Ở Việt Nam, người ta đã và đang sử dụng phương pháp sau đây để thu thập các số liệu và các thông tin về dân số và kế hoạch hóa gia đình: - Tổng điều tra dân số - Thống kê thường kỳ - Điề
Trang 1DÂN SỐ HỌC ĐẠI CƯƠNG
Trang 2CHƯƠNG 1: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU DÂN SỐ
HỌC Nhóm 1:
- Trần Minh Điệp
- Lê Thị Hằng
- Lê Thế Thuần
- Đỗ Thị Hồng Phương
1.1 Khái niệm dân số học và dân số
Dân số học là khoa học tự nghiên cứu về dân số bao gồm quy mô, thành phần, phân bố, mật độ, sự gia tăng dân số và những đặc trưng khác về dân số và kinh tế xã hội cũng như những nguyên nhân và hậu quả của sự thay đổi những yếu tố trên
Trong đó, quy mô dân số là số lượng dân nhiều hay ít, thành phần dân số bao gồm tuổi tác, nghề nghiệp,
…; phân bố là dân cư tập trung ở một khu vực nhiều hay ít; mật độ là số dân cư trú trên một diện tích đất dày hay thưa; sự gia tăng dân số là số dân tăng trong một khoảng thời gian nhất định
Quy mô dân số là số người sống trên một vùng lãnh thổ tại một thời điểm nhất định.( Quy mô dân số phản ánh khái quát tổng số dân của mỗi vùng, lãnh thổ nhất định trên thế giới Quy mô dân số thường xuyên biến động qua thời gian và không gian lãnh thổ Quy mô dân số có thể tăng hoặc giảm tùy theo các biến số cơ bản nhất bao gồm: sinh, chết và di dân Quy mô dân số không chỉ được xác định thông qua tổng điều tra dân số mà còn được xác định thông qua thống kê dân số thường xuyên và dự báo dân số) Ý nghĩa : Quy mô dân số của một vùng, lãnh thổ nhất định phản ánh số lượng dân của vùng, lãnh thổ tại một thời điểm nhất định Quy mô dân số là cơ sở để đưa ra nhận định, đánh giá và định hướng cho vấn tình hình ổn định và phát triển dân số của mỗi quốc gia.
Thành phần dân số bao gồm những bộ phận hợp thành dân số gọi chung là kết cấu dân số Kết cấu dân
số gồm kết cấu sinh học (kết cấu theo độ tuổi, giới tính), kết cấu theo dân tộc ( kết cấu theo thành phần dân tộc, kết cấu theo quốc tịch) và kết cấu xã hội của dân cư ( kết cấu giai cấp, kết cấu theo lao động, kết cấu theo trình độ văn hóa)
Phân bố dân cư là sự sắp xếp số dân một cách tự phát hoặc tự giác trên một lãnh thổ phù hợp với điều kiện sống cũng như các yêu cầu khác của xã hội.
Mật độ dân số là một phép đo dân số trên đơn vị diện tích hay đơn vị thể tích Nó thường được áp dụng cho các sinh vật sống nói chung, con người nói riêng
Ví dụ: Mật độ dân số Việt Nam là 279,7 người/km2 đến tháng Hai năm 2016 Mật độ dân số được tính như vĩnh viễn dân số ổn định của Việt Nam chia cho tổng diện tích của đất nước Tổng diện tích là tổng
Trang 3diện tích đất và nước trong phạm vi ranh giới và bờ biển của Việt Nam Tổng diện tích của Việt Nam là
331 212 km2 (nguồn: Phòng Thống kê của Liên Hợp Quốc.)
1.2 Đối tượng nghiên cứu của Dân số học
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về đối tượng nghiên cứu của dân số học, trong đó có 2 quan điểm được sử dụng rộng rãi hơn cả là:
- Thứ nhất, theo tác giả Tống Văn Đường trong “Dân số học” (1998) cho rằng, dân số học nghiên cứu cả trạng thái tĩnh và trạng thái động dân cư.
Trạng thái tĩnh: Nghiên cứu dân số trong sự phân bố dân cư tại một thời điểm xác định, bao gồm các yếu
tố như số lượng, phân bố, cơ cấu dân số theo một hay nhiều tiêu chí nào đó.
Ví dụ: Theo điều tra của Tổng cục thống kê (Việt Nam), tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, trên toàn Việt Nam có 85.846.997 người Quy mô phân bố ở các vùng kinh tế - xã hội, trong đó đông dân nhất là vùng Đồng bằng sông Hồng với khoảng 19,5 triệu người, kế tiếp là vùng bắc Trung bộ và duyên hải nam Trung
bộ với khoảng 18,8 triệu người, thứ ba là vùng đồng bằng sông Cửu Long với khoảng 17,1 triệu người
Vùng ít dân nhất là Tây Nguyên với khoảng 5,1 triệu người (Nguồn: Điều tra dân số của tổng cục thống
kê 2009)
Trạng thái động: bao gồm biến động tự nhiên, biến động cơ học và biến động xã hội.
+ Biến động tự nhiên của dân số gồm quá trình sinh và tử.
+ Biến động cơ học của dân số là các kết quả quá trình chuyển cư (tức là quá trình đi cư đi hay di cư đến) + Biến động xã hội là sự thay đổi về cơ cấu xã hội của nhóm dân cư
Kết quả của ba dạng biến động này là tập hợp của dân cư đổi mới liên tục hay là xảy ra quá trình tái sản xuất dân số.
- Thứ hai, Dân số học nghiên cứu quá trình tái sản xuất của dân số Tái sản xuất dân số là quá trình thay đổi liên tục, không ngừng đổi mới về lượng và chất giữa các thế hệ người (trẻ hay già) thông qua hai quá trình sinh và tử trong những điều kiện lịch sử xã hội nhất định.
Hiện nay có hai quan điểm nghiên cứu tái sản xuất dân số:
- Quan điểm 1 (nghĩa hẹp): là quá trình thay thế không ngừng các thế hệ dân số kế tiếp nhau thông qua các
sự kiện sinh và tử Nghiên cứu tính quy luật của các quá trình sinh, chết, hôn nhân (kết hôn, ly hôn, ly thân) Nghiên cứu sự biến động về cơ cấu, tuổi, giới tính, cơ cấu dân cư theo tình trạng hôn nhân và gia đình.
Theo nghĩa hẹp, sự di chuyển này không làm thay đổi số lượng cơ cấu dân số của cả nước nhưng thực tế
nó làm thay đổi cấu trúc dân số của các vùng, thay đổi điều kiện sống của những người di cư cũng như những người dân không di cư hay tập quán dân cư ở những vùng có người đi và vùng có người đến Đây là
Trang 4quan điểm nghiên cứu dân số học thuần túy Không nghiên cứu và phân tích mối quan hệ giữa các quá trình dân số với các điều kiện kinh tế xã hội.
- Quan điểm 2 (nghĩa rộng): là quá trình thay thế không ngừng các thế hệ dân số kế tiếp nhau thông qua các sự kiện sinh, tử và di cư Nghiên cứu tái sản xuất dân cư theo nghĩa rộng là nghiên cứu tổng hợp cả biến động tự nhiên, biến động cơ học và biến động xã hội của dân số tức là quá trình tái sản xuất dân cư có mối quan hệ với điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội cụ thể.
1.3 CÁC PHƯƠNG PHÁP THU THẬP THÔNG TIN TRONG DÂN SỐ HỌC
Để nghiên cứu các nội dung nghiên cứu trong dân số học, các nhà nghiên cứu sử dụng hệ thống các phương pháp khác nhau: phương pháp thống kê, xã hội, toán học, bản đồ, mô hình hoá
Ở Việt Nam, người ta đã và đang sử dụng phương pháp sau đây để thu thập các số liệu và các thông tin về dân số và kế hoạch hóa gia đình:
- Tổng điều tra dân số
- Thống kê thường kỳ
- Điều tra chọn mẫu
Tùy theo mỗi phương pháp thu thập, các số liệu được tập hợp lại sẽ có sự khác biệt mà người cần
sử dụng cần phải hiểu rõ ràng để sử dụng được những số liệu này một cách hiệu quả và đúng mục đích cụ thể đặt ra.
1.3.1 Tổng điều tra dân số
Đợt Tổng điều tra dân số chính thức đầu tiên ở Việt Nam được thực hiện vào năm 1926, ở vùng Nam Bộ Tiếp đến là cuộc điều tra ngày 1 tháng 3 năm 1960 và ngày 1 tháng 10 năm 1974 ở miền Bắc, ngày 5 tháng 2 năm 1976 ở miền Nam Cuộc Tổng điều tra dân số đầu tiên trong cả nước được thực hiện ngày1 tháng 4 năm 1989, và lần gần đây nhất là ngày 1 tháng 4 năm 2009 Tổng điều tra dân số năm 1989 được thực hiện bằng các phương pháp hiện đại và có sự trợ giúp của Liên hợp quốc.
1.3.1.1 Khái niệm, đặc điểm và mục đích của tổng điều tra dân số
Theo định nghĩa của Ủy ban Thống kê Liên hợp quốc, “Tổng điều tra dân số là một quá trình thống nhất, bao gồm việc thu thập, tổng hợp, đánh giá, phân tích và công bố hay phổ biến các số liệu tương quan với tình hình dân số của cả nước (hay một phần lãnh thổ), vào một thời điểm nhất định dựa trên bình diện dân số, kinh tế, văn hóa và xã hội”
Tổng điều tra dân số có những đặc điểm sau:
- Toàn diện: Điều tra dân số được tiến hành đối với toàn bộ vùng lãnh thổ xác định Mỗi người buộc phải cung cấp các thông tin, đây không phải là một cuộc điều tra dựa trên sự tự nguyện.
- Đồng thời: Các số liệu được tập hợp ở một thời điểm xác định gọi là “thời điểm điều tra dân số”.
- Thống nhất: Cần xác định một cách hệ thống các vấn đề điều tra, sao cho việc cung cấp các câu trả lời và xử lý số liệu thu thập phải theo cùng một nguyên tắc.
- Cá nhân: Việc cung cấp thông tin về mỗi cá nhân được tiến hành bằng các phỏng vấn trực tiếp hay thông qua liên lạc (chẳng hạn qua thư hay gọi điện thoại).
Trang 5Điều tra dân số có các mục đích khác nhau:
- Cung cấp các số liệu đầy đủ, hữu ích, để dựa vào đó người ta có thể lập kế hoạch cho việc phát triển kinh tế - xã hội.
- Đánh giá một cách khoa học về số dân và nguồn nhân lực trong tương lai để làm cơ sở cho việc
1.3.1.2 Quy mô, tên gọi và đơn vị điều tra dân số
Việc điều tra dân số bắt đầu từ phần đăng ký của mọi tầng lớp nhân dân trong cả nước Chia dân số
ra làm 3 loại: dân số hợp pháp, dân số thực tế và dân số “thường trực”.
Dân số hợp pháp là tất cả những người có tên trong sổ hộ khẩu cũng như nơi thường trú hay đăng
ký theo quy định hiện hành.
