1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế dùng để kiểm tra chứng từ trong phương thức tín dụng chứng từ (ISBP) và vận dụng tại việt nam

80 80 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 895,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo giáo sư Dominique Legeais Khoa Luật, trường Đại học René Descartes, tức Đại học Paris V thì phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận mà trong đó, một ngân hàng

Trang 1

Quy tắc thực hành thống nhất cho phương thức thanh toán tín dụng

chứng từ (The Uniform Customs and Practice for Documentary

Credits)

UCP

Tập quán tiêu chuẩn quốc tế về kiểm tra chứng từ (International

Standard Banking Practice for the Examination of Documents) ISBP

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ VÀ BỘ TẬP QUÁN TIÊU CHUẨN NGÂN HÀNG QUỐC TẾ ĐỂ KIỂM TRA CHỨNG TỪ TRONG PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ (ISBP) 5

1.1 Tổng quan về phương thức tín dụng chứng từ (Documentary Credit) 5

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của phương thức tín dụng chứng từ 5

1.1.2 Vai trò của của phương thức tín dụng chứng từ trong hoạt động thanh toán quốc tế 11

1.2 Tổng quan về tập quán tiêu chuẩn ngân hàng quốc tế để kiểm tra chứng từ trong phương thức tín dụng chứng từ (ISBP) ….14

1.2.1 Khái niệm và nguyên tắc áp dụng của ISBP 14

1.2.2 Lịch sử phát triển và hoàn thiện các phiên bản ISBP 19

1.2.3 Mối quan hệ pháp lý giữa UCP600 và ISBP745 23

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 25

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG CỦA ISBP745 (TẬP QUÁN NGÂN HÀNG TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ ĐỂ KIỂM TRA CHỨNG TỪ THEO UCP600) 27

2.1 Những vấn đề chung về tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế để kiểm tra chứng từ theo UCP600 (Gọi tắt là ISBP745)……….27

2.1.1 Tên gọi và phạm vi áp dụng 27

2.1.2 Những nguyên tắc chung 28

2.2 Các quy định kiểm soát cụ thể đối với từng loại chứng từ trong thanh toán……… 33

Trang 3

2.2.1 Hối phiếu 33

2.2.2 Hóa đơn 35

2.2.3 Các chứng từ vận tải và chứng từ khác được quy định tại Điều 19-25 UCP600 37

2.2.4 Chứng từ bảo hiểm 44

2.2.5 Giấy chứng nhận xuất xứ 47

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 49

CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VẬN DỤNG ISBP TẠI VIỆT NAM 51

3.1 Thực tiễn vận dụng Bộ tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam 51

3.1.1 Cơ sở pháp lý để áp dụng ISBP tại Việt Nam……….51

3.1.2 Ứng dụng ISBP745 trong việc kiểm tra bộ chứng từ thanh toán tại một số ngân hàng thương mại……… 54

3.1.3 Những hạn chế, khó khăn mà ngân hàng thương mại thường gặp phải khi ứng dụng ISBP745……… 62

3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng ISBP tại Việt Nam……… 63

3.2.1 Đối với các ngân hàng thương mại……….63

3.2.2 Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu……… 66

3.2.3 Đối với các cơ quan chức năng, ngân hàng nhà nước Việt Nam………68

3.2.4 Đối với các cơ sở đào tạo nghiệp vụ ngân hàng nói chung và thanh toán quốc tế nói riêng………70

KẾT LUẬN 72

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, thanh toán quốc tế (TTQT) trong giai đoạn hội nhập sâu rộng là một hoạt động bắt buộc phải có trong các giao dịch mua bán xuất nhập khẩu giữa các quốc gia trên thế giới Đương nhiên, Việt Nam cũng luôn nằm trong vòng xoay thương mại đó Mà hiện nay, phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một trong những phương thức thanh toán quốc tế hiện nay đang được sử dụng khá phổ biến

Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ được thực hiện theo “Quy tắc thực

hành thống nhất cho phương thức thanh toán tín dụng chứng từ” (The Uniform

Customs and Practice for Documentary Credits, thường được viết tắt là UCP) do Phòng thương mại quốc tế (viết tắt là ICC) ban hành Hơn thế nữa, đi kèm với mỗi bản UCP lại có những bộ tập quán Tiêu chuẩn quốc tế về thực hành kiểm tra chứng

từ trong phương thức tín dụng chứng từ (viết tắt là ISBP) Nội dung thể hiện trong văn bản này là sự nhất quán với UCP cũng như các quan điểm và các quyết định của Ủy ban Ngân hàng của ICC Phòng Thương mại quốc tế cũng nhấn mạnh, văn bản này không sửa đổi UCP, mà chỉ giải thích rõ ràng cách thực hiện UCP đối với những người làm thực tế liên quan đến tín dụng chứng từ

Việc áp dụng văn bản này trong hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ là cách hiệu quả trong việc giảm thiểu rủi ro, hạn chế tranh chấp phát sinh giữa các bên trong giao dịch Các ngân hàng thương mại ở Việt Nam trong quá trình thanh toán quốc tế cũng luôn vận dụng bộ tập quán này qua các thời kỳ, cũng như cập nhật những phiên bản mới nhất để hội nhập kinh tế quốc tế

Xuất phát từ thực tế, việc nghiên cứu dưới khía cạnh pháp lý về Bộ tập quán tiêu chuẩn ngân hàng để kiểm tra chứng từ trong phương thức tín dụng chứng từ cũng như việc vận dụng văn bản này tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam là

Trang 6

cần thiết Do đó, tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Tập quán ngân hàng tiêu

chuẩn quốc tế dùng để kiểm tra chứng từ trong phương thức tín dụng chứng từ (ISBP) và vận dụng tại Việt Nam” để làm luận văn tốt nghiệp cao học luật

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hiện nay, nếu xem xét dưới góc độ là luận văn, luận án chuyên ngành luật với đề tài nghiên cứu trực tiếp về tập quán tiêu chuẩn quốc tế dùng để kiểm tra chứng từ trong phương thức tín dụng chứng từ thì hầu như không có người nghiên cứu Xem xét ở một số cơ sở đào tạo luật lớn thì có thể thấy một số công trình sau đây:

- Khóa luận tốt nghiệp đại học với tên gọi “Pháp luật điều chỉnh hoạt động thanh toán bằng thư tín dụng - Thực trạng và phương hướng hoàn thiện” của Nguyễn Thị Thu Hà năm 2008 nghiên cứu về thư tín dụng và những vấn đề pháp lý

có liên quan Trong nghiên cứu của mình, tác giả cũng đề cập đến phương thức kiểm tra Thư tín dụng, trong đó phải bám sát những yêu cầu của ISBP trong kiểm soát chứng từ trong thanh toán bằng Thư tín dụng

- Khóa luận tốt nghiệp “Các đặc trưng pháp lý của thư tín dụng (L/C) và cam kết bảo lãnh ngân hàng - Sự tiếp cận từ góc độ so sánh pháp luật và những ảnh hưởng đến khả năng lựa chọn dịch vụ ngân hàng từ phía doanh nghiệp” của Nguyễn Thuý Hoà năm 2009 Khóa luận đã phân tích được những đặc trưng của L/C như là một phương thức thanh toán tiến bộ và cần được nhân rộng, tuy nhiên không phải ít những rủi ro mà các bên có thể phải đối mặt

- Luận văn thạc sĩ luật học “Một số vấn đề pháp lý về giao nhận

và thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam” của Vũ Thị Nhung năm 2018 có đề cập đến những vấn đề pháp lý liên quan đến xuất trình bộ chứng từ trong thanh toán quốc tế và một số bất cập hiện nay

- Giáo trình Thanh toán quốc tế của GS,TS Đinh Xuân Trình và PGS, TS Đặng Thị Nhàn năm 2012 do Nhà xuất bản Thống kê xuất bản Giáo trình là công

Trang 7

trình nghiên cứu hết sức cơ bản, tổng quan nhưng quan trọng để người đọc hiểu và vận dụng các quy định và tập quán hiện hành trong thanh toán quốc tế

- Bài báo khoa học “Tranh chấp trong thanh toán quốc tế bằng L/C và một số gợi ý cho các doanh nghiệp khi tham gia giao dịch” của tác giả PGS.TS Nguyễn Thị Quy đăng trên Tạp chí ngân hàng số 3 năm 2014 Bài viết đã phân tích những rủi ro pháp lý điển hình mà doanh nghiệp phải đối mặt khi tham gia giao dịch L/C

và những giải pháp mà doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp có thể áp dụng

- Bài báo khoa học “Gian lận và giả mạo chứng từ trong hoạt động thanh toán và tài trợ thương mại quốc tế tại các ngân hàng thương mại” của tác giả TS Phan Thị Hồng Hải và PGS.TS Đặng Thị Nhàn, Tạp chí ngân hàng số 5/2010 Bài báo đã phân tích những hành vi gian lận khá cụ thể trong đó nguyên nhân chủ yếu chính là con người thực hiện các chuẩn mực thanh toán quốc tế

- TS Trần Vũ Hải, TS Vũ Văn Cương, Giáo trình Luật Ngân hàng Việt Nam của Trường Đại học Mở Hà Nội, NXB Tư pháp năm 2014 đã vẽ một bức tranh toàn cảnh, mặc dù không đầy đủ và chi tiết về phương thức kiểm tra chứng từ trong thanh toán quốc tế thông qua thư tín dụng

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là nội dung tập quán tiêu chuẩn ngân hàng quốc tế để kiểm tra chứng từ trong phương thức tín dụng chứng từ và quy định pháp luật cho phép vận dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay

- Phạm vi nghiên cứu: Do dung lượng của luận văn chỉ cho phép nghiên cứu nội dung của bộ ISBP hiện hành (ISBP745) và thực tiễn tại ngân hàng thương mại ở Việt Nam và trong thời gian chủ yếu trong giai đoạn 5 năm trở lại đây

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là phân tích được vai trò, sự ra đời của ISBP qua các phiên bản và đặc biệt là nội dung cơ bản của ISBP hiện đại nhất là ISBP745

đi kèm cùng UCP600, qua đó đánh giá thực tiễn áp dụng bộ tập quán này tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp

Trang 8

luật và thực tiễn thực hiện nhằm ứng dụng một cách hiệu quả tập quán ngân hàng quốc tế tại thị trường Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu theo phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác Lênin

về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Bên cạnh đó, luận văn cũng sử dụng các phương pháp truyền thống trong nghiên cứu luật học như phân tích, tổng hợp và so sánh Phương pháp phân tích sẽ áp dụng khi đánh giá các sự vật hiện tượng dưới nhiều góc nhìn khác nhau Phương pháp tổng hợp sẽ áp dụng khi từ các dấu hiệu, hiện tượng để rút ra bản chất, kết luận Phương pháp so sánh được áp dụng khi bình luận các quy định pháp luật Việt Nam so với tập quán quốc tế hoặc giữa các phiên bản tập quán quốc tế ở các thời kỳ để từ đó làm nổi bật các đặc trưng cần phân tích Phương pháp thống kê được thực hiện khi thu thập những tranh chấp phát sinh trong hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ và những ví dụ đã gặp phải tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam

5 Kết cấu luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung đề tài được kết cấu thành 3 chương như sau:

Chương 1 : Tổng quan về phương thức tín dụng chứng từ và bộ tập quán tiêu

chuẩn ngân hàng quốc tế để kiểm tra chứng từ trong phương thức tín dụng chứng

từ

Chương 2: Nội dung Bộ Tiêu chuẩn quốc tế về thực hành kiểm tra chứng từ

trong phương thức tín dụng chứng từ (ISBP745)

