Đã có nhiều công trình, bài viết về việc vận dụng mô hình NCBH trong dạy học các môn Toán, Hóa học, Kĩ thuật công nghiệp,… Riêng với môn Ngữ văn, đến nay vẫn chưa có công trình, bài viết
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ THU THOA
VẬN DỤNG MÔ HÌNH “NGHIÊN CỨU BÀI HỌC” TRONG DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU NĂM 1975 CHO HỌC SINH LỚP 12
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
HÀ NỘI – 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ THU THOA
VẬN DỤNG MÔ HÌNH “NGHIÊN CỨU BÀI HỌC” TRONG DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU NĂM 1975 CHO HỌC SINH LỚP 12
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
BỘ MÔN NGỮ VĂN
Mã số: 8.14.01.11
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Minh Diệu
HÀ NỘI – 2020
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô trong Bộ môn Ngữ văn trường Đại học Giáo dục- ĐHQG Hà Nội đã góp ý cho tác giả hoàn thiện luận văn Tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến PGS TS Phạm Minh Diệu, người đã tận tình hướng dẫn tác giả trong quá trình thực hiện đề tài luận văn
Tác giả cũng xin cảm ơn Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo trường THPT Nguyễn Huệ, tỉnh Ninh Bình đã quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả thực nghiệm luận văn này
Do hạn chế về thời gian, kinh nghiệm, luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót nhất định, rất mong nhận được sự góp ý xây dựng của các thầy, cô giáo và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn nữa
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 05 tháng 11 năm 2019
Tác giả
Nguyễn Thị Thu Thoa
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT STT Viết tắt Viết đầy đủ
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Khảo sát thực trạng của việc vận dụng mô hình NCBH
Bảng 1.2 Khảo sát thực trạng của việc vận dụng mô hình NCBH
qua HS quan sát khi dự giờ……… 27 Bảng 2.1 So sánh Giáo án theo mô hình Nghiên cứu bài học và
giáo án hiện hành 53 Bảng 2.2 Đánh giá theo mô hình Nghiên cứu bài học 60 Bảng 3.1 Đối chiếu tỉ lệ thời gian HS được làm việc/ tỷ lệ thời
gian của GV giữa lớp ĐC và lớp TN……… 80 Bảng 3.2 Đối chiếu tỉ lệ câu hỏi/ bài tập nhận biết và bài tập sáng
tạo (thử thách) giữa lớp ĐC và lớp TN……… 81 Bảng 3.3 Đối chiếu mức độ hài lòng của người học sau giờ học
Bảng 3.4 Tổng hợp đánh giá ý kiến của GV về tiết học có vận dụng
mô hình NCBH qua phiếu dự giờ……… 84 Bảng 3.5 Tổng hợp đánh giá ý kiến của HS về tiết học có vận dụng
Trang 6DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 So sánh tỉ lệ thời gian HS được làm việc/ tỷ lệ thời
gian của GV giữa lớp ĐC và lớp TN……… 80 Biểu đồ 3.2 So sánh tỉ lệ câu hỏi/ bài tập nhận biết và bài tập
sáng tạo (thử thách) giữa lớp ĐC và lớp TN 82 Biểu đồ 3.3 So sánh mức độ hài lòng của người học sau giờ học
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN……… i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT……… ii
DANH MỤC CÁC BẢNG……… iii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ……… iv
DANH MỤC CÁC HÌNH……… v
MỞ ĐẦU……… 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI… 7 1.1 Cơ sở lí luận……… 7
1.1.1 Khái quát về mô hình Nghiên cứu bài học……… 7
1.1.2 Khả năng vận dụng mô hình Nghiên cứu bài học trong dạy học môn Ngữ văn ở Trung học phổ thông……… 18
1.1.3 Khả năng vận dụng mô hình Nghiên cứu bài học trong dạy học truyện ngắn Việt Nam giai đoạn sau 1975……… 21
1.2 Cơ sở thực tiễn……… 23
1.2.1.Thực trạng dạy học Ngữ văn hiện nay ở Trung học phổ thông 23
1.2.2.Thực trạng của việc vận dụng mô hình Nghiên cứu bài học trong dạy học Ngữ văn hiện nay ở Trung học phổ thông……….…… 24
Tiểu kết chương 1……… 28
CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC THỰC HIỆN MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU BÀI HỌC TRONG DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU NĂM 1975 CHO HỌC SINH LỚP 12 ……… 29
2.1 Thiết kế kế hoạch dạy học truyện ngắn sau 1975 theo mô hình Nghiên cứu bài học………… ……… 29
2.1.1 Các bước tiến hành thiết kế bài học nghiên cứu……… 29
2.1.2 Kế hoạch dạy học theo mô hình Nghiên cứu bài học ………… 33
Trang 92.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch bài học nghiên cứu……… 54
2.2.1 Tổ chức dạy học……… 54
2.2.2 Dự giờ……… 54
2.2.3 Thảo luận……… 56
2.2.4 Áp dụng cho thực tiễn……… 57
2.3 Đổi mới trong kiểm tra, đánh giá……… 58
Tiểu kết chương 2 62
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM……… 63
3.1 Mục đích thực nghiệm……… 63
3.2 Đối tượng, địa bàn và phương pháp thực nghiệm……… 63
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm……… 63
3.2.2 Địa bàn thực nghiệm……… 63
3.2.3 Phương pháp, cách thức tiến hành……… 64
3.3 Thiết kế giáo án thực nghiệm……… 65
3.4 Thực nghiệm sư phạm 77
3.4.1 Tổ chức thực nghiệm……… 77
3.4.2 Kết quả thực nghiệm……… 77
3.5 Kết luận chung về dạy học thực nghiệm……… 91
Tiểu kết chương 3……… 93
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ………
1 Kết luận………
94 94 2 Khuyến nghị………
TÀI LIỆU THAM KHẢO………
94
96
PHỤ LỤC
Trang 10mô hình tiên tiến Với môn Ngữ văn, mô hình dạy học truyền thống cố nhiên đến lúc phải thay đổi Nhưng đi tìm một mô hình phù hợp cho dạy học Ngữ văn cũng đang là vấn đề còn chưa được giải đáp
“Nghiên cứu bài học” (Tiếng Anh: Lesson study hoặc Reasearch study)
là mô hình có nguồn gốc từ giáo dục Nhật Bản và hiện đang được áp dụng tại nhiều nước trên thế giới Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, mô hình NCBH cũng đang được vận dụng thử nghiệm và đã được chứng minh tính khả thi trong việc bồi dưỡng và phát triển năng lực chuyên môn của GV cũng như trong dạy học tại các trường phổ thông Vận dụng mô hình NCBH trong dạy học nói chung và dạy học Ngữ văn nói riêng là một định hướng có tính hiệu quả cao, vì vậy cần áp dụng rộng rãi trong quá trình giảng dạy ở các trường phổ thông nhằm đáp ứng nhu cầu đổi mới giáo dục hiện nay
Đã có nhiều công trình, bài viết về việc vận dụng mô hình NCBH trong dạy học các môn Toán, Hóa học, Kĩ thuật công nghiệp,… Riêng với môn Ngữ văn, đến nay vẫn chưa có công trình, bài viết nào vận dụng mô hình NCBH để nâng cao chất lượng dạy học, trong khi đây là một mô hình có tính khả thi Mô hình dạy học theo hướng NCBH cần và nên áp dụng để nâng cao chất lượng của QTDH
Từ những lí do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Vận dụng mô hình
“Nghiên cứu bài học” trong dạy học truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 cho
Trang 11học sinh lớp 12” nhằm góp phần xây dựng mô hình dạy học Ngữ văn ở
trường THPT theo quan điểm đổi mới giáo dục hiện nay
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Ở nước ngoài
Thuật ngữ NCBH (lesson study) có nguồn gốc từ thời Meiji (Minh Trị,
1868-1912) và lần đầu tiên được phát triển bởi các GV môn Toán ở các
trường Tiểu học của Nhật Bản Tiếng Nhật gọi là “jugyo kenkyuu” Người được coi là tác giả đầu tiên của “jugyo kenkyuu” là Makoto Yoshida, như một
