Làng mạc Hình thái cư rú cổ truyền của dân tộc Cơ-tu là Vêl-Vêl là một cụm dân cư,là một đơn vị xã hội đặc trưng của đồng bào.Nó cũng giống như làng của người Việt.Mỗi Vêl có một khu
Trang 1Dân tộc Cơ-Tu
Người thực hiện:
Nguyễn Văn Vượng :Phần I,II,III
Bùi Thuý Vân : Phần IV,V.VI
Trang 2Làng người dân tộc Cơ -tu
Trang 3Bố cục bài thuyết trình:
Phần I: Đặc điểm chung
Phần II: Đặc điểm kinh tế
Phần III: Văn hoá vật chất
Phần IV: Văn hoá tinh thần
Phần V: Tổ chức xã hội
Phần VI: Phong tục tập quán
Trang 4I Đặc điểm chung:
Dân số khoảng 65.000 người
Cư trú chủ yếu ở Quảng Nam-Đà Nẵng, số còn lại tập trung ở Tây nam tỉnh Thừa Thiên Huế
Thuộc nhóm ngôn ngữ Môn –Khơ Me,ngữ hệ Nam Á
D ân tộc Cơ Tu còn có tên là
Ka-tu,Phương,Cao,Mạ…
Phân biệt nhóm dân tộc học theo địa bàn cư trú
Trang 5II Đặc điểm kinh tế:
1 Nông nghiệp
Làm nương rẫy là chủ yếu
Rẫy làm theo kiểu du canh
Đất làm rẫy là loại đất tốt,xốp,có lớp mùn dày
Trước đây khi có công việc như phát rẫy, tra hạt, hay thu hoặch ở vùng người Cơ-tu đầu có hình thức đổi công giữa các gia
đình
Trang 61 Nông nghiệp (tiếp theo)
Công cụ sản xuất còn thô sơ, chủ yêú là
các loại : rựa (aco), rìu (achắt), cuốc
(cuốc), gậy chọc lỗ (a pắt), cào cỏ
(avinh) Công cụ để tuốt lúa là hai thanh tre kẹp vào nhau nhưng phổ biến là dùng tay
Năng suất thu hoạch còn thấp kém
Trang 71 Nông nghiệp (tiếp theo)
Chăn nuôi
Là nguồn thu nhập quan trọng sau trồng
trọt
Vật nuôi chủ yếu là trâu, lợn, dê, gà
Trước đây đồng bào nuôi theo phương
pháp thả rông là chủ yếu, hiện nay đã có một số hộ làm chuồng trại để tránh gia súc
bị mất, hoặc vào phá hại mùa màng
Trang 9nghề đan lát của người Cơ Tu
Trang 10Nghề đan lát của đồng bào Cơ-tu có kỹ thuất phức tạp, đòi hỏi phải chịu khó và
kiên nhẫn
Tuỳ vào từng sản phẩm mà người
Cơ-tu áp dụng kỹ thuật đan khác nhau Gùi
vận chuyển ( Zôống), được đan với nan
long mốt, gùi củi thì được đan bằng mây với hình dạng là hình thang cân
Ngoài các sản phẩm trên, để phục vụ cho nhu cầu tại chỗ, người Cơtu còn đan
lờ để bắt cá, đan bẫy sò để bắt chuột, sóc
1 Nông nghiệp (tiếp theo)
Trang 11 Nghề đan lát của dân tộc Cơ-tu
Trang 12Không chỉ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của mỗi gia đình và cộng đồng, nhiều sản phẩm từ nghề đan lát của người Cơtu đã được bán cho khách du lịch và trao đổi
hàng hóa Bởi vậy, nhiều hộ gia đình thu nhập thêm mỗi năm vài ba triệu đồng,
góp phần đáng kể cải thiện cuộc sống
Trang 13Phát triển làng nghề có sản phẩm hàng hóa là hướng đi mới ở vùng đồng bào Cơtu
Trang 14- Nghề dệt
Bên cạnh canh tác nương rẫy trồng lúa, hoa màu, người Cơ-tu sớm biết đến cây bông vải và tích luỹ
nhiều kinh nghiệm quý báu trong việc canh tác cây
bông vải để lấy sợi.