Chương 3: Thực tiễn và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng ISBP

tại Việt Nam

Trang 9

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ VÀ BỘ TẬP QUÁN TIÊU CHUẨN NGÂN HÀNG QUỐC TẾ ĐỂ KIỂM TRA CHỨNG TỪ TRONG PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ (ISBP)

1.1 Tổng quan về phương thức tín dụng chứng từ (Documentary Credit)

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của phương thức tín dụng chứng từ

Khái niệm phương thức tín dụng chứng từ được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau Theo giáo sư Dominique Legeais (Khoa Luật, trường Đại học René Descartes, tức Đại học Paris V) thì phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận mà trong đó, một ngân hàng (ngân hàng phát hành) theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu mở thư tín dụng) cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho một bên thứ ba (người thụ hưởng) hoặc chấp nhận hối phiếu do bên thứ ba

ký phát trong phạm vi số tiền đó khi bên thứ ba này xuất trình được một bộ chứng

từ thanh toán phù hợp với những điều khoản trong thư tín dụng tại ngân hàng1

Trong khi đó, tại UCP600, tại Điều 2 có định nghĩa tín dụng chứng từ khái quát hơn như sau: “Tín dụng chứng từ là một thỏa thuận bất kỳ, cho dù được gọi tên hoặc mô

tả như thế nào, thể hiện một cam kết chắc chắn và không hủy ngang của ngân hàng phát hành về việc thanh toán khi xuất trình phù hợp”2

Như vậy xét về bản chất, tín dụng chứng từ trước tiên là một phương thức thanh toán qua ngân hàng liên quan chặt chẽ đến việc xuất trình bộ chứng từ hợp lệ

Trang 10

So với các hình thức thanh toán khác, thanh toán thông qua tín dụng chứng từ có hai đặc trưng quan trọng: Một là, điều kiện để người thụ hưởng được thanh toán luôn thông qua việc xuất trình các chứng từ phù hợp; Hai là, phương thức thanh toán này luôn có sự cam kết chắc chắn từ phía ngân hàng (ngân hàng mở L/C, ngân hàng xác nhận L/C hoặc ngân hàng được chỉ định), nếu điều kiện thứ nhất được thỏa mãn3

Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ thường được hiểu như là một khoản tín dụng mà một hoặc các ngân hàng dành cho nhà nhập khẩu hoặc nhà xuất khẩu Một là, chỉ có những tổ chức tín dụng mới có quyền thực hiện các giao dịch này Hai là, do tính đặc thù của hoạt động ngân hàng, giao dịch thanh toán này chỉ

có thể được thực hiện thường xuyên bởi các tổ chức tín dụng4 Trong lĩnh vực kinh doanh ngân hàng, hoạt động tín dụng bao gồm một số hình thức như: Cho vay, chiết khẩu, bảo lãnh (tín dụng chữ ký hay tín nhiệm), và cho thuê tài chính Thuật ngữ

“tín dụng - credit” ở đây được dùng theo nghĩa rộng, nghĩa là “tín nhiệm”, chứ

không phải để chỉ “một khoản cho vay” theo nghĩa thông thường Điều này được thể hiện rõ trong trường hợp khi người NK ký quỹ 100% giá trị của L/C, thì thực chất ngân hàng không cấp bất cứ một khoản tín dụng nào, mà chỉ cho người NK

“vay mượn” uy tín của mình trước các đối tác và ngân hàng khác Trong trường hợp nhà NK không hề ký quỹ hoặc ký quỹ một phần, thì một khoản tín dụng thực sự chỉ

có thể xảy ra khi ngân hàng phát hành L/C tiến hành trả tiền cho nhà XK và ghi nợ nhà NK Điều đó cho thấy thuật ngữ tín dụng ở đây mang tính trừu tượng – là dùng

sự tín nhiệm của ngân hàng để thanh toán cho khoản vay của nhà NK

Như vậy, trong phương thức TDCT, ngân hàng không chỉ là người trung gian thu hộ, chi hộ, mà còn là người đại diện cho nhà NK thanh toán tiền hàng cho nhà

XK, bảo đảm cho nhà XK nhận được khoản tiền tương ứng với hàng hoá mà họ đã cung ứng Đồng thời, ngân hàng còn là người đảm bảo cho nhà NK nhận được số lượng và chất lượng hàng hoá phù hợp với bộ chứng từ và số tiền mình bỏ ra Rõ

3 Trần Vũ Hải (chủ biên), Giáo trình Luật Ngân hàng Việt Nam, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2010, tr.195

4 Phạm Xuân Quỳnh, Tín dụng chứng từ: Phương thức phổ biến nhất trong Thương mại quốc tế, 17/12/2007 https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2007/12/17/1072/

Trang 11

ràng là, nhà NK có cơ sở để tin chắc rằng, ngân hàng sẽ không trả tiền trước khi nhà

XK giao hàng, bởi vì điều này đòi hỏi nhà XK phải xuất trình bộ chứng từ gửi hàng Trong khi đó, nhà XK tin chắc rằng sẽ nhận được tiền hàng nếu họ trao cho ngân hàng phát hành một bộ chứng từ đầy đủ và phù hợp theo như qui định trong L/C

Việc gọi là tín dụng chứng từ là bởi những lý do cơ bản sau đây:

Một là, đối tượng cấp tín dụng của ngân hàng là rất phong phú và đa dạng

Tất cả các bên liên quan chỉ giao dịch với nhau bằng chứng từ được xuất trình chứ không liên quan trực tiếp đến hàng hóa, dịch vụ hay đối tượng khác

Hai là, người thụ hưởng có lấy được tiền hay không hoàn toàn phụ thuộc vào

chứng từ xuất trình có phù hợp với điều kiện thanh toán hay không, chứ không phụ thuộc vào thực tế hàng hóa được giao Tuy nhiên, trên thực tế, để có được bộ chứng

từ thanh toán thì hàng hóa cần được giao từ bên bán (hoặc bên vận chuyển) sang cho người mua (hoặc người nhận được chỉ định), nhưng đây không phải là điều kiện tiên quyết mà ngân hàng đòi hỏi khi thanh toán Tương tự, việc quyết định hay từ chối trả tiền của ngân hàng phát hành chỉ căn cứ vào chứng từ xuất trình, mà không căn cứ vào hàng hóa hay thiện chí của người yêu cầu.5

Phương thức tín dụng chứng từ được thực hiện dựa trên Thư tín dụng (Letter

of Credit, viết tắt là L/C) L/C là cam kết của ngân hàng phát hành theo yêu cầu của nhà xuất khẩu, cam kết thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán cho người thụ hưởng được chỉ định Theo định nghĩa của ICC, thư tín dụng được hiểu là thỏa thuận mà theo đó, ngân hàng phát hành thư tín dụng sẽ thực hiện theo yêu cầu của khách hàng

mở thư tín dụng hoặc đại diện cho chính ngân hàng để thanh toán cho người thụ hưởng hoặc theo sự chỉ định của người này; hoặc ủy quyền cho ngân hàng khác thanh toán, chấp nhận thanh toán hối phiếu, hoặc cho phép ngân hàng khác chiết

5 GS, TS Nguyễn Văn Tiến, Giáo trình thanh toán quốc tế và tài trợ ngoại thương, Nxb Thống kê, Hà Nội,

2015, tr.337 - 338

Trang 12

khấu chứng từ quy định trong thư tín dụng, với điều kiện những chứng từ này phù hợp với tất cả các điều khoản và điều kiện của thư tín dụng.6

Theo cách hiểu thống nhất hiện nay, L/C có tính chất độc lập với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (hợp đồng ngoại thương) và bản thân hàng hóa Hợp đồng ngoại thương do nhà xuất nhập khẩu ký kết thể hiện quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên, trong đó có quy định về nội dung thanh toán Do không tham gia ký kết hợp đồng ngoại thương nên ngân hàng không có bất kỳ quyền và nghĩa vụ nào trong việc thực hiện hợp đồng ngoại thương Do vậy, L/C thể hiện cam kết thanh toán của ngân hàng phát hành cho người thụ hưởng khi người này xuất trình được bộ chứng

từ phù hợp, nó hình thành trên cơ sở hợp đồng nhưng sau đó lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng này L/C có tính chất quan trọng, nó hình thành trên cơ sở của hợp đồng ngoại thương nhưng sau khi được thiết lập, nó lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng này Một khi L/C đã mở và đã được các bên chấp nhận, thì cho dù nội dung của L/C có đúng với hợp đồng ngoại thương hay không, cũng không làm thay đổi quyền lợi và nghĩa vụ của các bên có liên quan đến L/C

Tính chất quan trọng nhất của L/C chỉ giao dịch bằng chứng từ và chỉ thanh toán căn cứ vào chứng từ Các ngân hàng chỉ trên cơ sở bộ chứng từ cũng như kiểm tra việc xuất trình để quyết định xem trên bề mặt chứng từ có tạo thành một xuất trình phù hợp theo yêu cầu của L/C hay không Khi chứng từ được xuất trình là phù hợp thì ngân hàng phát hành phải thanh toán vô điều kiện cho nhà xuất khẩu, mặc

dù trên thực tế hàng hóa có thể được giao hoặc được giao không hoàn toàn đúng như ghi trên chứng từ Như vậy, việc thanh toán L/C không hề căn cứ vào tình hình thực tế của hàng hóa, nếu hàng hóa không khớp với chứng từ, thì hai bên mua bán trực tiếp giải quyết với nhau trên cơ sở hợp đồng mua bán, không liên quan đến ngân hàng Chỉ trong trường hợp chứng từ không phù hợp mà ngân hàng vẫn thanh toán thì ngân hàng phải chịu hoàn toàn trách nhiệm, bởi vì người nhập khẩu có

6

Trần Vũ Hải (chủ biên), Giáo trình Luật Ngân hàng Việt Nam, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2010, tr.194

Trang 13

quyền từ chối thanh toán lại tiền cho ngân hàng và lỗi này là do phía ngân hàng trong hoạt động kiểm tra bộ chứng từ

Với những đặc trưng trên, có thể nhận thấy L/C là công cụ thanh toán có tính hai mặt, hạn chế rủi ro và đôi khi còn là công cụ từ chối thanh toán và lừa đảo

Xét về góc độ là công cụ thanh toán và phòng ngừa rủi ro cho cả nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu, L/C có ưu điểm vượt trội hơn so với các phương thức thanh toán khác Chính vì vậy, phương thức thanh toán này đã tồn tại và phát triển như ngày nay Tuy nhiên, trong thực tiễn thương mại quốc tế, L/C có thể bị lạm dụng trở thành công cụ để từ chối nhận hàng và từ chối thanh toán và là công cụ để gian lận

và lừa đảo nếu như một trong các bên không am hiểu về thủ tục thanh toán theo tín dụng chứng từ Cũng chính từ bản chất của L/C là chỉ giao dịch bằng chứng từ và khi phía ngân hàng kiểm tra chỉ xem xét trên bề mặt chứng từ, vì vậy mà không ít tranh chấp xảy ra về tính chất tuân thủ chặc chẽ của chứng từ Trong thực tế để lập

ra một bộ chứng từ không hề sai sót chút nào là một việc không hề dễ dàng, hơn nữa ranh giới giữa “phù hợp” và “sai sót” rất mong manh Do đó, việc đảm bảo tính nhất quán và hiểu biết việc các biện pháp kiểm tra bề mặt chứng từ theo tập quán quốc tế là rất quan trọng đối với tất cả các bên tham gia quan hệ thanh toán