biện pháp để nâng cao năng lực nghề nghiệp của GV thông qua nghiên cứu cải tiến các hoạt động dạy học các bài học cụ thể, qua đó cải tiến chất lượng học của HS Với hy vọng rằng giáo dục tốt hơn sẽ mang đến những điều tốt đẹp hơn trong thời kì mà rất nhiều trẻ em mất đi niềm yêu thích với học hành
Để cải thiện hoàn cảnh đó, Sato và những đồng nghiệp giới thiệu mô hình NCBH Trong NCBH tất cả GV cần tham gia và họ cần tập trung nhiều hơn trong việc quan sát và phản ánh Theo Sato (2009), ước tính có 2000 trường tiểu học và gần 1000 trường THCS đang làm việc với phương pháp đó
Mô hình này được thực hiện trước tiên ở hai trường học của tỉnh Niigata,
đó là Trường Tiểu học Ojiya, thành phố Ojiya vào năm 1995 và trường Trung học cơ sở THCS Minami, thành phố Nagaoka vào năm 1997 Học tập kinh nghiệm của hai trường này, Hội đồng giáo dục thành phố Chigasaki, tỉnh Kanagawa đã thành lập trường thí điểm NCBH đầu tiên vào năm 1998- Trường Tiểu học Hamanogo Năm 2001, trường THCS Gakuyo, thành phố Fuji, tỉnh Shizuoka trở thành trường thí điểm đầu tiên ở cấp THCS Sau đó, vào năm 2005, trường THPT Yasunishi, tỉnh Hiroshima, trường THPT Numazu Johoku, tỉnh Shizuoka và trường THPT Hikone Nishi, tỉnh Shiga, trở thành trường thí điểm ở cấp THPT Sau đó nhiều trường khác trên khắp nước Nhật cũng đã được thiết lập trở thành trường thí điểm Năm 2012, có khoảng 1.500 trường Tiểu học, 2.000 trường THCS và 300 trường THPT tiến hành
Trang 12đổi mới nhà trường dựa trên NCBH Có 300 trường thí điểm làm nền tảng cho
sự đổi mới này và hiện đã lập nên một mạng lưới vững chắc
NCBH đã thu hút sự quan tâm của các nhà giáo dục và học giả trên toàn thế giới Kể từ năm 2000, đổi mới nhà trường dựa trên NCBH đã lan ra ngoài phạm vi nước Nhật Hình thức dạy học theo NCBH đã được áp dụng trên nhiều nước như Mỹ (Fernandez và Yoshida, 2004; Lewis và cộng sự, 2004; Stigler và Hiebert, 1999), Anh (Dudley, 2007; Ruthven, 2005), Úc
(White và Southwell, 2003)… Từ những năm cuối thế kỷ trước (1990) NCBH
đã được du nhập vào Mỹ một cách nhanh chóng Theo Lewis (2006) ở Mỹ
đến thời điểm này đã có 24 trường đại học có các nhóm NCBH
Ở châu Á, NCBH cũng được giới thiệu ở nhiều nước như Malaysia (Lim
et al, 2005.), In-đô-nê-xi-a (Saito và cộng sự 2006), Brunei (Wood và Mohd Tuah, 2008), Thái Lan (Inprasitha, 2008) … các công trình này đều tập trung nghiên cứu các vấn đề lí luận, qui trình thực hiện của NCBH Điều này giúp cho quá trình nghiên cứu của chúng tôi thuận lợi hơn
2.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, sinh hoạt chuyên môn (SHCM) thường xuyên ở các trường
đã được dự án hợp tác giữa Bộ GD&ĐT và JICA (Tổ chức phát triển hợp tác quốc tế của Nhật Bản) theo hướng NCBH và đã có những kết quả tích cực Hướng phát triển này có thể là kinh nghiệm tốt để đưa NCBH vào nhà trường
Việt Nam để cải tiến dạy học một cách bền vững
Từ đầu năm 2000, NCBH đã bắt đầu được vận dụng ở Việt Nam Tháng
6 năm 2006, Bộ GD&ĐT và JICA quyết định giới thiệu các hoạt động đổi mới trường học, trong đó chú trọng hoạt động chuyên môn theo mô hình NCBH Sở GD&ĐT giới thiệu các trường và cùng với nhóm tư vấn JICA quyết định chọn các trường thí điểm trong mỗi huyện: Thành phố Bắc Giang, Việt Yên, Yên Dũng (Bắc Giang) Sau khi kết thúc dự án GV ở các trường thí điểm đã chủ động và tham gia tích cực
Trang 13Tháng 3 năm 2013, Vụ Giáo dục Trung học đã mời các chuyên gia tham
dự Hội nghị về đổi mới SHCM theo NCBH Nhiều trường tham gia dự án này như : Tiểu học Đồi Ngô (Bắc Giang), THCS Trưng Vương (Hà Nội), các trường THCS của tỉnh Bắc Giang…
Một số hội thảo quốc tế về NCBH đã được tổ chức tại Việt Nam cho thấy sự quan tâm của các nhà giáo dục Việt Nam với mô hình phát triển năng lực nghề nghiệp GV này và tạo cơ hội cho các nhà quản lí, các nhà nghiên cứu giáo dục ở nước ta có cơ hội học tập, trao đổi kinh nghiệm với các chuyên gia quốc tế
Tháng 8 năm 2012, Bộ GD&ĐT tiến hành tập huấn cho cán bộ quản lí
về dổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá cho HS trường THCS, trong đó có đề cập đến đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn thông qua NCBH Tháng 3 năm 2013 Bộ GD&ĐT đã tổ chức hội thảo và triển khai SHCM theo mô hình NCBH Mô hình này đã được Bộ GD&ĐT triển khai phổ biến ở các cấp Tiểu học và THCS, bước đầu áp dụng cho cấp THPT và Giáo dục thường xuyên Qua một thời gian thực hiện, hình thức SHCM theo mô hình NCBH đã có những kết quả tích cực Hướng phát triển này có thể coi là kinh nghiệm tốt để đưa NCBH vào nhà trường Việt Nam để cải tiến dạy học một cách bền vững
Hiện nay ở Việt Nam, đã có nhiều tác giả tập trung nghiên cứu về
“Nghiên cứu bài học” với các công trình tiêu biểu như: “Bồi dưỡng năng lực dạy học cho GV tiểu học qua Nghiên cứu bài học” của Đặng Thị Hồng Doan (2011)
[4, tr 32 - 33], “Phát triển một số năng lực nghiệp vụ sư phạm cho GV thông
qua mô hình nghiên cứu bài học” của Nguyễn Mậu Đức, Hoàng Thị Chiên, Trần Trung Ninh (2014) [9, tr.69], “Sinh hoạt chuyên môn trong nhà trường phổ thông - Thực trạng và giải pháp” của Vũ Hạnh (2012) [11, tr.57 - 58], “Đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng xây dựng văn hóa học tập ở nhà trường thông qua Nghiên cứu bài học” của Vũ Thị Sơn (2011) [18, tr 20 - 23],
Trang 14Nhìn chung các tác giả đã nghiên cứu mô hình NCBH ở nhiều khía cạnh khác nhau Đây là nguồn tài liệu tham khảo quý giá để chúng tôi tiếp thu và thực hiện nghiên cứu này
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc vận dụng mô hình NCBH trong dạy học; đề xuất việc vận dụng mô hình NCBH; thực nghiệm sư phạm
để chứng minh tính khả thi và tính hiệu quả của nó
5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
5.1 Khách thể nghiên cứu
QT DH môn Ngữ văn ở trường THPT ở Việt Nam theo hướng NCBH
5.2 Đối tượng nghiên cứu
Mô hình NCBH trong dạy học ở trường phổ thông
6 Phạm vi nghiên cứu
Về lí thuyết, mô hình NCBH liên quan đến rất nhiều phạm vi ứng dụng trong giáo dục, ở đây chỉ nghiên cứu một số tài liệu phục vụ việc tổ chức dạy học, những tài liệu có liên quan đến việc thiết kế và tổ chức quá trình dạy học
ở Việt Nam
Về mặt thực tiễn, chúng tôi chỉ áp dụng đối với phần truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 trong trường THPT và đối với một số lớp học ở trường THPT Nguyễn Huệ - Ninh Bình
7 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài của luận văn, chúng tôi đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu chính sau đây:
Trang 15a- Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận, bao gồm: đọc, phân tích và
tổng hợp các vấn đề lí luận liên quan đến đề tài
b- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn, bao gồm:
+ Phương pháp phỏng vấn, điều tra (được áp dụng bằng cách phát các phiếu phỏng vấn để điều tra thực tế, để tìm hiểu thực trạng học Ngữ văn hiện nay và thực trạng vận dụng mô hình này trong dạy học Ngữ văn ở trường THPT Nguyễn Huệ - Ninh Bình)
