1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát huy nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới hiện nay (Qua thực tế tỉnh Điện Biên)

99 617 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Huy Nguồn Nhân Lực Các Dân Tộc Thiểu Số Ở Việt Nam Trong Sự Nghiệp Đổi Mới Hiện Nay (Qua Thực Tế Tỉnh Điện Biên)
Trường học Trường Đại Học Điện Biên
Thể loại Luận văn
Thành phố Điện Biên
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 806,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát huy nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới hiện nay (Qua thực tế tỉnh Điện Biên). Tham khảo luận văn - đề án 'luận văn phát huy nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số ở việt nam...

Trang 1

Luận văn Phát huy nguồn nhân lực các dân tộc thiểu

số ở Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới hiện

nay (Qua thực tế tỉnh Điện Biên)

Trang 2

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong xã hội văn minh hiên đại, con người được khẳng định là “nguồn lực của mọi nguồn lực” là tài nguyên to lớn của mỗi quốc gia

Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có chương trình mang tính chất chiến lược về đầu tư và phát triển nguồn lực con người của riêng mình, hướng theo một nguyên tắc chung là:

Đặt con người vào trung tâm của sự phát triển kinh tế - xã hội Sự thành bại của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi nước đang tuỳ thuộc vào những bí quyết về đào tạo, sử dụng và phát huy nguồn lực con người

Đảng Cộng sản Việt Nam đã có nhiều chính sách phát triển nguồn lực con người Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: "đáp ứng yêu cầu

về con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá" Vì vậy, chăm lo đào tạo, bồi dưỡng và phát huy nguồn nhân lực là nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001- 2020 của các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương trong cả nước

Do đặc điểm cấu trúc địa hình nước ta, dân tộc thiểu số sống rải rác khắp các tỉnh trong cả nước, đặc biệt là miền núi có tầm quan trọng chiến lược trên nhiều phương diện Đảng và Nhà nước Việt Nam rất quan tâm đến việc sử dụng và đào tạo cán bộ người dân tộc thiểu số và xem đây là lực lượng chủ yếu tại địa phương để thúc đẩy sự phát triển toàn diện về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của miền núi nói riêng và cả nước nói chung

Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị (khoá VI) đã vạch rõ những chủ trương, chính sách lớn nhằm phát triển kinh tế xã hội miền núi Đó là phương

Trang 3

hướng quan trọng mang tinh thần đổi mới đối với vùng đồng bào các dân tộc thiểu số

Sau hơn 10 năm đổi mới, miền núi đã đạt được kết quả đáng mừng: nhiều mô hình mới phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo xuất hiện, việc chỉnh đốn tổ chức Đảng, chính quyền và kiện toàn đội ngũ cán bộ, tích cực đưa đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn ngày càng được tăng cường Những kết quả trên có được là nhờ sự đóng góp công sức của lực lượng lao động các dân tộc thiểu số, trong đó có lực lượng lao động có trí tuệ của tất cả các dân tộc thiểu số

Điện Biên là một tỉnh đông dân, với 3,5 triệu người, nguồn lao động dồi dào nhưng chất lượng nguồn nhân lực còn thấp chưa đáp ứng được yêu cầu mà công cuộc đổi mới trên địa bàn đòi hỏi

Miền núi Điện Biên chiếm 2/3 diện tích tự nhiên của toàn tỉnh với số dân gần 1 triệu người, gồm có 26 dân tộc anh em cùng chung sống, là vùng rừng núi rộng lớn tiềm năng đất đai, tài nguyên và lao động phong phú, nhưng trong thực tế vẫn chưa khai thác đầy đủ về nguồn nhân lực hiện có Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng nguồn nhân lực làm cơ sở đề xuất các giải pháp nhằm phát huy nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số tỉnh Điện Biên trong công cuộc đổi mới hiện nay có ý nghĩa vô cùng quan trọng cả về lý luận và thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề con người là một trong những vấn đề trung tâm của triết học và các học thuyết chính trị xã hội Từ xưa đến nay mỗi trường phái triết học cũng như mỗi học thuyết chính trị xã hội nghiên cứu con người với góc độ khác nhau,trong đó tập trung chủ yếu bàn về mối quan hệ giữa con ngưới với giới

tự nhiên, giữa con người với con người và với xã hội loài người ở Việt Nam vấn đề con người được nhiều nhà khoa học và lý luận nghiên cứu, đặc biệt

Trang 4

trong những năm gần đây có nhiều công trình nghiên cứu con người Việt Nam nói chung và dân tộc thiểu số nói riêng tạo nguồn lực tổng hợp đưa đất nước phát triển Đó là:

- Nguyễn Thế Nghĩa với “Nguồn nhân lực, động lực của CNH - HĐH

đất nước”, Tạp chí Triết học, số 1 - 1996

- Nghiên cứu văn hoá, con người, nguồn nhân lực đầu thế kỷ XXI

(2003) tư liệu hội thảo Quốc tế của đề tài nghiên cứu khoa học KX - 05 tổ

chức tại Hà Nội

- Phát triển nguồn nhân lực, kinh nghiệm thế giới và kinh nghiệm nước

ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996

- Phan Thanh Phố - An Như Hải với “Phát triển nguồn nhân lực để

công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Tạp chí Kinh tế và phát triển, số

3/1995

- “Phát huy vai trò nhân tố con ngời trong sự nghiệp đổi mới hiện nay”

của Đinh Lục, Luận văn thạc sĩ Triết học, 1993

- Đổi mới tư duy trong nghiên cứu lý luận và thực tiễn về vấn đề dân

tộc ở nước ta để thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng trong giai đoạn mới của Hoàng Thương Minh, Tạp chí Dân tộc học, số 1+2 - 1988

- Một số suy nghĩ trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề

dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Trần Đình

Huỳnh, Tạp chí Dân tộc học, số 3 - 1988

- Một số vấn đề về cán bộ dân tộc học thiểu số của Vũ Phòng, Tạp chí

Cộng sản, số 5 - 1993

- Nguyễn Quốc Phẩm, Hệ thống chính phủ cấp cơ sở và dân chủ hoá

đời sống XH nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000

Trang 5

- Hà Quế Lâm, Xoá đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta

hiện nay - Thực trạng và giải pháp, sách tham khảo, Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội, 2002

- Nguyễn Xuân Thắng, Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận lãnh đạo thực hiện

chính sách dân tộc thời kỳ 1992 - 2000, Luận án tiến sĩ Lịch sử, Học viện

Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2002

- Trịnh Quang Cảnh, Trí thức người dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong

công cuộc đổi mới (chủ yếu ở vùng dân tộc thiểu số phía Bắc)

- Xây dựng đội ngũ cán bộ thiểu số ở nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh

CNH, HĐH: Luận cứ và giải pháp, Tạp chí Lý luận chính trị, 2005

- Lê Hữu Nghĩa Một số vấn đề về xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo

chủ chốt cấp huyện các dân tộc ở Tây nguyên

- Về một số chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội miền núi,

Bộ Chính trị, Nghị quyết 22/NQ/TW ngày 27/11/1989

- Phạm Như Cương, Đi đến một nhận thức về vấn đề dân tộc và quan

hệ dân tộc, Tạp chí Dân tộc học, số 11-1989, tr.3

- Trần Quang Nhiếp, Đổi mới trong việc thực hiện chính sách dân tộc

hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số 4-1988, tr.12

- Tạ Nghiêm, Cần có một chính sách dân tộc toàn diện và hoàn chỉnh,

một cơ cấu giải quyết vấn đề dân tộc thích ứng với tình hình mới, Tạp chí Dân

tộc học, số 3-1990, tr.13

- Nông Đức Mạnh (1992), Mấy vấn đề bức thiết đối với các vùng dân

tộc thiểu số hiện nay, Tạp chí Cộng sản, số 8-1992, tr.1

- Hà Quế Lâm, Làm tốt công tác đào tạo các hộ dân tộc thiểu số và cán

bộ miền núi, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 7-1990, tr.23

Rõ ràng, đề tài đã được nghiên cứu ở những mức độ khác nhau trên nhiều bình diện cả về lý luận cũng như về thực tiễn Tuy nhiên, đây là mảng

đề tài cũ luôn hàm chứa những vấn đề mới, nhất là trong tình hình công cuộc

Trang 6

đổi mới hiện nay Hơn nữa, như nhiều tác giả khẳng định, đây là mảng đề tài khó, phức tạp, những vấn đề họ đặt ra cũng như chưa có điều kiện đặt ra đầy

đủ luôn cần có sự đầu tư nghiên cứu thêm để có những kiến giải sâu sắc, khoa

học hơn Vì vậy, luận văn " Phát huy nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số ở

Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới hiện nay (Qua thực tế tỉnh Điện Biên)"

hy vọng sẽ đóng góp phần nhỏ và tình hình chung đó

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích: Trên cơ sở phân tích tình hình sử dụng và phát huy

nguồn lực con người các dân tộc thiểu số ở nước ta, luận văn đề xuất một số giải pháp phát huy nguồn lực con người các dân tộc thiểu số ở Điện Biên trong sự nghiệp đổi mới hiện nay

3.2 Nhiệm vụ:

- Phân tích nguồn lực con người các dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay

- Nghiên cứu đánh giá thực trạng sử dụng và phát huy nguồn lực con người các dân tộc thiểu số ở nước ta, từ đó đề ra một số phương hướng và giải pháp nhằm phát huy nguồn lực con người các dân tộc thiểu số ở Điện Biên sự nghiệp đổi mới hiện nay

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của luận văn

- Vấn đề phát huy nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số của nước ta nói chung đặc biệt là ở tỉnh Điện Biên

- Phạm vi địa bàn khảo sát là tỉnh Điện Biên

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

- Luận văn vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng, Nhà nước về nguồn lực con người,

về chính sách dân tộc, nâng cao nguồn lực dân tộc thiểu số trong việc phát triển đất nước

- Luận văn vận dụng, kế thừa công trình các tác giả đi trước về vấn đề này

Trang 7

- Luận văn sử dụng phương pháp: lịch sử và logic, trừu tượng và cụ thể, phân tích và tổng hợp, điều tra, thống kê, xã hội học…

