1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

vận dụng lý thuyết phát triển văn hóa doanh nghiệp cho một số doanh nghiệp việt nam

63 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo những nghiên cứu của những nhà xã hội học Mỹ thì những công ty tuân thủ và thực hiện một văn hóa doanh nghiệp chính đáng, thì giá trị của nó có thể sẽ tăng lên 200%, và có nhiều doa

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

-o0o -

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

VẬN DỤNG LÝ THUYẾT PHÁT TRIỂN VĂN HÓA DOANH NGHIỆP CHO MỘT SỐ DOANH

NGHIỆP VIỆT NAM

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: ThS TRẦN THỊ HOÀNG HÀ

Hà Nội, năm 2017

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Văn hoá được hiểu như một hệ thống những chuẩn mực và giá trị mà những thành viên trong cộng đồng tác động lẫn nhau, thực hiện và sự tác động ấy tạo nên một

sự khác biệt Và, cũng như nhà xã hội học Anh, Tylor cuối thế kỷ 19 cho rằng, Văn hoá được hiểu như là một sự văn minh mà trong đó nó chứa đựng cả về những vấn đề trí thức, luật lệ, nghệ thuật, nhân bản, niềm tin và tất cả những khả năng mà những người trong cộng đồng đó lĩnh hội và thực hành

Nếu văn hoá là những hệ thống chuẩn mực và giá trị mà mọi người trong một cộng đồng người được chia sẻ thực hiện, thì Văn hóa doanh nghiệp cũng là những chuẩn mực hay những giá trị mà những người trong công ty cùng được chia sẻ và tuân thủ theo Tuy vậy, một vấn đề phải được hiểu rằng, văn hóa doanh nghiệp không có nghĩa rằng nó phải bền vững, hay bất di bất dịch, mà nó cởi mở, luôn luôn được lĩnh hội, trau dồi, và đôi khi bị mất đi Tức là có một sự giao thoa về văn hoá

Văn hóa doanh nghiệp rất cần thiết cho một doanh nghiệp, nó có thể làm cho một

tổ chức doanh nghiệp phát triển, và nếu thiếu nó, sẽ làm cho công ty lụi tàn Theo những nghiên cứu của những nhà xã hội học Mỹ thì những công ty tuân thủ và thực hiện một văn hóa doanh nghiệp chính đáng, thì giá trị của nó có thể sẽ tăng lên 200%,

và có nhiều doanh nghiệp còn đạt được hiệu quả cao hơn như những công ty General Electric (GE), Southwest Airline, ConAgra, IBM,…

Văn hoá doanh nghiệp còn được coi là nền tảng để phát triển doanh nghiệp, được cấu thành bởi mục đích kinh doanh và phương pháp kinh doanh Là tổng hoà các quan niệm về giá trị được tạo ra từ đạo đức, ý tưởng kinh doanh, triết lý kinh doanh, mục đích kinh doanh, phương pháp kinh doanh và hiệu quả phục vụ cho chính những con người cần cù lao động sáng tạo để tạo ra ngày càng nhiều của cải vật chất cho xã hội…

Dù có diễn giải thế nào thì văn hoá doanh nghiệp vẫn phải dựa trên cơ sở là cách thức ứng xử của mỗi thành viên trong doanh nghiệp mà biểu hiện của nó là các hành vi quản lý lao động, sáng tạo lao động và các hoạt động của doanh nghiệp phải phù hợp

Trang 3

với các quy định của pháp luật trong mặt bằng chung và của hiệp hội ngành nghề nói riêng

Phát triển văn hóa doanh nghiệp là việc tạo lập và duy trì các lớp văn hóa doanh nghiệp, thông qua đó phát huy hiệu quả hiệu ứng tích cực của văn hóa doanh nghiệp tới kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Phát triển văn hóa doanh nghiệp là một quá trình liên tục, lâu dài, do vậy cần có mô hình để đánh giá các mức độ phát triển văn hóa doanh nghiệp, thực hiện so sánh mức độ phát triển văn hóa doanh nghiệp trong bối cảnh phát triển chung của cộng đồng doanh nghiệp, thực hiện so sánh phát triển văn hóa doanh nghiệp qua từng giai đoạn để có những điều chỉnh kịp thời từ chiến lược đến chiến thuật phát triển văn hóa doanh nghiệp

Bộ môn Quản trị học hiện đang giảng dạy học phần Văn hóa kinh doanh Theo kết cấu của học phần hiện nay, học phần có 4 chương Trong đó, chương 4 có nội dung

là “Xây dựng và phát triển văn hóa doanh nghiệp” Trong quá trình giảng dạy nội dung chương 4, một số vấn đề được đặt ra như: Thế nào là xây dựng văn hóa doanh nghiệp, thế nào là phát triển văn hóa doanh nghiệp, làm thế nào để đánh giá sự phát triển văn hóa doanh nghiệp Bên cạnh đó, hoạt động giảng dạy luôn đòi hỏi phải bổ sung thông tin thực tiễn nhằm giúp sinh viên có cái nhìn đầy đủ hơn và có khả năng tiếp cận với thực tiễn tốt hơn

Xuất phát từ những phân tích trên tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Vận dụng lý

thuyết phát triển văn hóa doanh nghiệp chomột số doanh nghiệp Việt Nam”

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài:

2.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài

Adrian Gostish (2014), Xây Dựng Văn Hóa Doanh Nghiệp, NXB Thanh Hóa Cuốn sách tiếp cận dựng văn hóa như một nội dung của chiến lược kinh doanh Tác giả coi đây là nội dung mà đa số các nhà lãnh đạo hàng đầu thế giới sử dụng để tạo ra thành tựu vượt trội Khi mọi yếu tố hỗ trợ cho việc xây dựng văn hóa tích cực trong tổ

Trang 4

chức đã sẵn sàng, công việc hiển nhiên sẽ trở nên thú vị và hiệu quả Cuốn sách đưa ra

lộ trình 7 bước này để cải thiện văn hóa của bất kỳ tổ chức

Edar.H.Schein (2012), Văn hóa doanh nghiệp và sự lãnh đạo, NXB Thời đại Cuốn sách tập trung nhiều vào các thực trạng phức tạp trong hoạt động kinh doanh ngày nay và thông qua việc nghiên cứu trong phạm vi rộng, mang tính thời đại để trình bày những vai trò then chốt của người lãnh đạo khi ứng dụng những nguyên tắc văn hóa để đạt được các mục tiêu về tổ chức

Tác giả đã nghiên cứu tìm hiểu xem công tác lãnh đạo và văn hóa tổ chức về căn bản đã hòa quện gắn kết với nhau như thế nào, cho thấy một số kết quả quan trọng, bao gồm:

- Những nhà lãnh đạo là các doanh nhân và là nhà thiết kế chủ đạo của văn hóa

hó ở nhiều cấp độ phân tích khác nhau, từ văn hóa vĩ mô quốc gia và dân tộc đến văn hóa vi mô mang tính đội nhóm

2.2 Những nghiên cứu ở trong nước

PGS,TS Nguyễn Mạnh Quân (2015), Giáo trình đạo đức kinh doanh và văn hóa công ty, NXB Kinh tế quốc dân Cuốn sách mô tả các yếu tố cấu thành văn hóa doanh nghiệp theo 2 nhóm: các biểu hiện trực quan và phi trực quan Cuốn sách tập trung vào

sự khó khăn của việc quản lý một tổ chức "đa sở hữu, tham gia điều hành và trực tiếp kiểm soát" ở các công ty lớn ở Mỹ và sự trì trệ trong việc chuyển đổi cơ cấu tổ chức và chậm chạm trong việc vận dụng cơ chế quản lý phủ hợp đã đẩy các công ty rất lớn với

Trang 5

những danh tiếng đã được định hình tưởng chứng như rất vững chắc như Chrysler, McDonnell Douglas hay WordCom, Enron phải trả giá bằng chính sự phá sản

PGS,TS Đỗ Thị Phi Hoài(2011), Giáo trình văn hóa doanh nghiệp, NXB Tài chính Cuốn sách này tác giả trình bày rõ thế nào là văn hóa doanh nghiệp và các yếu

tố cấu thành văn hóa doanh nghiệp Đồng thời tác giả cho rằng cần phải có những cách thức để thay đổi văn hóa