+ Phương pháp thực nghiệm được dùng để dạy học thực nghiệm nhằm đánh giá tính khả thi và tính hiệu quả của các qui trình đề xuất
+ Phương pháp quan sát, thống kê, so sánh được áp dụng trong việc thu thập bằng chứng và xử lí các tư liệu của khảo sát, điều tra và thực nghiệm
8 Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn thiết kế được mô hình bài học theo tinh thần của mô hình NCBH đối với phần truyện ngắn Việt Nam giai đoạn sau 1975 trong CT Ngữ văn 12; đề xuất được qui trình tổ chức dạy học môn Ngữ văn (phần truyện ngắn Việt Nam giai đoạn sau 1975 trong CT Ngữ văn 12); bước đầu đề xuất được những đổi mới trong kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn theo tinh thần của mô hình NCBH
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Tổ chức thực hiện mô hình NCBH trong dạy học truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 cho HS lớp 12
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Khái quát về mô hình Nghiên cứu bài học
1.1.1.1 Khái niệm “Nghiên cứu bài học”
Theo Hiệp hội NCBH thế giới (WALS), NCBH đang là mô hình nhằm đổi mới nhà trường và cải thiện chất lượng GD thông qua hoạt động GV nghiên cứu, xem xét thực tế việc học của HS và những vấn đề liên quan Mô hình này có nguồn gốc từ Nhật Bản sau đó được giới thiệu, phát triển ở châu
Á, châu Mỹ, châu Phi, châu Âu với khoảng 32 nước, trong đó có Việt Nam NCBH đang được phát triển trên thế giới gồm: mô hình NCBH “cộng
đồng học tập” và mô hình NCBH Mô hình NCBH thông thường đi sâu vào
việc cải thiện chất lượng việc học của HS ở những vấn đề học tập cụ thể, thông qua nghiên cứu nhằm hướng đến các bài học mẫu mực để GV vận dụng Mô hình NCBH “cộng đồng học tập” hướng nhiều hơn đến cải thiện mối quan hệ nhà trường, thay đổi văn hoá nhà trường, nâng cao năng lực chuyên môn của GV để đáp ứng việc học đa dạng của HS
Thuật ngữ NCBH (tiếng Anh là Lesson Study hoặc Lesson Research)
dùng để chỉ một quá trình nghiên cứu, học hỏi từ thực tế của một hay một nhóm GV trong nhà trường nhằm nâng cao chất lượng học tập của HS NCBH có trọng tâm là nghiên cứu việc học của HS thông qua từng chủ đề, bài học, môn học, lớp học …
Theo E.Saito (2009), NCBH là một cách tiếp cận việc học tập chuyên môn nhấn mạnh đến việc GV cùng nhau thiết kế kế hoạch dạy học, dự giờ, chia
sẻ thực tế việc học của HS [23]
Theo Vũ Thị Sơn và Nguyễn Duân (2009), NCBH là một cách để nâng cao năng lực chuyên môn cho GV thông qua nghiên cứu các hoạt động dạy học qua từng bài học[19, tr15-16]
Trang 17Như vậy, NCBH là quá trình GV cùng nhau nghiên cứu, học hỏi từ thực
tế Hoạt động này có kế hoạch, được thực hiện thường xuyên, thông qua những bài học, môn học tại trường, lớp mình nhằm nâng cao năng lực chuyên môn - nghiệp vụ gắn với đảm bảo cơ hội học tập và nâng cao chất lượng, hiệu quả việc học của từng HS [15, tr 7]
1.1.1.2 Mục đích, ý nghĩa của Nghiên cứu bài học
a Mục đích
Có thể thấy có 4 mục đích chính thúc đẩy quá trình NCBH:
- Để hiểu rõ hơn về cách HS học những gì mà GV dạy, cách HS phản ứng với các nội dung học tập, thấy được mức độ tác động của các PPDH mà mình đang sử dụng
- Để tạo ra hiệu quả cao trong quá trình học tập, tạo cơ sở thuận lợi và mối liên hệ tốt với các môn học khác Các môn học không chỉ nằm riêng rẽ
mà chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau trong hệ thống nội dung kiến thức chung cần đào tạo cho HS
- Để cải thiện việc dạy học của GV thông qua sự hợp tác có hệ thống với các GV khác trong trường hay cụm trường Thông qua sự hợp tác, các GV chia sẻ cho nhau những kinh nghiệm về bài học để cùng nhau hoàn thiện nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho việc học tập của HS và làm phong phú thêm kinh nghiệm dạy học của mình
- Để xây dựng, nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực sư phạm của GV
Ngoài ra, NCBH còn có mục đích làm tăng tính chuyên nghiệp của GV Những phân tích trên cho thấy NCBH có mục tiêu kép là cải tiến thực tiễn dạy học và phát triển năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, nghiên cứu cải tạo thực tiễn của GV Vì thế, NCBH sẽ tác động đến cả 3 thành phần: năng lực chuyên môn của GV, thực tiễn dạy học và học tập của HS Tuy nhiên, tránh
những hiểu nhầm về NCBH như: (1) NCBH không phải là các lớp đào tạo, bồi
Trang 18dưỡng GV; (2) NCBH không phải là để đưa ra những giáo án tốt, tuyệt vời; (3) NCBH không được thực hiện đơn độc, riêng biệt bởi từng GV; (4) NCBH
không phải chỉ là việc thực hiện xong một bài học, mà cải tiến và phát triển bài học liên tục, nâng cao năng lực thực hiện của GV
b Ý nghĩa
NCBH là một mô hình bồi dưỡng, phát triển chuyên môn nghiệp vụ cho GV bởi những lợi ích to lớn mà nó mang lại cho những người tham gia Mục đích của NCBH là tìm hiểu những gì HS nghĩ, những gì HS tư duy để
có những PPDH phù hợp chứ không phải là một bài học biểu diễn Tất cả các thành viên trong nhóm đều phải có những đóng góp và các ý tưởng đó cần phải được tôn trọng Do vậy, bài học là thuộc về cả nhóm chứ không phải của riêng người dạy Như vậy khi các thành viên tham gia vào NCBH thì sẽ kết hợp được những ưu điểm và cùng hoàn thiện bài học hơn Thông qua NCBH, GV cảm thấy tập trung hơn vào bài học và tăng sự thích thú trong công việc dạy học
NCBH là để cải tiến nội dung dạy học cụ thể nên thông qua quá trình hợp tác với các GV trong nhóm, họ hiểu sâu hơn về nội dung kiến thức của bài học vì chính họ phải đào sâu suy nghĩ hơn và được bổ sung từ ý kiến của những người khác, qua đó năng lực sư phạm của họ được cải thiện GV phải cùng nhau thảo luận về những phản ứng có thể có ở HS trong quá trình học để
có những PPDH cho phù hợp Như vậy GV có thể dự kiến trước được
những kết quả đối với một bài học và những phản ứng của các HS trong lớp NCBH đặt trọng tâm vào học tập của HS Thông qua quan sát và thảo luận
về những gì đang xảy ra trong lớp học, cách HS phản ứng với các tác động, GV tham gia có nhận thức đầy đủ hơn về cách HS học và suy nghĩ cũng như cách
HS hiểu bài, đáp lại những cái GV dạy Hơn nữa, tham gia NCBH giúp GV học được cách quan sát, không phải là quan sát những cái bề ngoài hời hợt mà là quan sát quá trình HS học những cái họ dạy GV học được cách phân tích, rút ra
Trang 19kết luận, sửa đổi từ những số liệu quan sát được Ngoài ra, tham gia NCBH giúp
GV nâng cao kĩ năng thiết kế công cụ dạy học để làm cho học tập và tư duy của
HS trở nên dễ hiểu đối với GV và có thể nhìn thấy được
NCBH thúc đẩy, duy trì sự hợp tác giữa các GV, giúp các GV phát triển
kĩ năng làm việc nhóm, góp phần phát triển không khí hợp tác, đoàn kết trong nhà trường NCBH tạo ra cộng đồng học tập, văn hóa học tập và củng cố tình đồng nghiệp trong nhà trường Tham gia vào NCBH GV thực hiện vai trò của người nghiên cứu, cải tạo thực tiễn và họ trở nên vững vàng hơn về chuyên môn, nghiệp vụ, tăng sự chuyên nghiệp của GV và giúp GV tự tin hơn trong việc giải quyết vấn đề của thực tiễn để nâng cao chất lượng dạy học của mình NCBH tạo cơ hội cho GV có thể quan tâm tới tất cả các HS trong lớp, tạo cơ hội phát triển cho mọi HS Và dẫn tới hệ quả tất yếu là nâng cao chất lượng học tập của HS