- Luận văn sử dụng những tài liệu của các cấp chính quyền, các ngành ở tỉnh Điện Biên

6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn

Luận văn góp phần đánh giá thực trạng việc sử dụng, phát huy nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số ở Điện Biên Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp chủ yếu để từng bước phát huy nguồn lực con người các dân tộc thiểu số trên địa bàn này nhằm đáp ứng yêu cầu trong sự nghiệp đổi mới hiện nay

7 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Những kết luận được rút ra và những giải pháp được trình bày trong luận văn nhằm phát huy nguồn lực con người các dân tộc thiểu sổ ở Việt nam hiện nay

- Là tài liệu tham khảo ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số cho việc xây dựng, hoạch định chính sách của Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp phát huy nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp đổi mới đất nước nói chung và tỉnh Điện Biên nói riêng

8 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương, 8 tiết

Trang 8

Chương 1 vấn đề phát huy nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số ở Việt Nam

1.1 Quan điểm mác xít về phát huy nguồn nhân lực

1.1.1 Con người và nguồn nhân lực

- Vấn đề con người:

Vấn đề con người, nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực là một trong những mục tiêu quan trọng của mỗi quốc gia và toàn th giới Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội Trong nhiều thế kỷ, người ta đã bị ám ảnh bởi cảnh nghèo đói đe doạ và mong muốn thoát khỏi nguy cơ này, vươn tới cuộc sống no đủ, hạnh phúc hơn Đó là nguyện vọng chính đáng Từ những năm 90 của thế kỷ XX trở lại đây, sự phát triển con người và nguồn nhân lực được liên hợp quốc thừa nhận là vấn đề trung tâm và là thước đo để đánh giá, xếp loại mức độ phát triển của mỗi quốc gia

Hơn 100 năm trước, khi coi tiến trình phát triển lịch sử của xã hội loài người là sự phát triển nối tiếp nhau của các hình thái kinh tế xã hội, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin đã cho rằng, xu hướng chung của tiến trình phát triển lịch sử được quy định bởi sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, bao gồm con người và những công cụ lao động do con người tạo ra Sự phát triển lực lượng sản xuất tự nó nói lên trình độ phát triển của xã hội qua việc con người chiếm lĩnh, sử dụng ngày càng nhiều nguồn lực tự nhiên với tư cách là cơ sở vật chất cho hoạt động sống của chính con người và quyết định quan hệ giữa người với người trong sản xuất vật chất Sản xuất vật chất ngày càng phát triển, tính chất xã hội của sản xuất ngày càng gia tăng, việc tiến hành sản xuất tập thể bằng lực lượng của toàn xã hội và sự phát triển mới của nền sản xuất do việc đó mang lại, sẽ cần đến con người hoàn toàn mới, những

Trang 9

con người có năng lực phát triển toàn diện, đủ sức tinh thông toàn bộ hệ thống sản xuất Đến lượt mình nền sản xuất đó "sẽ tạo nên những con người mới",

sẽ làm cho những thành viên trong cả cộng đồng xã hội "có năng lực phát triển toàn diện" Điều đó cho thấy, trong quan niệm của các nhà máy sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin, phát triển sản xuất vì tiến bộ xã hội, vì cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn cho mọi thành viên trong cộng đồng, vì phát triển con người biết sử dụng ngày càng có hiệu quả tiềm năng sáng tạo của chính mình

để "sản xuất ra những con người phát triển toàn diện" Hơn nữa, C Mác còn coi sự kết hợp chặt chẽ giữa phát triển sản xuất và phát triển con người là

"một trong những biện pháp mạnh nhất để cải biến xã hội

Trong học thuyết duy vật lịch sử của mình, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin coi con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất, là yếu tố hàng đầu trong lực lượng sản xuất,mà hơn thế nữa, con người còn là chủ thể của lịch sử Con người vừa là điểm xuất phát, vừa là điểm mục tiêu, vừa là trung tâm của mọi biến đổi lịch sử Thông qua hoạt động sản xuất vật chất, con người sáng tạo ra lịch sử của chính mình, lịch sử của xã hội loài người Cũng trong quá trình hoạt động sản xuất vật chất, con người tự hoàn thiện chính bản thân mình Theo C.Mác, Ph.Ăngghen, các lĩnh vực hoạt động

cơ bản đó là cơ sở để phát triển con người Do vậy, "tiền đề đầu tiên của toàn

bộ lịch sử nhân loại là sự tồn tại của những cá nhân con người sống", đó là những con người hiện thực, "bằng xương bằng thịt" [25, tr.29] với hoạt động sản xuất vật chất của họ và trong những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ

Từ quan niệm đó, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định: Sự phát triển lực lượng sản xuất, trước hết phải có nghĩa là "phát triển sự phong phú của bản chất con người, coi như là một mục đích tự thân" Theo đó, ý nghĩa lịch sử, mục đích cao cả của sự phát triển và tiến bộ xã hội là sự phát

Trang 10

triển con người, nâng cao năng lực và phẩm giá con người, để con người được sống với cuộc sống đích thực là người

Con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất, là yếu

tố hàng đầu, đóng vai trò quyết định trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, mà nó còn là chủ thể của quá trình lịch sử, của sự tiến bộ xã hội Bằng hoạt động lao động sản xuất, con người đã cải tạo tự nhiên để thoả mãn những nhu cầu của mình, đồng thời cải tạo chính bản thân mình Ph Ăngghen đã viết "lao động là nguồn gốc của mọi của cải, là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào

đó, chúng ta phải nói: lao động đã sáng tạo ra bản thân con người" [26, tr.641] Sống trong tự nhiên, con người không chỉ dựa vào tự nhiên, mà trong quá trình tác động vào tự nhiên, con người còn cải biến tự nhiên ấy và trên cơ

sở đó, sáng tạo ra những điều kiện đảm bảo cho sự sinh tồn của bản thân mình, sáng tạo ra lịch sử của chính bản thân mình Con người chinh phục, cải biến tự nhiên không phải chỉ với tư cách là những cá nhân riêng lẻ, mà còn với tư cách là những thành viên trong một cộng đồng xã hội Sống trong một cộng đồng xã hội, con người tất yếu có quan hệ với nhau, trao đổi hoạt động với nhau, nhất là trong hoạt động lao động sản xuất Con người không thể tách rời tự nhiên Nó chỉ có thể tồn tại và phát triển dựa vào tự nhiên và trên

cơ sở làm biến đổi tự nhiên Không có tự nhiên và xã hội thì con người không thể tiến hành sản xuất được Song, đến lượt mình, sản xuất xã hội lại trở thành điều kiện tiên quyết để con người cải biến tự nhiên, biến đổi xã hội, trở thành nhân tố quyết định trực tiếp sự tồn tại và phát triển của con người, của cả xã hội loài người Trình độ sản xuất của con người càng cao thì con người càng

có điều kiện để thoả mãn những nhu cầu vật chất của mình và do vậy, cũng làm phong phú thêm đời sống xã hội, đời sống tinh thần của con người Qua

Trang 11

đó, con người tự hoàn thiện chính bản thân mình, phát triển chính mình và thúc đẩy xã hội phát triển

Như vậy, có thể nói, trong quan niệm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin, thực chất của tiến trình phát triển lịch sử xã hội loài người là vì con người, vì sự phát triển con người, đưa con người "từ vương quốc của tất yếu sang vương quốc của tự do", làm cho "con người, cuối cùng làm chủ tồn tại xã hội của chính mình thì cũng do đó mà làm chủ tự nhiên, làm chủ cả bản thân mình, trở thành người tự do" Đó cũng chính là quá trình mà nhân loại tự tạo ra những điều kiện, những khả năng nhằm đem lại sự phát triển cho mỗi con người trong cộng đồng, tạo cho con người năng lực làm chủ tiến trình lịch

sử và làm chủ mọi hoạt động của chính mình

Quan niệm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin về tiến bộ và sự phát triển xã hội lấy sự phát triển của con người làm mục đích càng phải được khẳng định trong thời đại ngày nay Bởi lẽ, ngày nay, nhân loại đang sống trong bối cảnh quốc tế đầy những biến động, cộng đồng thế giới đang thể hiện hết sức rõ ràng tính đa dạng trong các hình thức phát triển của nó Xã hội loài người, kể từ thời tiền sử cho đến nay, bao giờ cũng là một hệ thống, chỉnh thể, thống nhất song cũng đồng thời là một hệ thống hết sức phức tạp, đa dạng Chính sự phức tạp và đa dạng trong tiến trình phát triển lịch sử xã hội đã tạo nên tính không đồng đều trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở các nước, các khu vực, các châu lục khác nhau - điều mà cách đây hơn 80 năm, V I Lênin

đã gọi là quy luật phát triển kinh tế không đồng đều Đến lượt mình, tính không đồng đều của sự phát triển này lại hình thành nên những khuynh hướng hết sức đa dạng về phát triển xã hội Song, dù phát triển theo hướng nào thì cuối cùng xu hướng chung của sự phát triển xã hội dưới sự tác động của các lực lượng tiến bộ cũng hướng tới giá trị nhân văn của nó - tới sự phát triển

Trang 12

con người, hoàn thiện con người với tư cách là chủ thể của sự phát triển xã hội

Không phải cho đến nay chúng ta mới nhận thấy điều đó, mà ngay từ buổi đầu tiến hành sự nghiệp cách mạng của mình, Đảng ta đã nhiều lần khẳng định, con người là vốn quý nhất, chăm lo hạnh phúc của con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta Chăm lo hạnh phúc của mọi người, mọi nhà đã được Đảng ta đặt lên vị trí hàng đầu và coi đó là nhiệm vụ trung tâm

Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi nói đến con người với tư cách là "người chủ

xã hội" là cái "vốn quý nhất", là lực lượng xây dựng thành công CNXH, Người không chỉ nói đến trí tuệ, tài năng, sức khoẻ của con người, mà còn nói tới nhiều yếu tố khác của con người, trong đó có những giá trị xã hội được kết tinh trong bản thân từng con người thông qua hoạt động thực tiễn cách mạng

và cải tạo xã hội Nói đến con người XHCN với tư cách lực lượng đóng vai trò quyết định sự thành công của sự nghiệp xây dựng CNXH trên đất nước ta, Người nói đến tính hướng đích, tính định hướng về giá trị, phẩm cách, sự phát triển toàn diện và không ngừng vươn lên của con người trong việc cải tạo và xây dựng xã hội mới bằng hoạt động lao động sáng tạo của mình Với quan điểm về sự phát triển con người toàn diện, trong suốt những năm tháng lãnh đạo công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú trọng đến việc giáo dục và thường xuyên nâng cao trình độ văn hoá, khoa học

kỹ thuật cho mọi người, không ngừng đào tạo "các lớp nhân tài" đồng thời không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho mọi tầng lớp nhân dân về ăn, mặc, ở, đi lại, học hành

Quán triệt quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng, cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Đảng ta một lần nữa khẳng định chủ trương "phát huy nhân tố con người trên cơ sở đảm bảo công

Trang 13

bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ của công dân; kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần; giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài; giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội" [5, tr.13]

Với thực tiễn của hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới ở nước ta, với bối cảnh quốc tế và khu vực hiện thời, để phát triển con người Việt Nam,

để "bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người" chúng ta "nhất thiết phải từng bước hiện đại hoá đất nước và đời sống xã hội Chính vì thế mọi kế hoạch xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội phải được đặt trong mối liên hệ không thể tách rời với kế hoạch đầu tư cho chính sự phát triển về nhân cách, trí tuệ, tình cảm, niềm vui và hạnh phúc của mỗi người, mỗi gia đình và cả cộng đồng dân tộc Việt Nam, cho việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực nhiều về số lượng, mạnh về chất lượng, đủ sức đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của

sự nghiệp đổi mới đất nước

Công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay đang bước vào thời kỳ mới Nó đòi hỏi chúng ta phải nhận thức một cách sâu sắc, đầy đủ những giá trị to lớn

và có ý nghĩa quyết định của nhân tố con người - chủ thể của mọi sáng tạo, nguồn "tài nguyên vô giá", vô tận của đất nước Từ đó phải đổi mới cách nhìn, cách nghĩ về vai trò động lực và mục tiêu của con người trong sự nghiệp đổi mới Thực hiện chiến lược phát triển con người, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực phải coi việc bồi dưỡng, phát huy nhân tố con người Việt Nam hiện đại như một cuộc cách mạng - cách mạng về con người Chính cuộc cách mạng về con người sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ cho sự phát triển bền vững, đẩy mạnh tiến độ công cuộc đổi mới, thúc đẩy quá trình đổi mới toàn diện đất nước Với ý nghĩa đó, con người Việt Nam không chỉ là mục tiêu, mà còn là động lực của quá trình đổi mới đất nước

Trang 14

có khả năng tái sinh", "nguồn lực của mọi nguồn lực", "nguồn lực cơ bản",

"lực lượng sản xuất hàng đầu" Nhân lực được hiểu là nguồn lực của con người bao gồm: Trí thức, tâm lực, thể lực, năng lực

Nguồn lực (Human Rersources) theo nghĩa rộng là tổng thể các tiềm năng (lao động) của con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địa phương đã được chuẩn bị ở mức độ nào đó, có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước (hoặc một vùng, một địa phương

cụ thể) Với cách tiếp cận này, nguồn nhân lực như một bộ phận cấu thành các nguồn lực của quốc gia như nguồn lực vật chất (trừ con người), nguồn lực tài chính, nguồn lực trí tuệ (chất xám) Những nguồn lực này có thể được huy động một cách tối ưu để phát triển kinh tế - xã hội

Nguồn nhân lực được nghiên cứu trên giác độ số lượng và chất lượng

Số lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc

độ tăng nhân lực Các chỉ tiêu này có liên quan mật thiết tới chỉ tiêu quy mô

và tốc độ tăng dân số

Chất lượng nguồn nhân lực được nghiên cứu trên các khía cạnh về sức khoẻ, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực phẩm chất Theo nghĩa tương đối hẹp: Nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lao động Khái niệm người lao động hiện nay cũng có những khác biệt giữa các quốc gia Chẳng hạn:

Trang 15

+ ở Liên Xô (cũ): Nguồn lao động là toàn bộ những người lao động

dưới dạng tích cực (đang tham gia lao động) và dạng tiềm tàng (có khả năng lao động nhưng chưa tham gia lao động)

+ ở Pháp: Nguồn lao động là toàn bộ những người có khả năng lao

động (đang làm việc và chưa làm việc nhưng không bao gồm những người có khả năng lao động nhưng chưa tham gia)

+ ở Việt Nam: Hiện nay tương đối thống nhất hiểu nguồn lao động gồm

những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm (gồm cả những người trên tuổi lao động, thực tế đang làm việc) và những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng chưa làm việc do: Thất nghiệp, đang đi học, đang làm nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu làm việc

Theo nghĩa hẹp hơn: Nguồn nhân lực là toàn bộ lực lượng lao động trong nền kinh tế quốc dân (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế), nghĩa là bao gồm những người trong một độ tuổi nhất định nào đó, có khả năng lao động, thực tế đang có việc làm và những người thất nghiệp Về độ tuổi, hiện nay có nhiều quy định khác nhau Đa số các nước có quy định tối thiểu thường là 15 tuổi, còn tối đa thường trùng với tuổi nghỉ hưu hoặc không giới hạn

ở Việt Nam, lực lượng lao động bao gồm những người trong độ tuổi lao động, đang có việc làm; những người ngoài độ tuổi lao động thực tế làm việc

và những người thất nghiệp; nghĩa là không bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang đi học; đang làm nội trợ trong gia đình; không có nhu cầu làm việc

- Các khái niệm liên quan đến nguồn nhân lực:

+ Đội ngũ lao động là những người lao động trong nguồn nhân lực đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân (còn gọi là dân số hoạt động kinh tế tích cực) Đây là bộ phận quan trọng nhất đối với nguồn nhân lực của mỗi

Trang 16

quốc gia, có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tăng trưởng và phát triển kinh

tế nói chung và phát triển kinh tế - xã hội nói riêng Vì vậy, vấn đề mở rộng

và nâng cao chất lượng đội ngũ lao động nhằm phát huy tàon bộ nguồn nhân lực luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm

+ Vốn nhân lực là khái niệm tương đối mới, vốn nhân lực được hiểu là tiềm năng và khả năng phát huy tiềm năng về sức khoẻ, kiến thức của các cá nhân và là cái mang lại lợi ích trong tương lai cao hơn và lớn hơn những lợi ích hiện tại Khái niệm "vốn" được hiểu là giá trị mang lại lợi ích (kinh tế - xã hội), để chỉ ra tầm quan trọng của việc đầu tư vào phát triển con người thông qua giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khoẻ nhằm tạo ra những người lao động

có tri thức, có khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, có kỹ năng nghề nghiệp và có sức khoẻ đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao của công việc Như vậy, không phải bất cứ con người nào cũng có thể trở thành vốn nhân lực được Bởi lẽ, cũng giống như các nguồn lực khác, để có thể đem lại lợi ích thì bản thân nó phải có giá trị Giá trị vốn nhân lực ở đây chính là giá trị sức lao động Giá trị này cao hay thấp phụ thuộc vào trình độ và khả năng nghề nghiệp của mỗi người Nói một cách khác, để trở thành vốn nhân lực, con người phải được giáo dục, được đào tạo để có những kiến thức chuyên môn càng cao, có sức khoẻ tốt

- Vấn đề phát huy nguồn nhân lực:

Phát huy nguồn nhân lực là sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực được biểu hiện qua các mặt cơ cấu, thế lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cần thiết cho công việc; nhờ vậy mà phát triển được năng lực của họ, ổn định được công ăn việc làm, nâng cao địa vị kinh tế - xã hội của họ và cuối cùng là đóng góp cho sự phát triển

Trang 17

Phát huy nguồn nhân lực là hoạt động nhằm tạo ra nguồn nhân lực đông đảo đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong mỗi giai đoạn phát triển cả về quy mô, cơ cấu, số lượng và chất lượng

Thực chất, phát huy nguồn nhân lực là quá trình tăng về số lượng và nâng cao về chất lượng nguồn nhân lực nhằm tạo ra quy mô và cơ cấu ngày càng phù hợp với nhu cầu về nhân lực phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế -

xã hội Số lượng và chất lượng luôn gắn bó với nhau và ảnh hưởng lẫn nhau

Về mặt số lượng là tăng nguồn lao động (con người) Chất lượng bao gồm sức khoẻ, trình độ chuyên môn kỹ thuật và các phẩm chất cá nhân

Nghị quyết Trung ương lần thứ bảy (khoá VII) đã đề ra chủ trương phát triển nguồn nhân lực đồng bộ với công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đây là một chủ trương lớn rất quan trọng, đánh dấu bước chuyển giai đoạn của nền kinh tế - xã hội của đất nước ta giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hiện đại hoá Phát huy nguồn nhân lực đáp ứng sự nghiệp đổi mới đất nước bao gồm các lĩnh vực như nâng cao chất lượng dân số, giáo dục, đào tạo, đảm bảo sức khoẻ, dạy nghề, tạo việc làm, quản lý và sử dụng có hiệu quả nhân lực

Với cơ cấu và thực trạng dân số lao động của nước ta và nhu cầu phát triển thị trường lao động trong những năm tới, chúng ta cần và có thể phát huy nguồn nhân lực một cách toàn diện theo các bình diện trên Như vậy, phát huy nguồn nhân lực là quá trình biến đổi nhằm phát triển, khơi dậy những khả năng con người về năng lực vật chất và năng lực tinh thần, tạo dựng và ngày càng nâng cao, hoàn thiện cả về đạo đức, tay nghề, tâm hồn và hành vi từ trình độ chất lượng, sử dụng có hiệu quả hơn nguồn nhân lực trong sự nghiệp đổi mới đất nước