Dân số thực tế là những người có mặt tại một đơn vị hành chính vào thời điểm của cuộc điều tra, không tính đến thời gian có mặt, có tên hay không có tên trong hộ khẩu hay nơi đăng ký thường trú.
Dân số “thường trú” là tất cả những người có mặt thường xuyên tại một đơn vị hành chính nhất định.
Lịch sử các cuộc điều tra dân số cho thấy số dân hợp pháp khác với số dân thực tế (dân số “thường trú” hay dân số thực tế) Các trường hợp bỏ sót khi điều tra dân số thường trú ít hơn khi điều tra số dân thực tế.
Thực tế đó cho thấy, dù cho dân số điều tra thuộc loại nào, người ta vẫn gặp những khó khăn nhất định Đặc biệt trong việc tổ chức và quản lý một cuộc điều tra, cũng như trong việc khai thác và sử dụng
số liệu Tuy nhiên đa số các nước châu Âu đã tiến hành các cuộc điều tra dân số đồng thời cả hai loại: Dân
số thực tế và dân số “thường trú” Thu thập cùng một lúc những số liệu về hai loại dân số này sẽ không chỉ giúp cho việc kiểm tra một cách dễ dàng mức độ chính xác hay bỏ sót trong các công bố về dân số (số dân thực tế = dân số ở những nơi đăng ký hộ khẩu thường trú + dân số có mặt tạm thời), mà nó còn giúp cho việc lập kế hoạch (những kế hoạch liên quan đến việc trồng cây lương thực, thực phẩm, y tế, các phương tiện giao thông, khách sạn, nhà nghỉ,.v.v).
Tùy theo điều kiện và khả năng riêng của mỗi nước, các cuộc Tổng điều tra dân số ở Vịêt Nam chỉ dựa trên số dân thường trú.
Trong các cuộc Tổng điều tra, thông tin được thu thập một cách cá nhân Nhưng gia đình lại được coi là một đơn vị quan sát và các thông tin thường được cung cấp bởi đại diện của gia đình vì một số người trong gia đình có thể vắng mặt và một số khác không thể khai báo vì lý do sức khỏe, hoặc có vấn đề
về trí nhớ, hay là họ không biết làm, đặc biệt là trẻ em.
Trang 61.3.1.3 Nội dung Tổng điều tra
Nội dung của Tổng điều tra dân số thông qua bảng câu hỏi điều tra Bảng hỏi chia làm ba phần chính: Phần địa chỉ, nội dung chính và phần có liên quan đến các vấn đề khác (nếu có).( xem phụ lục - Ban chỉ đạo
điều tra dân số và nhà ở trung ương, 2009, Phiếu điều tra dân số và nhà ở.)
Nội dung chính của bảng hỏi gồm tất cả những thông tin đáp ứng mọi yêu cầu về chỉ số tổng hợp
đã được xác định đối với cuộc Tổng điều tra dân số
- Giới tính.
- Ngày, tháng, năm, sinh hay tuổi.
- Dân tộc, tôn giáo.
- Ngành kinh tế trong nền kinh tế quốc dân.
1.3.1.4 Phương tiện điều tra
Phương tiện điều tra gồm bảng câu hỏi điều tra và một tài liệu hướng dẫn điều tra Bảng câu hỏi có hai hình thức: một là danh sách được sử dụng bởi nhiều người (nói chung là dành cho gia đình) và một bảng câu hỏi dành cho mỗi cá nhân Tại Việt Nam, chỉ có cuộc Tổng điều tra vào năm 1979 là sử dụng những bảng câu hỏi cá nhân đặt trong một phong bì dành cho từng hộ Các cuộc Tổng điều tra dân số khác
sử dụng bảng hỏi gia đình.
Ngoài ra, người ta còn sử dụng các tài liệu chuyên biệt như: sổ hướng dẫn thực hiện, biểu, bảng, giấy kiểm tra, sổ tay dành cho các cán bộ điều tra và các tổ trưởng, giấy chứng nhận điều tra, v.v…
Trang 71.3.1.5 Các phương pháp Tổng điều tra dân số
Tổng điều tra dân số thường dựng hai phương pháp truyền thống Cách thứ nhất là phương pháp phỏng vấn theo bảng hỏi Cách thứ hai là trưng cầu ý kiến Khi tập hợp các câu hỏi, cán bộ điều tra chỉ cần kiểm tra xem những câu trả lời có điền đúng vào mỗi cột hay không.
Tất cả những cuộc Tổng điều tra dân số ở Việt Nam đều được sử dụng phương pháp phỏng vấn.
1.3.1.6 Thời điểm chính xác, ngày và thời gian của cuộc Tổng điều tra dân số
Dân số thay đổi chỗ ở, biến đổi liên tục, nhưng những biến động này không diễn ra như nhau ở các giai đoạn trong năm Vì vậy, cần lựa chọn ngày, giờ, tháng hay khi dân số ít biến đổi nhất và khi các điều kiện khí hậu thuận tiện nhất để tổ chức Tổng điều tra dân số Thời điểm chính xác của Tổng điều tra dân số thường được xác định vào 0 giờ của ngày bắt đầu cuộc Tổng điều tra.
Cũng cần xác định thời gian tiến hành Tổng điều tra dân số Khoảng thời gian này phụ thuộc vào quy mô dân số, môi trường địa lý, nội dung của bảng hỏi, số lượng và kinh nghiệm của cán bộ điều tra và phương pháp (hỏi trực tiếp hay cá nhân điền vào) Tuy nhiên thời gian càng kéo dài thì càng ảnh hưởng đến chất lượng của cuộc điều tra Ở Việt Nam, ngày tiến hành Tổng điều tra dân số là 0 giờ ngày 1 - 4 (trừ khi xảy ra các biến cố bất ngờ) và thời gian kéo dài thường được xác định là 7 ngày
1.3.1.7 Tổ chức Tổng điều tra dân số
Dự án Tổng điều tra dân số và các hướng dẫn để thực hiện, lập kế hoạch và tổng hợp số liệu là những nhiệm vụ hàng đầu của Tổng điều tra dân số Hơn nữa, cần tổ chức các cuộc thử nghiệm để hoàn thành dự án và Kế hoạch của Tổng điều tra dân số.
Để tránh việc bỏ sót các gia đình hay các điểm dân cư, trong giai đoạn chuẩn bị cần lập danh sách các nơi ở hay nơi có thể có người ở: đó là danh sách các điểm dân cư, số lượng nhà ở và số lượng các gia đình Các danh sách này dựng làm cơ sở cho việc phân chia trách nhiệm giữa các cán bộ điều tra Để phục
vụ Tổng điều tra dân số, người ta cần sử dụng các sơ đồ, bản đồ Đơn vị nhỏ nhất được giao cho mỗi cán
bộ điều tra Các tấm bản đồ thường được sử dụng làm cơ sở cho việc kiểm tra và xác định giới hạn khu vực hành chính theo các cấp khác nhau, nhất là đối với các cấp cơ sở.
Đối với cuộc Tổng điều tra dân số ở Việt Nam, người ta thường sử dụng tài liệu đối chiếu, trong đó quan trọng nhất là đăng ký hộ khẩu của Bộ Công an, nhất là khi cần kiểm tra diện tích, chuẩn bị danh sách
số hộ gia đình, số nhà ở và số dân ở mỗi cụm dân cư.
Lựa chọn các cán bộ điều tra là một việc làm cực kỳ quan trọng, vì họ là những người quyết định chất lượng của cuộc Tổng điều tra dân số Thường các cán bộ điều tra được lựa chọn trong số những người
có trình độ học vấn tương đối cao, như các cán bộ Nhà nước, giáo viên, sinh viên… Họ phải nắm bắt các phương pháp và hiểu các tài liệu về điều tra dân số một cách thống nhất Khi kết thúc lớp đào tạo cán bộ điều tra dân số, cần có một cuộc kiểm tra thử nghiệm và giảm bớt những người không đáp ứng đầy đủ những điều kiện cần có để tiến hành công việc.
Việc in ấn và phân phát các tài liệu, các mẫu điều tra, chuẩn bị các phương tiện kỹ thuật và công tác phục vụ khác cũng rất quan trọng Cần phải tính đến những trục trặc có thể bất ngờ xảy ra khi đang tiến hành Tổng điều tra dân số (hỏa hoạn, mất mát, mối nhọt gặm nhấm tài liệu, v.v.).
Ngoài ra cần tuyên truyền và giải thích cho mỗi người dân nắm được mục đích và ý nghĩa của
Trang 8Tổng điều tra dân số, đồng thời hiểu được nội dung và cách trả lời các câu hỏi Để làm được điều này, cần
sử dụng rộng rãi và có hiệu quả các phương tiện in ấn, phát thanh, truyền hình, phim ảnh, quảng cáo, khẩu hiệu, v.v (Nguyễn Thị Kim Hoa, 2014,tr.12)
1.3.1.8 Tổng hợp các số liệu về nhân khẩu
Ở cấp tổ của Tổng điều tra dân số là cấp xã (phường), trước khi chuyển các tài liệu cho cấp trên cần phải bảo đảm rằng số liệu của chúng trùng với các sơ đồ và danh sách số nhà, số hộ gia đình và số người dân Cần kiểm tra lại nội dung và hình thức của mỗi bảng hỏi Trước khi chuyển đi cho cấp trên, ở mỗi cấp cần làm một bản tổng hợp ban đầu về kết quả Chỉ số tổng hợp ban đầu chính là tổng số dân, ở đây người ta có thể thêm vào số nam giới, nữ giới hay nhóm tuổi đặc biệt (Nguyễn Thị Kim Hoa, 2014,tr.12-13)
Giai đoạn tiếp theo là nhập các số liệu cần thiết vào máy tính để tổng hợp Chất lượng số liệu phụ thuộc rất nhiều vào việc thu thập và mã hóa thông tin, quá trình mã hóa sẽ dễ dàng nếu các câu trả lời được viết theo các mẫu được thiết lập sẵn Chẳng hạn, đối với những câu hỏi về tình trạng hôn nhân, người ta chỉ có thể lựa chọn một trong những câu trả lời sau đây: Độc thân, đã có gia đình, góa, ly hôn hay ly thân.
Các số liệu tổng điều tra dân số thường được trình bày dưới dạng biểu có hai biến Các chỉ tiêu giới tính và lứa tuổi thường được kết hợp với hầu hết các chỉ tiêu khác Nghề nghiệp thường được kết hợp với trình độ văn hóa, nhóm xã hội,… (Nguyễn Thị Kim Hoa, 2014,tr.8 -13)
Biểu đồ: Dân số chia theo thành thị/ nông thôn, giói tính, các vùng kinh tế- xã hội và tỉnh thành phố,
1/4/2009
Trang 9(Nguồn: Ban chỉ đạo điều tra dân số và nhà ở trung ương, 2009, Kết quả toàn bộ tổng điều tra dân số và
nhà ở Việt Nam, năm 2009.)
