1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ nuôi trồng thủy sản nghiên cứu đặc điểm sinh thái phân bố, sinh trƣởng, sinh sản và thử nghiệm nuôi sinh khối trùn chỉ (limnodrilus hoffmeisteri claparede, 1862)

196 101 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 196
Dung lượng 6,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các kết quả thu được trong luận án này là thành quả nghiên cứu của đề tài khoa học cấp Bộ Mã số B2013 - 13-05 tôi là chủ nhiệm đề tài và bố trí thêm các thí nghiệm về sinh trưởng, sinh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

TRƯƠNG THỊ BÍCH HỒNG

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI PHÂN BỐ, SINH TRƯỞNG, SINH SẢN VÀ THỬ NGHIỆM NUÔI SINH KHỐI

TRÙN CHỈ (Limnodrilus hoffmeisteri Claparede, 1862)

Ngành đào tạo: Nuôi trồng thủy sản

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN Tôi tôi xin cam đoan luận án “Nghiên cứu đặc điểm sinh thái phân bố, sinh

trưởng, sinh sản và thử nghiệm nuôi sinh khối trùn chỉ (Limnodrilus hoffmeisteri

Claparede, 1862” là công trình nghiên cứu của chính bản thân tôi Các kết quả thu được

trong luận án này là thành quả nghiên cứu của đề tài khoa học cấp Bộ (Mã số B2013 - 13-05) tôi là chủ nhiệm đề tài và bố trí thêm các thí nghiệm về sinh trưởng, sinh sản và nuôi sinh khối trùn chỉ

Tôi xin cam đoan các kết quả, số liệu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào Tôi xin chịu trách nhiệm trước Nhà trường, Bộ Giáo dục & Đào tạo và pháp luật về lời cam đoan này

Nha Trang, tháng 9 năm 2018

NGHIÊN CỨU SINH

Trương Thị Bích Hồng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết tôi xin trân trọng kính gửi đến Ban Giám hiệu Trường Đại học Nha Trang, Ban lãnh đạo Viện Nuôi trồng Thủy sản, Khoa Sau Đại học Trường Đại học Nha Trang lòng biết ơn chân thành đã tạo điều kiện cho tôi được học tập, công tác và nghiên cứu tại Trường

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến hai Thầy hướng dẫn: Phó Giáo sư – Tiến

sĩ Nguyễn Đình Mão (Đại học Nha Trang) và Tiến sĩ Đinh Thế Nhân (Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh) đã hướng dẫn đề tài và giúp đỡ để tôi hoàn thành luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cung cấp kinh phí để tôi thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ (Mã số: B2013 - 13-05) Thành quả của các nghiên cứu đó đã giúp cho tôi hoàn thành được luận án này

Tôi xin cảm ơn Phòng KHCN đã đôn đốc và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành các đề tài NCKH cấp Bộ và được sử dụng số liệu để hoàn thành luận án này

Tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô giáo trong Viện Nuôi trồng Thủy sản, Trường Đại học Nha Trang đã giúp đỡ trong quá trình thực hiện đề tài Cảm ơn sự hỗ trợ tích cực trong nghiên cứu khoa học của quý Thầy Cô giáo trong nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài cấp Bộ (Mã số: B2013 - 13-05) và trong Bộ môn Nuôi nước ngọt

Xin chân thành cảm ơn Trung tâm Thí nghiệm Thực hành – Đại học Nha Trang

đã tạo điều kiện về cơ sở vật chất và thiết bị để bố trí các thí nghiệm khi triển khai đề tài Xin cảm ơn sự giúp đỡ của cán bộ của Viện Công nghệ Sinh học và Môi trường, Trường Đại học Nha Trang đã giúp đỡ trong việc phân tích mẫu

Xin cám ơn các em cựu sinh viên Trần Thị Lê Trang (50 QLNL), Nguyễn Văn Vinh, Nguyễn Văn Hùng (Khóa 53NT), Nguyễn Thị Tý Trâm, Nguyễn Thị Lan Phương, Đặng Văn Phi (khóa 55NT), Nguyễn Văn Cảnh, Võ Thành Long (khóa 56NT) và Lê Hoài Nam (học viên cao học ngành NTTS) đã nhiệt tình hỗ trợ tôi trong công tác nghiên cứu của đề tài

Cuối cùng tôi muốn nói lời cảm ơn đến những người thân trong gia đình đã hỗ trợ về tinh thần cũng như vật chất cho tôi trong quá trình thực hiện luận án này

Nha Trang, tháng 9 năm 2018

NGHIÊN CỨU SINH

Trương Thị Bích Hồng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC HÌNH x

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4

1.1 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA HỌ TRÙN ỐNG (Tubificidae) 4

1.1.1 Vị trí phân loại 4

1.1.2 Đặc điểm phân bố của họ trùn ống 5

1.1.3 Đặc điểm hình thái và cấu tạo cơ thể chung của họ trùn ống 12

1.1.4 Hình thái cấu tạo trùn chỉ 13

1.1.5 Đặc điểm sinh trưởng 15

1.1.6 Đặc điểm dinh dưỡng 16

1.1.7 Đặc điểm sinh sản 17

1.1.8 Đặc điểm vận động và hô hấp 18

1.2 TÌNH HÌNH NUÔI SINH KHỐI TRÙN CHỈ VÀ SỬ DỤNG LÀM THỨC ĂN TRONG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 19

1.2.1 Tình hình nuôi sinh khối trùn chỉ trên thế giới 19

1.2.2 Tình hình nuôi sinh khối và sử dụng trùn chỉ ở Việt Nam 21

1.2.3 Vai trò làm thức ăn của trùn chỉ 23

1.2.4 Điều kiện nuôi sinh khối trùn chỉ 26

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37

2.1 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 37

2.2 SƠ ĐỒ KHỐI NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 38

Trang 6

2.3 PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH CÁC NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 39

2.3.1 Nghiên cứu sự phân bố của L hoffmeisteri ở các hệ sinh thái khác nhau 39

2.3.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của trùn chỉ (L hoffmeisteri) 42

2.3.3 Nghiên cứu sinh trưởng của trùn chỉ trong phòng thí nghiệm (TN5) 47

2.3.4 Nghiên cứu khả năng nuôi sinh khối của trùn chỉ 47

2.3.5 Ứng dụng sinh khối trùn chỉ vào nuôi vỗ thành thục sinh dục và ương nuôi đối tượng thủy sản 51

2.4 PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH CÁC CHỈ TIÊU NGHIÊN CỨU 53

2.4.1 Xác định chiều dài, số đốt, mối tương quan giữa chiều dài và số lượng đốt 53

2.4.2 Một số công thức tính toán 54

2.4.3 Theo dõi sự sinh trưởng của trùn chỉ, cá xiêm đá, khả năng thành thục của cá sọc ngựa 54

2.4.4 Phân tích chất lượng của trùn chỉ 56

2.5 XỬ LÝ SỐ LIỆU 56

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 57

3.1 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ PHÂN BỐ CỦA TRÙN CHỈ TRONG CÁC THỦY VỰC NƯỚC NGỌT 57

3.1.1 Đặc điểm hình thái của trùn chỉ 57

3.1.2 Sự phân bố của trùn chỉ ở các hệ sinh thái khác nhau 60

3.2 ĐẶC ĐIỂM SINH SẢN VÀ KHẢ NĂNG TÁI SINH CỦA TRÙN CHỈ 69

3.2.1 Đặc điểm sinh sản của trùn chỉ 70

3.2.2 Khả năng tái sinh của trùn chỉ (TN4) 78

3.3 ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG CỦA TRÙN CHỈ (TN5) 80

3.3.1 Sinh trưởng về khối lượng 80

3.3.2 Sinh trưởng về chiều dài 82

3.3.3 Tương quan giữa chiều dài và khối lượng 83

3.4 NGHIÊN CỨU NUÔI SINH KHỐI TRÙN CHỈ 84

3.4.1 Ảnh hưởng của cấu trúc nền đáy tới tỷ lệ sống và sinh trưởng của trùn chỉ (TN6) 85

Trang 7

3.4.2 Ảnh hưởng của độ dày nền đáy lên sinh khối và mật độ quần thể trùn chỉ (TN7) 88

3.4.3 Ảnh hưởng của thức ăn tới sinh khối, mật độ và chất lượng trùn chỉ (TN8) 90

3.4.4 Ảnh hưởng của khẩu phần thức ăn tới sinh khối, mật độ và chất lượng của trùn chỉ (TN 9) 97

3.4.5 Ảnh hưởng của mật độ thả nuôi tới sinh khối quần thể trùn chỉ (TN10) 103

3.4.6 Thử nghiệm nuôi thu sinh khối trùn chỉ với kết quả nghiên cứu thu được (TN 11) 107

3.5 NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG SINH KHỐI TRÙN CHỈ VÀO NUÔI CÁC ĐỐI TƯỞNG THỦY SẢN 111

3.5.1 Ảnh hưởng các dạng thức ăn khác nhau của trùn chỉ đến hệ số thành thục và sức sinh sản của cá sọc ngựa (Danio rerio, F.Hamilton) trong quá trình nuôi vỗ (TN12) 112

3.5.2 Nghiên cứu ứng dụng sinh khối trùn chỉ vào nuôi cá xiêm đá (Betta splendens Regan, 1910) giai đoạn cá hương (TN13) 116

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 122

4.1 KẾT LUẬN 122

4.2 ĐỀ XUẤT 123

TÀI LIỆU THAM KHẢO 124 DANH MỤC CÁC BÀI BÁO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

Tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng Tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài Nhu cầu oxy sinh hóa

GBIF Global Biodiversity

PUFA Polyunsaturated fatty acids Axít không no nhiều nối đôi

Trang 9

SFA Saturated fatty acids Axít béo bão hòa

SGRL Specific growth rate Tăng trưởng tương đối về chiều dài SGRw Specific growth rate Tăng trưởng tương đối về khối lượng

TSS Total Suspended Solids Tổng lượng chất rắn lơ lửng trong nước

OM Organic matter in soil Hàm lượng chất hữu cơ trong đất

nối đôi bắt đầu ở cacbon số 3

nối đôi bắt đầu ở cacbon số 6

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Thành phần acid béo (g/100g) của 4 nhóm thức ăn sống phổ biến ở Thái Lan 24

Bảng 1.2: Thành phần amino acid tự do (nmol/mg) của 5 loài giun ít tơ lựa chọn từ đông nam hồ Michigan 25

Bảng 3.1: Chỉ tiêu chiều dài và số lượng đốt của trùn chỉ 58

Bảng 3.2: Các yếu tố môi trường ở thủy vực nước thải 60

Bảng 3.3: Tính chất và hàm lượng chất hữu cơ nền đáy ở thủy vực nước thải 61

Bảng 3.4: Thành phần loài giun ít tơ ở thủy vực nước thải 62

Bảng 3.5: Mật độ trùn chỉ ở thủy vực nước thải 63

Bảng 3.6: Các yếu tố môi trường ở thủy vực dạng ao 63

Bảng 3.7: Tính chất và hàm lượng chất hữu cơ nền đáy ở thủy vực dạng ao 64

Bảng 3.8: Thành phần loài giun ít trong ao 65

Bảng 3.9: Yếu tố môi trường ở thủy vực nước tĩnh có mực nước thấp hơn 0,5m 66

Bảng 3.10: Tính chất và hàm lượng chất hữu cơ nền đáy ở thủy vực nước tĩnh có mực nước thấp hơn 0,5m 67

Bảng 3.11: Thành phần loài giun ít tơ ở ruộng lúa, ruộng cói và ruộng rau muống 67

Bảng 3.12: Một số chỉ tiêu sinh học sinh sản chung của trùn chỉ 70

Bảng 3.13: Thời gian xuất hiện kén 73

Bảng 3.14: Kết quả theo dõi quá trình sinh sản của trùn chỉ ở TN2 74

Bảng 3.15: Thời gian phát triển phôi của trùn chỉ ở nhiệt độ phòng 76

Bảng 3.16: Tốc độ tăng trưởng về khối lượng của trùn chỉ 81

Bảng 3.17: Tốc độ tăng trưởng về chiều dài của trùn chỉ 83

Bảng 3.18: Tỷ lệ sống (%) của trùn chỉ nuôi ở các nền đáy khác nhau 85

Bảng 3.19: Tăng trưởng về chiều dài của trùn chỉ nuôi ở nền đáy khác nhau 86

Bảng 3.20: Tăng trưởng về khối lượng của trùn chỉ ở nền đáy khác nhau 87

Bảng 3.21: Thành phần dinh dưỡng của các loại thức ăn (DW) 92

Bảng 3.22: Thành phần sinh hóa của trùn chỉ nuôi bởi loại thức ăn khác nhau 94

Bảng 3.23: Thành phần hóa sinh của trùn chỉ loài (L hoffmeisteri) thu ngoài tự nhiên tại Nha Trang 95

Trang 11

Bảng 3.24: Thành phần và hàm lượng axít béo của trùn chỉ nuôi với các loại thức ăn

khác nhau 96

Bảng 3.25: Thành phần sinh hóa của trùn chỉ cho ăn với khẩu phần khác nhau 101

Bảng 3.26: Thành phần và hàm lượng axít béo của trùn chỉ cho ăn với khẩu phần khác nhau 102

