1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ nông nghiệp nghiên cứu đặc điểm đất ngập mặn vùng ven biển tỉnh thái bình làm cơ sở đề xuất biện pháp kỹ thuật khôi phục và phát triển rừng ngập

209 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 209
Dung lượng 8,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sinh trưởng chiều cao cây ngập mặn trên các dạng lập địa khác nhau tại vùng ven biển tỉnh Thái Bình .... Sinh trưởng đường kính tán cây ngập mặn trên các dạng lập địa khác nhau tại vùng

Trang 1

ĐỖ QUÝ MẠNH

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM ĐẤT NGẬP MẶN VÙNG VEN BIỂN TỈNH THÁI BÌNH LÀM CƠ SỞ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP KỸ THUẬT KHÔI PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG NGẬP MẶN BỀN VỮNG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LÂM NGHIỆP

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

Chuyên ngành: Lâm sinh

Mã số: 9620205

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS NGÔ ĐÌNH QUẾ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của tôi, được thực hiện trên cơ

sở các kết quả nghiên cứu do tôi làm chủ trì tại khu vực rừng ngập mặn và bãi bồi ven biển tỉnh Thái Bình

Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 2018

Người viết cam đoan

Đỗ Quý Mạnh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Hoàn thành luận án này, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thái Bình, Viện Sinh thái và Bảo vệ công trình, Trường Đại học Lâm nghiệp, Thầy giáo hướng dẫn khoa học cùng các chuyên gia và đồng nghiệp

Tôi xin được bày tỏ sự kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Ngô Đình Quế đã dành nhiều thời gian, công sức, tận tình hướng dẫn về chuyên môn, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận án

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, các thầy cô Khoa Lâm học, Bộ môn Lâm sinh, Phòng Đào tạo sau đại học Trường Đại học Lâm nghiệp đã tận tình giúp đỡ tôi về chuyên môn, góp ý, chia sẻ về học thuật để luận án được hoàn thiện

Tôi xin trân trọng cảm ơn cán bộ và nhân viên Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thái Bình, Viện Sinh thái và Bảo vệ công trình, UBND các xã ven biển, tổ bảo vệ rừng, các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện điều tra, khảo sát, thu thập số liệu, bố trí thí nghiệm để thực hiện luận án

Tôi xin được gửi lời cảm ơn tới các chuyên gia, các nhà khoa học, các tác giả của những kết quả nghiên cứu đã được trích dẫn trong luận án này

Tôi xin cảm ơn sự cộng tác của các đồng nghiệp trong quá trình điều tra khảo sát ngoại nghiệp, bố trí thí nghiệm, thu thập, xử lý, phân tích số liệu để thực hiện luận án

Xin cảm ơn gia đình tôi đã luôn cổ vũ, động viên tôi vượt qua những khó khăn để hoàn thành luận án

Tôi xin dành thành công và vinh dự này cho Bố, Mẹ - là những người thương binh, nông dân đã sinh thành, nuôi dưỡng và dạy dỗ tôi nên người./

Hà Nội, ngày10 tháng 12 năm 2018

Nghiên cứu sinh

Đỗ Quý Mạnh

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CÁC TỪ VIẾT TẮT vii

BẢNG TÊN CÁC LOÀI CÂY TRONG LUẬN ÁN ix

DANH MỤC CÁC BẢNG x

DANH MỤC CÁC HÌNH xii

MỞ ĐẦU 1

1 Sự cần thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

2.1 Mục tiêu chung 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 2

3 Đối tượng, địa điểm và phạm vi nghiên cứu 2

3.1 Đối tượng, địa điểm nghiên cứu 2

3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

4.1 Ý nghĩa khoa học 3

4.2 Ý nghĩa thực tiễn 4

5 Những đóng góp mới của luận án 4

6 Cấu trúc của luận án 4

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 5

1.1 Trên thế giới 5

1.1.1 Những nghiên cứu về hiện trạng rừng ngập mặn 5

1.1.2 Những nghiên cứu về dặc điểm đất và lập địa ngập mặn 9

1.1.3 Những nghiên cứu về khôi phục và phát triển rừng ngập mặn ven biển 10

Trang 6

1.2 Trong nước 13

1.2.1 Những nghiên cứu về hiện trạng rừng ngập mặn 13

1.2.2 Những nghiên cứu về đặc điểm đất và lập địa ngập mặn 18

1.2.3 Những nghiên cứu về khôi phục và phát triển rừng ngập mặn ven biển 22

1.3 Nhận xét và đánh giá chung 26

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 Nội dung nghiên cứu 29

2.1.1 Đánh giá hiện trạng rừng ngập mặn vùng ven biển tỉnh Thái Bình 29

2.1.2 Nghiên cứu đặc điểm đất ngập mặn vùng ven biển tỉnh Thái Bình 29

2.1.3 Nghiên cứu phân chia lập địa ngập mặn và xây dựng bản đồ nhóm dạng lập địa ngập mặn tỷ lệ 1/5.000 cho khu vực nghiên cứu 29

2.1.4 Nghiên cứu bổ sung kỹ thuật trồng rừng ngập mặn tại Thái Bình 29

2.1.5 Đề xuất giải pháp phục hồi và phát triển rừng ngập mặn ven biển tỉnh Thái Bình 29

2.2 Phương pháp nghiên cứu 29

2.2.1 Quan điểm và cách tiếp cận nghiên cứu 29

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật sử dụng 32

2.3 Khái quát đặc điểm tự nhiên vùng ven biển tỉnh Thái Bình 53

2.3.1 Đặc điểm tự nhiên 53

2.4 Điều kiện kinh tế - xã hội 57

2.4.1 Diện tích, dân số 57

2.4.2 Thực trạng kinh tế - xã hội vùng ven biển 58

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 60

3.1 Đánh giá hiện trạng rừng ngập mặn vùng ven biển tỉnh Thái Bình 60

3.1.1 Thành phần loài cây ngập mặn 60

3.1.2 Đặc điểm một số quần xã rừng ngập mặn 62

Trang 7

3.1.3 Diện tích rừng ngập mặn 63

3.1.4 Đánh giá sinh trưởng của một số loài cây trồng rừng ngập mặn 65

3.2 Nghiên cứu đặc điểm đất ngập mặn vùng ven biển tỉnh Thái Bình 70

3.2.1 Đặc điểm đất trong rừng trồng ngập mặn 70

3.2.2 Đặc điểm đất trống ngập mặn 83

3.3 Nghiên cứu phân chia lập địa và xây dựng bản đồ nhóm dạng lập địa ngập mặn tỷ lệ 1/5.000 cho khu vực nghiên cứu 86

3.3.1 Ảnh hưởng của một số yếu tố lập địa đến sinh trưởng cây trồng rừng ngập mặn 86

3.3.2 Phân chia lập địa và nhóm dạng lập địa 88

3.3.3 Xây dựng bản đồ nhóm lập địa ngập mặn tỷ lệ 1:5.000 cho xã Đông Long, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình 95

3.4 Nghiên cứu bổ sung kỹ thuật trồng RNM tại Thái Bình 102

3.4.1 Tổng kết kỹ thuật chọn giống, gieo ươm và trồng rừng một số loài cây ngập mặn tại Thái Bình 102

3.4.2 Xây dựng và đánh giá kết quả mô hình trồng rừng ngập mặn trên các nhóm dạng lập địa 106

3.5 Đề xuất giải pháp phục hồi và phát triển rừng ngập mặn vùng ven biển tỉnh Thái Bình 127

3.5.1 Đề xuất hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng một số loài cây ngập mặn trên các nhóm dạng lập địa 127

3.5.2 Đề xuất giải pháp phục hồi và phát triển rừng ngập mặn trên các nhóm dạng lập địa 128

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ 130

1 Kết luận 130

2 Tồn tại 131

3 Khuyến nghị 131

Trang 8

TÀI LIỆU THAM KHẢO

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CÁC TỪ VIẾT TẮT

Ký hiệu/

Tên viết tắt Giải nghĩa đầy đủ

IUCN Liên minh Quốc tế Bảo tồn thiên nhiên và Tài

nguyên thiên nhiên

Trang 10

RNM Rừng ngập mặn

UNDP Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc UNEP Chương trình môi trường của Liên hiệp quốc UNESCO Tổ chức Văn hóa giáo dục của Liên hiệp quốc

Trang 11

BẢNG TÊN CÁC LOÀI CÂY TRONG LUẬN ÁN STT Tên Việt Nam Tên khoa học

1 Bần chua Sonneratia caseolaris (L.) Engl

2 Bần không cánh Sonneratia apetala Buch.-Ham

3 Bần ổi Sonneratia ovata Backer

4 Bần trắng Sonneratia alba Sm

5 Chà là Phoenix paludosa Roxb

6 Cóc trắng Lumnitzera racemosa Willd

7 Cui biển Heritiera littoralis Aiton

8 Dà vôi Ceriops tagal (Perr.) C.B.Rob

9 Dứa dại Pandanus tectorius Sol

10 Dừa nước Nypa fruticans Wurmb

11 Đưng Rhizophora mucronata Lam

12 Đước đỏ Rhizophora mangle L

13 Đước vòi Rhizophora stylosaGriff

14 Giá Excoecaria agallocha L

15 Mắm biển Avicennia marina (Forssk.) Vierh

16 Mắm đen Avicennia officinalis L

17 Mắm trắng Avicennia alba Blume

18 Muống biển Ipomoea pes-capre (L.) Sw.Subsp.Brasiliense (L.) Ooststr

19 Ô rô biển Acanthus ilicifolius L

20 Phi lao Casuarina equisetifolia Forst

21 Ráng đại Acrostichum aureum L

22 Ráng đại thanh Acrostichum speciosum Willd

23 Sam biển Sesuvium portulacastrum (L.) L

24 Sú Aegiceras corniculatum (L.) Blanco

25 Trang Kandelia obovata Sheue, H.Y Liu & J Yong

26 Vẹt dù Bruguiera gymnorrhiza (L.) Lam

27 Vẹt tách Bruguiera parviflora (Roxb.) W et A ex Griff

28 Vẹt trụ Bruguiera cylindrica (L.) Blume

29 Xu ổi Xylocarpus granatum Koening

Trang 12

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Diện tích RNM trên thế giới 6