1.3.2 Thống kê dân số định kỳ
Theo Lênin, thống kê là công cụ mạnh mẽ nhất để nhận thức xã hội Vì thế, các phương pháp thống
kê thường được vận dụng rộng rãi trong dân số học, từ việc thu thập số liệu đến việc xử lý và trình bày các
số liệu dân số.
1.3.2.1 Thống kê những biến động tự nhiên về dân số
Các cuộc Tổng điều tra dân số chỉ cung cấp các số liệu về số dân hiện có và cơ cấu dân số vào một thời điểm nhất định Dân số thay đổi thường xuyên theo thời gian và không gian Đặc biệt trong những khoảng thời gian dài giữa hai cuộc Tổng điều tra dân số, thường là 10 năm Vì vậy, cần theo dõi một cách đều đặn những thay đổi diễn ra trong dân số mà trước hết là những biến động tự nhiên như sinh, chết, kết hôn và ly hôn.
- Mạng lưới đăng ký của các tổ chức y tế.
- Mạng lưới đăng ký nơi cư trú.
Ở hầu hết các nước, việc ghi chép các biến động tự nhiên dựa trên mạng lưới đăng ký hộ tịch và có
ưu điểm: Nó được thực hiện theo phạm vi hành chính, người ta có thể ghi lại tất cả các sự kiện; và sử dụng một phương tiện thống nhất Thông thường sử dụng mạng lưới đăng ký hộ khẩu kết hợp với đăng ký của các cán bộ y tế.
Chính quyền địa phương có trách nhiệm ghi lại những biến động tự nhiên về dân số Cán bộ làm nhiệm vụ này, cần được lựa chọn theo những tiêu chuẩn nhất định Các tiêu chuẩn này phụ thuộc vào sự phát triển của mỗi nước.
Ở hầu hết các nước, cha mẹ có trách nhiệm khai sinh cho con mình Nhưng ở một số nước, trách nhiệm này lại thuộc về các cán bộ y tế.
Về khai tử, trách nhiệm thuộc về người thân của người bị mất, bác sỹ hay người có trách nhiệm mai táng Tuy nhiên, việc khai tử thường do thân nhân của người chết thực hiện Họ không chỉ khai báo
mà còn làm các thủ tục khác.
Khi đăng ký kết hôn, các thông tin cần thiết sẽ được người vợ hay người chồng hoặc người đứng ra
tổ chức lễ cưới cung cấp Có rất nhiều trường hợp ở một nơi nhưng lại có đăng ký hộ khẩu ở nơi khác (ở quê gốc) Điều này càng làm phức tạp hơn việc theo dõi tình trạng hôn nhân của họ.
Trách nhiệm khai báo việc ly hôn thuộc về người vợ hoặc người chồng Ở các nước việc ly hôn phụ thuộc quyết định của tòa án Đa số các nước đều quy định thời hạn khai báo hợp pháp các sự kiện khi
Trang 10nó xảy ra.
- Nội dung ghi chép
Nội dung ghi chép những biến động tự nhiên phụ thuộc vào quy định pháp lý, các tài liệu thu thập
và các đặc điểm của từng sự kiện.
Tuổi, ngày tháng, năm sinh, giới tính, dân tộc, tình trạng hôn nhân, nơi cư trú, đặc điểm kinh tế- xã hội,.v.v của những người có liên quan đến sự kiện.
Nội dung của giấy khai sinh không chỉ có các vấn đề đặc trưng của đứa trẻ mới sinh mà còn liên quan đến cha mẹ như: người mẹ bao nhiêu tuổi? Có mấy người con? Đã sinh bao nhiêu lần? Sinh một, sinh đôi hay sinh ba?, v.v.
Nội dung khai tử thường là ngày, địa điểm, nguyên nhân chết và bắt buộc phải ghi tuổi, giới tính của người chết Nội dung về nghề nghiệp, tình trạng việc làm và các chỉ số khác như tuổi của vợ (chồng) còn sống? Số con đã sinh ra…Ở nhiều nước, người ta quan tâm nhiều đến nguyên nhân tử vong.
Nội dung đăng ký kết hôn và ly hôn đều có các câu hỏi tương tự Mặt khác, trong giấy đăng ký kết hôn, có các câu hỏi về quan hệ huyết thống, tình trạng hôn nhân, số con của hai vợ chồng trước khi cưới Đối với giấy ly hôn, cũng có các câu hỏi như người kết hôn, số con, nguyên nhân ly hôn,v.v
- Tổng hợp các số liệu
Việc xử lý các số liệu thống kê về các biến động dựa vào các thông tin ghi chép được Thống kê dân số thường kỳ, được thực hiện đơn giản hơn, chủ yếu là do giới tính và theo nhóm tuổi từ 5- 10 tuổi Khi tổng hợp theo nhóm tuổi, cần chia thành nhóm trẻ em dưới 5 tuổi và nhóm trẻ em dưới 1 năm Ở nhóm dưới 5 tuổi, cần tổng hợp từng độ tuổi và nhóm dưới 1 tuổi cần tổng hợp theo tháng Người ta đặc bịêt cần đến những thông tin này khi nghiên cứu tỷ lệ chết của trẻ em.
Trên thực tế việc phân chia theo nhóm số sinh còn kết hợp với những đặc trưng nhân khẩu học và kinh tế- xã hội của cha mẹ, đặc biệt là của người mẹ Chẳng hạn, số con sinh ra được phân chia ra theo các đặc điểm của cha mẹ: tuổi, tình trạng hôn nhân, số sinh v.v.
Khi tổng hợp số lượng người chết, phân chia theo nhóm: tuổi, giới tính, đặc trưng kinh tế- xã hội v.v Khi chia ra thành các nhóm kết hợp, người ta chia số người chết theo giới tính và tuổi, nguyên nhân tử vong và nhóm tuổi Việc phân chia theo nhóm số người tử vong dựa vào nguyên nhân chết của tổng số dân
và nhóm tuổi là khác nhau.
Việc phân chia nhóm các cặp vợ chồng, đối với mỗi giới và cả hai giới, được thực hiện theo tuổi và tình trạng hôn nhân Trường hợp ly hôn, được phân chia theo tuổi và thời gian chung sống, số lượng con của cặp vợ chồng v.v Điều này cho phép nghiên cứu các nhóm tuổi của những người lập gia đình, và nhóm lứa tuổi nào tình trạng hôn nhân kém bền vững hơn các nhóm khác (Nguyễn Thị Kim Hoa, 2014,tr.14)
Trang 11dân số của một đơn vị hành chính nào đó, ở một giai đọan nhất định giữa hai cuộc Tổng điều tra dân số, với những số liệu thống kê về biến động tự nhiên Đồng thời cũng xác định các ảnh hưởng của di cư tới cơ cấu dân số của nơi đi cũng như nơi đến (đặc biệt là cơ cấu của nguồn nhân lực) Các số liệu về di cư giúp cho việc nghiên cứu các luồng di cư trong một nước - từ vùng này đến vùng khác, từ nông thôn ra thành phố và ngược lại v.v cũng như việc đi ra nước ngoài.
Việc tổ chức thống kê thường kỳ tình trạng di cư về cơ bản giống như việc tổ chức thống kê các biến động tự nhiên, vì việc thay đổi chỗ ở thường kéo theo các thủ tục đăng ký thường trú Các nguyên tắc đăng ký thường trú giống như các nguyên tắc đăng ký hộ tịch Tuy nhiên, ở nhiều nước, việc thay đổi nơi
ở của người dân trong cùng một lãnh thổ không đòi hỏi thủ tục xin cấp giấy phép di chuyển Vì vậy, các thống kê về tình trạng di cư trong nước là việc làm khó khăn Để kiểm tra một cách chính xác và đầy đủ các trường hợp di cư cần xác định số trẻ em đi kèm cha mẹ chúng.
Nội dung của việc đăng ký tổng hợp các tài liệu thống kê thường kỳ về tình trạng di cư của nhân dân thay đổi theo từng nước và từng thời kỳ, nhưng một số thông tin chính vẫn luôn luôn được đảm bảo.
Đó là cơ cấu di cư theo giới tính và tuổi và cũng như các đặc điểm về hướng di chuyển (nơi đi, nơi đến v.v.).
Ở Việt Nam hiện nay hệ thống này bao gồm:
- Hệ thống các báo cáo định kỳ về dân số và biến động dân số của Tổng cục thống kê.
- Hệ thống đăng ký, thống kê hộ tịch của Bộ Tư pháp.
- Hệ thống quản lý, đăng ký thường trú của Bộ công an.
- Hệ thống đăng ký, báo cáo thống kê về dân số và kế hoạch hóa gia đình của Ủy ban Quốc gia Dân
số và Kế hoạch hóa gia đình.
- Hệ thống theo dõi thống kê về Sức khỏe cộng đồng và sức khỏe bà mẹ, trẻ em.
Các hệ thống này vẫn còn những hạn chế và yếu kém trong việc thu thập các số liệu, đặc điểm riêng của hệ thống số liệu các nước đang phát triển (Nguyễn Thị Kim Hoa, 2014,tr.13 -17)
Trang 12(Nguồn: Tổng cục thống kê) 1.3.3 Điều tra mẫu
Như chúng ta đã thấy, tổng điều tra dân số và các số liệu thống kê thường kỳ thu thập các thông tin
về tổng số dân để phục vụ cho việc nghiên cứu Toàn bộ các số liệu này thường có quy mô lớn Bởi vậy, trên thực tế, người ta chỉ có thể nghiên cứu các yếu tố, các đặc trưng cơ bản của dân số Các kết quả điều tra này không thể đáp ứng những nhu cầu nghiên cứu chuyên sâu về các vấn đề xã hội, y tế hay thái độ của người dân với chương trình kế hoạch hóa gia đình Vì vậy, để nghiên cứu chuyên sâu, chẳng hạn như các điều tra nhân khẩu học và sức khỏe (DHS) hay nghiên cứu về những Hiểu biết, Thái độ và Áp dụng (CAP) của dân số, trong chương trình kế hoạch hóa gia đình, người ta chỉ cần tiến hành điều tra mẫu.
Trước kia, ở Việt Nam các số liệu không được đầy đủ, hạn chế và thiếu chính xác Tổng cục Thống
kê và một số ngành khác là những cơ quan đầu tiên áp dụng các phương pháp điều tra chọn mẫu để thu thập các số liệu theo yêu cầu.
Có rất nhiều cách để chọn mẫu, nhưng cách làm hay được sử dụng nhất là phương pháp xác suất,
và phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên.
Nguyên tắc của phương pháp xác suất là tất cả các chủ đề nghiên cứu đều có một xác suất như nhau để đưa vào mẫu.
Để thực hiện nguyên tắc này, người ta có thể:
- Rút thăm dựa trên một danh sách bao gồm tất cả số người đựơc nghiên cứu.
- Rút thăm ngẫu nhiên từng “nhóm”, có nghĩa là thay vì rút thăm từng người, người ta rút thăm từng nhóm người Chẳng hạn, để nghiên cứu về sự Hiểu biết, Thái độ và Áp dụng (CAP) của một tỉnh,
Trang 13chúng ta chỉ có danh sách các xã Người ta có thể rút thăm lựa chọn một số xã nào đó để nghiên cứu rồi điều tra toàn bộ số dân của các xã đó Chúng ta cũng có thể rút thăm một lần nữa chọn ra một số người nào
đó để nghiên cứu Có nghĩa là phải tiến hành rút thăm ở nhiều mức độ.
Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên yêu cầu:
- Một cơ cấu mẫu đồng nhất với cơ cấu tổng thể theo một tiêu chí xác định.
- Các nhân tố nghiên cứu được lựa chọn một cách ngẫu nhiên.
1.3.3.1 Điều tra chọn trên các mẫu được lựa chọn khi tổng điều tra dân số
Dựa trên nền tảng của cơ cấu hành chính, các đặc trưng của việc điều tra, các loại chỉ số, độ chính xác của số liệu, và nhu cầu về thông tin của các cấp khác nhau, cỡ mẫu của điều tra trong hai cuộc Tổng điều tra 1989 và 2009 tương ứng là 5% và 3%, chỉ đại diện cho cấp tỉnh Trong Tổng điều tra năm 2009, điều tra mẫu sẽ đưa ra số liệu đại diện cho đến cấp huyện Quy mô mẫu này sẽ đại diện cho tất cả các tỉnh, thành phố cả nước
Cách phân chia thành nhóm đã được thực hiện trong mẫu 5% để tăng cường mức độ chính xác của các đánh giá 40 tỉnh và thành phố được chia thành 40 nhóm chính Khu vực thành thị và nông thôn của mỗi tỉnh được chia thành các nhóm nhỏ Vùng của các nhóm nhỏ đã được sắp xếp theo một thứ tự nhất định và phương pháp rút thăm hệ thống được áp dụng cho mỗi nhóm (Nguyễn Thị Kim Hoa, 2014, tr.18)
Việc phân chia các khu vực mẫu cho mỗi tỉnh và thành phố đã được thực hiện theo phương pháp xác suất nghịch đảo, có nghĩa là các tỉnh và các thành phố có dân số ít sẽ có một tỷ lệ thăm dò cao hơn và ngược lại Đa số các tỉnh và thành phố có từ 100 đến 200 địa bàn điều tra mẫu, chỉ có 4 tỉnh và thành phố
có dưới 100 địa bàn điều tra mẫu.
Một cuộc điều tra khác cũng được tiến hành khi tiến hành Tổng điều tra ngày 1-4-1999 trên một mẫu lớn hơn để làm đại diện chính xác cho 61 đơn vị hành chính mới Cuộc điều tra về điều kiện cư trú này liên quan đến 100% dân số.
1.3.3.2 Điều tra Nhân khẩu học và Sức khỏe (DSH)
Cuộc điều tra đầu tiên về Nhân khẩu học và Sức khỏe được Ủy ban Quốc gia Dân số và Kế hoạch hóa gia đình thực hiện vào năm 1988 Cuộc điều tra năm 2002 đã được thực hiện bằng cách tập hợp các số liệu về mức sinh sản, việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình, các đặc trưng của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ
và các thông tin hữu ích khác cho những người soạn thảo chương trình kế hoạch hóa gia đình và xây dựng các chính sách dân số Các số liệu điều tra cũng cho phép đánh giá hiệu quả của các chương trình kế hoạch hóa gia đình.
Điều tra Nhân khẩu học và Sức khỏe đã được văn phòng thường trực của Ủy ban Quốc gia Dân số
và Kế hoạch hóa gia đình thực hiện với sự trợ giúp tài chính của Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) thông qua dự án VIE/87/P04 Các cán bộ thuộc Văn phòng thường trực của Ủy ban Quốc gia Dân số và Kế hoạch hóa gia đình đã thực hiện toàn bộ cuộc điều tra, từ việc chọn mẫu, nội dung của bảng hỏi và tài liệu hướng dẫn đến việc đi điều tra, xử lý và phân tích số liệu Một số viện nghiên cứu như Viện Xã hội học (Viện Khoa học xã hội), Viện tính toán và điều khiển (Trung tâm Khoa học và Công nghệ Quốc gia), Viện bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em (Bộ y tế) và Viện Khoa học Thống kê (Tổng cục thống kê) đã cùng cộng tác chặt chẽ trong các lĩnh vực có liên quan Tiểu ban Dân số thuộc Ban Kinh tế và Xã hội khu vực châu Á
Trang 14- Thái Bình Dương (ESCAP) đã giúp đỡ cuộc điều tra về mặt kỹ thụât, đặc biệt trong việc chọn mẫu, xử lý
và phân tích số liệu.
Điều tra Nhân khẩu học và Sức khỏe đã được thực hiện dựa trên một mẫu cho phép đánh giá tình hình ở miền Bắc và miền Nam, ở nông thôn và thành thị, 151 xã của 12 tỉnh và thành phố đã được chọn làm một đơn vị mẫu Trên 151 xã, phường này, 4.806 hộ với tổng số 25.386 người dân đã được lựa chọn
để điều tra Trong số đó có 4.172 phụ nữ có gia đình và trong độ tuổi sinh đẻ (15-49) là những đối tượng trả lời phiếu cá nhân
Hai loại bảng hỏi dựa trên mẫu bảng hỏi của DHS (sử dụng ở các nước có tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai cao), đã được sử dụng cho điều tra Nhân khẩu học và Sức khỏe có sự điều chỉnh cho phù hợp với hoàn cảnh và khả năng của Việt Nam Bảng hỏi dành cho hộ gia đình của điều tra Nhân khẩu học
và Sức khỏe ở Vịêt Nam gần như hoàn toàn giống như bảng hỏi gốc.
Bảng hỏi này được sử dụng để các hộ khai báo tất cả các thành viên của gia đình và những người
có mặt trong gia đình vào đêm trước điều tra Các thông tin thu thập gồm có nơi ở, giới tính, tuổi và tình trạng hôn nhân (Nguyễn Thị Kim Hoa, 2014, tr.18-19)
Bảng hỏi cá nhân được sử dụng để phỏng vấn những người phụ nữ đã lập gia đình và trong độ tuổi sinh đẻ (15-49), gồm 7 phần sau:
- Các đặc trưng của đối tượng điều tra.
- Lịch sử sinh sản.
- Sử dụng các phương pháp tránh thai, nạo phá thai.
- Sức khỏe và cho con bú.
- Kết hôn.
- Mức sinh mong muốn.
- Đặc trưng cơ bản của người chồng và tình trạng nghề nghiệp của người vợ.
1.3.3.3 Điều tra Nhân khẩu giữa kỳ năm 1994 và 2002
Điều tra Nhân khẩu giữa kỳ năm 1994 do Tổng cục Thống kê thực hiện, với sự trợ giúp tài chính của FNUAP (UNFPA), thông qua dự án VIE/93/p03 cùng với Ủy ban Quốc gia Dân số và Kế hoạch hóa gia đình Nhóm hỗ trợ kỹ thuật (CST) khu vực Đông Nam Á của FNUAP và Cục Thống kê Liên hợp quốc (UNSTAT) đã trợ giúp kỹ thuật điều tra, đặc biệt là chọn mẫu, xây dựng bảng hỏi điều tra, xử lý và phân tích các số liệu (Nguyễn Thị Kim Hoa, 2014, tr.20)
Công việc chính của cuộc điều tra bao gồm:
Trang 15- Phân tích các kết quả.
Mẫu điều tra nhân khẩu học giữa kỳ là một tập con của điều tra dân số lặp lại Giai đoạn này được Tổng cục Thống kê thực hiện hai lần một năm, nhằm tập hợp các số liệu về biến động dân số Mẫu của cuộc điều tra này vào khoảng 200.000 gia đình (1 triệu người) thuộc 1.122 địa bàn điều tra (282 ở thành thị và 840 ở nông thôn) nằm trong 291 quận (huyện) của 53 tỉnh, thành phố trong cả nước.
Người điều tra điền vào bảng hỏi cá nhân là những người phụ nữ đã lập gia đình ở độ tuổi sinh đẻ tuổi từ 15-49, thuộc các gia đình đã lựa chọn.
Có hai loại bảng hỏi đã được sử dụng trong điểu tra nhân khẩu học giữa kỳ năm 1994: bảng hỏi dành cho hộ gia đình được sử dụng cho mọi gia đình và bảng hỏi cá nhân, dành cho phụ nữ đã lập gia đình
ở độ tuổi 15- 49 tuổi
Bảng hỏi dành cho hộ gia đình được sử dụng nhằm ghi lại những người thường trú trong các hộ gia đình của mẫu điều tra Một số câu hỏi được đặt ra cho từng người như giới tính, tuổi, trình độ văn hóa, quan hệ với chủ hộ, cha mẹ của trẻ em dưới 10 tuổi còn sống hay đã chết, để tập hợp những đặc trưng cơ bản toàn bộ dân số của mẫu Một số thông tin được thu thập về điều kiện sống của các hộ gia đình, tình trạng sức khỏe của nhân dân cũng như nguồn cung cấp nước sạch, các thiết bị vệ sinh, các vật liệu xây dựng và các đồ đạc có giá trị.
Bảng hỏi cá nhân được sử dụng để thu thập thông tin về mỗi phụ nữ trong nhóm tuổi điều tra theo các chủ đề chính sau:
- Mức sinh mong muốn.
- Các đặc trưng cơ bản của người chồng.
- Những ý kiến của phụ nữ cao tuổi.
Cuộc điều tra Nhân khẩu học và sức khoẻ ở Việt Nam năm 2002 do dự án "Dân số và sức khoẻ gia đình" thuộc Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em thực hiện là một cuộc điều tra mẫu đại diện cho cả nước, với quy mô 5.665 phụ nữ đã từng kết hôn trong độ tuổi 15- 49, được chọn từ 205 địa bàn điều tra mẫu (Nguồn:Tổng cục thống kê Việt Nam, 2002)
Chương trình đó đánh giá những thay đổi của các chỉ báo về nhân khẩu và sức khỏe trong 5 năm để đưa đến những kết luận về:
- Mức tử vong của trẻ sơ sinh và trẻ em.
- Xu hướng và các yếu tố tác động đến mức sinh.
- Sức khỏe bà mẹ.
Trang 161.3.3.4 Các điều tra về mức sống của các hộ gia đình được thực hiện từ năm 1993 đến 2008
Do nội dung rất phức tạp, cuộc điều tra này đã được thực hiện trên 4.800 hộ gia đình thuộc 150 xã
và phường mẫu trong cả nước Đối với địa bàn nông thôn cuộc điều tra này có 3 bảng hỏi: (dẫn theo Nguyễn Thị Kim Hoa, 2014, tr.21)
- Bảng hỏi dành cho hộ gia đình.
- Bảng hỏi dành cho cộng đồng (xã).
- Bảng hỏi về giá cả.