Thợ dệt Cơ-tu còn biết khai thác các loại cây
trong thiên nhiên để chế biến thành thuốc nhuộm, tạo màu sợi bông, biến chúng từ sợi thô, đơn sắc thành
nhiều màu sắc khác nhau.
Hai màu đen và xanh là nét chủ đạo của một tấm vải, nguyên liệu chính để chiết xuất màu đen là cây
Taram, để thuốc nhuộm màu phát huy tác dụng hơn
đồng bào còn tạo ra một số chất phụ gia khác được
làm từ vỏ ốc xoăn, củ nâu, hạt bông vải…
Trang 15
Màu xanh là biểu trưng cho cây cỏ ,núi rừng,nơi
đem lại cho đồng bào nhiều hoa lá
đem lại cho đồng bào nhiều hoa lá, củ quả,…
- Phụ nữ Cơ-tu dệt vải
Trang 16Với bàn tay khéo léo của người phụ nữ
Cơ Tu…
Trang 17Những tấm vải rất đẹp đã được làm ra…
Trang 18- Săn bắn:
Là nghề khá phát triển và tham gia khá sâu vào cuộc sống sinh hoạt kinh tế của người Cơ-tu.
Họ thường săn vào mùa xuân với những vũ khí như
nỏ, mũi tên tẩm thuốc độc, lưới, giáo mác,…
Khi săn được thú làm thịt tại nhà Gươl.Các đàn ông trong làng tụ tập ở đó ăn uống và hò reo Họ dành một phần thịt chín để chia cho các nhân khẩu thuộc gia
đình trong làng Nhưng trước khi nấu phải dành phần ngon nhất để biếu chủ làng và người đã bắn phát đầu tiên giúp giết được con thú.
Thường thì khi săn được thú lớn họ mới mang đến
nhà Gươl để tổ chức ăn uống, còn khi săn được thu nhỏ thì gia đình đó giữ để sử dụng riêng.
Trang 19Ngoài dùng các phương pháp dùng nỏ nười Cơ-tu còn thịnh hành phương pháp bắt thú bằng chông, thò, cạm bẫy …
Cùng với săn bắn thú rừng , đánh bắt
cá ở sông suối cũng khá phát triển
Về buôn bán lâu nay người Cơ-tu vẫn
chỉ trao đổi với hình thức vật đổi vật ,
chưa sản xuất hàng hoá để phục vụ buôn bán.Các vùng Cơ-tu vẫn chưa có chợ nên thương lái người Việt vẫn đóng vai trò
quan trọng.
Trang 20III Văn hoá vật chất
1 Làng mạc
Hình thái cư rú cổ truyền của dân tộc Cơ-tu là
Vêl-Vêl là một cụm dân cư,là một đơn vị xã hội đặc trưng của đồng bào.Nó cũng giống như
làng của người Việt.Mỗi Vêl có một khu vực
đất đai riêng để ở,trồng trọt, chăn nuôi, săn
bắn và thu hái dồ lâm sản…
Làng nọ cách làng kia gần nhất cũng phải trên
dưới một ngày đường.
Làng của dân tộc Cơ-tu nói riêng và làng ở
vùng Trường Sơn-Tây Nguyên nói chung rất điển hình cho kiểu làng phòng thủ
Trang 21Mỗi làng thường chỉ có 10-30 nóc nhà, khoảng 200-300 nhân khẩu Các nhà dân được bố trí thành một vòng tròn hoặc hình ô van xung
quanh một bãi đất rộng (sân làng) khá bằng
Trang 22ở bếp một cái cha cho.
Hôm dọn đến nhà mới cũng phải chọn ngày, tốt nhất là ngày bau oa lăm theo lịch của đồng bào.