Bảng 1.2 Diện tích rừng ngập mặn trên thế giới tập trung ở 12 quốc gia 7

Bảng 1.3 Tổng hợp diện tích RNM toàn quốc theo vùng 15

Bảng 1.4 Tổng hợp diện tích RNM toàn quốc theo tỉnh 16

Bảng 2.1 Số lượng OTC điều tra sinh trưởng RNM trồng tại Thái Bình 35

Bảng 2.2 Số lượng phẫu diện, mẫu đất ngập mặn nghiên cứu 38

Bảng 2.3 Các chỉ tiêu và phương pháp phân tích một số tính chất lý hóa tính đất ngập mặn tại khu vực nghiên cứu 39

Bảng 2.4 Thông tin chung về địa điểm các công thức thí nghiệm 47

Bảng 2.5 Mô hình thí nghiệm trên nhóm dạng lập địa rất thuận lợi 49

Bảng 2.6 Mô hình thí nghiệm trên nhóm dạng lập địa thuận lợi 49

Bảng 2.7 Mô hình thí nghiệm trên nhóm dạng lập địa khó khăn 50

Bảng 2.8 Diện tích, dân số tỉnh Thái Bình 58

Bảng 3.1 Danh lục các loài thực vật bậc cao có mạch tại vùng ven biển tỉnh Thái Bình 60

Bảng 3.2 Phân bố một số loài cây ngập mặn chủ yếu 62

Bảng 3.3 Hiện trạng rừng và đất ngập mặn ven biển tỉnh Thái Bình 64

Bảng 3.4 Sinh trưởng của rừng Bần chua, rừng Trang trên một số lập địa ngập mặn tại Thái Bình 66

Bảng 3.5 Một số chỉ tiêu lý tính đất dưới tán rừng ngập mặn 71

Bảng 3.6 Một số chỉ tiêu hóa tính đất dưới tán rừng ngập mặn 74

Bảng 3.7 Một số chỉ tiêu lý tính đất trống ngập mặn ven biển tỉnh Thái Bình 84

Bảng 3.8 Một số chỉ tiêu hóa tính đất trống ngập mặn ven biển tỉnh Thái Bình 85

Bảng 3.9 Chỉ tiêu phân loại đất ngập mặn 88

Bảng 3.10 Chỉ tiêu phân chia thời gian phơi bãi 89

Bảng 3.11 Chỉ tiêu phân chia độ thành thục đất ngập mặn 89

Bảng 3.12 Chỉ tiêu tỷ lệ phần trăm cát trong đất ngập mặn 90

Trang 13

Bảng 3.13 Chỉ tiêu cao độ đất ngập mặn ven biển 90 Bảng 3.14 Chỉ tiêu hiện trạng đất và rừng ngập mặn 91 Bảng 3.15 Tổng hợp tiêu chí phân chia lập địa đất ngập mặn tỉnh Thái Bình 91 Bảng 3.16 Tổng hợp các yếu tố lập địa ngập mặn tỉnh Thái Bình 92 Bảng 3.17 Phân chia đất ngập mặn ven biển tỉnh Thái Bình 94 Bảng 3.18 Tổng hợp các yếu tố lập địa ngập mặn cấp xã Đông Long, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình 96 Bảng 3.19 Ma trận đánh giá độ chính xác phân loại lập địa ngập mặn 99 Bảng 3.20 Diện tích lập địa phân theo các tiêu chí, chỉ tiêu sau đối soát thực địa

và kiểm chứng thực tế 100 Bảng 3.21 Phân chia các nhóm dạng lập địasau khi kiểm chứng thực tế 101 Bảng 3.22 Bảng theo dõi sinh trưởng, tỷ lệ sống, tạo bãi ở 3 nhóm dạng lập địa sau 36 tháng quan trắc 108 Bảng 3.23 Sinh trưởng đường kính gốc cây ngập mặn trên các dạng lập địa khác nhau tại xã Đông Long 109 Bảng 3.24 Sinh trưởng chiều cao cây ngập mặn trên các dạng lập địa khác nhau tại vùng ven biển tỉnh Thái Bình 113 Bảng 3.25 Sinh trưởng đường kính tán cây ngập mặn trên các dạng lập địa khác nhau tại vùng ven biển tỉnh Thái Bình 117 Bảng 3.26 Tỷ lệ sống của cây Trang ở các CTTN 120 Bảng 3.27 Tỷ lệ sống của cây Bần chua ở các CTTN 121 Bảng 3.28 Một số chỉ tiêu lý tính đất trồng rừng ngập mặn sau 36 tháng tuổi trên các nhóm dạng lập địa tại vùng ven biển tỉnh Thái Bình 122 Bảng 3.29 Một số chỉ tiêu hóa tính đất trồng rừng ngập mặn sau 36 tháng tuổi trên các nhóm dạng lập địa tại vùng ven biển tỉnh Thái Bình 123 Bảng 3.30 Khả năng gây bồi của RNM trên các dạng lập địa khác nhau tại vùng ven biển tỉnh Thái Bình 125 Bảng 3.31 Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật phục hồi rừng ngập mặn tại vùng ven biển tỉnh Thái Bình 128

Trang 14

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1 Khu vực các xã có rừng và đất ngập mặn tại Thái Bình 3

Hình 1.1 Phân bố rừng ngập mặn trên thế giới 5

Hình 2.1 Sơ đồ các bước tiến hành nghiên cứu 32

Hình 2.2 Sơ đồ tuyến điều tra rừng ngập mặn tại Thái Bình 34

Hình 2.3 Số lượng phân bố OTC điều tra sinh trưởng RNM tại Thái Bình 36

Hình 2.4 Sơ đồ các bước chồng ghép xây dựng bản đồ lập địa đất ngập mặn 45

Hình 2.5 Vị trí 03 CTTN trồng RNM tại xã Đông Long, huyện Tiền Hải 48

Hình 2.6 Sơ đồ bố trí các công thức thí nghiệm mô hình trồng rừng ngập mặn trên các nhóm dạng lập địa ngập mặn 51

Hình 2.7 Biến động chế độ nhiệt theo các tháng trong năm ở giai đoạn 2007 – 2016 tại vùng ven biển tỉnh Thái Bình [18] 54

Hình 2.8 Biến động chiều cao sóng theo các tháng trong năm ở giai đoạn 2007 - 2016 tại vùng ven biển tỉnh Thái Bình [18] 56

Hình 3.1 Biểu đồ phân bố các chỉ tiêu sinh trưởng đường kính gốc, chiều cao cây, và đường kính tán cây Bần chua theo các độ tuổi 69

Hình 3.2 Biểu đồ phân bố các chỉ tiêu sinh trưởng đường kính gốc, chiều cao cây, và đường kính tán cây Trang theo các độ tuổi 70

Hình 3.3 Kết quả so sánh cặp đôi về chỉ tiêu pHkcl theo các độ tuổi khác nhau tại các lâm phần rừng Trang trồng thuần loài 77

Hình 3.4 Kết quả so sánh cặp đôi về chỉ tiêu pHKCl theo các độ tuổi khác nhau tại các lâm phần rừng Bần chua trồng thuần loài 79

Hình 3.5 Kết quả so sánh cặp đôi về chỉ tiêu Kali theo các độ tuổi khác nhau tại các lâm phần rừng Trang (a) và Bần chua (b) trồng thuần loài 82

Hình 3.6 Bản đồ lập địa ngập mặn xã Đông Long, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình 102

Hình 3.7 Biểu đồ chỉ tiêu đường kính gốc, chiều cao, và đường kính tán cây ngập mặn trồng trên lập địa rất thuận lợi tại xã Đông Long 112

Trang 15

Hình 3.8 Biểu đồ chỉ tiêu đường kính gốc, chiều cao, và đường kính tán cây ngập mặn trồng trên lập địa thuận lợi tại xã Đông Long 116 Hình 3.9 Biểu đồ chỉ tiêu đường kính gốc, chiều cao, và đường kính tán cây ngập mặn trồng trên lập địa khó khăn tại xã Đông Long 119

Trang 16

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Rừng ngập mặn là một hệ sinh thái đặc trưng vùng ven biển nhiệt đới và cận nhiệt đới, là hệ sinh thái chuyển tiếp giữa môi trường nước ngọt và môi trường biển RNM có tác dụng nhiều mặt như môi trường, xã hội và giá trị kinh tế, đặc biệt về phòng hộ đê biển, chống xói lở, cố định đất ven biển, ven sông, hạn chế gió bão, sóng biển, triều cường và góp phần điều hòa khí hậu Vì vậy, việc nghiên cứu hệ sinh thái này là hết sức cần thiết về mặt khoa học cũng như thực tiễn Quá trình khảo sát, phân tích, đánh giá các đặc điểm về RNM, ĐNM, lập địa ngập mặn và các yếu tố cấu thành trở nên cấp bách và cần thiết

Việt Nam là một quốc gia có trên 3.260 km bờ biển, trải dài từ tỉnh Quảng Ninh đến Kiên Giang ở vĩ độ 8033’B đến 2205’B và từ kinh độ 102010’Đ đến

109020’Đ Việt Nam có 28 tỉnh, thành phố có rừng và đất ngập mặn ven biển RNM

ở Việt Nam là những HST quan trọng mang lại nhiều sản phẩm hữu dụng và dịch

vụ cho cộng đồng dân cư vùng ven biển Nhiều nguồn lợi từ RNM gồm gỗ và lâm sản ngoài gỗ, nguồn lợi thủy sản, nơi giải trí, du lịch sinh thái, thấm lọc sinh học, phòng hộ ven biển, đặc biệt bảo vệ đê biển, cố định đất, tích tụ C và hấp thụ CO2