Trên địa bàn thành thị, người ta chỉ cần sử dụng bảng hỏi hộ gia đình Có gần 700 câu hỏi về cuộc sống thường nhật và gần 320 câu hỏi về các loại cây trồng, vật nuôi và các sản phẩm Bảng hỏi cộng đồng gồm 150 câu hỏi, chia làm 5 khối: nhân khẩu học, kinh tế và cơ sở hạ tầng, giáo dục, sức khỏe và nông nghiệp Những người được hỏi là các cán bộ chủ chốt của xã, hợp tác xã, ngành giáo dục, y tế, một số nông dân lớn tuổi có kinh nghiệm, những người nắm bắt được những thông tin chính có liên quan đến cộng đồng Bảng hỏi về giá cả được sử dụng 3 lần ở 3 địa điểm khác nhau trên 88 thực phẩm cần thiết nhất mà các gia đình thường xuyên mua trên thị trường địa phương để phục vụ sản xuất và đời sống hàng ngày 1
Gần đây nhất là cuộc điều tra khảo sát mức sống hộ gia đình 2008 được triển khai trên phạm vi cả nước với quy mô mẫu 45.945 hộ (36.756 hộ điều tra thu nhập, 9.189 hộ điều tra thu nhập và chi tiêu) ở 3.063 xã/phường, đại diện cho cả nước, các vùng, khu vực thành thị, nông thôn và tỉnh/thành phố Cuộc Khảo sát thu thập thông tin theo 2 kỳ trong năm 2008 bằng phương pháp điều tra viên phỏng vấn trực tiếp chủ hộ và cán bộ chủ chốt của xã có địa bàn khảo sát 2
1.3.3.5 Điều tra Biến động Dân số và Kế hoạch hóa gia đình
Hộp 1.1 Điều tra biến động dân số và KHHGĐ 1/4/2007
1 Mục đích và yêu cầu của cuộc điều tra
Điều tra biến động dân số và kế hoạch hoá gia đình là cuộc điều tra chọn mẫu hàng
năm do Tổng cục Thống kê thực hiện Theo phương án Điều tra biến động dân số và kế
hoạch hoá gia đình ban hành kèm theo Quyết định số 1430/QĐ-TCTK ngày 15/2/2007
của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, mục đích, yêu cầu của cuộc điều tra là:
- Thu thập các thông tin cơ bản về số dân, tình hình biến động sinh, chết, di cư.
- Mức độ sử dụng các biện pháp tránh thai, tình hình hút điều hoà kinh nguyệt và
nạo phá thai.
- Thu thập các thông tin cơ bản phục vụ tính các chỉ tiêu thống kê quốc gia thuộc
nhóm các chỉ tiêu dân số.
Các thông tin đại diện cho từng tỉnh, thành phố, khu vực thành thị, nông thôn của
1 Patrick Gubry, Nguyễn Hữu Dũng, Phạm Thuý Hương (chủ biên) (2004), Dân số và phát triển ở Việt Nam, NXB Thế giới, tr
682 - 687
2 Tổng cục Thống kê (2009), Kết quả khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2008, NXB Thống kê, Hà Nội
Trang 17các vùng và cả nước.
2 Đối tượng và đơn vị điều tra
Cuộc điều tra chọn mẫu biến động dân số và kế hoạch hoá gia đình năm 2007 tiến hành điều tra toàn bộ các nhân khẩu thực tế thường trú của địa bàn mẫu tại thời điểm điều tra (0 giờ ngày 1 tháng 4 năm 2007) cùng tất cả các trường hợp chết xảy ra trong hộ trong khoảng thời gian từ ngày Mồng 1 Tết Bính Tuất năm 2006 (tức ngày 29/1/2006 theo dương lịch) đến hết ngày 31 tháng 3 năm 2007 và các trường hợp chuyển đến địa bàn trong 12 tháng trước thời điểm điều tra của tất cả các địa bàn mẫu đã được chọn.
Nhân khẩu thường trú trong hộ là những người thực tế thường xuyên ăn ở trong hộ hoặc mới chuyển đến sống ổn định tại hộ, không phân biệt người đó đã được ngành Công
an đăng ký hộ khẩu thường trú hay không.
Đơn vị điều tra là hộ Hộ bao gồm một người hoặc một nhóm người ở chung và ăn chung, họ có thể có hoặc không có quan hệ ruột thịt, có hoặc không có quỹ thu - chi chung, hoặc kết hợp cả hai.
3 Nội dung điều tra
Nội dung của phiếu điều tra bao gồm 3 phần: (i) các thông tin chung về dân số; (ii) thông tin về người chết của hộ và (iii) các thông tin liên quan đến sinh đẻ và sức khoẻ sinh sản của phụ nữ 15-49 tuổi.
Phần 1: Thông tin chung về dân số
Đối với tất cả các nhân khẩu trong hộ:
- Họ tên nhân khẩu thường trú.
- Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật cao nhất đã đạt được.
Đối với các nhân khẩu từ 15 tuổi trở lên:
- Tình trạng hôn nhân.
- Tháng năm xảy ra tình trạng hôn nhân hiện tại.
Phần 2: Thông tin về người chết của hộ
- Các thông tin về số người chết.
Trang 18- Các nhóm nguyên nhân chết.
- Tình hình tử vong mẹ.
Phần 3: Thông tin liên quan đến sinhđẻ và sức khoẻ sinh sản của phụ nữ 15-49 tuổi
- Số con đã sinh, số con đã chết và các thông tin về lần sinh gần nhất.
- Giới tính của trẻ sơ sinh.
- Tình hình sử dụng biện pháp tránh thai, hút điều hoà kinh nguyệt và nạo, phá thai.
- Tình hình biến chứng sau khi hút điều hoà kinh nguyệt và sau khi nạo, phá thai.
4 Tuyển chọn và huấn luyện cán bộ điều tra
Điều tra viên và tổ trưởng được tuyển chọn trên cơ sở có trình độ học vấn đủ để tiếp thu nghiệp vụ điều tra, có kinh nghiệm và hiểu biết về phong tục, tập quán của địa phương và có sức khoẻ để làm việc Nói chung, điều tra viên được tuyển chọn từ cán bộ địa phương còn tổ trưởng điều tra được tuyển chọn từ cán bộ thống kê huyện, quận Một
số nơi thuộc vùng sâu, vùng xa, không có khả năng tuyển chọn được điều tra viên theo tiêu chuẩn thì được hướng dẫn tuyển chọn các cán bộ từ nơi khác đến, chủ yếu là từ cán
bộ thống kê cấp huyện, quận.
Công tác huấn luyện nghiệp vụ điều tra cho điều tra viên và tổ trưởng được tiến hành trong 3 ngày Công tác huấn luyện được tiến hành theo 2 giai đoạn Giai đoạn 1 là huấn luyện ở Trung ương Trong giai đoạn này, mỗi tỉnh cử 2 cán bộ tham gia huấn luyện hoặc tại Hà Nội, hoặc tại Thành phố Hồ Chí Minh trong nửa đầu tháng 3 năm 2007 Công tác huấn luyện nghiệp vụ chủ yếu, bước 2, huấn luyện cho điều tra viên và tổ trưởng, được tiến hành trước khi tiến hành điều tra tại địa bàn.
5 Tổ chức điều tra và giám sát chất lượng
Công tác chuẩn bị và hậu cần đã đảm bảo cho tất cả các điều tra viên và tổ trưởng được trang bị các kiến thức cũng như các phương tiện cần thiết, có mặt đúng thời gian tại địa bàn được phân công, các điều tra viên và tổ trưởng sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ Theo qui định, cuộc điều tra được bắt đầu từ ngày 1 tháng 4 năm 2007 Trừ một số địa bàn ở vùng sâu, vùng xa, công tác điều tra ghi phiếu phải hoàn thành trong 10 ngày Trong thời gian này, điều tra viên phải đến từng hộ thuộc địa bàn điều tra của mình để phỏng vấn ghi phiếu Điều tra viên trực tiếp phỏng vấn chủ hộ về tất cả nhân khẩu thực tế thường trú trong hộ và phỏng vấn các phụ nữ trong độ tuổi 15 - 49 để thu thập thông tin
về mức độ sinh và kế hoạch hoá gia đình Trong trường hợp không gặp được chủ hộ, điều tra viên được hướng dẫn phỏng vấn người lớn có khả năng trả lời các câu hỏi của hộ đó Qui trình điều tra được áp dụng nghiêm túc sẽ đảm bảo cho thông tin thu được chính xác.
Tổ trưởng có trách nhiệm kiểm tra công việc của điều tra viên hàng ngày Ngoài việc kiểm tra uốn nắn các sai sót trong công tác điều tra ghi phiếu của điều tra viên, tổ trưởng còn có trách nhiệm kiểm tra ngẫu nhiên một số phiếu để đảm bảo điều tra viên thực hiện công việc của mình đạt chất lượng cao Sau khi đã được kiểm tra và làm sạch tại địa bàn,
Trang 19phiếu điều tra được chuyển về Cục Thống kê tỉnh, thành phố Công tác kiểm tra được
thực hiện để đảm bảo rằng, các phiếu điều tra đã được hoàn chỉnh.
6 Dàn chọn mẫu
Mẫu của cuộc điều tra Biến động dân số và KHHGĐ năm 2007 là mẫu đã được sử
dụng trong cuộc điều tra biến động dân số và KHHGĐ năm 2006, được chọn ngẫu nhiên
dựa trên dàn mẫu được thiết lập trong Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999.
7 Xác định cỡ mẫu và phân bổ mẫu
Để đảm bảo thu được các ước lượng mẫu đại diện cho cấp tỉnh, thành phố, mẫu
được phân bổ theo phương pháp tỷ lệ nghịch với quy mô dân số Kết quả là mỗi tỉnh đã
chọn được khoảng 60 địa bàn với quy mô bình quân 100 hộ/ địa bàn Hà Nội và Thành
phố Hồ Chí Minh là hai thành phố đông dân, phức tạp nhất cả nước đã chọn trên 70 địa
bàn Những tỉnh có quy mô dân số thấp cũng chọn được gần 60 địa bàn
Mẫu được điều tra là mẫu phân tầng, mỗi tỉnh/thành phố tạo thành một tầng chính
(64 tầng chính), sau đó được tách riêng theo hai tầng thứ cấp là “thành thị” và nông thôn”.
Việc phân bổ mẫu cho mỗi tầng được thực hiện theo phương pháp chọn hệ thống.
1.3.4 Phương pháp quan sát
1.3.4.1 Cách thức :
Người cán bộ đánh giá sẽ ghi lại những gì họ nhìn thấy và nghe thấy tại địa bàn bằng bảng quan sát Quan sát có thể được thực hiện với sự vật hiện tượng xung quanh, các hoạt động đang diễn ra, các quy trình.
Trang 20- Khi kiểm kê cơ sở vật chất và các đầu vào là cần thiết và không sẵn có trong các nguồn số liệu hiện có.
Ví dụ : Muốn tính số lượng nhà tình nghĩa đạt chuẩn tại một khu vực nào đó thì người cán bộ cần đến khu vực đó để quan sát để đưa ra số liệ
- Khi các phương pháp phỏng vấn không phát hiện được các thông tin cần thiết một cách chính xác và đáng tin cậy.