Bảng 3.27: Tốc độ tăng trưởng về sinh khối (%/ngày) của quần thể trùn chỉ theo mật độ thả nuôi 105

Bảng 3.28: Tốc độ tăng trưởng về mật độ (%/ ngày) của quần thể trùn chỉ theo mật độ thả nuôi 106

Bảng 3.29: Năng suất sinh khối của trùn chỉ ở thí nghiệm 11 108

Bảng 3.30: Thành phần hóa sinh của trùn chỉ thử nghiệm nuôi sinh khối 109

Bảng 3.31: Thành phần acid amin của trùn chỉ thử nghiệm nuôi sinh khối 109

Bảng 3.32: Hàm lượng protein, lipit, tro và xơ trong các loại thức ăn (% DW) 112

Bảng 3.33: Các yếu tố môi trường khi nuôi vỗ cá sọc ngựa 113

Bảng 3.34: Hệ số thành thục của cá khi nuôi vỗ bằng thức ăn khác nhau 113

Bảng 3.35: Sức sinh sản của cá sọc ngựa sau khi nuôi vỗ bằng thức ăn khác nhau 114

Bảng 3.36: Ảnh hưởng của thức ăn lên tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở 115

Bảng 3.37: Các yếu tố môi trường khi ương nuôi cá xiêm đá 116

Bảng 3.38: Sinh trưởng về chiều dài của cá xiêm đá với các dạng sinh khối khác nhau của trùn chỉ 117

Trang 12

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Vùng phân bố của họ trùn ống (Tubificidae) theo GBIF 7

Hình 1.2: Cấu tạo chung của trùn ống (Kurt và cs, 2001) 12

Hình 1.3: Cấu tạo trong của L hoffmeisteri (Đặng Ngọc Thanh và cs, 1980) 14

Hình 2.1: Trùn chỉ trưởng thành 37

Hình 2.2: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 38

Hình 2.3: Kén trùn chỉ trên thước đo thị kính 46

Hình 3.1: Trùn chỉ (L hoffmeisteri) 57

Hình 3.2: Mối tương quan giữa chiều dài cơ thể và số lượng đốt của trùn chỉ 58

Hình 3.3: Đặc điểm của L hoffmeisteri: chùm tơ ở các đốt trước đốt sinh dục (a), chùm tơ ở các đốt cuối cơ thể (b), đôi ống kitin (c), bó tinh trong túi nhận tinh (d) 59

Hình 3.4: Biến động mật độ và tỷ lệ loài L.hoffmeisteri/tổng giun ít tơ 65

Hình 3.5: Biến động mật độ và tỷ lệ của trùn chỉ ở thủy vực nước tĩnh có mực nước thấp 69

Hình 3.6: Tỷ lệ thành thục của trùn chỉ theo thời gian thu ở rãnh nước thải tại Khánh Hòa từ tháng 12/2013-11/2014 70

Hình 3.7: Các giai đoạn trong vòng đời của trùn chỉ 72

Hình 3.8: a) Trùn chỉ trưởng thành; b) Kén trùn chỉ 73

Hình 3.9: Tỷ lệ phần trăm số lượng phôi của một kén 74

Hình 3.10: Tương quan giữa chiều dài và số lượng phôi của kén trùn chỉ 75

Hình 3.11: Tương quan giữa chiều rộng và số lượng phôi của kén trùn chỉ 75

Hình 3.12: Thời gian và tỷ lệ nở 77

Hình 3.13: Các giai đoạn phát triển phôi của trùn chỉ 78

Hình 3.14: Tỷ lệ phục hồi vết thương của trùn chỉ 79

Hình 3.15: Trùn chỉ mới cắt đoạn 79

Hình 3.16: Trùn chỉ tái sinh phần đuôi sau 3 ngày 79

Hình 3.17: Trùn chỉ tái sinh phần đuôi sau 6 ngày 80

Hình 3.18: Trùn chỉ tái sinh phần đuôi sau 9 ngày 80

Hình 3.19: Tăng trưởng về khối lượng của trùn chỉ 81

Hình 3.20: Tăng trưởng về chiều dài của trùn chỉ 82

Trang 13

Hình 3.21: Tương quan giữa chiều dài và khối lượng cơ thể của trùn chỉ 84

Hình 3.22: Sinh khối của quần thể trùn chỉ nuôi ở nền đáy có độ dày khác nhau 89

Hình 3.23: Mật độ trùn chỉ khi nuôi ở nền đáy có độ dày khác nhau 90

Hình 3.24: Sinh khối quần thể trùn chỉ nuôi bằng thức ăn khác nhau 91

Hình 3.25: Mật độ trùn chỉ khi nuôi bằng các loại thức ăn khác nhau 94

Hình 3.26: Sinh khối của quần thể trùn chỉ khi cho ăn khẩu phần khác nhau 98

Hình 3.27: Mật độ của trùn chỉ khi cho ăn lượng thức ăn khác nhau 100

Hình 3.28: Sinh khối của quần thể trùn chỉ với mật độ thả nuôi khác nhau 104

Hình 3.29: Biến động mật độ trùn chỉ khi mật độ thả nuôi khác nhau 106

Hình 3.30: Ảnh hưởng của dạng sinh khối trùn chỉ lên SGRL (% ngày) 118

Hình 3.31: Sinh trưởng về khối lượng của cá xiêm đá trong 56 ngày thí nghiệm 119

Hình 3.32: Ảnh hưởng của dạng sinh khối trùn chỉ lên SGRW (%/ngày) 119

Hình 3.33: Ảnh hưởng của dạng sinh khối trùn chỉ lên tỷ lệ sống của cá xiêm đá 121

Trang 14

MỞ ĐẦU

Trong những năm gần đây, nuôi trồng thủy sản nước ngọt có những chuyển biến tích cực Đối tượng sản xuất giống cá nước ngọt không chỉ tập trung vào các loài truyền thống như mè, trôi, trắm, chép mà các nhà khoa học đã và đang nghiên cứu sản xuất giống các loài cá bản địa có giá trị kinh tế cao như cá thát lát, lăng nha, lươn đồng, trê Phú Quốc và cá nhập nôi như cá tầm, hồi vân Đặc biệt, các doanh nghiệp sản xuất cá cảnh ở TP Hồ Chí Minh đã chủ động đưa cá cảnh Việt Nam ra thị trường quốc tế Việt Nam là quốc gia thuộc một trong 3 khu vực có nguồn cá cảnh nổi tiếng thế giới đó là Nam Mỹ, Châu Phi và Đông Nam Á Khí hậu nhiệt đới ở Việt Nam thích hợp cho việc sinh trưởng và phát triển của nhiều loài cá cảnh đẹp quý hiếm Thêm vào

đó, khi tham gia giao lưu triển lãm cá cảnh của các cơ sở sản xuất, kinh doanh với một

số nước trên thế giới, cá cảnh Việt Nam nhận được nhiều sự ưa chuộng Tuy nhiên, quy mô sản xuất con giống thủy đặc sản chưa được mở rộng, nghề kinh doanh và sản xuất cá cảnh chưa tương xứng với tiềm năng vì chưa chủ động được nguồn thức ăn sống - thức ăn thiết yếu của cá bột các loài cá bản địa và hầu hết các loài cá cảnh Một trong các loài thức ăn sống sử dụng phổ biến trong sản xuất giống cá bản địa và cá

cảnh là trùn chỉ (L hoffmeisteri)

L hoffmeisteri là loài giun ít tơ thuộc họ giun ống (Tubificidae), phân bố phổ

biến ở nền đáy của ao, hồ, sông, suối và kênh rạch thoát nước nơi có hàm lượng chất hữu cơ cao Đây là một trong những loài đại diện chính của nhóm động vật không xương sống ở nền đáy thủy vực nước ngọt Trùn chỉ là một trong những loại thức ăn

ưa thích của hầu hết các loài giáp xác, cá ăn đáy và côn trùng thủy sinh Bởi vì tính sẵn

có của trùn chỉ ở nền đáy thủy vực, dễ tiêu hóa vì thành cơ thể mỏng, không có vỏ ngoài bảo vệ Thêm vào đó, trùn chỉ có kích thước cơ thể nhỏ vừa với cỡ miệng của hầu hết các con non của cá, giáp xác

Trong sản xuất giống thủy sản nước ngọt, trùn chỉ được cho là loại thức ăn sống tốt nhất cho cá và giáp xác vì chúng có giá trị dinh dưỡng cao tới 5575 cal/g khối lượng khô (Giere và Pfannkuche, 1982) Trùn chỉ không chỉ là thức ăn ban đầu của hầu hết các loài cá ăn đáy mà chúng còn là thức ăn tốt giúp cá bột sinh trưởng nhanh hơn so với khi ăn các loại thức ăn khác Trùn chỉ là thức ăn ưa thích và thích hợp cho sự tăng

trưởng và sự sống của cá lăng nha (Hemibagrus wyckioides) từ 3 ngày tuổi trở đi (Ngô Văn Ngọc và cs, 2009) Thức ăn đầu tiên của cá trê Phú Quốc (Clarias gracilentus Ng,

Trang 15

Dang & Nguyen) là trứng nước và trùn chỉ (Đặng Khánh Hồng, 2011) Cá hồi vân

(Salmo gairdneri) ăn trùn chỉ có tốc độ tăng trưởng cao hơn nhiều so với khi ăn thức ăn viên (Phillips và Buhler, 1979) Cá ngát (Plotosus canius) giai đoạn giống ăn trùn chỉ có

tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống cao hơn so với ăn thức ăn công nghiệp (Trần Ngọc Hải

và cs, 2011) Trùn chỉ là nguồn thức ăn sống quan trọng của các loài thuộc ngành chân

khớp ở giai đoạn nhỏ Cua đồng (Somanniathelphusa germainii) giai đoạn từ 21-28

ngày tuổi ăn trùn chỉ có tỷ lệ sống cao (75,6%) và sức sinh trưởng nhanh hơn so với các

loại thức ăn khác Nghiệm thức ương nuôi cua đồng bằng thức ăn ương tôm sú (Penaeus monodon) chỉ đạt (64%), cá hấp đạt thấp (36,2%) (Trần Duy Khoa và cs, 2011)

Với tầm quan trọng của trùn chỉ, trên thế giới có khá nhiều đề tài nghiên cứu về vòng đời cũng như khả năng nuôi sinh khối đối tượng này Tuy nhiên, những nghiên cứu

về trùn chỉ tập trung chủ yếu ở vùng ôn đới không phải trong vùng nhiệt đới Thông tin

đầy đủ về đặc điểm phân bố, sinh trưởng, sinh sản và nuôi sinh khối trùn chỉ (L hoffmeisteri) chưa có ở Việt Nam Mặc dù có một số dữ liệu về đặc điểm sinh học và nuôi sinh khối trùn chỉ nhưng là loài Tubifex tubifex (Đinh Thế Nhân, 1999) Trong khi đó, L hoffmeisteri lại là loài chiếm ưu thế trong quần thể trùn chỉ phân bố ở ao nuôi trồng thủy

sản, rãnh nước thải của Việt Nam (Thái Trần Bái, 2005)

Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn, luận án tiến sĩ: “Nghiên cứu đặc điểm sinh

thái phân bố, sinh trưởng, sinh sản và thử nghiệm nuôi sinh khối trùn chỉ

(Limnodrilus hoffmeisteri Claparede, 1862)” được thực hiện:

Mục tiêu tổng quát:

Nuôi thu sinh khối trùn chỉ (L hoffmeisteri) để ứng dụng trong ương nuôi, sản

xuất giống cá cảnh và cá nước ngọt bản địa cũng như cá nước lạnh nhập nội

Mục tiêu cụ thể:

1 Xây dựng được cơ sở dữ liệu về sinh trưởng và sinh sản của trùn chỉ (L hoffmeisteri)

2 Xác định được cấu trúc nền đáy, độ dày nền đáy, loại thức ăn, khẩu phần cho

ăn và mật độ thả nuôi ban đầu thích hợp khi nuôi trùn chỉ (L hoffmeisteri)

3 Thử nghiệm nuôi sinh khối trùn chỉ (L hoffmeisteri)

Nội dung nghiên cứu

1 Nghiên cứu sự phân bố của L hoffmeisteri trong hệ sinh thái khác nhau

2 Nghiên cứu đặc điểm sinh sản của L hoffmeisteri

Trang 16

3 Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của L hoffmeisteri trong phòng thí nghiệm

4 Nghiên cứu ảnh hưởng cấu trúc nền đáy, độ dày nền đáy, loại thức ăn, khẩu

phần cho ăn và mật độ thả nuôi tới nuôi sinh khối, mật độ trùn chỉ (L hoffmeisteri)

5 Thử nghiệm nuôi sinh khối trùn chỉ (L hoffmeisteri) trong rãnh xi măng theo

các kết quả nghiên cứu được

6 Ứng dụng trùn chỉ sinh khối vào nuôi vỗ thành thục sinh dục cho sinh sản cá

sọc ngựa (Danio rerio) và ương nuôi cá xiêm đá (Betta splendens) giai đoạn cá hương

Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài:

