Trong các nước đang phát triển, tốc độ đô thị hóa rất cao, quá trình đô thị hóa diễn ra theo chiều rộng đang đặt ra nhiều vấn đề khó khăn cần giải quyết như thất nghiệp, nghèo đói, ô nhi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐÔ THỊ HÓA
Môn: Dân số học đại cương
NHÓM 8 – K57 Xã hội học
Trang 2I CÁC KHÁI NIỆM
1 Đô thị hóa: Là sự tăng lên về tỉ lệ dân số sống ở các địa bàn thành thị –
quá trình người dân chuyển đến các thành thị hoặc các địa bàn định cư đông dân khác
2 Thành thị: Các nước định nghĩa về thành thị có khác nhau, tuy xét chung
đối với dân số thành thị là những người sống ở thành phố và thị xã có
2000 người trở lên, đặc biệt là nếu dân số ở đây phần lớn là phi nông nghiệp Ở đất nước Nhật dân số dày đặc, từ “thành thị” chỉ là dân số ở các thành phố có 50.000 người trở lên Ở Mỹ, những nơi có 2.500 người trở lên coi là thành thị
3 Khu đô thị: Một khu đô thị được định nghĩa là nơi tập trung lớn dân số,
thường là địa bàn có 100.000 người trở lên với một thành phố quan trọng làm nòng cốt cộng thêm địa bàn ngoại thành và “vỏ ngoại thành” bao quanh thành phố đó và liên kết về kinh tế và xã hội với nó
4 Tỷ lệ phần trăm đô thị: Dân số sống ở các địa bàn thành thị có thể biểu
thị bằng một con số phần trăm của tổng số dân số Dân số còn lại thường được coi là nông thôn, tuy một số nước còn có một loại trung gian gọi là
Trang 31999 18 077 23.7
(Nguồn: Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 2009: Kết quả chủ yếu, Tổng cục DS – KHHGĐ, Trung tâm Thông tin và Tư liệu Dân số, HN 2010)
II ĐẶC TRƢNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA
Đô thị hóa là một hiện tượng toàn cầu và có những đặc trưng chủ yếu sau:
1 Số lượng các thành phố, kể cả các thành phố lớn có xu hướng tăng nhanh, dân số tập trung cao độ Điều này gắn liền với quá trình phát triển sản
xuất, phát triển kinh tế – xã hội, phát triển khoa học kỹ thuật và phân
công lao động xã hội, phát triển các luồng di dân với sự phát triển dân số
2 Dân số thành thị có xu hướng tăng nhanh do cường độ quá trình di dân nông thôn – thành thị, đang làm thay đổi tương quan dân số thành thị và nông thôn
Bảng: Số lượng dân số,dân số thành thị, tỷ trọng dân số thành thị chia theo
các vùng kinh tế năm 2009
Các vùng kinh tế – xã hội Tổng số dân
(nghìn người)
Tổng số dân thành thị (nghìn người)
Tỷ trọng dân thành thị (%)
Toàn quốc 85790 25374 29,6
Trung du và miền núi phía Bắc 11064 1772 16 Đồng bằng sông Hồng 19578 5721 29,2 Bắc trung Bộ và Duyên hải miền Trung 18835 4530 24,1
Đồng bằng sông Cửu Long 17179 3922 22,8
(Nguồn: Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 2009: Kết quả chủ yếu, Tổng cục DS – KHHGĐ, Trung tâm Thông tin và Tư liệu Dân số, HN 2010)
Trang 43 Mức độ đô thị hóa biểu thị trình độ phát triển xã hội nói chung, song có các đặc thù riêng cho mỗi nước Đối với các nước đang phát triển, đô thị hóa diễn ra chủ yếu theo chiều sâu, chất lượng cuộc sống ở các thành phố ngày càng hoàn thiện Trong các nước đang phát triển, tốc độ đô thị hóa rất cao, quá trình đô thị hóa diễn ra theo chiều rộng đang đặt ra nhiều vấn
đề khó khăn cần giải quyết như thất nghiệp, nghèo đói, ô nhiễm môi trường và nhiều tệ nạn xã hội
III TIÊU CHÍ VÀ PHÂN LOẠI ĐÔ THỊ VIỆT NAM
Các tiêu chuẩn cơ bản để phân loại đô thị được xem xét, đánh giá trên cơ sở hiện trạng phát triển đô thị tại năm trước liền kề năm lập đề án phân loại đô thị hoặc tại thời điểm lập đề án phân loại đô thị, bao gồm:
2 Quy mô dân số toàn đô thị tối thiểu phải đạt 4000 người trở lên
3 Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại
đô thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị và khu phố xây dựng, tập trung của thị trấn
4 Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp được tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị, khu vực xây dựng tập trung phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động