Thái Bình là một tỉnh thâm canh về sản xuất nông nghiệp, có mật độ dân số cao, có truyền thống canh tác lúa nước Tỉnh Thái Bình có diện tích RNM và ĐNM lớn nhất vùng châu thổ sông Hồng Năm 2008, RNM ven biển tỉnh Thái Bình được

tổ chức UNESCO công nhận là một trong những vùng thuộc Khu Dữ trữ sinh quyển Châu thổ sông Hồng (gồm 3 tỉnh: Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình) ĐNM Thái Bình một loại đất có nhiều lợi thế cho phát triển rừng ngập mặn và nuôi trồng thủy sản Loại đất này tập trung vùng bãi bồi ven biển, cửa sông, ven các cồn đảo gần bờ nên bị thay đổi mạnh theo thời gian và không gian Trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng, RNM và ĐNM có sự biến động lớn về số lượng, chất lượng Nghiên cứu đánh giá đúng đặc điểm của đất ngập mặn là luận cứ khoa học cần thiết

để tổ chức, sử dụng loại đất này có hiệu quả Trong những năm gần đây, công tác trồng, khôi rừng ngập mặn đã được thực hiện nhưng còn gặp nhiều thách thức

Trang 17

Chưa có những nghiên cứu một cách hệ thống, đầy đủ và chi tiết về đặc điểm lý, hóa tính đất và nghiên cứu về lập địa ngập mặn Chưa có giải pháp kỹ thuật chọn loài cây trồng, kỹ thuật trồng và các biện pháp tác động phù hợp Các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật trồng RNM còn thiếu

Do vậy, việc thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm đất ngập mặn vùng

ven biển tỉnh Thái Bình làm cơ sở đề xuất biện pháp kỹ thuật khôi phục và phát triển rừng ngập mặn bền vững” góp phần giải quyết những tồn tại nêu trên, có ý

nghĩa lớn trong việc khôi phục lại hệ sinh thái RNM ven biển hiện nay

2 Mục tiêu của đề tài

- Tổng kết kỹ thuật lâm sinh áp dụng với cây ngập mặn làm cơ sở đề xuất được biện pháp kỹ thuật trồng một số loài cây ngập mặn chủ yếu ở tỉnh Thái Bình phù hợp với các nhóm dạng lập địa khác nhau

3 Đối tượng, địa điểm và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng, địa điểm nghiên cứu

- Đất ngập mặn và rừng ngập mặn: Đất ngập mặn trong rừng ngập mặn và đất trống ngập mặn vùng bãi bồi, cửa sông Rừng trồng thuần loài và hỗn giao: Bần chua và Trang

- Địa điểm nghiên cứu RNM: Khu vực các xã ven biển thuộc 2 huyện Tiền Hải (các xã Nam Phú, Nam Hưng, Nam Thịnh, Đông Hoàng, Đông Long, Đông Hải) và Thái Thụy (các xã Thái Đô, Thái Thượng, Thụy Hải, Thụy Xuân, Thụy Trường)

Trang 18

Hình 1 Khu vực các xã có rừng và đất ngập mặn tại Thái Bình

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian nghiên cứu: Tại vùng ven biển 02 huyện Tiền Hải và Thái Thụy, tỉnh Thái Bình;

- Thời gian nghiên cứu từ năm 2013 – 2017;

- Nội dung nghiên cứu:

+ Nghiên cứu về đất ngập mặn tại vùng ven biển tỉnh Thái Bình;

+ Nghiên cứu về rừng ngập mặn: tại một số lâm phần rừng trồng ngập mặn vùng ven biển tỉnh Thái Bình

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

4.1 Ý nghĩa khoa học

Đề tài đã góp phần xây dựng và hoàn thiện cơ sở lý luận xác định nhóm dạng lập địa ngập mặn ven biển nói chung và tại Thái Bình nói riêng dựa vào việc lượng hoá và tổ hợp 6 chỉ tiêu phân chia lập địa ngập mặn tại khu vực nghiên cứu

Trang 19

4.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài đã xây dựng được bản đồ dạng lập địa cấp vi mô và qua tổng kết, thực nghiệm trồng rừng ngập mặn để đề xuất một số giải pháp kỹ thuật nhằm phục hồi và phát triển RNM trên các nhóm dạng lập địa theo hướng bền vững tại vùng ven biển tỉnh Thái Bình

5 Những đóng góp mới của luận án

- Lượng hóa được một số đặc điểm, tính chất vật lý, hóa học của đất ngập mặn vùng ven biển tỉnh Thái Bình;

- Xây dựng cơ sở phân chia nhóm dạng lập địa ngập mặn và ứng dụng xây dựng bản đồ nhóm dạng lập địa ngập mặn cho xã Đông Long, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, tỷ lệ 1:5000

- Đánh giá và lựa chọn được công thức thí nghiệm trồng rừng ở các dạng lập địa “rất thuận lợi, thuận lợi và khó khăn” Trong đó điểm mới có giá trị tham khảo là kỹ thuật trồng Trang, đặc biệt kỹ thuật trồng Bần chua với giải pháp cắt ngọn ở giai đoạn mới trồng và kỹ thuật cắm 3 cọc để cố định cây sau trồng đã tăng tỷ lệ sống lên 27% sau 3 năm trồng

6 Cấu trúc của luận án

Luận án gồm 132 trang, với 43 bảng số liệu, 19 hình minh họa, 131 tài liệu tham khảo

Trình tự luận án bao gồm:

Mở đầu;

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu;

Chương 2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu;

Chương 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận;

Kết luận, tồn tại và kiến nghị;

Danh mục các bài báo đã công bố;

Tài liệu tham khảo;

Phụ lục

Trang 20

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Hình 1.1 Phân bố rừng ngập mặn trên thế giới

(Nguồn: Spalding và cộng sự 2010) [118]

Sự phân bố RNM hiện nay có ba kiểu: Kiểu thứ nhất là khác nhau trong các loài cả về phân loại và số lượng loài giữa châu Phi, châu Á và châu Mỹ Kiểu thứ hai giảm về số lượng loài theo vĩ độ tăng lên, hầu hết do ảnh hưởng của điều kiện nhiệt độ Kiểu thứ ba giảm tính đa dạng loài do lượng mưa giảm dần và khô hạn tăng dần

(2) Thành phần loài cây ngập mặn

Theo Duke (1992) [76], thành phần loài cây ngập mặn là cây thân gỗ, cây bụi cao hơn 50cm, thường mọc nơi cao hơn mực nước biển trung bình thuộc vùng bán nhật triều ven biển hoặc dọc theo hai bên cửa sông Tuy nhiên, Tomlinson (1986)

Trang 21

[120] cho rằng thành phần cây ngập mặn là các loài cây cao (thân gỗ, bụi, cọ dừa, thảo mộc hoặc dương xỉ) vốn mọc chiếm ưu thế ở các vùng bán nhật triều ven biển nhiệt đới và cận nhiệt đới, thể hiện một cấp độ rõ rệt về sức chịu đựng trước điều kiện đất yếm khí và nồng độ muối cao, có trụ mầm có thể sống được trong điều kiện phát tán nhờ nước biển

Theo Spalding và cộng sự (2010)[118], có khoảng 73 loài cây thuộc 20 họ khác nhau hội đủ các tiêu chí đó và thể hiện tính thích nghi với sinh cảnh RNM Chúng có nhiều đặc điểm thích nghi với điều kiện ngập triều định kỳ, sóng to, gió lớn, nước chảy xiết, trên nền đất bùn chưa ổn định, độ mặn nước biển cao và đất yếm khí Mặc dù tiêu chí cây ngập mặn đã được xác định nhưng vẫn chưa có sự thống nhất về số lượng loài cây ngập mặn trên thế giới

(3) Diện tích rừng ngập mặn

Năm 2010, với sự hỗ trợ của các tổ chức ITTO và FAO, Spalding và cộng sự [118] đã xuất bản cuốn sách World Atlas of Mangroves, cho biết diện tích RNM còn lại khoảng 152.361 km2, phân bố trên 10 khu vực (Bảng 1.1) Trong đó, khu vực Đông Nam Á có diện tích lớn nhất 51.049 km2, chiếm 33,5% Vùng Đông Á có diện tích thấp nhất với 215 km2, chiếm 0,1%

Bảng 1.1 Diện tích RNM trên thế giới

Trang 22

Theo FAO (2015) [64], diện tích rừng ngập mặn của 12 quốc gia có diện tích RNM lớn nhất trên thế giới, thể hiện ở bảng 1.2

Bảng 1.2 Diện tích rừng ngập mặn trên thế giới tập trung ở 12 quốc gia

STT Quốc gia Diện tích RNM

Theo Giri và cộng sự (2015) [87], từ năm 2000 đến 2012, ở khu vực Nam Á,

có đến 92.135 ha rừng ngập mặn bị mất Diện tích rừng được trồng lại ở các quốc gia Nam Á là khoảng 80.461 ha nhưng vẫn không đủ bù cho diện tích bị mất Cùng với suy giảm về diện tích, chất lượng RNM cũng có chiều hướng suy giảm Tại đồng bằng Indus, Pakistan, trong tổng số 98.014 ha RNM, chỉ có khoảng 26.555 ha

Trang 23

là rừng giàu (độ che phủ lớn hơn 50%) và có đến 71.459 ha là rừng thưa thớt (độ che phủ dưới 50%)

(4) Vai trò rừng ngập mặn

Vai trò của RNM đã được nhiều tác giả tiến hành nghiên cứu RNM đóng vai trò quan trọng trong phòng hộ ven biển và ứng phó với BĐKH Một trong những vai trò quan trọng nhất của RNM là bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai, góp phần giảm thiểu tác động của dòng chảy, sóng biển và sóng thần, qua đó giúp bảo

vệ các vùng bờ biển khỏi sự tàn phá của sóng biển bằng việc hấp thụ năng lượng sóng, ngăn cản quán tính của sóng biển