Trang 24Nhà của người Cơ-tu là nhà sàn kiểu mái tròn, nóc hình mai rùa giống như nhà người Giẻ-
Triêng.Mái lợp lá hèo hoặc lá mây rừng Xung quanh che bằng vách nứa
Độ dài ngắn,cao thấp của các nhà không giống nhau, tuỳ thuộc vào số người ở trong nhà và
các nguyên vật liệu sẵn có ở địa phương
Bộ khung nhà của người Cơ-tu chủ yếu là vì
cột Tuy đã có cái gọi là kèo(chadrle), nhưng
chúng chưa phải là bộ phận liên kết chặt chẽ với đầu cột mà gác lên cây đòn tay
cái(ggăl).Qúa giang cũng chưa ráp vào đầu cột
mà vẫn gác lên tay đòn
Trang 25 Nếu mà nhà hai gian thì không có cột ở giữa
chống vào cái nóc như nhà Gươl chỉ có nhà nào nhiều gian mới có cột chống nóc giữa
nhà
- Bên trong nhà của người Cơ-tu,ngoài các
ché, các ống nứa hoặc vỏ quả bầu đựng
nước , ít thấy bày biện các đồ đạc khác
- Chỗ ngủ không có quy định chặt chẽ, mọi
nguời thường ngủ quanh bếp Nhưng vẫn có quy định những khoảng riêng cho tùng cặp vợ chồng và con cái của họ Những gia dình nhỏ này đều có bếp riêng
Trang 26 - Ngoài chỗ ngủ là sàn nhà, nguời ta còn làm thêm những phòng nhỏ nhô ra khỏi phạm vi
mặt sàn và mặt sàn của các phòng này thường cao hơn mặt sàn nhà khoảng30-40 cm Những phòng này có cái dùng làm phòng ngủ có cái
dùng để chứa đồ
Trang 27Mặt bằng sinh hoạt nhà người Cơ-tu
y BC
phong ngu
Trang 283 Nhà Gươl
Mỗi làng có một ngôi nhà chng gọi là nhà gươl, cao lớn và đẹp nhất Đó là nơi hội họp và sinh hoạt cộng đồng
Nhà Gươl của người Cơ-tu là nơi các già làng (tacôh pươl) họp bàn để phán quyết những việc
hệ trọng của làng.
Là nơi tổ chức nhiều lễ hội truyền thống tưng
bừng của buôn làng như: lễ mừng lúa mới
(chaaha roo tơmêê ), lễ ăn thề kết nghĩa anh em giữa hai làng người Cơ-tu (pơ-ngoót), lễ ăn
mừng được mùa (bhuối aví)…
Trang 29Nhà Gươl thường là nhà sàn, làm bằng gỗ ,lợp
lá gồi hoặc lá mây được đan rất công phu Nhà gồm một cột chính ở giữa (rmăng), không kể
phần chôn sâu dưới đất cao 8-12m, các cột
xung quanh (tnol) cao 4-6m Sàn nhà cách mặt đất chừng 1,4-1,6m Xung quanh nhà có bưng ván, thường để cả tấm cao khoảng 0,5 m kể từ sàn lên
Mặt trong củ mái nhà có nhiều xương sọ các
loại thú rừnh do dân làng đã săn bắn
được Ngoài ra còn treo nhiều loại mặt nạ có
hình thù kỳ dị
Trang 30Nhà Gươl của dân tộc Cơ-tu được trưng bày tại bảo tàng dân tộc học
Trang 31Về hình dáng và cấu trúc mái nhà Gươl cũng giống như mái nhà dân ,nhưng độ dốc lớn
hơn nhiều Đặc biệt hai đầu nóc có trang trí rất nhiều hoa văn hình động thực vật được chạm khắc rất công phu
Bên trong nhà thường chỉ có hai bếp
Nhà Gươl không chỉ là nơi dể tiếp khách ,
hội họp mà còn là nơi cất trữ những đồ quý của làng như chiêng, ché, thanh la,…và các loại vũ khí, đặc biệt là lưỡi giáo,mũi tên đã
sát hại địch thủ
Trang 32Nhà Gươl
Trang 33Những hoa văn trang trí trong nhà gươl thể hiện tín ngưỡng của người Cơ Tu
Trang 34 Ngoài nhà Gươl, làng Cơ-tu nào cũng có một cây cột “ tế thần” hay “hiến sinh” ở vị trí trung