5 Hệ thống công trình hạ tầng đô thị gồm: Hệ thống công trình hạ tầng xã hội và hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật:
a) Đối với khu vực nội thành, nội thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ
và có mức hoàn chỉnh theo từng loại đô thị
Trang 5b) Đối với khu vực ngoại thành, ngoại thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ mạng hạ tầng và đảm bảo yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển đô thị bền vững
6 Kiến trúc, cảnh quan đô thị:
Việc xây dựng phát triển đô thị phải theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị được duyệt, có các khu đô thị kiểu mẫu, các tuyến phố văn minh đô thị,
có các không gian công cộng phục vụ đời sống tinh thần của dân cư đô thị; có tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu và phù hợp với môi trường, cảnh quan thiên nhiên
Dựa vào 6 tiêu chí trên các đô thị ở nước ta được phân làm 6 loại: Đô thị loại đặc biệt, Đô thị loại 1, Đô thị loại 2, Đô thị loại 3, Đô thị loại 4, Đô thị loại
tế – xã hội của cả nước
Đô thị loại 1
Đô thị trực thuộc Trung ương: Là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật, hành chính, giáo dục, đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc của cả nước
Đô thị trực thuộc tỉnh: Là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật, hành chính, giáo dục, đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của một hoặc một số vùng lãnh thổ liên tỉnh
Đô thị loại 2 Đô thị trực thuộc Trung ương: Là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học
– kỹ thuật, hành chính, giáo dục, đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao
Trang 6thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với cả nước
Đô thị trực thuộc tỉnh: Là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật, hành chính, giáo dục, đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong vùng tỉnh, vùng liên tỉnh có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của một tỉnh hoặc một vùng lãnh thổ liên tỉnh
Đô thị loại 3
Là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật, hành chính, giáo dục, đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh, vùng liên tỉnh Có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của một vùng trong tỉnh, một tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với vùng liên tỉnh
Đô thị loại 4
Là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật, hành chính, giáo dục, đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu của một vùng trong tỉnh hoặc một tỉnh Có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của một vùng trong tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với một tỉnh
Đô thị loại 5
Đô thị là trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành về kinh tế, hành chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, dịch vụ Có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện hoặc một cụm xã
2 Quy mô dân số toàn đô thị:
Đô thị loại 4
Đô thị loại 5
ĐT trực
thuộc TƯ
ĐT trực thuộc tỉnh
ĐT trực thuộc TƯ
ĐT trực thuộc tỉnh
800.000 người trở lên
300.000 người trở lên
150.000 người trở lên
50.000 người trở lên
4.000 người trở lên
Trang 73 Mật độ dân số bình quân khu vực nội thành:
Đô thị loại 4
Đô thị loại 5
ĐT trực
thuộc TƯ
ĐT trực thuộc tỉnh
ĐT trực thuộc TƯ
ĐT trực thuộc tỉnh
trở lên
10.000 người/
km2 trở lên
8.000 người/km 2
trở lên
6.000 người/
km2 trở lên
4.000 người/
km2 trở lên
2.000 người/
km2 trở lên
4 Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành, nội thị:
Tối thiểu đạt 80% so với tổng số lao động
Tối thiểu đạt 75% so với tổng số lao động
Tối thiểu đạt 70% so với tổng số lao động
Tối thiểu đạt 65% so với tổng số lao động
