướcmạnh thì phải làm cho dân giàu, nghĩa là ai cũng có quyền làm giàu một cáchchính đáng bằng trí tuệ và năng lực của mình Tuy nhiên, làm giàu cho đấtnước và bản thân, gia đình không phải lúc nào cũng tương hợp với nhau, vả lạigiàu có không thể thực hiện đồng đều ngay một lúc, những người có khả năng
và điều kiện sẽ làm giàu trước Vì thế, để hạn chế cách làm giàu bằng nhữngthủ đoạn bất chính và khắc phục sự phân hóa giàu nghèo thành hai cực đối lập,lại cần phải có một cơ chế dân chủ, thông qua một hệ thống pháp luật đồng bộnhằm đảm bảo sự công bằng trong từng bước phát triển, nghĩa là Nhà nước sẽ
sử dụng chức năng của mình để thực hiện các chính sách nâng cao phúc lợi xãhội nhằm điều chỉnh và hóa giải các mâu thuẫn, xung đột có thể xẩy ra, để đitới một mục tiêu cuối cùng là xây dựng một xã hội văn minh
Thứ ba, xác định phương thức để thực hiện đại đoàn kết dựa trên tạo lập sự đồng thuận xã hội.
Trong giai đoạn hiện nay, việc xác lập một phương thức mới để thựchiện đại đoàn kết dân tộc là hết sức quan trọng Phương thức thực hiện đại
đoàn kết dân tộc trong giai đoạn hiện nay được xác định là: Kết hợp hài hòa
các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế; tôn trọng những chính kiến khác nhau không trái
Trang 29với lợi ích chung của dân tộc, xóa bỏ những mặc cảm, định kiến, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau hướng tới tương lai Thực chất của việc xác
lập phương thức đại đoàn kết dân tộc là việc giải quyết những mâu thuẫn nảysinh trong lĩnh vực kinh tế và chính trị mà cái đích cần hướng tới là tạo nên sựđồng thuận xã hội rộng rãi
Kết hợp hài hòa các lợi ích không có nghĩa là tiếp tục chủ nghĩa bình quân
và “cào bằng sự nghèo khổ” như một thời gian dài trước đây chúng ta đã từngnhận thức Điều đó có nghĩa rằng, vấn đề lợi ích phải được giải quyết một cáchthỏa đáng dựa trên sức lao động, tài năng và sự cống hiến của mỗi người Nhưvậy, việc phân hòa giàu nghèo là một tất yếu và cái tất yếu này cũng cần có sựđồng thuận rộng rãi của xã hội Vấn đề là Nhà nước cần có những cơ chế phù hợp
để điều tiết lợi ích, để sự phân hóa giàu nghèo không phải ngày càng cách xa mà
là sự phân hóa cùng hướng Trên lĩnh vực chính trị cũng vậy, khi đang tồn tạinhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, nhiều giai cấp và các tầng lớp
xã hội khác nhau, thì bên cạnh sự thống nhất mục tiêu chung, vẫn còn sự khácnhau về những mục tiêu cụ thể Do đó, không thể đề ra yêu cầu phải đạt tới nhấttrí hoàn toàn về chính trị, tinh thần của toàn xã hội như những giai đoạn trước đây
Từ những thực tế trên, có thể nói rằng xây dựng sự đồng thuận xã hội là
một nội dung mới của đoàn kết dân tộc trong giai đoạn hiện nay Đồng thuận
trên lĩnh vực kinh tế, chính trị nghĩa là chưa phải hoàn toàn thống nhất mà vẫncòn sự khác nhau, nhưng cùng thỏa thuận tạm gác lại sự khác biệt để thực hiệncái chung Đồng thuận cũng không loại trừ sự đấu tranh giữa các ý kiến, quanđiểm, xu hướng đối lập, nhưng cũng đồng thời chống lại tất cả những gì dẫn tới
sự chia rẽ, phân liệt xã hội Nói một cách khác, đồng thuận còn chấp nhận nhữngmâu thuẫn, khác biệt nhưng đòi hỏi giải quyết nó thông qua thương lượng thỏahiệp trên cơ sở tôn trọng và hướng tới cái chung là lợi ích tối cao của dân tộc