Ví dụ : Trong quá tình phỏng vấn đôi khi thông tin người dân cung cấp là không chuẩn xác nên người cán
bộ cần có sự nhạy bén trong quan sát để nhận định câu trả lời.
- Giúp hình thành các câu hỏi cho các phần phỏng vấn
1.3.4.3 Ưu và nhược điểm của phương pháp:
a, Ưu điểm :
- Giúp kiểm định lại kết quả sau điều tra
- Đảm bảo các qui trình chi tiết của cuộc điều tra.
b, Nhược điểm :
- Mang tính chủ quan của người quan sát Đối tượng được quan sát thông qua lăng kính chủ quan của người quan sát, vì vậy không thể tránh khỏi việc kết quả quan sát bị ảnh hưởng bởi thái độ của người quan sát đối với đối tượng đượcquan sát có thể là thiện cảm hay ác cảm… Vì vậy yêu cầu người cán bộ cần có
sự khách quan trong quan sát
- Chỉ sử dụng cho nghiên cứu đối tượng trong hiện tại vì con người không thể nhìn thấy được tương lai hay quá khứ Tính bao trùm bị hạn chế do người quan sát ko bao trùm đc mẫu lớn nên yêu cầu người cán
bộ khi quan sát cần có sự lựa chọn ra những mẫu điển hình để quan sát từ đó đưa ra kết quả tốt nhất.
Trang 21vậy cần trực tiếp hỏi để nắm bắt tâm tư tình cảm của đối tượng Như đánh giá chất lượng dạy học của một trường học không phải chỉ đánh giá qua cơ sở vật chất của trường mà còn cần phỏng vấn học sinh của trường về thái độ dạy học của giáo viên có tốt không, kiến thức được truyền tải có đúng giáo trình học không…
-Thông tin có chất lượng cao, độ tin cậy của thông tin có thể kiểm nghiệm thông qua quá trình phỏng vấn trong quá trình phỏng vấn, người phỏng vấn có thể nắm bắt thái độ của người trả lời thông qua nét mặt, của chỉ, tốc dộ lời nói… từ đó đánh giá độ chân thực của câu trả lời.
b, Nhược điểm :
- Mất thời gian, tốn kém Chẳng hạn như việc thực hiện một cuộc tổng điều tra, muốn thu thập số liệu từ người dân cư trú khu vực miềm núi thì yêu cầu một chi phí lớn cho việc đi lại, đồng thời do sự khác biệt
về ngôn ngữ nên ta còn mất một khoản chi phí để thuê người phiên dịch…
- Đôi khi thông tin người dân cung cấp cho không xác thực nên yêu cầu người phỏng vấn cần có độ nhạy bén.
Câu hỏi chương 1
1) Trình bày khái niệm và đối tượng nghiên cứu của dân số học?
2) Hãy trình bày các phương pháp thu thập thông tin của dân số học (Tổng điều tra dân số, Thống
kê dân số định kỳ, Điều tra mẫu)?
3) Nêu những ý nghĩa quan trọng của môn Dân số học?
Trang 22TÀI LIỆU THAM KHẢO
Nguyễn Thị Kim Hoa, 2014, Giáo trình Dân số học đại cương.
Ban chỉ đạo điều tra dân số và nhà ở trung ương, 2009, Phiếu điều tra dân số và nhà ở.
Ban chỉ đạo điều tra dân số và nhà ở trung ương, 2009, Kết quả toàn bộ tổng điều tra dân số và nhà ở Việt
Nam, năm 2009
Tổng cục thống kê, 2014, Kết quả điều tra dân số và nhà ở giữa kì năm 2014.
Trang 23ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- Hoàng Thị Kim Huyền
- Nguyễn Linh Trang
- Nguyễn Thị Châm
Hà Nội, tháng 3 năm 2016
Trang 24CHƯƠNG 2: CÁC HỌC THUYẾT VỀ DÂN SỐ
2.1 Các quan điểm về dân số.
Cho đến nay đã có rất nhiều các tư tưởng và học thuyết về dân số Các tác giả David Lucas & Paul Meyer đã tóm tắt quan điểm về dân số của một số học giả trên thế giới qua các giai đoạn lịch sử khác nhau như sau:
Bảng 2.1 Các tư tưởng và học thuyết về dân số
Các tư tưởng và học thuyết về dân số Khoảng thời gian Lĩnh vực quan tâm
Người Trung Quốc
Đạo Do Thái (ví
dụ: Kinh cựu ước)
• Sự tăng trưởng dân số là do ý muốn của Thượng
đế “hãy làm việc và sinh sôi”.
Đạo Cơ đốc trước
đây (ví dụ:
Augustine Aquinas)
Năm 400 sau Công nguyên
• Mặt đạo đức của sống độc thân là tốt nhưng cần
có mức sinh cao để bù lại mức chết cao.
Người theo phái
Người theo phái
trọng nông
Thế kỷ 18 • “Luật lệ bởi tạo hóa” hay chính sách để mặc tư
nhân kinh doanh (tức là không có sự can thiệp của chính phủ).
• Dân số phụ thuộc vào của cải vật chất và sản xuất nông nghiệp là nguồn gốc duy nhất của của
Trang 25• Các lợi ích nhờ cải cách xã hội có thể bị tiêu tan
do dân số tăng lên.
• Dân số tiếp tục gia tăng sẽ không đảm bảo cho
sự phát triển bền vững và do đó cần phải được kiểm soát bằng việc sử dụng các biện pháp tránh thai (bản thân Malthus lại phản đối việc sử dụng biện pháp tránh thai).
- Đại diện cho quan điểm này là:
+ Ciceron (106-43 trước Công nguyên)
+ Sozornere (thế kỷ V).
=> Cả hai ông đều cho rằng Thượng đế sáng tạo ra loài người và loài người không thể có những tác động để làm thay đổi dân số.
2.1.1.2 Quan điểm mơ hồ.
Đề cập đến số lượng dân một cách mơ hồ, thiếu căn cứ.
- Đại diện cho quan điểm này:
Trang 26+ Montesquieu (1689 – 1755)
+ Wallace (1818 – 1890).
=> Các tác giả này đều cho rằng số lượng ngưởi thời xưa trên hành tinh của chúng ta nhiều hơn bây giờ gấp bội.
+Buffon (1707 – 1780) cho rằng dân số thế giới từ xưa tới nay nhìn chung không có gì thay đổi, các hiện
tượng tăng giảm dân số chỉ là sự thay đổi nhất thời ở một nơi nào đó mà thôi.
Sở dĩ có những nhận định sai lệch về các hiện tượng dân số của các nhóm tác giả nêu trên là do các tác giả này chịu sự tác động của tư tưởng Triết học Duy tâm chủ quan Thêm nữa, số liệu thống kê dân số thế giới – cơ sở cho các đánh giá về dân số vào thời kì đó chưa có hoặc chưa đầy đủ, các khoa học liên ngành cũng chưa được phát triển cao.
2.1.2 Quan điểm dân số phát triển theo chu kỳ.
Quan điểm này cho rằng sau một thời gian nhất định những thay đổi về dân số sẽ lặp lại trạng thái trước đó Những tác giả có quan điểm này chịu ảnh hưởng rất lớn của các hiện tuợng tự nhiên, vật lí có sự lặp lại như mùa, ngày đêm diễn ra hàng ngày trong cuộc sống để suy luận.
Các nhà khoa học Pháp củng cố thêm quan điểm này thông qua công trình nghiên cứu dân số
Nhận định như trên là nhận định sự giống nhau về mặt hình thức số liệu thống kê về dân số, các tác giả không thấy được sự tác động của các hiện tượng kinh tế – xã hội đến các hiện tượng và quá trình dân số Các tác giả thuộc trường phái này chịu ảnh hưởng rất lớn của tư tưởng triết học Duy vật siêu hình.
2.2 Các tư tưởng về dân số.
2.2.1 Tư tưởng dân số thời thượng cổ.
Những mối quan tâm của con người đối với vấn đề dân số đã xuất hiện từ thời cổ xưa Hy Lạp thời thượng
cổ đã xuất hiện tư tưởng của Platon và Aristote về dân số Mối quan tâm của hai ông là một dân số ổn định, xuất phát từ chính trị và xã hội nhiều hơn từ kinh tế Ở phương Đông, nhà triết học, nhà tư tưởng lớn Khổng Tử cũng đã
có những quan điểm đáng lưu ý về dân số
Trang 272.2.1.1 Platon (428 - 348 trước Công nguyên).
Platon (427-347) tên thật là Aristoclès Sinh trong một gia đình dòng dõi quý tộc tại đô thị Nhã điển (Athènes).
Cha là Ariston, thuộc dòng dõi vị vua cuối cùng của vương quốc Codre, Mẹ là bà Périctione thuộc dòng dõi con cháu nhà lập pháp Solon, một trong bảy vị hiền triết Hy Lạp.
Tư tưởng dân số của Platon có thể tìm thấy trong tác phẩm “Nhà nước cộng hoà” 3 (The Republic) hoặc cuốn “Pháp luật” (The laws) Xã hội dựa trên một số nguyên tắc cơ bản:
- Chế độ gia đình một vợ, một chồng đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước.
- Chuyển giao đất cho một người thừa kế.
- Bình đẳng kinh tế được đảm bảo bằng một chính sách thuế thích hợp.
- Mỗi đô thị chỉ có dân số 5040 người, nếu quá số dân trên phải di chuyển bớt dân cư đến những vùng đất mới Trong xã hội cân bằng về dân số, nhà nước sẽ thực hiện các biện pháp nhằm đảm bảo sự tồn tại vĩnh viễn của
xã hội.
Hạn chế: không quan niệm dân số tuân theo các quy luật tự nhiên Việc dùng các biện pháp độc tài có nguy cơ đi ngược lại
tự nhiên.
3
Trang 282.2.1.2 Aristote (384 – 322 trước Công nguyên).
Aristoteles là một nhà triết học và bác học thời Hy Lạp cổ đại , học trò của Platon và thầy dạy của Alexandros Đại đế Aristote và Platon và có quan điểm gần gũi trong lĩnh vực dân số
- Đô thị phát triển cần có căn nguyên từ gia đình - dân số cần dựa vào pháp luật để can thiệp một cách có hệ thống.
- Dân số gia tăng là một yếu tố dẫn đến bần cùng hoá.
Số lượng dân cư trong đô thị phải ổn định theo học thuyết về không gian hợp lý: “Cái chính của đô thị là nó
tự đủ với nó”.
Đô thị không nên quá nhỏ làm trở ngại cho sự phân công lao động và các hoạt động kinh tế cần thiết nhằm thỏa mãn nhu cầu của thị dân Nhưng nếu số lượng dân cư quá lớn sẽ dẫn đến một tầng lớp vô sản đông đúc, việc quản lý đô thị trở nên khó khăn hơn và có nguy cơ rối loạn.
Trang 292.2.1.3 Khổng Tử (551 - trước Công nguyên).