5 Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị:
Được đầu tư xây dựng đồng bộ tiến tới hoàn chỉnh
Các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải áp dụng công nghệ sạch hoặc được trang bị các trang thiết bị giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường (Đối với đô thị loại đặc biệt, đô thị loại 1, 2, 3 tỷ lệ này phải đạt 100%)
Với đô thị loại đặc biệt; đô thị loại 1, 2, 3, 4: Khu vực ngoại thành được đầu tư xây dựng tiến tới đồng bộ; hạn chế các dự án gây ô nhiễm; bảo vệ những khu vực đất đai thuận lợi phát triển nông nghiệp, các vùng xanh, các vùng cảnh quan sinh thái…
Trang 86 Kiến trúc, cảnh quan đô thị:
Đối với đô thị loại đặc biệt, đô thị loại 1, 2, 3:
Phát triển đô thị theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị
Các khu đô thị mới phải đạt tiêu chuẩn đô thị kiểu mẫu
Trên 60% các trục phố chính đô thị phải đạt tiêu chuẩn tuyến phố văn
minh đô thị – đối với đô thị loại đặc biệt (Đô thị loại 1 là trên 50%, loại 2
và loại 3 là trên 40%)
Có các không gian công cộng phục vụ đời sống tinh thần nhân dân
Có các công trình kiến trúc tiêu biểu
Đối với đô thị loại 4, 5: Từng bước thực hiện xây dựng phát triển đô thị
theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị
IV CÁC VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA Ở VIỆT NAM
1 Thiếu cơ sở hạ tầng
Sự tăng trưởng mạnh mẽ của kinh tế Việt Nam làm thay đổi diện mạo các thành phố Tuy nhiên nhìn chung cơ sở hạ tầng của các thành phố ở Việt Nam đã lỗi thời và không thể đáp ứng yêu cầu hiện nay
Thiếu cơ sở hạ tầng ở các khu đô thị như: Thiếu chỗ vui chơi cho trẻ
em, trẻ con thường thì bị nhốt trong nhà còn người lớn không có chỗ để thư giãn, trường học thiếu các trang thiết bị giảng dạy,… Các khu nhà tập thể thì ngày càng xuống cấp nghiêm trọng, chưa đươc khắc phục, tình trạng mất điện thiếu nước vẫn thường xuyên xảy ra, ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của người dân
Hầu hết các đô thị chỉ có một hệ thống cống dùng chung cho cả nước mưa và nước thải, thậm chí, nhiều tuyến cống được xây dựng trong các thời
kỳ khác nhau, nên không hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ và đã xuống cấp nghiêm
Trang 9trọng làm ảnh hưởng đến khả năng tiêu thoát nước Tình trạng ngập úng đang là mối quan tâm hàng ngày của các đô thị lớn, nhất là ở TP Hồ Chí Minh và Hà Nội, nhưng đến nay, vẫn chưa có giải pháp có tính khả thi để giải quyết Các hệ thống ống thoát nước chưa đảm bảo về khoa học dẫn đến khi xảy ra mưa lũ thì sẽ bị ngập úng và gây ảnh hưởng đến quá trình tham gia giao thông, gây ùn tắc giao thông nghiêm trọng Nước thải, đặc biệt nước thải từ các khu công nghiệp lại chưa được thu gom, xử lý triệt để, gây ô nhiễm nặng nề cho các dòng sông lớn, như: sông Đồng Nai, Sài Gòn, Thị Vải, sông Đáy, sông Nhuệ, sông Tô Lịch…
Cần có biện pháp để giải quyết vấn đề trên là quy hoạch đô thị, rà soát lại quy hoạch tổng thể nhằm bảo đảm phát triển các đô thị bền vững Điều chỉnh, bổ sung các quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch các vùng kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp, các điểm dân cư nông thôn, đảm bảo công tác quy hoạch phải luôn đi trước một bước, hạn chế tình trạng đô thị hoá tự phát, thiếu khoa học, thiếu định hướng…
đô thị và co sở hạ tầng đã được ban hành Nhờ đó trật tự giao thông đô thị,
an toàn xã hội, vệ sinh môi trường và cảnh quan đô thị, công tác bảo đảm an toàn giao thông trên địa bàn có chuyển biến
Công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông đã đạt được một số kết quả, nhưng sự chuyển biến chưa nhiều, chưa rõ nét Ùn tắc giao thông vẫn xảy ra vào các giờ cao điểm sáng, chiều Mặc dù thành phố đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhưng ý thức chấp hành các quy định bảo đảm an toàn