Ngoài tác dụng cố định phù sa, lấn biến, chống xói lở bờ biển, hạn chế tác hại của sóng biển, tại những vùng bị ảnh hưởng của bão và lốc xoáy, RNM có thể làm giảm tốc độ gió, giảm năng lượng của sóng, do đó có thể giúp giảm tổn hại do thời tiết cực đoan đến 50% so với những vùng không có RNM bảo vệ Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cho thấy sóng cao 1m xa bờ có thể suy giảm còn 0,05m gần bờ biển nhờ tác động bảo vệ của 1,5km rừng ngập mặn 6 tuổi Rừng ngập mặn cũng góp phần ngăn chặn sự xâm nhập của dòng nước biển vào bờ, do đó có thể bảo vệ

hệ sinh thái nước ngọt ven biển (Kathiresan, 2012) [98]

Vai trò bảo vệ của RNM và các loài cây ven biển khác đã nhận được sự chú

ý đáng kể từ sau những hậu quả của đợt sóng thần năm 2004 tại Ấn Độ Dương RNM có thể làm giảm đáng kể các tổn thương của đất ven biển liền kề khỏi ngập lụt

và xói lở Chúng làm giảm độ ngập nước và chiều cao sóng lũ, giảm bớt thiệt hại

về tài sản phía sau RNM Với chiều dày 500 mét có RNM, chiều cao sóng có thể được giảm xuống từ 50 đến 100% Mặt khác, RNM có thể bảo vệ các cộng đồng ven biển khỏi các rủi ro (xói lở bờ biển, thủy triều, gió bão, lốc xoáy,…) được biết đến qua các hệ sinh thái ven biển nhiệt đới và được phát triển bởi các nhà quản lý ven biển Rất nhiều các nghiên cứu toán học và mô hình hóa khác nhau đã chỉ ra rằng RNM có thể làm giảm cường độ sóng Năng lượng được hấp thụ phụ thuộc phần lớn vào mật độ rừng, đường kính của thân cây và rễ, tầng cây, đặc tính quang phổ của sóng tới và mức độ thủy triều (World Bank Group, 2016) [131]

Trang 24

Gần đây RNM được đánh giá có vai trò vượt trội trong việc làm giảm hiệu ứng nhà kính do khả năng hấp thụ khí CO2 cao Ước tính hiệu quả hấp thụ các-bon của RNM có thể cao hơn 5,2 lần so với tảo biển và 50 lần so với rừng nhiệt đới (Kathiresan, 2012) Dự trữ các-bon trong RNM còn được tăng cường nhờ sự sinh trưởng mạnh của không chỉ phần thực vật sinh trưởng trên mặt đất (thân, cành) mà còn trong phần dưới mặt đất gồm cả rễ và tầng bùn giàu hữu cơ Có thể kể đến như

hỗ trợ sinh kế, an ninh lương thực và bảo vệ, phòng chống bão, lũ Một số nước trong khu vực hiện nay đang đầu tư vào phục hồi và phát triển RNM, và đang có cơ hội để tìm ra giải pháp đồng quản lý, chi trả dịch vụ môi trường, xây dựng đề án chia sẻ lợi ích khác như ưu đãi thiết thực cho những người bảo vệ RNM (IPPC, 2007) [96]

1.1.2 Những nghiên cứu về dặc điểm đất và lập địa ngập mặn

Theo Field (1998) [83], đất và thể nền có tác động đối với phân bố loài cây của rừng ngập mặn Hệ sinh thái rừng ngập mặn sinh trưởng tốt nhất ở những vùng ven bờ nơi có năng lượng bùn thấp Đất ổn định, không bị xói mòn và có độ sâu thích hợp là môi trường thuận lợi cho cây rừng ngập mặn phát triển Bên cạnh đó, thể nền là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng và giữ vững cây cũng có tác động quan trọng tới sinh trưởng của cây

Theo Choudhury (1994) [73], nhất thiết phải thực hiện đánh giá lập địa cẩn thận trước khi khôi phục rừng, để xác định đất đó có cần cải tại hay không, có thể trồng rừng được không, xác định hình thức chuẩn bị đất hoặc cải tạo đất để có thể tăng khả năng thành công của công tác phục hồi rừng

Những nghiên cứu về phân chia lập địa trồng RNM ven biển trên thế giới chủ yếu tập trung vào các nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển RNM, có thể kể đến như: Chapman, V.J., (1976, 1977) [71][72], Tomlinson (1986)[120],

Một số công trình nghiên cứu về lượng mưa, nhiệt độ ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây ngập mặn V.J Chapman (1976) [71] cho rằng nhiệt độ

là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phân bố RNM Cây ngập mặn sinh trưởng tốt ở môi trường có nhiệt độ ấm, nhiệt độ của tháng lạnh nhất

Trang 25

không dưới 20oC, biên độ nhiệt theo mùa không vượt quá 10oC P.Saenger và cộng

sự (1983) (dẫn theo Nguyễn Hoàng Trí, 1999) [63] đã giải thích sự có mặt của RNM

ở một vùng nào đó tuỳ thuộc nhiệt độ không khí và nhiệt độ nước

Độ mặn là nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến tăng trưởng, tỷ lệ sống, phân

bố các loài RNM tồn tại, phát triển ở nơi có độ mặn từ 10-30‰ Các tác giả đã chia thực vật ngập mặn thành 2 nhóm: (i) nhóm phát triển ở độ mặn từ 10-30‰ và (ii) nhóm phát triển ở độ mặn từ 0-10‰

Cây ngập mặn sinh trưởng tốt ở môi trường có nhiệt độ ấm, nhiệt độ tháng lạnh nhất không dưới 200C, biên độ nhiệt theo mùa không vượt quá 100C Các tác giả

đã giải thích sự có mặt của RNM ở một vùng nào đó tùy thuộc vào nhiệt độ không khí và nhiệt độ nước

1.1.3 Những nghiên cứu về khôi phục và phát triển rừng ngập mặn ven biển

Havanond (1994) [90] và Aksornkoae (1996)[67], Đước đôi và Đưng là 2 loài cây trồng RNM chủ yếu ở Thái Lan, trong đó, rừng Đước đôi trồng bằng trụ mầm và cây con có tỷ lệ sống khá cao > 80% và trồng rừng Đưng có tỷ lệ sống > 94% Chan H.T., (1996) [70], ở Malaysia từ năm 1987 - 1992 đã trồng được 4.300ha RNM, với loài cây trồng chính là: Đước đôi và Đưng Còn ở Indonesia, có

04 loài cây trồng chính ở RNM là Đước đôi, Đước vòi, Đưng và Vẹt dù

(Soemodihardo et al., 1996)[117]

Koko M., (1986) [100] đã sử dụng phương pháp trồng rừng dựa trên đặc tính của loài và khả năng nảy mầm của hạt giống hoặc trụ mầm Theo đó, có 3 phương pháp được áp dụng tại một số nước châu Á là: (i) Trồng trực tiếp bằng trụ mầm; (ii) Trồng bằng cây con gieo tạo trong vườn ươm; và (iii) Trồng bằng cây con mọc sẵn trong tự nhiên

Soemodihardjo và cs (1996) [116] tại Indonesia có 2 kỹ thuật trồng được áp dụng là trồng trực tiếp bằng trụ mầm và trồng bằng cây con có bầu Mật độ áp dụng 2.500 cây/ha (2,0 x 2,0m), loài cây trồng chủ yếu là Đước, Đưng và Vẹt dù Trồng trực tiếp bằng trụ mầm, tỷ lệ sống đạt 55 - 70% và trồng gián tiếp bằng cây con 3 -

4 tháng tuổi, tỷ lệ sống cao hơn, đạt 85%

Trang 26

Siddiqi N A., and Khan M.A.S., (1996) [115] mức độ ngập triều và độ mặn thích hợp là nhân tố quan trọng quyết định đến sự sống sót và sinh trưởng của cây con mới trồng Trong điều kiện bãi mới bồi ven biển tại Bangladesh loài Mấm đen

và Bần không cánh được lựa chọn Mật độ trồng thay đổi từ 1,2 x 1,2m; 1,5 x 1,5m

và 1,7 x 1,7m Trồng bằng cây con có bầu 6 - 7 tháng tuổi, tỷ lệ sống của Bần không cánh từ 29 - 52%, trung bình 40%; Mấm đen là 70% Tuy nhiên, sau 6 năm thì mật độ còn lại từ 1.100 - 1.600 cây/ha

Ở Ấn Độ, sử dụng hai phương pháp trồng trực tiếp bằng trụ mầm và cây con

có bầu (kích thước túi bầu 4cmx10cm) với 5 loài cây ngập mặn như Mắm biển, Mắm lưỡi đồng, Đước đôi và Bần chua Với kích thước trồng 1,5 m x 1,5m (Untawale, 1996) [124]

Ở Thái Lan, sử dụng phương pháp trồng bằng trụ mầm và cây con có bầu tỷ

lệ sống của đước đôi trên 80%, Đước bộp trồng bằng trụ mầm có tỷ lệ sống trên 94% (Aksornkoe, 1996)[67]

Có rất nhiều giải pháp để bảo vệ, hỗ trợ việc phục hồi RNM, đó có thể là hỗ trợ giai đoạn ban đầu cho cây ngập mặn tái sinh hoặc trồng mới Bởi vì khi cây ngập mặn tái sinh hoặc trồng mới ở giai đoạn đầu, khi cây còn bé, các yếu tố bất lợi

sẽ tác động rất lớn đến chúng, như sóng lớn, gió to làm bật gốc Đặc biệt là các khu vực bất lợi như bãi bồi chưa ổn định, bãi bồi mới hình thành, ngập triều sâu,… Chính vì vậy, các giải pháp như xây dựng những kết cấu cứng và mềm gây bồi cho khu vực bị xói lở để trồng cây ngập mặn như kè mỏ hàn, kè chữ T, geotube, các hàng cọc đơn,…hoặc làm hàng rào giảm sóng để hạn chế tác động vào khu vực RNM mới trồng là những giải pháp đem lại hiệu quả cao trong trồng RNM Cụ thể:

(1) Đập phá sóng xa bờ: Làm giảm năng lượng sóng tác động tới bờ biển, làm

giảm khả năng vận chuyển bùn cát dọc bờ dẫn tới sự bồi lắng phía sau đập phá sóng Công trình tiêu biểu như hệ thống đập phá sóng ở Presque Isle, Pa - Hoa Kỳ gồm 58 đập phá sóng với nguồn ngân sách là 18,5 triệu USD Mỗi đập phá sóng dài khoảng 450m, khoảng cách giữa các đập khoảng 900m, khoảng cách với bờ là 200 -300m

Trang 27

(2) Công trình gây bồi tạo bãi bằng “mỏ hàn”: Là giải pháp công trình gây

bồi, tạo bãi nhằm ổn định bờ biển được ứng dụng ở nhiều nơi trên thế giới Các chức năng chính của mỏ hàn là: giảm vận tốc dòng chảy và vận chuyển bùn cát dọc bờ; tạo vùng nước tĩnh hoặc xoáy nhẹ để giữ bùn cát lại gây bồi cho vùng bờ, bãi bị xói; che chắn bờ khi sóng xiên truyền tới, làm giảm lực xung kích của sóng tác dụng vào bờ; hướng dòng chảy ven bờ đi lệch xa bờ Hạn chế của giải pháp kè mỏ hàn đó là thường gây ra sự xói lở ở hạ lưu hệ thống công trình, ngoài ra hệ thống kè

mỏ hàn được xây dựng sẽ làm mất đi vẻ đẹp tự nhiên của bãi biển, gây ảnh hưởng xấu đến các hoạt động du lịch ven biển

(3) Hàng rào bê tông ứng lực: Được thiết kế bằng các cọc bê tông dẹp có

tiết diện hình tam giác Tường chắn sóng được đóng thành 3 hàng trên đoạn bờ biển Phương pháp này ban đầu đã mang lại những hiệu quả nhất định thể hiện bằng việc phía trong của rào chắn sóng trồng được rừng ngập mặn Ước tính các chi phí khoảng 116.000 USD cho 1km hàng rào

Theo Ellison (1999) [78] tổng hợp 27 nghiên cứu về phục hồi rừng ngập mặn trên toàn thế giới và đưa ra tổng kết về sự khác nhau của mục tiêu phục hồi như sau: Phục hồi cho mục đích tăng độ che phủ rừng (10 trên 27 dự án), ổn định bờ biển (6 trên 27 dự án) và giảm nhẹ biến đổi khí hậu (8 trên 27 dự án) Có thể thấy rằng, mục tiêu chung của các dự án phục hồi rừng ngập mặn là phục hồi cấu trúc và chức năng của các rừng ngập mặn đang bị suy thoái (Lewis, 2005 [103]; Gilman và Ellison,

2007 [84]) Phục hồi chức năng được hiểu là khả năng của rừng ngập mặn để ổn định bở biển, tích tụ phù sa, tăng cường bảo vệ bờ biển, tạo môi trường thích hợp cho các loài động vật, cung cấp gỗ và củi và tăng cường các giá trị thẩm mỹ của bờ biển để đạt được các tác dụng tương tự như rừng ngập mặn tự nhiên

Theo Chan và Baba (2009) các yếu tố quyết định đến công tác phục hồi RNM là lập địa trồng, loài cây, thời vụ trồng, các nhân tố giới hạn và các biện pháp

kỹ thuật lâm sinh được áp dụng (chẳng hạn như biện pháp trồng bổ sung, kiểm soát sâu bệnh hại,…) Ngoài ra, các yếu tố quan trọng khác như các yếu tố sinh học (khả năng chịu mặn, khả năng phát tán nguồn vật liệu giống và vật hậu), yếu tố vật lý

Trang 28

(loại đất, kiểu sóng, độ mặn, chế độ thủy triều) cũng cần được quan tâm Các yếu tố như vật liệu giống, cây con rễ trần, có bầu hay cây con tự nhiên không làm ảnh hưởng nhiều đến kết quả của phục hồi rừng ngập mặn Tác giả chỉ ra rằng, trong vùng trung tâm đa dạng sinh học của rừng ngập mặn Đông Nam Á có khoảng 15 loài cây phổ biến được lựa chọn cho phục hồi rừng ngập mặn trong tổng số 45 loài Các kỹ thuật trồng cũng khá đa dạng Theo tác giả, không nhất thiết phải trồng cây theo cự ly cách đều một cách truyền thống mà có thể trồng theo đám và theo giai đoạn tùy vào điều kiện cụ thể Trồng theo đám được thực hiện ở những tiểu vùng thuận lợi nhất để từ đó tạo điều kiện cho việc phục hồi tiếp theo tại các vùng lân cận Trồng theo giai đoạn thường được áp dụng cho các lập địa khó khăn (dẫn theo Đinh Thanh Giang, 2015)[21]

Như vậy, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về giải pháp khoa học công nghệ để phục hồi RNM, các giải pháp chính bao gồm phục hồi tái sinh, trồng cây con,

kỹ thuật ươm giống Đối với các khu vực có sóng lớn, bờ biển bị xói lở, phục hồi RNM bằng cách trồng cây kết hợp với các công trình chắn sóng như xây dựng đập,

kè mỏ hàn, hàng rào bê tông Nguồn gốc cây giống từ cây con, các loại hạt giống tự nhiên, chọn tạo trong vườn ươm, nhân giống vô tính, giâm cành với biện pháp trồng hỗn giao hoặc thuần loài là giải pháp chủ yếu để phục hồi RNM Bên cạnh các đề tài,

dự án thì một số nước cũng có các chính sách như thành lập các cơ quan chuyên trách

và tổ chức nghiên cứu quốc tế về RNM, tuyên truyền nâng cao nhận thức người dân, đầu tư vào các HST ven biển, ban hành pháp luật về bảo vệ RNM

Vùng 1: Ven biển Đông Bắc, từ mũi Ngọc đến Đồ Sơn, Hải Phòng

Vùng 2: Ven biển đồng bằng sông Hồng, từ Đồ Sơn, Hải Phòng đến Lạch Trường, Thanh Hóa

Trang 29

Vùng 3: Ven biển Trung Bộ, từ Lạch Trường, Thanh Hóa đến Bà Rịa - Vũng Tàu

Vùng 4: Ven biển Nam Bộ, từ Vũng Tàu đến mũi Nài - Hà Tiên, Kiên Giang Tuy nhiên để thống kê diện tích các loại rừng thống nhất trong toàn quốc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam và Viện Điều tra Quy hoạch rừng đã xác định

6 vùng phân bố rừng ngập mặn ở Việt Nam, phù hợp với hướng dẫn điều tra và đánh giá tài nguyên rừng Các vùng phân bố địa lý rừng ngập mặn là: (i) Đông Bắc, (ii) Đồng bằng sông Hồng, (iii) Bắc Trung Bộ, (iv) Nam Trung Bộ, (v) Đông Nam

Bộ, (vi) Đồng bằng sông Cửu Long

(2) Thành phần loài cây ngập mặn

Công trình nghiên cứu của Vũ Văn Cương (1964)[128] về các quần xã thực vật ở Rừng Sát thuộc vùng Sài Gòn - Vũng Tàu Tác giả đã chia thực vật ở đây thành 2 nhóm: nhóm thực vật nước mặn và nhóm thực vật nước lợ Đưng phân bố ven sông Soài Rạp, Đông Tranh và một số cửa sông nhỏ, Cóc trắng gặp rải rác ở những nơi đất cao, Vẹt đen gặp ở vùng nước lợ

Trong công trình nghiên cứu về hệ thực vật rừng ngập mặn Việt Nam, các tác giả Phan Nguyên Hồng, Hoàng Thị Sản (1984) [26], đã thống kê được hơn 80 loài thực vật thuộc 30 chi của hơn 20 họ Trong đó có trên 59 loài cây ngập mặn chính thức và 21 loài gia nhập, đây là những loài có thể gặp trong rừng ngập mặn nhưng cũng có thể gặp ở các môi trường khác và được phân bố tại các vùng ven biển nhiệt đới và á nhiệt đới, trên hầu hết các loại lập địa như bùn sét, bùn cát,

Theo một số nhà nghiên cứu, trung tâm hình thành cây ngập mặn của Việt Nam là nguồn gốc từ Indonesia và Malaysia (Chapman, 1976) [71] từ đó phát tán ra các nơi khác Theo Phan Nguyên Hồng (1991) [27] vận chuyển nguồn giống vào Việt Nam chủ yếu là do các dòng chảy đại dương và các dòng ven bờ Gió mùa Tây Nam vào mùa hè đưa dòng chảy mang nguồn giống từ phía Nam lên, nhưng khi đến

vĩ độ 12 thì dòng chảy chuyển hướng ra khơi nên một số loài không phát tán đến bờ biển phía Bắc Chính vì vậy mà nhiều loài phong phú ở phía Nam như: Bần trắng, Bần ổi, Dà, Đưng, Đước đôi, Vẹt trụ, Vẹt tách không xuất hiện ở miền Bắc