Trang 30Ba là, đây là quá trình hiện thực hóa những vấn đề lý luận được khái quát vào thực tiễn tập hợp khối đại đoàn kết dân tộc nhằm thực hiện thắng lợi
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Trên nền tảng những giá trị bất biến có ý nghĩa định hướng về mặtphương pháp luận, cùng với quá trình tổng kết thực tiễn để bổ sung, phát triển
tư tưởng của Người thì một giai đoạn không thể thiếu trong quá trình vậndụng là thiết lập một cơ chế tạo sự chuyển hóa từ nhận thức tới hành động, từ
lý luận tới thực tiễn nhằm củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân thựchiện thắng lợi yêu cầu của sự nghiệp cách mạng mới Hiện thực hóa vào thựctiễn là giai đoạn kết thúc một quá trình vận dụng tư tưởng của Người, đồngthời lại mở ra một nấc thang mới trong quá trình nhận thức
Quán triệt những hạt nhân hợp lý trong phương châm, cách thức tập hợplực lượng để rồi cụ thể hóa trong hoạt động xây dựng khối đại đoàn kết, đồngthời bám sát sự vận động, phát triển của thực tiễn nhằm khái quát thành lý luận,chủ thể đã giải quyết được nấc thang ban đầu trên con đường vận dụng - tổng kếtthành lý luận vấn đề xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong điều kiện mới.Vậy để kiểm chứng lý luận được khái quát là khoa học hay không khoa học, làhợp lý hay bất hợp lý thì vấn đề đặt ra là cần thiết lập một cơ chế để cụ thể hóa
lý thuyết đó trong chính thực tiễn xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc hiện nay
Chính trong quá trình chuyển hóa từ nhận thức tới hành động, từ lýluận tới thực tiễn mà các nguyên tắc, phương thức về củng cố và tăng cườngkhối đại đoàn kết dân tộc đã được khái quát từ thực tiễn mới, được vận dụng
và cụ thể trong từng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và luật phápcủa Nhà nước Những phương thức như giải quyết hài hòa hài hòa các quan
hệ lợi ích, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế;
mở rộng quy mô khối đại đoàn kết; tới mục tiêu chung để quy tụ khối đoànkết toàn dân được quán triệt và đi vào thực tiễn trong từng đường lối phát
Trang 31triển kinh tế xã hội sẽ là câu trả lời chắc chắn nhất, khách quan nhất về tínhchân lý hay sai lầm của những lý luận mới được khái quát
Từ những giá trị cốt lõi, những hạt nhân hợp lý trong tư tưởng Hồ ChíMinh về đại đoàn kết dân tộc; bổ sung, hoàn thiện và phát triển tư tưởng củaNgười phù hợp với sự biến đổi của thực tiễn; đồng thời đưa những vấn đề lýluận mới đã được khát quát vào thực tiễn xây dựng khối đại đoàn kết để kiểmnghiệm tính chân lý hay sai lầm, phù hợp hay không phù hợp, chủ thể vậndụng đã hoàn thành một chu trình nhận thức Thiết lập cơ chế để chuyển hóa
từ lý luận tới thực tiễn, đưa những vấn đề mới được tổng kết cụ thể hóa trongđường lối phát triển kinh tế, xã hội, chủ thể đã hoàn tất một quy trình vậndụng, nhưng cũng đồng thời lại mở ra một giai đoạn mới của quá trình nhậnthức Như vậy, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc vào
sự nghiệp đổi mới là một quá trình vận động và chuyển hóa không ngừng,trong đó thực tiễn luôn là yêu cầu, là đòi hỏi tối cao, là giai đoạn mở đầu vàkết thúc của một chu trình nhận thức và vận dụng
1.2 Những vấn đề có tính quy luật vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh
về đại đoàn kết dân tộc vào sự nghiệp đổi mới ở nước ta