1.1.2 Các đặc trưng cơ bản của nguồn nhân lực

Trang 18

- Đặc trưng về sinh học

Triết học Mác - Lênin khẳng định, lao động là hoạt động bản chất của con người Con người bằng hoạt động lao động của mình đã làm biến đổi bản chất tự nhiên và tạo ra bản chất xã hội của chính mình Con người không chỉ sống trong môi trường tự nhiên, mà còn sống trong môi trường xã hội, nên tự nhiên và xã hội trong mỗi con người không phải tồn tại cạnh nhau, mà hoà quyện vào nhau Bản chất tự nhiên của con người chuyển vào hoạt động xã hội của con người và được cải biến ở trong đó, tạo nên con người trong thể thống nhất: tự nhiên và xã hội

Quan điểm Mác - Lênin cho rằng: Hoạt động của con người chủ yếu là hoạt động sản xuất, hoạt động cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội và thông qua những hoạt động này, con người cải tạo chính bản thân mình, làm cho con người ngày càng hoàn thiện Chính những hoạt động này đã làm thay đổi mặt sinh vật không con người và làm cho nó ngày càng gần tính người hơn và cũng chính hoạt động thực tiễn ấy đã làm cho nhu cầu sinh vật ở con người trở thành nhu cầu xã hội Ph Ăngghen đã viết: Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người và như thế đến mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: Lao động sáng tạo ra bản thân con người

- Đặc trưng về số lượng:

Được xác định dựa trên quy mô, cơ cấu tuổi, giới tính và sự phân bố theo khu vực và vùng lãnh thổ ở nước ta, số lượng nguồn nhân lực được xác định bao gồm tổng số người trong độ tuổi lao động (nam 15 - 60, nữ 15 - 55)

vì người lao động phải ít nhất đủ 15 tuổi và được hưởng chế độ hưu trí hàng năm khi có đủ điều kiện về tuổi đời (nam 60, nữ 55) và thời gian đóng bảo hiểm xã hội (20 năm trở lên) Đây là lực lượng lao động tiềm tàng của xã hội Luật lao động đã quy định giới hạn của độ tuổi lao động đối với nam 60, nữ là

55 Việc quy định này xuất phát từ tính ưu việt của chế độ xã hội nước ta, ưu

Trang 19

tiên phụ nữ được quyền nghỉ hưu sớm hơn nam giới 5 tuổi do phải sinh đẻ, nuôi dạy và chăm sóc trẻ em mà thể lực bị giảm sút (cũng như sự ưu tiên đối với người lao động trong một số ngành, vùng đặc biệt ) trong điều kiện kinh

tế chưa phát triển mạnh Sau hơn 50 năm thực hiện, đến nay chính sách ưu tiên đã bộc lộ một số hạn chế trong việc phát triển và nâng cao năng lực, địa

vị của người phụ nữ trong xã hội, vì thời gian về hưu sớm cùng với những hoàn cảnh khác chi phối nên nhiều cơ quan, đơn vị đã hạn chế việc đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt đối với lao động nữ Do đó số lượng tỷ lệ phụ nữ đạt trình

độ học vấn cao cũng như trong các vị trí lãnh đạo có xu hướng giảm Trong thực tế, tuổi thọ của người phụ nữ cao hơn nam giới Do sinh đẻ ít hơn ổ độ tuổi sau 40 tuổi, khi con đã lớn, gia đình ổn định, người phụ nữ có điều kiện học tập, nâng cao trình độ và làm việc tốt hơn Nhiều kết quả nghiên cứu y học lao động đã khẳng định, khả năng lao động cơ bắp của người phụ nữ luôn luôn kém hơn nam giới ở mọi lứa tuổi, nhưng lao động trí tuệ thì không kém hơn Nhờ tiến bộ kỹ thuật của thời đại, lao động trí tuệ ngày càng phát triển, lao động cơ bắp ngày càng giảm xuống cùng với sự phát triển nhanh chóng của dịch vụ cho phép phụ nữ tham gia ngày càng nhiều hơn vào các hoạt động

xã hội Đây cũng là một điều kiện đảm bảo quyền bình đẳng và phát triển vì

sự tiến bộ của phụ nữ nói riêng và phát triển nguồn nhân lực nói chung

Sự gia tăng dân số là cơ sở để hình thành và gia tăng nguồn nhân lực

Sự gia tăng dân số sau 15 năm sẽ kéo theo sự gia tăng nguồn nhân lực Nhưng nhịp độ tăng dân số chậm lại cũng không làm giảm ngay lập tức nhịp độ tăng nguồn nhân lực

- Đặc trưng về chất lượng:

Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện trạng thái nhất định của nguồn nhân lực với tư cách vừa là một khách thể vật chất đặc biệt vừa là chủ thể của mọi hoạt động kinh tế và các quan hệ xã hội Chất lượng nguồn nhân lực là tổng thể những nét đặc trưng, phản ánh bản chất, tính đặc thù liên quan trực

Trang 20

tiếp tới hoạt động sản xuất và phát triển con người Do đó, chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp, bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái thể lực, trí lực, năng lực, phong cách đạo đức, lối sống và tinh thần của nguồn nhân lực: Trạng thái sức khoẻ, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, cơ cấu nghề nghiệp, thành phần xã hội, trong đó, trình độ học vấn là yếu tố quan trọng nhất vì nó không chỉ là cơ sở để đào tạo kỹ năng nghề nghiệp mà còn là yếu tố hình thành nhân cách, là lối sống của mỗi con người Chất lượng nguồn nhân lực liên quan đến nhiều lĩnh vực như đảm bảo dinh dưỡng và chăm sóc sức khoẻ, giáo dục và đào tạo, lao động và việc làm gắn với tiến bộ kỹ thuật, trả công lao động và các mối quan hệ xã hội khác Chất lượng nguồn nhân lực cao có tác động làm tăng năng suất lao động Trong thời đại tiến bộ kỹ thuật, một nước cần và có thể đưa chất lượng nguồn nhân lực vượt trước trình độ phát triển của cơ sở vật chất trong nước để sẵn sàng đón nhận tiến bộ kỹ thuật - công nghệ, hoà nhập với nhịp độ phát triển của nhân loại

1.2 tầm quan trọng của việc phát huy nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới hiện nay

1.2.1 Một vài nét về nguồn nhân lực các dân tộc ở Việt Nam

Cả nước ta hiện có 54 dân tộc Trong số 54 dân tộc, có những dân tộc vốn sinh ra và phát triển trên mảnh đất Việt Nam ngay từ thuở ban đầu, có những dân tộc từ nơi khác lần lượt di cư đến nước ta Do vị trí nước ta giao lưu hết sức thuận lợi nên nhiều dân tộc ở các nước xung quanh vì nhiều nguyên nhân đã di cư từ bắc xuống, từ nam lên, từ tây sang, chủ yếu từ bắc xuống, rồi định cư trên lãnh thổ nước ta Những đợt di cư nói trên kéo dài mãi cho đến trước cách mạng tháng 8/1945, thậm chí có bộ phận dân cư còn chuyển đến nước ta sau năm 1945 Đây là những đợt di cư lẻ tẻ, bao gồm một

số dân tộc đồng tộc

Trang 21

Trọng cộng đồng dân tộc Việt Nam, dân số giữa các dân tộc rất không đều nhau, có dân tộc số lượng dân trên một triệu người như Tày, Thái nhưng cũng có dân tộc chỉ vài trăm người như Pu Péo, Ró-măm, Brâu Trong đó dân tộc Kinh là dân tộc đa số

Tuy số dân có sự chênh lệch đáng kể, nhưng các dân tộc vẫn coi nhau như anh em một nhà, quý trọng, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau, chung sức xây dựng và bảo vệ tổ quốc, cả khi thuận lợi cũng như lúc khó khăn ở nước

ta không có tình trạng dân tộc đa số cưỡng bức, đồng hoá, thôn tính các dân tộc ít người, do đó cũng không có tình trạng dân tộc ít người chống lại dân tộc

đa số Ngày nay trước yêu cầu phát triển mới của đất nước, các dân tộc anh

em trên đất nước ta tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, tăng cường đoàn kết, nỗ lực phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên CNXH

Trong cộng đồng dân tộc Việt Nam - tổ quốc của nhiều dân tộc với giang sơn núi trùng điệp, đồng bằng sải cánh cò bay và biển Đông bốn mùa sóng vỗ; bờ cõi liền một dải từ chỏm Lũng Cú (Bắc) đến xóm Rạch Tàu (Nam), từ đỉnh Trường Sơn (Tây) đến quần đảo Trường Sa (Đông)

Cùng chung sống lâu đời trên một đất nước, các dân tộc có truyền thống yêu nước, đoàn kết giúp đỡ nhau trong chinh phục thiên nhiên và đấu tranh xã hội, trong suốt quá trình lịch sử dựng nước, giữ nước và xây dựng phát triển đất nước

Sống trên mảnh đất Đông Dương - nơi cửa ngõ nối Đông Nam á lục địa với Đông Nam á hải đảo, Việt Nam là nơi giao lưu của các nền văn hoá trong khu vực ở đây có đủ 3 ngữ hệ lớn trong khu vực Đông Nam á, ngữ hệ Nam đảo và ngữ hệ Hán - Tạng Tiếng nói của các dân tộc Việt Nam thuộc 8 nhóm ngôn ngữ khác nhau

Trang 22

Nhóm Việt - Mường có 3 dân tộc là: Chứt, Mường, Thổ, Chày

Nhóm Tày - Thái có 7 dân tộc là: Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Tày, Thái Nhóm Môn - Khmer có 21 dân tộc là: Bana, Brâu, Bru Vân Kiều, Chơ-

ro, Co, Cơ Ho, Cơ-tu, Gié-triêng, Hrê, Kháng, Khmer, Khơmú, Mạ, Mảng, M'nông, Ơđu, Rơ-măm, Tà-ôi, Xinh-mun, Xơ Đăng, Xtiêng

Nhóm Mông - Dao có 3 dân tộc là: Dao, Mông, Pà Thẻn

Nhóm Kađai có 4 dân tộc là: Cờ Lao, La Chí, La Ha, Pu Péo

Nhóm Nam Đảo có 5 dân tộc là: Chăm, Chu-ru, Ê-đê, Gia Rai, R-glai Nhóm Hán có 3 dân tộc là: Hoa, Ngái, Sán Dìu