Theo UCP, các bên tham gia quan hệ thanh toán tín dụng chứng từ bao gồm các bên bắt buộc và các bên có thể tham gia

Các bên bắt buộc tham gia bao gồm người mở L/C, người thụ hưởng L/C, ngân hàng phát hành L/C và ngân hàng thông báo L/C

- Người xin mở L/C (Applicant for L/C): là người yêu cầu ngân hàng phục vụ

mình phát hành một L/C, và có trách nhiệm pháp lý về việc trả tiền của ngân hàng cho người bán theo L/C này Người xin mở L/C có thể là người mua (buyer), nhà

NK (importer), người mở L/C (opener), người trả tiền (accountee)

- Người thụ hưởng L/C (Beneficiary): là người được hưởng tiền thanh toán

hay sở hữu hối phiếu chấp nhận thanh toán Người thụ hưởng L/C có thể có những

Trang 14

tên gọi khác nhau như: người bán (seller), nhà XK (exporter), người ký phát hối phiếu (drawer)

- Ngân hàng phát hành L/C (Issuing Bank) hay ngân hàng mở L/C (Opening

Bank): là ngân hàng mà theo yêu cầu của người mua, phát hành một L/C cho người

bán hưởng Ngân hàng phát hành thường được hai bên mua bán thoả thuận và quy định trong hợp đồng mua bán

- Ngân hàng thông báo (Advising Bank): là ngân hàng được ngân hàng phát

hành yêu cầu thông báo L/C cho người thụ hưởng Ngân hàng thông báo thường là một ngân hàng đại lý hay một chi nhánh của ngân hàng phát hành ở nước nhà XK

Các bên có thể tham gia bao gồm ngân hàng xác nhận, ngân hàng được chỉ định, ngân hàng chuyển nhượng và ngân hàng hoàn trả

- Ngân hàng xác nhận (Confirming Bank): trong trường hợp nhà XK muốn

có sự đảm bảo chắc chắn của thư tín dụng, thì một ngân hàng có thể đứng ra xác nhận L/C theo yêu cầu của ngân hàng phát hành Thông thường ngân hàng xác nhận

là một ngân hàng lớn có uy tín và trong nhiều trường hợp ngân hàng thông báo được đề nghị là ngân hàng xác nhận L/C

- Ngân hàng được chỉ định (Nominated Bank): là ngân hàng được ngân hàng

phát hành uỷ nhiệm để khi nhận được bộ chứng từ phù hợp với những quy định trong L/C thì: Thanh toán (pay) cho người thụ hưởng; Chấp nhận (accept) hối phiếu

kỳ hạn; Chiết khấu (negotiate) bộ chứng từ Trách nhiệm của ngân hàng được chỉ định là giống như ngân hàng phát hành khi nhận được bộ chứng từ của nhà XK gửi đến

- Ngân hàng chuyển nhượng L/C (Transferring Bank): Trong trường hợp

L/C được phép chuyển nhượng thì ngân hàng này sẽ đứng ra làm thủ tục chuyển nhượng L/C từ người thụ hưởng thứ nhất sang người thụ hưởng thứ hai theo yêu cầu của người yêu cầu

Trang 15

- Ngân hàng hoàn trả (Reimbursing Bank): Là ngân hàng được ngân hàng

phát hành ủy quyền hoàn trả cho ngân hàng được chỉ định khi nhận được xác nhận của ngân hàng này rằng “bộ chứng từ xuất trình phù hợp” Ngân hàng hoàn trả sẽ ghi nợ ngân hàng phát hành và ghi có cho ngân hàng được chỉ định

Thực tế, quá trình thanh toán L/C không nhất thiết phải có đủ các ngân hàng nói trên cùng tham gia mà tùy từng trường hợp cụ thể để xác định các thành viên tham gia Thông thường chỉ có hai ngân hàng đứng ra làm tất cả các chức năng nói trên liên quan đến nghiệp vụ thanh toán L/C

1.1.2 Vai trò của của phương thức tín dụng chứng từ trong hoạt động thanh toán quốc tế

Phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ được sử dụng rất rộng rãi trong lĩnh vực ngân hàng Đó là hình thức thanh toán linh hoạt, bảo đảm tính an toàn cho các giao dịch thương mại quốc tế Trên thực tế, tín dụng chứng từ bắt đầu phát triển từ thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918) Các nhà xuất khẩu ở Bắc Mỹ, do khoảng cách địa lý xa xôi, đòi hỏi các đối tác ở châu Âu mở thư tín dụng để bảo đảm khả năng thanh toán Nó mang một vai trò quan trọng trong hoạt động thanh toán quốc tế

Đối với người xuất khẩu, do phương thức tín dụng chứng từ độc lập với hợp

đồng mua bán và các hợp đồng làm cơ sở cho thư tín dụng khác nên khi nhà xuất khẩu đã giao hàng và tập hợp được bộ chứng từ phù hợp L/C, việc được thanh toán

là chắc chắn Cho dù bất cứ trường hợp phát sinh nào xảy ra, ví dụ như hàng hóa không được vận chuyển đúng thời hạn thì hai bên tự giải quyết chứ không thể cản trở việc ngân hàng phát hành thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu Rất có thể xảy ra trường hợp người nhập khẩu gặp rủi ro dẫn đến mất khả năng thanh toán hoặc là diễn biến giá cả thị trường không có lợi, người nhập khẩu muốn trì hoãn thậm chí muốn từ chối nhận hàng và thanh toán tiền, gây bất lợi cho người xuất khẩu nhưng với phương thức tín dụng chứng từ thì người xuất khẩu vẫn chắc chắn nhận được tiền của ngân hàng Nếu như vậy, tất cả chỉ còn phụ thuộc vào việc nhà xuất khẩu

Trang 16

có thể xuất trình được bộ chứng từ hợp lệ hay không Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu sẽ tư vấn làm sao người xuất khẩu xuất trình được bộ chứng từ phù hợp với L/C Hơn nữa, sẽ là có lợi đối với người xuất khẩu là khi thư tín dụng đã được

mở thì người xuất khẩu đã phải có giấy phép chuyển ngoại tệ ra nước ngoài của cơ quan quản lý ngoại hối, điều này có nghĩa là người xuất khẩu sẽ tránh được rủi ro về quản lý ngoại hối của nước nhập khẩu Còn đối với các phương thức thanh toán khác như phương thức chuyển tiền (sau khi giao hàng) hay phương thức nhờ thu thì nếu có sự thay đổi nào về quản lý ngoại hối tại nước nhập khẩu đối với đồng tiền thanh toán đã thỏa thuận thì người xuất khẩu sẽ hoàn toàn phải gánh chịu rủi ro này

Đối với nhà nhập khẩu, khi người xuất khẩu và người nhập khẩu chưa có sự

tín nhiệm lẫn nhau, chắc chắn một điều là người xuất khẩu không muốn giao hàng trước khi nhận được tiền hay người nhập khẩu cũng không hề muốn trả tiền khi chưa nhận được hàng, như thế sẽ “nắm đằng chuôi” nếu bên xuất khẩu không giao hàng, mặt khác nếu là loại hàng hóa nhà xuất khẩu phải sản xuất xong mới có thể giao hàng được thì người nhập khẩu sẽ bị chiếm dụng vốn trong một thời gian dài Một lần nữa phương thức thanh toán quốc tế tín dụng chứng từ lại chứng tỏ được ưu điểm của mình, ngoài việc đứng ra cam kết thanh toán tiền cho người xuất khẩu, ngân hàng cũng sẽ tư vấn cho nhà nhập khẩu về những điều khoản trong hợp đồng

để xây dựng một thư tín dụng chặt chẽ, có lợi, đảm bảo nhận được hàng đúng thời hạn được đề ra Ngân hàng sẽ kiểm tra bộ chứng từ đó có phù hợp với thông lệ quốc

tế và luật pháp của từng nước hay không, đồng thời người nhập khẩu cũng kiểm soát được chất lượng cũng như xuất xứ hàng hóa thông qua chứng từ do nhà xuất khẩu xuất trình do cơ quan kiểm định độc lập cấp Ngoài ra, một điều mà chúng ta chỉ có thể đạt được ở phương thức thanh toán chứng từ là sau khi nhà nhập khẩu đã tạo được sự tín nhiệm với ngân hàng thì thông thường họ sẽ được Ngân hàng cấp cho một hạn mức miễn ký quỹ mở L/C cho khách hàng Được Ngân hàng đứng ra đảm bảo sẽ giúp nhà nhập khẩu tránh được việc ứ đọng vốn cũng như tránh được rủi ro sẽ bị chiếm dụng vốn

Trang 17

Như vậy với cả hai bên xuất khẩu hoặc nhập khẩu, phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán sòng phẳng đảm bảo quyền lợi một cách hợp lý cho cả hai bên xuất khẩu và nhập khẩu, mà lợi ích lớn nhất là lợi ích đối kháng của cả hai bên thông qua việc làm cho thời gian trả tiền phù hợp với thời hạn giao hàng Ngày nay, thương mại quốc tế đang phát triển với quy mô và tốc độ chóng mặt, các mối quan hệ mua bán trao đổi hàng hóa ngày càng mở rộng, do vậy các hình thức giao dịch ngày càng phong phú và đa dạng, điều đó kéo theo nhiều thách thức và rủi ro phát sinh Một trong những rủi ro thường xảy ra là rủi ro liên quan đến việc thanh toán Các ưu điểm đặc trưng của phương thức tín dụng chứng

từ đã lý giải lý do tại sao phương thức này được sử dụng phổ biến rộng rãi và đã trở thành một tác nhân quan trọng giúp phát triển buôn bán quốc tế và nền kinh tế quốc gia nói chung và nâng cao uy tín, vị trí và năng lực dich vụ thanh toán của ngân hàng nói riêng

Đối với ngân hàng, phương thức thanh toán tín dụng chứng từ có những lợi

ích cơ bản sau:

Một là, do độc lập với hợp đồng mua bán ngoại thương được ký kết giữa các

bên, các ngân hàng tham gia phương thức thanh toán tín dụng chứng từ với tư cách

là bên cung cấp dịch vụ thanh toán quốc tế, vì vậy, ngân hàng hoàn toàn không bị ràng buộc bởi các tranh chấp liên quan tới tình trạng hàng hoá cũng như các tranh chấp phát sinh xảy ra giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu sau khi người nhập khẩu đã thanh toán tiền cho ngân hàng

Hai là, các quy định ký quỹ L/C cho các doanh nghiệp mở L/C còn giúp

ngân hàng phát hành có được một nguồn vốn đáng kể, đặc biệt đối với những trường hợp ký quỹ 100% giá trị L/C sẽ thúc đẩy các hoạt động tín dụng cho vay của ngân hàng như là cho vay xuất nhập khẩu, bảo lãnh, xác nhận v.v… Bởi vì, các doanh nghiệp thường không thể xoay vòng vốn được ngay mà bắt buộc phải vay tại ngân hàng phát hành L/C, một mặt để tiến hành quy trình thanh toán được thuận lợi, mặt khác sẽ tạo được mối quan hệ lâu dài giữa ngân hàng và các doanh nghiệp