1.2.1 Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc vào sự nghiệp đổi mới ở nước ta phụ thuộc vào vai trò nhận thức của các chủ thể
Có thể nói, xét đến cùng bất cứ hoạt động nào của con người cũng dựatrên ý thức, sự hiểu biết, hay nói một cách khác con người muốn hoạt động hiệuquả dù trên lĩnh vực nào thì nhất định họ phải có hiểu biết dù ít dù nhiều trên lĩnhvực đó Dựa vào tri thức đúng đắn mới hoạt động có hiệu quả nhằm đạt tới mụcđích đã đề ra Nhận thức đúng có vai trò rất quan trọng đối với năng lực hoạtđộng của con người Phẩm chất, ý chí, quyết tâm nếu không được xây dựng trên
cơ sở của tri thức, hiểu biết thì mãi chỉ dừng lại ở khát vọng tốt đẹp mà thôi Dovậy, để vận dụng sáng tạo một lý thuyết, một chân lý khoa học đã được thực tiễnkiểm nghiệm trong một hoàn cảnh đã qua vào một điều kiện mới thì nhất thiếtchủ thể vận dụng phải có kiến thức nhất định, và những hiểu biết về nó
Trang 32Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc là tổng hợpphương thức nhằm nâng cao nhận thức những giá trị tư tưởng của Người tạo nên
sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, thái độ hành vi, trở thành niềm tin vàđộng cơ thôi thúc chủ thể trong hành động Tư tưởng của Người về đại đoàn kếtdân tộc là một bộ phận quan trọng cấu thành nên hệ thống những quan điểm sâusắc và toàn diện về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam Tư tưởng đóbao gồm một hệ thống những luận điểm về vai trò, lực lượng và phương thức cótính nguyên tắc trong xây dựng khối đại đoàn kết nhằm phát huy cao nhất sứcmạnh của toàn dân trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ và chủnghĩa xã hội Những luận điểm của Người về đại đoàn kết dân tộc vẫn chứađựng những hạt nhân hợp lý, có giá trị trong quá trình tập hợp khối đoàn kết toàndân hiện nay Những giá trị trong tư tưởng của Người về đại đoàn kết dân tộcđược thể hiện trên một số nội dung như: Vị trí và tầm quan trọng của khối đoànkết toàn dân; xác định lực lượng cơ bản trong khối đoàn kết, đồng thời mở rộng
và tranh thủ tất cả các lực lượng có thể tranh thủ; Xây dựng phương thức để thựchiện đoàn kết trong đó chú trọng tới giải quyết vấn đề lợi ích giữa các tầng lớpnhân dân, vai trò của công tác giáo dục vận động quần chúng; Vai trò của Đảng
và Mặt trận trong công tác xây dựng khối đại đoàn kết; Đấu tranh chống lại cácthế lực thù địch phá hoại khối đoàn kết Những vấn đề nền tảng, vừa là nộidung mang tính chất lý luận đồng thời là những định hướng về mặt phương pháp
có ý nghĩa to lớn, quyết định tới hiệu quả của quá trình vận dụng tư tưởng củaNgười trong thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Thực tiễn đã luôn xác nhận, nhận thức đúng là nền tảng cho hành độngđúng, vì thế, chất lượng, hiệu quả quá trình vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh
về đại đoàn kết dân tộc vào sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay phụ thuộctrước hết vào vai trò nhận thức của chủ thể vận dụng Đây là tiền đề đảm bảocho quá trình vận dụng được tiến hành một cách chủ động, tích cực và có hiệuquả tạo điều kiện quan trọng để không ngừng bổ sung, phát triển và hiện thực