PGS, TS Dương Thị Liễu (2012), Giáo trình văn hóa kinh doanh, NXB Kinh tế quốc dân Văn hóa là một lĩnh vực đa dạng và phức tạp Có rất nhiều quan điểm khác nhau về văn hóa nên việc nghiên cứu và lựa chọn một cách tiếp cận văn hóa có ý nghĩa quan trọng cho việc tiếp cận những nội dung tiếp theo liên quan đến văn hóa kinh doanh Cuốn sách nghiên cứu văn hóa doanh nghiệp như một yếu tố cấu thành văn hóa kinh doanh

Nguyễn Hải Minh (2015) Luận án tiến sỹ : “Văn hóa doanh nghiệp tại các ngân hàng thương mại việt nam trong tiến trình hội nhập quốc tế ( phân tích trường hợp ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương việt nam)”, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trong luận án, tác giả đã tổng hợp lý thuyết các mô hình đánh giá văn hóa doanh nghiệp Sau khi so sánh các mô hình, tác giả đã lựa chọn mô hình OCAI của Camaron

và Quinn để thực hiện nghiên cứu tại các ngân hàng thương mại Nhà nước ở Việt Nam, trong đó Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương được chọn làm mẫu nghiên cứu có tính điển hình Kết quả nghiên cứu đã khái quát được “bức tranh” về kết quả đánh giá các cấp độ VHDN tại các NHTM nhà nước ở Việt Nam Nhìn chung về tổng thể, các cấp độ VHDN đều được đánh giá ở mức khá tốt sau khi Việt Nam gia nhập WTO Điều này cũng phản ánh tín hiệu tích cực đối với các chương trình xây dựng VHDN tại các ngân hàng Vai trò của VHDN cũng được coi trọng hơn và những thuộc tính về tính sáng tạo trong tổ chức cũng được đề cao hơn Nghiên cứu cũng cho thấy mô hình VHDN của các NHTM nhà nước ở Việt Nam có dịch chuyển từ hướng nội sang tính hướng ngoại nhiều hơn từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO Xu hướng

Trang 6

chung là như vậy, tuy nhiên sự dịch chuyển mô hình văn hóa cũng khá khác nhau giữa các ngân hàng

Dương thị Thanh mai, (2015), xây dựng văn hóa doanh nghiệp tại Việt Nam, thực trạng và giải pháp, tạp chí Khoa học và công nghệ lâm nghiệp số 1-2015 Bài viết

đã sử dụng tiếp cận của Edar.H.Schein để đánh giá thực trạng văn hóa doanh nghiệp tại Việt Nam Từ đó tác giả đã khái quát bức tranh về thực trạng xây dựng văn hóa doanh nghiệp tại Việt Nam và đưa ra các giải pháp mang tính khuyến nghị để các doanh nghiệp xây dựng văn hóa doanh nghiệp

Đỗ Tiến Long (2015) Đánh giá văn hóa trong doanh nghiệp nhỏ và vưa Việt Nam, tập chí Khoa học ĐHQGHN: Kinh tế và kinh doanh, số 1, 2015 Bài viết của tác giả đã thực hiện hệ thống hóa một số mô hình nghiên cứu về đánh giá văn hóa doanh nghiệp Trong đó, tác giả đã sử dụng mô hình DOCS của Denison để nghiên cứu điển hình tại một DNVVN ở Việt Nam Từ kết quả khảo sát, tác giả nhân rộng kết quả nghiên cứu để đưa ra một số khuyến nghị về phát triển văn hóa cho các DNVVN ở Việt Nam Việc nghiên cứu một doanh nghiệp để đưa ra khuyến nghị cho các DNVVN

là chưa đảm bảo về cơ sở thực tiễn

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:

Mục tiêu nghiên cứu: Tổng hợp một số lý thuyết về đánh giá sự phát triển văn hóa

doanh nghiệp và vận dụng các lý thuyết này trong đánh giá phát triển văn hóa doanh nghiệp ở một số doanh nghiệp điển hình Từ đó, đề xuất các điều chỉnh về lý thuyết phục vụ giảng dạy học phần Văn hóa kinh doanh và xây dựng tình huống về văn hóa doanh nghiệp để phục vụ giảng dạy

Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Tổng hợp một số mô hình đánh giá phát triển văn hóa doanh nghiệp

- Vận dụng các mô hình này trong thực tiễn tại một số doanh nghiệp

Trang 7

- Đề xuất điều chỉnh các nội dung lý thuyết trong giảng dạy học phần Văn hóa kinh doanh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu lý thuyết về phát triển văn hóa doanh nghiệp và

đánh giá thực trạng phát triển văn hóa doanh nghiệp ở một số doanh nghiệp điển hình

Phạm vi nghiên cứu

 Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu trên địa bàn HN

 Về thời gian: Đề tài thu thập các thông tin về tình hình phát triển văn hóa doanh nghiệp điển hình được lựa chọn trong khoảng thời gian từ 2013-

2017

 Về nội dung: Đề tài tập trung làm rõ nội hàm của phát triển văn hóa doanh nghiệp, các cơ sở để đánh giá sự phát triển văn hóa doanh nghiệp trong các doanh nghiệp được lựa chọn trong nghiên cứu

4 Kết cấu đề tài

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA DOANH NGHIỆP

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN VĂN HÓA DOANH NGHIỆP Ở MỘT SỐ DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

CHƯƠNG 3: CÁC KHUYẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT ĐƯỢC RÚT RA TỪ NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ THUYẾT PHÁT TRIỂN VĂN HÓA DOANH NGHIỆP VÀ DỮ LIỆU KHẢO SÁT TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 8

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA

DOANH NGHIỆP

1.1 Các khái niệm có liên quan

1.1.1 Khái niệm văn hóa

Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người Văn hóa gắn liền với

sự ra đời của nhân loại, hay nói một cách khác văn hóa có từ thưở bình minh của xã hội loài người Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau Có thể nhắc đến một số khái niệm về văn hóa như sau:

Theo E.B Tylor (1832 – 1971) nhà nhân chủng học người Anh: “ Văn hóa là một tổng thể phức tạp bao gồm các kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật lệ, phong tục và tất cả những khả năng, thói quen, tập quán mà con người đạt được với tư cách là thành viên của một xã hội”[5, tr.10] Theo khái niệm này, văn hóa bao gồm những gì liên quan đến đời sống con người, từ tri thức, tín ngưỡng đến nghệ thuật, đạo đức, pháp luật… là các lĩnh vực sáng tạo của con người

Theo William Graham Sumner (1840 – 1910), viện sĩ Mỹ, giáo sư Đại học Yale

và Albert Galloway Keller, học trò và cộng sự của ông thì: “Tổng thể những thích nghi của con người với các điều kiện sinh sống của họ chính là văn hóa hay văn minh Những sự thích nghi này được đảm bảo bằng con đường kết hợp những thủ thuật như biến đổi, chọn lọc và truyền đạt bằng kế thừa” Theo khái niệm của ông, văn hóa được hiểu là các yếu tố liên quan đến sự sinh tồn, thích nghi của con người

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như vì mục đích cuộc sống , loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc

ở và các phương tiện, phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.”[7, trang 231] Theo cách định nghĩa này của Chủ tịch thì văn hóa sẽ bao gồm toàn bộ những gì do con người sáng tạo ra và phát minh ra

Trang 9

GS.TS Trần Ngọc Thêm định nghĩa về văn hóa: “ Văn hóa là một hệ thống hữu

cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [10, tr.25] Khái niệm này đã đưa ra đầy đủ yếu tố về vật chất cũng như tinh thần của văn hóa và quá trình hình thành nên văn hóa

Thông qua việc tìm hiểu, phân tích các định nghĩa trên, ta có thể hiểu về văn hóa

như sau: “Văn hóa là toàn bộ các giá trị về vật chất và tinh thần do con người sáng

tạo ra trong quá trình lao động (từ lao động trí óc đến lao động chân tay), được chi phối bởi môi trường xung quanh (môi trường tự nhiên và xã hội) và tính cách của từng tộc người Văn hóa ảnh hướng tới tình cảm, ý nghĩ và hành vi của con người”.[4, tr.11-12]

1.1.2 Khái niệm văn hóa doanh nghiệp

Văn hóa doanh nghiệp như một đặc điểm để phân biệt giữa DN này với DN khác Hiện nay văn hóa doanh nghiệp đã và đang được nhắc tới như là một tiêu chí để đánh giá DN; cũng có thể cho rằng văn hóa doanh nghiệp là tài sản vô hình của DN Tiếp cận từ các góc độ khác nhau sẽ cho ra được các định nghĩa về VHDN khác nhau, nhưng chưa định nghĩa nào được chính thức công nhận