Nhóm Tạng có 6 dân tộc là: Cống, Hà Nhì, La Hư, Cô Lô, Phù Lá, Si

La

Mặc dù tiếng nói của các dân tộc thuộc nhiều nhóm ngôn ngữ khác nhau, song các dân tộc sống rất xen kẽ với nhau nên một dân tộc thường biết tiếng các dân tộc có quan hệ hàng ngày, và dù sống xen kẽ với nhau, giao lưu văn hoá với nhau, nhưng các dân tộc vẫn lưu giữ được bản sắc văn hoá riêng của dân tộc mình ở đây cái đa dạng của văn hoá dân tộc được thống nhất trong quy luật chung - quy luật phát triển đi lên của đất nước

Danh mục thành phần các dân tộc Việt Nam

(Kèm theo dân số các dân tộc)

Số

TT Dân tộc Tên tự gọi

Dân số Tổng ĐT

Trang 23

Số

TT Dân tộc Tên tự gọi

Dân số Tổng ĐT

(1.4.1999) Ước tính (1.7.2003

18 Giê - Triêng Gié, Triêng, Ve, Bnoong 30.243 31.343

Trang 24

Số

TT Dân tộc Tên tự gọi

Dân số Tổng ĐT

(1.4.1999) Ước tính (1.7.2003

53 Xê Đăng Xơ Teng, Tơ Đrá, Mnâm,

Ca Dong, Ha Lăng, Tà Trĩ, Châu

Nói về nguồn gốc đã có nhiều truyền thuyết như truyện "Quả bầu mẹ"

có nhiều điểm tương đồng là điều kiện thuận lợi dễ gần gũi gắn bó với nhau Song dù cùng hoặc không cùng một nguồn gốc sinh ra, có sự khác nhau về tâm lý, phong tục tập quán thì đều là người trong một nước, con trong một nhà, vận mệnh gắn chặt với nhau, các dân tộc luôn kề vai sát cánh bên nhau, thương yêu đùm bọc lẫn nhau

Nước ta ở khu vực địa lý có nhiều thuận lợi song điều kiện tự nhiên cũng rất khắc nghiệt Do nắng lắm mưa nhiều nên hàng năm thường bị hạn hán, lũ lụt Do yêu cầu tồn tại và phát triển ở một nước nông nghiệp, trồng lúa nước là chính, cư dân ở Việt Nam phải liên kết nhau lại, hợp sức để khai phá đất hoang, chống thú dữ, xây dựng hệ thống thuỷ lợi (mương, phai) đê, đập nhằm đảm bảo phát triển sản xuất Trải qua nhiều thế kỷ dựng nước và giữ nước, sự gắn bó giúp đỡ nhau trong lao động sản xuất của đồng bào các dân tộc đã được coi như một tiêu chuẩn đạo đức

Ngày nay, đặc biệt là trong thời đại công nghiệp trước những biến đổi bất lợi về khí hậu, thời tiết có tính toàn cầu, nhân dân các dân tộc ở nước ta đang chung lòng, hợp sức phòng tránh, nhằm giảm nhẹ hậu quả thiên tai

Trang 25

Cuộc đấu tranh nhằm hạn chế hậu quả do thiên nhiên gây ra đang đòi hỏi tiếp tục phát huy khối đại đoàn kết dân tộc và thông qua cuộc đấu tranh đó các dân tộc Việt Nam ngày càng thêm gắn bó

Cùng với lịch sử chinh phục thiên nhiên, nhân dân ta còn có truyền thống chống giặc ngoại xâm vô cùng oanh liệt Đất nước ta vào nơi thuận tiện trên trục đường giao thông Bắc - Nam, Đông - Tây của thế giới, có tài nguyên thiên nhiên phong phú và vị trí địa lý - chính trị có tính chiến lược Do đó, các thế lực bành trướng và xâm lược luôn luôn nhòm ngó và tìm cách thôn tính nước ta Đặc điểm nổi bật của lịch sử Việt Nam là lịch sử chống ngoại xâm liên tục và nhiều lần, trong đó có nhiều cuộc đấu tranh chống lại những thế lực thù địch hùng mạnh, giàu có và hung bạo nhất thế giới Chính vì vậy mà cộng đồng các dân tộc Việt Nam luôn sát cánh bên nhau, liên tục đứng lên chống giặc ngoại xâm, đánh thắng quân xâm lược Hơn nữa các dân tộc thiểu

số Việt Nam đa phần sinh sống ở những vùng, miền núi, hải đảo, biên giới nên họ trở thành "thực tiễn phên dậu" giữ gìn an ninh biên giới nói riêng và an ninh quốc phòng cho tổ quốc nói chung Vai trò đó là một trong những nhân

tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta Sức mạnh đóng góp của các dân tộc thiểu số là động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển của đất nước, làm cho thế và lực của cách mạng nước ta trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay đã có tăng cường tầm cao mới Hiện nay tình trạng cư trú phân tán, xen kẽ giữa các dân tộc ở nước ta, một mặt có điều kiện để tăng cường hiểu biết nhau, hoà hợp và xích lại gần nhau; mặt khác cần đề phòng trường hợp

do chưa thật hiểu nhau, khác nhau về phong tục tập quán, do đó cư trú xen kẽ của các dân tộc thiểu số chủ yếu dẫn tới sự giao lưu kinh tế - văn hoá giữa các dân tộc cùng sống trên địa bàn, từ đó càng ngày càng có điều kiện đoàn kết hoà hợp giữa các anh em

Dân tộc thiểu số ở nước ta chủ yếu cư trú trên các vùng rừng núi, có vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng, môi trường sinh thái

Trang 26

bởi phần lớn các dân tộc thiểu số ở nước ta cư trú ở miền núi chiếm 3/4 diện tích cả nước Đây là khu vực có tiềm năng phát triển kinh tế to lớn mà trước hết là tiềm lực tài nguyên rừng Không những thế, miền núi còn có vai trò đặc biệt quan trọng về môi trường sinh thái đối với cả nước như điều hoà khí hậu, điều tiết nguồn nước, bảo vệ lớp đất màu trong mùa mưa lũ Đặc biệt hiện nay

vì sự tàn phá tài nguyên, thiên nhiên của con người làm cho môi trường và nguồn nước đang đứng trước những đe doạ nghiêm trọng thì việc giữ gìn, bảo

vệ tài nguyên, môi trường sinh thái có ý nghĩa vô cùng to lớn

Vị trí chiến lược quan trọng của miền núi đã được thực tế lịch sử khẳng định từ xa xưa Vì vậy, các thế lực thù địch bên ngoài đều sử dụng địa bàn miền núi để xâm nhập, phá hoại tiến tới xâm lược đất nước ta Sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân bao giờ cũng chọn rừng núi là căn cứ địa cách mạng trong kháng chiến chống Pháp, Nhật, Mỹ

Trong giai đoạn hiện nay rừng núi - biên giới là thành luỹ vững chắc của tổ quốc, là địa bàn chiến lược về quốc phòng, an ninh trong việc bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, chống âm mưu xâm nhập, gây bạo loạn, lật

đổ, bảo vệ sự nghiệp hoà bình, xây dựng CNXH

ở vùng biên giới, một số dân tộc có quan hệ đồng tộc với dân tộc của các nước láng giềng, nên khách quan có nhu cầu thăm thân, mở rộng giao lưu kinh tế, văn hoá ở hai bên biên giới Bởi vậy chính sách các dân tộc của Đảng

và Nhà nước ta không chỉ vì lợi ích của các dân tộc thiểu số mà còn vì lợi ích của cả nước, không chỉ vì đối nội mà còn vì đối ngoại, không chỉ vì kinh tế -

xã hội mà cả về chính trị, quốc phòng, an ninh quốc gia nhất là trong giai đoạn mở cửa hội nhập với thế giới hiện nay

Cùng với nền văn hoá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, mỗi dân tộc trong dân tộc Việt Nam đều có một nền văn hoá mang bản sắc riêng từ lâu đời, phản ánh truyền thống, lịch sử và niềm tự hào dân tộc Bản sắc văn hoá

Trang 27

dân tộc là tất cả những giá trị vật chất và tinh thần, bao gồm tiếng nói, chữ viết, văn học, nghệ thuật, kiến trúc được sáng tạo lâu dài trong quá trình phát triển của đất nước Sự phát triển rực rỡ bản sắc văn hoá mỗi dân tộc càng làm phong phú thêm nền văn hoá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Thống nhất trong đa dạng là nét riêng, độc đáo của nền văn hoá các dân tộc Việt Nam Sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá Việt Nam trong công cuộc đổi mới phải hướng vào việc củng cố và tăng cường sự thống nhất, nhân lên sức mạnh tinh thần chung của toàn dân tộc Đồng thời phải khai thác và phát triển mọi sắc thái riêng, giá trị văn hoá của các dân tộc đáp ứng nhu cầu văn hoá ngày càng cao của từng dân tộc đứng trước truyền thống văn hoá đang có nguy cơ bị mai một

Họ là những lao động chính trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho đồng bào các dân tộc thiểu số và toàn xã hội trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay Nhận thức rõ vai trò của nguồn nhân lực dân tộc thiểu số, Đảng và Nhà nước ta luôn kịp thời đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn về vấn đề dân tộc và công tác dân tộc Đảng ta chỉ rõ "vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam; cần ưu tiên đầu

tư phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc thiểu số và miền núi trước hết cần tập trung vào xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng và cơ cấu cán

bộ, xoá đói giảm nghèo

Nhà nước ta thường xuyên ban hành chính sách, pháp luật phù hợp với việc đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, đặc biệt là những chính sách ưu tiên và đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá - giáo dục ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, mà gần đây nhất là quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 135/1998/QĐ-TTg ngày 31/7/1998 về "chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa (gọi là chương trình 135); hay những

Trang 28

chương trình ưu tiên phát triển y tế, giáo dục Nhờ đó mà bộ mặt của miền núi, dân tộc thiểu số đã được nâng lên từng bước đáng kể

