Mục đích Xác định được thành phần sâu hại cây hồi, giám định đến loài và nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học, diễn biến mật độ, sự gây hại của bọ ánh kim Oides sp., đề xuất và
Trang 1VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
BÙI VĂN DŨNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC, SINH THÁI HỌC
LOÀI BỌ ÁNH KIM OIDES SP (COLEOPTERA:
CHRYSOMELIDAE) HẠI HỒI VÀ BIỆN PHÁP PHÕNG TRỪ
TẠI LẠNG SƠN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
Hà Nội, 2018
Trang 2VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
BÙI VĂN DŨNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC, SINH THÁI HỌC
LOÀI BỌ ÁNH KIM OIDES SP (COLEOPTERA:
CHRYSOMELIDAE) HẠI HỒI VÀ BIỆN PHÁP PHÕNG TRỪ
GS.TS Phạm Quang Thu
Hà Nội, 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào Các tài liệu trích dẫn đƣợc chỉ rõ nguồn gốc và mọi sự giúp đỡ đã đƣợc cảm ơn
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận án
Bùi Văn Dũng
Trang 4Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Viện, các nhà khoa hoc, lãnh đạo
và cán bộ của Bộ môn Chẩn đoán Giám định Dịch hại & Thiên địch - Viện Bảo vệ thực vật đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt cho tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài Trân trọng cảm ơn TS Đặng Thị Đáp, GS.TS Nguyễn Viết Tùng và các nhà khoa học đã quan tâm, trao đổi, góp ý cho tôi trong quá trình thực hiện công trình nghiên cứu
Trân trọng cảm ơn, UBND các xã Tân Đoàn, Tràng Phái, Khánh Khê và Sở Khoa học & Công nghệ, sở NN&PTNT, Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Lạng Sơn đã nhiệt tình ủng hộ, giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn tới các các Thầy giáo, Cô giáo, Ban Đào tạo sau đại học, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và làm luận án
Lòng biết ơn sâu sắc xin được gửi tới những người thân trong gia đình, tới tất cả bạn bè, đồng nghiệp đã luôn ở bên, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm nghiên cứu sinh và hoàn thành luận án này
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận án
Bùi Văn Dũng
Trang 5MỤC LỤC
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI VÀ TỔNG
QUAN TÀI LIỆU
6
1.2.1 Tầm quan trọng, ý nghĩa kinh tế cây hồi và sâu hại của chúng 7
Trang 61.2.2.1 Thành phần loài 9
1.3.3 Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của một số loài sâu hại hồi 21
Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
33
2.3.1 Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 35 2.3.2 Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu trong nhà lưới và ngoài đồng
ruộng
35
2.5.1 Điều tra, xác định thành phần loài sâu hại và thiên địch quan
trọng trên cây hồi tại Lạng Sơn
Trang 72.5.2.2 Đặc điểm hình thái của bọ ánh kim Oides sp 39
2.5.2.3 Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học bọ ánh kim Oides sp 41 2.5.3 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học, diễn biến số lượng loài Oides
sp
47
2.5.3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ, ẩm độ, lượng mưa đến thời
điểm trứng nở của BAK Oides sp
47
2.5.3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của độ tuổi cây hồi, các hướng rừng khác
nhau, vị trí đồi khác nhau và yếu tố lâm sinh đến diễn biến mật
độ sâu non và trưởng thành của bọ ánh kim tại Lạng Sơn, năm
kim Oides sp với sự tham gia của cộng đồng
58
3.1 Thành phần loài sâu hại và thiên địch trên cây hồi tại Lạng Sơn 60 3.1.1 Điều tra, thu thập xác định thành phần sâu hại cây hồi 60 3.1.2 Đặc điểm hình thái và gây hại của một số loại sâu hại quan trọng
trên cây hồi
65
3.2 Xác định tên khoa học, đặc điểm hình thái, sinh học cơ bản của 72
Trang 8loài Oides sp
3.2.2 Đặc điểm nhận dạng của BAKĐM Oides duporti Laboissiere 74
3.2.4 Đặc điểm sinh học của loài bọ ánh kim đồi mồi Oides duporti 89 3.2.4.1 Thời gian sống và khả năng sinh sản của trưởng thành 89
3.2.4.2 Thời gian phát triển, vòng đời bọ ánh kim đồi mồi (Oides
duporti)
99
3.2.4.3 Tỉ lệ hoàn thành phát triển các pha của Oides duporti 103
3.2.4.4 Mức độ gây hại của bọ ánh kim đồi mồi Oides duporti 104 3.3 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học của bọ ánh kim đồi mồi
3.3.2 Quy luật phát sinh gây hại của loài Oides duporti theo các thời
kỳ vật hâu của cây hồi ở Lạng Sơn
3.3.5 Ảnh hưởng của các hướng rừng hồi đến diễn biến mật độ sâu
non và trưởng thành của Oides duporti tại Lạng Sơn, năm 2013
và 2014
112
3.3.6 Ảnh hưởng của các vị trí khác nhau của rừng hồi đến diễn biến
mật độ sâu non và trưởng thành của Oides duporti tại Lạng Sơn,
năm 2013 và 2014
113
3.3.7 Ảnh hưởng của yếu tố lâm sinh đến diễn biến mật độ sâu non và
trưởng thành của Oides duporti tại Lạng Sơn, năm 2013 và 2014
115
3.4 Nghiên cứu biện pháp phòng chống bọ ánh kim đồi mồi Oides 117
Trang 9duporti theo hướng quản lý dịch hại tổng hợp
3.4.1 Phòng chống bọ ánh kim đồi mồi Oides duporti bằng biện pháp
lâm sinh và cơ giới vật lý
3.4.5 Mô hình áp dụng các biện pháp phòng chống bọ ánh kim đồi mồi
Oides duporti theo hướng quản lý dịch hại tổng hợp
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG
BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
144
Trang 10DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1 BVTV Bảo vệ thực vật
3 BAKĐM Bọ ánh kim đồi mồi
4 BNNPTNT Bộ Nông nghiệp Phát triển nông thôn
12 RH Ẩm độ tương đối của không khí (%)
13 PTNT Phát triển nông thôn
16 toC Nhiệt độ không khí (độ C)
Trang 11DANH MỤC BẢNG
3.1 Phân bố các nhóm sâu hại trên cây hồi ở Lạng Sơn, 2013 -2015 60
3.3 Phân bố của các thiên địch trên cây hồi ở Lạng Sơn, 2013 -2015 70 3.4 Các loài thiên địch trên cây hồi ở tỉnh Lạng Sơn, 2013-2015 70 3.5 Kích thước trưởng thành BAKĐM Oides duporti (Viện Bảo vệ
3.10 Tuổi thọ và tỉ lệ giới tính của trưởng thành loài Oides duporti qua
các đợt nuôi (Viện Bảo vệ thực vật và Văn Quan - Lạng Sơn,
2013-2014)
91
3.11 Sức đẻ trứng của trưởng thành cái loài Oides duporti qua các đợt
nuôi (Viện Bảo vệ thực vật và Văn Quan - Lạng Sơn, 2013-2014)
92
3.12 Thời gian giao phối và đẻ trứng của trưởng thành cái loài Oides
duporti qua các đợt nuôi (Viện Bảo vệ thực vật và Văn Quan -
Trang 123.16 Sức sống của trứng BAKĐM qua đông tại Văn Quan - Lạng Sơn,
3.18 Tình hình nở BAKĐM non của trứng đình dục năm 2015 98
3.19 Vòng đời của loài Oides duporti qua các đợt nuôi (Viện Bảo vệ thực
vật và Văn Quan - Lạng Sơn, 2013-2014)
101
3.20 Thời gian phát dục các tuổi sâu non loài Oides duporti qua các đợt
nuôi (Viện BVTV và Văn Quan - Lạng Sơn, (2013-2014)
102
3.21 Tỉ lệ hoàn thành phát triển các pha của BAKĐM Oides duporti ở
các mức nhiệt độ khác nhau (Viện BVTV, 2013-2014)
103
3.22 Tình hình gây hại của loài bọ ánh kim đồi mồi hại cây hồi ở tỉnh
Lạng Sơn, năm 2013-2014
104
3.23 Khả năng tiêu thụ thức ăn của pha sâu non và pha trưởng thành
Oides duporti (Viện Bảo vệ thực vật, 2014)
106
3.24 Khả năng tiêu thụ thức ăn của pha sâu non và pha trưởng thành
loài Oides duporti (Viện Bảo vệ thực vật, 2014)
106
3.25 Thời điểm trứng nở của BAKĐM Oides duporti (Lạng Sơn,
2012-2016)
109
3.26 Kết quả phòng trừ BAKĐM Oides duporti bằng biện pháp cơ giới
vật lý tại Văn Quan, Lạng Sơn, 2014
117
3.27 Kết quả phòng trừ giai đoạn tiền nhộng - nhộng BAKĐM Oides