Theo nhà xã hội học người Mỹ E.H.Shein: “văn hóa doanh nghiệp là tổng thể những thủ pháp và quy tắc giải quyết vấn đề thích ứng bên ngoài và thống nhất bên trong các nhân viên, những quy tắc đã tỏ ra hữu hiệu trong quá khứ và vấn đề cấp thiết hiện tại Những quy tắc và những thủ pháp này là yếu tố khởi nguồn trong việc các nhân viên lựa chọn phương thức hành động, phân tích và ra quyết định thích hợp Các thành viên của tổ chức, DN không đắn đo, suy nghĩ về ý nghĩa của những quy tắc, thủ pháp ấy mà coi chúng là đúng đắn ngay từ đầu”

Theo Georges de Saite Mairie, chuyên gia Pháp về DN vừa và nhỏ: “văn hóa doanh nghiệp là tổng hợp các giá trị, biểu tượng, huyền thoại, nghi thức, các điều cấm

kị, các quan điểm triết học, đạo đức tạo thành nền móng sâu xa của doanh nghiệp” Khái niệm này đã nêu tương đối đầy đủ các đặc điểm và thành tố cấu thành văn hóa

Trang 10

doanh nghiệp, tuy nhiên vẫn chưa đề cập đến quá trình tồn tại và phát triển của văn hóa doanh nghiệp

Theo tổ chức lao động quốc tế ( ILO) thì văn hóa doanh nghiệp được định nghĩa như sau: “Văn hóa doanh nghiệp là sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết” [4, tr.233] ILO đã nói đúng về văn hóa doanh nghiệp, nó

là duy nhất và khác nhau của mỗi tổ chức, tạo nên nét riêng của các tổ chức

Theo Edgar Schein, chuyên gia nghiên cứu các tổ chức: “Văn hóa công ty là tổng hợp các quan niệm chung mà các thành viên trong công ty học được trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trường xung quanh” [ 4, tr.233] Khái niệm này chỉ mới nói nói đến một phần nhỏ của văn hóa doanh nghiệp, còn thiếu nhiều nhân tố khác về cả vật chất lẫn tinh thần của văn hóa doanh nghiệp Theo quan điểm của 2 học giả Rolff Bergman và Ian Stagg đồng thời là giảng viên khoa quản trị kinh doanh trường đại học Monash – Úc cho rằng: “văn hóa doanh nghiệp là một hệ thống các ý nghĩa biểu đạt chung bao trùm lên toàn bộ DN, có tính chất quyết định tới mọi hành vi và hoạt động của toàn bộ các thành viên trong DN đó”

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa doanh nghiệp, các khái niệm này đều đề cập đến những nhân tố tinh thần của văn hóa doanh nghiệp như: các quan niệm chung, các giá trị, các huyền thoại, các nghi thức, của doanh nghiệp mà ít đề cập đến yếu tố vật chất – nhân tố quan trọng của văn hóa doanh nghiệp Dù đề cập đến khía cạnh nào của văn hóa doanh nghiệp đi nữa thì ta vẫn phải công nhận rằng văn hóa doanh nghiệp định hướng cho DN và tạo nên sự khác biệt cho DN Ta có thể hiểu về

văn hóa doanh nghiệp như sau: “văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ các giá trị văn hóa

được gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, trở thành các giá trị, các quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp ấy và chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp trong việc theo đuổi và thực hiện các mục đích”.[4, tr.233-234]

Trang 11

1.1.2 Khái niệm phát triển văn hóa doanh nghiệp

Ngày nay, văn hóa của mỗi quốc gia đã được định hình một cách rõ ràng qua quá trình phát triển từ vài trăm năm đến hàng nghìn năm Mỗi quốc gia có một nét văn hóa đặc trưng riêng biệt, tạo ra sự khác biệt giữa các quốc gia Ngay cả những quốc gia láng giềng, cùng phát triển trên nền văn hóa của một khu vực cũng vẫn tạo ra những nét đặc trưng riêng biệt bên cạnh những nét văn hóa tương đồng Giữa các quốc gia láng giềng luôn có sự giao thoa và trộn lẫn về văn hóa nhưng mỗi quốc gia đều cố gắng tạo lập những nét đặc trưng cho riêng mình Văn hóa dân tộc nằm trong mỗi con người của một dân tộc và được duy trì, củng cố, phát triển cùng với thời gian

Mỗi doanh nghiệp là một tổ chức trong một xã hội nhất định, tại đó những con người cùng nhau làm việc và chia sẻ các giá trị văn hóa Chính vì vậy, không cần bất

cứ hoạt động có chủ đích của các chủ thế quản lý thì các yếu tố văn hóa doanh nghiệp vẫn được các cá nhân mang vào hoạt động trong tổ chức Do vậy, văn hóa doanh nghiệp được hình thành một cách tự phát, rời rạc ở các doanh nghiệp khi mới được thành lập Cùng với thời gian, các yếu tố văn hóa doanh nghiệp dần có những điều chỉnh dưới sự tác động của môi trường và chủ thể hoạt động kinh doanh Môi trường kinh doanh biến động tạo ra những tác động tới hoạt động kinh doanh nói chung và tác động tới sự phát triển văn hóa của mỗi doanh nghiệp nói riêng Khi các yếu tố môi trường kinh doanh phát triển tích cực hơn thì các doanh nghiệp sẽ quan tâm tới phát triển văn hóa doanh nghiêp nhiều hơn Bên cạnh đó, các chủ thể của hoạt động kinh doanh từng bước sẽ điều chỉnh các yếu tố văn hóa doanh nghiệp theo định hướng phát triển của doanh nghiệp đã được xác định Khi đó, sự phát triển văn hóa doanh nghiệp dần sẽ đi vào một quỹ đạo ổn định

Phát triển văn hóa doanh nghiệp sẽ tạo ra những yếu tố văn hóa riêng biệt cho mỗi doanh nghiệp Các yếu tố văn hóa này tiếp tục được củng cố, duy trì cùng với sự phát triển của doanh nghiệp Trong quá trình hoạt động kinh doanh, các yếu tố văn hóa

sẽ tác động tới hành vi của các cá nhân trong doanh nghiệp, từ đó sẽ tác động tới kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Bên cạnh đó, các yếu tố văn hóa doanh nghiệp còn ảnh hưởng tới hành vi của các đối tượng có liên quan tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như khách hàng, nhà cung cấp, đối tác chiến lược…

Trang 12

Tóm lại, phát triển văn hóa doanh nghiệp là một quá trình chuyển biến một cách tích cực của các yếu tố văn hóa doanh nghiệp theo một định hướng chiến lược nhất định mà các chủ thể quản trị doanh nghiệp đã xác định, thông qua đó văn hóa doanh nghiệp sẽ tác động tích cực hơn tới hành vi của các cá nhân trong doanh nghiệp và từ đó sẽ tác động tới kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tạo dựng hình ảnh trong cộng đồng

Một là, doanh nghiệp từng bước định hình các yếu tố văn hóa cho doanh nghiệp mình.Tùy thuộc vào các yếu tố chủ quan và khách quan khác nhau mà mỗi

doanh nghiệp có thể tập trung phát triển một số yếu tố văn hóa nhất định trong doanh nghiệp của mình Lựa chọn và phát triển những yếu tố văn hóa nào cho doanh nghiệp phụ thuộc vào:

+ Quan điểm của chủ doanh nghiệp về văn hóa doanh nghiệp Có chủ doanh nghiệp chỉ coi trọng các yếu tố hữu hình nhưng cũng có chủ doanh nghiệp chỉ coi trọng các yếu tố vô hình và cũng có những chủ doanh nghiệp coi trọng cả hai nhóm yếu tố hữu hình và vô hình Do vậy, tùy thuộc vào quan điểm của chủ doanh nghiệp ở những thời điểm khác nhau sẽ phát triển số lượng các yếu tố văn hóa doanh nghiệp khác nhau

+ Về điều kiện ngân sách của doanh nghiệp Để phát triển đầy đủ, toàn diện các yếu tố văn hóa doanh nghiệp đòi hỏi phải có ngân sách tương đối dồi dào mà không phải doanh nghiệp nào cũng đáp ứng được Có nhiều chủ doanh nghiệp nhận thức rất rõ tầm quan trọng của phát triển văn hóa doanh nghiệp nhưng do tài chính khó khăn nên buộc phải cân nhắc lựa chọn một số các biểu hiện văn hóa doanh nghiệp để đầu tư phát triển, các biểu hiện khách doanh nghiệp phải chấp nhận bỏ qua hoặc dự kiến đầu

tư phát triển ở những thời điểm thuận lợi trong tương lai Trong trường hợp này, người

ta gọi là “lực bất tòng tâm”