Trang 18

Ba là, thông qua nghiệp vụ thanh toán bằng L/C nên ngân hàng sẽ có một

nguồn thu ổn định từ việc mở, sửa đổi, điều chỉnh L/C, phí thông báo, xác nhận L/C Nhìn vào quy trình thanh toán L/C cho thấy nghiệp vụ thanh toán L/C khá phức tạp, đòi hỏi trình độ nghiệp vụ cao, có thể nói là cao nhất trong các nghiệp vụ ngân hàng, do đó, các khoản phí liên quan khá cao, tạo nên một dịch vụ độc quyền

và nguồn thu đáng kể cho ngân hàng

Cuối cùng, điều lớn nhất mà phương thức thanh toán L/C mang lại cho

ngành ngân hàng là tham gia phương thức này sẽ làm cơ sở để ngân hàng cũng cố mối quan hệ với các ngân hàng nước ngoài, từ đó có cơ hội phát triển, quảng bá, mở rộng mạng lưới mang tính toàn cầu Đồng thời, giúp ngân hàng đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ, nâng cao chất lượng phục vụ ngân hàng thông qua các mối quan hệ, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm và đặc biệt thông qua cạnh tranh để hệ thống ngân hàng trên toàn thế giới không ngừng hoàn thiện để theo kịp sự phát triển chung, nâng cao uy tín và tầm quan trọng trên thị trường tài chính Tín dụng quốc tế

1.2 Tổng quan về tập quán tiêu chuẩn ngân hàng quốc tế để kiểm tra chứng từ trong phương thức tín dụng chứng từ (ISBP)

1.2.1 Khái niệm và nguyên tắc áp dụng của ISBP

Có thể nhận thấy rằng, tổng thể các nội dung nghiệp vụ của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ được thực hiện theo bản quy tắc “Tập quán và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ” (The Uniform Customs and Practice for Documentary Credits – UCP) do Phòng Thương mại quốc tế tại Paris (International Chamber of Commerce – ICC) ban hành UCP được ban hành nhằm thống nhất các quy định trong hoạt động thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng trên phạm vi toàn cầu, tao điều kiện thuận lợi cho các bên tham gia hoạt động này UCP được xuất bản năm 1933 và sửa đổi lần đầu tiên năm 1951 Nhìn chung thì cứ 10 năm UCP lại

Trang 19

được sửa đổi một lần để phù hợp với sự phát triển và thay đổi của các ngành thương mại, ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, vận tải7

Để thực hiện có hiệu quả UCP, ISBP – “International Standard Banking Practice for the Examination of Documents Under Documentary Credits”, tiếng Việt gọi là “Tập quán Ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế dùng để kiểm tra chứng từ trong phương thức tín dụng chứng từ”, là văn bản quốc tế do ICC phát hành nhằm hướng dẫn thực hiện UCP Trên thực tế, ISBP được xem như một cuốn cẩm nang hướng dẫn không thể thiếu đối với các ngân hàng, các công ty xuất nhập khẩu, các chuyên gia logistics, các công ty bảo hiểm… trong việc lập và kiểm tra các chứng

từ xuất trình theo thư tín dụng

Nội dung chính của ISBP chủ yếu quy định chi tiết, giải thích rõ ràng hơn những điều khoản của UCP, mà cụ thể là về việc tạo lập và kiểm tra các văn bản liên quan đến bộ chứng từ trong giao dịch thanh toán quốc tế như chứng từ bảo hiểm, các vận đơn, chứng thư vận tải đường biển, đường hàng không, hối phiếu,…

Có thể ở mỗi một phiên bản của ISBP lại có những điểm mới, điểm cải thiện, nhưng chung quy lại thì nó vẫn là những quy định, những nguyên tắc để xây dựng và kiểm tra một bộ chứng từ hợp lệ trong mối quan hệ giao dịch giữa các bên

Lịch sử ra đời của ISBP là ở nguyên nhân do cách hiểu và vận dụng không thống nhất của các chủ thể tham gia về cùng một nội dung quy định trong UCP, hơn nữa thực tế lại phát sinh không ngừng, ngày càng phong phú và đa dạng, điều đó đã dẫn đến tình trạng ngày càng nhiều thắc mắc và tranh chấp về bộ chứng từ xảy ra, làm cho phương thức thanh toán bằng L/C trở nên kém hiệu quả hơn Sau khi đã tập hợp được đa số các thắc mắc và ICC đã giải trình tương đối đầy đủ các tình huống, đồng thời để tiêu chuẩn hóa việc kiểm tra chứng từ tại tất cả các nước, các khu vực

và tại ngân hàng, do đó sự cần thiết phải bổ sung một văn bản quy định chi tiết và rõ ràng hơn các điều khoản của UCP

7 GS Đinh Xuân Trình (2010) - Bộ tập quán quốc tế về L/C của ICC – NXB Thông tin và Truyền thông

Trang 20

Như vậy, ISBP là sự bổ sung mang tính thực tiễn cho UCP, giải thích chi tiết hơn cho UCP Nhờ đó, ISBP đã làm cho những nguyên tắc chung quy định trong UCP và công việc của những người hàng ngày thực hiện nghiệp vụ thanh toán L/C trên toàn thế giới trở nên thống nhất với nhau

Để áp dụng ISBP trong hoạt động thanh toán quốc tế một cách hiệu quả, GS.TS Nguyễn Văn Tiến – Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam, nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Thanh toán quốc tế, Học viện Ngân hàng đã xây dựng

ra một số nguyên tắc áp dụng ISBP rất cụ thể8 Những nguyên tắc này như một cơ

sở để vận dụng các quy định của ISBP trong hoạt động thanh toán quốc tế Cụ thể như sau:

Nguyên tắc 1: ISBP không sửa đổi UCP mà nó hoàn toàn phù hợp với nội

dung của UCP, với các ý kiến và quyết định do ủy ban Ngân hàng - ICC đưa ra đối với các vướng mắc phát sinh liên quan đến L/C

Sự ra đời của ISBP là làm rõ quy định của điều 13 – UCP600: Thế nào là tập quán tiêu chuẩn ngân hàng quốc tế, đồng thời giải thích cách hiểu và áp dụng các điều khoản của UCP để tất cả các ngân hàng trên thế giới áp dụng Trong quá trình soạn thảo ISBP, các chuyên gia đã dựa vào các câu hỏi và các giải trình, cũng như các tranh chấp và cách xử lý khi áp dụng UCP Chính vì vậy, các điều khoản ISBP quy định phù hợp hoàn toàn phù hợp với UCP Đây cũng là mục đích hay chính là vai trò của ISBP như đã phân tích ở trên

Nguyên tắc 2: ISBP phản ánh tập quán quốc tế áp dụng cho tất cả các bên

liên quan trong giao dịch L/C Trong giao dịch L/C, các bên liên quan chủ yếu bao gồm: Ngân hàng phát hành, Ngân hàng thông báo, Người mở L/C, Người thụ hưởng L/C, Ngân hàng xác nhận, Ngân hàng được chỉ định v.v Một khi L/C có dẫn chiếu tuân thủ UCP, thì đương nhiên những giao dịch liên quan đến L/C sẽ được điều chỉnh bởi UCP và vì vậy sẽ phải tuân thủ ISBP Những người khác có liên quan

8 GS, TS Nguyễn Văn Tiến, Giáo trình thanh toán quốc tế và tài trợ ngoại thương, Nhà xuất bản thông kê, Tr.421 – 422

Trang 21

đến giao dịch L/C như người chuyên chở, nhà bảo hiểm, luật sư,… khi phát hành chứng thư phải hành động theo quy định của ISBP Một luật sư khi bào chữa cho thân chủ liên quan đến bộ chứng từ xuất trình theo L/C cũng sẽ căn cứ vào ISBP là chính, trừ khi quy định của ISBP trái với luật quốc gia Nguyên tắc này thể hiện sự nhất quán và công bằng cho các chủ thể liên quan trong việc thực hiện giao dịch thanh toán bằng L/C Dĩ nhiên, không chỉ những chủ thể trực tiếp của các bên giao dịch mà cả những chủ thể gián tiếp vẫn có thể áp dụng ISBP

Nguyên tắc 3: ISBP giải thích một cách chi tiết và đề ra tiêu chuẩn kiểm tra

chứng từ cho những người thực hiện giao dịch L/C Bởi ngay tại nguyên tắc thứ nhất đã thể hiện rằng ISBP là bản chi tiết hóa các quy định của UCP, do đó những điều khoản chính của UCP sẽ được cụ thể tại ISBP Tuy nhiên, ISBP quy định không mở rộng mà thu hẹp vào những quy định để hỗ trợ việc kiểm tra chứng từ đã hợp lệ hay chưa Đó là những quy định của từng loại văn bản liên quan đến bộ chứng từ như ngày tháng xác lập, thời hạn có hiệu lực, những sửa đổi, các điều khoản liên quan đến các bên giao dịch được thể hiện trong mỗi chứng từ,…Từ tiền

đề những quy định ấy, những kiểm soát viên, thanh toán viên lấy căn cứ để xác định chứng từ đã hợp lệ hay chưa, có tiếp tục thực hiện giao dịch được hay không

Nguyên tắc 4: Trong một số điều khoản của ISBP có đưa thêm một số ví dụ

minh họa Cần hiểu rằng những ví dụ này chỉ làm mục đích minh họa làm cho điều khoản dễ hiểu hơn mà không bao trùm mọi trường hợp phát sinh

Có thể thấy, đặc biệt là ISBP hiện tại đã có rất nhiều những ví dụ minh họa cho những quy định của ISBP, những ví dụ rất cụ thể và dễ hiểu là tiền đề cho việc ứng dụng các quy định một cách dễ dàng hơn Tuy nhiên cũng có thể thấy rằng, ISBP ra đời một phần là để giải quyết những khó khăn thực tế mà UCP chưa dự trù được hết Do đó, những ví dụ minh họa trong ISBP cũng chỉ là hình thức để người vận dụng dễ hiểu hơn chứ không phải thực tế phải diễn ra như vậy, hay áp đặt nó cho những phát sinh khác xảy ra

Trang 22

Nguyên tắc 5: Việc cho ra đời ISBP là nhằm giúp cho giao dịch L/C được

thực hiện trôi chảy hơn, làm cho L/C thực sự trở thành công cụ thanh toán chứ không phải công cụ từ chối Theo một số liệu được thu thập, Ủy ban Kỹ thuật và Nghiệp vụ ngân hàng của ICC nhận thấy có tới khoảng 70% chứng từ xuất trình theo tín dụng thư đã bị từ chối ở lần xuất trình đầu tiên vì có sai sót Điều này rõ ràng có ảnh hưởng tiêu cực đến phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, vốn là một phương thức thanh toán quốc tế truyền thống và có nhiều ưu điểm, vì chi phí tăng lên do các trường hợp phải chịu phí chứng từ bất hợp lệ gia tăng và quan trọng hơn là những sai sót chứng từ đó lại tỏ ra không mấy rõ ràng Do đó, ISBP nói riêng hay cả UCP nói chung ra đời là để giảm thiểu những giao dịch thanh toán chứng từ không hợp lệ bị từ chối, thúc đẩy quá trình giao dịch diễn ra nhanh chóng và hiệu quả