Ngoài ra NCBH còn là cái cầu kết nối các nội dung kiến thức, giữa các bộ môn để thu được sự hỗ trợ bổ sung tốt nhất giữa các bộ môn góp phần đào tạo toàn diện cho HS, giữa các cấp học để thu được chương trình đào tạo mạch lạc, thông suốt Một lợi ích nữa xuất phát từ tính linh hoạt, ưu việt của NCBH, đó là
nó có thể thực hiện được ở mọi cấp học, mọi môn học từ các môn tự nhiên, xã hội,… cho tới các môn giáo dục thể chất, nó cũng không đòi hỏi một sự đầu tư khổng lồ mà chỉ cần một nhóm GV sẵn sàng hợp tác cùng nhau
Qua việc NCBH chúng ta có thể nhận ra tính ưu việt của NCBH so với các hình thức bồi dưỡng nghiệp vụ khác NCBH xuất phát từ thực tiễn cần giải quyết những khó khăn thực tiễn trong lớp học của GV Thông qua NCBH
GV được hợp tác, làm việc cùng nhau để hoàn thiện việc xây dựng một kế hoạch bài học
NCBH được sử dụng như là một mô hình bồi dưỡng, phát triển nghiệp
vụ cho GV, bởi nó mang lại cho các GV nhiều lợi ích khi tham gia [9, tr69], [19, tr15-16], [25]
Trang 20Trước hết, tham gia vào NCBH để cải tiến dạy học nội dung cụ thể GV
sẽ hiểu về nội dung đó hơn và suy nghĩ nhiều về cách dạy nội dung đó
Thứ hai, NCBH cung cấp cho GV cơ hội để xem xét việc dạy và học diễn ra
trong thực tiễn một cách khách quan thông qua dữ liệu quan sát giờ học trực tiếp hoặc gián tiếp (qua số liệu quan sát của các GV khác, băng hình, ý kiến nhận xét ) Do đó, GV phát hiện và đánh giá được mức độ tác động của những phương pháp và kĩ thuật dạy học mình sử dụng đến học tập của HS
Thứ ba, NCBH đặt trọng tâm vào học tập của HS Thông qua quan sát và
thảo luận về những gì đang xảy ra trong lớp học, cách HS phản ứng với các tác động, GV tham gia có nhận thức đầy đủ hơn về cách HS học và suy nghĩ cũng như cách HS hiểu bài, đáp lại những cái GV dạy Hơn nữa, tham gia NCBH giúp GV nâng cao kĩ năng quan sát và thiết kế công cụ để làm cho học tập và tư duy của HS trở nên dễ hiểu đối với GV và có thể nhìn thấy được
Thứ tư, NCBH thúc đẩy, duy trì sự hợp tác giữa các GV Việc hợp tác
này thu hẹp khoảng cách giữa các thành viên trong nhóm nghiên cứu và góp
phần tạo ra không khí hợp tác, đoàn kết trong nhà trường NCBH tạo ra cộng
đồng học tập, văn hoá học tập và củng cố tình đồng nghiệp trong nhà trường
Thứ năm, tham gia vào NCBH, GV thực hiện vai trò của người nghiên
cứu, cải tạo thực tiễn và họ trở nên vững vàng hơn về chuyên môn, nghiệp vụ
và tự tin hơn trong việc giải quyết vấn đề của thực tiễn để nâng cao chất lượng dạy học của mình
1.1.1.3 Triết lý của Nghiên cứu bài học
Trong trường phổ thông, NCBH có ba triết lý cơ bản: [17], [19]
Thứ nhất, NCBH đảm bảo cơ hội học tập cho mọi em HS: Mỗi em HS
luôn là một nhân tố quan trọng trong trường học Vì vậy, GV không được “bỏ rơi” bất kỳ HS nào Mọi HS đều có quyền được hưởng thụ môi trường giáo
dục tốt nhất từ nhà trường Theo đó, NCBH đặt trọng tâm tạo cơ hội cho mọi
HS được học tập và học tập thực sự, có ý nghĩa
Trang 21Thứ hai, NCBH đảm bảo cơ hội phát triển chuyên môn cho mọi GV: Mọi
GV đều có quyền được phát triển năng lực chuyên môn Muốn đạt được mục đích đảm bảo cơ hội học tập cho mọi HS, GV cần liên tục phát triển, trau dồi chuyên môn Và thực tiễn dạy học sẽ tạo điều kiện tốt nhất để GV nâng cao năng lực chuyên môn, trong đó NCBH sẽ đảm bảo cơ hội học hỏi từ thực tế cho mọi
1.1.1.4 Nguyên tắc cơ bản của Nghiên cứu bài học
Theo Ose và Sato (2003) NCBH có 4 nguyên tắc chính:
Trường học phải được phát triển thành một cộng đồng học tập mà ở đó mọi em HS quan tâm, được tạo điều kiện tham gia, thực hiện các hoạt động học để hình thành và phát triển các kĩ năng và năng lực cần thiết GV được hợp tác, chia sẻ, làm việc cùng nhau để ó thể học tập lẫn nhau nang cao năng lực chuyên môn, phụ huynh có thể tham gia vào các hoạt động giáo dục để nâng cao hiệu quả của quá trình giáo dục
Mọi GV nên mời đồng nghiệp dự giờ ít nhất một lần/năm nhằm chia sẻ, phân tích bài học, học hỏi lẫn nhau để nâng cao năng lực chuyên môn và kích thích quá trình đổi mới PPDH thường xuyên và hiệu quả
Mối quan hệ lắng nghe và đối thoại cần phải được thiết lập giữa các thành viên trong nhà trường để xây dựng một môi trường giáo dục thân thiện, hợp tác và gắn bó, đặc biệt là các mối quan hệ giữa GV với GV, GV với HS
và HS với HS
Sự tham gia và hợp tác của phụ huynh HS là cần thiết cho sự phát triển bền vững của một cộng đồng học tập Vì thế, cần khuyến khích và tạo điều
Trang 22kiện cho phụ huynh tham gia và hỗ trợ các hoạt động giáo dục tại nhà trường
1.1.1.5 Các bước cơ bản của Nghiên cứu bài học
Quá trình NCBH diễn ra qua nhiều bước và có nhiều cách để phân chia các bước khác nhau
Theo Makoto Yoshida, ngoài việc xác định mục tiêu của bài học nghiên
cứu (Research lesson Goals), chu trình gồm 3 bước cơ bản:
Bước 1: Lập kế hoạch NCBH Bước này bắt đầu bằng việc khảo sát các tài liệu giảng dạy như SGK, sách hướng dẫn GV, chương trình môn học, chuẩn kiến thức, kĩ năng, v.v… Sau đó, các nhóm sẽ xây dựng thành một kế hoạch bài học chi tiết
Kế hoạch bài học nghiên cứu không giống như Giáo án hay Kế hoạch dạy học theo các quan niệm phổ biến hiện nay Nó không phải là những thiết
kế kịch bản cho các hoạt động của GV trên giờ đứng lớp mà là kế hoạch của học tập dành cho HS
Bước 2: Thực hiện kế hoạch Một trong các nhóm sẽ thực hiện Kế hoạch bài học trên lớp, còn những nhóm khác, cũng như các vị khách sẽ quan sát bài học và thu thập dữ liệu
Việc quan sát bài học cũng không giống như việc dự giờ của GV, nhưng
nó không hướng tới việc GV dạy như thế nào mà hướng tới HS học như thế nào Các dữ liệu thu thập được như là những hình ảnh, video hay những ghi chép về các biểu hiện hành vi, nét mặt … của HS, cho thấy sự hứng thú, tập trung chú ý, sự hài lòng, … hay là những biểu hiện tiêu cực của HS
Bước 3: Thảo luận sau NCBH Sau khi quan sát bài học, các nhóm tham gia vào một cuộc thảo luận để xác định hiệu quả học tập của HS
Trang 23Hình 1.1 Chu trình NCBH theo khái quát của Makoto Yoshida [25]
Những kết quả thu được từ các cuộc thảo luận sẽ được rút kinhTheo Theo Nguyễn Đức Mậu và Hoàng Thị Chiên (2014): NCBH là một quá trình gồm 6 bước:
Bước 1: Xây dựng kế hoạch bài học
Bước 2: Tổ chức thực hiện bài học
Bước 3: Thảo luận
Bước 4: Chỉnh sửa kế hoạch bài học (tùy chọn)
Bước 5: Tiến hành dạy các phiên bản đã chỉnh sửa của bài học (tùy chọn) Bước 6: Chia sẻ ý kiến và rút kinh nghiệm
Mô hình NCBH của tổ chức Plan Việt Nam về cơ bản bao gồm 4 bước
mô hình nhưng điểm chung của tất cả các quan điểm đều cho thấy NCBH là
mô hình bồi dưỡng, nâng cao năng lực GV, từ đó có khả năng tác động đến việc nâng cao hiệu quả dạy học Mô hình này dựa trên sự cộng tác, hợp tác
Trang 24của các thành viên, tập trung xây dựng mục tiêu, nghiên cứu tài liệu hoặc chủ
đề quan trọng, quan sát và thu thập bằng chứng, thảo luận để cùng xây dựng bài giảng tốt hơn
Theo kinh nghiệm đã áp dụng ở Bắc Giang, mô hình NCBH được thực hiện theo chu trình 4 bước như sau:
Bước 1: Xây dựng kế hoạch bài học nghiên cứu
Ở bước này, cần xác định mục tiêu cần đạt được của bài học nghiên cứu(căn cứ theo tài liệu về chuẩn kiến thức, kỹ năng ở từng môn học) Mục tiêu được đề xuất bởi một thành viên, sau đó được hoàn thiện bởi các thành viên trong tổ, nhóm chuyên môn
Bước 2 Tổ chức thực hiện và dự giờ
Sau khi hoàn thiện việc xây dựng kế hoạch bài học nghiên cứu, một GV
sẽ dạy minh họa, các GV còn lại sẽ tiến hành dự giờ và ghi chép thu thập dữ liệu về bài học
Bước 3 Suy ngẫm, trao đổi
Đây là khâu quan trọng, là yếu tố quyết định hiệu quả của SHCM Thảo luận và chia sẻ ý kiến là khâu nhạy cảm và phức tạp, rất cần có tinh thần xây dựng của người tham gia và đặc biệt vai trò, năng lực của người chủ trì
Bước 4 Áp dụng cho thực tiễn
Sau khi phân tích, xem xét, thảo luận về tiết dạy đầu tiên, GV cùng suy ngẫm xem có cần tiếp tục thực hiện NCBH này nữa hay không? Nếu bài học vẫn chưa hoàn thiện thì phải thay đổi như thế nào và tiếp tục nghiên cứu theo hướng nào? Từ các ý kiến, nhóm nghiên cứu sẽ tiếp tục chỉnh sửa lại cho phù hợp với đối tượng lớp tiếp theo
Như vậy, nêu coi quá trình nghiên cứu một bài học được thực hiện lần thứ nhất là một đơn vị thì chu trình tiến hành một NCBH có thể bao gồm nhiều đơn vị Chúng nối tiếp nhau để bài học được phát triển và hoàn thiện
Trang 25Quy trình NCBH lặp lại nhau nhưng không gây ra nhàm chán, mất hứng thú đối với GV bởi lẽ thực tế dạy học khác nhau, đối tượng HS khác nhau khác nhau , vì thế, quá trình lặp lại này chỉ càng làm phong phú thêm vốn kinh nghiệm của GV
1.1.1.6 Yêu cầu đối với giáo viên khi tham gia Nghiên cứu bài học
Khi tham gia NCBH GV có thể khác nhau về trình độ chuyên môn, môn dạy, có thể đến từ nhiều trường khác nhau Tuy nhiên để thuận lợi thì thông thường các nhóm nghiên cứu bài học nên cùng trường và có cùng chuyên môn
Sự tham gia của các thành viên trong nhóm phải mang tính chất tự nguyện trên cơ sở muốn nâng cao hiệu quả học tập của HS Trong nhóm các thành viên cùng nhau hợp tác hướng đến mục tiêu chung của bài học, cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm và cùng nhận xét, bổ sung để mỗi cá nhân sẽ hoàn thiện hơn về chuyên môn nghiệp vụ Cần tránh sự phê phán nhau về năng lực chuyên môn hay phẩm chất nghề nghiệp giữa các GV với nhau Các nhóm sẽ làm việc trung bình từ 2-3 bài học trong một năm do việc nghiên cứu có cường độ cao và chiếm khá nhiều thời gian
1.1.1.7 Ưu điểm và hạn chế của mô hình Nghiên cứu bài học
NCBH là một mô hình bồi dưỡng, phát triển năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho mỗi GV và làm thay đổi nhà trường một cách bền vững Qua NCBH, GV sẽ:
- Học cách quan sát tinh tế, nhanh, nhạy việc học của HS
- Hiểu hơn về HS, đồng nghiệp, bản thân trước các yêu cầu đổi mới trong hoạt động dạy học
- Cùng nhau hợp tác tạo nên sự đoàn kết trong việc giải quyết các vấn đề đặt ra giữa các GV; tạo sự thân thiết trong việc xây dựng tình đồng nghiệp Tạo ra động lực, niềm say mê chuyên môn của tất cả các GV
- Tạo cơ hội cho cán bộ quản lý thấu hiểu và cảm thông với GV trong công việc hàng ngày
Trang 26- Tích lũy các kinh nghiệm, nâng cao chuyên môn và ý thức đổi mới
PPDH, kiểm tra đánh giá theo hướng dạy học tích cực
Sau khi tiến hành NCBH các GV sẽ viết báo cáo chia sẻ những kinh nghiệm họ thu được qua quá trình NCBH, đề xuất một kế hoạch chi tiết khác
để các nhóm GV khác có thể tham khảo, dựa vào đó để áp dụng vào thực tế lớp học của mình hoặc thành lập nhóm nghiên cứu mới dựa trên kinh nghiệm của người đi trước
Đổi mới SHCM theo mô hình NCBH sẽ đặt GV vào trong những tình huống thực tiễn với những bài học cụ thể Bằng cách này, buộc GV phải tư duy tích cực, khơi dậy khả năng tìm tòi và sáng tạo, biết đánh giá và tự đánh giá, đưa ra ý kiến bản thân dựa vào những lập luận có cơ sở; tất cả các ý tưởng đó cần phải được tôn trọng, biết tự đánh giá năng lực bản thân, thừa nhận mặt tích cực cũng như mặt hạn chế Qua đó, có thể thấy quá trình NCBH giúp GV có thể phát triển năng lực nghề nghiệp cho chính bản thân mình
Trọng tâm NCBH là tìm hiểu về HS, qua việc quan sát lớp học, thảo luận những gì xảy ra trong lớp học, cách HS phản ứng với từng hoạt động câu hỏi của GV sẽ giúp họ nhận thức đầy đủ những gì HS hiểu, đáp lại qua bài dạy GV
GV thực hiện vai trò của người nghiên cứu, cải tạo thực tiễn và họ sẽ vững vàng hơn về chuyên môn, nghiệp vụ, tăng sự chuyên nghiệp của GV và giúp
GV tự tin hơn trong việc giải quyết vấn đề của thực tiễn để nâng cao chất lượng dạy học của mình NCBH tạo cơ hội cho GV có cơ hội để quan tâm tới tất cả các HS trong lớp, tạo cơ hội phát triển cho mọi HS
- Có lẽ, nên xem NCBH như một cái cầu kết nối giữa các GV, xây dựng tình thân ái giữa họ Nếu quá trình NCBH được tiến hành trong một trường nó sẽ giúp cải tiến chất lượng dạy học các bộ môn Nếu nó được tiến hành trong một cụm trường, nó sẽ giúp các GV của các trường khác nhau chia
sẻ kinh nghiệm với nhau Nếu nó được tiến hành trong phạm vi một khu vực, một quốc gia thì nó giúp cải tiến PPDH, sửa nội dung SGK, cấu trúc chương
Trang 27trình Qua đó, NCBH giúp thu hẹp khoảng cách, chất lượng giáo dục giữa các trường, các vùng miền
- Ngoài ra NCBH còn là cái cầu kết nối các nội dung kiến thức, giữa các
bộ môn để thu được sự hỗ trợ bổ sung tốt nhất giữa các bộ môn góp phần đào tạo toàn diện cho HS, giữa các cấp học để thu được chương trình đào tạo mạch lạc, thông suốt
Tuy nhiên, qua thực tế áp dụng mô hình NCBH ở Việt Nam, chúng tôi thấy vẫn còn một số khó khăn, tồn tại như:
- Xây dựng kế hoạch: Sự hợp tác của GV mới chỉ mang tính hình thức
- Dự giờ: Vẫn chỉ chú ý đến việc dạy của GV và ít quan tâm đến hoạt
động học của HS
- Suy ngẫm về bài học: Có nhiều GV có thái độ phê phán GV dạy (như
thường nhận xét: cô, thầy không thể làm việc này hay việc kia, phải làm như thế này, không được làm như thế kia…) hay nhận xét chung chung nhưng không rõ ràng, chi tiết
- Trọng tâm của giai đoạn quan sát:Trong NCBH là bài học và quá trình
học của HS, còn trong một số trường hợp thực tế lại là GV “GV dự giờ chỉ chú ý đến GV dạy và họ thích ngồi ở đằng sau và ít chú ý đến HS” Như vậy, bước quan sát trong một số trường hợp thực tế được làm trái ngược với trọng tâm của NCBH
1.1.2 Khả năng vận dụng mô hình Nghiên cứu bài học trong dạy học môn Ngữ văn ở Trung học phổ thông
1.1.2.1 Bản chất của quá trình dạy học Ngữ văn ở Trung học phổ thông
a Bản chất của QTDH
- Dạy học là hoạt động đặc trưng nhất của nhà trường, diễn ra theo một quá trình từ t0 đến tn gọi là QTDH Đó là một quá trình gắn liền với hoạt động dạy và hoạt động học trong đó HS học tập, thu nhận kiến thức và hình thành
Trang 28kĩ năng dưới sự điều khiển, tổ chức, hướng dẫn của GV nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ dạy học
Như vậy, QTDH là một quá trình dưới người dạy tổ chức, điều khiển để người học tự giác, tích cực, chủ động thu nhận kiến thức và hình thành kĩ năng