+ Một số biểu hiện văn hóa doanh nghiệp như kiến trúc nội thất, ngoại thất đòi hỏi doanh nghiệp phải có hệ thống cơ sở vật chất tốt, thuộc quyền sử dụng lâu dài Hiện nay, phần lớn doanh nghiệp đang sử dụng các cơ sở vật chất đi thuê nên rất khó

có thể đầu tư phát triển các yếu tố kiến trúc nội thất, ngoại thất Bên cạnh đó, một số

Trang 13

doanh nghiệp khác có quyền sở hữu hoặc sử dụng lâu dài cơ sở vật chất nhưng bị hạn chế về mặt bằng nên khó có thể thiết kế kiến trúc nội thất, ngoại thất tương thích với

sự phát triển văn hóa doanh nghiệp

+ Về quy mô doanh nghiệp Ngày nay, các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, siêu nhỏ đang có xu hướng ngày càng tăng do tính linh hoạt của chúng trong quá trình hoạt động Nhiều doanh nghiệp có số nhân sự khoảng trên dưới 10 người Với quy mô quá nhỏ, các doanh nghiệp khó có thể phát triển các yếu tố như lễ nghi, giai thoại…

Dù có nhiều rào cản nhưng xu hướng chung các doanh nghiệp sẽ cố gắng phủ đầy các yếu tố văn hóa doanh nghiệp ở đơn vị của mình cùng với quá trình phát triển của doanh nghiệp

Hai là, phát triển văn hóa doanh nghiệp hướng tới nâng cao khả năng định hướng hành vi cá nhân trong doanh nghiệp

Ngày nay, trong xu thế văn hóa doanh nghiệp được coi là một trong những yếu

tố quan trọng để tạo lập sự phát triển bền vững của mỗi doanh nghiệp, nhiều doanh nghiệp đang ào ạt xây dựng và phát triển các yếu tố văn hóa doanh nghiệp tại đơn vị của mình Họ lầm tưởng rằng cứ có một slogan, một triết lý, một bộ đồng phục hay một lễ nghi của doanh nghiệp tức là có văn hóa doanh nghiệp Đó là một quan điểm sai lầm, bởi vì văn hóa là yếu tố sống, văn hóa doanh nghiệp không chỉ tồn tại về mặt hình thức mà văn hóa doanh nghiệp phải ngấm vào từng cá nhân trong tổ chức và có khả năng chi phối hành vi của các cá nhân trong phạm vi tổ chức đó một cách có định hướng

Khi xây dựng các yếu tố văn hóa doanh nghiệp các chủ doanh nghiệp đã có những chủ đích nhất định và mong muốn các yếu tố văn hóa doanh nghiệp đó được mọi cá nhân trong tổ chức chấp nhận và hành động theo các định hướng đã được định hình trong văn hóa doanh nghiệp Chẳng hạn như khi doanh nghiệp xây dựng triết lý kinh doanh về sự trung thực, tức là chủ doanh nghiệp mong muốn sự trung thực hiện diện trong phạm vi toàn bộ tổ chức, trong mọi hành động của mọi cá nhân trong tổ chức

Trang 14

Để các biểu hiện văn hóa doanh nghiệp có thể định hướng hành vi các cá nhân trong doanh nghiệp thì trước tiên các yếu tố văn hóa doanh nghiệp ấy phải được sự chấp nhận của các cá nhân trong doanh nghiệp Khi mọi người chấp nhận các yếu tố văn hóa doanh nghiệp đó thì họ mới sẵn sàng hành động theo định hướng của các yếu

tố văn hóa đó Trong quá trình phát triển các yếu tố văn hóa doanh nghiệp thường gặp phải một số tình huống sau:

+Một số biểu hiện văn hóa doanh nghiệp như triết lý, chuẩn mực đạo đức, niềm tin, lễ nghi, giai thoại… được phát triển quá trừu tượng, chung chung nên các cá nhân trong doanh nghiệp không hiểu đầy đủ và không có khả năng hành động phù hợp với các biểu hiện văn hóa doanh nghiệp đó

+Một số biểu hiện văn hóa doanh nghiệp như triết lý, chuẩn mực đạo đức, niềm tin, lễ nghi, giai thoại… được xây dựng không phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội, phong tục tập quán, truyền thống dân tộc thì dẫn đến việc các cá nhân khó chấp nhận

và hành động theo

Theo Noe (2013), văn hóa doanh nghiệp ngày nay được xem là một phần trong vốn xã hội tạo nên tài sản vô hình quyết định sự phát triển bền vững của doanh nghiệp Văn hóa doanh nghiệp xác lập một hệ thống các giá trị được mọi người làm trong doanh nghiệp chia sẻ, chấp nhận, đề cao, và ứng xử theo các giá trị đó Qua đó, văn hóa doanh nghiệp góp phần tạo nên sự khác biệt giữa các doanh nghiệp, và được coi là nguồn của lợi thế cạnh tranh Theo công bố nghiên cứu của Kotter, Giáo sư tại Đại học Harvard, những doanh nghiệp tạo dựng được văn hóa mạnh có hiệu quả hoạt động rất khác biệt so với các doanh nghiệp có văn hóa yếu (Bảng 2)

Bảng 1.1: So sánh Kết quả Kinh doanh của Công ty có Văn hóa Doanh nghiệp mạnh và

Công ty có Văn hóa doanh nghiệp yếu

mạnh

Văn hóa doanh nghiệp

yếu

(Theo Kotter, 2011)

Trang 15

Như vậy, văn hóa doanh nghiệp có mối liên hệ chặt chẽ với hiệu quả hoạt động

và sức cạnh tranh của doanh nghiệp Củng cố và phát triển được văn hóa doanh nghiệp

sẽ giúp cho doanh nghiệp gia tăng được sức cạnh tranh Bởi vì, văn hoá doanh nghiệp được xem là động lực quan trọng của doanh nghiệp trong quá trình tạo dựng niềm tin,

uy tín đối với khách hàng và thị trường; được coi như thanh nam châm, giúp doanh nghiệp thu hút và duy trì đội ngũ nhân sự tài năng; và giúp xác lập bộ gien để doanh nghiệp phát triển trường tồn Mặt khác, các mô hình cắt lớp văn hóa doanh nghiệp ở trên đều chỉ ra rằng, các quan niệm ngầm định hoặc các giá trị, là phần cốt lõi, quyết định bản chất văn hóa hoanh nghiệp Phần cốt lõi này không dễ dàng nhận biết hoặc quan sát, mà phải được phân tích, đánh giá thông qua nhận thức và hành vi của các thành viên trong doanh nghiệp để hiểu rõ hơn về bản chất của văn hóa doanh nghiệp,

từ đó đề ra các giải pháp phát triển văn hóa doanh nghiệp

Ba là, khả năng tác động tích cực của văn hóa doanh nghiệp đến cộng đồng

Các biểu hiện văn hóa doanh nghiệp được phát triển không chỉ hướng đích tới các cá nhân trong doanh nghiệp mà còn giúp tạo dựng hình ảnh của doanh nghiệp trong cộng đồng Do vậy, đánh giá phát triển văn hóa doanh nghiệp mà chỉ đánh giá từ góc nhìn nội bộ là chưa đủ, cần có đánh giá từ góc độ cộng đồng Một số biểu hiện văn hóa doanh nghiệp sẽ được cộng đồng biết đến như kiến trúc ngoại thất, đồng phục, slogan, triết lý kinh doanh, lễ nghi, giai thoại Các biểu hiện này phải được phát triển phải phù hợp với văn hóa dân tộc, được cộng đồng đánh giá tích cực, không vi phạm các quy định của pháp luật Trước đây một doanh nghiệp có quy mô lớn đã “chế” bài hát quốc ca của Việt Nam thành bài hát của riêng doanh nghiệp Hành động này trước hết vi phạm quy định của pháp luật Việt Nam Hơn thế nữa hành động đó của doanh nghiệp bị cộng đồng phê phán vì đã đụng chạm tới một nét văn hóa dân tộc