duporti bằng biện pháp thủ công (Lạng Sơn, 2013-2014)
119
3.28 Thành phần thiên địch của Oides duporti hại cây hồi ở tỉnh Lạng
Sơn, 2013-2015
121
3.29 Khả năng chích hút số lượng vật mồi Oides duporti của loài
Cazira horvathi (Văn Quan - Lạng Sơn, 2013-2014)
123
3.30 Thành phần và tỷ lệ các loài nấm ký sinh tự nhiên trên BAKĐM
Oides duporti hại hồi (Lạng Sơn, 2014)
125
Trang 133.31 Đánh giá khả năng ký sinh của một số nguồn nấm đã phân lập ở
BAKĐM hại hồi trong phòng thí nghiệm (Viện BVTV, 2014)
125
3.32 Tỉ lệ nấm ký sinh trở lại BAKĐM hại hồi tại (Viện BVTV, 2014) 126
3.33 Đánh giá khả năng gây chết BAKĐM Oides duporti hại hồi của
một số nguồn nấm đã được phân lập trong nhà lưới (Viện BVTV,
2014)
127
3.34 Hiệu lực của chế phẩm nấm Metarhizium anisopliae và nấm
Beauveria bassiana phòng trừ BAKĐM hại hồi ngoài đồng ruộng
(Lạng Sơn, 2014)
128
3.35 Kết quả phòng trừ sâu non BAKĐM Oides duporti bằng thuốc
sinh học và chế phẩm sinh học (Lạng Sơn, 2013)
129
3.36 Hiệu lực phòng trừ tiền nhộng và nhộng BAKĐM (Oides duporti)
(Lạng Sơn, 2013-2014)
130
3.37 Hiệu lực phòng trừ trưởng thành BAKĐM Oides duporti bằng
thuốc sinh học trong điều kiện nhà lưới (Lạng Sơn, 2013)
131
3.38 Hiệu lực phòng trừ sâu non Oides duporti bằng thuốc hóa học
ngoài tự nhiên (Lạng Sơn, 2013)
132
3.39 Hiệu lực phòng trừ trưởng thành BAKĐM (Oides duporti) bằng
thuốc hóa học trong điều kiện nhà lưới (Lạng Sơn, 2013)
133
3.40 Kết quả áp dụng biện pháp phòng chống BAKĐM theo hướng
quản lý dịch hại tổng hợp của đề tài (Lạng Sơn, 2014)
135
3.41 Đánh giá mô hình quản lý tổng hợp bọ ánh kim đồi mồi Oides
duporti (Tân Đoàn, Văn Quan, 2013-2014)
136
3.42 Kết quả mô hình phòng chống tổng hợp bọ ánh kim đồi mồi Oides
duporti so với đối chứng (Tân Đoàn, Văn Quan, 2013-2014)
137
Trang 14DANH MỤC HÌNH
3.3 Sâu đo hoa Pogonopygia nigralbata (a đực mặt trên, b đực mặt
dưới, c cái mặt trên, d cái mặt dưới
66
3.6 Rệp muội nâu Aphis aurantii (a loại hình không cánh; b loại hình
có cánh; c búp hồi bị rệp hại)
68
3.8 Trưởng thành bọ ánh kim đồi mồi (con đực bên trái, cái bên phải) 75
3.10 Bọ ánh kim đồi mồi Oides duporti (a) đầu và mảnh lưng ngực
trước, (b) râu hàm dưới và râu môi dưới, (c) râu đầu
76
3.11 Bọ ánh kim đồi mồi Oides duporti (a) cánh, (b) chân 77
3.12 Bọ ánh kim đồi mồi Oides duporti (a) Ổ trứng, (b)trứng 78
3.13 Sâu non bọ ánh kim đồi mồi Oides duporti (a) tuổi 1; (b) tuổi 2;
(c) tuổi 3
80
3.14 Sâu non BAKĐM (a), mặt trên đầu; (b) mặt dưới đầu 80
3.16 Sâu non BAKĐM (a) Phần lưng bụng BAKĐM; (b) các u thịt và
lỗ thở BAKĐM; (c) đốt cuối của phần bụng
81
3.19 Bọ ánh kim đồi mồi (a nhộng; b mặt lưng của nhộng; c trưởng
thành mới vũ hóa)
84
3.20 Diễn biến quá trình vũ hóa BAKĐM tại huyện Văn Quan, Lạng 89
Trang 15Sơn, 2013
3.28 Nuôi bọ ánh kim đồi mồi trong lồng lưới ở điều kiện tự nhiên 95
3.37 Căng lưới theo dõi nhộn BAKĐM vũ hóa trưởng thành 100
3.40 Quy luật phát sinh gây hại của loài Oides duporti theo các thời kỳ
vật hậu của cây hồi ở Lạng Sơn
108
3.41 Diễn biến mật độ BAKĐM Oides duporti trên các cây hồi có độ
tuổi khác nhau Lạng Sơn, 2013
110
3.42 Diễn biến mật độ BAKĐM Oides duporti trên các rừng hồi có độ
tuổi khác nhau Lạng Sơn, 2014
Trang 163.47 Điều tra diễn biến mật độ BAKĐM Oides duporti trên rừng hồi 115
3.48 Diễn biến mật độ BAKĐM Oides duporti trên các kiểu rừng hồi
3.55 Bọ xít Eocanthecona concinna trích hút sâu non Oides duporti 120 3.56 Bọ xít cổ ngỗng đỏ sp.2 trích hút trưởng thành BAKĐM 121 3.57 Bọ xít cổ ngỗng đỏ sp.1 trích hút trưởng thành BAKĐM 121
3.58 Bọ xít đỏ lưng gồ Cazira horvathi trích hút sâu non Oides duporti 122
3.59 Bọ xít Panthous sp trích hút trưởng thành Oides duporti 122
3.61 Nấm Beauverina basiana ký sinh trưởng thành BAKĐM 122
3.62 Nấm Metarhizium anisopliae ký sinh sâu non BAKĐM 122
3.63 Bọ xít bắt mồi Cazira horvathi chích hút vật mồi 124 3.64 Nấm ký sinh trở lại BAKĐM hại hồi (Viện BVTV, 2014) 126 3.65 Chụp lưới theo dõi trưởng thành vũ hóa sau khi rắc 131
3.66 Nhộng BAKĐM bị nhiễm nấm trắng Beauveria bassiana 131
3.68 Trưởng thành BAKĐM chết sau khi phòng trừ bằng thuốc sinh học 132
Trang 173.69 Cây hồi ngoài mô hình không phòng trừ BAKĐM, năm 2013 138 3.70 Cây hồi ngoài mô hình sau 1 năm không phòng trừ BAKĐM, năm
2014
138
3.73 Quả hồi ngoài mô hình không phòng chống BAKĐM, phòng
chống BAKĐM
138
Trang 18MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây hồi (Illicium verum Hook) là cây đặc sản có giá trị kinh tế cao đóng vai
trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội, xóa đói giảm nghèo của đồng bào dân tộc tỉnh Lạng Sơn Tất cả các sản phẩm từ quả, thân lá hồi đều được sử dụ dưới dạng thô hoặc dạng tinh dầu (Cổng thông tin điện tử huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn, 2014)
Quả hồi sấy (hoặc phơi) khô, thường gọi là “hoa hồi” là sản phẩm tiêu thụ chủ yếu trên thị trường Quả hồi khô có hương vị đặc biệt, được sử dụng đa mục đích, rộng rãi khắp nơi trên thế giới, dùng trong chế biến thực phẩm, dược phẩm,
mỹ phẩm, thức ăn gia súc (Lương Đăng Ninh, 2010)
Tinh dầu hồi được chiết suất từ quả và thân lá hồi, có thành phần chủ yếu là anethole (ước tính chiếm khoảng 80% - 90%), được dùng làm hương liệu trong sản xuất rượu thơm, trong công nghiệp thực phẩm, dược phẩm Trong công nghiệp hóa chất, dầu hồi và các tinh chất như oleom anisi stellati, anethole, anisi aldehyde và anisonitrile được sử dụng làm hương liệu cao cấp, là thành phần quan trọng để sản xuất nước hoa và các hóa mỹ phẩm khác Trong những năm gần đây, dầu hồi được quan tâm hơn trong việc sử dụng chúng là nguyên liệu chính để sản xuất tamiflu chữa bệnh cúm gia cầm (Lương Đăng Ninh, 2010; 2013)
Ngoài tác dụng nêu trên, hồi là một vị thuốc được dùng trong cả đông y và tây y Tây y dùng làm thuốc trung tiện, giúp tiêu hóa, lợi sữa, tác dụng lên hệ thần kinh và cơ Trong đông y hồi có tác dụng đuổi hàn, kiện tỳ, khai vị, dùng chữa đau bụng, bụng đầy chướng, giải độc của thịt cá (Báo khoa học và phát triển điện tử, 2014; Cao Anh Đương, 2102; Lương Đăng Ninh, 2010)
Tại Lạng Sơn, cây hồi được đồng bào các dân tộc trồng từ hàng thế kỷ nay Đây
là loài cây đặc sản thuộc nhóm cây lâm sản ngoài gỗ, sản phẩm hoa hồi Lạng Sơn được Cục sở hữu trí tuệ bầu chọn nằm trong tốp 10 sản phẩm thiên nhiên tốt nhất Việt Nam (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, 2012) Cây hồi Lạng Sơn ngoài ý nghĩa lớn về kinh tế còn mang một sắc thái nhân văn tốt đẹp, đó là tính kế thừa truyền thống từ đời
Trang 19này qua đời khác một cách có ý thức (Cổng thông tin điện tử huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn, 2014; Kiểm lâm vùng I, 2014)
Mặc dù cây hồi đã được trồng ở Lạng Sơn hàng trăm năm, xong những ghi nhận về thành phần sâu hại trên cây hồi hầu như rất ít Trong những năm gần đây,