Trang 33hóa tư tưởng của Người vào xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân trong điềukiện hiện nay, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Có thể nói, nhận thức của Đảng đối với tư tưởng đại đoàn kết dân tộccủa Người là vấn đề cơ bản, quyết định xu hướng và tính chất phát triển củakhối đại đoàn kết toàn dân Mối quan hệ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa cácdân tộc, tôn giáo, vùng miền như thế nào phụ thuộc trước hết vào vấn đề nhậnthức của Đảng, bởi Đảng ta là Đảng cầm quyền, là lực lượng duy nhất lãnhđạo xã hội Nhận thức về đại đoàn kết được thể hiện thông qua chủ trương,đường lối của Đảng là cơ sở định hướng quan trọng đối với Nhà nước tronghiện thực hóa vào đời sống chính trị xã hội
Trên cơ sở chủ trương, đường lối thể hiện sự nhận thức của Đảng, khốiđại đoàn kết toàn dân phụ thuộc rất lớn vào hoạt động và vai trò của Nhànước Là người tổ chức, điều hành và quản lý mọi hoạt động của đời sống xãhội nên mỗi chủ trương, chính sách và việc làm của Nhà nước đều tác độngtrực tiếp đến đời sống, đến lợi ích và tâm tư, tình cảm của quần chúng nhândân Mỗi chính sách và việc làm đúng đắn của Nhà nước sẽ tạo nên sức mạnhđưa đường lối của Đảng nói chung trong đó có đường lối đại đoàn kết dân tộcvào cuộc sống, có tác dụng gắn kết nhân dân thành một khối thống nhất;ngược lại, mỗi chính sách, chủ trương hay một quyết định sai lầm đều có thểdẫn đến nguy cơ làm rạn nứt khối đại đoàn kết toàn dân
Tổ chức rộng rãi nhất, liên quan trực tiếp đến việc tập hợp, đoàn kết cáctầng lớp nhân dân là Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng Các đoànthể quần chúng hợp thành một Mặt trận dân tộc thống nhất, đó chính là cái vỏvật chất của khối đại đoàn kết, là lực lượng trực tiếp đưa chủ trương, đườnglối của Đảng, chính sách và luật pháp của Nhà nước tới các tầng lớp nhândân Bởi vậy, sự nhận thức, quán triệt tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Mặttrận và các đoàn thể là điều kiện hết sức quan trọng để tổ chức này phát huyvai trò của mình trong công tác tập hợp lực lượng, cụ thể hóa và triển khaivấn đề đoàn kết trong các chương trình, hoạt động cách mạng cụ thể
Trang 34Từ vai trò của nhận thức đối với hoạt động nói chung, nhận thức nhữnggiá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết với công tác tập hợp lực lượngnói riêng, có thể khẳng định nếu chủ thể vận dụng nhận thức không đúng,không đầy đủ và phiến diện, không bám sát sự vận động phát triển của thựctiễn cũng như những đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước sẽ không thể đề ra những chủ trương giải pháp phù hợp tạo nên sự cốkết và đồng thuận xã hội Vận dụng không chỉ đơn thuần là áp dụng lý thuyếtvào thực tiễn, nhân tố nền tảng của vận dụng là vấn đề nhận thức của các chủthể vận dụng Nhận thức và vận dụng hiệu quả những giá trị tư tưởng củaNgười về đại đoàn kết trong giai đoạn hiện nay là một quá trình thống nhấtbiện chứng Quá trình đó luôn đặt ra những mâu thuẫn khách quanh đòi hỏichủ thể vận dụng phải không ngừng nhận thức và giải quyết Qua mỗi lầnnhận thức và giải những mâu thuẫn biện chứng đó, chủ thể ngày một hiểu sâusắc hơn, bổ sung và phát triển tư tưởng đại đoàn kết phản ánh khách quannhững đòi hỏi của thực tiễn xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
Những giá trị trong tư tưởng của Người về đại đoàn kết như khẳng địnhlực lượng, sức mạnh cùng những vấn đề có tính nguyên tắc nhằm tạo nên sự