1.2 Mô hình đánh giá văn hóa doanh nghiệp của Schein

Theo Schein, Văn hóa doanh nghiệp được chia làm 3 lớp bao gồm: Cấu trúc hữu hữu, các giá trị công bố, các niềm tin được ngầm định Sự phát triển văn hóa doanh nghiệp được đánh giá dựa trên sự phát triển của các cấp độ văn hóa trong mô hình của Schein

Trang 16

Hình 1.1: Cấu trúc các cấp độ văn hóa doanh nghiệp

(Theo Schein, 2004)

1.2.1 Phát triển cấu trúc hữu hình

Cấu trúc hữu hình: những cái có thể nhìn thấy, nghe thấy hoặc cảm nhận thấy

được khi tiếp xúc vớidoanh nghiệp Đây là những giá trị biểu hiện bên ngoài của hệ thống văn hoá doanh nghiệp, bao gồm: Kiến trúc, sản phẩm, máy móc, công nghệ, các nghi lễ nội bộ, biểu tượng, ngôn ngữ, khẩu hiệu, phong cách giao tiếp Những yếu tố này cũng dễ thay đổi theo thời gian, hoặc khi chiến lược, ngành nghề, hay sản phẩm của doanh nghiệp thay đổi

1.2.1.1 Kiến trúc: là tổ hợp các không gian được sắp xếp có chủ ý của người thiết kế bao gồm kiến trúc ngoại thất và kiến trúc nội thất Kiến trúc ngoại thất và nội thất phải tương thích, tránh tình trạng mâu thuẫn, rời rạc

Căn cứ để xây dựng và phát triển kiến trúc của doanh nghiệp:

- Doanh nghiệp sở hữu hoặc có quyền sử dụng trong một thời gian ổn định đối với một không gian nhất định Hiện nay, nhiều doanh nghiệp đi thuê mặt bằng

và thuê trong một khoảng thời gian ngắn, do ràng buộc trong hợp đồng thuê mặt

Trang 17

bằng nên doanh nghiệp không thể đầu tư xây dựng ngoại thất theo mong muốn Đặc biệt với các doanh nghiệp nhỏ ở nước ta chỉ coi trụ sở kinh doanh là nơi để thực hiện các giao dịch và đảm bảo yêu cầu tối thiểu trong quy định của pháp luật nên không đủ điều kiện để đầu tư xây dựng ngoại thất Ngoài ra, trong một

số trường hợp do không gian ngoại thất không phù hợp để phát triển ý tưởng của chủ doanh nghiệp về ngoại thất

- Doanh nghiệp phải có đủ tài chính để xây dựng và phát triển ngoại thất theo mong muốn Để có ngoại thất đẹp, ấn tượng, có ý tưởng rõ ràng, phù hợp với lĩnh vực hoạt động và mục tiêu của doanh nghiệp cần có một ngân sách không nhỏ Ngoài ra, trong quá trình sử dụng, ngoại thất cũng cần có kinh phí để duy trì và sửa chữa

- Lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp với các sản phẩm kinh doanh đặc trưng là căn cứ để hình thành ý tưởng ngoại thất

- Yêu cầu công việc, nhiệm vụ của các bộ phận trong doanh nghiệp sẽ chi phối nội thất của doanh nghiệp phải phù hợp

Cách thức xây dựng và phát triển kiến trúc:

 Cách 1: Doanh nghiệp tự xây dựng ngoại thất và nội thất Phương pháp này ít

được sử dụng ngoại trừ các doanh nghiệp xây dựng- do có chuyên môn về kỹ thuật thiết kế và xây dựng nên có thể tự thiết kế và thi công ngoại thất và nội thất cho bản thân doanh nghiệp Đối với các doanh nghiệp ngoài ngành xây dựng, thường không có đủ năng lực để tự thiết kế và xây dựng kiến trúc Một số ít doanh nghiệp

có thể tự đầu tư phần nội thất nếu yêu cầu nội thất không quá phức tạp

 Ưu điểm:

+ Tiết kiệm chi phí Bởi doanh nghiệp không mất chi phí tư vấn thiết kế

+ Đúng ý tưởng của chủ doanh nghiệp

+ Nội thất sẽ thích hợp với yêu cầu công việc của từng bộ phận trong doanh nghiệp

 Nhược điểm

Trang 18

+ Cách thể hiện kiến trúc mặc dù đúng ý tưởng nhưng bố cục và phối cảnh không đúng logic kiến trúc nên có thể không gây ấn tượng mạnh mẽ với công chúng

+ Các thiết kế có tính chuyên nghiệp không cao

 Cách 2: Thuê thiết kế và thi công từ các nhà cung cấp dịch vụ tư vấn kiến trúc Khi

yêu cầu về kiến trúc doanh nghiệp ngày càng đòi hỏi cao cấp thì cách làm này khá phổ biến, được đa số các doanh nghiệp lựa chọn

Căn cứ để xây dựng và phát triển các biểu tượng

- Lĩnh vực kinh doanh/sản phẩm kinh doanh Biểu tượng phải chuyển tải đến công chúng lĩnh vực kinh doanh/ sản phẩm kinh doanh Với các doanh nghiệp kinh doanh các sản phẩm có tính đặc thù riêng, thường sẽ đưa vào biểu tượng những hình ảnh gắn liền với lĩnh vực kinh doanh đó như : kinh doanh dược phẩm thì có thể sử dụng hình ảnh con rắn quấn trên chiếc ly; kinh doanh sản phẩm âm nhạc thì có thể sử dụng hình ảnh khuôn nhạc…

- Những giá trị cốt lõi mà doanh nghiệp hướng tới Biểu tượng có thể sử dụng hình ảnh, màu sắc để chuyển tải phần nào các giá trị cốt lõi mà doanh nghiệp

đã và đang xây dựng

Trang 19

- Các giá trị vật chất mà công ty đang sở hữu Trong một số trường hợp khi xây dựng biểu tượng, doanh nghiệp có thể đưa những giá trị vật chất nổi bật, mang tính đặc trưng của doanh nghiệp vào trong biểu tượng như doanh nghiệp hàng hải có thể đưa hình ảnh con tàu vào trong biểu tượng

Cách thức để xây dựng và phát triển các biểu tượng

Tự thiết kế các biểu tượng Nếu chủ doanh nghiệp là người có năng khiếu về

thiết kế, hoặc rất tâm huyết với xây dựng biểu tượng thì có thể tự thiết kế Trong trường hợp chủ doanh nghiệp không tự thiết kế biểu tượng có thể tổ chức thi thiết

kế biểu tượng trong nội bộ công ty Đây cũng là cách mà nhiều doanh nghiệp đã thực hiện

 Ưu điểm:

+ Biểu tượng được xây dựng từ tâm huyết của chủ doanh nghiệp/thành viên của doanh nghiệp Thiết kế biểu tượng sẽ có “màu sắc” riêng biệt, ít bị trùng lắp ý tưởng

+ Các giá trị tinh thần trong biểu tượng dễ được truyền tải và phát triển sâu rộng trong nội bộ doanh nghiệp

+ Tiết kiệm chi phí

Nhược điểm

+ Thiết kế biểu tượng có thể mang tính công nghiệp, do được các chuyên gia thiết kế

Thuê thiết kế của các công ty chuyên nghiệp Chủ doanh nghiệp đưa ý tưởng, và các

căn cứ để xây dựng biểu tượng cho người thiết kế chuyên nghiệp Người thiết kế sẽ chuyển tải các yêu cầu đó sang dạng thức hình ảnh một cách phù hợp và có nghệ thuật

 Ưu điểm:

+ Quá trình thiết kế biểu tượng được thực hiện mang tính chuyên nghiệp cao

 Nhược điểm:

+ Chi phí cao

Trang 20

+ Thiết kế có thể không mang được những giá trị cốt lõi của doanh nghiệp,

do nhà thiết kế không hiểu biết sâu sắc về văn hóa doanh 1.2.1.3 Khẩu hiệu

Yêu cầu xây dựng các khẩu hiệu:

- Ngắn gọn: Các khẩu hiệu phải được xây dựng một cách ngắn gọn, lời văn xúc tích, không diễn đạt dài dòng Do số lượng từ có thể đưa vào mỗi khẩu hiệu rất giới hạn nên doanh nghiệp phải lựa chọn từ ngữ rất cẩn thận, chọn từ “đắt” nhưng để chọn từ đưa vào khẩu hiệu, người xây dựng khẩu hiệu phải rất hiểu các giá trị cốt lõi của doanh nghiệp, đặc biệt là những giá trị mà doanh nghiệp

sẽ mang tới cho khách hàng

- Thiết thực: Khẩu hiệu phải truyền tải được các lợi ích mà doanh nghiệp mang tới cho khách hàng Do đó, khi truyền thong các khẩu hiệu đến với khách hàng

sẽ có khả năng kích thích hành vi mua của khách hàng Bên cạnh đó, các khẩu hiệu còn giúp khách hàng phân biệt và gợi nhớ về doanh nghiệp trong bối cảnh

có nhiều đối thủ cạnh tranh cùng ngành nghề kinh doanh

- Dễ hiểu: Khẩu hiệu được sử dụng để truyền thong rộng rãi trong công chúng với mặt bằng dân trí và sự hiểu biết khác nhau Do vậy các khẩu hiệu phải ở dạng giản đơn để mọi người đều có thể hiểu về chúng

- Khơi gợi trí tưởng tượng của công chúng: Khẩu hiệu biểu hiện dưới hình thức lời văn nhưng lại phải có khả năng khơi gợi trí tưởng tượng của công chúng Hay nói khác đi, chỉ với một slogan ngắn gọn chứa đựng vài từ nhưng công chúng có thể tưởng tượng ra nhiều điều Một khẩu hiệu càng ngắn gọn nhưng công chúng càng tưởng tượng đa dạng phong phú thì khẩu hiệu đó đạt được mục tiêu ở mức cao nhất trong phát triển khẩu hiệu Để đạt được yêu cầu này, doanh nghiệp cần lựa chọn các hình thức truyền thong khẩu hiệu phù hợp và hiệu quả Sử dụng các hình ảnh quảng cáo nhằm hỗ trợ trí tưởng tượng của công chúng

Yêu cầu trong phát triển khẩu hiệu

Trang 21

- Khẩu hiệu có khả năng giúp quảng bá thương hiệu Một mặt, khẩu hiệu luôn được các doanh nghiệp tận dụng trong mọi hình thức quảng cáo Thông thường, khi sử dụng các phương tiện quảng cáo, doanh nghiệp bao giờ cũng đưa khẩu hiệu vào clip hoặc pano, hoặc bao bì sản phẩm hoặc trên trang phục nhân viên

Vì vậy, khẩu hiệu được coi là một phần không thể thiếu trong mọi hình thức quảng cáo Mặt khác, khẩu hiệu khi đã đọng lại trong tâm trí khách hàng sẽ là phương tiện gợi nhớ quảng cáo của doanh nghiệp, điều này giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả quảng cáo

- Khẩu hiệu phải đọng lại trong tâm trí khách hàng Cùng với thời gian khẩu hiệu của một doanh nghiệp sẽ đọng lại trong tâm trí khách hàng Đây cũng là mục tiêu đặt ra khi xây dựng các khẩu hiệu của mỗi doanh nghiệp Tuy nhiên, thời gian để tạo ra hiệu ứng tích cực của khách hàng đố với khẩu hiệu của từng doanh nghiệp khác nhau, phụ thuộc vào phối thức xúc tiến thương mại và hiệu quả của xúc tiến thương mại của từng doanh nghiệp Có những doanh nghiệp do xác định được phương tiện truyền thông và cách thức truyền thông hiệu quả chỉ trong một thời gian ngắn đã định vị được slogan trong long khách hàng Và ngược lại, nhiều doanh nghiệp tốn kém chi phí và thời gian khá dài mới làm cho khách hàng nhớ tới slogan của mình Để duy trì tình trạng này, doanh nghiệp phải thường xuyên củng cố slogan trong long khách hàng thông qua các hoạt động xúc tiến Chính vì vậy, doanh nghiệp không nên thay đổi slogan trừ khi có những biến động lớn từ môi trường kinh doanh

- Khẩu hiểu phải được mọi thành viên trong doanh nghiệp hiểu và vận dụng trong mọi công việc của họ Bên cạnh yêu cầu phát triển khẩu hiệu trong long công chúng, doanh nghiệp cũng cần chú trọng phát triển khẩu hiệu trong nội bộ doanh nghiệp Bản than mỗi thành viên của doanh nghiệp phải thuộc long và hiểu rõ ý tưởng của khẩu hiệu Mỗi thành viên sẽ là một tuyên truyền viên tích cực để đưa khẩu hiệu đến gần với công chúng hơn Quan trọng hơn, mọi thành viên của doanh nghiệp phải nỗ lực trong công việc của bản than để đưa những giá trị cốt lõi thành hiện thực

Trang 22

1.2.1.4 Nghi lễ: Ngày nay các doanh nghiệp có xu hướng chú trọng tổ chức các nghi lễ nhằm kết nối các thành viên trong doanh nghiệp, thong qua các nghi lễ để giáo dục truyền thống, lịch sử phát triển của doanh nghiệp, tạo môi trường thân thiện, gần gũi và đây cũng là các hoạt động góp phần nâng cao thể lực và tinh thần cho nhân sự của doanh nghiệp

Xây dựng và phát triển các nghi lễ của doanh nghiệp được chia ra làm 2 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Xây dựng và phát triển các nghi lễ căn bản: là các nghi lễ mà nhiều doanh nghiệp đã áp dụng như: kỷ niệm ngày thành lập doanh nghiệp, Lễ tất niên, lễ chia tay các thành viên, lễ sinh nhật chung trong tháng Các nghi lễ này được thực hiện hàng năm Nhìn chung nội dung các nghi lễ căn bản qua các năm giữ vững các thủ tục và ít có thay đổi Nội dung các nghi lễ có thể được nâng lên về chất lượng sau một khoảng thời gian nhất định

Giai đoạn 2: Xây dựng và phát triển các nghi lễ đặc trưng Ngoài các nghi lễ căn bản, một số doanh nghiệp có điều kiện sẽ phát triển them các nghi lễ mang bản sắc riêng của doanh nghiệp như các cuộc thi sang tạo, cuộc thi kiến thức… Ví dụ như FPT có Lễ rước trạng

Căn cứ xây dựng và phát triển nghi lễ

- Văn hóa dân tộc: Các nghi lễ trong doanh nghiệp phải xuất phát và phù hợp với văn hóa dân tộc Việt Nam Nhiều doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài có thể tổ chức các nghi lễ mang màu sắc văn hóa dân tộc của quốc gia đầu tư nước ngoài nhưng cũng phải có sự điều chỉnh để phù hợp với văn hóa Việt Nam Các nghi

lễ căn bản hay nghi lễ đặc trưng đều được tổ chức với sự tham gia của mọi thành viên của doanh nghiệp nên nó phải phù hợp với đại bộ phận các thành viên, tức phù hợp với văn hóa của những người tham gia Ví dụ như Lễ rước trạng của FPT cũng sử dụng các danh hiệu vốn có trong truyền thống giáo dục ở nước ta từ hàng trăm năm trước như Bảng nhãn, trạng nguyên, thám hoa

- Quy mô doanh nghiệp: Hiện nay ở Việt Nam có hàng trăm nghì doanh nghiệp

có quy mô nhỏ với vài chục lao động trở xuống Với các doanh nghiệp có quy

Trang 23

mô nhiều thường tập trung phát triển các nghi lễ căn bản, chưa đủ điều kiện phát triển các nghi lễ mang tính đặc trưng riêng biệt

- Tài chính doanh nghiệp: Để tổ chức các nghi lễ cần có kinh phí, vì vậy tùy thuộc vào điều kiện tài chính, doanh nghiệp sẽ có những lựa chọn số lượng, chủng loại nghi lễ để tổ chức Không phải doanh nghiệp nào cũng tổ chức các nghi lễ và quy mô nghi lễ giống nhau vì kinh phí của mỗi doanh nghiệp dành cho tổ chức nghi lễ khác nhau Ngân sách xây dựng và phát triển văn hóa doanh nghiệp nói chung và phát triển các nghi lễ với tư cách là các yếu tố cấu thành văn hóa doanh nghiệp phụ thuộc vào tình hình lợi nhuận, mục tiêu tăng trưởng, chiến lược phát triển của doanh nghiệp