Nguyên tắc 6: Việc dẫn chiếu ISBP vào L/C là không có giá trị, vì theo UCP

việc tuân thủ các điều khoản ISBP chính là tuân thủ UCP Bởi một khi L/C đã tuyên

bố tuân thủ UCP, thì các bên liên quan đến L/C đương nhiên phải tuân thủ các điều khoản của ISBP Nếu việc dẫn chiếu ISBP vào L/C là yêu cầu bắt buộc, thì có thể dẫn đến sự suy diễn không đúng rằng: Mặc dù L/C đã tuân thủ UCP nhưng còn việc

có tuân thủ ISBP hay không là còn phụ thuộc vào sự lựa chọn của họ (nghĩa là nếu

có dẫn chiếu ISBP thì nó có hiệu lực pháp lý, còn nếu không có dẫn chiếu thì không

có giá trị gì)

Nguyên tắc 7: Bất cứ điều khoản nào trong L/C làm thay đổi hay ảnh hưởng

đến việc áp dụng một điều khoản của UCP thì cũng làm ảnh hưởng đến ISBP Do

đó, khi xem xét các tập quán quy định trong ISBP, cần chú ý xem xét các điều khoản L/C liên quan có điều khoản nào loại trừ hoặc sửa đổi UCP hay không

Những nguyên tắc này rất quan trọng để các bên thực thi ISBP một cách hiệu quả nhất phù hợp với bản chất của L/C và các nguyên tắc của UCP trong thanh toán quốc tế

Trang 23

1.2.2 Lịch sử phát triển và hoàn thiện các phiên bản ISBP

1.2.2.1 ISBP645

Phiên bản đầu tiên “Tập quán Ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế dùng để kiểm tra chứng từ trong phương thức tín dụng chứng từ”có tên gọi tắt là ISBP645 được Ủy ban Ngân hàng của ICC ấn hành năm 2002 ISBP645 gắn liền với UCP500 ra đời

đề ra 200 quy tắc kiểm tra chứng từ xuất trình theo thư tín dụng So với UCP thì ISBP ra đời khá muộn, bởi bản UCP đầu tiên được ban hình vào năm 1933 (UCP 82), sau đó được sửa đổi năm 1951 và cứ trong khoảng 10 năm lại có một bản UCP mới ra đời gồm UCP222 năm 1962, UCP290 năm 1974, UCP400 năm 1983, UCP500 năm 1993, riêng lần sửa đổi gần đây nhất là UCP600 ra đời năm 2007

Có thể thấy sau gần 10 năm UCP500 ra đời và có hiệu lực thì phiên bản ISBP đầu tiên mới xuất hiện Kể từ khi Ủy ban Ngân hàng của ICC thông qua ISBP năm 2002, ISBP645 đã trở thành một nguồn trợ giúp vô giá cho các ngân hàng, các công ty, các chuyên gia về hậu cần và các công ty bảo hiểm trên toàn cầu Những người tham gia hội thảo và hội thảo của ICC đã chỉ ra rằng tỷ lệ từ chối đã giảm do

áp dụng 200 quy tắc được trình bày chi tiết trong ISBP

ISBP645 ra đời là thành quả của hơn 2 năm làm việc của Ủy ban Ngân hàng ICC Mục tiêu của ISBP trả lời các câu hỏi chính liên quan đến việc kiểm tra các bản thảo, các chứng từ vận tải đa phương thức, các văn bản bảo hiểm, giấy chứng nhận xuất xứ và một loạt các văn bản khác liên quan đến thư tín dụng Văn bản này dựa trên ý kiến chính thức do Ủy ban Ngân hàng ICC ban hành để đáp ứng các câu hỏi do người sử dụng UCP500 đưa ra Các con số cho thấy rằng 60% - 70% tài liệu thư tín dụng bị từ chối vì sự khác biệt trong lần trình bày đầu tiên ISBP645, bằng cách khuyến khích tính đồng nhất về thực tiễn trên toàn thế giới, nhóm soạn thảo dự kiến sẽ cắt giảm đáng kể số liệu này, và bằng cách làm như vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho dòng chảy thương mại thế giới

Mặc dù ISBP không sửa đổi UCP500, nó cung cấp câu trả lời cho các câu hỏi chính đặt ra bởi các nhà thực hành tài liệu như: Điều gì cấu thành một "thay

Trang 24

đổi" hoặc "bổ sung" vào một tài liệu, khi nào và như thế nào nên được chứng thực? Làm thế nào tài liệu nên được ký kết, nếu điều này không được nêu rõ trong tín dụng? Làm thế nào nên xử lý một lỗi gõ trên các tài liệu liên quan đến tên và địa chỉ, địa chỉ khác nhau của cùng một công ty,v.v? Phải thương mại các điều khoản, chẳng hạn như Incoterms, xuất hiện trên hóa đơn? Tập tài liệu bảo hiểm đầy đủ, bản sao so với bản gốc, xác nhận và ngày hiệu lực là gì?

Trong 200 đoạn là 200 quy tắc trong ISBP645 thì rõ ràng dựa trên ý kiến của

Ủy ban Ngân hàng ICC - và phản hồi từ các thành viên trên toàn thế giới - ISBP không thực sự giải thích hay bổ sung những nhiều khoản của UCP500 một cách chắc chắn Do đó, có ý kiến cho rằng mặc dù ISBP645 đã được Ủy ban Ngân hàng chấp thuận, nhưng ứng dụng của nó không có quan hệ rõ ràng với UCP5009

1.2.2.2 ISBP681

Bản ISBP681 là bản sửa đổi đầu tiên của ISBP Sau hơn 4 năm sử dụng, Ủy ban Ngân hàng quyết định tiến hành sửa đổi ISBP645 và thông qua phiên bản 2007 với tên gọi là ISBP681 Sau khi ban hành bản sửa đổi UCP600, ICC đã xuất bản ấn phẩm ISBP681 2007 thay cho ấn phẩm cũ ISBP645 2002 ISBP681 đưa ra các quy tắc kiểm tra chứng từ nhằm giúp đỡ các ngân hàng trong việc quyết định bộ chứng

từ có phù hợp hay không Từ đó ISBP681 được áp dụng đương nhiên cùng với phiên bản UCP600 Việc ra đời UCP600 và ISBP681 là kết quả tất yếu xuất phát từ vấn đề lý luận và thực tiễn

Về mặt lý luận, do thời thế thay đổi, thương mại quốc tế càng trở nên phức tạp hơn đồng nghĩa với việc yêu cầu một bộ luật hoàn chỉnh hơn để điều chỉnh nó

Do đó, UCP600 và ISBP681 ra đời là kết quả tất yếu để giảm thiểu những sai biệt

và góp phần thúc đẩy thương mại quốc tế ngày càng phát triển hơn

9 Bài viết “MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CẦN LƯU Ý KHI SỬ DỤNG TẬP QUÁN NGÂN HÀNG TIÊU CHUẨN QUÔC TẾ VỀ KIỂM TRA CHỨNG TỪ THEO UCP600 (ISBP745 ICC 2013)” Nguồn: congtyxnkdamviet.com, truy cập ngày 26/3/2019

Trang 25

Về mặt thực tiễn, mặc dù UCP500 và ISBP645 ra đời đã là một sự tiến bộ vô cùng lớn, thể hiện ở khả năng trường tồn khá dài (14 năm) so với các văn bản pháp

lý khác Xét dưới góc độ các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, UCP500 được xem là một bộ luật tương đối khó hiểu về mặt ngôn ngữ và phức tạp về mặt quy trình Do

đó việc xảy ra những sai sót là điều không tránh khỏi, đồng nghĩa với điều đó là tổn thất về thời gian và tiền bạc Về phía các ngân hàng, việc tư vấn cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cũng gặp không ít khó khăn về sự mơ hồ trong các điều khoản của UCP500 Đặc biệt khi tạo lập và kiểm tra bộ chứng từ thanh toán theo UCP500 và ISBP645 đã gặp nhiều sự khó khăn trong thương lượng bộ chứng từ, các vấn đề liên quan đến kiểm tra chứng từ,… Thực tế đó đã buộc UCP và ISBP phải sửa đổi cho sự đảm bảo trong vận dụng phương thức tín dụng chứng từ để thanh toán quốc tế và phù hợp với thực tiễn nảy sinh trong các hoạt động thương mại quốc tế trong gia đoạn phát triển mới

Phiên bản thứ hai là ISBP681 ra đời thay thế ISBP645 thực sự đã tạo ra những thay đổi cơ bản trong quy trình nghiệp vụ thanh toán tại các ngân hàng thương mại Vì ISBP681 có một số thay đổi so với ISBP645 nên để áp dụng thành công UCP600 và ISBP681 đòi hỏi các ngân hàng cần phải thay đổi, bổ sung, hoàn thiện quy trình nghiệp vụ của mình cho phù hợp với quy tắc và thông lệ quốc tế

Đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu, UCP600 cũng như ISBP681 đã đặt ra những tiêu chuẩn kiểm tra chứng từ rõ ràng tạo cơ sở cho việc tạo lập chứng từ, bên cạnh đó ISBP681 cũng có những quy định rõ ràng về chứng từ được tạo lập tuân thủ UCP600 và từ đó giúp giảm thiểu những sai sót về bộ chứng từ khi lập theo UCP500 và ISBP645 ISBP681 có những quy định rõ ràng hơn so với ISBP645 về chứng từ xuất trình do đó sẽ giúp cho các doanh nghiệp xuất khẩu đòi tiền dễ dàng hơn

Sau gần 7 năm áp dụng, trong chừng mực nào đó ISBP681 đã bộc lộ nhiều thiếu sót và chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế về kiểm tra chứng từ theo L/C, do vậy, mới đây vào tháng 4 năm 2013 Ủy ban Ngân hàng của ICC đã thông qua bản

Trang 26

ISBP sửa đổi với tên gọi mới là ISBP745 (International Standard Banking Practice for the Examination of Documents under UCP600 - ISBP 2013 ICC Publication No 745) Có thể nói ISBP745 là phiên bản được sửa đổi cẩn thận hơn nhiều so với ISBP681 cả về nội dung lẫn hình thức Nhóm soạn thảo gồm có Gary Collyer (Anh), R.V Balasubramani (Ấn Độ), Graham Christiansen (Anh), Carlo Di Ninni (Ý), Wolfgang Heiter (Đức), Ed Jongenelen (Hà Lan), Iqbal Karmalli (UAE), David Meynell (Anh),Rene Mueller (Thụy Sĩ), Kim Sindberg (Đan Mạch), Charnell Williams (Mỹ) và Zhongming Zha (Trung Quốc) đã mất gần 4 năm để sửa đổi ISBP681.10

Rút kinh nghiệm từ nhưng tranh chấp chứng từ cũng như từ những vướng mắc trong thực tế kiểm tra chứng từ xuất trình theo L/C mà các ngân hàng đã phản ảnh và đã được Ủy ban Ngân hàng ICC cho ý kiến giải đáp trong thời gian qua, Nhóm soạn thảo ISBP745 đã viết lại toàn bộ các đoạn hướng dẫn của ISBP681, bổ sung thêm nhiều tình huống và ví dụ cụ thể để minh họa cho rõ ràng hơn Bên cạnh

đó, Nhóm soạn thảo ISBP745 cũng bổ sung hướng dẫn kiểm tra thêm nhiều chứng

từ mà trước đó ISBP681 không có hướng dẫn, ví dụ như phiếu đóng gói (packing list) bảng kê trọng lượng (weight list), chứng nhận của người thụ hưởng (beneficiary’s certificate), các chứng nhận phân tích (analysis), giám ịnh (inspection), y tế (health), kiểm dịch thực vật (phytosanitary), số lượng (quantity), chất lượng (quality) và các chứng nhận khác Do vậy, về hình thức, phiên bản ISBP745 dày hơn gấp đôi ISBP681