Về khoa học, góp phần cung cấp cơ sở dữ liệu phân bố, sinh trưởng, sinh sản

của loài L hoffmeisteri, đánh giá tiềm năng về nguồn thức ăn tự nhiên của các thủy

vực liên quan

Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu sẽ bổ sung các dẫn liệu có giá trị khoa học trong nghiên cứu và ứng dụng, góp phần hoàn thiện quy trình nuôi sinh khối trùn

chỉ (L hoffmeisteri) trong rãnh xi măng Nuôi sinh khối trùn chỉ góp phần chủ động

nguồn thức ăn sống ở trại sản xuất giống cá nước ngọt và nuôi cá cảnh

Điểm mới của luận án

Luận án là một trong những công trình đầu tiên ở Việt Nam:

Đi sâu vào nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, sinh sản, của trùn chỉ (L hoffmeisteri))

- Trùn chỉ sinh trưởng liên tục cả về khối lượng và chiều dài Trùn chỉ là loài thuộc nhóm không đồng tăng trưởng

- Trùn chỉ sinh sản quanh năm, nhưng tập trung vào hai mùa chính: mùa thứ nhất vào tháng 5 và tháng 6; mùa thứ 2 vào tháng 8 và tháng 9

- Khả năng tái sinh của trùn chỉ là hữu hạn, duy nhất phần đầu có thể tái sinh phần thân và phần đuôi để tạo thành một cá thể mới

Cung cấp các dẫn liệu khoa học để bổ sung vào quy trình nuôi sinh khối trùn

chỉ (L hoffmeisteri)

- Trùn chỉ phát triển tốt trong hệ thống rãnh xi măng ở nền đáy phối hợp 75% bùn và 25% cát với độ dày nền đáy là 4 cm Hệ số sử dụng thức ăn hỗn hợp bột đậu, bột ngô và cám gạo để nuôi sinh khối trùn chỉ thấp (1,46 ± 0,11)

Trùn chỉ sống là thức ăn tốt nhất để nuôi vỗ thành thục cá sọc ngựa bố mẹ và ương nuôi cá xiêm đá

Trang 17

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1.1 Vị trí phân loại

Trước đây, họ trùn ống (Tubificidae) chỉ là phân họ trùn ống (Tubificinae) được gộp với một số phân họ khác Naidinae, Limnodriloidinae, Phallodrilinae, Rhyacodrilinae, Telmatodrilinae thành một họ lớn Naididae (Envall và cs, 2006) Sau này, số lượng loài được định danh tăng lên, phân họ trùn ống (Tubificinae) chính thức

được gọi là họ trùn ống (Tubificidae) Vị trí phân loại của L hoffmeisteri như sau:

Giới (Kinhdom) Động vật (Animalia)

Phân ngành (subphylum) Có đai (Clitellata)

lớp (Class) Giun ít tơ (Oligochaeta)

Bộ (Order) Haplotaxida

Bộ phụ (Suborder) Tubificinae

Họ (Family) Tubificidae

Giống (Genus) Limnodrilus

Loài (Species) L hoffmeisteri Claparede, 1862

(Brinkhurst và Jamieson 1971)

Tên tiếng Việt: trùn chỉ

Tên tiếng Anh: Oligochaeta worm

Ở Việt Nam, đã xác định được 6 loài thuộc họ trùn ống phân bố ở các lưu vực sông, suối, ao hồ nước ngọt phía Bắc Việt Nam Trong số đó, duy nhất một loài có mang ở cuối

thân gọi là trùn tơ mang (Branchiura sowerbyi), 5 loài không có mang thuộc giống Aulodrilus, Limnodrilus, Tubifex Giống Aulodrilus có 3 loài (Aalodrilus limnobius; A pluriseta, Piguet, và A prothecatus), giống Limnodrilus có 2 loài (L hoffmeisteri và L grandisetosus), giống Tubifex chỉ có một loài Ttubifex sp (Đặng Ngọc Thanh và cs, 1980)

Trang 18

1.1.2 Đặc điểm phân bố của họ trùn ống

Trùn ống (Tubificidae) là một họ lớn của lớp giun ít tơ phân bố rộng khắp các thủy vực nước ngọt, một số phân bố ở vùng nước lợ của sông và vùng ven biển Nhiều nghiên cứu đã cho thấy, các loài thuộc họ trùn ống thường có khả năng thích ứng cao ở các thủy vực có nền đáy bùn hoặc bùn cát, giàu hợp chất hữu cơ (Alves, 2008;

Kazanci, 1998; Schenková, 2006) Đặc biệt, một số loài như L hoffmeisteri có thể phát

triển nhanh chóng ở vùng nước ô nhiễm hữu cơ, kể cả chất độc Dioxins, thuốc trừ sâu

và các kim loại như cadmium, thủy ngân, đồng ( Klerks và Levinton, 1989)

1.1.2.1 Phân bố theo độ mặn

a) Trùn ống nước lợ và nước mặn

Hai trong ba bộ của lớp giun ít tơ không có đại diện sống ở nước mặn đó là Moniligastrida, Lumbriculida, duy nhất bộ Haplotaxida có các loài đại diện phân bố ở môi trường nước lợ và mặn (Brinkhurst và Jamieson, 1971) Trong bộ Haplotaxida chỉ

có hai họ Haplotaxidae và Phreodrilidae có đại diện phân bố ở vùng ven biển hoặc quanh các đảo, chúng đều là những loài đặc hữu và có khả năng thích ứng với sự thay đổi của độ mặn (Brinkhurst, 1973)

Trùn ống (Tubificidae) là một trong hai họ (Naididae, Tubificidae) lớn nhất của giun ít tơ có nhiều loài phân bố rộng mang tính toàn cầu và có khả năng xâm nhập vào

môi trường nước lợ nhạt như Dero pectinata, Nais communi, N variabilis, N elinguis, Pristina plumaseta, Uncinai suncinata, L hoffmeisteri, T tubifex Còn lại hầu hết các loài

bị hạn chế bởi môi trường nước lợ và nước mặn Đa số các phân họ của họ trùn ống đều

có đại diện phân bố ở vùng nước mặn Trong đó, phân họ Phallodrilinae và Clitellinae có

nhiều đại diện phân bố ở nước mặn nhất Hai giống lớn nhất của trùn ống là Peloscolex, Tubifex đều có các đại diện phân bố ở nước mặn (Brinkhurst, 1973) Như vậy, đa số nhóm

loài thuộc lớp giun ít tơ có kích thước nhỏ và phân bố chủ yếu ở thủy vực nước ngọt

Cho tới nay biết khoảng 1.700 loài giun ít tơ sống ở nước Trong số này chỉ có khoảng 600 loài phân bố ở nước mặn (Erse´us, 2005) Tuy nhiên, trên thực tế cho thấy nhiều loài trùn chỉ phân bố ở nước mặn chưa được xác định, chúng thường bị bỏ qua bởi kích thước quá nhỏ trong khi đó phần lớn các loài động vật không xương sống ở đáy thuộc vùng nước mặn đều có kích thước lớn và dễ thấy (Brinkhurst, 1973)

Những loài phân bố ở nước mặn xác định được thường là những loài đặc hữu

có vùng phân bố hẹp Tubifex costatus và Thalassodrilus prostatus là hai loài chỉ phân

Trang 19

bố ở khu vực châu Âu Peloscolex heterochaetus, P benedeni, Clitellio arenarius, C arenicolus, Tubifex pseudogaster và T nerthus được tìm thấy vùng biển phía bắc của

Đại Tây Dương và có thể mở rộng vùng phân bố tới Địa Trung Hải và Biển Đen Một

số loài khác chỉ phân bố ở vùng Bắc Mỹ hoặc bờ biển phía đông của Mỹ (Tubifex longipenis, Isochaeta hamata, Peloscolex dukei, P intermedius, P acuzeatus, Adelodrilus anisstosus, Pha1lodrilus coeloprostatus, P parviatriatus, P obscurus) Tuy nhiên, giống Monopylephorus có 3 loài M rubroniveus, M parvus và M irroratus phân bố rộng khắp các châu lục từ châu Âu, Mỹ, Phi, Á và châu Úc

Không gian phân bố của giun ít tơ trong vùng nước ngọt bị tác động bởi thủy triều đến vùng nước lợ cửa sông Schelde (Bỉ) có sự tương quan nghịch giữa độ mặn với thành phần loài, mật độ và sinh khối Độ mặn từ <0,2‰ đến 2.0‰ số lượng các

loài trùn chỉ khá phong phú như: L hoffmeisteri, L claparedeianus, L udekemianus,

L profundicola, T tubifex, P litoralis, D digitata Vùng có độ mặn từ 2.0‰ đến 6,1‰ chỉ còn 2 loài L hoffmeisteri, T tubifex Vùng có độ mặn lên tới 11,9‰ còn duy nhất loài L hoffmeisteri phân bố Tần số xuất hiện các loài thuộc lớp giun ít tơ ở

các trạm thu nước ngọt đạt tới 85% Trong đó các loài thường xuyên quan sát thấy như

L hoffmeisteri (87%), T tubifex (65%), L claparedeianus (62%), L udekemianus (45%) và L profundicola (37%) Ngược lại, ở các trạm nước lợ tổng tần số xuất hiện của giun ít tơ thấp hơn nhiều đạt 43%, trong đó loài L hoffmeisteri (15%) và P

ở vị trí có độ mặn dưới 0,2‰ , thấp nhất (1con/10cm2) ở độ mặn 11,9‰, không thấy xuất

hiện ở vị trí có độ mặn 14,3‰ - 15,5‰ Tương tự, loài T tubifex đạt cao nhất

(214con/10cm2) ở vùng có độ mặn <0,2‰ đến 2,0‰, thấp nhất (1con/10cm2) ở vùng có

độ mặn 10,3‰ và không thấy xuất hiện ở vùng có độ mặn từ 11,9‰ đến 15,5‰ Các

loài khác L claparedeianus, L udekemianus, L profundicola cũng phát triển mạnh ở độ

mặn <0,2‰ nhưng có mật độ thấp hơn (lần lượt là 26, 8 và 7 (con/10cm2), chúng đều không xuất hiện ở vùng có độ mặn 6,1 - 15,5 ‰ (Seys, 1999)

Hai loài L hoffmeisteri, T tubifex có thể xuất hiện ở vùng sinh cảnh chuyển

tiếp giữa nước ngọt và nước lợ nơi dòng thủy triều giảm đủ để chất phù sa lắng đọng

tốt và có độ mặn thấp hơn 18‰ Tần số xuất hiện của loài L hoffmeisteri cao, chiếm

khoảng 78% trong mẫu thu được, mật độ đạt 1011 con/m2 Loài T tubifex xuất hiện

với tần số thấp hơn, chiếm 19% mẫu, mật độ đạt 91 con/m2 (David, 2004)

Trang 20

Hình 1.1: Vùng phân bố của họ trùn ống (Tubificidae) theo GBIF

b) Trùn ống nước ngọt

Nhiều loài giun ít tơ phân bố trong các thủy vực nước ngọt thuộc họ trùn ống (Tubificidae) Hiện nay trong hơn 1.000 loài được mô tả có 582 loài phân bố trong các thủy vực nước ngọt Họ trùn ống được phân ra làm 6 phân họ Tubificinae, Naidinae, Telmatodrilinae, Rhyacodrilinae, Phallodrilinae và Limnodriloidinae Phallodrilinae là một phân họ gồm hầu hết các loài phân bố ở biển nhưng cũng có một số loài sống ở nước ngọt Trong họ trùn ống ba phân họ có số lượng loài sống ở nước ngọt nhiền nhất lần lượt là Tubificinae (207 loài), Naidinae (225 loài) và Rhyacodrilinae (118 loài) Ngược lại, các phân họ còn lại có rất ít số loài sống ở nước ngọt Phallodrilinae (18 loài), Telmatodrilinae (3 loài) và Limnodriloidinae (1 loài) (Martin và cs, 2008)

Khó có thể ước tính tổng số loài giun ít tơ sống ở nước ngọt trên thế giới bởi vì mới chỉ có một số khu vực trên thế giới thiết lập được dữ liệu về vùng phân bố và thành phần loài như: vùng Nearctic của Bắc Mỹ (Kathman và Brinkhurst, 1998; Wetzel và cs, 2006) Trong khi đó, một số khu vực khác như châu Phi vẫn còn rất ít nghiên cứu, đặc biệt

ở châu Á hầu như chưa có nghiên cứu nào về đa dạng thành phần loài giun ít tơ Số lượng loài tăng lên theo thời gian cho thấy không có sự ổn định trên quy mô toàn cầu Vì vậy, bất

kỳ đề xuất nào về số lượng loài giun ít tơ nước ngọt đều là phỏng đoán (Martin và cs, 2008)

Phương thức sống của trùn ống nước ngọt rất đa dạng Hầu hết các loài sống chui rúc trong nền đáy, sử dụng hợp chất hữu cơ lắng đọng làm thức ăn Một số loài sống bò trên bề mặt đáy hoặc sống bám vào vỏ động vật không xương sống ở đáy, thức ăn chính

của nhóm trùn này là tảo Chỉ có rất ít loài thuộc giống Chaetogaster sống bám và ăn thịt

động vật cỡ nhỏ Nhiều loài trùn ống có hemoglobin trong máu và có khả năng chịu được