Từ đó có thể thấy, hoạt động nhận thức của HS trong QTDH cũng tuân theo quy luật nhận thức chung Tuy nhiên, hoạt động nhận thức cũng có những đặc biệt thể hiện: Nếu con đường nhận thức của loài người là mò mẫm, sửa sai thì nhận thức của HS trong QTDH là được đưa đến sẵn.Vì thế, kết quả
là nhận thức của loài người là tìm ra cái mới thì quá trình nhận thức của HS là mới cho cá nhân HS và mang tính giáo dục cao hơn.Vậy, bản chất của hoạt động học là quá trình nhận thức độc đáo của HS; QTDH là tổ chức quá trình hoạt động nhận thức độc đáo đó của HS
b Bản chất của QTDH Ngữ văn ở THPT
Ngữ văn là một môn học có tầm quan trọng rất lớn trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm và góp phần hình thành nhân cách con người Hiểu được tầm quan trọng của môn Ngữ văn, đồng thời phát huy cao hơn hiệu quả giảng dạy học theo tinh thần đổi mới đang là vấn đề được quan tâm nhất hiện nay
Để đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao để thực hiện thật tốt việc dạy và học chương trình SGK mới, nâng cao năng lực giáo dục toàn diện Môn Ngữ văn - một môn học hướng con người vươn tới chân thiện mỹ, để giảng dạy môn ngữ văn được tốt, gắn với đổi mới nội dung SGK mới hiện nay đòi hỏi phải đổi mới PPDH
Khi tiến hành đổi mới PPDH, mỗi GV Ngữ văn cần chú ý tới hai khía cạnh sau:
- Đổi mới PPDH văn không có nghĩa là phải từ bỏ tất cả PPDH truyền thống và thay thế bằng PPDH mới
- Không phải là chỉ cải tiến các PPDH truyền thống mà không vận dụng các PPDH mới vào QTDH, vấn đề là vận dụng các phương pháp sao cho linh
Trang 29hoạt nhằm phát huy được sự chủ động tích cực trong học tập của tất cả các đối tượng (giỏi, khá, trung bình, yếu) nhằm nâng cao hiệu quả giờ học
Khi tiến hành đổi mới PPDH, vai trò của GV quan trọng và nặng nề hơn, chứ không đơn giản là truyền thụ kiến thức một chiều tới HS Không phải thầy
cứ thao thao bất tuyệt, mà dưới sự hướng dẫn của thầy HS hiểu được giá trị văn học qua các tác phẩm văn học trên phương diện nội dung và nghệ thuật Điều quan trọng nhất là phải khơi dậy được sự tích cực, tự giác học tập môn Ngữ văn của HS Tất nhiên sự tự giác này có thể bắt đầu bằng chính các cách tổ chức các
mô hình dạy học mới, áp dụng các PPDH mới sao cho QTDH đạt được hiệu quả cao nhất
Dạy văn có nghĩa là phải biến tác phẩm của tác giả thành tác phẩm của mỗi người học, kết quả của việc dạy văn là tạo ra ở mỗi HS những rung động, cảm thông, hiểu biết về tư tưởng, tình cảm của nhà văn thể hiện trong tác phẩm; phải phân tích lí giải đánh giá được những tư tưởng, tình cảm đó; phải
áp dụng được những kiến thức đã học vào giải quyết những tình huống trong thực tiễn; phải tích cực, chủ động, sáng tạo, vận dụng được kiến thức trong quá trình tiếp cận Do vậy trong dạy học văn phải rất tôn trọng tính cá nhân, tránh o ép, áp đặt sự cảm, hiểu văn của người này tới người khác; phải đề cho các em được nghiên cứu bài học, được bày tỏ quan điểm, chính kiến, suy nghĩ
và sự chủ động, sáng tạo thông qua việc tổ chức các hoạt động học, các hoạt động thảo luận để giải quyết các tình huống trong bài học, tạo ra được ở các
em niềm say mê tìm hiểu, khám phá thưởng thức các giá trị văn học Để làm được điều này, người GV văn phải dày công tạo dựng mới có thể trở thành một phản xạ quen thuộc ở mỗi HS GV phải là người biết điều chỉnh nhận thức, tình cảm của các em, đáp ứng được mục đích, yêu cầu đã đặt ra trong mỗi bài học Đáp ứng yêu cầu của đất nước trong sự nghiệp đổi mới góp phần thực hiện mục đích chiến lược giáo dục của Đảng là “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”
Trang 301.1.2.2 Những khả năng áp dụng mô hình Nghiên cứu bài học trong dạy học Ngữ văn
Mục tiêu của môn Ngữ văn hướng tới các phẩm chất đặc thù môn Ngữ văn, đó là năng lực giao tiếp và năng lực thẩm mỹ Các năng lực này có thể được hình thành và phát triển bằng nhiều con đường, trong đó không loại trừ con đường của mô hình NCBH
Nội dung của môn Ngữ văn là những kiến thức, kĩ năng liên quan đến tác phẩm văn học Đây là nội dung giàu tính hình tượng, cảm xúc và đặc biệt phụ thuộc vào yếu tố chủ quan của người học Điều này nghĩa là, cần phải coi trọng các hoạt động học của người học (cả hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm) Và mô hình NCBH là một mô hình phát huy được tất cả những hoạt động đó
PPDH môn Ngữ văn thường phải tương thích với PPDH và đặc điểm của môn Ngữ văn Đó là các phương pháp có tính năng động (Tiếng Anh:
dynamic), tổng thể (whole) và nghệ thuật (atct) Phương pháp này phân biệt
với các phương pháp cơ học (machine), đơn lẻ (single) và thiên về khoa học- công nghệ (science - technology) thường gặp trong các môn học khác Chính
vì vậy sẽ cần đến mô hình NCBH như một biện pháp để tìm được tiếng nói chung, đạt tới tính khách quan, khoa học, khắc phục được những hạn chế do tính nghệ thuật của nó mang lại
1.1.3 Khả năng vận dụng mô hình Nghiên cứu bài học trong dạy học truyện ngắn Việt Nam giai đoạn sau 1975
Trước hết cần phải thấy, mỗi một giai đoạn văn học có những đặc trưng riêng và đều có khả năng vận dụng được mô hình NCBH
Trong CT Ngữ văn 12, truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 gồm có các phẩm sau: Chiếc thyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu), Một người Hà Nội
(Nguyễn Khải)
Trang 31Văn học thời kì này mang những đặc trưng cơ bản sau:
Trước hết, thời kì văn học này có sự đổi mới về ý thức nghệ thuật: Các nhà văn thời kì này quan niệm hiện thực không phải là một cái gì đơn giản, xuôi chiều; con người là một sinh thể phong phú, phức tạp, còn nhiều bí ẩn cần khám phá; nhà văn phải là người có tư tưởng, phải nhập cuộc bằng tư tưởng chứ không chỉ bằng nhiệt tình và trong tìm tòi sáng tạo không chỉ dựa vào kinh nghiệm cộng đồng mà còn phải dựa vào kinh nghiệm của cá nhân mình nữa; độc giả không phải là những đối tượng để thuyết giáo mà là những người bạn để giao lưu, đối thoại một cách bình đẳng…[1, tr 16]
Đây cũng là thời kì có sự thức tỉnh sâu sắc ý thức cá nhân Mỗi người đều muốn tạo cho mình một bút pháp, phong cách riêng
Chính vì vậy, các sáng tác bắt đầu có những đổi mới về nội dung và nghệ thuật:
Trước hết là những chuyển biến trong quan niệm về con người Từ hình ảnh con người được nhìn nhận ở phương diện con người lịch sử, con người mang tầm vóc sử thi; giai đoạn sau 1975, con người được nhìn nhận
ở phương diện cá nhân và trong quan hệ đời thường Từ hình ảnh con người được nhấn mạnh ở tính giai cấp; sau 1975, con người được nhìn nhận ở tính nhân loại Trước đây, con người trong văn học chủ yếu được khắc họa ở phẩm chất tinh thần; thì giai đoạn sau năm 1975, là con người
tự nhiên, ở nhu cầu bản năng nữa… Những đổi mới trên đã đem lại nguồn cảm hứng mới cho người cầm bút: Cảm hứng thế sự tăng mạnh; từ đó, văn học quan tâm nhiều hơn tới số phận cá nhân; nội tâm của nhân vật được khai thác sâu hơn, bút pháp hướng nội được phát huy, không gian đời tư được chú ý, thời gian tâm lí ngày càng mở rộng; phương thức trần thuật trở nên đa dạng hơn, giọng điệu trần thuật trở nên phong phú hơn; ngôn ngữ văn học cũng gần với hiện thực đời thường hơn…[1, tr 18]