Nội dung cụ thể của ISBP745 sẽ được trình bày cụ thể ở Chương 2 của luận văn này

10Đinh Xuân Trình và Đặng Thị Thanh Nhàn, ISBP 745 2013 Cẩm nang 280 quy tắc kiểm tra chứng từ thanh

toán theo L/C tuân thủ UCP 600, Nxb Lao động, 2013, tr.12

Trang 27

1.2.3 Mối quan hệ pháp lý giữa UCP600 và ISBP745

ISBP745 được hiểu là gắn liền và không tách rời UCP 600 Nội dung này khẳng định rằng ISBP 745 2013 đã tạo ra một “hành lang pháp lý” để các ngân hàng kiểm tra chứng từ xuất trình theo L/C tuân thủ UCP 600 2007

Mục đích của ISBP 745 là nhằm diễn giải và hướng dẫn áp dụng các điều khoản của UCP600, trong phạm vi của các điều khoản và điều kiện của thư tín dụng hoặc bất cứ các sửa đổi thư tín dụng kèm theo Ngoài UCP 600, ngân hàng căn cứ vào ISBP 745 để kiểm tra chứng từ và có thể trích dẫn các điều khoản thích hợp của ISBP 745 để làm cơ sở quyết định thanh toán hay từ chối nếu các chứng từ xuất trình phù hợp hay không phù hợp với điều kiện và điều khoản của L/C và các sửa đổi L/C kèm theo có dẫn chiếu đến UCP600

ISBP745 không sửa đổi hay hủy bỏ các điều khoản của UCP600 Điều này hàm ý mục đích ban hành ISBP của ICC chỉ nhằm diễn giải và hướng dẫn áp dụng các điều khoản của UCP600 mà không sửa đổi, bổ sung hay hủy bỏ các điều khoản của UCP600

Nếu như ISBP681 thể hiện đã không gắn liền với UCP600 cũng được ICC ban hành cùng năm 2007, thì ngược lại ISBP745 ban hành năm 2013 đã gắn kết

không thể tách rời với UCP600 thể hiện qua tên gọi đầy đủ hơn (Tập quán ngân

hàng tiêu chuẩn quốc tế để kiểm tra chứng từ theo UCP600) và phạm vi áp dụng

của nó được nhấn mạnh (Ấn phẩm này được hiểu là gắn liền và không thể tách rời

với UCP600) Với hàm ý này, một khi L/C đã dẫn chiếu áp dụng ISBP745 thì

đương nhiên cũng nên hiểu là việc áp dụng ISBP745 phải tuân thủ UCP600 2007

Trang 28

Tuy nhiên với chiều ngược lại, nếu một L/C đã dẫn chiếu áp dụng UCP600 thì có đương nhiên được hiểu là áp dụng cả ISBP745 hay không? Để xem xét vấn đề này, chúng ta đọc điều 2 của UCP600 xem đã xác định rõ ràng được mối quan hệ giữa

UCP600 và ISBP745 hay chưa: “Xuất trình phù hợp có nghĩa là việc xuất trình phù

hợp với các điều kiện và điều khoản của tín dụng, với các điều khoản có thể áp dụng của quy tắc này (UCP600) và tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế” Hiện

có tới 3 “Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế - ISBP” mang số hiệu khác nhau là

645, 681 và 745 Vậy thì quy định ISBP trong điều 2 nói trên chưa rõ mang số hiệu nào? Quy định như thế là mơ hồ, cho nên không nên hiểu là một khi đã dẫn chiếu áp dụng UCP600 thì đương nhiên cũng áp dụng cả ISBP745

Trong điều kiện chưa sửa đổi được điều 2 của UCP600 hoặc là chỉ rõ số

hiệu của ISBP hoặc là ghi thêm cụm từ “đang có hiệu lực thi hành” vào cuối câu

“tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế”, thì khi phát hành một L/C, ngân hàng

phát hành nên tham chiếu áp dụng UCP600 và cả ISBP745 nhằm tránh những tranh chấp không cần thiết có thể phát sinh ISBP745 gắn với UCP600 và cùng với UCP600, ISBP 745 đã được biên soạn để lấp đầy khoảng cách giữa các nguyên tắc chung của UCP600 và thực hành hàng ngày Tất cả các chuyên gia ngân hàng, các hãng dịch vụ vận tải, bảo hiểm, các luật gia và doanh nghiệp xuất nhập khẩu, các trường đại học và các viện nghiên cứu trên toàn thế giới, các bên tiếp xúc với phương thức tín dụng chứng từ có thể sử dụng ISBP745 như một cuốn cẩm nang pháp lý cho thói quen tạo lập và kiểm tra chứng từ hàng ngày của họ

Trang 29

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Qua nghiên cứu chương 1, có thể rút ra những kết luận sau đây:

góc độ khác nhau Theo UCP600, tín dụng chứng từ là một thỏa thuận bất kỳ, cho

dù được gọi tên hoặc mô tả như thế nào, thể hiện một cam kết chắc chắn và không hủy ngang của ngân hàng phát hành về việc thanh toán khi xuất trình phù hợp Như vậy xét về bản chất, tín dụng chứng từ trước tiên là một phương thức thanh toán qua ngân hàng liên quan chặt chẽ đến việc xuất trình bộ chứng từ hợp lệ

Thứ hai, so với các hình thức thanh toán khác, thanh toán thông qua tín

dụng chứng từ có hai đặc trưng quan trọng: Một là, điều kiện để người thụ hưởng được thanh toán luôn thông qua việc xuất trình các chứng từ phù hợp; Hai là, phương thức thanh toán này luôn có sự cam kết chắc chắn từ phía ngân hàng (ngân hàng mở L/C, ngân hàng xác nhận L/C hoặc ngân hàng được chỉ định), nếu điều kiện thứ nhất được thỏa mãn

Thứ ba, phương thức tín dụng chứng từ được thực hiện dựa trên Thư tín

dụng L/C là cam kết của ngân hàng phát hành theo yêu cầu của nhà xuất khẩu, cam kết thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán cho người thụ hưởng được chỉ định Phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ được sử dụng rất rộng rãi trong lĩnh vực ngân hàng Đó là hình thức thanh toán linh hoạt, bảo đảm tính an toàn cho các giao dịch thương mại quốc tế

hơn những điều khoản của UCP, mà cụ thể là về việc tạo lập và kiểm tra các văn bản liên quan đến bộ chứng từ trong giao dịch thanh toán quốc tế như chứng từ bảo hiểm, các vận đơn, chứng thư vận tải đường biển, đường hàng không, hối phiếu,…

Có thể ở mỗi một phiên bản của ISBP lại có những điểm mới, điểm cải thiện, nhưng chung quy lại thì nó vẫn là những quy định, những nguyên tắc để xây dựng và kiểm tra một bộ chứng từ hợp lệ trong mối quan hệ giao dịch giữa các bên Như vậy, ISBP là sự bổ sung mang tính thực tiễn cho UCP, giải thích chi tiết hơn cho UCP

Trang 30

Thứ năm, theo pháp luật Việt Nam, việc áp dụng tập quán ngân hàng quốc tế

mà cụ thể ở đây là ISBP được pháp luật thừa nhận theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 của Chính phủ

Những nội dung lý luận nghiên cứu ở Chương này sẽ giúp phân tích nội dung của ISBP745 ở Chương 2 sau đây

Trang 31

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG CỦA ISBP745 (TẬP QUÁN NGÂN HÀNG TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ ĐỂ KIỂM TRA CHỨNG TỪ

THEO UCP600)

2.1 Những vấn đề chung về tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế để kiểm tra

chứng từ theo UCP600 (Gọi tắt là ISBP745)

2.1.1 Tên gọi và phạm vi áp dụng

Trước khi đi vào nội dung cụ thể, có thể thấy thay đổi rõ nhất của phiên bản

này chính là ở tên gọi ISBP745 được đổi tên là “Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn

quốc tế để kiểm tra chứng từ theo UCP600” (International Standard Banking

Practice for the Examination of Documents under UCP600 - ISBP745 2013 ICC)

thay vì tên cũ “Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế để kiểm tra chứng từ theo

tín dụng chứng từ” (International Standard Banking Practice for the Examination

of Documents under Documentary Credits – ISBP681 2007 ICC) Sự đổi tên này

một mặt nhằm giải quyết sự mơ hồ về tên gọi của ISBP681 và mặt khác quy định rõ

ràng mối quan hệ pháp lý gắn bó không thể tách rời giữa UCP600 và ISBP745

ISBP745 được ban hành nhằm làm rõ hơn định nghĩa “xuất trình phù hợp”

theo điều 2 UCP600: “Xuất trình phù hợp nghĩa là việc xuất trình phù hợp với các

điều kiện và điều khoản của tín dụng, với các điều khoản có thể áp dụng của các

quy tắc này và với Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế” Như vậy tiêu chuẩn

kiểm tra chứng từ này gắn với UCP600 chứ không gắn với tín dụng chứng từ chung

chung như tên của ISBP681 trước đây thể hiện

Phạm vi áp dụng ISBP745 (Scope of Publication) được thể hiện từ chính tên

gọi của nó Khác với ISBP681, phiên bản ISBP745 khẳng định ngay ở phần phạm

vi áp dụng rằng ISBP745 phải được đặt trong mối liên hệ và không tách rời

UCP600 (This publication is to be read in conjunction with UCP600 and not

Trang 32

inisolation) Khẳng định trên cho thấy rằng ISBP745 là một phần không tách rời

của UCP600 Ngân hàng căn cứ ISBP745 để kiểm tra chứng từ và có thể trích dẫn các đoạn hướng thích hợp của ISBP745 để làm cơ sở từ chối nếu các chứng từ xuất trình không phù hợp với điều kiện và điều khoản của L/C, UCP600 và ISBP745

2.1.2 Những nguyên tắc chung

Cũng như các phiên bản ISBP trước kia, ISBP745 cũng xây dựng các điều khoản về nguyên tắc áp dụng chung cho các loại chứng từ Tuy nhiên, việc quy định này mang tính cụ thể và rõ ràng hơn so với những quy định tại các phiên bản trước Đó là quy định về cách thức viết tắt, liên quan đến nội dung sửa chữa và thay đổi, ngày tháng ghi trong chứng từ, ngôn ngữ chứng từ, rồi các điều khoản bổ sung

so với UCP600 v.v Một bộ chứng từ được coi là hợp lệ thì trước hết phải tuân thủ đầy đủ những nguyên tắc chung này

Thứ nhất, quy định về các chữ viết tắt trên chứng từ

ISBP745 đã quy định về cách thức viết tắt trong một bộ chứng từ được coi là hợp lệ như một số kỳ hiệu:“Ltd” – “Limited”, “Int’l” – “International”, “Co” –

“Company”, “kgs” hoặc “kos” – “Kilograms” hoặc “Kilos”, “Ind” – “Industry”,

“mfr” – “manufacturer”, “mt” – “metric tons”,… Nguyên tắc viết tắt này đã hướng dẫn bổ sung trường hợp L/C sử dụng chữ viết tắt thì cho phép chứng từ xuất trình thể hiện chữ viết tắt đó hoặc bất kỳ chữ viết tắt khác có cùng ý nghĩa hoặc thể hiện

từ được đánh vần đầy đủ hoặc ngược lại Đối với ký hiệu “/”, ISBP745 bổ sung thêm ví dụ để làm rõ nghĩa Nếu L/C quy định “màu đỏ/màu đen/màu xanh” mà không có giải thích thêm thì có nghĩa là chỉ màu đỏ hoặc chỉ màu đen hoặc chỉ màu xanh hoặc bất kỳ sự kết hợp giữa các màu đều có thể chấp nhận