Trang 21

mức oxy thấp Một số loài đã phát triển cơ quan hô hấp, dưới hình thức mang dài hoặc mang ở cuối cơ thể để thích ứng với tình trạng thiếu oxy ở tầng đáy (Martin và cs, 2008)

Trùn ống là họ duy nhất có các loài phân bố rộng và ít bị hạn chế bởi các vùng địa lý khác nhau Nhóm loài thuộc phân họ Rhyacodrilinae xuất hiện ở tất cả các vùng trên thế giới ngoại trừ Nam cực Hai phân họ quan trọng khác Naidinae và Tubificinae được ghi nhận có nhiều loài phân bố ở tất cả các châu lục, mặc dù việc đóng góp thành phần loài cũng như mật độ sinh khối các loài thuộc phân họ Tubificinae có thể thay đổi theo vùng địa lý Đặc biệt, các loài thuộc phân họ Tubificinae là nhóm chiếm ưu thế ở vùng Bắc cực (vùng bắc cực có 189 loài so với 44 loài ở tất cả các khu vực khác) Trong khi đó, số lượng loài thuộc phân họ Naidinae phân bố tương đối đồng đều giữa vùng Bắc cực với tất cả các vùng khác trên thế giới 143 loài và 156 loài tương ứng (Martin và cs, 2008)

1.1.2.2 Phân bố của trùn chỉ theo các hệ sinh thái

a) Ao

T tubifex và L hoffmeisteri được xem là các loài chỉ thị mức độ ô nhiễm ở các ao nước ngọt L hoffmeisteri phân bố rộng rãi ở khắp bề mặt nền đáy của thủy vực, T tubifex chiếm ưu thể ở vùng giàu hợp chất hữu cơ (Brinkhurst, 1975) Hai loài T tubifex

và L hoffmeisteri đều được tìm thấy trong các khu vực mà tình trạng ô nhiễm hữu cơ rất cao, chỉ số oxy hòa tan thấp (Brinkhurst và Jamieson, 1971) Vòng đời của L hoffmeisteri ở trong ao như sau: con non nở ra vào mùa xuân hoặc mùa hè và đạt mật độ

quần thể cao từ tháng tư đến tháng 7, tháng 8 Chúng thành thục sinh dục từ tháng 8 và

bắt đầu tham gia sinh sản vào đầu tháng 2, tháng 3 hàng năm Vòng đời của T tubifex trong ao bắt đầu từ tháng 2, T tubifex sinh sản vào tháng 2 con non lớn lên đạt kích

thước trưởng thành vào tháng 4 đến tháng 6, chúng thành thục sinh dục vào tháng 11, tháng 12 tham gia sinh sản vào mùa xuân hoặc đầu mùa hè năm sau, đa phần chết sau khi sinh sản, một số tái thành thục và tham gia sinh sản đợt 2 (Johntsone và cs, 1974)

Kết quả nghiên cứu sự phân bố và đa dạng loài giun ít tơ trong 3 ao thuộc huyện Thiruvananthapuram miền nam Ấn Độ cho thấy, họ trùn ống chỉ có hai loài

T tubifex và L hoffmeisteri trong tổng số 10 loài thuộc lớp giun ít tơ và mật độ của

tubifex và L hoffmeisteri cho thấy các ao nghiên cứu đang bị ô nhiễm nhưng mức

độ ô nhiễm chưa cao Bởi vì, mật độ và sinh khối của T tubifex và L hoffmeisteri chưa chiếm ưu thế, loài Pristina longiseta có mật độ cao nhất 320 con/m3

, tiếp đến

Trang 22

là loài Dero nivea có mật độ 280 con/m3, sau đó mới tới T tubifex và L hoffmeisteri (Ragi và Java, 2014)

Ở thủy vực nước ngọt phía bắc Việt Nam, các loài thuộc họ trùn ống có sinh khối lớn, góp phần làm thức ăn của cá ăn đáy Trong đó, L hoffmeisteri phổ biến nhất, chúng kết thành búi dày đặc màu đỏ nhạt ở cống rãnh và ao nuôi cá Gặp cá thể L hoffmeisteri chín sinh dục quanh năm (Đặng Ngọc Thanh và cs, 1980; Thái Trần Bái, 2005)

b) Hồ

Hầu hết các kết quả nghiên cứu về phân bố của giun ít tơ ở các hồ lớn trên thế giới cho thấy Họ trùn ống chiếm ưu thế về cả số lượng loài và mật độ Trong số 28 loài giun ít tơ phân bố ở hồ Michigan hồ lớn thứ 3 của Bắc Mỹ thì có 18 loài (chiếm 66,6%) thuộc họ trùn ống (Diane, 1985) Nền đáy hồ Ontario có 18 loài giun ít tơ sinh sống, trong đó 15 loài thuộc về họ trùn ống chiếm 83,3% (Nalepa, 1976) Mật độ của trùn ống phân bố ở hồ Toronto (Canada) trên 200.000 con/m2 Các loài phong phú nhất

là T tubifex, L hofmeisteri và Peloscolex multisetosus tương ứng 39.000, 25.800 và

13.000 con/m2 (Brinkhurst, 1970)

Đối với hồ lớn như hồ Michigan, mật độ cũng như thành phần loài giun ít tơ còn phụ thuộc vào độ sâu và từng vùng của hồ Nhóm loài thuộc họ trùn ống chiếm ưu thế ở phía tây, dọc theo phía đông của vùng trung lưu và phía nam của hồ Trong đó,

loài L hoffmeisteri có mật độ cao nhất ở phía đông nam của hồ L profundicola chiếm

ưu thế ở vùng trung lưu và phía đông bắc của hồ (mật độ tối đa 280 con/m2) Ở lưu vực phía Nam của hồ, trùn ống phân bố mật độ cao ở vùng đáy nông (độ sâu thấp hơn 60m) Ở lưu vực phía Bắc, không thấy sự xuất hiện của trùn ống ở độ sâu từ 40-60m

và từ 80-100m Vùng trung tâm của hồ, trùn ống phân bố với mật độ cao ở cả khu vực

có độ sâu thấp 30-40m và khu vực có độ sâu cao 150-200m (Diane, 1985) Trùn ống thuộc lưu vực phía Nam của hồ Michigan phân bố phổ biến hơn ở độ sâu trung bình 20-60m Ngược lại ở lưu vực phía Bắc, trùn ống phân bố mật độ lớn nhất ở vùng đáy nông (độ sâu từ 20-40m) (Mozley và Howmiller, 1977)

Hầu hết, các loài thuộc họ trùn ống thường không phân bố ở những hồ ở vùng miền núi nghèo dinh dưỡng và có độ sâu cao, chúng sinh sống với mật độ cao và chiếm ưu thế ở vùng đáy có độ dốc thấp tích tụ nhiều chất ô nhiễm hữu cơ (Milbrink, 1973; Reynoldson, 1990) Mật độ trùn ống chỉ tập trung vào một số loài, sự phong phú của các loài này hơn các loài động vật đáy khác là những dấu hiệu nhận biết nền

Trang 23

đáy bị ô nhiễm T tubifex và L hofmeisteri thường có mật độ cao hơn các loài động

vật đáy khác bao gồm cả các loài thuộc họ trùn ống ở khu vực có nền đáy ô nhiễm hữu

cơ Vùng hồ có điều kiện khắc nghiệt, L hofmeisteri thường là loài chiếm ưu thế

(Brinkhurst, 1970) Tuy nhiên, một số đáy hồ nông (10-40 m) không giàu hợp chất hữu cơ vẫn có mật độ trùn ống cao (Mozley và Alley, 1973) Một số loài thuộc họ trùn

ống như T tubifex xuất hiện nhiều ở vùng hồ có nền đáy ô nhiễm nhưng nó không phải

là loài chiếm ưu thế T tubifex có thể xuất hiện với mật độ cao ở vùng nước sâu nghèo

dinh dưỡng (Brinkhurst, 1970)

c) Ruộng lúa

Ruộng lúa có thể coi là vùng đất ngập nước tạm thời có sự quản lý của con người, là môi trường sống thích hợp cho nhiều loài giun ít tơ Giun ít tơ sống dưới nước đóng vai trò quan trọng trong mạng lưới thức ăn của nền đáy và việc duy trì độ phì nhiêu của chân ruộng lúa thông qua sự chuyển và khoáng hóa chất dinh dưỡng (Grant và Seegers, 1985) Trong lớp giun ít tơ phân bố ở ruộng lúa thì họ trùn ống chiếm ưu thế về số lượng loài cũng như mật độ Trùn ống thường phân bố mật độ cao trong lớp bùn có nhiều hợp chất hữu cơ Chúng là thức ăn tự nhiên quan trọng của nhóm động vật ăn đáy như tôm, cua (Yasushi, 1989) Trùn ống sống ở gần tầng mặt của nền đáy ruộng Một số loài thò đuôi lên trên bề mặt nền đáy để lấy oxy, đuôi của chúng vận động liên tục tạo ra các làn sóng nhỏ Trùn ống làm tơi xốp lớp đất bề mặt bởi khả năng đào hang Trùn ống ăn đất, thành ruột nhu động trộn đều thức ăn Đồng thời, hệ tiêu hóa tiết enzym đổ vào ruột thủy phân chất hữu cơ Sau đó, chất dinh dưỡng được hấp thụ để nuôi cơ thể, chất cặn bã được đẩy ra ngoài qua đường hậu môn Phân của trùn chỉ thải thành từng giải mỏng trên bề mặt ruộng góp phần tăng độ phì nhiêu của lớp đất bề mặt (Appleby và Brinkiiurst, 1970) Các hoạt động này ảnh hưởng đến quá trình vật lý, hóa học và sinh học trong các lớp trên cùng của nền ruộng, góp phần phân hủy các hợp chất hữu cơ (Yasushi, 1989)

Mặc dù, trùn ống có vai trò quan trọng trong mạng lưới thức ăn cũng như duy trì độ phì nhiêu của nền đáy ruộng nhưng những nghiên cứu về lĩnh vực này còn rất hạn chế Những nghiên cứu về trùn ống phân bố ở ruộng lúa thường gắn với việc ảnh hưởng của thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ tới mật độ và sinh khối của sinh vật nền đáy của ruộng lúa Mật độ của giun ít tơ (trong đó chủ là các loài thuộc họ trùn ống) ở ruộng lúa không phun thuốc trừ cỏ ở cả 4 tháng từ tháng 5 đến tháng 8 lần lượt là 208,1±159,9; 28,1± 66,8; 46,7±92,8 và 111,7±219,8 con/m2, đều cao hơn so với mật

Trang 24

độ của giun ít tơ ở ruộng lúa có phun thuốc trừ cỏ tháng 5 (174,7 ± 162,8); tháng 6 (6,7±12,2); tháng 7 (9,7±12,9) và tháng 8 (19,6±34,6) (Frank và cs, 2000) Nhìn chung toàn bộ các loại thuốc trừ cỏ đều gây sốc đối với động vật đáy ở thời gian đầu, sự căng thẳng sẽ giảm theo thời gian Vào cuối vụ sản xuất, quần thể động vật đáy có thể phục hồi lại cấu trúc (Joele và Sandro, 2009)

Thành phần động vật không xương sống cỡ nhỏ ở Italia, cho thấy chân ruộng lúa

có tới 173 đơn vị phân loại (taxon) được xác định gồm 4 ngành khác nhau (thân mềm, giun đốt, giun tròn và chân khớp), 8 lớp, 24 bộ, 68 họ, 127 giống và 159 loài Trong đó,

đa phần mỗi họ chỉ có từ 1 đến 3 loài Duy nhất, họ trùn ống (Tubificidae) có tới 5 loài

Mật độ các loài thuộc họ trùn ống đạt cao Mật độ của L hoffmeisteri ở các rãnh nước

chảy giữa các ruộng lúa luôn cao hơn ở trong ruộng lúa (Daniela, 2013) Mật độ của hai

loài trùn ống L hoffmeisteri và B sowerbyi trong vùng đất trồng lúa tại Nhật Bản gia

tăng từ vài con/m2 khi bắt đầu vụ cấy đến 40.000con/m2 ở cuối vụ nuôi (Kikuchi và Kurihara, 1975) Thành phần loài và mật độ giun ít tơ ở ruộng lúa tại Philippines thấp

nhưng các loài chiếm ưu thế thì phân bố rộng với mật độ cao nhất L.hoffmeisteri và B sowerbyi của họ trùn ống là hai loài phổ biến nhất chiếm 81% và 13% sinh khối tương

ứng trong mẫu thu theo thời gian và theo vị trí Mật độ và sinh khối dao động từ 0-3500 con/m2 và tương ứng 0-620 kg/ha (Ian và cs, 1993)