do giá trị, diện tích hồi gia tăng, cùng với biến đổi khí hậu đã tác động đến sinh thái rừng hồi, dẫn đến nhiều loài sâu bệnh phát sinh và gây hại cây hồi Đặc biệt, từ năm 2010 trở lại đây, một loài sâu hại thuộc họ ánh kim (gọi là bọ ánh kim) đã bùng phát thành dịch với mật độ tăng rất nhanh qua hàng năm, trung bình 500-800 con/cây, cao điểm lên tới trên 1.300 con/cây Bọ ánh kim cả sâu non và trưởng thành đều gây hại cây hồi, hại búp, lá non, hoa và hại cả quả hồi Khi mật độ bọ ánh kim cao chúng cắn trụi hết các lá non, ngọn làm cây xơ xác không thể phục hồi ngay trong năm đó và năm tiếp theo để có thể ra hoa đậu quả Vì thế, năng suất chất lượng hoa hồi giảm súc nhanh chóng, thậm chí nhiều diện tích trồng hồi mất trắng, không cho thu hoạch Năm 2012 có khoảng 500 ha rừng hồi bị bọ ánh kim gây hại (Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Lạng Sơn, 2102), đến năm 2014 diện tích đã tăng lên
là 2.474,3 ha (Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Lạng Sơn, 2014) bọ ánh kim gây hại tập trung ở các rừng hồi thuộc huyện Lộc Bình, Văn Quan và Cao Lộc Bọ ánh kim là loài có khả năng bay khỏe, di chuyển tốt, nên chúng phát tán nhanh, mạnh, gây hại lớn trên diện rộng Mặc dù, tỉnh Lạng Sơn đã triển khai biện pháp hoá học để phòng trừ bọ ánh kim, nhưng hiệu quả phòng trừ không cao Do chưa có các nghiên cứu
về bọ ánh kim hại hồi, nên việc phòng chống gặp rất nhiều khó khăn và kém hiệu quả Trước yêu cầu của thực tiễn sản xuất, để có cơ sở khoa học đề xuất các giải pháp phòng chống hiệu quả, việc nghiên cứu các đặc điểm sinh học, sinh thái của chúng là hết sức cần thiết Với những lý do nêu trên nghiên cứu sinh đã tiến hành
đề tài: Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học loài bọ ánh kim Oides sp
(Coleoptera: Chrysomelidae) hại hồi và biện pháp phòng trừ tại Lạng Sơn
Trang 202 Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1 Mục đích
Xác định được thành phần sâu hại cây hồi, giám định đến loài và nghiên cứu
đặc điểm sinh học, sinh thái học, diễn biến mật độ, sự gây hại của bọ ánh kim Oides
sp., đề xuất và áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp bọ ánh kim đạt hiệu quả kinh tế, phục vụ sản xuất hồi bền vững tại Lạng Sơn
2.2 Yêu cầu
- Điều tra, xác định được thành phần sâu hại hồi và thiên địch của chúng tại Lạng Sơn
- Giám định được đến loài và nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học, sinh
thái học của bọ ánh kim hại hồi Oides sp
- Nghiên cứu, đề xuất biện pháp phòng chống bọ ánh kim hại hồi theo hướng quản lý dịch hại tổng hợp, áp dụng hiệu quả vào sản xuất hồi tại Lạng Sơn
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Đề tài đã bổ sung những dẫn liệu về thành phần sâu hại, xác định loài có vai trò gây hại chủ yếu trên cây hồi tại Lạng Sơn với các đặc điểm phát sinh, gây hại của chúng
Đã nghiên cứu, cung cấp các dẫn liệu khoa học mới về đặc điểm sinh vật học,
sinh thái học cũng như biện pháp quản lý tổng hợp bọ ánh kim Oides duporti
Laboissier hại hồi hiệu quả, bền vững tại Lạng Sơn
Là tài liệu tham khảo cho cán bộ nghiên cứu, giảng viên và sinh viên các trường đại học, cao đẳng quan tâm đến thành phần và biện pháp phòng chống sâu hại trên cây nông lâm nghiệp nói chung bọ ánh kim nói riêng
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Luận án đã cung cấp các dữ liệu về các loài sâu hại quan trọng trên cây hồi với những đặc điểm nhận dạng, phát sinh, gây hại cũng như thiên địch trên rừng hồi, giúp cán bộ quản lý, chỉ đạo sản xuất và người trồng hồi chủ động phòng chống chúng
Trang 21Kết quả nghiên cứu về đặc điểm hình thái, sinh vật học, sinh thái học quy luật
phát sinh, phát triển của bọ ánh kim đồi mồi Oides duporti Laboissier và Quy trình
phòng chống chúng theo hướng IPM đã giúp các cơ quan chỉ đạo sản xuất, người trồng hồi có cơ sở áp dụng thành công vào thực tiễn, giảm thiểu việc sử dụng hoá chất độc hại, an toàn cho môi trường, gia tăng sản xuất và xuất khẩu hồi hiệu quả, bền vững cho Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Bọ ánh kim Oides sp và thiên địch của chúng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu về nội dung của luận án:
- Xác định thành phần loài sâu hại và thiên địch quan trọng trên cây hồi tại Lạng Sơn
- Nghiên cứu đặc điểm hình thái, một số đặc điểm sinh vật học, sinh thái học
(tuổi cây, hướng rừng, địa hình, kiểu rừng và ẩm độ) của bọ ánh kim Oides sp
- Nghiên cứu, đề xuất biện pháp phòng chống bọ ánh kim Oides sp theo
hướng quản lý dịch hại tổng hợp
Phạm vi thực hiện về thời gian và không gian của luận án:
- Thời gian thực hiện từ năm 2013-2016
- Các nghiên cứu được thực hiện tại Viện Bảo vệ thực vật, các rừng hồi thuộc huyện Văn Quan, Cao Lộc, Lộc Bình, Bình Gia và Văn Lãng của tỉnh Lạng Sơn
5 Những đóng góp mới của đề tài
- Xác định được thành phần 36 loài sâu hại (bổ sung 2 loài vào danh mục sâu
hại hồi là: bọ ánh kim đồi mồi Oides duporti Laboissier và sâu đo hoa Pogonopygia
nigralbata Warrant) và 30 loài thiên địch trên cây hồi, trong đó có 10 loài là thiên
địch của bọ ánh kim đồi mồi Oides duporti Laboissier
- Xác định bọ ánh kim hại hồi Oides sp ở Lạng Sơn là loài Oides duporti
Laboissier (Bọ ánh kim đồi mồi; BAKĐM) cung cấp các dẫn liệu khoa học về đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái học của chúng
Trang 22- Nghiên cứu, đề xuất được các giải pháp mới phòng chống hiệu quả cao bọ ánh
kim đồi mồi Oides duporti (thủ công, sinh học và hóa học) Đề xuất quy trình phòng
chống bọ ánh kim hại hồi theo hướng IPM được công nhận là Tiến bộ kỹ thuật, áp dụng thành công trên diện tích hơn 3.200 ha đạt hiệu quả kỹ thuật trên 85%, bảo vệ môi trường, góp phần đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu hồi cho Việt Nam
Trang 23Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Cây hồi phân bố ở vùng sinh thái hẹp trên thế giới, chỉ trồng được ở một phần diện tích của tỉnh Quảng Tây, Vân Nam, Hải Nam của Trung Quốc và một phần diện tích của tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Quảng Ninh của Việt Nam Hồi ở Lạng Sơn có chất lượng tinh dầu tốt và nổi tiếng với tên gọi “hồi xứ Lạng” Lạng Sơn đã trồng được 33.400 ha rừng hồi chiếm 71% tổng diện tích rừng hồi của
cả nước Sản lượng quả hồi (hoa hồi) khô đạt trên 6.500 tấn trong năm 2010, đem lại giá trị xuất khẩu khoảng 600 - 650 tỷ đồng/năm, đây là một trong những sản phẩm xuất khẩu chủ lực của tỉnh Lạng Sơn (Cao Anh Đương, 2012) Cây hồi đã thực sự làm thay đổi đời sống kinh tế của nhiều vùng dân cư và góp phần xoá bỏ tập quán
du canh, du cư của đồng bào các dân tộc sống ở vùng có hồi
Tuy nhiên, trong những năm gần đây loài bọ ánh kim Oides sp đã bùng phát
và gây hại nghiêm trọng trên vùng hồi tại tỉnh Lạng Sơn, làm giảm năng suất, chất
lượng của hồi Những diện tích hồi bị bọ ánh kim Oides sp gây hại đã làm giảm
năng suất và chất lượng quả hồi, nếu chúng gây hại nặng làm cho cây không thể hồi phục vào các năm sau, thậm chí bị chết hàng loạt Các công trình nghiên cứu về bọ
ánh kim Oides sp trên cây trồng nói chung và trên cây hồi nói riêng ở nước ta chưa
nhiều Các kết quả nghiên cứu còn tản mạn chưa đủ cơ sở khoa học và thực tiễn đề xuất các biện pháp phòng trừ chúng hiệu quả Chính vì vậy, khi dịch bọ ánh kim gây hại trên cây hồi xảy ra, các cơ quan chức năng đã chỉ đạo nhân dân sử dụng chủ yếu thuốc bảo vệ thực vật hóa học để phòng trừ, nhưng hiệu quả thấp
Việc sử dụng thuốc hóa học phòng trừ BAK không chỉ làm tăng chi phí sản xuất, tồn dư thuốc BVTV trong sản phẩm, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, do rừng hồi nằm trên các đồi núi cao, đã ảnh hưởng đến sức khoẻ người lao động Thiệt hại vẫn ngày càng gia tăng cả về diện tích và mức độ, còn làm giảm khả năng xuất khẩu hoa hồi của Việt Nam