cố kết của mọi thành viên trong cộng đồng dân tộc về mặt hình thức mang nộidung chủ quan nhưng lại là vấn đề khách quan đối với chủ thể vận dụng.Nhận thức những giá trị đó là một quá trình giải quyết mối quan hệ biệnchứng giữa khách quan (giá trị trong tư tưởng đại đoàn kết) và chủ quan Vấn
đề đặt ra là cần phải chủ quan hóa khách quan, tức là quá trình xâm nhập củachủ thể nhằm nhận thức ngày càng sáng rõ hơn, đầy đủ hơn những vấn đề cơbản trong hệ giá trị về đại đoàn kết dân tộc của Người
Quá trình vận dụng đồng thời phụ thuộc là việc giải quyết những mâuthuẫn về mặt lượng - chất của vấn đề nhận thức Nhận thức về giá trị tư tưởngcủa Người là một quá trình tuần tự, trong đó chủ thể vận dụng đi từ nhận thứcphiến diện tới hệ thống, từ đơn giản tới sâu sắc, từ hiện tượng tới bản chất
Trang 35Đó là quá trình không ngừng bổ sung, làm giàu và hoàn thiện hơn những hiểubiết để những nhận thức hệ giá trị trong tư tưởng của Người về đại đoàn kếtngày càng sáng rõ Sự tích lũy dần dẫn những hiểu biết đến một mức độ nhấtđịnh sẽ tạo nên thay đổi về chất của nhận thức Lúc đó chủ thể vận dụng đạttới một trình độ nhận thức sâu sắc về bản chất của vấn đề Trên mỗi nấc thangcủa quá trình nhận thức sẽ ảnh hưởng tới chất lượng hiệu quả của vấn đề vậndụng Nhận thức sâu sắc, toàn diện, và đạt tới vấn đề bản chất sẽ dẫn tới sựvận dụng đúng đắn hiệu quả trong thực tiễn công tác tập hợp lực lượng Tínhchất, độ nông sâu của nhận thức sẽ quyết định và chi phối tới mức độ thànhcông ít hoặc nhiều của quá trình vận dụng.
Chất lượng, hiệu quả quá trình vận dụng còn phụ thuộc vào nhận thức vàgiải quyết những mâu thuẫn giữa lý luận và thực tiễn của chủ thể Bất cứ mộtquá trình vận dụng nào, từ nền tảng nhận thức, chủ thể luôn sử dụng tri thức lýluận đó là hệ thống những nội dung, luận điểm, nguyên tắc được khái quát từmột thực tiễn, môi trường và hoàn cảnh đã qua vào một điều kiện và hoàn cảnhmới Đó là lý do luôn xảy ra sự lệch pha ít nhiều giữa lý luận cũ và thực tiễnmới Để vận dụng hiệu quả, vấn đề mang tính nguyên tắc đối với chủ thể làbám sát những đòi hỏi của thực tiễn mới để không ngừng bổ sung, phát triểnnhằm hoàn thiện hơn tri thức ban đầu Vận dụng tư tưởng đại đoàn kết Hồ ChíMinh vào xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân hiện nay buộc chủthể không ngừng nhận thức và giải quyết mâu thuẫn giữa lý luận được kháiquát trong hoàn cảnh đã qua và những yêu cầu, đòi hỏi mới của thực tiễn tậphợp lực lượng Nhận thức và giải quyết mâu thuẫn giữa lý luận và thực tiễn làđiều kiện để chủ thể vận dụng không ngừng bổ sung, phát triển lý luận về đạiđoàn kết để lý luận mới không chỉ phản ánh sinh động mà còn là kim chỉ namnâng cao hiệu quả vận dụng vào thực tiễn xây dựng, củng cố khối đại đoàn kếttoàn dân tộc Trong giải quyết những mâu thuẫn giữa lý luận và thực tiễn, chủ
Trang 36thể vận dụng đồng thời thực hiện quá trình phủ định biện chứng Điều đó cónghĩa rằng, kế thừa là quy luật tất yếu của sự phát triển Không có kế thừa sẽkhông có bất cứ một sự phát triển nào, tuy nhiên đây là sự kế thừa biện chứng,
kế thừa những giá trị hợp lý đồng thời chủ thể vận dụng cần biết loại bỏ nhữngyếu tố đã trở nên không phù hợp với yêu cầu của thực tiễn mới