Khổng Tử (chữ Hán : 孔孔; còn gọi là Khổng Phu Tử 孔孔孔; 27 tháng 8 âm , 551 – 11 tháng 4 479 TCN ) là một nhà tư tưởng, nhà triết học , nhà giáo dục, nhà chính trị, nhà biên khảo nổi tiếng người Trung Hoa , các bài giảng
và triết lý của ông có ảnh hưởng sâu rộng đối với đời sống và tư tưởng của các dân tộc Đông Á Người Trung Hoa
đời sau đã tôn xưng ông là Vạn thế Sư biểu (Bậc thầy của muôn đời)
Tư tưởng của Khổng Tử về dân số chú ý đến quy mô dân số trong mối quan hệ với phát triển kinh tế và giáo dục Điều này được minh chứng qua cuộc đối thoại giữa Khổng Từ và người đánh xe ngựa, cụ thể như sau: Khi thấy ngạc nhiên về mật độ dân số ở một địa phương, người đánh xe ngựa hỏi Khổng Tử:
- Làm gì khi dân cư đã trở nên đông đúc?
Khổng Tử trả lời:
- Đem lại sự thịnh vượng cho họ.
Người đánh xe hỏi tiếp:
- Khi họ vừa đông đúc, vừa thịnh vượng có thể làm gì cho họ?
Khổng Tử đã trả lời:
- Giáo dục họ.
Như vậy, ở Khổng Tử ta thấy có một quan điểm rất rõ ràng về mối quan hệ giữa dân số, kinh tế và giáo dục.
Nho Học đề cao vai trò của văn hoá giáo dục, coi giáo dục học vấn là con đường quan trọng để thúc đẩy xã hội phát triển và làm nên bản sắc con người Mặc dù những quan điểm của Khổng Tử về mục đích, chủ trương, nội dung, phương pháp được Ông đưa ra cách đây 25 thế kỷ nhưng hiện nay nó vẫn mang ý nghĩa thời sự.
2.2.2 Tư tưởng dân số thời trung cổ (từ thế kỷ V đến XV).
Trang 30Nếu như ở thời thượng cổ, vấn đề dân số được nhìn nhận theo góc độ chính trị - xã hội thì thời trung cổ, tư tưởng dân số ngự trị bởi tư tưởng Thiên chúa giáo, quan điểm thần học và đạo đức Tư tưởng dân số thời Trung cổ
từ chối học thuyết của các nhà tư tưởng Hy Lạp về một nền văn minh chất lượng và thuyết hạn chế dân số Thánh kinh (Kinh Cựu ước) đã dạy “Tăng trưởng và nhân lên” Các nhà tư tưởng thời Trung cổ thường truyền bá về dân số đông đảo, không bị hạn chế
Thời kỳ đầu, Thiên chúa giáo không quan tâm đến lợi ích của cuộc sống dưới đất mà chỉ quan tâm đến đạo đức của trinh tiết.
Tuy nhiên, cùng với thời gian, học thuyết chính thống đã xác định cần phải tránh hai thái cực: thứ nhất, sự truyền bá về sự trinh tiết tuyệt đối và cấm đoán hôn nhân mà không lo lắng cho tương lai của nhân loại; thứ hai, cho phép tình dục tự do.
Saint Thomas (vào thế kỷ thứ XIII) đã lặp lại tư tưởng này khi ca ngợi giá trị của độc thân nhưng lại nói thêm rằng,
hôn nhân phải có mục đích sinh nhiều con, đông đúc.
Thái độ của tôn giáo đối với vấn đề sinh đẻ của con người nói chung đều gặp nhau ở một điểm là phó mặc cho ý trời, không tán thành sự can thiệp của con người
2.2.3 Tư tưởng dân số thời Phục Hưng (thế kỷ XV-XVI) ở Châu Âu đến cách mạng tư sản dân quyền Pháp(1789-1799).
2.2.3.1 Tư tưởng dân số của chủ nghĩa trọng thương.
Thời gian: bắt đầu từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVII
Đại diện cho1 trào lưu tư tưởng về chính trị và kinh tế.Họ đem lại một sự giải phóng khỏi các tư tưởng thời trung cổ, gắn chặt với truyền thống của Thiên Chúa Giáo.
Học thuyết trọng thương nói chung mong muốn duy trì dân số đông,
- Boreto- nhà kinh tế -một trong những người đại diện cho tư tưởng trọng thương, dứt khoát và ủng hộ dân
số đông và coi đó là một yếu tố của sự hùng cường
- Nicolas Michavel(1469-1527) cũng cho rằng 1 dân số đông sẽ tăng cường và mở rộng sự hùng cường của
nhà Vua bằng thuộc địa.
- Jean Bodin (1530-1596) tóm tắt một câu “chỉ có thể giàu có và sức mạnh bằng những con người
- Montchrestine ( 1575-1621 ) là người theo học thuyết dân số đông, mong muốn tăng thợ thủ công
2.2.3.2 Tư tưởng dân số chủ nghĩa trọng nông.
- Francois Quesnay(1694-1774)là người đứng đầu về tư tưởng trọng nông liên quan dến dân số Quesnay
chủ trương không cần phải khuyến khích dân số tăng mà dân số sẽ tự điều chỉnh lấy so với lương thực thực phẩm.
- Richard Cantillon (1680-1734) là nhà kinh tế người IrlandIr Ông tuyên bố con người sinh sôi nảy nở
giống như con chuột trong vựa lúa, với điều kiện phải có cái để sống Nhưng ông cho rằng, ngoài các điều kiện vật chất còn có các yêu tố xã hội
- Mirabeau (1715-1789) mong muốn một châu Âu thưa dân vì “ một mặt, nông nghiệp bị chao đảo, suy
thoái và mặt khác do sự xa hoa và tiêu xài quá đáng của 1 số ng”
Trang 312.2.3.3 Các tư tưởng dân số ở Anh và các trào lưu tư tưởng trước Malthus.
Từ thế kỉ XVI ở Anh đã xuất hiện một trào lưu tư tưởng chống lại dân số đông Chính các tư tưởng đó, Thomas More và Francis Bacon đã mở đường cho những phân tích xa này của Malthus
- Thomas More (1478- 1535)
Ông là tác giả nổi tiếng của cuốn “ không tưởng” đã nghiên cứu sự nghèo khổ ở Anh và khám phá ra ba nguyên nhân:
+ Một là “ sư xa hoa của các tầng lớp quý tộc’
+ Hai là Sự tồn tại của tầng lớp gia nhân, đầy tớ đông đảo, không sản xuất”
+ Ba là “ việc mở rộng các đồng cỏ, chăn nuôi cừu không quan tâm gì đến đất canh tác”
- John Graunt(1620- 1674)
John Graunt là một thương gia người Anh Ông là người đầu tiên nghiên cứu về tử vong Ông không nghiên cứu các hiện tượng một cách rời rạc mà xem xét chúng trong mối quan hệ tổng hợp và trong cả quá trình vận động của hiện tượng dân số.
Đóng góp của John Graunt,Edmund Halley và Antoine Deparcieux là ở chỗ dân số mang tính tựu nhiên, tàn suất của hiện tượng dân số phụ thuộc và những điều kiện xã hội Các hiện tượng và quá trình dân số được xem xét trong
Trang 32mối tương quan sản xuất và xã hội Ngoài ra, còn phải kể đếm đóng góp của các tác giả trên lĩnh vực về “dân số đóng”, “ dân số tĩnh”và những phương pháp định lượng
Trang 332.3 Các học thuyết về dân số.
2.3.1 Học thuyết Malthus
Thomas Robert Malthus , ( 13 tháng 2 , 1766 – 23 tháng 12 , 1834 ), hội viên FRS , là một nhà nhân khẩu học , nhà kinh tế học người Anh Ông là một trong những đại biểu của kinh tế học cổ điển Ông sống cùng thời với David Ricardo, là bạn thân và cũng là đối thủ về lý luận của Ricardo Malthus có nhiều đóng góp vào các học thuyết kinh
tế và các đóng góp vào lĩnh vực dân số, đặc biệt là vấn đề sự gia tăng dân sốthông qua Thuyết dân số của ông.
Tác phẩm Những hiểu biết về quy luật dân số và tác động của nó với việc nâng cao đời sống xã hội là một trong những cuốn sách trình bày học thuyết Malthus
+ Bản chất của các quá trình dân số là sinh học chứ không phải mang tính chất xã hội
+ Nạn dư thừa nhân khẩu là tự nhiên ,vĩnh cửu không thể bị xóa bỏ
+ Dân số tăng nhanh là nguồn gốc cảu đói nghèo ,không liên hệ gì hoặc liên hệ rất ít tới cách quản lý xã hội
và phân phối thu nhập
Những sai lầm của học thuyết Malthus và tân Malthus đã bị lên án rất nhiều nhưng cũng cần phải ghi nhận công lao của chính Malthus với lời khuyến cáo đầy tính thuyết phục của ông : “ Xã hội chỉ sống sung sướng khi giữ được 1 số người hạn chế Ông đã đưa ra hai định đề và một hệ luận
- Định đề 1:lương thực rất cần thiết cho sự tồn tại của con người
Trang 34- Định đề 2:tình dục giữa các giới tính là cần thiết sẽ còn tồn tại vĩnh viễn và bất biến
=> Hệ luận: Dân số gia tăng theo cấp số nhân còn lương thực gia tăng theo cấp số cộng
Đóng góp của thuyết: Malthus có công đầu trong việc nêu lên và nghiên cứu vấn đềdân số, đặc biệt lên tiếng báo động cho nhân loại về nguy cơ của sự tăng dân số
Hạn chế của thuyết: cho quy luật phát triển dân số là quy luật tự nhiên, vĩnh viễn,nên ông đã đưa ra những giải pháp sai lệch, ấu trĩ để hạn chế nhịp độ tăng dân số
Thuyết dân số của ông cũng có ảnh hưởng quan trọng vào các học thuyết kinh tế Các nhà kinh tế bị ảnh hưởng bởi Malthus đã kết luận rằng, dưới những điều kiện bình thường, bùng nổ dân số làm giảm đáng kể mức lương tồn tại
Quan điểm của Malthus còn ảnh hưởng tới những nghiên cứu về sinh học Charles Darwin tuyên bố ông đã đọc Thuyết dân số và điều này mang đến cho ông một gạch nối quan trọng trong thuyết tiến hoá bằng chọn lọc tự nhiên
2.3.2 Khuynh hướng Malthus.
J.B.Say(1767-1832) vào thế kỉ 19 trường phái tự do nói chung chấp nhận học thuyết Malthus về nhân khẩu
một trong những người đó là Jean Baptiste Say ông cho rằng cần phải hạn chế 1 cách tự nguyện sinh đẻ khẳng định trong câu nói nổi tiếng “ điều thích hợp là khuyến khích con người tiết kiệm chứ không phải là khuyến khích họ sinh
đẻ những đứa con”
Ông đồng quan điểm với Malthus “dân số của một nước cần phải cân đối với sản phẩm” nhưng ông đã thay thế từ ngữ phương tiện sinh hoạt bằng từ ngữ phương tiện sinh tồn.Sinh tồn không chỉ bằng lương thực mà còn bằng quần
áo nhà ở và các đồ dùng khác nữa cho nên ông cho rằng dân số phải phù hợp với phương tiện sinh tồn
John Stuart Mill (1806-1876) sống trong thời kỳ chủ nghĩa Malthus thịnh hành ở Anh vào thế kỉ 19 khi đó
người ta tuyên truyền mạnh mẽ cho việc hạn chế sinh đẻ Có rất nhiều tác giả cùng luồng tư tưởng như Malthus như C.R.Darwin ‘vì có một số lượng cá thể sinh ra nhiều hơn số có thể sống do đó tồn tại sự cạnh tranh nghiêm ngặt giữa những cá thể cùng loài hoặc những cá thể khác loài hoặc 1 cuộc đấu tranh chống lại các điều kiện vật chất của cuộc sống.Đó là định luật Malthus áp dụng cho tất cả các giới sinh vật”
Với ông giải pháp cho vấn đề dân số chỉ có thể tìm được trong sự tăng trưởng của cải vật chất
2.3.3.Khuynh hướng chống Malthus.