1.3 Những yêu cầu đổi mới việc phát huy nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số

ở Việt Nam hiện nay

Thực tiễn đã chứng minh sự đúng đắn và nhất quán của những đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc Nhờ đó mà chúng ta luôn có được khối đại đoàn kết dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc, động lực và sức mạnh to lớn của khối đoàn kết dân tộc đã làm nên mọi thắng lợi vẻ vang trong

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN của chúng ta

Đặc biệt, từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay, chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng kể trong phát triển kinh tế - xã hội, chính trị, văn hoá, giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số và miền núi

Về kinh tế - xã hội: Cơ cấu kinh tế ở các vùng dân tộc thiểu số và miền núi đang từng bước chuyển dịch sang cơ cấu nhiều thành phần, vận hành theo

cơ chế thị trường Cơ cấu kinh tế ngành có sự chuyển biến tích cực và nhanh chóng Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi được cải thiện rõ rệt Tính đến nay 100% số huyện miền núi vùng cao có đường ôtô, trong đó có 97,12% số xã có đường ôtô đến trung tâm xã; 98% số huyện và trên 64% số xã có điện lưới quốc gia, hơn 90% số

xã được phủ sóng truyền hình Công tác xoá đói giảm nghèo đem lại hiệu quả thiết thực

Về văn hoá - giáo dục: Truyền thống văn hoá các dân tộc dân tộc thiểu

số được giữ gìn và phát huy Chương trình phổ cập giáo dục và xoá mù chữ được thực hiện rộng khắp và triệt để Hệ thống trạm y tế được xây dựng xuống tận cơ sở; việc khám, chữa bệnh miến phí cho người nghèo được quan tâm thường xuyên Tính đến nay (2006), 100% số xã có trường tiểu học; tỷ lệ

Trang 29

trẻ em trong độ tuổi đến trường đạt từ 85 - 90% Hầu hết các xã có trạm y tế (gần 100%), trong đó 83% số trạm y tế được xây dựng kiên cố và gần 70% số trạm y tế có đủ trang thiết bị

Về hệ thống chính trị và quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội

Hệ thống chính trị từng bước được tăng cường, củng cố và vững mạnh Đặc biệt, hệ thống chính trị ở cơ sở ngày càng được quan tâm hơn và có sự chuyển biến tích cực hơn; vai trò già làng, trưởng bản được coi trọng và phát huy Quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững và tiếp tục củng cố Nhờ vậy, những âm mưu "diễn hiến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, phản động được phát hiện kịp thời và xử lý có hiệu quả Bên cạnh những thành tựu kể trên của các vùng dân tộc thiểu số và miền núi cũng còn nhiều việc chưa làm được hoặc làm chưa đáp ứng được đòi hỏi của đồng bào các dân tộc thiểu số Công tác định canh, định cư làm chưa tốt, đời sống kinh tế và văn hoá của đồng bào còn thấp; số người mù chữ còn nhiều; một số phong tục tập quán lạc hậu có hại chưa được xoá bỏ Việc xây dựng miền núi trên các mặt chưa làm được nhiều Mặt khác, chúng ta có nhiều thiếu sót như một số chính sách cụ thể còn thiếu hoặc đề ra không kịp thời, trên từng mặt công tác hoặc từng địa phương, cũng có những thiếu sót trong việc thực hiện chính sách cụ thể Có một số biểu hiện áp dụng máy móc kinh nghiệm và phương pháp làm ở đồng bằng lên miền núi, không nghiên cứu vận dụng cho thích hợp với điều kiện của miền núi, đồng thời cũng có chậm trễ trong việc đưa nếp sống mới, văn hoá mới vào miền núi

Những tiến bộ đã đạt được nhìn chung còn nhỏ bé so với khả năng cũng như so với yêu cầu phát triển của bản thân miền núi Nhìn chung, trình độ phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi còn rất thấp Kinh tế hàng hoá chậm phát triển, kinh tế tự nhiên và nửa tự nhiên chiếm tỷ trọng không nhỏ Tình trạng du canh du cư vẫn chưa được khắc phục một cách căn bản,

Trang 30

nó vẫn đang diễn ra thường xuyên và có chiều hướng phức tạp Đời sống đại bộ phận dân tộc thiểu số miền núi còn nhiều khó khăn, thậm chí có nơi rất khó khăn Nghèo đói vẫn còn trong diện rộng, sinh hoạt văn hoá thiếu thốn, tỷ lệ số người mù chữ và thất học vẫn còn lớn Một số bệnh dịch chưa được đẩy lùi một cách căn bản, có nơi, có lúc còn phát triển gây tử vong cao Nhiều tiêu cực xã hội phát sinh Bọn phản động và các thế lực thù địch tiếp tục lợi dụng địa bàn hiểm trở của miền núi để thực hiện âm mưu chống phá cách mạng nước ta về mọi mặt Các tôn giáo đang phát triển một cách không bình thường ở một nơi

Trong thời gian qua, nhiều đơn vị kinh tế quốc doanh, nhất là các đơn

vị quốc doanh nông nghiệp, lâm nghiệp đã được thành lập ở địa bàn miền núi, nhưng một số lớn đơn vị quốc doanh năng suất thấp, chất lượng và hiệu quả kém; bao chiếm nhiều đất đai nhưng sử dụng không hết trong khi nhân dân địa phương lại thiếu đất để canh tác Tình trạng trên gây ra mâu thuẫn và làm cho đại bộ phận rừng và đất rừng không phát huy được tác dụng Nạn khai thác bừa bãi và phá rừng diễn ra nghiêm trọng Việc giao đất, giao rừng cho nhân dân chưa có chính sách hợp lý và còn chậm trễ

Bên cạnh một số hợp tác xã đạt được những thành tựu và tiến bộ, nhìn chung đại bộ phận các hợp tác xã ở nông thôn miền núi là hình thức, nhất là những hợp tác xã nông nghiệp vùng núi cao Kinh tế hộ gia đình và các loại hình kinh tế hợp tác xã ở trình độ phù hợp chưa được chú ý đúng mức Thương nghiệp nhỏ tương ứng với trình độ sản xuất hàng hoá nhỏ và phân tán

bị thu hẹp, có nơi bị xoá bỏ Việc xây dựng một số vùng kinh tế mới không tính toán đầy đủ hiệu quả kinh tế - xã hội, lại làm theo áp đặt, giản đơn, nóng vội

Kết cấu hạ tầng, đặc biệt là đường giao thông ở miền núi, nhất là các vùng cao, xa xôi, hẻo lánh, còn kém phát triển và bị chia cắt, chưa thành

Trang 31

thông tin thông suốt giữa các vùng, đang kìm hãm việc mở mang giao thông

để giao lưu ở miền núi cũng như giữa miền núi và miền xuôi

Một số điểm công nghiệp, có quy mô tương đối lớn như vùng than, các công trình thuỷ điện, các cơ sở khai khoáng, cơ khí, hoá chất và phân bón, chế biến lâm sản hoạt động một cách biệt lập, chưa đóng góp được vai trò trung tâm lôi cuốn của cả vùng phát triển

Trình độ phát triển văn hoá - giáo dục ở nhiều vùng dân tộc thiểu số và miền núi còn thấp so với trình độ phát triển chung của cả nước Công tác giáo dục đào tạo nhất là đào tạo ở bậc đại học, cao đẳng, đào tạo nghề chưa có sự quan tâm thích đáng, ít mang tính xã hội hoá và chưa có sự đa dạng về hình thức quy mô Đời sống văn hoá, nghệ thuật của nhân dân còn thấp kém; một

số tập quán lạc hậu trong cưới xin, ma chay, lễ hội có xu hướng gia tăng Bản sắc văn hoá truyền thống tốt đẹp, nhất là tiếng nói, chữ viết ít được quan tâm gìn giữ, bảo tồn nên đã mai một ít nhiều

Hệ thống chính trị cơ sở ở nhiều vùng dân tộc thiểu số, miền núi còn yếu kém như: nội dung, phương thức hoạt động của các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân còn xơ cứng, chậm đổi mới; hiệu quả, hiệu lực quản

lý, điều hành của bộ máy chính quyền còn nhiều yếu kém, thậm chí có nơi thể hiện sự bất lực, trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ còn hạn chế Công tác phát triển Đảng chậm, cấp uỷ, chính quyền và các đoàn thể nhân dân ở nhiều nơi hoạt động chưa hiệu quả, không sát dân, không tập hợp được đồng bào Quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội chưa được củng cố vững chắc dẫn đến buông lỏng ở một số vùng dân tộc thiểu số và miền núi còn tiềm ẩn sự mất ổn định Khi xảy ra những vụ việc gì, chưa có biện pháp đối phó thích hợp, còn thụ động, ỷ lại, trông chờ vào cấp trên Sự phát triển kinh

tế, văn hoá, xã hội chưa thực sự gắn với quốc phòng và an ninh

Trang 32

ở một số vùng dân tộc thiểu số và miền núi, đặc biệt là các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ lợi dụng địa hình phức tạp, rộng lớn và sự thiếu hiểu biết của nhân dân các dân tộc thiểu số, các thế lực thù địch ra sức thực hiện âm mưu "diễn hiến hoà bình" Một trong những âm mưu đó là lợi dụng những vấn đề dân tộc, nhân quyền và tôn giáo để tạo ra sự hằn thù, chia

rẽ dân tộc, gây mất ổn định chính trị, xã hội Một số nơi xuất hiện những tôn giáo không bình thường, trái pháp luật và phong tục tập quán tốt đẹp của nhân dân Chẳng hạn đạo Vàng Chứ ở các tỉnh miền núi phía Bắc, đạo Tin Lành Đề