Trang 24Khác với hệ sinh thái nông nghiệp cây ngắn ngày, hệ sinh thái rừng hồi có thời gian hình thành phát triển tương đối dài, thành phần chủng loài trong sinh quần đa dạng và phong phú, có tính ổn định tương đối cao Chính vì thế, biện
pháp phòng trừ tổng hợp bọ ánh kim Oides sp nói riêng và dịch hại trong rừng
hồi nói chung chắc chắn có những điểm khác biệt, không thể áp dụng như đối với lúa và cây trồng ngắn ngày khác Việc phòng trừ một loài sâu hại cây trồng cần có những hiểu biết đầy đủ về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học, quy luật phát sinh gây hại của chúng
Xuất phát từ luận điểm cơ bản trên và yêu cầu bức thiết của sản xuất hiện tại
và lâu dài, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài theo trình tự qua các bước: Điều tra xác định thành phần, mức độ phổ biến của các loài sâu hại đặc biệt là tác hại của bọ
ánh kim Oides sp ở các rừng hồi Đi sâu tìm hiểu đặc điểm sinh học và diễn biến số lượng quần thể của loài bọ ánh kim Oides sp chịu tác động của một số yếu tố ngoại
cảnh Thử nghiệm và phát triển các biện pháp phòng trừ có hiệu quả, thích hợp với điều kiện sinh thái và canh tác vùng hồi tại Lạng Sơn
1.2 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước
1.2.1 Tầm quan trọng, ý nghĩa kinh tế cây hồi và sâu hại của chúng
1.2.1.1 Tầm quan trọng, ý nghĩa kinh tế cây hồi
Cây hồi là tên gọi chung của chi Illicium thuộc họ Illiciaceae Chi hồi Illicium
gồm 40 loài có nguồn gốc nhiệt đới (Đông Nam Á), Đông Nam nước Mỹ, vùng biển Caribê và một phần lãnh thổ của Mehico Theo thống kê, vùng Châu Á có 5 loài hồi,
loài I anisatum hay còn gọi là hồi Nhật Bản phân bố ở Nhật Bản và Đài Loan Loài
I arborescens phân bố ở Đài Loan, loài I henryi và I lanceolatum phân bố ở phía
Nam của Trung Quốc và loài I verum có nguồn gốc ở phía Nam của Trung Quốc và
Việt Nam Hầu hết các loài cây hồi kể trên đều sống ở vùng núi cao trong những
rừng cây lá rộng của rừng nhiệt đới ẩm Loài I verum được ghi nhận có nhiều công
dụng nhất trong đời sống của người dân Châu Á và trong y học (Buhtan Ministry of Agriculture, 2006; http://en.wikipedia.org/wiki/Illicium, truy cập ngày 20/4/2013)
Trang 25Cây hồi là cây dược liệu quý có giá trị kinh tế rất lớn trong đời sống của người dân Châu Á Sự phát hiện mới về công dụng của tinh dầu hồi trong bào chế tamiflu càng làm tăng thêm vị thế của nó trong chế biến thực phẩm và dược liệu cho ngành tân dược Mặc dù cây hồi đa giá trị, được sử dụng phổ biến khắp các châu lục, nhưng trên thế giới có ít nước trồng được hồi, thậm chí trong một nước, một tỉnh, một huyện không phải đâu cũng trồng được hồi hiệu quả, phạm vi phân bố của cây hồi rất hẹp Nguyên nhân là do cây hồi ưa lớp đất mặt dày, độ phì cao, thoát nước tốt, có độ pH
từ 5-8, đặc biệt là đất Feralit màu đỏ, màu nâu đến màu vàng Địa hình 300-400m, với nhiệt độ trung bình dao động trong khoảng 18-220C và tổng lượng mưa trung bình năm 1.400 - 1.600 mm Trên thế giới các nghiên cứu về hồi nói chung, đặc biệt về sâu bệnh hại cây hồi rất ít được quan tâm nghiên cứu và công bố
1.2.1.2 Sâu bệnh hại hồi
Chúng tôi đã thu thập các nguồn thông tin được đăng tải, xuất bản của nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, tuy nhiên nước có nhiều thông tin về cây hồi
và sâu bệnh hại hồi nhất trên thế giới là Trung Quốc Gần đây các nhà khoa học Trung Quốc cho biết, đã ghi nhận được một số loài sâu hại trên cây hồi như loài bọ
xít lưng gồ Pseudodoniella sp và một số loài sâu họ Geometridae thuộc bộ cánh
vảy Lepidoptera gây hại khá nghiêm trọng trên cây hồi Chúng gây hại trên các phần non, ngọn non của cây làm cho các búp non, ngọn non bị mù, cây không thể sinh trưởng, ra hoa, kết quả được Ngoài ra, chúng ăn trụi lá, cây không còn lá để quang hợp, mất khả năng phục hồi dẫn đến cành khô héo và chết toàn bộ cây (Yuelan, 2004; http://agriculturalindustry info/Plant/Star-anise-plant-diseases-and-Insect-Pests-Control-Act-29053.html, ngày truy cập 24/5/2013)
Tác giả Hook (2009) nhận định trên loài đại hồi I verum, các loài nấm gây hại
là vấn đề cần phải quan tâm, bởi cây hồi sinh trưởng trong điều kiện độ ẩm cao, rất thuận lợi cho các loài nấm bệnh phát triển (Hook, 2009) Những ghi nhận về sâu bệnh hại trên cây hồi, nơi được coi là quê hương của cây hồi (Trung Quốc) cũng khá hiếm Trong một nghiên cứu của Yuelan (2004) về cây hồi đã phát hiện ra loài sâu hại mới
Pseudodoniella sp gây hại trên cây hồi ở tỉnh Quảng Đông từ tháng 5 cho đến đầu
Trang 26mùa đông, trưởng thành qua đông trên thân cây và đẻ trứng vào tháng 3 cho đến tháng
4 năm sau Tác giả Zhao (2009) đã công bố thành phần sâu bệnh hại cây hồi tại tỉnh Funing (Trung Quốc) gồm có 20 loại sâu bệnh gây hại cho cây hồi Trong đó có 9 loài bệnh, 10 loài sâu và 1 loài thực vật ký sinh Khi cây hồi ở tỉnh Lạng Sơn bị loài sâu hại thuộc họ bọ ánh kim Chrysomelidae gây hại nặng, mẫu vật này đã được gửi đến Bảo tàng Australia và loài gây hại này mới chỉ giám định đến giống với tên khoa học là
Oides sp (http://www.pestnet.org/SummariesofMessages/Crops/Medicinal ,herbsdrugs
/Oides, Illiciumverum (Staranise),Vietnam.aspx, ngày truy cập 24/5/2013)
1.2.2 Nghiên cứu về bọ ánh kim hại cây hồi
1.2.2.1 Thành phần loài
Bọ ánh kim Oides sp thuộc họ ánh kim Chrysomelidae bộ Coleoptera Theo tác
giả Jolivet và cs (1996) cho biết họ ánh kim Chrysomelidae là một trong các họ lớn của
bộ cánh cứng Coleoptera với hơn 40.000 loài phân bố trên toàn thế giới hầu hết trong
số chúng là loài ăn thực vật, thành phần ký chủ của chúng tương đối phức tạp
Năm 1965 Viện hàn lâm khoa học Nga đã xuất bản 11 tập phân loại côn trùng phần thuộc châu Âu, trong đó có tập thứ 5 chuyên về phân loại bộ cánh cứng (Coleoptera) Trong tập tài liệu này đã xây dựng bảng tra cho 1.350 giống thuộc họ ánh kim Chrysomelidae (Bey-Bienko, 1965)
Năm 1910-1940 Volka và Sonklinh xuất bản một tài liệu về côn trùng thuộc bộ cánh cứng (Coleoptera) gồm 240.000 loài trong 31 tập Trong đó, đã đề cập đến hàng nghìn loài bọ cánh cứng thuộc họ ánh kim Chrysomelidae (Bey- Bienko, 1965)
Thái Bang Hoa và Cao Thu Lâm xuất bản cuốn “Côn trùng rừng Vân Nam” vào năm 1987 một bảng tra của ba họ phụ họ ánh kim (Chrysomelidae), gồm họ phụ Chrysomelinea đã giới thiệu 35 loài, họ phụ Alticinae đã giới thiệu 39 loài và
họ phụ Galirucinae đã giới thiệu 93 loài Tại Anh, đã ghi nhận thành phần loài họ
Chrysomelidae khá phong phú, chúng gồm 264 loài thuộc 60 giống của 7 họ phụ, trong đó họ phụ Galerucinae có số lượng giống loài lớn nhất (32 giống, 142 loài) (https://sites.google.com/site/mikesinsectkeys/Home/keys-tocoleoptera/
Trang 27chrysomelidae, truy cập ngày 25/6/2013) Ở Mỹ theo tài liệu sách hướng dẫn về lĩnh vực côn trùng ở Bắc châu Mỹ thuộc Mêhicô của Borror và White (1970 - 1978)