Như vậy, chất lượng, hiệu quả quá trình vận dụng tư tưởng Hồ ChíMinh về đại đoàn kết dân tộc vào sự nghiệp đổi mới hiện nay phụ thuộc trướchết vào vai trò nhận thức của chủ thể Đây là một quá trình chủ thể khôngngừng nhận thức và giải quyết những mâu thuẫn biện chứng giữa khách quanvới chủ quan, giữa lượng và chất, giữa lý luận và thực tiễn Mỗi bước tiếntrên con đường tiệm cận tới chân lý và bản chất của vấn đề là một quá trìnhvận dụng ngày một hiệu quả hơn của chủ thể
1.2.2 Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc vào
sự nghiệp đổi mới ở nước ta phụ thuộc vào vấn đề bổ sung phát triển hệ giá trị tư tưởng của Người
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết được hình thành trong điều kiệnđấu tranh giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc, cho thắng lợi của sự nghiệp khángchiến kiến quốc và trong đấu tranh thống nhất nước nhà Nói một cách khác, tưtưởng về đại đoàn kết của Người gắn với một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của cảdân tộc, đó là đoàn kết trong cuộc đấu tranh chống lại kẻ thù đang trực tiếp đedọa tới lợi ích, sự sống còn của mỗi con người và mỗi gia đình Với một môitrường và hoàn cảnh đặc biệt như vậy, rõ ràng mỗi người, mỗi giai cấp, mỗi tầnglớp trong đại gia đình dân tộc Việt Nam đều có chung một nỗi đau mất nước, cóchung một khát vọng cháy bỏng là giải phóng dân tộc, giành lại quyền sống,quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc cho chính mình Ngoài ra, khi nước mất,nhà tan thì số phận và đời sống của mỗi một thành viên trong cộng đồng dân tộckhông có sự khác biệt Sự đồng cảm của những người cùng cảnh ngộ là mộtnhân tố có thật trong nhiều nhân tố tạo nên khối đại đoàn kết Chính những điểm
Trang 37tương đồng, thống nhất trong lợi ích, số phận và điều kiện sống là nền tảng hếtsức thuận lợi tạo nên sự cố kết, gắn bó giữa các giai tầng trong xã hội vì mục tiêuchung Hồ Chí Minh đã nắm bắt những đòi hỏi khách quan của sự nghiệp cáchmạng, đã đề ra những mục tiêu phản ánh nguyện vọng sâu xa và những quyềnlợi cơ bản nhất của mỗi người, nhờ đó đã quy tụ, đoàn kết được sức mạnh củatoàn dân Hoàn cảnh và yêu cầu của cuộc đấu tranh giải phóng, thống nhất đấtnước là điều kiện, tiền đề để Người hình thành nên những vấn đề cơ bản về vaitrò, lực lượng, phương thức xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc.
Những vấn đề cơ bản trong xác định lực lượng, sức mạnh và phươngthức nhằm thực hiện khối đại đoàn kết trong tư tưởng của Người đã khẳngđịnh tính chân lý trong quá trình tập hợp lực lượng, đã tạo nên một sức mạnh
to lớn góp phần quyết định vào thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giải phóngdân tộc và thống nhất đất nước
Tuy nhiên, cần nhận thức thực tiễn xây dựng khối đại đoàn kết của ngàyhôm nay, của công cuộc đổi mới đất nước khác xa với thực tiễn xây dựng khốiđại đoàn kết trong đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước Bởi vậytrong hoạt động thực tiễn, nếu bê nguyên xi những luận điểm, nguyên tắc, nộidung cũ đã được thực tiễn cũ xác nhận vận dụng một cách máy móc vào hoàncảnh mới sẽ là sai lầm và không thể tránh khỏi thất bại Hồ Chí Minh đã từngcăn dặn chúng ta trong quá trình học tập kinh nghiệm của các nước anh em:
“Không chú trọng đến đặc điểm của dân tộc mình, trong khi học tập kinhnghiệm các nước anh em là sai lầm nghiêm trọng, là phạm phải chủ nghĩa giáođiều” [58, tr.500] Chân lý luôn là cụ thể vì chân lý bao giờ cũng được hìnhthành, khái quát trong một một hoàn cảnh, một không gian và một môi trườngnhất định Vì thế, cái hôm qua đã được thực tiễn xác định là đúng thì hôm nay cóthể lại không đúng và ngược lại, cái lý thuyết trước đây bị bác bỏ nhưng lại cóthể là chân lý của ngày hôm nay Vận dụng tư tưởng của Người cũng vậy, nó làchân lý trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước,
Trang 38nhưng vận dụng mà không tính tới những điều kiện mới, yêu cầu mới của sựnghiệp cách mạng thì nhất định chúng ta sẽ phải trả giá Lênin đã từng cảnh báorằng: “Nếu chỉ bắt chước không có tinh thần phê phán mà đem rập khuôn kinhnghiệm đó một cách mù quáng vào những điều kiện khác, và một hoàn cảnhkhác, như thế là phạm sai lầm nghiêm trọng nhất” Bởi vậy, tư tưởng của Người
về đại đoàn kết dân tộc cần tiếp tục được nghiên cứu, bổ sung và phát triển phùhợp với những yêu cầu, đòi hỏi của công tác tập hợp lực lượng trong điều kiệnhiện nay Sự bổ sung, phát triển hệ giá trị tư tưởng đại đoàn kết là tiền đề quantrọng, là vấn đề lý luận nền tảng có tính chất chỉ đạo, định hướng và quyết địnhtới hiệu quả, chất lượng quá trình vận dụng của các chủ thể
Trong điều kiện hiện nay, bên cạnh những cộng đồng xã hội truyền thốngnhư giai cấp công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức thì đổi mới đã dẫn tới sựxuất hiện những cộng đồng xã hội phân định theo nghề nghiệp, trong đó đặc biệt
sự ra đời của đội ngũ các nhà doanh nhân - một lực lượng quan trọng trong tiếntrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Phần lớn các nhà doanh nhân lànhững trí thức, họ có trình độ khoa học kĩ thuật và trình độ quản lý, có nguồnvốn và khả năng huy động nguồn vốn trong và ngoài nước Thực tế cho thấy,những năm qua, các doanh nhân đã có những đóng góp đặc biệt quan trọng trongcông cuộc phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo Họ đã khơi dậy những nguồnlực to lớn trong nhân dân; đã tạo nên một khối lượng lớn công ăn việc làm chongười lao động; đã biến những nguồn lực ở dạng khả năng, tiềm ẩn trong nhândân thành hiện thực Họ đồng thời là cầu nối trong quá trình hội nhập với các đốitác nước ngoài Thông qua hợp tác trên lĩnh vực kinh tế đã thu hút được mộtnguồn vốn quan trọng, tạo những nền tảng để học hỏi về công nghệ và nâng caonăng lực quản lý Những đóng góp của các doanh nhân đối với sự phát triển củađất nước đã được Đảng, Nhà nước và toàn xã hội ghi nhận, ngày 13/10 hàngnăm được vinh danh là ngày “Doanh nhân Việt Nam”
Trang 39Hiện nay có khoảng gần 3 triệu người Việt Nam đang sinh sống ở nướcngoài, hình thành nên cộng đồng người Việt Nam bao gồm nhiều thành phần,nhiều thế hệ Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có tiềm lực kinh tế nhấtđịnh, có mối quan hệ với nhiều doanh nghiệp, tổ chức kinh tế quốc tế, có khảnăng tìm kiếm đối tác và làm cầu nối với các doanh nghiệp, tổ chức trongnước Trong số họ, có nhiều trí thức có trình độ học vấn và chuyên môn cao;nhiều người giữ những vị trí quan trọng trong các cơ quan, cơ sở nghiên cứu vàđào tạo, các công ty và tổ chức quốc tế Do vậy, họ có điều kiện tiếp cận vớinhững thành tựu mới nhất của khoa học và công nghệ, trong đó có khoa học kỹthuật, khoa học quản lý và kinh doanh Quá trình phát triển kinh tế của đấtnước, kiều bào ta ở nước ngoài đã có những đóng góp quan trọng và thực sựtrở thành một nguồn nội lực trong một hệ thống hợp lực quan trọng Theothống kê, lượng kiều hối mà kiều bào gửi về không ngừng tăng được thể hiệnqua những con số ấn tượng: Năm 2008 là 7,2 tỷ USD; năm 2009 là 6,3 tỷ USD;năm 2010 là trên 8 tỷ USD; năm 2011 trên 9 tỷ USD Năm 2010, lượng kiềuhối gửi về bằng 7,7 % GDP của cả nước (GDP của nước ta năm 2010 là 104,6