- Đặc thù lĩnh vực hoạt động: Các doanh nghiệp có thể chọn các nghi lễ căn bản giống nhau như lễ kết nạp thành viên mới, lễ tất niên, lễ chia tay thành viên chuyển công tác….nhưng nội dung các nghi lễ rất khác nhau do đặc thù lĩnh vực hoạt động Đặc biệt khi xây dựng các nghi lễ đặc trưng thì bao giờ các doanh nghiệp cũng mang đặc thù lĩnh vực hoạt động để thực hiện như: Dược phẩm Tân bình với sản phẩm đặc trưng là dược phẩm có nguồn gốc thiên nhiên thường tổ chức các hoạt động khám chữa bệnh, phát thuốc cho người dân Công

ty IT có xu hướng tổ chức các cuộc thi gắn liền với công nghệ như thi lắp ráp robot tự động

1.2.1.5 Hình thức sản phẩm: Một mặt, hình thức sản phẩm là một yếu tố cấu thành chất lượng sản phẩm Mặt khác, hình thức sản phẩm cũng là yếu tố tạo bản sắc riêng cho doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh

Trên khía cạnh, hình thức sản phẩm là yếu tố cấu thành chất lượng sản phẩm, đòi hỏi doanh nghiệp quan tâm tới việc lựa chọn chất liệu tốt – an toàn, thiết kế kích

cỡ phù hợp với nhu cầu sử dụng của khách hàng Trong khi đó, trên khía cạnh hình thức sản phẩm là yếu tố tạo bản sắc riêng của doanh nghiệp, thì cần phải có thiết kế hình thức sản phẩm mang những đặc trưng riêng Để làm được điều này, doanh nghiệp phải phối hợp hài hòa các yếu tố màu sắc, thiết kế, logo Chẳng hạn như hình thức sản phẩm của nước khoáng lavie là một ví dụ Chai nhựa trong kết hợp màu xanh lục tạo

Trang 24

cảm giác sảng khoái, gần gũi thiên nhiên, logo lavie được thiết kế cách điệu in nổi trên chai nhựa Tổng hợp các yếu tố đó tạo ra ấn tượng riêng biệt trong long khách hàng 1.2.1.6 Trang phục doanh nghiệp:

Căn cứ thiết kế trang phục cho doanh nghiệp

- Đặc thù công việc của phần đông nhân viên trong doanh nghiệp

- Màu sắc chủ đạo mà doanh nghiệp đã lựa chọn tạo bản sắc doanh nghiệp

- Ngân sách may trang phục cho nhân viên

Cách thức thiết kế trang phục:

Cách 1: Thiết kế trang phục không phân biệt đối tượng sử dụng: chọn trang phục công sở giản dị, không có ấn tượng riêng, chỉ cần đạt mục tiêu tạo sự trang nhã, lịch sự trong văn phòng, tạo ấn tượng chuyên nghiệp, nghiêm túc khi nhân viên làm việc với đối tác hoặc khách hàng

Đặc điểm của cách thiết kế trang phục theo cách này:

+ Màu sắc trang phục không nhất thiết phải phù hợp với màu sắc chủ đạo của doanh nghiệp, thong thường màu sắc trang phục được lựa chọn là màu phổ thong như trắng, đen, xanh, hồng

+ Thiết kế trang phục thường không có điểm nhấn

+ Không phân biệt trang phục quản lý và trang phục nhân viên

+ Không có phân biệt trang phục giữa các loại công việc khác nhau trong doanh nghiệp

Ưu điểm:

+ Chi phí thiết kế và may mặc không cao

+ Tổ chức thực hiện đơn giản

Nhược điểm:

+ Trang phục không có ấn tượng riêng biệt

Trang 25

+ Khi đối tác và khách hàng tiếp xúc khó phân biệt đâu là nhân viên, đâu là quản lý trong doanh nghiệp

+ Đôi khi trang phục không phù hợp với đặc thù công việc

Cách 2: Thiết kế trang phục có phân biệt đối tượng sử dụng

+ Trang phục ấn tượng, có bản sắc riêng

+ Trang phục hòa đồng vào không gian doanh nghiệp do có sự phối cảnh, phối màu đồng điệu

+ Thuận tiện cho giao dịch với khách hàng và đối tác

Nhược điểm:

+ Đôi khi thiết kế quá cầu kỳ, chi phí lớn

+ Tổ chức thực hiện thường phức tạp

1.2.1.7 Ứng xử trong doanh nghiệp

Xây dựng và phát triển ứng xử trong doanh nghiệp là một trong những phần công việc khó khăn nhất vì nó phụ thuộc vào sự ủng hộ của toàn bộ các thành viên

Trang 26

doanh nghiệp Thông thường ứng xử trong doanh nghiệp trải qua 3 giai đoạn phát triển:

Giai đoạn 1: Ứng xử trong doanh nghiệp dựa trên các quy tắc bất thành văn

Trong giai đoạn này, các ứng xử giữa cấp trên với cấp dưới, giữa những người cùng cấp, giữa cấp dưới và cấp trên, giữa doanh nghiệp với đối tác, với khách hàng đều dựa trên các thói quen, hoặc tuân theo các quy tắc xã hội phổ biến Do các quy tắc bất thành văn và được thừa nhận một cách ngầm định nên trong giai đoạn này rất khó điều chỉnh hành vi của mọi thành viên theo một chiều hướng thống nhất Đồng thời, cũng không có cơ sở để đánh giá ứng xử nào là đúng, ứng xử nào là sai và ứng xử nào là không phù hợp Trong giai đoạn này, ứng xử của các thành viên chịu ảnh hưởng của

áp lực xã hội

Giai đoạn 2: Xây dựng bộ quy tắc ứng xử với những nguyên tắc căn bản

Căn cứ để xây dựng bộ quy tắc ứng xử

- Quy tắc xã hội đã được thừa nhận bởi cả cộng đồng: Mỗi doanh nghiệp là một cộng đồng nhỏ trong cộng đồng lớn nên ứng xử của cộng đồng nhỏ phải phù hợp với ứng xử chung trong cộng đồng lớn Các quy tắc ứng xử của doanh nghiệp có tính đồng thuận cao với quy tắc ứng xử của xã hội sẽ dễ được chấp nhận bởi các thành viên trong doanh nghiệp, không mất quá nhiều thời gian để đưa các quy tắc ứng xử đó vào thực tiễn doanh nghiệp

- Văn hóa vùng miền: Mỗi vùng miền có những nét văn hóa đặc trưng, ảnh hưởng tới tính cách, hành vi ứng xử của các cá nhân trong cộng đồng Vì vậy, khi xây dựng bộ quy tắc ứng xử của doanh nghiệp phải căn cứ vào những đặc trưng văn hóa vùng miền nơi doanh nghiệp đang kinh doanh và sử dụng nhân lực chủ yếu tại vùng miền đó

- Đặc điểm nhân sự của doanh nghiệp (đa văn hóa hay đơn văn hóa) Ngày nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa, các doanh nghiệp không còn đồng nhất về văn hóa

mà xuất hiện những doanh nghiệp đa văn hóa Với các doanh nghiệp có nhân sự

đa văn hóa thì việc xây dựng bộ quy tắc ứng xử có xu hướng phải phù hợp với

Trang 27

các quy tắc ứng xử phổ biến trên thế giới, ít chịu ảnh hưởng của văn hóa quốc gia

- Các giá trị cốt lõi mà doanh nghiệp hướng tới: Mỗi doanh nghiệp sẽ lựa chọn những giá trị cốt lõi cho riêng mình, mọi hoạt động trong doanh nghiệp đều hướng tới giá trị cốt lõi đó Vì vậy, khi xây dựng các quy tắc ứng xử doanh nghiệp cũng cần căn cứ vào các giá trị cốt lõi này để hình thành các quy tắc Việc tuân thủ các quy tắc ứng xử sẽ góp phần thực hiện các giá trị cốt lõi trong thực tiễn kinh doanh của doanh nghiệp

Để hình thành bộ quy tắc ứng xử trong doanh nghiệp cần thực hiện qua các bước sau: Bước 1: Dự thảo bộ quy tắc ứng xử

Bước 2 : Tham khảo ý kiến nội bộ doanh nghiệp

Bước 3 : Hoàn thiện bộ quy tắc ứng xử

Bước 4: Ban hành bộ quy tắc ứng xử

Giai đoạn 3: Quy tắc ứng xử trở thành phổ biến và có khả năng điều tiết hành vi của mọi thành viên trong doanh nghiệp

Sau khi bộ quy tắc ứng xử được ban hành trên phương diện văn bản, nhiệm vụ tiếp theo phải thực hiện là đưa bộ quy tắc ứng xử đó vào thực tiễn