Thứ hai, quy định về các giấy chứng nhận, các lời chứng nhận, các lời khai và các lời tuyên bố

Có thể thấy sự khác biệt ở ngay tiêu đề, với ISBP681 ghi tiêu đề là Lời

chứng nhận và Lời khai (Certifications and Declarations), còn ISBP745 mở rộng

Trang 33

tiêu đề là Giấy chứng nhận, Lời chứng nhận, Lời khai và Tuyên bố (Certificates,

Certifications, Declarations and Statements)

Hướng dẫn mục này ISBP681 chỉ bao gồm một đoạn thì ISBP745 gồm 3 đoạn với ví dụ cụ thể để làm rõ ý nghĩa Ở đây, ISBP quy định cụ thể sự hợp lệ của giấy chứng nhận, lời chứng nhận, lời khai hoặc tuyên bố trong bộ chứng từ xuất trình như có chữ ký, ngày tháng hợp lệ nếu có yêu cầu Ở đây, ISBP cũng nêu rõ ví

dụ minh họa thể hiện cho quy định này Cụ thể như sau: L/C yêu cầu xuất trình chứng nhận do nhà chuyên chở hoặc đại lý phát hành nêu rằng con tàu không quá

25 tuổi, chứng nhận có thể chứng minh sự phù hợp bằng cách thể hiện:

(i) ngày tháng năm hoặc năm con tàu được đóng, và ngày hoặc năm đó không quá 25 năm trước ngày giao hàng hoặc năm mà việc giao hàng được thực hiện, trong trường hợp này không cần thiết phải ghi ngày phát hành, hoặc

(ii) từ ngữ được nêu trong L/C, trong trường hợp này yêu cầu phải có ngày phát hành, bằng cách đó thể hiện rằng cho đến ngày đó con tàu không quá 25 tuổi

Thứ ba, quy định về sửa chữa và thay đổi nội dung chứng từ

Nếu những sửa chữa và thay đổi trong các chứng từ do bản thân người thụ hưởng phát hành thì không phải chứng thực, xác nhận (trừ hối phiếu) Nếu chứng từ

do người thụ hưởng phát hành đã được chứng thực mà muốn sửa đổi thì phải có xác nhận của cơ quan chứng thực, nếu không phải người thụ hưởng phát hành thì phải

có xác nhận của người phát hành, nếu không thuộc hai trường hợp trên thì phải được xác nhận của ít nhất một tổ chức đã chứng thực

Thứ tư, quy định liên quan đến hình thức của chứng từ

Quy định về ngày, tháng được ghi trong chứng từ Các hối phiếu, chứng từ

vận tải, các chứng từ bảo hiểm đều phải ghi rõ ngày tháng Ngoài ra các chứng từ khác sẽ được đáp ứng bằng cách quy định ngày phát hành chứng từ hoặc cách ghi tham chiếu tới ngày tháng của chứng từ khác trong cùng một lần xuất trình hoặc ngày tháng thể hiện trên một chứng từ quy định có sự việc xảy ra ISBP745 cũng có

Trang 34

hướng dẫn cụ thể về cách hiểu đối với một thư tín dụng sử dụng các nhóm từ có ý nghĩa về thời gian hoặc ghi bên cạnh là ngày tháng hoặc ghi bên cạnh sự việc Các ngày tháng có thể diễn giải theo các hình thức khác nhau Ví dụ: te 12th of November 2007, 12 Nov 2007,…

Quy định về ngôn ngữ chứng từ ISBP681 quy định các chứng từ do người

thụ hưởng phát hành phải bằng ngôn ngữ của L/C Nếu L/C quy định có thể chấp nhận chứng từ phát hành bằng hai hoặc nhiều ngôn ngữ, thì ngân hàng chỉ định, khi thông báo L/C có thể hạn chế số lượng ngôn ngữ có thể chấp nhận như là một điều kiện cam kết trong L/C Còn ISBP745 sửa đổi hướng dẫn về ngôn ngữ của chứng từ đầy đủ và rõ ràng hơn Theo đó, khi L/C quy định ngôn ngữ của chứng từ xuất trình, thì dữ liệu được L/C hay UCP600 yêu cầu phải được thể hiện bằng ngôn ngữ đó; còn không thì chứng từ xuất trình có thể được phát hành bằng bất kỳ ngôn ngữ nào Ngoài ra, khi L/C cho phép hai hoặc nhiều hơn ngôn ngữ có thể chấp nhận, thì ngân hàng xác nhận hoặc ngân hàng được chỉ định hành động theo sự chỉ định có thể giới hạn ngôn ngữ hoặc số lượng ngôn ngữ có thể chấp nhận như là một điều kiện cam kết của mình trong L/C, và trong trường hợp này, dữ liệu trong các chứng

từ phải là ngôn ngữ hoặc các ngôn ngữ có thể chấp nhận

Quy định về m hiệu Nếu Thư tín dụng quy định chi tiết về ký mã hiệu

thì các chứng từ đề cập để ký mã hiệu phải ghi những chi tiết đó, nhưng thông tin

bổ sung có thể chấp nhận, miễn là nó không mâu thuẫn với các điều khoản của Thư tín dụng Các chứng từ khác lại ghi mã hiệu chi tiết thì điều này cũng không coi là

có sự mâu thuẫn, có thể chấp nhận được

Quy định về lỗi chính tả và đánh máy Nếu lỗi chính tả và đánh máy không

làm ảnh hưởng đến nghĩa của từ hoặc của câu thì có thể chấp nhận được Ví dụ:

“mashine” thay vì “machine” đều có thể chấp nhận được Bởi những lỗi này vẫn làm cho người đọc hiểu được và không làm thay đổi ý nghĩa của nó Tuy nhiên, ví

dụ như trường hợp “model 123” với “model 321” thì lại khác bởi trường hợp này có thể làm sai hoàn toàn ý nghĩa của câu, hoặc là hai đối tượng khác nhau

Trang 35

Quy định về sự thể hiện người phát hành trên chứng từ Tùy theo yêu cầu

của Thư tín dụng rằng có hay không: một chứng từ là phải do một tổ chức hay một

cá nhân đích danh phát hành Nếu có thì nó được thể hiện bằng cách: sử dụng tiêu

đề trên chứng từ, hay chứng từ phải thể hiện là đã được lập hoặc ký bởi hoặc thay mặt tổ chức hoặc cá nhân đích danh đó

Quy định về các chữ ký trong chứng từ Hướng dẫn về chữ ký của ISBP745

thông thoáng và rõ ràng hơn Theo đó, chứng từ không nhất thiết phải ký bằng cách viết tay Chứng từ có thể được ký bằng chữ ký facsimile (chữ ký in sẵn hoặc chữ ký scan), chữ ký đục lỗ, chữ ký bằng con dấu, biểu tượng hoặc bằng bất kỳ phương thức xác thực bằng điện tử hay cơ khí Một yêu cầu chứng từ phải được “ký và đóng dấu” hoặc một yêu cầu tương tự sẽ được thỏa mãn bằng một chữ ký với hình thức nêu trên và tên của đơn vị ký được đánh máy, đóng dấu, viết tay, được in sẵn hoặc được scan trên chứng từ…

Quy định đối với chứng từ nhiều trang và kèm theo hoặc phụ lục Trừ khi

Thư tín dụng quy định hoặc một chứng từ quy định khác, các trang được gắn kết tự nhiên với nhau, đánh số liên tiếp nhau hoặc phải có chỉ dẫn tham khảo bên trong Nếu chứng từ có nhiều trang, thì nó phải có khả năng xác nhận các trang đó là bộ phận của cùng một chứng từ Nếu Thư tín dụng hoặc bản thân chứng từ không quy định nơi phải ký hoặc ký hậu trên chứng từ gồm nhiều trang thì thông thường chữ

ký phải ở trên trang đầu hoặc trang cuối của chứng từ

Cuối cùng là quy định về tên của các chứng từ và các loại chứng từ kết hợp

Ngoài các điều khoản đã có trong ISBP681 như: Các chứng từ có thể được đặt tên theo yêu cầu của Thư tín dụng, mang một tên tương tự hoặc không có tên và nội dung của nó phải thể hiện được chức năng của chứng từ; Các chứng từ được liệt kê trong Thư tín dụng phải được xuất trình như các chứng từ riêng biệt… thì ISBP745

bổ sung thêm hướng dẫn: Chứng từ được L/C yêu cầu thể hiện nhiều hơn một chức năng có thể được xuất trình bằng một chứng từ hoặc bằng các chứng từ riêng biệt thể hiện hoàn thành từng chức năng Ví dụ, L/C yêu cầu xuất trình một Chứng nhận Chất lượng và Số lượng sẽ được thỏa mãn bằng cách xuất trình một chứng từ hoặc

Trang 36

bằng một Chứng nhận Chất lượng và một Chứng nhận Số lượng miễn là từng chứng

từ đều thể hiện chức năng của nó và được xuất trình đúng số lượng bản gốc và bản sao theo yêu cầu của L/C Việc bổ sung này thể hiện rõ ràng tính chất của chứng từ ngay trong tên gọi của nó

Thứ năm, quy định về các thuật ngữ không được định nghĩa trong UCP600

Các thuật ngữ về hứng từ g i hàng, ác chứng từ đến chậm có thể chấp

ISBP681 vẫn được giữ nguyên ISBP745 bổ sung thêm các thuật ngữ sau:

- “Third party documents not acceptable” (các chứng từ bên thứ ba không

được chấp nhận) - không có ý nghĩa và sẽ không được quan tâm

- “Shipping company” (công ty vận tải biển) - khi được sử dụng trong ngữ

cảnh là người phát hành một giấy chứng nhận, lời chứng nhận hay lời khai liên quan đến chứng từ vận tải - có nghĩa là bất kỳ người nào sau đây: nhà chuyên chở, thuyền trưởng, hoặc khi một vận đơn thuê tàu được xuất trình, thì là thuyền trưởng, chủ tàu hoặc người thuê tàu, hoặc bất kỳ đơn vị nào được nhận biết là đại lý của bất

kỳ người nào trên đây bất kể người đó đã phát hành hoặc ký chứng từ vận tải được xuất trình hay không

- “Documents acceptable as presented” (các chứng từ có thể chấp nhận như

được xuất trình) - là một xuất trình có thể bao gồm một hay nhiều chứng từ quy định miễn là chúng được xuất trình trong thời hạn hiệu lực quy định trong L/C và số tiền thanh toán nằm trong giá trị L/C Nếu không, các chứng từ đó sẽ không được kiểm tra sự phù hợp theo UCP600 kể cả khi chúng được xuất trình đúng số lượng bản gốc hay bản sao theo yêu cầu hay không

Việc bổ sung này xuất phát từ thực tế phát sinh liên quan trong hoạt động giao dịch chứng từ đồng thời cũng đây sẽ là cách hiểu thống nhất và rõ ràng cho người sử dụng chứng từ Như vậy, ISBP745 ngày càng thể hiện những tiến bộ và giải quyết những mơ hồ mà những phiên bản trước chưa làm được