tỷ USD) [1] Đó là một nguồn vốn hết sức quý giá đối với sự phát triển kinh tế
và tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước
Sự ra đời của đội ngũ các nhà doanh nhân là sản phẩm, hệ quả của côngcuộc đổi mới; những đóng góp to lớn cùng những khả năng tiềm tàng trongcộng đồng người Việt Nam đang sinh sống ở nước ngoài là một thực tế kháchquan Do đó, lý luận xây dựng khối đoàn kết trong giai đoạn hiện nay khôngthể không tính đến việc tập hợp đội ngũ các nhà doanh nhân, thu hút đông đảokiều bào ta ở nước ngoài vào khối đại đoàn kết toàn dân Đây là vấn đề nhậnthức quan trọng, nếu được cụ thể hóa trong đường lối sẽ là điều kiện thuận lợitạo nên một hợp lực mạnh mẽ thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới
Cùng với lý luận mở rộng thành phần khối đoàn kết thì vấn đề bổ sung, pháttriển phương thức nhằm thực hiện khối đại đoàn kết trong điều kiện hiện nay cũng
Trang 40là một nội dung quan trọng Phương thức mới được xác định trên thực tế có tácdụng chỉ đạo quá trình hiện thức hóa, góp phần quan trọng quyết định hiệu quả,chất lượng của quá trình vận dụng vào xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân hiệnnay.
Khối đoàn kết trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc và thốngnhất đất nước được củng cố, mở rộng bởi Hồ Chí Minh đã sáng suốt đưa vàocương lĩnh của Đảng những mục tiêu phản ánh những đòi hỏi cấp bách củalịch sử và những khát vọng cháy bỏng của người dân Tuy nhiên trong giaiđoạn hiện nay, chúng ta không thể sử dụng và bê nguyên những mục tiêu củacủa giai đoạn đã qua khi quá nhấn mạnh tới nghĩa vụ của cá nhân đối với xãhội, đất nước mà sao nhãng đi việc tìm kiếm và thỏa mãn những lợi ích vậtchất của họ Vì lẽ đó, phương thức xây dựng khối đại đoàn kết trong giai đoạnhiện nay cần được chủ trọng là xây dựng mục tiêu phản ánh nguyện vọng sâu
xa và quyền lợi cơ bản nhất của mọi tầng lớp nhân dân, trong đó giải quyếthài hòa vấn đề lợi ích là một nội dung có tầm quan trọng đặc biệt
Cùng với chú trọng giải quyết hài hòa vấn đề lợi ích, sự bổ sung, pháttriển các hình thức vận động quần chúng nhân dân; phát huy tinh thần khoandung Hồ Chí Minh trong công tác tập hợp lực lượng cũng cần được nhìnnhận Trong đó, khoan dung là sự thừa nhận và tôn trọng sự khác nhau vềthiên hướng, nhân cách, niềm tin của những người trong cùng một cộng đồngdân tộc; là sự chấp nhận những khác biệt về văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng giữa các dân tộc, giai cấp, tầng lớp khác nhau để cùng tồn tại và phát triểntrong hòa bình Khoan dung là lắng nghe, thấu hiểu, chia sẻ, cảm thông những
sự khác biệt miễn sao những khác nhau đó không làm phương hại tới lợi íchchung của cộng đồng mà trước hết là độc lập và thống nhất của Tổ quốc
Những vấn đề như xác định và mở rộng hơn nữa khối đại đoàn kếttrong đó chú trọng tới tập hợp đội ngũ các nhà doanh nhân, kiều bào ta ở nướcngoài; xác định phương thức thực hiện khối đoàn kết trong giai đoạn hiện nay