Ở Việt Nam chưa có nghiên cứu cụ thể về thành phần loài và mật độ sinh lượng trùn ống ở ruộng lúa ngoại trừ nghiên cứu chung về động vật đáy ở mô hình nuôi kết hợp tôm càng xanh trong ruộng lúa Kết quả nghiên cứu cho thấy, mật độ động vật đáy không cao, sinh khối dao động từ 1-5g/m2 Giun ít tơ là nhóm có mật độ cao nhất trong tất

cả các mô hình nuôi kết hợp lúa với nuôi tôm càng xanh (Trần Ngoc Hải và cs, 2001)

d) Sông

Giun ít tơ là thành phần quan trọng trong nhóm động vật không xương sống cỡ lớn sống nền đáy, đặc biệt ở vùng hạ lưu các con sông lớn (Sporka 1998; Moog 2002; Jakovcev và cs 2005; Atanackovi và cs, 2013) Trong nhóm động vật không xương sống cỡ lớn phân bố ở vùng cửa sông thì thành phần loài giun ít tơ là đa dạng và phong phú nhất (Paunovi´c và cs, 2005) Khu vực sông bị tác động bởi các chất dinh dưỡng, hợp chất hữu cơ hoặc gia tăng hàm lượng các hạt trầm tích, giun ít tơ có thể đạt mật độ cao, chúng làm thay đổi cấu trúc và chức năng của cộng đồng sinh vật đáy Khi so sánh thành phần loài giun ít tơ tìm thấy ở các con sông bị ô nhiễm, cho thấy thành phần loài

Trang 25

giun ít tơ ít nhất và trong đó các loài thuộc họ trùn ống chiếm ưu thế được tìm thấy ở vùng ô nhiễm nhất (Lafont, 1984)

Trong lưu vực sông Mrtva Tisa của Syrbia có 12 loài thuộc hai họ Naididae và

Tubificidae phân bố Trong đó, có tới 10 loài thuộc họ Tubificidae: Limnodrilus sp.,

L hoffmeisteri, L claparedeanus, L udekemictnus, L helueticus, Psamoryctides barbatus, P albicola, Potamothrix hammoniensis và T tubifex L hoffmeisteri là loài

chiếm ưu thế trong tất cả các mẫu thu trong thời gian 1983-1988 Mật độ loài này chiếm tới 67% trong tổng số loài phân bố ở nền đáy (Nada và Maletin, 1998)

Ở sông Danube năm 2002 cho thấy sự xuất hiện của 52 loài giun ít tơ thuộc 8 họ Hầu hết các loài quan sát được đều phân bố và thích nghi tốt ở vùng có hàm lượng chất hữu cơ từ trung bình tới cao Trong số 8 họ giun có đại diện phân bố ở sông Danube thì

họ trùn ống số lượng loài phong phú (27 loài) và chiếm ưu thế nhất, điển hình là các loài L hoffmeisteri, L claparedeanus, Psammoryctides barbatus và Potamothrix moldaviensis

(Jakovcev và cs, 2005)

Cho đến nay, những nghiên cứu về phân bố trùn ống ở các lưu vực sông tại Việt Nam chưa có nhiều ngoại trừ một số nghiên cứu sử dụng động vật không xương sống đánh giá chất lượng nước ở các thủy vực nước chảy dạng sông Nghiên cứu khảo sát sự phân bố của động vật đáy với các yếu tố môi trường nền đáy ở rạch Tầm Bót, thành phố Long Xuyên cho thấy có sự xuất hiện của trùn ống Trùn ống phân bố nhiều ở các khu vực

có hàm lượng hữu cơ cao Hai loài B sowerbyi, L hoffmeister có khả năng chịu đựng tốt

trong điều kiện môi trường có nồng độ đạm tổng số, lân tổng và chỉ số COD trong nước cao (Lê Công Quyền, 2009)

1.1.3 Đặc điểm hình thái và cấu tạo cơ thể chung của họ trùn ống

Hình 1.2: Cấu tạo chung của trùn ống (Kurt và cs, 2001)

A Bầu tinh, P Cơ quan giao cấu, Pr Phần trước miệng, Sp Túi nhận tinh, V Ống dẫn tinh

Đốt sinh dục

Trang 26

Các loài thuộc họ trùn ống (Tubificidae) có màu đỏ nhạt, kích thước nhỏ, thành

cơ thể mỏng Trên các đốt cuối của cơ thể có mang tham gia hô hấp hoặc không có mang Những loài không có mang ở cuối cơ thể thì quá trình hô hấp được thực hiện thông qua bề mặt của cơ thể (Đặng Ngọc Thanh và cs, 1980) Cơ thể trùn ống phân đốt,

số lượng đốt thay đổi theo từng loài Các đốt trên cơ thể được đánh số theo chữ số la mã Đốt đầu tiên không có chi bên, nó gồm có phần quanh miệng, miệng và phần phía trước miệng Do đó, đây là điểm khác biệt nhất để phân biệt đốt đầu tiên với các đốt tiếp theo của cơ thể Trên mỗi đốt tiếp theo đều có một đôi chi bên, trên chi bên có các chùm lông cứng ở mặt lưng và mặt bụng Cấu tạo của lông cứng trên chi bên khá phức tạp Vì vậy, hình dạng và số lượng lông cứng của chi bên là một trong những dấu hiệu để phân loại trùn ống Các lông cứng của mặt lưng và mặt bụng dạng hình chữ S và có hai răng đỉnh hoặc lông cứng ở mặt lưng (có ít nhất một cái) có dạng lông tơ, hình răng lược, lông cứng mặt bụng có hình chữ S và có 2 răng đỉnh hoặc một số lông cứng ở mặt lưng có dạng lông tơ, một số lông cứng mặt lưng và toàn bộ lông cứng mặt bụng có dạng hình chữ S đầu lông cứng phân làm 2 răng đỉnh (Brinkhurst và Jamicson, 1971)

Hệ sinh dục nằm ở phía trước cơ thể Cơ quan sinh dục cái gồm các túi nhận tinh nằm ở đốt thứ X và các tuyến tinh nằm ở đốt XI Cấu tạo của cơ quan sinh dục là một trong những dấu hiệu để định dạng các loài thuộc họ trùn ống Cơ quan sinh dục đực có ống kitin để dẫn tinh trùng hoặc không có ống kitin, tuyến tinh được chuyển sang cơ quan

sinh dục cái thông qua bộ phận chuyển tinh có hình hạt đậu (Kurt và cs, 1982)

Trùn chỉ có tơ lưng và tơ bụng giống nhau đều là hình chữ S Tinh hoàn bám trên vách đốt 9/10 Ống dẫn tinh dài (thường lớn hơn 300µm), chiều dài của nó rất khác nhau, thông thường gấp 10-20 lần chiều rộng, thành ống mỏng Bầu tinh hình thoi dài Tuyến tiền liệu lớn, đổ vào bầu tinh ở khoảng giữa Lỗ sinh dục kép cạnh chùm tơ bụng đốt XI Túi nhận tinh trong ở đốt X, lớn, cuống dài, có thể lộn ra ngoài

Lỗ nhận tinh trước chùm tơ bụng đốt X (Brinkhurstvà Jamicson ,1971)

1.1.4 Hình thái cấu tạo trùn chỉ

Trùn chỉ có cơ thể màu đỏ nhạt Cá thể thành thục sinh dục có đốt sinh dục phình to, có thể nhìn thấy màu trắng của túi tinh bên trong cơ thể bằng mắt thường Tơ lưng và tơ bụng không khác nhau về kích thước, đặc điểm răng và vị trí của hạch Thường chùm tơ bụng có 4-9 tơ ở các đốt trước sinh dục và giảm xuống còn 2-1 tơ ở các đốt cuối Số lượng tơ ở chùm tơ lưng của các đốt trước sinh dục thường ít hơn ở chùm tơ bụng từ 1-2 tơ Tơ lưng ở đốt X-XI và tơ bụng đốt XI giảm về số lượng, có khi chùm tơ bụng đốt XI mất hẳn (Đặng Ngọc Thanh và cs, 1980)

Trang 27

Đai sinh dục không rõ nhưng dễ nhận thấy nhờ chỗ phình của các đốt sinh dục Ống dẫn tinh thon dài, đường kính khoảng 20 µm Bầu tinh hình thoi dài khoảng 700µm, chỗ rộng nhất khoảng 80µm Lỗ sinh dục cạnh chùm tơ bụng XI, có thể lộn ra ngoài thành gai giao cấu Ống kitin dài khoảng 400-500µm, rộng 40-50µm ở cuối ống phóng tinh, nhỏ dần đến 1/3 chiều dài tơ phía ngoài thì dừng lại rồi lớn dần Mép ngoài của ống cong dạng hoa loa kèn Đôi túi nhận tinh ở trong đốt X, hình túi, có thể kéo dài về phía sau đến tận đốt XII Bầu của túi nhận tinh hình trứng, rộng nhất tới 300µm, cuống túi rộng khoảng 70µm, thành dày 13µm, có thể lộn ra ngoài qua lỗ nhận tinh ở trước chùm tơ bụng đốt X (Đặng Ngọc Thanh và cs, 1980)

Hình 1.3 : Cấu tạo trong của L hoffmeisteri (Đặng Ngọc Thanh và cs, 1980)

A đỉnh của tơ; B Ống kitin nhìn bên và nhìn thẳng; C- D túi nhận tinh; E cơ quan

sinh dục đực

Phân biệt loài L hoffmeisteri với các loài thường gặp trong quần thể giun ít tơ

khi thu mẫu theo Brinkhurst và Jamieson (1971); Đặng Ngọc Thanh và cs (1980); Stimpson và cs (1982):

Loài L hoffmeisteri chùm tơ lưng và tơ bụng đều có dạng chữ S, không có tơ

lớn trong chùm tơ lưng và tơ bụng Ống kitin dài (chiều dài gấp 7-12 lần chiều rộng)

Loài Aeolosoma travancorense giun cỡ bé, có khoảng 7-8 đốt, cơ thể trong

Thùy đầu có lông cảm giác, có hố tiêm mao ở chỗ chuyển sang thân Chùm tơ lưng và

tơ bụng bắt đầu từ đốt thứ II Tơ lông hình lưỡi lê, có răng bên

Aulophorus furcatus có kích cỡ bé, tơ bụng từ đốt II đến V dài hơn tơ bụng của

các đốt sau Tơ lưng từ đốt V gồm có 1 tơ lông và một tơ que Hốc mang có hai sợi đuôi dài, có 3 đôi mang hình tấm

Trang 28

Aulophorus hymanae tơ bụng từ đốt II-IV dài hơn, thanh hơn và thẳng hơn tơ

bụng các đốt sau Tơ lưng từ đốt số V gồm 1 tơ lông hình lưỡi lê và 1 tơ que Tơ que

có răng đỉnh thẳng hơn, thanh hơn và hơi dài hơn răng gốc Không có tơ giao cấu Hốc mang có một đôi sợi đuôi dài và 3 đôi mang hình tấm

Branchiura sowerbyi có hai dãy mang trên các đốt cuối, dãy mang lưng và

mang bụng hình sợi ở một số đốt phía cuối cơ thể Tơ bụng chữ S có răng đỉnh ngắn hơn răng gốc Chùm tơ lưng có tơ que hình S giống tơ bụng và tơ lông;

Chaetogaster limnsei thùy đầu không phát triển Ở đốt II có 15-20 tơ mỗi

chùm, có hạch ở đỉnh, răng uốn thẳng góc vớ trục không có bình nang Tơ sinh dục

có từ 1-2 răng

Dero digitata tơ bụng II-V dài hơn tơ bụng các đốt sau Chùm tơ lưng từ VI gồm

có 1 tơ lông và 1 tơ que Tơ que có 2 răng nhỏ, răng đỉnh hơi dài hơn hay bằng răng gốc Không có tơ giao cấu Có 4 đôi mang Đôi thứ nhất nhô lên ở gốc bờ lưng, đôi thứ 2 hình tấm dọc phần bên của bờ lưng và 2 đôi cuối hình tấm từ đáy hốc mang

Dero indica tơ bụng đốt II-V dài hơn tơ bụng các đốt sau Tơ lưng từ VI có 1-3

tơ lông và có từ 1-3 tơ que Tơ que có răng gốc thanh và ngắn hơn răng đỉnh Hốc mang có viền xám dọc bờ bụng, có 4 đôi mang hình tấm Đôi thứ nhất nhỏ ở gốc bờ lưng hốc mang Đôi thứ 2 hình tấm dọc phần bên của bờ lưng

Loài Tubifex tubifex không có phần hô hấp, không chia đốt ở cuối Tinh hoàn

và buồng trứng ở vị trí từ đốt X đến XI Trong chùm tơ lưng còn có tơ lông, không có ống dẫn kitin

1.1.5 Đặc điểm sinh trưởng

Đặc điểm chung nhất của các loài trùn chỉ thuộc họ trùn ống là tăng trưởng nhanh

ở những tuần đầu tiên trước khi thành thục sinh dục sau đó tăng trưởng chậm lại, trong quá trình sinh sản khối lượng cơ thể vẫn tăng trưởng liên tục để đạt được khối lượng lớn

nhất Tốc độ tăng trưởng của các loài có sự khác nhau nhất định Loài T tubifex tăng

trưởng chậm và đạt được khối lượng khoảng 1,5mg trong thời gian 28 ngày đầu Tiếp đến, khoảng thời gian từ ngày 28 đến ngày thứ 42 là pha tăng trưởng logarit Sau ngày 42, khối

lượng cơ thể của T tubifex ổn định ở mức tối đa khoảng 7,5 mg Từ ngày 42 trở đi phần

lớn năng lượng tập trung cho sự phát triển tuyến sinh dục, quá trình sinh trưởng chậm lại