Trang 32Như vậy, văn học thời kì này quan tâm nhiều hơn tới số phận cá nhân trong những hoàn cảnh phưc tạp, đời thường; có nhiều tìm tòi, đổi mới về
nghệ thuật
Những truyện ngắn thời kì này là truyện hiện tại, HS dễ cảm thụ, dễ hiểu,
dễ hứng thú nên phát huy được tính sáng tạo Hơn nữa, các giá trị văn hóa cũng như cách cảm thụ, cách nghĩ của tác giả còn khá gần gũi với người đọc
Từ những đặc trưng trên có thể thấy, để hiểu và tiếp cận hiệu quả các tác phẩm thời kì này, thì rất cần tăng cường phối hợp các hoạt động học (hoạt động cá nhân và tập thể) của HS và NCBH của GV Điều này cho thấy, mô hình NCBH là một mô hình hiệu quả và có thể áp dụng được khi tiếp cận các tác phẩm giai đoạn này, đặc biệt là các tác phẩm truyện ngắn
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng dạy học Ngữ văn hiện nay ở Trung học phổ thông
Ngữ văn là một bộ môn công cụ Ngoài việc phát triển cho HS những kiến thức, kĩ năng…, môn văn còn cung cấp cho HS những hiểu biết về văn hóa, con người Việt Nam và thế giới, hướng các em đến những giá trị cao đẹp của cuộc sống như Chân - Thiện - Mĩ
Tuy nhiên, thực tế hiện nay, môn văn đang mất dần vị trí là một môn học chính, quan trọng do các nguyên nhân về tâm lý- xã hội
Qua phỏng vấn, điều tra, chúng tôi thấy, PPDH Ngữ văn ở THPT hiện nay thường gặp là:
- Dạy học đọc chép Hiện tượng này đang rất phổ biến ở các nhà trường
Thầy cô đọc, thuyết giảng HS chép Cách dạy này khiến HS hoàn toàn thụ động, một chiều, người thầy máy móc, không sáng tạo, không tạo được hứng thú trong học tập Tiết dạy “đọc - chép” sẽ nhàm chán và mang tính áp đặt Hơn nữa, đã dạy theo kiểu “đọc – chép” thì đề thi phải ra theo kiểu học thuộc HS không có cơ hội thể hiện quan điểm và cũng không dám thể hiện quan điểm, cách nhìn nhận đánh giá của mình
Trang 33- Dạy nhồi nhét Đây cũng là một hiện tượng phổ biến, thầy cô luôn
ôm đồm kiến thức, dạy dàn trải, không lựa chọn trọng tâm, luôn sợ “cháy” giáo án Kết quả của lối dạy này cũng làm cho HS tiếp thu một cách thụ động, một chiều
- Dạy học văn như nhà nghiên cứu văn học Đó là cách dạy hàn lâm,
luôn cố gắng phân tích sâu, kĩ từ nội dung đến nghệ thuật, phong cách tác giả hoặc những vấn đề liên quan đến lí luận văn học… Trong khi đó đối với HS chỉ cần dạy cho HS đọc hiểu, tiếp nhận, nắm bắt tác phẩm đủ để thưởng thức
và gây hứng thú
Vậy làm thế nào để có thể khắc phục được thực trạng trên ? Vấn đề cấp thiết đặt ra là cần phải thay đổi phương pháp nhằm thay đổi tâm lí của người học đối với môn Ngữ văn Và hy vọng NCBH là một mô hình hiệu quả, đặc biệt là trong quá trình tiếp cận các tác phẩm văn học
1.2.2 Thực trạng của việc vận dụng mô hình Nghiên cứu bài học trong dạy học Ngữ văn hiện nay ở Trung học phổ thông
1.2.2.1 Thực trạng chung
Mô hình NCBH có cách thức chung là dựa trên quan sát, phân tích bài học để GV nhận ra thực tế việc học của HS, tìm hiểu các nguyên nhân liên quan và đề xuất các giải pháp cụ thể
Tuy nhiên, mô hình NCBH mới được tiến hành với mục đích để GV học cách NCBH, Việc thực hiện NCBH ở các nhà trường đang ở mức độ thấp, với một số đặc điểm :
- Đang trong giai đoạn chuyển đổi từ SHCM truyền thống, tập trung đánh giá việc dạy của GV sang cụ thể hóa các triết lý, nguyên tắc của NCBH
- Việc thực hiện qui trình kĩ thuật quan sát – phân tích bài học, việc học mới đang ở mức độ làm quen, tập thực hành từng phần nhỏ
- Hoạt động NCBH chỉ được tiến hành theo lớp học, môn học, bài học một cách rời rạc và theo cách chung nhất ; chưa đi sâu vào nghiên cứu gắn với
Trang 34các nội dung dạy học cụ thể để giải quyết các vấn đề khó khăn, vướng mắc trong dạy và học của GV và HS
- Hoạt động này chưa trực tiếp thúc đẩy sự thay đổi thái độ và năng lực của GV trong QTDH nhằm nâng cao hiệu quả dạy học cụ thể
Như vậy, để nâng cao hiệu quả dạy học nói chung và môn Ngữ văn nói riêng, cần tập trung tiến hành NCBH gắn với đổi mới PPDH và giải quyết từng vấn đề khó khăn cụ thể
1.2.2.2 Thực trạng của việc vận dụng mô hình Nghiên cứu bài học trong dạy học Ngữ văn ở trường THPT Nguyễn Huệ, tỉnh Ninh Bình
a Khảo sát thực trạng
Để tìm hiểu thực trạng của việc vận dụng mô hình NCBH trong dạy học Ngữ văn hiện nay tại trường THPT Nguyễn Huệ - Ninh Bình, chúng tôi đã tiến hành khảo sát qua phiếu hỏi(phụ lục I) cho các GV Ngữ văn và HS trong trường Tổng số phiếu phát ra là 131 Trong đó bao gồm :
+ GV : 11 phiếu (GV Ngữ văn của nhà trường)
- Sự cần thiết của việc vận dụng mô hình NCBH trong QTDH
- Gặp khó khăn gì trong quá trình vận dụng mô hình NCBH trong dạy học
- Đề xuất gì để việc vận dụng mô hình NCBH trong QTDH Ngữ văn đạt hiệu quả cao
a.2 Về phía HS :
- Có thường xuyên được học các tiết học có vận dụng mô hình NCBH
- Sự cần thiết của những giờ học có vận dụng mô hình NCBH
- Gặp khó khăn gì khi tham gia vào BH có vận dụng mô hình NCBH
Trang 35- Có muốn tiếp tục được học những giờ học có vận dụng mô hình NCBH
- Đề xuất, mong muốn với thầy cô để việc vận dụng mô hình NCBH trong QTDH Ngữ văn đạt hiệu quả cao
b Kết quả khảo sát
b.1 Về phía GV :
Bảng 1.1 Khảo sát thực trạng của việc vận dụng mô hình NCBH qua GV
5 Đề xuất để việc vận dụng mô
hình NCBH đạt hiệu quả cao 45.5 27.2 9.1 18.2
Qua kết quả khảo sát trên, có thể thấy GV có nhận thức chưa đúng về mô hình NCBH, tỉ lệ nhận thức đúng chiếm khoảng 36.3% Tỉ lệ GV thường xuyên tổ chức vận dụng mô hình NCBH trong dạy học là 0%, thỉnh thoảng vận dụng chỉ có 18.2 %; số còn lại không có ý thức vận dụng mô hình NCBH trong dạy học Do chưa được triển khai và nghiên cứu rộng rãi, nhiều GV cho rằng việc tổ chức vận dụng mô hình NCBH trong dạy học Ngữ văn là không cần thiết Sau khi tập huấn, con số này đã thay đổi Có tới 45.5% GV đề xuất được tập huấn triển khai mô hình
Trang 36b.2 Về phía HS :
Bảng 1.2 Khảo sát thực trạng của việc vận dụng mô hình NCBH qua HS
5 Đề xuất, mong muốn với
thầy cô để việc vận dụng mô
hình NCBH đạt hiệu quả cao
Kết quả khảo sát trên cho thấy, HS không được thường xuyên học các tiết học vận dụng mô hình NCBH, có tới 29.2% HS chưa bao giờ được tham gia các tiết học theo mô hình này Phần lớn HS cho rằng việc tổ chức bài học theo hướng NCBH là không cần thiết 45.8% HS thấy khó khăn lớn nhất khi tham gia vào bài học theo hướng NCBH là không được thầy cô hướng dẫn cụ thể khi tham gia Chính vì thế, HS không hiểu về mô hình này và không muốn được tiếp tục học các giờ học có vận dụng mô hình NCBH (chiếm tới 37.5%) Trong khi vẫn có 41.7% HS đề xuất được các thầy cô hướng dẫn cách tiếp cận bài học theo hướng NCBH với hy vọng đổi mới và nâng cao chất lượng học tập
Trang 37NCBH là hoạt động chuyên môn mà ở đó GV tập trung phân tích các vấn
đề liên quan đến người học trong một bài học như: HS sẽ tiếp cận bài học này như thế nào? Những khó khăn mà HS sẽ gặp phải khi học bài này? Lựa chọn PPDH nào cho phù hợp, tạo hứng thú cho HS?