Yêu cầu khi triển khai bộ quy tắc ứng xử

- Được chấp nhận bởi đại đa số các thành viên trong doanh nghiệp

- Không vấp phải sự bất đồng thuận lớn, có nguy cơ gây xung đột trong doanh nghiệp

- Bộ quy tắc ứng xử giúp doanh nghiệp có bầu không khí và môi trường làm việc chuyên nghiệp hơn, hiệu quả làm việc cao hơn

Các phương pháp để đưa bộ quy tắc ứng xử vào thực tiễn doanh nghiệp

- Phương pháp hành chính: Bộ quy tắc ứng xử được ban hành là quy định bắt buộc mọi thành viên trong doanh nghiệp phải tuân thủ và ứng xử theo đúng nội dung của bộ quy tắc Với các ứng xử không phù hợp bộ quy tắc sẽ phải có hình

Trang 28

thức xử lý hành chính như : phê bình, nhắc nhở, đưa vào đánh giá cuối năm,

1.2.2 Phát triển các giá trị công bố

Các giá trị công bố: là lớp bên trong của các yếu tố hữu hình, bao gồm: qui định,

nguyên tắc, triết lý, chiến lược, mục tiêu Các giá trị được hình thành trong quá trình phát triển, được coi là đặc trưng của doanh nghiệp, được mọi người công nhận và lưu giữ và thực hiện theo

1.2.2.1 Triết lý doanh nghiệp:

Các giai đoạn hình thành triết lý doanh nghiệp

Giai đoạn 1: Hình thành và phát triển trong tư tưởng của người sáng lập doanh nghiệp Ban đầu, triết lý doanh nghiệp là tư tưởng, quan điểm của người sáng lập doanh nghiệp, chi phối hành động, phương châm hoạt động của doanh nghiệp ngay khi mới thành lập Cùng với quá trình phát triển của doanh nghiệp, triết lý ban đầu dần được hoàn thiện, hiện ra một cách rõ ràng hơn Bằng ảnh hưởng của người sáng lập hoặc người đứng đầu doanh nghiệp, các cá nhân này sẽ đưa triết lý doanh nghiệp vào từng hành động cụ thể trong quá trình hoạt động kinh doanh

Các triết lý doanh nghiệp được xây dựng xoay quanh các mối quan hệ:

- Sự phát triển doanh nghiệp trong mối quan hệ với sự phát triển xã hội

- Sự phát triển doanh nghiệp trong mối quan hệ với sự phát triên con người

- Sự phát triển doanh nghiệp trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên

Về mặt hình thức, triết lý doanh nghiệp được biểu hiện dưới dạng các sứ mệnh, mục tiêu căn bản, slogan

Trang 29

Về bản chất, triết lý doanh nghiệp được thể hiện trong từng hành động của doanh nghiệp

Giai đoạn 2: Triết lý doanh nghiệp trở thành triết lý chung của tập thể các thành viên tham gia doanh nghiệp

Nếu triết lý doanh nghiệp chỉ tồn tại dưới dạng tư tưởng, quan điểm của người sáng lập hoặc người đứng đầu doanh nghiệp thì khả năng phát huy những tác động tích cực của triết lý đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bị giới hạn trong một chừng mực nhất định Vì vậy, triết lý doanh nghiệp cần được phát triển trở thành triết

lý chung của tập thể thành viên tham gia doanh nghiệp Khi đó triết lý doanh nghiệp không phải là quan điểm, tư tưởng của một hay một vài cá nhân mà trở thành quan điểm, tư tưởng đồng thuận của mọi thành viên Để làm được điều này, cần có nhiều thời gian để triết lý doanh nghiệp ngấm dần vào từng thành viên, từ thế hệ cũ sang thế

hệ mới trong doanh nghiệp

1.2.2.2 Chuẩn mực đạo đức

Căn cứ xây dựng và phát triển chuẩn mực đạo đức trong doanh nghiệp

- Căn cứ vào chuẩn mực đạo đức chung của xã hội

- Căn cứ vào chuẩn mực đạo đức của cộng đồng doanh nhân

- Căn cứ vào chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp

Các giai đoạn xây dựng và phát triển chuẩn mực đạo đức trong doanh nghiệp

Trang 30

Giai đoạn 1: Xây dựng các chuẩn mực đạo đức Dựa vào các căn cứ xây dựng và phát triển chuẩn mực đạo đức, doanh nghiệp xây dựng chuẩn mực đạo đức cụ thể đối với doanh nghiệp mình Nhìn chung, các chuẩn mực đạo đức không nhiều khác biệt như

sự trung thực, chân thành, chia sẻ, hài hòa lợi ích…Sự khác biệt chủ yếu ở khâu diễn đạt và mức độ yêu cầu trong các chuẩn mực

Giai đoạn 2: Tuyên truyền, giáo dục về các chuẩn mực đạo đức Sauk hi đưa ra các chuẩn mực đạo đức, do tính bắt buộc không cao nên giai đoạn tuyền truyền, giáo dục

có ý nghĩa quan trọng để các chuẩn mực đạo đức được vận dụng hiệu quả trong thực tiễn

Giai đoạn 3: Cam kết thực hiện bởi các thành viên Nếu các chuẩn mực đạo đức trong

xã hội thì tính bắt buộc gần như bằng 0 thì với các phạm vi áp dụng hẹp như tại một doanh nghiệp cụ thể thì tính bắt buộc tuy không cao nhưng không quá thấp như trong phạm vi xã hội Các doanh nghiệp có thể yêu cầu các thành viên cam kết bằng văn bản thực hiện các chuẩn mực đạo đức trong phần công việc của bản thân

1.2.2.3 Niềm tin:

Các loại niềm tin cần tạo dựng trong doanh nghiệp

- Niềm tin của nhân viên với lãnh đạo doanh nghiệp Duy trì được niềm tin của nhân viên giúp doanh nghiệp có sức mạnh vượt qua những khó khăn trong quá trình phát triển Bài học kinh nghiệm ở các doanh nghiệp Nhật Bản đã chứng minh điều này Nhân viên doanh nghiệp Nhật Bản thường gắn bó lâu dài với lãnh đạo doanh nghiệp cho dù phải trải qua những biến cố trên thương trường

- Niềm tin của khách hàng với doanh nghiệp Duy trì niềm tin của khách hàng với doanh nghiệp giúp doanh nghiệp duy trì tập khách hàng truyền thong Theo lý thuyết giữ chân khách hàng, chi phí để có một khách hàng mới cao hơn nhiều so với duy trì một khách hàng truyền thống Để giữ niềm tin với khách hàng, doanh nghiệp phải luôn đảm bảo các cam kết đã đưa ra với khách hàng, biết đặt lợi ích khách hàng ngang bằng với lợi ích doanh nghiệp

- Niềm tin của các đối tác (nhà cung cấp, đối tác hợp tác kinh doanh, cổ đông, lien minh, cơ quan hữu quan) với doanh nghiệp Duy trì niềm tin của đối tác giúp doanh

Trang 31

nghiệp tạo lập các lien kết ngoài bền vững, nhờ đó doanh nghiệp có những lợi thế cạnh tranh bền vững Chẳng hạn như khi doanh nghiệp giữ vững niềm tin với nhà cung cấp thì doanh nghiệp luôn có nguồn hàng ổn định, tạo lợi thế cạnh tranh riêng biệt

Cơ sở để tạo dựng niềm tin:

- Uy tín của lãnh đạo doanh nghiệp

- Chiến lược kinh doanh rõ ràng

- Các cam kết và sự thực hiện cam kết của doanh nghiệp trong quá khứ

1.2.3 Phát triển các quan niệm ngầm định

Các quan niệm ngầm định: Đây là những quan niệm chung, ăn sâu vào tâm lý

các thành viên, và được mặc nhiên công nhận Do có sự bắt dễ qua thời gian và các thế

hệ, nên các quan niệm chung mang tính ngầm định này rất khó bị thay đổi Đây là lớp trong cùng và quan trọng nhất của văn hoá doanh nghiệp Nếu cấp độ 1 cấp cấp độ 2 chỉ là phần nổi của văn hóa doanh nghiệp, cho phép suy đoán các thành viên sẽ “nói gì”, thì chỉ cấp độ 3 này mới cho phép người ta dự đoán con người trong đó có thể

“hành xử” như thế nào

1.3 Mô hình đánh giá văn hóa doanh nghiệp của Denison

Ngày đăng: 25/12/2020, 16:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w