đã đề cập đến đặc điểm phân loại của 9 họ phụ thuộc họ bọ lá Chrysomelidae Ở bang Ohio (Mỹ), chỉ tính riêng số loài thuộc họ bọ ánh kim Chrysomelidae, đã có tới hơn 400 loài, thuộc 99 giống của 12 họ phụ Trong đó họ phụ Halticinae có số giống, loài nhiều nhất, có 27 giống, 124 loài (Hughes, 1944) Tại Đài Loan (Kimoto, 1965) cho biết số loài thuộc họ Chrysomelidae chưa nhiều, chỉ có 43 loài thuộc 36 giống của 10 họ phụ, trong đó có 5 loài được ghi nhận lần đầu tiên cho hệ côn trùng Đài Loan Trong số các loài ghi nhận được ở Đài Loan, họ phụ Galerucinae có số lượng loài nhiều nhất 19 loài Khi nghiên cứu về thành phần các loài thuộc họ bọ ánh kim ở vùng Châu Á Thái Bình Dương tác giả Kimoto và Gressitt (1963) đã thống kê và giám định được 1.249 loài thuộc 5 họ phụ, bổ sung
178 loài mới thuộc côn trùng họ ánh kim cho khu hệ côn trùng Trung Quốc và Hàn
Quốc Trong cuốn sách này có loài Oides leucomelaena được ghi nhận gây hại trên
cây có dầu ở Trung Quốc Những thông tin công bố về loài này cũng còn rất hạn chế Ở vùng Thái Lan và Đông Dương, các tác giả đã ghi nhận được 188 loài thuộc
36 giống của 5 họ phụ, trong đó họ phụ Cryptocephalinae có số loài nhiều nhất với
81 loài, 16 loài mới đã được bổ sung cho danh sách các loài côn trùng họ ánh kim ở Thái Lan và Đông Dương (Kimoto và Gressitt, 1981)
Như vậy, các tài liệu mà chúng tôi có điều kiện tham khảo được cho thấy bọ
ánh kim hoa Oides leucomelaena ghi nhận đã gây hại trên cây có dầu ở Trung
Quốc (Kimoto và Gressitt,1981)
Tác giả Kimoto và Gressitt nghiên cứu và công bố trong các năm 1960-1980
về thành phần loài ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương như Campuchia, Lào, Việt Nam, Thái Lan, Trung Quốc và Hàn Quốc Đây là tài liệu hữu ích trong giám định,
nghiên cứu loài bọ ánh kim hại cây hồi ở Lạng Sơn của đề tài
1.2.2.2 Đặc điểm phát sinh và gây hại
Những dữ liệu khoa học về đặc điểm sinh học của các loài sâu hại trên cây hồi
còn rất khiêm tốn Loài bọ xít lưng gồ Pseudodoniella sp được ghi nhận có 3-4
Trang 28lứa/năm các lứa gối lên nhau Chúng qua đông ở giai đoạn trưởng thành trên những thân cây Trưởng thành kết đôi giao phối và đẻ trứng vào giữa tháng 3 và tháng 4 năm sau, ấu trùng xuất hiện vào giữa hoặc cuối tháng 5 Cả trưởng thành và ấu trùng đều chích hút ở những phần non của cây như búp non, ngọn non, nụ và hoa (Yuelan, 2004) Ngoài ra còn một loài sâu bộ cánh vảy khác thuộc họ Geometridae chưa xác định được tên khoa học, gây hại rất nặng trên cây hồi, chúng có 3-4 lứa/năm, qua đông ở giai đoạn nhộng hoặc ấu trùng Ban ngày trưởng thành thường nấp ở những nơi tối và bẩn, chúng có xu hướng ánh sáng yếu Trứng phát triển trong khoang bụng
và có tới 300 trứng, thời gian phát dục của trứng 6-13 ngày Sâu non tuổi nhỏ ăn ở mặt sau lá cây khi ấu trùng tuổi lớn chúng có thể ăn toàn bộ lá cây Nhộng được làm trong lớp đất mặt tơi xốp ở độ sâu khoảng 6-10 cm (http://agriculturalindustry.info /Plant/Star-anise-plant-diseases-and-Insect-Pests-Control-Act-29053.html, ngày truy cập 30/4/2014)
Bọ ăn lá Aulacophora femoralis Motschulsky hại trên hồi trưởng thành thân
mình hình bầu dục, màu vàng cam, dài 7-8mm, râu đầu hình răng cưa Trứng được
đẻ thành từng cụm mỗi nhóm 2-5 quả Mỗi con cái có thể đẻ 200 trứng Sâu non dạng sùng, màu trắng ngà, đầu màu nâu, chân ngực phát triển Nhộng nằm trong đất, màu nâu nhạt, bên ngoài có lớp kén tơ bao phủ (Perley Spaulding, 1989)
Bọ xít Andromeda stephanitis có nguồn gốc từ Nhật Bản là một trong những
dịch hại trên cây hồi ở Nhật Trưởng thành xuất hiện và gây thiệt hại rất lớn trên cây hồi Trưởng thành dài 4 mm và rộng 2 mm, mình dẹt, cánh dạng lưới dày đặc Ấu trùng có màu nâu nhiều gai Trưởng thành và ấu trùng ẩn nấp ở mặt dưới của lá và chích hút, làm cho mặt trên của lá xuất hiện đốm vàng hoặc mang úa vàng, gây thiệt hại rất nặng về năng suất Khi bị loài bọ xít này gây hại mặt dưới của lá bị nhiễm khuẩn xuất hiện đốm nâu, bao phủ xung quanh vết chích hút Trứng được đẻ vào giữa vân mặt dưới của lá và được phủ một chất cứng màu nâu tạo thành một lớp vảy bảo vệ bên ngoài Ấu trùng có năm giai đoạn Loài bọ xít này phân bố chủ yếu ở Nhật Bản,
Ấn Độ và Mỹ (Perley Spaulding, 1989; Williams & Wilkins, 2009)
Trang 29Sâu xám Agrotis ipsilon Hufnagel (họ Noctuidae) xuất hiện từ 5 đến 7 thế hệ
trong một năm, sâu non có 6 lần lột xác Sâu non tuổi nhỏ thường sống tập trung giữa các cành, lá và ăn những lá non đầu tiên (trước lần lột xác thứ hai) Sâu non tuổi lớn sống và lột xác ở trong đất, khi trời tối chúng chui lên mặt đất ăn những cây hồi non, làm khuyết mật độ hồi khi mới trồng (Manuel Miro Jodral, 2004)
Bọ ánh kim hoa Oides leucomelaena Weise là loài côn trùng gây hại nguy
hiểm trên cây hồi Trưởng thành và ấu trùng cắn cành mới và lá non Tất cả lá và
cành mới bị chúng cắn dẫn đến toàn bộ cây bị chết Ngoài ra, loài Dilophodes
elegans sincica Prout (họ Geomertidae) xuất hiện từ 3 đến 5 thế hệ trong một năm,
ấu trùng của chúng ưa thích lá cây hồi Hầu hết lá của cây bị ấu trùng ăn hết là nguyên nhân gây chết cây (Manuel Miro Jodral, 2004)
Cho đến nay những nghiên cứu về đặc điểm sinh học của loài sâu hại bộ cánh cứng cũng như sâu hại thuộc họ Chrysomelidae trên cây hồi ít được nghiên cứu hay đề cập đến trong các tài liệu mà chúng tôi đã tham khảo được
Theo tác giả Medvedev, Eroshkina (1988) miêu tả về sinh thái phân họ bọ ba
ba (Cassides), họ Chrysomelidae trưởng thành và ấu trùng bọ ba ba có quan hệ khăng khít với lá cây chủ, mặc dù con trưởng thành bay rất khỏe Ấu trùng của hầu hết các loài bọ ba ba thường sống đơn độc sự chuyên môn hóa về dinh dưỡng của
bọ ba ba được đặc trưng rất rõ Đặc biệt một nhóm lớn quan hệ với họ Bìm bìm
(Convolvulaceae), đó là các giống Aspidimorpha, laccoptera, Chiridopsis,
Glyphocassis, Vietocassis, nhiều loài của giống Cassida Một số loài thuộc giống Cassida như: Cassida obtusata, Cassida amaranthica, Cassida sauteri, Cassida piperata ăn lá cây họ Amaranthoceae Trên cây gỗ lớn họ Verbenaceae gặp các loài
thuộc giống Crasedonta, Thlaspida và Basiprionota
Theo Borowiee, Swietojanska (2002), phân họ Bọ Ba ba ăn trên 32 họ thực vật khác nhau, nhưng các họ được ưa thích hơn là Convolvulaceae và Asteraceae Các họ khác như Arecaceae, Boraginaceae, Caryophyllaceae, chenopodiaceae Lamiaceae và Solanaceae chỉ có hơn 20 loài cây chủ Ba tộc Delocraniini, Hemisphaerotini và Spilophorini chỉ được tìm thấy trên cây 1 lá mầm, các thành
Trang 30viên khác được tìm thấy trên cây 2 lá mầm Chỉ có ấu trùng tộc Notosacanthini là đục trong lá còn các thành viên khác ăn trên bề mặt lá
1.2.3 Biện pháp phòng trừ sâu hại cây hồi
Một số biện pháp phòng trừ sâu hại cây hồi đề cập trong các tài liệu tham khảo được, chủ yếu là biện pháp thủ công cơ giới, vật lý Các tác giả khuyến cáo nên lợi dụng đặc điểm sinh học của chúng ở giai đoạn qua đông để tìm vị trí, thời điểm qua đông tiến hành biện pháp thu bắt nhằm làm giảm mật độ của chúng vào năm sau Biện pháp hóa học rất ít khi được khuyến cáo Tuy nhiên, hoạt chất beta-cypermethrin được khuyến cáo sử dụng trong phòng trừ sâu hại hồi nhưng với nồng
độ khá cao 8-10 lần so với nồng độ khuyến cáo (http://agriculturalindustry.info /Plant/Star-anise-plant-diseases-and-Insect-Pests-Control-Act-29053.html, ngày truy cập 3/4/2015)
Tác giả Manuel Miro Jodral (2004) đã khuyến cáo các biện pháp phòng
chống sâu xám Agrotis ipsilon gây hại cây hồi non và lá hồi non như: Biện pháp sử