Trang 30

Lê Công Khanh (1986) [25] mô tả các đặc điểm sinh học để phân biệt các chi, các họ cây có trong RNM Tác giả đã xếp 57 loài cây ngập mặn vào 4 nhóm dựa vào tính chất ngập nước và độ mặn của nước: Nhóm mọc trên đất bồi ngập nước mặn (độ mặn của nước từ 15 - 32‰) có 25 loài, trong đó có Đưng, Cóc trắng; nhóm sống trên đất bồi thường ngập nước lợ (độ mặn 0,5 -15%) có 9 loài, trong đó

có Vẹt đen và nhóm sống trên đất bồi ít ngập nước lợ có 12 loài

Năm 1999, Phan Nguyên Hồng [28] công bố nhóm thực vật thực thụ và tham gia hay gia nhập vào HST RNM ven biển là 78 loài; nhóm CNM thực thụ có 36 loài, nhóm CNM tham gia có 42 loài Ở miền Bắc có 34 loài, ở miền Nam có 70 loài

Năm 2004, Phan Nguyên Hồng bổ sung một số loài cây ngập mặn được biết

ở Việt Nam có 109 loài CNM khác nhau thuộc hai nhóm: Nhóm CNM “thực thụ”

có 37 loài; nhóm CNM “gia nhập” có 72 loài Trong số các loài cây ngập mặn thực thụ, thân gỗ có 5 họ có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái RNM ở Việt Nam là:

Họ Đước (Rhizophoraceae), họ Mắm (Avicenniaceae), họ Bần (Sonneratiaceae), họ Đơn nem (Myrsinaceae) và họ Dừa (Palmeae)

Quan điểm của chúng tôi khi nghiên cứu về RNM cho rằng: Có sự sai khác về

số loài là do sự khác nhau về các đặc điểm về địa lý (địa hình, địa mạo), khí hậu (nhiệt độ), thủy văn (dòng chảy ven bờ, đại dương) và độ mặn nước biển ven bờ

Trang 31

Bảng 1.4 Tổng hợp diện tích RNM toàn quốc theo tỉnh STT Tỉnh Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)

Trang 32

(4) Vai trò của rừng ngập mặn

Nghiên cứu của Mazada et al (1997) [108] ở RNM được trồng với khoảng cách 1 m, đai rừng rộng 150 m và dài 3 km, tuổi RNM là 6 năm tuổi, sóng ngoài biển sẽ giảm xuống chỉ còn 0,05 m khi đến bờ biển, nếu không có dải RNM chiều cao của sóng khi đến bờ biển sẽ là 0,75 m, gây ra xói mòn và tràn qua các đê bao ở khu vực đầm nuôi tôm

Khả năng hấp thụ CO2và lưu giữ C trong bối cảnh BĐKH của RNM cũng rất được quan tâm Theo Vũ Tấn Phương (2013) [38], trữ lượng các bon ở các tuổi khác nhau của rừng trồng Đước, Mắm đen và Mắm trắng tự nhiên tại tỉnh Kiên Giang có

sự khác biệt đáng kể, trữ lượng các bon trung bình của 3 loại rừng này lần lượt là 136,6 tấn CO2/ha, 511,6 tấn CO2/ha và 198,7 tấn CO2/ha Trên cơ sở đó tác giả đề xuất giá trị hấp thụ CO2 của RNM nên được xem xét trong quá trình hoạch định chính sách về chi trả dịch vụ môi trường nhằm góp phần quản lý rừng bền vững và giảm nhẹ BĐKH

Theo Vương Văn Quỳnh và cộng sự (2010) [39] RNM có vai trò rất lớn trong việc giảm chiều cao sóng biển, theo đó chiều cao sóng giảm rất rõ khi vào sâu trong rừng theo dạng hàm số mũ: y = 54.396e-0.0114x (với x là chiều sâu khi sóng

đi vào đai rừng) Căn cứ vào khả năng chắn sóng có thể phân chia RNM thành 5 cấp Phần lớn các khu RNM ở miền Bắc là rừng có khả năng chắn sóng từ kém đến trung bình Các khu RNM miền Nam thuộc loại rừng chắn sóng tốt Để quản lý tốt rừng chắn sóng ven biển, tác giả đề xuất nhóm 5 giải pháp đồng bộ là: (1) Duy trì bề rộng dải rừng chắn sóng đảm bảo tiêu chuẩn; (2) Trồng rừng hỗn giao để tăng hiệu quả chắn sóng; (3) Chọn cây trồng RNM tăng khả năng chắn sóng; (4) Xác định mật độ cây trồng RNM chắn sóng thích hợp; (5) Cải tạo RNM có chất lượng kém

Theo Ngô Đình Quế và Võ Đại Hải (2012) [43], RNM bảo vệ vùng ven biển chống sóng, xói lở bờ biển, hạn chế gió và thúc đẩy quá trình bồi tụ phù sa nhờ có hệ

rễ phát triển ăn sâu xuống đất, làm cho nền đất trở nên vững chắc Tán lá rộng với cành vững chắc giảm nhẹ xung động của sóng, làm giảm xung lực của sóng tác động vào bờ biển Cây rừng ngập mặn cũng hạn chế gió từ biển vào lục địa, luồng gió thổi

Trang 33

từ biển vào đất liền khi gặp đai RNM cường độ của gió sẽ bị giảm đi Tháng 7 năm

1996, khi cơn bão số 2 (Frankie) với sức gió 103 ÷ 117km/s đổ bộ vào huyện Thái Thụy (Thái Bình) nhờ có dải RNM bảo vệ nên đê biển và nhiều bờ đầm không bị hư hỏng, trong lúc đó huyện Tiền Hải do phá phần lớn RNM nên các bờ đầm đều bị xói

lở hoặc bị vỡ Năm 2005, vùng ven biển huyện Thái Thụy tuy không nằm trong tâm bão số 7 (Damrey) nhưng sóng cao ở sông Trà Lý đã làm sạt lở hơn 650m đê nơi không có RNM ở thôn Tân Bồi, xã Thái Đô trong lúc phần lớn tuyến đê có RNM ở

xã này không bị sạt lở vì thảm cây dày đặc đã làm giảm đáng kể cường độ sóng Ở Thái Thụy, có 10,5 km đê biển được bảo vệ bởi RNM hầu như không phải sửa chữa,

tu bổ hàng năm kể từ khi RNM trưởng thành, khép tán Một số địa phương có RNM phòng hộ nguyên vẹn như các xã ở Đồ Sơn - Hải Phòng, Giao Thuỷ - Nam Định, Hậu Lộc – Thanh Hoá, ở những nơi này đê biển hầu như không bị sạt lở trong các cơn bão số 2, 6, 7 năm 2005

Có thể thấy những lợi ích, hiệu quả mà RNM mang lại xem như “vị cứu tinh” của con người khi có bão lũ, sóng gió, nước biển dâng, khí hậu cực đoan khác đã đặt ra cho hiện nay là làm thế nào để bảo vệ, khôi phục những khu RNM đã bị tàn phá, phát triển trồng mới RNM vẫn đang là bài toán khó, vì lợi ích kinh tế, RNM vẫn bị đe dọa và có thể bị chặt phá nếu không được bảo vệ giám sát chặt chẽ

Ngoài các giá trị về mặt phòng hộ như trên RNM còn cung cấp các sản phẩm

từ gỗ, tanin, phẩm nhuộm từ vỏ cây RNM, tấm lợp và sản phẩm khác từ Dừa nước, mật ong, thực phẩm khác cho con người, thức ăn cho gia súc, dược liệu, thủy sản và các nguồn lợi ven bờ khác

1.2.2 Những nghiên cứu về đặc điểm đất và lập địa ngập mặn

Tôn Thất Chiểu và cs (1990) [16] đã tiến hành xây dựng bản đồ đất ở đồng bằng sông Cửu Long với tỷ lệ: 1/200.000 và đã phân chia đất ngập mặn thành 3 đơn vị chính là: (i) Đất ngập mặn phần lớn dưới RNM (Gleyic-Salic-Fluvisols); (ii) Đất phèn tiềm tàng nông dưới RNM (Salic-Proto-Thionic-Fluvisols, Sulfidic material 0 – 50cm); và (iii) đất phèn tiềm tàng sâu dưới RNM (Salic-Proto-Thionic-Fluvisols, Sulfidic material

> 50cm)

Trang 34

Nguyễn Ngọc Bình (1996) [7] đã nghiên cứu các loại đất ở RNM Cà Mau, đất ngập mặn bùn rất loãng không có cây ngập mặn, đất ngập mặn bùn loãng có Mấm

trắng (Avicenia alba) tiên phong cố định bãi bồi, đất ngập mặn dạng sét, đất ngập mặn

phèn tiềm tàng sét mềm có Đước, đất ngập mặn phèn tiềm tàng cứng có Dà, Cóc

Ngô Đình Quế và cs (2003) [45] cho rằng chất hữu cơ là một trong những nhân tố quyết định đến sinh trưởng của RNM, nếu hàm lượng chất hữu cơ trong đất ngập mặn hơn 1% sinh trưởng kém, nhưng nếu quá cao, lớn hơn 15% cũng kìm hãm sinh trưởng của cây và cũng có thể làm cây trồng bị chết do môi trường đất bị

ô nhiễm

Nguyễn Ngọc Bình, Đỗ Đình Sâm, Ngô Đình Quế, Phạm Đức Tuấn (2008) [9] cho rằng một số yếu tố tự nhiên như địa hình, độ mặn nước biển ven bờ, sóng biển, gió biển, hải văn, thủy văn là những yếu tố cơ bản ảnh hưởng trực tiếp đến đặc điểm đất ngập mặn

Đỗ Đình Sâm và cộng sự (2008)[47] đánh giá tiềm năng sản xuất cho đất ngập mặn vùng Đồng bằng sông Cửu Long dựa trên các tiêu chí: Loại đất, độ thành thục của đất, hàm lượng chất hữu cơ và chế độ ngập triều