Khi khối lượng cơ thể của T tubifex đạt khoảng 5 mg thì tuyến sinh dục đã phát triển, đai

sinh dục dày lên có thể nhìn thấy kén ở bên trong cơ thể Quá trình sinh sản loài này

Trang 29

không chỉ thực hiện tích lũy chất dinh dưỡng để thành thục mà tăng trưởng về khối lượng

cơ thể đạt 7,5mg (Marian và Pandian, 1984) Tốc độ tăng trưởng của B sowerbyi cao nhất

ở tuần nuôi đầu tiên trong vòng đời, sau đó chậm lại Trong khoảng thời gian từ khi nhỏ tới khi tham gia sinh sản lần đầu tốc độ tăng trưởng tuyệt đối đạt 0,41 ± 0,09 mg/ngày, tốc

độ tăng trưởng tương đối đạt 6,98 ± 0,91% Tính chung cho cả vòng đời thì tốc độ tăng

trưởng tương đối của B sowerbyi chỉ đạt 0,91 ± 0,04% (Lobo và Alves, 2011a

)

Tốc độ tăng trưởng không chỉ phụ thuộc vào đặc tính của từng loài, từng giai đoạn phát triển mà còn phụ thuộc vào nền đáy và nhiệt độ Cùng một loài nhưng chúng phân bố ở các vùng địa lý khác nhau, sống ở nền đáy khác nhau sẽ có tốc độ tăng trưởng

khác nhau L hoffmeisteri nuôi ở nền đáy cát trung bình (0,250-1,00mm) có tốc độ tăng

trưởng chậm hơn so với loài này nuôi ở nền đáy cát mịn (0,057 -0,250mm) (Lobo và Alves, 2011b) Để biết rõ hơn đặc điểm tăng trưởng của loài L hoffmeisteri phân bố ở

Nha Trang – Khánh Hòa phục vụ cho việc nuôi sinh khối đối tượng này cần phải có thí nghiệm bố trí nghiên cứu khả năng sinh trưởng của trùn chỉ ở nền đáy khác nhau trong phòng thí nghiệm

1.1.6 Đặc điểm dinh dưỡng

Hầu hết các loài giun ít tơ thuộc họ trùn ống là động vật ăn tạp Thức ăn của trùn ống là mùn bã hữu cơ và các chất dinh dưỡng có trên bề mặt nền đáy ở khu

vực chúng đi qua (Smith, 2001) Thành phần thức ăn trong ruột của L hoffmeisteri

đã được tìm thấy bao gồm xác tảo đáy, các hạt khoáng vô cơ và hữu cơ Tỷ lệ các hạt khoáng vô cơ, hữu cơ có trong ruột và ở bùn đáy hồ là không khác nhau Điều này cho thấy không có sự chọn lọc thực phẩm khi trùn chỉ lấy thức ăn (Monakov, 1972) Trùn ống nuốt các hạt trầm tích, cặn vẩn hữu cơ có kích thước khác nhau ở đáy vào trong đường ruột tạo thành nhiều lớp gồm toàn bộ các hạt trầm tích, cặn vẩn hữu cơ từ phía trước đến cuối cơ thể, cơ quan tiêu hóa nghiền nhỏ thức ăn, hấp thụ chất dinh dưỡng, sau cùng thải chất cặn bã ra ngoài môi trường thành từng ống nhỏ, mỏng Trùn ăn liên tục đã góp phần phân giải trầm tích đáy Phân của trùn thải

ra nền đáy như những giải băng tải (Smith, 2001) Trong trường hợp thiếu thức ăn, trùn có thể ăn tảo sợi, tảo đáy, thực vật thủy sinh cỡ nhỏ hoặc mảnh vụn động vật Trùn thường phân bố với mật độ cao ở vùng nước chảy chậm nơi tích lũy nhiều hợp chất hữu cơ, chính các chất hữu cơ tích tụ cùng tảo đáy và vi khuẩn là nguồn thức

ăn cơ bản của trùn ống (Sauter và Gude, 1996)

Trang 30

1.1.7 Đặc điểm sinh sản

Trùn chỉ thuộc phân ngành có đai sinh dục, hệ sinh dục tập trung ở một số đốt, chúng lưỡng tính nhưng dị thụ tinh Lớp biểu bì ở các đốt sinh sản của cá thể trưởng thành phát triển dày lên tạo thành đai sinh dục (Smith, 2001) Ở vùng tạo đai có 2 loại tế bào tuyến: tế bào hạt lớn hình thành lớp vỏ ngoài của đai, sau này thành kén vỏ và tế bào hạt

bé hình thành chất dinh dưỡng cho phôi (Thái Trần Bái, 2005) Hai cá thể trưởng thành ghép đôi, quay chéo đầu, áp mặt bụng vào nhau và trao đổi tinh dịch Tinh trùng có thể được chuyển trực tiếp vào túi nhận tinh của đối phương dưới dạng tinh dịch hoặc tinh khối (spermatozeugma), hoặc bao tinh (spermatophora) Sau khi thụ tinh, hai con rời nhau Sau một thời gian, kịp cho noãn chín, kén giun hình thành Kén có kích thước, hình dạng và số lượng trứng thay đổi theo từng loài (Thái Trần Bái, 2005) Kén giun thường bám trên bề mặt đá, gốc cây thủy sinh hoặc các mảnh vụn hữu cơ ở nền đáy

Các nghiên cứu về mùa vụ sinh sản, sức sinh sản, quá trình phát triển phôi của trùn chỉ còn hạn chế, hầu hết các kết qủa nghiên cứu đều được thực hiện ở vùng ôn đới

và tập trung vào 3 loài Isochaetides newaensis, L hoffmeisteri, T tubifex chúng chiếm

từ 50 -80% sinh khối phân bố trong các loại thủy vực Các nghiên cứu cho thấy, mùa vụ sinh sản, số lần sinh sản trong năm phụ thuộc vào từng loài và từng vùng phân bố Vòng

đời của L hoffmeisteri kéo dài từ 1 tới 2 năm, mỗi năm chúng chỉ tham gia sinh sản tạo kén một lần (Kennedy, 1966) Quần thể L hoffmeisteri chỉ tham gia sinh sản hữu tính

một lần trong năm vào giữa mùa xuận và mùa hè (Mason, 1996) Trong khi đó, kết quả

nghiên cứu của Brinkhurst cho rằng, cá thể trưởng thành của loài L hoffmeisteri và loài

T tubifex có thể tìm thấy ở tất cả thời gian trong năm, chúng sinh sản quanh năm ở một

số vùng khác nhau ngay cả trong điều kiện nuôi sinh khối (Brinkhurst, 1980)

Sức sinh sản tạo kén và thời gian phát triển phôi của trùn chỉ phụ thuộc vào từng

loài và điều kiện nhiệt độ Loài Isochaetides newaensis có thể đẻ được 60 phôi trong

một đợt sinh sản, số lượng phôi trong kén giao động từ 4 – 30 tùy thuộc vào nhiệt độ, khi nuôi ở nhiệt 15-20ºC thì trung bình số lượng phôi của một kén là 22 ± 0,01, ở nhiệt

độ cao hơn là 22ºC thì số phôi trong kén là 12 ± 0,05 Ở khoảng nhiệt độ từ 20ºC đến

22ºC, thời gian phát triển của phôi là 20-22 ngày Loài T tubifex có thể tạo kén từ 3 đến

4 tháng liên tục, sức sinh sản tuyệt đối từ 90 – 340 kén, mỗi kén có từ 2 – 20 phôi tùy thuộc vào nhiệt độ Ở khoảng nhiệt độ từ 18ºC đến 20ºC, thời gian phôi phát triển là 12-

15 ngày Loài L hoffmeisteri có thể đẻ liên tục trong thời gian 4 tháng, mỗi kén có từ 2

Trang 31

đến 10 phôi, số lượng phôi trong kén tăng khi nhiệt độ tăng, sức sinh sản tuyệt đối đạt

120 – 480 phôi, sức sinh sản thực tế đạt 40 – 150 phôi Thời gian phát triển phôi ở khoảng biến động nhiệt độ từ 2- 30ºC là từ 15 -75 ngày (Poddubnaya,1980)

Cho đến nay, ở vùng nhiệt đới có rất ít nghiên cứu về vòng đời của các loài trùn chỉ được thực hiện, hầu hết các nghiên cứu ở khu vực này liên quan tới ứng dụng trùn chỉ vào nuôi các đối tượng thủy sản hoặc xử lý chất thải Ở Việt Nam, chưa có nghiên cứu chuyên sâu về đặc điểm sinh trưởng, sinh sản của trùn chỉ ngoại trừ công bố về đặc

điểm phân bố và khả năng bắt gặp các cá thể thành thục sinh dục của loài L hoffmeisteri Loài L hoffmeisteri thường kết thành búi màu ở cống rãnh nước thải và ao

nuôi trồng thủy sản, cá thể chín sinh dục được tìm thấy quanh năm ở hầu hết các thủy vực nước ngọt phía Bắc Việt Nam (Đặng Ngọc Thanh và cs, 1980; Thái Trần Bái, 2005)

Như vậy, để có cơ sở khoa học phục vụ việc nuôi thu sinh khối cần phải tiến hành nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng, mùa vụ cũng như sức sinh sản và quá trình phát triển phôi của đối tượng này

Hầu hết giun ít tơ không có cơ quan hô hấp riêng Quá trình trao đổi khí tiến hành trực tiếp qua da và do đó thành cơ thể luôn ẩm nhờ có tuyến nhầy, dịch thể xoang hoặc dịch bài tiết (Thái Trần Bái, 2005) Một số loài giun thuộc họ Naididae và họ Tubificidae có cơ quan hô hấp phụ ở cuối cơ thể, giúp cho quá trình hô hấp được tốt hơn Nước được đưa vào trong hậu môn sau đó được đưa về phía trước nhờ vào sự nhu động của anten hoặc hoạt động của sợi cirri ở hậu môn để thực hiện hoạt động hô hấp (Smith, 2001) Một số loài giun ít tơ nước ngọt có mang ở cuối hoặc hai bên cơ thể

(Aulophorus, Dero, Branchiodrilus, Branchiura) Chúng luôn hoạt động để hứng nước

giàu oxy cho quá trình hô hấp (Thái Trần Bái, 2005)

Trang 32

1.2 TÌNH HÌNH NUÔI SINH KHỐI TRÙN CHỈ VÀ SỬ DỤNG LÀM THỨC

ĂN TRONG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

1.2.1 Tình hình nuôi sinh khối trùn chỉ trên thế giới

Trước năm 1980, có rất ít nghiên cứu về khả năng nuôi sinh khối nhóm loài thuộc họ trùn ống Các nghiên cứu thường tập trung vào đặc điểm sinh học và phân bố của chúng, điển hình là nghiên cứu về đặc điểm sinh học các loài thuộc họ trùn ống của Brinkhurst và Kennedy được thực hiện từ năm 1965 Nghiên cứu về chu kỳ phát

triển của T tubifex trong phòng thí nghiệm của Kosiorek, trùn chỉ ăn rau diếp có sức

sinh trưởng và khả năng sinh sản cao nhất trong điều kiện thí nghiệm Sử dụng rau diếp làm thức ăn nuôi sinh khối trùn chỉ vì nó chứa khoáng chất, thêm vào đó rau diếp

dễ tiêu hóa và hấp thụ (Kosiorek, 1974)

Từ 1980 đến nay, khi nghề nuôi trồng thủy sản phát triển, nhu cầu về thức ăn sống để phục vụ sản xuất giống tăng đã có nhiều nghiên cứu tập trung vào nuôi sinh khối các đối tượng thuộc họ trùn ống Bởi vì, hầu hết các loài thuộc họ trùn ống có vòng đời ngắn (42 ngày) chúng có khả năng sinh sống và phát triển ở nền đáy là phân

bò, xơ dừa hoặc vùng có nền đáy ô nhiễm chất hữu cơ (Marian và Pandian, 1984) Chúng có sức sinh sản lớn, mỗi cá thể từ 92-340 kén mỗi kén có rất nhiều phôi (Poddubnaya, 1980)

Công nghệ nuôi trùn chỉ phát triển chủ yếu ở những quốc gia có thế mạnh về nuôi trồng thủy sản nước ngọt như Ấn Độ, Indonesia, Banglades Hệ thống nuôi trùn chỉ có sự tương đồng giữa các nước như nuôi trong hệ thống ống có hình chữ nhật, nước chảy tuần hoàn Nhưng nguồn thức ăn để cung cấp cho trùn chỉ có sự khác biệt khá rõ ở các nước khác nhau: Ở Ấn Đô, thức ăn sử dụng nuôi trùn chỉ chủ yếu là phân

bò Ở Indonesia các nhà khoa học tập trung nghiên cứu sử dụng phân gà làm thức ăn

để nuôi trùn chỉ Trong khi đó, các nhà khoa học ở Banglades quan tâm nghiên cứu các loài thức ăn sử dụng cho gia súc, gia cầm như cám gạo, bột đậu nành, khô dầu hạt cải làm thức để nuôi trùn chỉ

Công nghệ cũng như loại thức ăn sử dụng để nuôi sinh khối trùn chỉ không chỉ

có sự khác biệt giữa các quốc gia khác nhau mà còn thay đổi theo thời gian Ở thập niên 80, các nghiên cứu thường tập trung vào việc sử dụng nền đáy bùn hoặc kết

hợp giữa phân bò tươi và cát mịn để nuôi trùn chỉ Trùn tơ mang (Branchiura sowerbyi) có khả năng sống, tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sinh sản tốt trong bùn