dụng các loại bẫy, bả ánh sáng đèn hoặc dung dịch đường, dấm và rượu Ngoài ra, nên phòng trừ loài sâu này trên cỏ vì đây là nơi trưởng thành sâu xám đẻ trứng và là thức ăn của ấu trùng; tác giả khuyến cáo phun Trichlophon 50% với tỉ lệ 1:800 đạt hiệu quả cao
Loài Dilophodes elegans sincica Prout (họ Geomertidae) phòng trừ bằng
cách bắt ấu trùng, bẫy và giết bướm sâu đo bằng đèn ánh sáng đen Trong giai đoạn
ấu trùng nên phun Trichlorphon 90% với tỉ lệ 1:800, DDV tỉ lệ 1:1500 hoặc Malathion tỉ lệ 1:1.000 (Manuel Miro Jodral, 2004)
Tại Trung Quốc loài bọ ánh kim hoa Oides leucomelaena Weise đã được
ghi nhận là loài gây hại rất nguy hiểm trên cây hồi Để phòng trừ chúng, tác giả Kimoto và Gressitt (1981) đã khuyến cáo thu bắt trưởng thành, thu gom trứng, cũng như ấu trùng chuẩn bị hóa nhộng Có thể giết trưởng thành bằng cách phun Trichlorphon 90% hoặc DDV 80% hoặc Malathion với tỉ lệ 1:500 đến 1:600 Có
thể sử dụng chế phẩm sinh học Beauveria bassiana phòng trừ ở giai đoạn ấu
trùng thu được hiệu quả cao
Trang 31Tóm lại: Cây hồi có giá trị kinh tế cao, được sử dụng phổ biến trong đời
sống của nhân loại, xong là cây rừng có phạm vi phân bố rất hẹp Vì thế, các nghiên cứu, công bố về cây hồi, đặc biệt về sâu bệnh hại, bọ ánh kim hại hồi còn rất hiếm và sơ sài Hầu hết các tài liệu mới dừng lại ở việc điểm qua về tình hình sâu bệnh hại trên cây hồi, chưa có những nghiên cứu chuyên sâu về thành phần, đặc điểm sinh học, sinh thái và biện pháp phòng chống sâu hại trên cây hồi Mặc
dù chúng tôi đã cố gắng thu thập tài liệu xong vẫn dừng lại ở mức độ khiêm tốn Chính những khó khăn này cũng là cơ hội để các kết quả nghiên cứu và công bố của đề tài có giá trị truy cứu, đóng góp mới cho khoa học và thực tiễn trong phòng
chống sâu bệnh hại hồi nói chung, bọ ánh kim Oides duporti Laboissier nói riêng
1.3 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
1.3.1 Tầm quan trọng, ý nghĩa kinh tế của cây hồi
Đến nay, ở nước ta đã phát hiện được khoảng 16 loài thuộc chi hồi (chiếm
40% số loài của cả chi) Riêng tại Sa Pa (Lao Cai) đã gặp tới 6 loài, loài Illicium
verum giá trị kinh tế cao nhất nên được trồng với diện tích lớn nhất Quả và lá của
hầu hết các loài trong chi hồi đều chứa tinh dầu Thành phần hoá học trong tinh dầu của mỗi loài cũng rất khác nhau, rất đa dạng (http://www.visimex.com/news/54 _gioi-thieu-cay-hoa-hoi-tinh-dau-hoi.html, truy cập ngày 20/4/2013)
Theo Đỗ Tất Lợi (2006) cây hồi Illicium verum còn được gọi là đại hồi, bát
giác hồi hương, đại hồi hương, chúng chỉ phân bố tự nhiên ở Lạng Sơn, Cao Bằng
và một diện tích rất nhỏ ở các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Thái
Nguyên Trước đây loài hồi I verum bị nhầm lẫn với hai loại hồi Nhật Bản I
anisatum và hồi núi I griffihii Theo Lưu Đàm Cư và cs (2005) trong quả hồi có
chứa đường và rất nhiều các hợp chất hóa học như: anethol, tecpen, pinen, dipenten, limonen ở dạng tinh dầu Hồi là một vị thuốc được dùng trong cả đông y và tây y Tây y dùng hồi làm thuốc trung tiện, giúp tiêu hóa, lợi sữa, tác dụng trên hệ thống thần kinh và cơ Dầu hồi được sử dụng để sản xuất tamiflu là thuốc đặc trị các bệnh cúm, nhất là cúm A/H1N1, H5N1, H3N2; Chế biến các loại thuốc xoa bóp, nội tiết, tiêu hóa Ngoài ra, còn để chế biến các đồ mỹ phẩm cao cấp, làm gia vị, bã
Trang 32quả hồi dùng để chế biến thuốc trừ sâu, làm men…(Lương Đăng Ninh, 2013) Trong đông y hồi có tác dụng đuổi hàn, kiện tỳ, khai vị, dùng chữa đau bụng, bụng đầy chướng, giải độc của thịt cá và trong chế biến thực phẩm khác
Cây hồi I verum, về mặt thực vật học, là loài có kích thước trung bình, cao
2-6m, hình dáng toàn cây thon hình quả trám, xanh tốt quanh năm, thân mọc thẳng, cành dễ gẫy Lá mọc gần thành chùm 3-4 lá ở đầu cành, có cuống, phiến lá nguyên, dài 8-12cm, rộng 3-4cm, giòn, vò nát có mùi thơm Hoa khá to, mọc đơn độc ở kẽ lá, cánh hoa màu trắng ở phía ngoài, hồng thắm ở mặt trong Quả hồi gồm 6-8 đại (cánh), có khi tới 12-13 đại xếp thành hình ngôi sao, đường kính trung bình 2,5-3cm, dày 6-10mm Quả tươi có màu xanh, khi chín khô cứng có màu nâu hồng, trên mỗi đại sẽ nứt làm hai, để lộ một hạt màu nâu nhạt, nhẵn bóng Lá cuống, hoa và quả đều chứa tinh dầu (Lương Đăng Ninh, 2013; Đỗ Tất Lợi, 2006)
Cây hồi không chỉ có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Lạng Sơn mà nó còn là nét biểu trưng cho văn hóa, địa lý con người xứ Lạng
Hồi là cây có giá trị kinh tế cao quả, lá và hoa đều chứa tinh dầu Trong quả hồi có
chứa đường và rất nhiều các hợp chất hóa học như: anethol, tecpen, pinen, dipenten, limonen ở dạng tinh dầu (Nguyễn Thế Nhã và Trần Văn Mão, 2005) Hồi tác dụng trên hệ thống thần kinh và cơ Gần đây, tinh dầu hồi được sử dụng như nguồn dược liệu quý trong việc tạo kháng sinh tamiflu là thuốc đặc trị các bệnh cúm, nhất là cúm A/H1N1, H5N1, H3N2 (Medvedev, Eroshkina, 1988) Ngoài ra, bã quả hồi dùng
để chế biến thuốc trừ sâu, làm men (Cao Anh Đương, 2012)
Cây hồi là cây trồng có giá trị kinh tế cao, được xem là cây nguyên sản của vùng Đông Bắc Việt Nam nói chung, tỉnh Lạng Sơn nói riêng Tại Lạng Sơn cây hồi cũng chỉ phát triển tập trung ở một số huyện như huyện Văn Quan, Bình Gia, Cao Lộc, Bắc Sơn, Lộc Bình và Văn Lãng với khoảng trên 33.400 ha, giá trị hồi xuất khẩu đã và đang đem lại nguồn thu trên 600 tỷ đồng mỗi năm (Lương Đăng Ninh, 2010) Đây là nguồn nông sản xuất khẩu chính của tỉnh và cũng là nguồn thu nhập chính của bà con nông dân dân tộc ít người và các xã đặc biệt khó khăn
Trang 331.3.2 Nghiên cứu về bọ ánh kim và sâu bệnh hại hồi
Các nghiên cứu về cây hồi và sâu hại hồi còn rất khiêm tốn Thêm vào đó, luận án cũng tập trung nghiên cứu chủ yếu về bọ ánh kim hại hồi Vì thế các nguồn thông tin mà chúng tôi thu thập được tập trung chủ yếu vào họ bọ ánh kim Chrysomelidae
Thành phần sâu hại họ ánh kim Chrysomelidae điều tra được ở miền Bắc nước ta năm 1967-1968 trên các cây trồng nông nghiệp và cây dại gồm 147 loài (Viện Bảo vệ thực vật, 1976) Kết quả điều tra ở miền Nam có số loài thuộc họ ánh kim ít hơn rất nhiều so với tập hợp côn trùng họ ánh kim ở miền Bắc, chúng chỉ có khoảng 20 loài và là những sâu hại thứ yếu (Viện Bảo vệ thực vật, 1999a) Trên nhóm cây ăn quả số loài côn trùng họ ánh kim ghi nhận được cũng không nhiều, có
14 loài gây hại trên cây mận, đào, cam, quýt, nhãn vải, táo hầu hết trong số chúng
là sâu hại thứ yếu, các tài liệu này chưa có tài liệu nào ghi nhận về loài bọ ánh kim gây hại cây hồi ở Việt Nam (Viện Bảo vệ thực vật, 1999b)
Đặng Thị Đáp (2003) nghiên cứu họ ánh kim (Coleoptera, Chrysomelidae) tại Đắk Lắk đã thu được 107 loài, trong đó có 26 loài mới Trong 26 loài mới này
có 13 loài mới là những loài chỉ mới thu được mẫu ở các địa điểm thuộc tỉnh Đắk Lắk (chiếm 1/2 tổng số) và 1 loài ở khu hệ sinh thái rừng Khộp (Cassida (T.) nigrodentata) Trong 107 loài thuộc họ ánh kim có duy nhất 1 loài thuộc giống
Oides (Oides decempunctatus Billberg)
Đặng Thị Đáp và Trần Thiếu Dư (2004) đã nghiên cứu họ ánh kim (Coleoptera, Chrysomelidae) tại 2 khu bảo tồn thiên nhiên Mường Phăng, Hang Kia
- Pà Cò và vườn quốc gia Ba Bể đã thu được 203 loài thuộc 11 phân họ, trong đó bổ sung 23 loài cho khu hệ Việt Nam và 59 loài cho tỉnh Hòa Bình Tại Mường phăng thu được số loài cao nhất, 115 loài (chiếm 56,65%), sau đến Hang Kia - Pà Cò, 86 loài (chiếm 42,36%), ít nhất ở Ba Bể 45 loài (chiếm 22,17%) Trong số các loài trên