Trong môi trường đất sét chặt, hạt mịn thì quần xã Đước là cực đỉnh, có năng suất cao nhất, khi môi trường thay đổi các quần xã Vẹt tách, Dà vôi sẽ thay thế Trên đất bùn lỏng do phù sa các con sông mới lắng đọng và bồi tụ thành bãi bùn ven biển hay ở cửa sông thì quần xã Mắm có thể mọc thuần loài hay hỗn loài, chúng

là những cây tiên phong lấn biển; quần xã Bần thích hợp với đất bùn sét có độ mặn cao của các bãi bùn lỏng ven biển Khi có độ mặn giảm thành nước lợ thì quần xã Dừa nước xuất hiện mọc cùng với Mắm đen Trên những vùng đất bồi tụ cao, nước triều chỉ còn tràn lên trong những con nước lớn, đất bùn sét vừa khô vừa mặn quần

xã Chà là chiếm ưu thế, mọc cùng với Mắm đen, Giá, Cóc trắng Khi bờ ven các sông rạch bị bồi tụ cao dần lên làm cho thủy triều không tràn vào được, làm cho độ mặn trong đất giảm dần quần xã Ráng đại xuất hiện và nhanh chóng chiếm ưu thế (Thái Văn Trừng, 2000) [64]

Trang 35

Theo Mai Sỹ Tuấn (1995) [105] đã nghiên cứu phản ứng sinh lý, sinh thái của Mấm biển con trồng thí nghiệm ở các độ mặn khác nhau trong nhà kính cho thấy, trong điều kiện thí nghiệm ở độ mặn nước biển 25‰ Mắm biển có thể sinh trưởng về đường kính và chiều cao tốt nhất Sự tăng trưởng về đường kính và chiều cao giảm dần khi độ mặn nước biển tăng lên Cây mọc ở môi trường không có muối

tỷ lệ sinh trưởng thấp

Theo Đặng Trung Tấn (2000) [54], thời gian ngập triều trung bình từ 100 –

300 ngày/năm, với mức ngập 45 – 55cm vào tháng 12 đến tháng 2 năm sau, thích hợp cho loài Đước đôi phát triển Độ ngập triều thấp như: Bãi bồi ven biển, vùng trũng nội địa, v.v (thời gian ngập trên 300 ngày/năm), khi đó trên nền rừng mực nước biển có thể lên tới 85cm Việc trồng rừng gặp rất nhiều khó khăn và tỉ lệ chết rất cao Đối với nơi có độ ngập triều thấp (dưới 100 ngày/năm) không thích hợp cho

sự sinh trưởng của Đước

Ở vùng ven biển ĐBSCL dựa vào 3 yếu tố quan trọng có liên quan đến sinh trưởng rừng trồng cây ngập mặn để phân chia lập địa, gồm: (i) Loại đất; (ii) Chế độ ngập triều (thời gian ngập triều và độ ngập triều cao nhất); và (iii) Độ thành thục của đất (n) Ngô Đình Quế (2003) [45] đã phân chia toàn vùng có 14 dạng lập địa, trong đó, đất ngập mặn có 8 dạng lập địa và đất ngập mặn phèn tiềm tàng có 6 dạng lập địa Trên cơ sở đặc điểm sinh thái loài cây, các kết quả nghiên cứu và thực tiễn sản xuất ở các địa phương, tác giả đưa ra hướng sử dụng theo các nhóm dạng lập địa (A, B, C, D)

Đoàn Đình Tam (2012) [57] đã phân chia lập địa cho vùng ven biển miền Bắc dựa trên 04 tiêu chí chủ yếu: (a) Loại đất; (b) Chế độ thủy triều; (c) Độ thành thục của đất; và (d) Thành phần cơ giới Theo đó, vùng ven biển miền Bắc có 18 dạng lập địa chính của 02 loại đất (ngập mặn không có phèn tiềm tàng và ngập mặn phèn tiềm tàng trung bình và yếu) Tiêu chí phân chia này tác giả áp dụng cho dạng lập địa rất khó khăn khu vực có thành phần cơ giới cát dính

Hoàng Văn Thơi (2014) [56] đã phân chia các đảo ven biển phía Nam, khu vực lập địa ngập mặn đặc biệt khó khăn, sỏi, cát, vụn san hô, độ mặn cao thành 03

Trang 36

vùng bao gồm: (1) Các đảo ven biển Nam Trung bộ và các đảo ngoài khơi; (2) Các đảo vùng biển Đông Nam bộ; và (3) Các đảo vùng ĐBSCL Mỗi vùng lập địa chia

ra 20 dạng lập địa trên cơ sở tổ hợp 3 nhân tố chính là: chế độ ngập triều, thề nền và

độ mặn Toàn vùng có 6 nhóm dạng lập địa chính là: Nhóm A (2 lập địa), B (4), C (2), D (6), E (2) và F (4) Trên cơ sở đó tác giả đưa ra các loài thực vật ngập mặn phân bố theo từng nhóm dạng lập địa cho các đảo ven biển phía Nam

Đinh Thanh Giang (2015) [21] phân chia lập địa đất ngập mặn cho vùng ven biển Quảng Ninh và Hải Phòng, các tiêu chí gồm có: Loại đất, độ mặn, hiện trạng

sử dụng đất ngập mặn, thời gian phơi bãi, độ sâu ngập triều, độ thành thục của đất,

và thành phần cơ giới Căn cứ vào điểm số cho mỗi dạng lập địa để phân chia mức

độ thuận lợi cho công tác trồng rừng, phục hồi RNM theo 4 nhóm: Nhóm I (rất thuận lợi), nhóm II (thuận lợi), nhóm III (ít thuận lợi), và nhóm IV (hạn chế)

Như vậy, các kết quả nghiên cứu về phân vùng lập địa, phân chia dạng lập địa nói trên là căn cứ góp phần xây dựng tiêu chuẩn về phân chia lập địa đất ngập mặn ven biển phục vụ cho việc qui hoạch, chọn loài cây trồng, kỹ thuật gây trồng, phục hồi và phát triển RNM ở nước ta, đặc biệt ứng phó với BĐKH và nước biển dâng Các tác giả trên đã sử dụng các yếu tố cấu thành lập địa như chế độ thủy triều,

độ thành thục, thành phần cơ giới, loại đất, độ mặn, hiện trạng sử dụng đất ngập mặn Tuy nhiên, các yếu tố ảnh hưởng rất mạnh đến sự tồn tại của thực vật ngập mặn là cao độ đất ngập mặn chưa được sử dụng nghiên cứu lập địa ở các vùng đất ngập mặn Việt Nam Đây là yếu tố bao hàm các yếu tố về chế độ thủy triều ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng của CNM Mức độ ngập triều nông, trung bình và sâu theo các tác giả trước sử dụng căn cứ vào số ngày ngập triều trong tháng Đây là công việc rất khó khăn và nếu không có chuỗi số liệu theo dõi thì không thể xác định ngoài thực tế được

vì do chu kỳ con nước thường 14 ngày lặp lại một lần Nếu ra bãi triều kiểm tra tại một thời điểm và một không gian không thể phát hiện đâu là bãi triều có chế độ ngập triều nông, trung bình và sâu Trong khi đó, chỉ tiêu cao độ đất ngập mặn là chỉ tiêu cố định,

ít bị ảnh hưởng của thủy triều, dễ xác định ngoài thực tế Đây cũng là tiêu chí luận án

sử dụng để xây dựng bản đồ lập địa cho vùng đất ngập mặn Thái Bình

Trang 37

1.2.3 Những nghiên cứu về khôi phục và phát triển rừng ngập mặn ven biển

Đoàn Đình Tam (2012) [57] đã áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới, cải tiến trong trồng RNM trên các điều kiện lập địa khó khăn góp phần chắn sóng vùng ven biển phía Bắc Việt Nam Kết quả bước đầu đạt được khá khả quan khi các loài cây trồng tại các công thức thí nghiệm có tỷ lệ sống cao, sinh trưởng khá tốt và có sự khác biệt rõ rệt giữa các CTTN trên các lập địa khó khăn (lập địa cát dính, lập địa đất lẫn sỏi đá, đất ngập triều sâu, dạng lập địa ngập triều cao, trên các đầm nuôi tôm

bỏ hoang) đã có tác dụng trong việc bồi lắng phù sa, cải tạo môi trường đất, nước

Hoàng Văn Thơi (2014) [56] đã thử nghiệm trồng RNM (bằng các loài cây: Mấm biển, Đước đôi và Đưng) trên các dạng lập địa có thể nền đá, cát, sỏi và vụn san hô với tỷ lệ sống đạt trên 50%; lập địa đá, mặn, ngập triều cao và lập địa sỏi, mặn, ngập trung bình có tỷ lệ sống và sinh trưởng tốt hơn dạng lập địa san hô, mặn, ngập thấp Trồng trực tiếp bằng trụ mầm tỷ lệ sống của các loài cao nhất ở thí nghiệm đào hố, đặt trụ mầm, sau lấp đá xung quanh; kế đến là tạo hố, cắm cọc, cắm trụ mầm và sau cùng là đào hố bổ sung bùn đất Mật độ trồng thích hợp cho trồng rừng ở các đảo ven biển phía Nam là 6.600 cây/ha và 5.000 cây/ha Tuổi cây con cho tỷ lệ sống cao và sinh trưởng tốt nhất ở 6 tháng tuổi Biện pháp bảo vệ cây trồng cho tỷ lệ sống cao và sinh trưởng tốt nhất là tạo bờ đập cản sóng song song với đường bờ và sử dụng cọc gỗ làm giá đỡ bảo vệ cây trồng

Ngô Đình Quế và cộng sự (2003) [40] đã tiến hành trồng thử nghiệm 7 ha rừng ngập mặn phòng hộ chắn sóng với các công thức trồng Trang và Bần chua thuần loài (mật độ 10.000 cây/ha) Trồng Trang và Bần chua hỗn giao với 3 công thức Trang 8.250 cây/ha, Bần chua 800 cây, 1.000 cây, 1.200 cây/ha tại Tân Thành – Kiến Thuỵ – Hải Phòng, trên lập địa bãi bồi bùn chặt (dạng lập địa MIIIb); đất mặn ngập triều trung bình Theo dõi và đánh giá sinh trưởng của mô hình trổng thử nghiệm cho thấy, cây trồng sinh trưởng tốt nhất tại công thức trồng hỗn giao 8250 cây Trang + 800 cây Bần chua/ha và với công thức và biện pháp trồng như vậy vừa thúc đẩy được sinh trưởng của cây trồng và sớm tạo được kết cấu rừng 2 tầng, sớm nâng cao được hiệu quả phòng hộ của rừng Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy nhờ