Trang 10giao thông của người dân vẫn rất kém và lực lượng chức năng vẫn phải xử lý
vi phạm với số lượng lớn Ngay trong khi các lực lượng chức năng đang tăng cường kiểm tra, xử lý mà vi phạm trật tự đô thị vẫn diễn biến phức tạp Tại một số địa bàn vẫn còn xảy ra tình trạng sử dụng hè phố, lòng đường làm nơi kinh doanh, buôn bán Tại các khu vực địa bàn giáp ranh còn xảy ra nhiều vi phạm về trật tự đô thị
Trên nhiều tuyến phố vỉa hè vẫn còn tình trạng lấn chiếm vỉa hè lề đường làm nơi buôn bán ảnh hưởng tới an toàn giao thông và cảnh quan đô thị Các vi phạm trong việc xây dựng, các công trình không có giấy phép hoăc xây dựng cả ở noi công cộng Tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng tăng với số lượng tiếng ồn cao, khí thải xe cộ, rác thải công nghiệp, sinh hoạt chưa được xử lý triệt để vẫn còn tình trạng xả rác thải ra môi trường tùy tiện bừa bãi, xả thải trực tiếp ra ao, hồ, sông, chôn lấp chất thải không đúng nơi quy định Tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng như ma túy, mại dâm, trộm cắp… làm xấu đi hình ảnh thành phố, chứng tỏ trình độ quản lý
đô thị nước ta nhìn chung vẫn còn yếu kém
3 Môi trường
Trong các thành phố lớn vẫn còn nhiều vấn đề liên quan đến môi trường cần giải quyết: Vệ sinh chưa tốt, ô nhiễm không khí, tiếng ồn của các phương tiện giao thông và của các nhà máy trong các khu dân cư Tiếng ồn, theo đà phát triển của thành phố, ngày càng nghiêm trọng hơn Ngoài ra
Quá trình đô thị hoá tương đối nhanh đã có những ảnh hưởng đáng kể đến môi trường và tài nguyên thiên nhiên, đến sự cân bằng sinh thái: Tài nguyên đất bị khai thác triệt để để xây dựng đô thị, làm giảm diện tích cây xanh và mặt nước, gây ra úng ngập, cùng với nhu cầu nước phục vụ sinh hoạt, dịch vụ, sản xuất ngày càng tăng làm suy thoái nguồn tài nguyên nước;
Trang 11nhiều xí nghiệp, nhà máy gây ô nhiễm môi trường lớn trước đây nằm ở ngoại thành, nay đã lọt vào giữa các khu dân cư đông đúc; mở rộng không gian đô thị dẫn đến chiếm dụng đất nông nghiệp, ảnh hưởng đến vấn đề an toàn lương thực quốc gia và đến đời sống của nhân dân ngoại thành; sản xuất công nghiệp phát triển mạnh làm phát sinh một lượng lớn chất thải, trong đó chất thải nguy hại ngày càng gia tăng; bùng nổ giao thông cơ giới gây ô nhiễm môi trường không khí và tiếng ồn nghiêm trọng; đô thị hóa làm tăng dòng người di dân từ nông thôn ra thành thị, gây nên áp lực đáng kể về nhà ở
và vệ sinh môi trường, hình thành các khu nhà "ổ chuột" và khu nghèo đô thị Sức khỏe người dân đô thị do đó cũng bị ảnh hưởng Đô thị loại 1 và 2 đang phải đối mặt với ô nhiễm môi trường, giao thông tắc nghẽn, điều kiện sống xấu, sức khỏe cộng đồng bị ảnh hưởng
Một cuộc điều tra cơ bản được tiến hành năm 2002 ở tất cả các công
ty kinh doanh nước sạch ở Việt Nam cho thấy, chỉ có 50% dân cư đô thị có nước máy đạt tiêu chuẩn quốc gia Tỷ lệ này dao động từ 67% ở những thành phố lớn cho tới mức 11% ở những thị trấn nhỏ Không một đô thị nào ở Việt Nam có hệ thống xử lý nước thải mặc dù đây là một trong những ưu tiên của chính phủ Môi trường bị xuống cấp nghiêm trọng và các vấn đề sức khỏe nảy sinh do thiếu xử lý chất thải sinh hoạt và do các chất thải công nghiệp đổ bừa bãi Ô nhiễm nguồn nước do chất thải sinh hoạt và chất thải công nghiệp chưa qua xử lý đang gây ra những mối đe dọa nghiêm trọng đối với sức khỏe người dân và suy thoái môi trường Ngoài ra không khí đang bị ô nhiễm nghiêm trọng khi Việt Nam được báo cáo là quốc gia có tỷ lệ xe gắn máy bình quân đầu người cao nhất trên thế giới
Để bảo vệ môi trường trong sạch chúng ta phải quy hoạch đất đai cũng như các vùng chức năng: Di chuyển các cơ sơ sản xuất gây ô nhiễm nặng trong các khu dân cư ra khu vực ngoại ô, xóa bỏ những khu nhà ổ chuột nằm gần các kênh rạch và trong các khu nghĩa trang, đồng thời giảm sức ép dân