Ga ở các tỉnh Tây Nguyên Sự phát triển không bình thường của các tôn giáo phần lớn là do âm mưu "diễn hiến hoà bình" của các thế lực thù địch gây ra để kích động, lôi kéo vào các hoạt động gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc Chúng ta đều biết, đầu tư cho con người thông qua các hoạt động giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khoẻ, các chương trình đảm bảo việc làm và an sinh cho xã hội được xem là đầu tư có hiệu quả nhất, loại đầu tư có khả năng làm tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững của một quốc gia Lịch sử phát triển kinh tế thế giới đã chứng minh rằng, để đạt được sự tăng trưởng kinh tế cao và ổn định phải thông qua việc nâng cao chất lượng đội ngũ lao động kỹ thuật, nghĩa là họ phải được đào tạo có chất lượng Chất lượng nguồn nhân lực được nâng lên (học vấn, kỹ năng nghề nghiệp và sức khoẻ) là tiền đề cho sự thành công của các nước công nghiệp mới ở châu á như Hàn Quốc, Singapo, Hồng Công Trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, việc tiếp thu các tiến bộ khoa học và công nghệ cũng như sử dụng sức lao động bên trong

và bên ngoài phụ thuộc chủ yếu vào đội ngũ lao động có chất lượng cao Do vậy con đường duy nhất trong công cuộc đổi mới hiện nay ở nước ta là phải đầu tư để phát triển nguồn nhân lực

Việc đầu tư xây dựng một dân tộc vững bước trên con đường tiến tới văn minh hiện đại tất yếu phụ thuộc vào sự phát triển của con người và tổ

Trang 33

chức hoạt động của họ Các nguồn lực tài chính, tự nhiên, viện trợ nước ngoài cũng như thương mại quốc tế đều đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế, song không có nguồn lực nào quan trọng hơn nguồn lực con người Hầu hết các quốc gia ngày nay đều quan tâm đến phát triển nguồn nhân lực Việc phát triển nguồn nhân lực là quá trình gia tăng về kiến thức, kỹ năng và cả năng lực của tất cả mọi người trong xã hội (đối với nước ta 54 dân tộc) Dưới góc độ kinh tế, quá trình này được mô tả là sự tích luỹ vốn con người và sự đầu tư vốn đó có hiệu quả vào sự nghiệp đổi mới hiện nay Dưới góc độ chính trị, phát triển nguồn nhân lực là nhằm chuẩn bị cho con người tham gia vào quá trình chính trị để họ phát huy hết khả năng, cống hiến cho

Thực tế đã cho thấy nguồn nhân lực là nguồn lực của mọi nguồn lực.So với các nguồn lực khác, nguồn nhân lực nổi trội hàng đầu là nguồn lực trí tuệ, nguồn chất xám có ưu thế nổi bật nếu biết khai thác, sử dụng hợp lý, còn các nguồn lực khác dù nhiều đến đâu cũng chỉ là yếu tố có hạn và chỉ phát huy được tác dụng khi kết hợp với nguồn lực con người một cách có hiệu quả

Vì thế, trong sự nghiệp đổi mới hiện nay ở nước ta, việc phát huy mọi nguồn lực dân tộc thiểu số phải thông qua bồi dưỡng, khai thác, sử dụng hợp

lệ để tạo thành nguồn lực tổng hợp của cả dân tộc

Tây Bắc Điện Biên có tiềm năng to lớn để phát triển kinh tế - xã hội, là môi trường, môi sinh, mái nhà che chở cho toàn tỉnh; nơi có đời sống văn hoá phong phú, đa dạng, nhạy cảm; là địa bàn xung yếu về quốc phòng, an ninh,

Trang 34

bảo vệ tổ quốc Xuất phát từ các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn cuộc sống, từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra các chủ trương, chính sách về dân tộc, tôn giáo đối với miền núi, coi đây là bộ phận quan trọng Quá trình phát triển và thành tựu to lớn về kinh tế, xã hội ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi nước ta, nhất là những năm tiến hành sự nghiệp đổi mới đất nước, đều gắn liền với kết quả thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, những hạn chế, khuyết điểm còn bộc lộ nhiều đòi hỏi phải được nghiên cứu và giải quyết, trong đó vấn đề nguồn nhân lực cần được coi trọng

Trang 35

Chương 2 Thực trạng việc phát huy nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số ở Việt Nam

trong sự nghiệp đổi mới hiện nay (Qua thực tế Điện Biên)

2.1 nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số ở Điện Biên

2.1.1 Những yếu tố lịch sử, văn hoá ảnh hưởng đến nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số ở Điện Biên

Việt Nam nằm trên ngã ba đường giao lưu tộc người và kinh tế - văn hoá thời cổ đại Do vị trí đặc biệt đó, từ xa xưa trên địa bàn nước ta

đã diễn ra nhiều làn sóng di cư từ bắc xuống, từ nam lên, từ tây sang nhưng chủ yếu là từ bắc xuống Những đợt di cư để tìm không gian sinh tồn ấy kéo dài mãi đến trước cách mạng Tháng 8-1945, thậm chí có bộ phận di dân còn di cư vào nước ta ngay cả sau 1945 Tình hình này làm cho bản đồ phân bố dân cư của nước ta rất phức tạp, các dân tộc bị xé lẻ, phân bố phân tán ở các nơi

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng trên là chính sách dân tộc

"chia để trị" cổ truyền của chế độ phong kiến, đặc biệt là của thực dân, đế quốc Thực dân Pháp từ khi đặt chân xâm lược nước ta đã tìm đủ mọi cách để ngăn cản xu hướng hợp nhất dân tộc, hòng làm suy yếu lực lượng cách mạng nước ta Chúng dùng đủ mọi thủ đoạn trắng trợn và tinh vi để gây chia rẽ, kỳ thị dân tộc, phá vỡ mối quan hệ giữa các DTTS và quan hệ của họ với dân tộc Kinh Chúng âm mưu lập các xứ Thái, Mường, Nùng, Tày tự trị Kết quả là nhiều dân tộc trong nước ta bị xé lẻ, phân chia thành nhiều nhánh, phân bố ở các vùng khác nhau

Mặc dù giai cấp thống trị, đặc biệt là bọn thực dân đế quốc tìm đủ mọi cách để ngăn cản mối quan hệ giữa các dân tộc, nhưng xu hướng nổi bật nhất,

Trang 36

chủ yếu nhất bao trùm quá trình phát triển dân tộc người ở nước ta vẫn là xu hướng gần gũi, đoàn kết, hoà hợp bắt nguồn từ truyền thống đoàn kết trong dựng nước và giữ nước của dân tộc ta

Cũng như nhiều vùng, miền khác cả nước, Tây Bắc Điện Biên đất rộng người thưa Vào những năm trước cách mạng tháng 8, dân số cả 8 châu, huyện chỉ có khoảng 152.630 nhân khẩu (bằng 19,3% dân số toàn tỉnh) Ngay

từ thời xa xưa, đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Bắc Điện Biên đã biết đoàn kết, hợp tác bên nhau cùng tạo nên sức mạnh chống chọi với thiên nhiên, đánh giặc giữ nước, xây dựng bản làng quê hương Vì vậy, khi nói đến đất nước và con người của Tây Bắc Điện Biên, ai cũng biết đó là đại gia đình của hơn 18 dân tộc anh em: Kinh, Thái, H'mông, Mường, K.Mú, Dao, Lào, Kháng, Hà Nhì, Hoa, Tày, Cống, Sinh Mun, Nùng, Mường, Thổ, Si La

Dân tộc Thái có số thành viên đông nhất, hiện khoảng 181.955 nhân khẩu cư trú ở các huyện Tuần Giáo; huyện Điện Biên; Mường Nhé; Điện Biên Đông; thị xã Mường Lay; thành phố Điện Biên Người Thái có nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc, có chữ viết riêng nên đã lưu truyền được nhiều giá trị văn hoá phục vụ đời sống tinh thần với các tác phẩm có giá trị như: Trường ca Chương Han, xống chụ xon xao (Tiễn dặn người yêu), Tiếng hát làm dâu, Chuyện kể bản mường ngoài ra còn có các điệu múa xoè, múa sụp, ném còn và lễ hội Hạn khuống Người Thái làm nghề trồng trọt là nguồn sống chủ yếu, trong đó nghề trồng lúa có vị trí hàng đầu và làm thêm nghề thủ công (đan lát, dệt vải )

Dân tộc H'mông ở Điện Biên sinh sống trên địa bàn biên giới vùng cao thuộc huyện Tủa Chùa Người H'mông di cư từ Lào, Sơn La và Thanh Hoá đến Điện Biên cách đây khoảng 200 năm Người H'mông vốn không thích sống xen ghép với dân tộc khác, lại ở núi cao đi lại khó khăn nên ít va chạm

Trang 37

với

xã hội

Dân tộc Kh'mú, hiện nay vẫn sống theo kiểu khép kín quanh chòm, bản, ít tiếp xúc với dân tộc anh em khác Tổng số người Kh'mú có khoảng 16.012 nhân khẩu chiếm 9,52% dân tộc thiểu số so với toàn tỉnh Dân tộc Dao sống ở những đỉnh núi cao, hẻo lánh, di cư từ tỉnh Thái Nguyên, Lai Châu (mới), Lào Cai đến Điện Biên, sống chủ yếu bằng nghề ruộng nương

2.1.2 Những yếu tố kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến việc phát huy nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số ở Điện Biên

Cũng giống như vùng đồng bào miền núi cả nước, ở vùng miền núi Tây Bắc Điện Biên, đơn vị xã hội nhỏ nhất là chòm bản Có chòm bản chỉ vài ba nóc nhà nhưng cũng có chòm vài chục gia đình Thôn bản thường gắn liền với dòng họ, dòng tộc và là tổ chức chặt chẽ, đoàn tụ vững chắc đủ khả năng chống trả với thú dữ, với thiên nhiên cũng như đối với ngoại bang

Các hình thức quyền lực xã hội của các dân tộc thiểu số trước cách mạng nhìn chung đều thể hiện tính chất đẳng cấp, tính chất giai cấp rõ rệt Tầng lớp trên những người cai trị gồm: thổ ti, Long đạo, Mụ mường, Tạo cai, Tạo bàn; Phìa Tầng lớp dưới những người bị cai trị, bóc lột là đại đa số nông dân nghèo và lạc hậu