Trang 38

có dải rừng này mà sóng biển đã giảm cường độ một cách đáng kể khi vào đến đê

Ở phía ngoài, nơi không có rừng ngập mặn sóng cao 1,2m, khi đi qua dải rừng vào tới chân đê chỉ còn 0,2 - 0,3 m Đồng thời mức độ trầm tích bùn cát dưới dải rừng này cũng rất cao, xấp xỉ 6 cm/năm (cao gấp 10 lần khi chưa có rừng) (Ngô Đình Quế và cộng sự, 2003)

Đinh Thanh Giang (2004) [19] đã thử nghiệm mô hình phục hồi rừng ngập mặn tại đầm nuôi tôm bỏ hoang ở xã Nam Phú huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình bằng phương pháp: Đắp mố để giảm mức độ ngập nước trong đầm và rừng Bần chua trên

mố với mật độ 800 cây/ha Sau 2 năm theo dõi, tỷ lệ thành rừng đạt từ 60-70%

Khi tiến hành bố trí thí nghiệm trồng rừng Bần chua tại Trà Vinh, tác giả Phạm Ngọc Cơ và cs (2006) [13] đã tập trung nghiên cứu chiều cao cây trồng (3 cấp), trồng ở 3 vị trí có mực nước ngập khác nhau Kết quả sau 4 tháng do sóng to gió lớn đã làm cuốn trôi toàn bộ số cây bố trí thí nghiệm tại hai địa điểm Long Hòa

và Ấp Nhì Riêng ở Cồn Nạn do ở vùng giao nước, lượng phù sa tích lũy ở đây nhiều hơn, nên cây con có chiều cao 2,5m thích hợp cho trồng rừng vùng ngập sâu, nhưng tỷ lệ sống thấp

Tại Bạc Liêu, trên vùng đất cao, ít ngập triều, đất trở nên rắn chắc, độ mặn rất cao Trồng rừng theo phương thức thông thường không mang lại kết quả, các phương thức trồng rừng cải tiến đã được áp dụng, bao gồm: Trồng Đước xen với cây trồng khác, trồng trong vuông tôm, trồng ngoài vuông tôm, trồng có đào rãnh, trồng trực tiếp xuống nền đất rừng, v.v Ngoài ra, Trung tâm Nghiên cứu và ứng dụng kỹ thuật rừng ngập mặn Minh Hải còn trồng thử nghiệm hỗn giao Đước và Cóc trắng với tỷ lệ sống trên 85% Theo cách này, Được được trồng dưới các mương đào sâu 20 – 25cm, rộng 50 – 60cm, đất đào được đổ lên thành líp rộng 1,5m để trồng Cóc trắng (Đỗ Xuân Phương, 2006) [25]

Năm 2009, dự án bảo tồn và phát triển khu dự trữ sinh quyển tỉnh Kiên Giang đã thực hiện trồng RNM cải tiến bằng phương pháp tạo hàng rào cừ Tràm gắn mê bồ và lưới cước tại khu vực xói lở thuộc ấp Vàm Rẫy, xã Bình Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang Thí nghiệm gồm 4 nghiệm thức là hàng rào đơn (a)

Trang 39

Trồng Mắm, Đước; hàng rào đôi; (b) Trồng Mắm, Đước, Vẹt, Dừa nước; hàng rào giữ bùn + RNM; (c) Trồng Đước và Dừa nước; hàng rào khóa 2 bên + RNM; (d) Trồng Đước và Dừa nước Tỷ lệ sống của các loài sau 2 năm trồng cao nhất ở nghiệm thức 3 và 4, tiếp theo là nghiệm thức 2 đạt 82% và thấp nhất là nghiệm thức

1 chỉ đạt 57% Giá thành tính cho 1 km hàng rào nghiệm thức 1 là 357.680.000 đồng (17.028$), nghiệm thức 2 là 705.560.000 đồng (33.589$) (Chu Văn Cường và Saron Brown, 2012) [10]

Theo Đoàn Đình Tam và cộng sự (2012) [57] phục hồi rừng ngập mặn trên các lập địa khó khăn đòi hỏi kỹ thuật tương đối tỷ mỉ, tác giả đã thử nghiệm xây dựng môt số mô hình trồng rừng trên các dạng lập địa khó khăn khác nhau và đã thu được kết quả bước đầu, tỷ lệ sống cao và cây sinh trưởng tốt Đối với mô hình trồng trên lập địa đất cát dính thì tại Thanh Hóa,công thức trồng có tỷ lệ sống cao nhất là

trồng Bần chua thuần loài, mật độ 3.200 cây/ha Tại Thái Bình, khi trồng Bần chua

hỗn giao với Trang (2.500 Bần + 800 Trang) cho tỷ lệ sống cao nhất

Theo Phạm Minh Cương (2014) [12] cho rằng, đối với trồng cây Bần chua, việc xác định tuổi cây và mật độ cây rất quan trọng Ngoài ra trước khi trồng cần phải cải tạo thể nền Đối với các khu vực bãi biển có độ cao từ 0,0 m đến -0,5 m, tỷ

lệ cát là 76,5% thì cần phải cải tạo thể nền Các biện pháp cơ giới như cắm cọc, buộc giữ cây, làm hàng rào giảm sóng cũng là những biện pháp quan trọng trong giai đoạn đầu để bảo vệ cây khi cây mới được trồng

Theo Lê Đức Thắng và cs (2015) [62] đánh giá sinh trưởng và khả năng cải

tạo đất của rừng Bần chua 5 tuổi trồng trên lập địa cát dính, đất cát rời rạc (tỷ lệ cát

70 – 90%) và áp dụng kỹ thuật đào hố cục bộ cũng như thay thế toàn bộ đất cát trong hố bằng đất bùn phù sa tại Hà Tĩnh cho biết, tỷ lệ thành rừng đạt trên 95%, sinh trưởng về D00 = 14,97 ± 0,83 cm, ∆D00 = 2,99 ± 0,17 cm/năm; Hvn = 3,61 ± 0,35 m, ∆Hvn = 0,72 ± 0,07 m/năm; Dtan = 2,02 ± 0,02 m Trung bình có 127,6 rễ thở/m2 (khoảng 1,27 triệu rễ thở/ha), hàng năm có 25,5 ± 4,3 rễ thở/m2/năm mọc mới nhô lên khỏi mặt đất, tập trung vào tháng 8 – 12; chiều cao rễ thở trung bình đạt 21,7 ± 10,2 cm Đất dưới tán rừng có tính chất hơi chua, không có sự biến động

Trang 40

lớn giữa các độ sâu tầng đất khác nhau Hàm lượng chất hữu cơ trong đất biến động trong khoảng 1,73 – 2,56% Hàm lượng đạm tổng số từ 0,71 – 0,86 mg/g, có xu thế giảm dần từ tầng đất mặt đến tầng đất sâu Lân tổng số từ 0,026 – 0,028 %; P2O5 dễ tiêu từ 19,06 – 22,19 mg/100g đất K2O tổng số từ 0,55 – 0,87 %; K2O dễ tiêu từ 22,22 – 52,28 mg/100g đất Sinh trưởng chiều cao vút ngọn (Hvn, m) của rừng Bần

chua 5 tuổi trồng trên lập địa khó khăn phụ thuộc chặt nhất vào 4 yếu tố là: P2O5 dễ tiêu (R= 0,989); K2O dễ tiêu (R = 0,973); Ni tơ tổng số (R = 0,986); và chất hữu cơ (R = 0,875) qua phương trình: Hvn = - 97,032 + 15,804*Nts – 0,473*Pdt + 2,552*Kdt + 1,294*OM (R = 0,953)

Nhìn chung, các kết quả về phục hồi rừng ngập mặn ở Việt Nam khá phong phú và đã được thực hiện tại một số vùng sinh thái và tỉnh thành ở Việt Nam Những năm gần đây, ở một số nơi việc khôi phục rừng ngập mặn đã được áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới với mức đầu tư khá lớn nhưng tỷ lệ sống của rừng thấp Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do lựa chọn loại cây trồng, phương thức trồng, mật độ trồng chưa phù hợp với lập địa, các biện pháp kỹ thuật

áp dụng chưa phù hợp

Theo Ngô Đình Quế, và cs năm 2003 [40] cũng đã tiến hành xây dựng mô hình phục hồi rừng ngập mặn trong các vuông tôm tại Tiền Hải – Thái Bình Biện pháp kỹ thuật được áp dụng ở đây là: Đắp ụ đất nhằm khắc phục mức độ ngập triều, sau đó bứng cây con từ khu vực xung quanh về trồng với mật độ khoảng 2.500 cây/ha Kết quả ban đầu cho thấy tỷ lệ sống khá cao, môi trường đất, nước đã được cải thiện rõ rệt

Năm 2005, Trung tâm công nghệ cao Hải Phòng đã tiến hành xây dựng mô hình: Trồng rừng ngập mặn trên các bãi cát trước đê, bằng biện pháp kỹ thuật là: đào

hố, đổ phù sa, trồng rừng bằng cây Bần chua 24 tháng tuồi tại xã Tân Thành, thị xã

Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng và đã thu được những thành công ban đầu Mô hình này hiện đang được chuyển giao, nhân rộng tại nhiều địa phương khác như Thanh Hóa Tuy nhiên, chi phí để xây dựng 1 ha rừng theo phương thức này khá cao, khoảng >150 triệu đồng/ha

Ngày đăng: 10/04/2020, 08:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w