NCBH có 4 nguyên tắc cơ bản: Trường học phải được phát triển thành một cộng đồng học tập mà ở đó mọi em HS quan tâm; Mọi GV nên mời đồng nghiệp
dự giờ ít nhất một lần/năm nhằm chia sẻ, phân tích bài học, học hỏi lẫn nhau để nâng cao năng lực chuyên môn và kích thích quá trình đổi mới PPDH; Mối quan hệ lắng nghe và đối thoại cần phải được thiết lập giữa các thành viên trong nhà trường
để xây dựng một môi trường giáo dục thân thiện; Sự tham gia và hợp tác của phụ huynh HS là cần thiết cho sự phát triển bền vững của một cộng đồng học tập
Mục tiêu của NCBH là cải tiến, đổi mới thực tiễn dạy học của GV trong từng bài học cụ thể của chương trình Thuộc tính, lợi ích của NCBH là: sự cộng tác của các GV, mục tiêu thực tiễn và cải tiến bài học cụ thể;
Quy trình NCBH bao gồm các bước cơ bản: xác định mục tiêu, xây dựng
kế hoạch bài học nghiên cứu; tổ chức dạy mimh họa; dự giờ, thảo luận và áp dụng cho thực tiễn hàng ngày
NCBH là một mô hình bồi dưỡng, phát triển chuyên môn nghiệp vụ cho
GV theo định hướng năng lực mang lại nhiều lợi ích cho GV Thông qua NCBH,
GV trở nên vững vàng hơn về chuyên môn, nghiệp vụ, tăng sự chuyên nghiệp trong giảng dạy Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa các thành viên trong nhóm NCBH cũng tạo nên một sức mạnh làm tăng tính hiệu quả của QTDH Đồng thời, NCBH còn tạo không khí làm việc, học tập hợp tác tích cực giữa GV với
GV Vận dụng mô hình NCBH trong giảng dạy là một định hướng có tính hiệu quả cao, vì vậy cần áp dụng rộng rãi trong giảng dạy ở trường phổ thông
Trang 38CHƯƠNG 2
TỔ CHỨC THỰC HIỆN MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU BÀI HỌC
TRONG DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU NĂM 1975
CHO HỌC SINH LỚP 12 2.1 Thiết kế kế hoạch dạy học truyện ngắn sau 1975 theo mô hình Nghiên cứu bài học
2.1.1 Các bước tiến hành thiết kế bài học nghiên cứu
Dựa trên ý tưởng khi thiết kế bài học nghiên cứu, chúng tôi tiến hành thiết kế kế hoạch dạy học như sau:
2.1.1.1 Xác định mục tiêu bài học (Bước này tương tự như cách soạn giáo án
hiện nay)
a- Về kiến thức: HS cần đạt được những kiến thức nào sau bài học (cụ
thể: đặc điểm nội dung, nghệ thuật của tác phẩm truyện ngắn)
b- Về kĩ năng: Cần giúp HS rèn những kĩ năng nào? (cụ thể ở đây là kĩ
năng đọc hiểu truyện ngắn hiện đại giai đoạn sau 1975)
c- Về thái độ: HS hình thành và phát triển tình cảm, thái độ, quan điểm
rõ ràng trước các vấn đề đặt ra trong tác phẩm
d- Các mục tiêu khác: gồm những điểm nhấn về mục tiêu hình thành,
phát triển năng lực; tích hợp giáo dục kĩ năng sống,…liên quan mật thiết tới nội dung bài học
Mục tiêu về định hướng hình thành năng lực: Định hướng hình thành năng lực giải quyết vấn đề, Định hướng hình thành năng lực sáng tạo, hợp tác,
tự quản bản thân, giao tiếp tiếng Việt, thưởng thức văn học, cảm thụ thẩm mỹ Khi định hướng hình thành năng lực cho HS cần hết sức chú ý đến đến đặc trưng của thể loại truyện ngắn, đặc biệt là thể loại truyện ngắn sau 1975 Đặc trưng nổi bật của truyện ngắn giai đoạn này là có tính chất hướng nội, quan tâm nhiều hơn tới số phận cá nhân trong những hoàn cảnh phứcc tạp, đời thường; có nhiều tìm tòi, đổi mới về nghệ thuật Căn cứ vào đặc trưng trên có
Trang 39thể thấy, khi định hướng hình thành năng lực cần chú ý tăng cường năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, hợp tác , năng lực cảm thụ thông qua các hoạt động học của HS và hoạt động nghiên cứu bài học của GV, để có thể chiếm lĩnh, “giải mã” được những tính chất phức tạp, bí ẩn, có tính chất hướng nội của truyện ngắn giai đoạn này
Bên cạnh đó, khi xác định mục tiêu bài học, cũng cần phải lưu ý đến khả năng tích hợp kiến thức, kĩ năng, thái độ của bài học với các đơn vị kiến thức nội môn và liên môn có liên quan
Như trên đã nói, NCBH là một mô hình dạy học không chỉ coi trọng phần trang bị kiến thức – kĩ năng cơ bản mà còn đề cao tính thử thách, sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo trong quá trình tiếp cận kiến thức Vì thế khi đặt ra mục tiêu, cần nêu ra những mục tiêu ở mức kì vọng, tất nhiên phải phù hợp với thực tiễn năng lực, trình độ tâm lý của HS
2.1.1.2 Các tiêu chí xây dựng bài học nghiên cứu và các thang đo
a- Các tiêu chí:
- HS đạt được các yêu cầu về chuẩn kiến thức, kĩ năng
- Mọi HS được quan tâm trong quá trình học tập
- Các thang đo được xây dựng với nhiều hình thức (có thể là tự luận, trắc nghiệm hay thực hành…) và được kiểm tra, đánh giá trong cả quá trình diễn ra tiết học
Trang 402.1.1.3 Xác định nội dung bài học (Giáo án chi tiết)
GV thảo luận bài học tiến hành nghiên cứu như:
- Xác định xem đây là loại bài học gì? (hình thành kiến thức mới, hay
ôn tập, v.v….)
- Cách giới thiệu bài học này như thế nào? (Có đưa ra tình huống có vấn đề để tiếp cận bài học hay không? Dự kiến cách giải quyết vấn đề ra sao? v.v…)
- Xem xét xem bài học có những đơn vị kiến thức nào? Trong xu hướng đổi mới giáo dục hiện nay đã rất quan tâm đến việc đánh giá mức độ nhận thức của HS trong quá trình học tập, điều đó đặc biệt được nhấn mạnh trong
Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể (2018) được thực hiện trong thời
gian tới Để đáp ứng được nhu cầu đổi mới đó, trong mô hình NCBH đặc biệt quan tâm đến việc hình thành kiến thức cơ bản theo chuẩn kiến thức, kĩ năng cho HS trong mỗi bài học (tương ứng với mức độ nhận biết và thông hiểu) và nhấn mạnh tính thử thách, nâng cao (tương ứng với mức độ vận dụng), trong
đó đa dạng hóa tính thử thách như yêu cầu HS có thể so sánh được kiến thức
đã học với các đơn vị kiến thức liên quan, HS có khả năng liên hệ được, yêu cầu HS có thể thuyết trình, trình bày, viết được về kiến thức mình đã học Vì vậy khi xem xét các đơn vị kiến thức của bài học cần quan tâm đến những kiến thức cơ bản cần đạt được, xác định kiến thức trọng tâm và cả những thử thách cần đặt ra trong bài học để xem xét khả năng HS có thể vận dụng, sử dụng được kiến thức trong quá trình học tập
- Trên cơ sở nội dung kiến thức của bài học, dự kiến tổ chức những hoạt động dạy học nào tương ứng? lựa chọn hình thức và cách thức tổ chức cho các hoạt động
- Căn cứ vào các hoạt động học để phối thời gian cho từng hoạt động học
- Xác định các nội dung cần tích hợp