Về mặt xã hội, xét theo tiến trình phát triển thì vùng dân tộc thiểu số nước ta nói chung, tỉnh Điện Biên nói riêng, trước đây tồn tại chế độ phong kiến pha lẫn chế độ nô lệ Những phân biệt sau đây phần nào nói lên điều đó: Người nông dân miền núi khi làm nhà ở, không được làm đẹp; cầu thang không được chạm trổ đầu rồng hay hoa văn trang trí; mái tranh không được cắt gọn và làm đẹp Con cái dựng vợ gả chồng không được kết hôn với con trai, con gái Phìa Tạo

Trang 38

Luật pháp phong kiến ở miền núi Tây Bắc Điện Biên cũng có những nét riêng: Người dân không được quyền sở hữu gì với rừng núi bao la của mình, đi săn bắt được của ngon vật lạ của rừng phải đem về cống nộp Ai nộp thiếu hay chống đối đều có những hình phạt roi vọt nhục hình Nặng tội hơn thì sẽ bị tịch thu tài sản, bắt làm gia nô hoặc đuổi đi nơi khác

Về bản sắc văn hoá truyền thống, vùng dân tộc miền núi Tây Bắc Điện Biên cũng rất phong phú, đa dạng Tất cả đều phản ánh rõ nét độc đáo của vùng Tây Bắc là những áng thơ văn, truyền thuyết vàng kim rực rỡ đến bây giờ "Xống chụ xon xao" của người Thái như lời tâm tình của núi rừng, chảy dài vô tận để hoà vào đại dương mênh mông của nền văn hoá Đại Việt từ buổi bình minh xa xưa

Về điều kiện kinh tế - xã hội nói chung, miền Tây Bắc Điện Biên còn gặp nhiều khó khăn Do lịch sử để lại, trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội giữa các dân tộc không đều nhau, khoảng cách của dân tộc Kinh và các dân tộc thiểu số còn rất lớn Điều đó thể hiện ở các vấn đề sau:

Nền kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp và nghề rừng Bản thân rừng núi là nơi gặp nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế, diện tích canh tác ít, nhiều nơi chỉ gieo trồng được một vụ, hệ số sử dụng đất thấp Công tác quản lý đất rừng chưa tốt do tập quán canh tác đốt nương làm rẫy của đồng bào nên rừng tự nhiên trong nhiều năm qua bị tàn phá, đất bị xói mòn và lũ lụt thường xẩy ra do vậy đồng bào các dân tộc thiểu số gặp nhiều khó khăn về đời sống, ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực

Kết cấu hạ tầng, kinh tế - xã hội của vùng đồng bào các dân tộc thiểu số Điện Biên, mặc dù đã được Đảng, Nhà nước chú ý đầu tư như: giao thông, điện lưới thông tin liên lạc nhưng chỉ là chắp vá không đồng bộ và còn nhiều thiếu thốn

Trang 39

Thêm vào đó là mật độ dân cư thấp, nhân dân sống rải rác ở các bản, làng, mỗi bản thường có vài chục hộ sống cách xa nhau và hẻo lánh, do vậy

sự giao lưu của đồng bào miền núi với nhau và với các địa phương khác gặp nhiều khó khăn Sự nghiệp giáo dục, văn hoá, bảo vệ môi trường và sức khoẻ, nâng cao dân trí gặp nhiều trở ngại Điều này là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến trình độ dân trí nói chung, chất lượng nguồn nhân lực nói riêng còn rất thấp và không thể phát huy được

Tuy vậy, điều đáng mừng là các dân tộc thiểu số sống đan xen nhau trong một quần cư, nhưng rất hoà thuận, xung đột sắc tộc hầu như không có Mỗi dân tộc có tiếng nói và bản sắc văn hoá riêng của mình nên đã tạo sự phong phú và đa dạng trong bản sắc văn hoá của tỉnh Điện Biên

2.2 Thực trạng việc phát huy nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số ở Điện Biên

Trong khuôn khổ có hạn của hệ thống dữ liệu và mục đích cung cấp thông tin làm căn cứ thực tiễn cho việc đi sâu nghiên cứu các giải pháp cơ bản nhằm phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu cho công cuộc đổi mới của vùng đồng bào các dân tộc thiểu số Điện Biên, chúng tôi chỉ tập trung phân tích thực trạng diễn biến nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số Điện Biên mấy năm trở lại đây khi thành lập tỉnh Điện Biên mới, đặc biệt là những năm đầu thế kỷ XXI

2.2.1 Cơ cấu dân số và nguồn lao động

Theo số liệu thống kê của Ban Dân tộc - Miền núi tỉnh Điện Biên năm

2005, dân số của 8 huyện thị miền núi và các xã ở một số huyện có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống trong toàn tỉnh là 361.636 người phân bố ở 187 xã, trong đó có 150 xã đặc biệt khó khăn

Trang 40

Cơ cấu gồm 19 dân tộc như: Kinh, Thái, H'mông, Si La, Mường, Phù

Lá, Sán Chỉ, Nùng, Thổ, Tày, Hoa, Dao, Kh'mú, Cống, Lào, Sinh Mun, Kháng, Hà Nhì và một số dân tộc khác, được thể hiện như sau:

Ngày đăng: 14/02/2014, 14:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ph.Ăngghen (1991), Biện chứng của tự nhiên, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện chứng của tự nhiên
Tác giả: Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
2. Nguyễn Quốc Bang (2002), Phát huy vai trò người có uy tín trong vận động quần chúng góp phần bảo vệ an ninh trật tự ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Lào Cai (2003-2010), Luận văn thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy vai trò người có uy tín trong vận động quần chúng góp phần bảo vệ an ninh trật tự ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Lào Cai (2003-2010)
Tác giả: Nguyễn Quốc Bang
Năm: 2002
3. Trịnh Quang Cảnh (2002), Trí thức người dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong công cuộc đổi mới (chủ yếu ở vùng dân tộc thiểu số phía Bắc), Luận án tiến sĩ Lịch sử, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trí thức người dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong công cuộc đổi mới (chủ yếu ở vùng dân tộc thiểu số phía Bắc)
Tác giả: Trịnh Quang Cảnh
Năm: 2002
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khoá VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khoá VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1993
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
9. Lê Duy Đại (2001), "Đội ngũ cán bộ các dân tộc thiểu số và một số vấn đề đặt ra", Tạp chí Dân tộc học, (3), tr.33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đội ngũ cán bộ các dân tộc thiểu số và một số vấn đề đặt ra
Tác giả: Lê Duy Đại
Năm: 2001
10. Bùi Minh Đạo, "Trồng trọt truyền thống của các dân tộc Tây Nguyên", Tạp chí Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trồng trọt truyền thống của các dân tộc Tây Nguyên
11. Lê Điền (1992), "Những vấn đề kinh tế - xã hội ở miền núi", Tạp chí Cộng sản, (1), tr.51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề kinh tế - xã hội ở miền núi
Tác giả: Lê Điền
Năm: 1992
12. Nguyễn Ngọc Định (2002), Một số thực hiện giải pháp xoá đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số huyện Thông Nông tỉnh Cao Bằng, Luận văn thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số thực hiện giải pháp xoá đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số huyện Thông Nông tỉnh Cao Bằng
Tác giả: Nguyễn Ngọc Định
Năm: 2002
13. Đinh Quốc Hải (2003), "Chính sách bồi dưỡng và đào tạo cán bộ cho vùng dân tộc và miền núi", Tạp chí Lý luận chính trị, (9), tr.65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách bồi dưỡng và đào tạo cán bộ cho vùng dân tộc và miền núi
Tác giả: Đinh Quốc Hải
Năm: 2003
14. Hoàng Thị Hào (2005), Chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt là người dân tộc thiểu số của hệ thống chính trị cấp xã, thị trấn ở huyện Định Hoá tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt là người dân tộc thiểu số của hệ thống chính trị cấp xã, thị trấn ở huyện Định Hoá tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Hoàng Thị Hào
Năm: 2005
15. Lê Như Hoa (2002), "Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam thế kỷ XX", Tạp chí Văn hoá Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam thế kỷ XX
Tác giả: Lê Như Hoa
Năm: 2002
16. Đỗ Thị Hoa (2003), Phát huy vai trò người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số đối với công tác an ninh Lâm Đồng hiện nay, Luận văn thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy vai trò người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số đối với công tác an ninh Lâm Đồng hiện nay
Tác giả: Đỗ Thị Hoa
Năm: 2003
17. Lê Thị Hoà (2002), Đảng bộ tỉnh Đắc Lắc lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị cấp cơ sở thời kỳ đổi mới (1986-2000), Luận án tiến sĩ Lịch sử, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng bộ tỉnh Đắc Lắc lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị cấp cơ sở thời kỳ đổi mới (1986-2000)
Tác giả: Lê Thị Hoà
Năm: 2002
18. Khoa xã hội học, Phân viện Hà Nội - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2002), Báo cáo kết quả đề tài khảo sát đội ngũ cán bộ dân tộc tại các tỉnh Lai Châu - Hoà Bình - Lào Cai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả đề tài khảo sát đội ngũ cán bộ dân tộc tại các tỉnh Lai Châu - Hoà Bình - Lào Cai
Tác giả: Khoa xã hội học, Phân viện Hà Nội - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2002
19. V.I.Lênin (1981), Toàn tập, tập 29, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1981
20. Lịch sử đảng bộ tỉnh Lai Châu (1975-2003) (2004), Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử đảng bộ tỉnh Lai Châu (1975-2003)
Tác giả: Lịch sử đảng bộ tỉnh Lai Châu (1975-2003)
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2004
21. Đặng Ngọc Lựu (2003), Vấn đề nguồn lực con người trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Hà Giang, Luận văn tiến sĩ triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề nguồn lực con người trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Hà Giang
Tác giả: Đặng Ngọc Lựu
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đây là hình thức đào tạo chủ yếu đối với nhân lực các dân tộc thiểu số Điện Biên, tuy nhiên kết quả của công tác này chưa cao - Phát huy nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới hiện nay (Qua thực tế tỉnh Điện Biên)
y là hình thức đào tạo chủ yếu đối với nhân lực các dân tộc thiểu số Điện Biên, tuy nhiên kết quả của công tác này chưa cao (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w