2.3.3.1 Các nhà kinh tế.
+Nhà kinh tế Bastiat (1801-1850) ông tỏ ra lạc quan hơn J.B.Say cho rằng “các phương tiện sinh tồn tăng
nhanh hơn dân số”
+Nhiều nhà kinh tế nói về sự nguy hiểm của chủ nghĩa Malthus mới đã đe dọa dân số tương lai của nước Pháp
2.3.3.2 Các nhà xã hội học.
Trang 35Một số nhà xã hội học như Arsene Dumont (1849-1902),Emille Durkeim (1858-1917)đã nhấn mạnh đến sự
nguy hiểm của việc giảm dân số Theo Durkeim sự phát triển dân số kéo theo nó 1 sự thay đổi về chất lượng xã hội.Hay tăng qui mô và mật độ dân số sẽ dẫn đến sự mở rộng đô thị tạo thuận lợi cho phân công lao động.Các mối quan hệ xã hội sẽ phong phú và đa dạng hơn ,làm nâng cao ý thức cá nhân và trình độ chung về văn hóa.
2.3.3.3 Chủ nghĩa Marx.
Là nhà lý luận hàng đầu về CNXH khoa học chống lại ảo tưởng về tự nhiên, K.Mark cho rằng Malthus
không hiểu các hiện tượng dân số cũng giống như các hiện tượng xã hội khác đều phụ thuộc vào sự hình thành lịch sử.Ông viết “ Tư tưởng Malthus là hoàn toàn sai lầm và ngây thơ vì lẽ ông ta cho rằng tình hình dân số đông ,cứ như thế mãi,trong các giai đoạn lịch sử khác nhau cảu phát triển kinh tế Vì ông ta không nắm được sự khác biệt đặc thù nên đã hợp lại ,một cách phi lý,điều kiện rất phức tạp và luôn biến đổi vào thành chỉ có một quan hệ gồm 2 đẳng thức :một bên là tái sản xuất tự nhiên cảu con người bên kia là tái sản xuất tự nhiên thực vật.Hai đẳng thức đó gặp nhau chạm trán với nhau như là hai chuỗi tự nhiên trong đó 1 cái tăng theo cấp số nhân 1 cái tăng theo cấp số cộng.Ông đã rút gọn các mối quan hệ lịch sử khác nhau vào một quan hệ số học trừu tượng một sự trừu tượng hóa thuần túy không dựa trên các định luật lịch sử”
Friedrich Engels (1820-1895) cũng khẳng định chủ nghĩa Malthus là một học thuyết mang tính gia cấp
nhằm chống lại những người nghèo.Tự do trong thương mại cạnh tranh trong chế độ tự do là nguyên nhân mọi nghèo khổ.Ông cho rằng xã hội có thể điểu tiết được việc sản xuất con người cũng như xã hội điều tiết việc sản xuất của cải vật chất.Xã hội sẽ tiến hành công việc đó nếu như học muốn ,không có gì khó khăn lắm.
2.3.4 Lý thuyết quá độ dân số ( Mô hình quá độ dân số).
2.3.4.1 Cơ sở hình thành mô hình.
- Mô hình quá độ dân số là một sự cố gắng để mô tả và giải thích quá trình thay đổi kích thước dân số trong giai đoạn chuyển biến từ mức sinh đẻ và tử vong cao sang mức sinh đẻ và tử vong thấp.
- Mô hình quá độ dân số nói lên được những mối quan hệ giữa dân số và quá trình sản xuất xã hội.
- Cơ sở hình thành mô hình quá độ dân số là chế độ xã hội.
2.3.4.2 Các giai đoạn của quá độ dân số.
Có 4 giai đoạn:
a Giai đoạn 1: Từ năm 1750-1800
- Tỉ suất sinh và tỉ suất tử tương đối cao, gia tăng tự nhiên thấp
Nguyên nhân:
+ Mức sinh đẻ tự nhiên cao
+ Con người không cố gắng kiểm soát nó
+ Xã hội khuyến khích quá trình sinh đẻ
Trang 36b Giai đoạn 2: Từ năm 1800-1875
- Tỉ suất sinh tiếp tục tăng cao nhưng tỉ suất tử ngày càng giảm, gia tăng tự nhiên cao.
Nguyên nhân:
+ Mức tử giảm do: lương thực đầy đủ, y học phát triển,…
+ Mức sinh tăng do: ý thức xã hội, quan điểm cá nhân chưa tiến bộ,…
c Giai đoạn 3: Từ 1875-1950
- Tỉ suất sinh và tử đều giảm, gia tăng tự nhiên giảm
Nguyên nhân: Tỷ suất sinh giảm do
+ Sức ép dân số đối với xã hội
+ Chính sách dân số của các xã hội
• Sự gia tăng dân số trong giai đoạn quá độ có bản chất chu kỳ
• Các nước phát triển( các dân tộc châu Âu và Bắc Mỹ) đã hoàn thành quá trình quá độdân số Còn các nước đang phát triển hầu như đang ở giai đoạn 2 hoặc đầu giai đoạn 3
• Việt Nam trong những thập kỷ 80-90 ở giai đoạn trung gian Trong tưong lai, khoảngnăm 2025-2050, dân số Việt Nam sẽ bước vào thời kỳ ổn định
2.3.4.4 Tác dụng của mô hình dân số.
Trang 37• Mô tả về lịch sử phát triển dân số, sự thay đổi mức sinh và tử của từng quốc gia
• Là sơ đồ phân loại về sự phát triển của các quốc gia hiện nay
• Là cơ sở cho sự giải thích những biến đổi về mức sinh, tử
• Là cơ sở cho việc dự đoán phát triển dân số của các nước chậm phát triển
2.3.5 Lý thuyết dân số tối ưu.
2.3.5.1 Cơ sở hình thành lý thuyết dân số tối ưu.
Hiện nay, nhiều quốc gia có dân số quá đông, khiến việc làm và cuộc sống, vấn đề lương thực gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên, ở một vài nơi, một vài quốc gia lại có mật độ dân cư quá thưa thớt Cả hai trường hợp trên đều dễ gây nên những khó khăn cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Trang 38Đây là bản đồ thế giới thông thường:
Biểu 2.1 Bản đồ thế giới (nguồn: Công Ty TNHH NVSoft- in bản đồ khổ lớn)
Trang 39Bản đồ thế giới thể hiện về mặt dân số
Biểu 2.2 Bản đồ thế giới thể hiện về mặt dân số ( Nguồn: Khoa Địa Lý-trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh)
Năm 2013, tổng dân số thế giới ước tính là 7,137 tỉ người.
Châu Á dẫn đầu với 4,302; châu Phi 1, châu Mỹ 958 triệu; châu Âu 740 triệu; châu Đại Dương 38 triệu So với
2012 thì dân số thế giới được ước tính là 7,058 tỉ người Dân số cao nhất vẫn phân bố tập trung ở châu Á là 4,26 tỉ; tiếp theo là châu Phi 1,072 tỉ, châu Mỹ 948,2 triệu, châu Âu 740,1 triệu và thấp nhất vẫn là châu Đại Dương chỉ có 37 triệu người.
Số liệu này được tổng hợp từ các nguồn thống kê của các nước, thống kê dân số 2009-2013 của Liên hiệp quốc Trên bản đồ phân bố dân số năm 2013 cho thấy 2 mảng dân cư tập trung ở các nước châu Á và châu Mỹ Phân
bố và thứ tự đông dân giữa 2 năm 2012 và 2013 vẫn chưa có gì thay đổi.
Trang 40Bản đồ thế giới biểu diễn tỉ suất sinh
Biểu 2.3 bản đồ thế giới thể hiện tỉ suất sinh.
(Nguồn: Báo cáo Triển vọng Dân số Thế giới của Liên hiệp quốc )
Xếp hạng UN TFR là một danh sách quốc gia theo Tổng tỷ suất sinh (TFR) : con số trẻ em được cho là sẽ được sinh ra trên mỗi phụ nữ trong thời kỳ có thể mang thai của cô ta Các con số được lấy từ bản sửa đổi năm 2006
của Báo cáo Triển vọng Dân số Thế giới của Liên hiệp quốc, cho giai đoạn 2000-2005 và 2005-2010, sử dụng
con số giả định trung bình Chỉ các quốc gia/vùng lãnh thổ với dân số 100.000 người hay lớn hơn năm 2007 được gộp vào Xếp hạng dựa trên con số 2005-2010.
2.3.5.2 Nội dung lý thuyết dân số tối ưu.
Trước khi tìm hiểu dân số tối ưu, cần hiểu thế nào là dân số tối đa Dân số tối đa của một quốc gia hay một địa phương là dân số đã đạt đến mức giới hạn, nếu vượt qua mức đó dân số sẽ nhanh chóng rơi vào tình trạng bần cùng, đói khổ.
Những dấu hiệu cho thấy dân số của một quốc gia sắp đạt đến mức giới hạn là:
+ Tình trạng đói kém thường xuyên xảy ra, nhất là vào đầu vụ gieo trồng.
+ Bất kì một sự bất thường nào của yếu tố khí hậu, thời tiết hoặc thiên tai, dịch họa dù nhỏ nào đó diễn
ra cũng đều đưa đến tình trạng đói kém.
+ Đại bộ phận nông dân thiếu ruộng đất, dân cư nông thôn phải trôi dạt về thành phố để sống tạm bợ + Tỉ suất thất nghiệp ngày càng tăng nhanh theo thời gian.Việc thất nghiệp này khác với thất nghiệp do tiến bộ kĩ thuật và công nghệ tại các nước phát triển.
Trên hai hình ảnh tương phản đó, “dân số tối ưu” tiến tới một dân số hợp lý để có thể phát triển kinh tế - xã hội thuận lợi Về phương diện lý thuyết, dân số tối ưu gắn với một lãnh thổ nhất định, với những mục tiêu mong muốn
Dân số của một vùng nào đó là tối ưu thì trong một khoảng thời gian nào đó có thể tạo ra hiệu quả kinh
tế-xã hội rất lớn