Trang 33

hoạt tính có trộn với cát hoặc bùn sông (Aston và Miler, 1982) Trùn chỉ loài T tubifex sinh trưởng nhanh (đạt 7,5 mg trong 42 ngày) ở nền đáy kết hợp 75% phân

bò và 25% cát Trong rãnh nuôi có diện tích (150x15x15cm) cần có hệ thống nước chảy liên tục với lưu lượng 250 ml/phút để duy trì hàm lượng oxy hòa tan là 3 mg/lit Định kỳ 4 ngày cấp 250mg phân bò tươi/cm2 Chu kỳ 30 ngày thu hoạch một lần với sinh khối 125mg/cm2 (Marian và Pandian, 1984)

Sang thập niên 90, hầu hết các nghiên cứu nuôi sinh khối trùn chỉ hướng tới việc giảm tỷ lệ sử dụng phân hữu cơ và tăng tỷ lệ các sản phẩm sử dụng làm thức ăn cho gia súc, gia cầm như cám gạo, khô dầu hạt cải làm nền đáy Ahamed và Mollah (1992) là hai tác giả đầu tiên mô tả công nghệ nuôi trùn chỉ bằng nền đáy có sự kết hợp cám gạo, khô dầu hạt cải, phân bò tươi và cát mịn Với việc thay thế một phần phân bò tươi bằng cám gạo và khô dầu hạt cải, sinh khối trùn chỉ đạt 419,4mg/cm2, cao hơn 2 lần khi nuôi hoàn toàn bằng phân bò và cát mịn Con non xuất hiện sau 20 ngày thả nuôi Tuy nhiên, hệ thống nuôi không duy trì được trong thời gian dài bởi vì khi mật độ quần thể trùn chỉ tăng cao tốc độ sinh trưởng của chúng bị giảm Để giảm mật

độ của trùn chỉ trong hệ thống nuôi đồng thời kéo dài thời gian nuôi sinh khối hai tác giả này đã nghiên cứu tỷ lệ thu Chu kỳ 10 ngày cung cấp thức ăn một lần với khối lượng là 250 mg /cm2 Sau 50 ngày nuôi tiến hành thu hoạch lần đầu tiên, mức thu là

30 mg/cm2 Sau đó định kỳ 10 ngày thu hoạch một lần, với mức thu hoạch tương tự lần đầu tiên Với chu kỳ và mức thu này không chỉ đảm bảo được năng suất sinh khối

mà còn giữ được mức phát triển cân bằng của quần thể trùn chỉ trong hệ thống nuôi Năng suất đạt được sau 160 ngày nuôi là 852,43mg/cm2 (Mollah và Ahamed, 1993)

Hossain và cs (2011) nghiên cứu thay đổi tỷ lệ phối hợp nền đáy và nâng cao tỷ

lệ thu để đạt được sản lượng tối ưu nhưng vẫn duy trì được năng suất bền vững trong

hệ thống nuôi liên tục Hệ thống nuôi trong bể có diện tích (160x25x10) đặt trong nhà

có mái che, nước chảy liên tục đảm bảo lượng oxy hòa tan đạt 4-6 mg/L, nền đáy được kết hợp bởi 20% cám gạo, 30% bột đậu nành, 20% khô dầu hạt cải, 20% phân bò và 10% cát Định kỳ 10 ngày bổ sung thêm 250 mg thức ăn/cm2 Sau 30 ngày nuôi tiến hành thu sinh khối lần đầu tiên, mức thu là 50 mg/cm2 Sau đó định kỳ 10 ngày tiến hành thu sinh khối một lần, mức thu tương tự như lần thu đầu tiên Với việc bổ sung thêm thành phần chất dinh dưỡng (bột đậu nành) làm thức ăn đồng thời giảm tỷ lệ các chất thô làm nền đáy (cả phân bò và cát chỉ còn 30%) năng suất trùn chỉ đạt cao 518,93 ± 14,36 mg/cm2 sau 60 ngày nuôi

Trang 34

Một trong những hạn chế của việc nuôi trùn chỉ khi phối hợp cám gạo, bột đậu nành, khô dầu hạt cải phân bò và cát mịn làm nền đáy khi nuôi sinh khối trùn chỉ là cung cấp lượng thức ăn dư thừa làm nền đáy và sử dụng dòng chảy liên tục Do đó, lượng nước tiêu tốn khi nuôi sinh khối nhiều Nước từ hệ thống nuôi thải ra môi trường có thể mang theo hàm lượng chất hữu cơ của các chất từ thức ăn đưa vào trong

hệ thống Để giảm lượng nước tiêu tốn khi nuôi sinh khối trùn chỉ và tránh thải nước

từ hệ thống nuôi ra ngoài môi trường, hầu hết các nghiên cứu gần đây nuôi sinh khối trùn chỉ trong hệ thống nước tĩnh, cung cấp thức ăn vừa đủ và sử dụng bùn làm nền đáy Thả nuôi 100 con trùn chỉ trong cốc thủy tinh có thể tích 600 ml có nền đáy bùn với độ sâu 2-3 cm, thể tích lượng nước đưa vào trong cốc là 400ml Định kỳ, cung cấp thức ăn viên của cá làm thức ăn cho trùn chỉ Trùn chỉ phát triển tốt trong cốc nuôi sinh khối mặc dù không có dòng chảy liên tục, không sục khí (Warucha và Saran, 2008) Nuôi trùn chỉ trong hộp nhựa có thể tích 400ml bằng nền đáy bùn (25g bùn khô), sục khí liên tục bằng máy sục khí cho bể cá cảnh Thức ăn được cấp hàng ngày Một tuần thay nước một lần Sinh khối của trùn chỉ sau 60 ngày nuôi đạt 0,36 -52,0mg/cm2 tùy thuộc vào từng loại thức ăn (Oplinger và cs, 2011)

1.2.2 Tình hình nuôi sinh khối và sử dụng trùn chỉ ở Việt Nam

Mặc dù nhu cầu sử dụng trùn chỉ làm thức ăn sống trong sản xuất giống cá nước ngọt ngày càng tăng cao nhưng việc nuôi sinh khối trùn chỉ ở Việt Nam chưa được quan tâm đúng mức Đến nay, có rất ít nghiên cứu đặc điểm sinh học cũng như nuôi sinh khối các loài thuộc nhóm này Một trong những nghiên cứu khá đầy đủ về

đặc điểm sinh học của loài T tubifex được thực hiện từ năm 1999 Theo Đinh Thế Nhân (1999), cơ thể T tubifex có màu hồng, kích thước nhỏ: đường kính khoảng 0,1-

0,3 mm và chiều dài từ 1- 40 mm Số lượng đốt của loài thay đổi theo lứa tuổi, dao động từ 5-100 đốt, đốt cuối cùng nhỏ và dài nhất Sống thành tập đoàn gồm nhiều cá thể kết lại với nhau tạo thành búi trong thủy vực có nền đáy là đất bùn có nhiều mùn

bã hữu cơ Thức ăn của T tubifex là tảo lắng đọng ở đáy thủy vực, mùn bã hữu cơ và

vi sinh vật Trùn chỉ nhạy cảm với nhiệt độ và ánh sáng, lưu trữ trùn chỉ ở trong môi trường nước không có bùn đáy khi nhiệt độ nước lên tới 33ºC thì trùn chỉ sẽ bị chết Trùn chỉ không thích ánh sáng trực tiếp của mặt trời Nếu mực nước thấp và độ trong của nước cao thì ánh sáng của mặt trời sẽ làm cho trùn chỉ ngưng hoạt động uốn lượn trong tầng nước Kết quả nuôi sinh khối trùn chỉ ở nền đất phẳng có lót bạt với độ

Trang 35

sâu của nền đáy khoảng 5 cm, mực nước từ 3-5 cm cho thấy, nghiệm thức nuôi trùn chỉ bằng phân heo cho sản lượng cao hơn so với nghiệm thức bố trí nuôi bằng phân

bò Với mật độ thả nuôi ở 2 mức khác nhau 250g/m2 và 500g/m2 không ảnh hưởng tới sinh khối khi thu

Nghiên cứu mới nhất về nuôi sinh khối và thu hoạch họ trùn ống (Tubificidae) được thực hiện 2016 Theo Vũ Thị Ngọc Nhung và cs (2016), sau 30 ngày nuôi, trùn ống nuôi ở nền đáy phối hợp 10% cát mịn, 20% cám mì, 30% bã dầu nành, 20% bã bia và 20% đất sét phát triển tốt hơn đạt 35mg/cm2

so với nền đáy phối hợp 10% cát mịn, 20% cám mì, 30% bã dầu nành và 40% bã bia chỉ đạt 22,78 mg/cm2 Khi nuôi trùn ống ở nền đáy phối hợp 10% cát mịn, 20% cám mì, 30% bã dầu nành, 20% bã bia và 20% đất sét và bổ sung thêm thức ăn viên 35% đạm với khẩu phần 5% khối lượng thả nuôi ban đầu/ngày chúng phát triển tốt hơn so với việc bổ sung men bia với khẩu phần tương tự Mật độ thả nuôi ban đầu 0,5 con/cm2 quần thể trùn ống phát triển tốt hơn so với mật độ thả nuôi thấp 0,26 con/cm2 Tỷ lệ thu hoạch cũng ảnh hưởng tới sinh khối của quần thể trùn chỉ Sau khi thả nuôi được 30 ngày, tiến hành thu hoạch 50% diện tích nền đáy, thu hoạch toàn bộ phần còn lại sau 40 ngày nuôi tiếp theo đạt hiệu quả cao nhất so với việc thu hoạch 1 lần vào ngày nuôi thứ 70 hoặc thu hoạch 25% hoặc 75% diện tích vào ngày nuôi 30, thu toàn bộ phần còn lại vào sau 40 ngày tiếp

Đối với loài trùn chỉ (L hoffmeisteri) chiếm ưu thế trong quần thể giun ít tơ

(Olygochaeta), chúng thường kết thành búi dày đặc màu hồng ở cống rãnh và ao nuôi

cá tại Việt Nam (Thái Trần Bái, 2005) chưa có nghiên cứu nào về đặc điểm phân bố, sinh trưởng, sinh sản cũng như nuôi sinh khối đối tượng này Hầu hết các nghiên cứu gần đây đều tập trung vào việc sử dụng trùn chỉ làm thức ăn sống để sản xuất giống cá

và giáp xác nước ngọt Cá lăng nha ăn trùn chỉ trong suốt thời gian ương đạt tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống là (91,67%-96,00%) cao hơn nhiều so với việc thay thế trùn chỉ bằng thức ăn khác (thịt cá) (Ngô Văn Ngọc và cs, 2009) Thức ăn ban đầu không

thể thay thế của loài cá trê Phú Quốc (Clarias gracilentus) là trứng nước (Moina) và

trùn chỉ (Đặng Khánh Hồng, 2011) Thức ăn ban đầu tốt nhất để ương nuôi cá chình

bông (Anguilla marmorata) giai đoạn cá hương lên giống (khối lượng cá từ 0,5-1

Trang 36

g/con đạt đến 10-15 g/con) là giáp xác râu ngành (Cladocera)- cho ăn 2 ngày đầu thả nuôi, tiếp đến là trùn chỉ sống, sau đó phối hợp trùn chỉ nghiền vụn với 10-30% thức

ăn tổng hợp, các ngày sau tăng dần tỷ lệ thức ăn tổng hợp (mỗi ngày tăng 10% thức ăn tổng hợp (Hoàng Văn Duật, 2015) Tỷ lệ sống của cua cao nhất (75,6%) ở nghiệm thức ương cua bằng trùn chỉ, ương cua bằng thức ăn công nghiệp có tỷ lệ sống là 64%,

tỷ lệ sống của cua con thấp nhất (36,2%) khi cho cua con ăn cá hấp Như vậy, trùn chỉ là thức ăn thích hợp để ương cua từ 28 ngày tuổi đến cua con (Trần Duy Khoa và cs, 2011)

1.2.3 Vai trò làm thức ăn của trùn chỉ

Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng trùn chỉ là nguồn thức ăn sống rất tốt cho cá và giáp xác nước ngọt Bởi vì chúng đáp ứng được tốt các tiêu chuẩn của việc lựa chọn một sinh vật làm thức ăn sống trong sản xuất giống thủy sản

đó là: tính sẵn có, dễ tiêu hóa, có hàm lượng chất dinh dưỡng cao, kích thước phù hợp vơi con giống mới sản xuất ra Trùn chỉ được chọn làm thức ăn trong ương nuôi

cá, cua, tôm và các loài sinh vật cảnh nước ngọt không chỉ vì giá trị dinh dưỡng tối

ưu của chúng mà còn bởi giá trị về năng lượng Kết quả phân tích năng lượng và giá trị dinh dưỡng của 4 nhóm loài phổ biến làm thức ăn sống cho cá ở Bangkok