có 3 loài thuộc giống Oides là: O andrewesi Jacoby, O bowringii Baly, O lividus
Fabricius nhưng không cho biết vai trò gây hại của chúng
Trang 34Đặng Thị Đáp (2005) đã điều tra tại vườn quốc gia Hoàng Liên thu thập được tổng số 89 loài thuộc 40 giống, 9 phân họ ánh kim nhưng chưa ghi nhận có
loài nào thuộc giống Oides
Lê Khương Thúy và Đặng Thị Đáp (2005) nghiên cứu từ năm 1979-1989 tại Gia Lai cho thấy thành phần họ ánh kim (Chrysomelidae) rất đa dạng và phong phú
về số lượng cá thể Đã thu được 224 loài thuộc họ ánh kim (Chrysomelidae) được ghi nhận cho khu hệ Gia Lai Trong đó có 48 loài chỉ mới phát hiện ở vùng nghiên cứu mà chưa tìm thấy ở đâu khác trên lãnh thổ Việt Nam Trong các loài trên có
duy nhất một loài thuộc giống Oides đó là loài Oides andrewesi Jac nhưng chưa
cho biết cây vật chủ của chúng
Theo tác giả (Lê Khương Thúy và Trần Thiếu Dư, 2005) cho biết đã thu thập
và xác định được 233 loài thuộc họ ánh kim (Chrysomelidae) tại Lâm Đồng
Kết quả điều tra về họ ánh kim (Coleoptera, Chrysomelidae) tại khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông (Quảng Trị), Trần Thiếu Dư, Đặng Thị Đáp (2005b) cho biết
đã thu được 308 mẫu vật từ 2 đợt điều tra ngắn ngày, có 96 loài thuộc 8 phân họ là ánh kim đã được định tên Trong đó có 9 loài bổ sung mới cho khu hệ Việt Nam
(Hyphasis balyi Jacoby, Philopona mouhoti Baly, Cassida catenata Boherman,
Apophylia sericea Fabricius, Aulacophora opacipennis Chujo, Dercetina posticata
Baly, Dercetisoma minor Gressitt&Kimoto, Monolepta orientalis Jacoby,
Pseudeustetha hirsuta Jacoby) Trong các loài thuộc họ ánh kim thu được ở
Đakrông (Quảng Trị) không có loài nào thuộc giống Oides
Trần Thiếu Dư và cs (2006) điều tra côn trùng thuộc họ ánh kim Chrysomelidae dọc theo nhánh phía tây đường Hồ Chí Minh từ Quảng Trị tới Quảng Nam đã ghi nhận được cho khu vực này 192 loài thuộc họ ánh kim thuộc 12 phân họ, trong đó 89 loài bắt gặp ở Quảng Trị, 93 loài ở Thừa Thiên Huế và 84 loài
ở Quảng Nam Trong tất cả các loài đã thu thập được, cũng chưa ghi nhận loài nào
thuộc giống Oides
Đặng Thị Đáp (1995) điều tra về họ ánh kim (Coleoptera, Chrysomelidae) tại Trường Sơn đã ghi nhận được 342 loài, trong đó số loài ghi nhận được ở Bắc Trường
Trang 35Sơn là 109 loài, ở Nam Trường Sơn là 233 loài Trong số các loài trên có 6 loài chỉ gặp ở ba tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình có 150 loài chỉ mới phát hiện được ở Tây Nguyên Trong 342 loài thuộc họ Chrysomelidae thu được tại Trường Sơn tác
giả thu được duy nhất một loài thuộc giống Oides đó là loài Oides decempunctata
nhưng chưa cho biết trên cây trồng nào và cây nào là cây chúng gây hại
Một kết quả nghiên cứu khác của Đặng Thị Đáp (1996), nghiên cứu về họ ánh kim Chrysomelidae ở Tam Đảo cho biết tại vùng này có 122 loài, thuộc 52 giống, 11 phân họ chiếm 10,4% tổng số loài thuộc họ ánh kim ở Việt Nam (tại Việt Nam cho tới nay đã phát hiện được 1.600 loài, 251 giống và 15 phân họ) 20,7% tổng số giống và 73,3% tổng số phân họ Các loài trên không có loài nào thuộc
giống Oides
Một kết quả nghiên cứu về họ ánh kim Chrysomelidae ở Tam Đảo (Vĩnh Phúc) của tác giả Trần Thiếu Dư và Đặng Thị Đáp (2005a) đã bổ sung một số loài thuộc họ ánh kim lên 189 loài thuộc 6 phân họ côn trùng khác nhau Trong các loài
trên có 3 loài thuộc giống Oides đó là: O.duporti Laboissiere, O.bowringii Baly,
O.lividus Fabricius thuộc phân họ Galerucinae
Qua các cuộc điều tra sâu bệnh hại cây trồng nông nghiệp các năm
1967-1968, 1977-1978, 1997-1998 và sâu bệnh hại rừng trồng 2000-2005 (Bộ Nông nghiệp & PTNT, 2006; Viện Bảo vệ thực vật, 1976; 1999a; 1999b) cây hồi và sâu bệnh hại cây hồi cũng chưa được quan tâm nghiên cứu
Chỉ đến khi bọ ánh kim bùng phát mạnh ở Lạng Sơn mới có một số thông tin về thành phần sâu bệnh hại trên cây hồi ở xã Yên Phúc, huyện Văn Quan của tỉnh Lạng Sơn được đăng tải, những thông tin này được trích dẫn từ một báo cáo của một đề tài tốt nghiệp đại học từ những năm 1994-1995 Tại thời điểm đó tác giả đã ghi nhận được 19 loài sâu hại, 5 loài bệnh gây hại trên cây hồi và nguy
hiểm hơn cả là loài sâu hại bọ ánh kim hoa Oides leucomeleana Pic (Cao Anh
Đương, 2012) Tuy nhiên, đây là một báo cáo tốt nghiệp đại học, được thực hiện trong thời gian ngắn (6 tháng), trong phạm vi hẹp Theo Trần Công Loanh
Trang 36(1989) và Đặng Thị Kim Tuyến và cs (2008) cho biết loài Oides decempunctatus
gây hại trên cây hồi ở Lạng Sơn
Trong thời gian gần đây những nghiên cứu về sâu bệnh hại cây lâm nghiệp ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào các cây lâm nghiệp có diện tích lớn như bạch đàn, keo, thông, luồng, mỡ, lát Mêhicô (Phạm Quang Thu và cs: 2009, 2010, 2011) và
Bộ Nông nghiệp &PTNT (2006) Các tác giải cho biết các loài sâu hại chính trên cây lâm nghiệp chủ yếu là nhóm đục thân họ xén tóc Cerambycidae và nhóm cánh vảy ăn lá Lepidoptera và một số nhóm khác Nhóm sâu hại thuộc họ ánh kim Chrysomelidae chưa thấy đề cập đến trong các tài liệu trên Chỉ có duy nhất 01 đề tài nghiên cứu về loài bọ xanh tím thuộc họ ánh kim hại keo tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên (Đàm Văn Vinh và cs, 2008) Sâu bệnh hại trên cây hồi hầu như chưa được quan tâm nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu về sâu hại trên một số cây rừng của Nguyễn Bá Thụ, Đào Xuân Trường (2004) cho biết, trên cây thông có 17 loài sâu hại, cây mỡ có 9 loài,
bồ đề 5 loài, phi lao 9 loài, quế 12 loài, luồng 5 loài, cây tếch 15 loài, keo 40 loài và bạch đàn là 8 loài Trong các loài trên, có 3 loài thuộc họ ánh kim Chrysomelidae
đó là bọ lá Colasposoma sp trên cây bồ đề và loài Ambrostoma quadrimpressum Mots, Basiprionota sp trên cây keo Như vậy, họ Chrysomelidae ghi nhận được
trên cây rừng còn rất ít
Theo kết quả công bố gần đây của Phạm Quang Thu và cs (2014) về điều tra thành phần sâu hại trên cây lâm nghiệp trong cả nước cho thấy sâu hại trên cây keo tai tượng tại 7 tỉnh (Yên Bái, Tuyên Quang, Quảng Ninh, Hòa Bình, Quảng Trị, Kon Tum
và Đồng Nai) Đã thu được 110 loài côn trùng Trong đó họ ánh kim (Chrysomelidae)
thu được 2 loài là miềng miềng vàng (Aspidomorpha miliaris Fabr.) và bọ cánh xanh tím (Colasposoma mutabile Baly) Thành phần sâu hại trên cây keo lai tại 7 tỉnh (Hòa
Bình, Quảng Ninh, Yên Bái, Tuyên Quang, Quảng Trị, Đồng Nai, Cà Mau) Kết quả thu được 101 loài côn trùng Trong đó họ ánh kim (Chrysomelidae) chỉ thu được 01
loài bọ cánh xanh tím (Colasposoma mutabile Baly)
Trang 37Kết quả điều tra trên cây keo tai tượng tại 4 tỉnh (Vĩnh Phúc, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và Đồng Nai) Thu được 97 loài côn trùng gây hại trên cây keo trong đó họ ánh kim (Chrysomelidae) thu được 1 loài bọ cánh xanh tím
(Colasposoma mutabile Baly) (Phạm Quang Thu và cs, 2015) Điều tra thành phần
sâu hại trên cây thông nhựa tại 5 tỉnh (Hà Nội, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An