Trang 37

Thứ sáu, quy định các điều kiện phi chứng từ và mâu thuẫn của dữ liệu

Đây là một nội dung quan trọng vì việc thanh toán dựa trên kiểm tra chứng

từ nên các điều kiện phi chứng từ hoặc sự mâu thuẫn dữ liệu sẽ hạn chế khả năng tiến hành thanh toán của ngân hàng nơi phát hành L/C ISBP745 bổ sung hướng dẫn

về trường hợp L/C quy định về điều kiện phi chứng từ Theo đó, khi L/C quy định một điều kiện mà không quy định chứng từ để thể hiện sự phù hợp với chứng từ đó (gọi là điều kiện phi chứng từ), thì không cần phải chứng minh sự phù hợp với điều kiện đó trên bất kỳ chứng từ được quy định Tuy nhiên, dữ liệu trên chứng từ quy định không được mâu thuẫn với điều kiện phi chứng từ Ví dụ, L/C thể hiện điều

kiện đóng gói là “packing in wooden cases” nhưng không yêu cầu điều kiện đó thể

hiện trên bất chứng từ quy định, nhưng chứng từ xuất trình thể hiện đóng gói khác với điều kiện đóng gói nêu trong L/C được xem là mâu thuẫn dữ liệu

2.2 Các quy định kiểm soát cụ thể đối với từng loại chứng từ trong thanh toán

2.2.1 Hối phiếu

Hối phiếu là một tờ mệnh lệnh đòi tiền vô điều kiện, do người xuất khẩu, người bán, người cung ứng dịch vụ, ký phát đòi tiền người nhập khẩu, người mua, người nhận cung ứng và yêu cầu người này khi nhìn thấy hối phiếu phải trả một số tiền nhất định, tại một địa điểm nhất định, trong một thời gian nhất định cho người hưởng lợi quy định trong hối phiếu, hoặc theo lệnh của người này trả cho người khác Định nghĩa này dựa trên tinh thần của Công ước Liên hợp quốc về hối phiếu

và kỳ phiếu quốc tế năm 1988

Trong ISBP có quy định về phạm vi kiểm tra hối phiếu của các ngân hàng chỉ trong chừng mực các điều khoản của bộ tập quán này như về thời gian, các thời hạn liên quan, số tiền, ký hậu,… Các quy định chủ yếu về kiểm tra hối phiếu trong ISBP745 như sau:

Thứ nhất, về thời gian của hối phiếu phải phù hợp với các điều kiện trong

L/C Nếu một hối phiếu được ký phát có thời hạn thì ngày đáo hạn của nó phải được xác định từ bản thân hối phiếu đó Nếu Thời hạn là X ngày sau ngày vận tải

Trang 38

đơn thì ngày hàng bốc lên tàu được coi là ngày vận tải đơn, ngay cả khi ngày bốc hàng lên tàu là trước hoặc sau ngày vận tải đơn Cách tính ngày đáo hạn là ngày tiếp theo, ví dụ 10 ngày sau hoặc từ ngày 1/3 là ngày 11/3 Nếu một vận tải đơn thể hiện nhiều ghi chú bốc hàng lên tàu xuất trình theo một L/C yêu cầu hối phiếu ký phát,

ví dụ 60 ngày sau ngày vận tải đơn, thì ngày sớm nhất được dùng để tính ngày đáo hạn Vd: L/C yêu cầu giao hàng ở cảng ở Việt Nam, và vận tải đơn ghi chú hàng đã bốc lên tàu A từ cảng Nhơn Trạch (Đồng Nai) ngày 1/5 và lên tàu B ở cảng Hải Phòng ngày 15/5, thì hối phiếu sẽ được tính là 60 ngày sau ngày 1/5 Nếu L/C yêu cầu hối phiếu ký phát, và nhiều bộ vận đơn được xuất trình theo một hối phiếu, thì ngày vận tải đơn cuối cùng được dùng để tính ngày đáo hạn Các chứng từ vận tải khác cũng áp dụng nguyên tắc như vậy

Thứ hai, về thời gian đáo hạn của hối phiếu Nếu một hối phiếu quy định

ngày đáo hạn là một ngày cụ thể thì nó phải phù hợp trong L/C Nếu một hối phiếu được ký phát X ngày sau ngày xuất trình, sẽ có hai trường hợp xảy ra: Một là, chứng từ phù hợp hay không phù hợp nhưng ngân hàng trả tiền không thông báo từ chối, thì ngày đáo hạn là X ngày từ ngày ngân hàng này nhận được chứng từ; Ngược lại, nếu ngân hàng trả tiền từ chối và sau đó chấp nhận thì Ngày đáo hạn là

X ngày là muộn nhất sau ngày ngân hàng này chấp nhận hối phiếu Ngân hàng trả tiền phải thông báo ngày đáo hạn cho người xuất trình, việc tính Ngày đáo hạn cũng

sẽ áp dụng với L/C thanh toán về sau

Thứ ba, đối với các hối phiếu có yêu cầu ký hậu Ký hậu (Endorsement) hối

phiếu là thủ tục chuyển nhượng quyền sở hữu hối phiếu từ người hưởng lợi này sang người hưởng lợi khác Việc ký hậu hối phiếu được thực hiện bằng cách người

ký hậu (Endorser) ký chuyển chuyển vào mặt sau của tờ hối phiếu và trao cho người được chuyển nhượng (Endorsee) Hành vi ký hậu có những ý nghĩa pháp lý như sự thừa nhận sự chuyển quyền lợi hối phiếu cho người khác được quy định trong mặt sau của tờ hối phiếu Sự ký hậu này mang tính chất trừu tượng, có nghĩa

là người ký hậu không cần phải nêu lý do của sự chuyển nhượng và cũng không cần phải thông báo cho người trả tiền biết về sự chuyển nhượng đó, mà người được

Trang 39

chuyển nhượng hiển nhiên trở thành người hưởng quyền lợi hối phiếu đó Ngoài ra, còn giúp xác định trách nhiệm của người ký hậu về việc trả tiền hối phiếu đối với những người hưởng lợi hối phiếu đó

Thứ tư, quy định về các sửa chữa và thay đổi trong hối phiếu Sửa chữa và

thay đổi hối phiếu nếu có thì phải được người ký phát ký xác nhận Nếu ngân hàng ghi chú trong L/C về việc không cho phép sữa chữa trong L/C thì việc sữa chữa và

thay đổi không được chấp nhận ngay cả khi được người ký phát xác nhận

2.2.2 Hóa đơn

Nói đến hoá đơn trong thanh toán quốc tế người ta thường nói đến hai loại hoá đơn, đó là hoá đơn chính thức hay còn gọi là hoá đơn thương mại, và hoá đơn tạm thời Một L/C yêu cầu một “hóa đơn” mà không giải thích thêm thì bất cứ các loại hóa đơn nào xuất trình đều có thể đáp ứng yêu cầu Mọi nội dung trong hóa đơn đều phải tuân thủ và phù hợp với nội dung tương ứng trong Thư tín dụng Cụ thể việc kiểm tra đối với hóa đơn được ISBP 745 quy định như sau:

Thứ nhất, kiểm tra về người phát hành hóa đơn Đối với quy định về người

phát hành hóa đơn thì ISBP681 không có hướng dẫn về vấn đề này Tuy nhiên ở ISBP745 bổ sung thêm hướng dẫn này nhằm làm rõ Điều 18(a) (i) UCP600 quy định về người phát hành hóa đơn Theo đó, hóa đơn phải được phát hành bởi người thụ hưởng, hoặc bởi người thụ hưởng thứ hai trong trường hợp L/C đã được chuyển nhượng Khi người thụ hưởng hoặc người thụ hưởng thứ hai có thay đổi tên và L/C vẫn ghi tên cũ, thì hóa đơn có thể được phát hành bằng tên công ty mới miễn là có nêu “trước đây được gọi là [tên của người thụ hưởng thứ nhất hoặc người thụ hưởng thứ hai]” hoặc bằng từ ngữ có ý nghĩa tương tự

Thứ hai, kiểm tra về m tả hàng hóa, dịch vụ hoặc thực hiện và những y u

c u chung có li n quan đến hóa đơn Như các nội dung khác trong hóa đơn thì quy

định về mô tả hàng hóa dịch vụ và các thực hiện trong hóa đơn phải phù hợp với

mô tả trong Thư tín dụng Mô tả hàng hóa dịch vụ và các thực hiện trong hóa đơn phải phản ánh hàng hóa nào thực sự đã được giao hoặc đã được cung ứng Một hóa

Trang 40

đơn mô tả toàn bộ hàng hóa như quy định trong Thư tín dụng sau đó ghi rõ là những hàng nào đã được giao, cũng có thể chấp nhận được Một hóa đơn phải kê khai giá trị hàng hóa đã giao hoặc dịch vụ hoặc các thực hiện đã được cung ứng Đơn giá, nếu có, và đồng tiền ghi trong hóa đơn phải phù hợp với đồng tiền trong Thư tín dụng Hóa đơn phải thể hiện mọi chiết khấu và giảm giá đã được yêu cầu trong Thư tín dụng Nếu điều kiện thương mại là một bộ phận của mô tả hàng hóa trong Thư tín dụng hoặc được ghi gắn liền với số tiền, thì hóa đơn phải ghi rõ điều kiện thương mại đó và nếu mô tả hàng hóa chỉ ra nguồn của các điều kiện thương

mại, thì nó phải chỉ rõ nguồn của các thương mại đó

Hóa đơn không được chấp thuận trong trường hợp như: (i) Nếu giao hàng hóa vượt quá hoặc không được yêu cầu trong Thư tín dụng Ví dụ: hàng mẫu, vật phẩm quảng cáo thì hóa đơn không được thể hiện điều đó, ngay cả khi nói rõ là miễn phí; (ii) Số lượng hàng hóa yêu cầu trong thư tín dụng có thể thay đổi trong một dung sai /- 5 (ngoại trừ những Thư tín dụng qui định số lượng không được tăng hoặc giảm; hoặc đơn vị tính là bao, gói,…) Một sự thay đổi tăng lên 5 về

số lượng hàng hóa không cho phép số tiền thanh toán vượt quá số tiền của Thư tín dụng; (iii) Ngay cả khi cấm giao hàng từng phần, thì dung sai kém 5 trên số tiền của hóa đơn là được chấp nhận Nếu Thư tín dụng không quy định số lượng thì hóa đơn coi như thanh toán cho toàn bộ số lượng Ngoài ra, nếu Thư tín dụng yêu cầu giao hàng nhiều lần thì mỗi lần giao hàng phải phù hợp với lịch trình giao hàng

Thứ ba, kiểm tra hóa đơn trong trường hợp thanh toán hoặc giao hàng nhiều

l n Tại các hướng dẫn về hóa đơn, ISBP681 chỉ hướng dẫn ngắn gọn về việc giao

hàng nhiều lần, theo đó, nếu L/C yêu cầu giao hàng nhiều lần, thì mỗi lần giao hàng phải phù hợp với lịch trình giao hàng ISBP745 bổ sung thêm hướng dẫn về thanh toán nhiều lần, chi tiết như sau:

+ Một là, khi việc thanh toán và giao hàng nhiều lần (drawing or shipment

by instalments) trong các khoảng thời gian được quy định trong L/C, và bất kỳ lần

giao hàng nào không được thanh toán hoặc không được thực hiện trong khoảng thời

Ngày đăng: 13/04/2020, 23:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w