Thailand cho thấy, giun nước trong đó trùn chỉ (L hoffmeisteri) chiếm ưu thế có

năng lượng cao nhất 57,42 Kcal/100g khối lượng tươi (Chittapun và cs, 2013) Năng lượng của nhóm giun ít tơ phân bố ở nước mặn trong đó chủ yếu là các loài thuộc

nhóm trùn chỉ có khả năng phân bố rộng như L hoffmeisteri, T tubifex đạt cao 5575

cal/g khối lượng khô (Giere và Pfannkuche, 1982) Trùn chỉ là nhóm loài dễ tiêu hóa bởi vì thành cơ thể của chúng mỏng, không có vỏ kitin bao bọc chỉ có biểu mô tạo thành tầng cuticun bao ngoài Tầng cuticun là một lớp cơ mỏng trong suốt, có thể nhìn thấy toàn bộ nội quan bên trong cơ thể Trùn chỉ không chỉ có hàm lượng protein mà hàm lượng các acid amin cũng cao hơn các nhóm thức ăn sống khác Trong 4 nhóm sinh vật như giun nước, trùng máu, Artemia và râu ngành (Cladocera) làm thức ăn sống cho cá nước ngọt ở Bangkok Thailand thì hàm lượng protein và carbonhydrate cao nhất thuộc về giun ít tơ (Olygochaeta) (59,13% và 11,24% tương

ứng), tiếp đến là nhóm loài thuộc giống trùng máu (Chironomus) (26,06% và

0,97%), thấp nhất là nhóm Artemia (25,25% và 1,36%) Thành phần các acid béo tìm thấy ở giun nước nhiều hơn so với ở nhóm khác Thêm vào đó, hàm lượng của mỗi

Trang 37

loại acid béo có ở cả 4 nhóm sinh vật sử dụng làm thức ăn sống thì mức cao nhất đều thuộc về nhóm giun ít tơ Bảng 1.1

Bảng 1.1: Thành phần acid béo (g/100g) của 4 nhóm thức ăn sống phổ biến ở

- 0.02 0.02

-

-

- 0.10

- 0.04

-

-

- 0.02

- 0.08

- 0.04

-

-

0.02 0.06 0.03 0.14 0.04 0.07 0.03 0.04

Acid béo chưa bão hòa

-

-

0.09 0.07 0.07 0.04

-

-

0.06 0.04 0.07 0.02

-

-

0.08 0.23 0.11 0.12

0.03 0.07

Trích từ Supenya và cs, 2013

Trong quần thể các loài giun nước thì hai loài L hoffmeisteri và T tubifex

thường chiếm ưu thế Chúng thường sống ở nền đáy thủy vực nước ngọt giàu hàm

lượng hữu cơ cùng một số loài giun ít tơ khác như Stylodrilus heringianus, Potamothrix vejdovskyi, P moldaviensis Các loài này đều có thành phần của các

amino acid tự do cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của cá và giáp xác giai đoạn còn nhỏ Hàm lượng các acid amin tự do của các loài trong quần thể giun ít tơ sống ở nước được thể hiện ở Bảng 1.2

Đặc biệt, trùn chỉ được chọn làm thức ăn cho các đối tượng cá, giáp xác giai đoạn giống vì chúng có kích thước cơ thể nhỏ, trong quần thể chia làm nhiều nhóm kích

thước, phù hợp với cỡ miệng của hầu hết các loài cá ở giai đoạn nhỏ Loài T tubifex khi

Trang 38

mới nở có khối lượng trung bình 0,08 mg, chiều dài đạt 3 mm (Poddubnaya, 1980), khi thành thục sinh dục khối lượng đạt 7,5 mg (Marian và Pandian, 1984) Trong quần thể

L hoffmeisteri chia làm 4 nhóm cá thể về kích thước dao động 0,3 -0,5, 1,0 -1,5, 2,0 –

2,5, và 3,0 – 3,5 cm (Warucha và Saran, 2008)

Bảng 1.2: Thành phần amino acid tự do (nmol/mg) của 5 loài giun ít tơ lựa chọn

từ đông nam hồ Michigan

3.67 0.70 0.55 1.18 0.69 0.38 0.34 0.37 0.17 0.35 0.22 0.40 0.20 0.21 0.08 0.16 0.15 0.08 9.90 37.0

3.39 1.74 0.90 0.80 0.62 0.74 0.58 0.62 0.51 0.28 0.26 0.23 0.35 0.19 0.18 0.15 0.16 0.09 11.79 49.1

6.62 3.27 1.75 1.56 1.15 1.24 1.48 1.37 1.18 0.59 0.75 0.51 0.67 0.21 0.87 0.39 0.35 0.42 24.38 48.8

11.7 7.47 3.6 3.56 2.18 2.73 2.5 2.8 2.3 2.71 2.12 0.82 1.33 1.81 1.17 0.70 0.58 0.57 50.65 54.8

Trích từ Graney và cs, 1986

Trùn chỉ có nhiều ưu điểm để làm thức ăn sống nên nhiều nghiên cứu về việc

sử dụng trùn chỉ làm thức ăn cho cá bột và ấu trùng giáp xác trong sản xuất giống Đồng thời, các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, trùn chỉ là thức ăn thích hợp ở giai đoạn cá bột và ấu trùng giáp xác của nhiều loài cá, cua nước ngọt Đặc biệt, việc sản xuất giống một số loài cá bản địa như cá trê Phú Quốc, phụ thuộc hoàn toàn vào thức

ăn sống là trùn chỉ thu ngoài tự nhiên Nhưng nguồn trùn chỉ thu từ tự nhiên luôn không ổn định, người sản xuất cá giống thường bị động trong khâu chuẩn bị thức ăn Thêm vào đó, trùn chỉ ngoài tự nhiên thường phân bố nhiều ở những nơi ô nhiễm hữu cơ, chúng có thể mang những tác nhân gây bệnh có ở môi trường ô nhiễm, các tác nhân gây bệnh này có thể ảnh hưởng tới sức khỏe của cá con và làm giảm tỷ lệ sống của cá con Vì vậy, khi cá được ương bằng trùn chỉ lớn nhanh, hiệu quả sử dụng

Trang 39

thức ăn tốt hơn thức ăn khác nhưng khi so sánh về tỷ lệ sống thì cá được ương bằng trùn chỉ lại có tỷ lệ sống thấp hơn các nghiệm thức sử dụng thức ăn khác Trong ương nuôi cá bống tượng ở giai đoạn cá hương, hệ số sử dụng thức ăn ở nghiệm thức ương cá bằng trùn chỉ là thấp nhất (4,78) tiếp đến là cá tạp (6,53) và cao nhất là thức

ăn công nghiệp (8,53) Nhưng tỷ lệ sống của nghiệm thức nuôi cá bằng cá tạp lại cao nhất (90%), tiếp đến là nghiệm thức nuôi cá bằng trùn chỉ (88,6%), thấp nhất là thức

ăn công nghiệp (55,5%) (Phạm Thị Anh, 2017) Tỷ lệ sống của cá ngát (Plotosus canius) giai đoạn giống có sự khác biệt rõ giữa 3 nghiệm thức thức ăn cá tạp, trùn chỉ

và thức ăn công nghiệp Nghiệm thức sử dụng cá tạp, cá con có tỷ lệ sống 94,44% cao nhất, tiếp đến nghiệm thức trùn chỉ có tỷ lệ sống 75,56% (Trần Ngọc Hải và cs, 2011) Để nâng cao tỷ lệ sống cho cá khi sử dụng trùn chỉ làm thức ăn cần có nguồn trùn chỉ ổn định và không mang nhân tố gây bệnh từ môi trường ô nhiễm hữu cơ ngoài tự nhiên vào trong bể nuôi thì cần thiết phải có trùn chỉ từ nuôi sinh khối Do

đó, cần thiết có những nghiên cứu về sinh thái phân bố, sinh trưởng và sinh sản để phục vụ nuôi sinh khối trùn chỉ từ đó người sản xuất giống cá nước ngọt, cá cảnh có thể chủ động trong việc chuẩn bị thức ăn cho các đợt sản xuất giống, góp phần thúc đẩy sự phát triển ngành các đối tượng đặc sản nước ngọt

1.2.4 Điều kiện nuôi sinh khối trùn chỉ

1.2.4.1 Giống loài trùn chỉ đã được gây nuôi

Thức ăn tươi sống đóng vai trò quan trong trong nuôi trồng thủy sản đặc biệt là giai đoạn sản xuất giống Để sản xuất giống thành công, nâng cao được tỷ lệ sống của con giống của một đối tượng nào đó cần phải tìm được loại thức ăn thích hợp với con non Việc lựa chọn giống loài động vật gây nuôi làm thức ăn sống phục vụ sản xuất giống thủy sản nói chung phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như tính sẵn có, kích thước con mồi phải phù hợp với cỡ miệng của đối tượng sản xuất giống, vòng đời ngắn, có khă năng sinh sản nhanh, dễ nuôi, dễ đạt năng suất cao

Trong sản xuất giống thủy sản nước ngọt, nuôi cá cảnh, trùn chỉ được cho là một trong những loài thức ăn sống tốt nhất bởi: Trùn chỉ có giá trị dinh dưỡng cao,

5575 calo/g khối lượng khô (Giere và Pfannkuche, 1982); kích thước cơ thể nhỏ, thường có chiều dài 3-4 cm (Mallanby, 1953, Jordan và Verma,1978)

Trùn chỉ sống ở trong bùn đáy chúng thường thò một phần cơ thể lên bề mặt đáy

để lấy oxy phục vụ cho quá trình hô hấp, khi bị động chúng thụt ngay vào trong bùn

Trang 40

Chúng phân bố phổ biến và chiếm ưu thế ở vùng nước ô nhiễm hữu cơ có độ sâu khoảng

1 mét, cũng có khi xuất hiện ở hồ có độ sâu lớn hơn, mật độ có thể lên tới trên 8.000 con/m2 (Barnes, 1996) Trong quần thể trùn chỉ có 3 loài chiếm ưu thế đạt từ 50 – 80%

sinh khối ở hồ chứa, hồ tự nhiên là L hoffmeisteri, T tubifex và I newaensis (Poddubnaya, 1980) Các loài L hoffmeisteri, T tubifex và B sowerbyi thường phân bố

cùng nhau (Brinkhurst, 1971; Mollah và Ahamed 1989) Do đó, các nghiên cứu thường nuôi chung các loài của họ Tubificidae như: nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ cám gạo và khô dầu đậu nành trong nuôi sinh khối các loài trùn chỉ thuộc họ trùn ống (Tubificidae) của Ahamed và Mollah, 1992; nghiên cứu nuôi sinh khối trùn ống (Tubificidae) ở hệ thống rãnh xi măng ngoài trời của Mollah và Ahamed, 1993; sử dụng các loài trùn chỉ thuộc họ Tubificidae thu từ tự nhiên để đưa vào nuôi sinh khối (Anwar và cs, 2011, Mollah và cs, 2012)

Tuy nhiên, kích thước, tốc độ sinh trưởng, mùa vụ, sức sinh sản, tập tính sinh học

và sinh thái phân bố của các loài trong cùng 1 họ trùn ống cũng có sự khác nhau Loài I newaensis có khối lượng tối đa 180-210mg/cá thể, tốc độ tăng trưởng tuyệt đối 0,4 mg/ngày, sức sinh sản thực tế đạt 60 phôi trong một đợt sinh sản Loài T tubifex có kích thước cơ thể nhỏ hơn I newaensis, tốc độ tăng trưởng tuyệt đối cao nhất trước khi thành

thục sinh dục đạt 0,04 mg/ngày, sau khi thành thục sinh dục chỉ đạt 0,02 mg/ngày, sức sinh sản thực tế đạt 35 -120 phôi trên một đợt sinh sản (Poddubnaya, 1980) Nhóm cá

thể trưởng thành của loài L hoffmeisteri có khối lượng trung bình 12,44 ± 3,99 mg/cá

thể, sức sinh sản thực tế đạt 40-150 phôi trên một đợt sinh sản (Poddubnaya, 1980; Lobo

và Alves, 2011b) Loài B sowerbyi có khối lượng trung bình khi tham gia sinh sản là

17,56 ± 4,57 mg, tốc độ tăng trưởng tuyệt đối đạt 0,41 ± 0,09 mg/ngày, sức sinh sản thực tế đạt 0,12 ± 0,13 kén/ngày, mỗi kén có từ 1 – 6 phôi, trung bình là 1,73 ± 0,57 phôi/kén (Lobo và Alves, 2011 a) Do đó, khi nuôi sinh khối chung các loài với nhau rất khó cho quá trình quản lý, chăm sóc và xác định sinh khối đạt được

Gần đây một số nghiên cứu đề cập tới việc nuôi sinh khối riêng lẻ từng loài Các loài được chon để nuôi sinh khối thường là những loài chiếm ưu thế ngoài tự

nhiên và có khả năng phân bố rộng T tubifex sinh trưởng và phát triển tốt nhất khi

nuôi bằng thức ăn công nghiệp sử dụng cho cá với khẩu phần cho ăn từ 5 đến 10% và mật độ nuôi là 2.675 con/m2 (Oplinger và cs, 2011) Tốc độ sinh trưởng và khả năng

gia tăng mật độ cá thể trong quần thể của loài L hoffmeisteri ở nghiệm thức nuôi với

Ngày đăng: 09/04/2020, 23:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w