và Hà Tĩnh) Đã thu được 36 loài côn trùng gây hại, không thu được loài côn trùng gây hại nào thuộc họ ánh kim (Chrysomelidae) trên cây thông nhựa Đối với cây thông mã vĩ điều tra tại 3 tỉnh (Vĩnh Phúc Bắc Giang và Lạng Sơn) Kết quả thu được 47 loài côn trùng gây hại, trong đó không thu được loài nào thuộc họ ánh kim (Chrysomelidae) Trên cây thông ba lá điều tra tại 3 tỉnh (Kon Tum, Thừa Thiên Huế và Lâm Đồng) Đã thu được 42 loài côn trùng gây hại Trên cây thông caribê điều tra tại 2 tỉnh (Vĩnh Phúc, Thừa Thiên Huế) Kết quả thu được 40 loài côn trùng gây hại, không thu được loài côn trùng nào gây hại thuộc họ ánh kim (Chrysomelidae) Phạm Quang Thu và cs (2015)
Kết quả điều tra thành phần sâu hại trên cây bạch đàn lai tại 4 tỉnh (Hà Nội, Phú Thọ, Cà Mau và Bình Phước) Thu được 47 loài côn trùng gây hại trên cây bạch đàn lai
trong đó họ ánh kim (Chrysomelidae) thu được 1 loài bọ cánh xanh tím (Colasposoma
mutabile Baly) Đối với bạch đàn Urô kết quả điều tra tại 5 tỉnh (Hà Nội, Phú Thọ, Gia
Lai, Bình Định và Kon Tum) Thu được 62 loài côn trùng gây hại Trên bạch đàn camal điều tra tại 4 tỉnh (Hà Nội, Vĩnh Phúc, Cà Mau và Đồng Nai) Thu được 45 loài côn trùng gây hại trên cây bạch đàn camal, cả 2 loài bạch đàn trên không thu được loài nào thuộc họ ánh kim (Chrysomelidae) (Phạm Quang Thu và cs, 2015)
Thành phần sâu hại trên cây cao su điều tra tại 4 tỉnh (Điện Biên, Hà Tĩnh, Đồng Nai và Bình Phước) Kết quả cho thấy trên cây cao su có 45 loài côn trùng gây hại Trong các loài trên không có loài nào thuộc họ ánh kim (Chrysomelidae) Phạm Quang Thu và cs (2015)
Thành phần sâu hại trên cây sao đen điều tra tại 3 tỉnh (Gia Lai, Đồng Nai và
Bà Rịa Vũng Tàu) Kết quả thu được 52 loài côn trùng gây hại, chưa phát hiện được
Trang 38loài sâu hại thuộc họ ánh kim (Chrysomelidae) gây hại trên cây sao đen (Phạm Quang Thu và cs, 2015)
Sâu hại trên cây dầu rái điều tra tại 3 tỉnh (Gia Lai, Đồng Nai và Bà Rịa Vũng Tàu) Kết quả thu đƣợc 47 loài côn trùng gây hại Thành phần sâu hại trên cây luồng điều tra tại 3 tỉnh (Hòa Bình, Thanh Hóa và Phú Thọ) Thu đƣợc 31 loài côn trùng gây hại Điều tra thành phần sâu hại trên cây quế tại 2 tỉnh (Yên Bái, Quảng Nam) Kết quả thu đƣợc 65 loài côn trùng gây hại Nhƣ vậy, thành phần sâu hại trên 3 loại cây là cây dầu rái, cây luồng và cây quế, không thu đƣợc loài nào thuộc họ ánh kim (Chrysomelidae) (Phạm Quang Thu và cs, 2015)
Trên cây bồ đề điều tra tại 2 tỉnh (Yên Bái, Lào Cai) Kết quả thu đƣợc 31 loài côn trùng gây hại, trong đó họ ánh kim (Chrysomelidae) thu đƣợc 2 loài bọ lá
Colasposoma sp., bọ cánh cứng Colasposoma mutabile Baly Thành phần sâu hại
trên cây Phi lao điều tra tại 3 tỉnh (Quảng Bình, Thừa Thiên Huế và Quảng Trị) Kết quả thu đƣợc 37 loài côn trùng gây hại, trong đó họ ánh kim (Chrysomelidae)
thu đƣợc 2 loài bọ bầu vàng 1 Aulacophora femoralis Mots., bọ bầu vàng 2
Aulacophora foveicollis Lucas (Phạm Quang Thu và cs, 2015)
Tóm lại: Đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu về sâu hại cây lâm
nghiệp, các tác giả tập trung chủ yếu xác định thành phần sâu hại trên các cây lâm nghiệp có diện tích rộng lớn Sâu hại trên cây hồi chƣa đƣợc nghiên cứu, thêm vào đó
ít ghi nhận đƣợc các loài thuộc họ ánh kim (Chrysomelidae) trong thành phần sâu hại cây lâm nghiệp Nhƣ vậy, thành phần sâu hại trên hồi nói chung, bọ ánh kim hại hồi nói riêng hầu nhƣ chƣa đƣợc quan tâm nghiên cứu Nhƣ vậy, nghiên cứu về sâu hại trên cây hồi nói chung, bọ ánh kim hại hồi ở Việt Nam còn rất ít
1.3.3 Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của một số loài sâu hại hồi
Theo tác giả (Trần Công Loanh, 1989 và Đặng Kim Tuyến và cs, 2008) có
giới thiệu một loài bọ ăn lá hồi (Oides decempunctata Billberg) thuộc họ ánh kim (Chrysomelidae) gây hại trên cây hồi ở Lạng Sơn, Việt Nam Loài sâu này xuất
hiện ở rừng hồi Lạng Sơn nhất là hai huyện Văn Lãng, Tràng Định…Khi phát dịch chúng đã ăn trụi lá hàng chục ha rừng hồi Loài sâu này chuyên ăn hại lá hồi, khi ăn
Trang 39chúng cắn thành những mảng lớn làm cho lá hồi bị hại nghiêm trọng Sâu non sau khi ăn lá lại có thể ăn cả hoa và quả do đó tác hại lại càng lớn hơn Trưởng thành có thân dài 12mm, rộng 8mm hình dáng gần giống trưởng thành bọ rùa Râu đầu hình sợi chỉ có 11 đốt Mắt kép nhỏ màu đen Cánh cứng màu vàng hoặc màu đỏ đồng than Mỗi cánh có 5 chấm đen Trứng hình bầu dục dài khoảng 1mm, trứng đẻ thành khối Sâu non mới nở dài 2 - 3mm màu trắng nhạt Sau mỗi lần lột xác màu sâu non chuyển dần sang màu vàng Sâu non thành thục trên lưng có màu xanh biếc Nhộng màu vàng dài 10mm, buồng nhộng làm trong đất
Sâu non mới nở ăn búp non và nụ non sau chuyển sang ăn lá già Chúng thường bò lẻ tẻ 2 - 3 con trên một lá Cuối tháng 8 sâu non bò theo thân cây xuống đất vào nhộng Trưởng thành khi vũ hoá cũng bay lên ăn lá Trưởng thành đẻ trứng
ở các kẽ lá bên ngoài có lớp màng bao phủ Loài sâu này một năm chỉ có một vòng đời và qua đông ở giai đoạn nhộng
Theo tài liệu của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2006) trên cây hồi
có một loại sâu ăn lá một năm có 1 thế hệ, qua đông ở giai đoạn trứng, phá hại ở cả giai đoạn sâu non và sâu trưởng thành Nhưng tài liệu không cho biết đây là loài sâu hại gì
và đặc điểm sinh học sinh thái của chúng
Tác giả Trần Thiếu Dư, Đặng Thị Đáp (2005) cho biết giống Oides thuộc
nhóm giống I, tộc Luperini Đặc điểm chẩn loại của tộc Luperini: Cơ thể hình trứng,
ô van hoặc thuôn dài Râu nằm trên trán, rất gần nhau và hơi lệch về sau so với đường nối 2 mép trước của mắt kép; tiếp ngay sau chúng thường là các u lồi trán hình tam giác nằm ngang phát triển Đỉnh đầu nhẵn bóng, hầu như không châm lỗ Râu đầu mảnh, có dạng sợi và không ngắn hơn ½ thân Lưng trước thường có mép bên tạo gờ rõ, đĩa lưng thường có vệt lõm ngang rõ ràng, đôi khi lồi đều, gần như không châm lỗ Cánh cứng có mép bên thường nở hậu, đôi khi lượn tròn hoặc gần như song song, đĩa cánh châm lỗ lộn xộn Mặt lưng hiếm khi phủ lông Hốc đốt gốc chân trước mở hoặc đóng Bụng ngực giữa tách biệt, nằm ngang hoặc nghiêng nhưng không bao giờ bị mấu lồi của bụng ngực sau che khuất Chân mảnh, dài vừa
Trang 40phải Vuốt bàn chân chẻ đôi hoặc có răng Mép sau của đốt bụng cuối cùng ở con đực thường chia 3 thùy với thùy giữa luôn rõ ràng
Trần Thiếu Dư, Đặng Thị Đáp (2005) đã phân loại tộc và giống của loài bọ ánh
kim theo khóa định loại của Gressitt, Kimoto (1963, 1989) dưới đây:
KHÓA ĐỊNH LOẠI CÁC NHÓM GIỐNG THUỘC TỘC LUPERINI
1(2) - Vuốt bàn chẻ đôi NHÓM GIỐNG I
2(1) - Vuốt bàn có rang
3(6) - Hốc đốt chân trước mở sau
4(5) - Ngọn đốt ống chân sau không có gai NHÓM GIỐNG II
5(4) - Ngọn đốt ống chân sau có gai NHÓM GIỐNG III
KHÓA ĐỊNH LOẠI CÁC GIỐNG CÁNH CỨNG ĂN LÁ ĐÃ BIẾT Ở VIỆT NAM THUỘC TỘC LUPERINI, NHÓM GIỐNG I
1(2) - Hốc đốt gốc chân trước đóng sau: cánh cứng phủ lông: lưng trước có một ít lông cứng mịn ở mép trước và mép sau: mép trước và sau của lưng trước tạo gờ
rõ Anadimonia
2(1) - Hốc đốt gốc chân sau mở sau
3(4) - Lưng trước không có vệt lõm ngang: đĩa lưng lồi đều: cơ thể hình ovan
rộng: sườn cánh rộng Oides
4(3) - Lưng trước có một vệt lõm ngang rõ, đôi khi bị đứt đoạn ở giữa
5(6) - Ngọn đốt ống chân sau không có gai rõ ràng: sườn cánh hẹp nhưng kéo dài
tới gần ngọn cánh Hoplasoma
6(5) - Ngọn đốt ống chân sau có gai rõ rang
7(8) - Sườn cánh không hẹp lại đột ngột ở sau 1/3 gốc cánh mà thu hẹp lại dần dần