tâm Cột này được trang trí với các hình trạm trổ như chim, gà, rắn, kì đà, cá, rùa và các hình chữ thập rất đa dạng tượng trưng cho mặt trời, trăng, sao Vào những ngà làm lễ hiến sinh
trâu, cột này được gắn thêm hai cánh chim
bằng gỗ, đồng thời có chăng những sợi dây nối
từ đỉnh cột đến nóc nhà Gươl
Trang 35Nhà Gươl và cột hiến sinh
Trang 36Khi làm nhà Gươl xong, người Cơ-tu tổ chức ăn mừng nhà Gươl mới (lan-tơri) được tổ chức từ hai đên ba ngày đêm
Các con cháu dù đi xa lấy vợ có chồng ở làng khác, bà con họ hàng đều được mời về dự lễ này để chung vui với lang Tuỳ điều kiên mỗi
làng mà trong ngày ăn mừng nhà Gươl mới
người ta có thể giết trâu và làm cây nêu tổ chức đâm trâu Họ tổ chức đánh cồng, chiêng, trống, múa hát, uống rượu, và hát lý chúc nhau và hỏi thăm sức khoẻ
Trang 37 Nhà ở của đồng bào Cơ-tu, ngoài nhà Gươn - một loại hình kiến trúc dân gian truyền thống lâu đời - còn có một loại kiến trúc độc đáo khác mà các cư dân trên
vùng Trường Sơn - Tây Nguyên không thể nào có
được đó là nhà Moong.
Moong là loại Gươn biến thể không có cột cái, chỉ có
16 cột phụ chung quanh, chỉ có một cửa nhỏ và đơn giản Nơi để họ nghỉ ngơi, vui chơi, tiếp khách và ăn uống khi gia đình có ma chay, cưới hỏi, buôn làng có
tổ chức lễ hội Moong còn là nơi hẹn hò của bao nam
nữ Cơ-tu để rồi cũng từ đây mà họ nên duyên vợ
chồng
Trang 39 Moong thường được bố trí bên cạnh hoặc về phía
trước ngôi nhà ở, phù hợp với điều kiện địa hình,
không gian và môi trường tự nhiên của rừng núi
Moong cũng được làm từ các vật liệu có xuất xứ từ trong rừng như: mây, gỗ, tre nứa, lồ ô, lá nón hoặc lá tranh, lá mây
Nét độc đáo của nhà Moong thể hiện ở khối óc sáng tạo và đôi bàn tay khéo léo người Cơ-tu cải biên từ ngôi nhà Gươn, ngôi nhà ở truyền thống, và cả nhà kho Mái nhà Moong có dáng hình mu rùa, đôi khi lại
có dáng dấp của ngôi nhà Gươn Chung quanh ngôi nhà được che vách bằng những tấm phên lồ ô đan kiểu nan long mốt theo chiều cao của từng ngôi nhà.
Trang 404 Nhà mồ
Ở phía tây là khu vực nghĩa địa vì họ quan niệm sông theo hướng mặt trời mọc thì
chết phải theo hướng mặt trời lặn Khu
nghĩa địa là nơi yên nghỉ linh thiêng của
người đã khuất, những người chết xấu,
chết không bình thường không được chôn
ở nghĩa địa của làng
Nhà Mồ cũng là một trong nhưng đặc
trưng văn hoá của dân tộc Cơ-tu
Trang 41Nhà mồ
Trang 42Nhà Mồ Cơ-tu là một kiến trúc nhà Mồ mà bên trong nó bao gồm ba bộ phận quan trọng tạo
thành tổng thể các hiện vật liên quan khăn khít với nhau Lần lượt từ dưới lên đó là: chiếc cán dùng để khiêng người chết trong đám trong
đám tang; hòm quách để đựng quan tài người chết; cái giá để cúng cơm cho người chết trong đám tang
Tất cả đều làm bằng gỗ rừng lấy tại địa
phương, những loại mà người Cơ-tu thường
dùng làm nhà Mồ theo tập quán và kinh nghiệm dân gian cua họ như: kiềng kiềng, vàng tâm
Và viêc dùng củ nâu, than củi và nươc mía tạo
ra phẩm mầu đen để tô vẽ
Trang 43 Theo phong tục Cơ-tu đây là kiểu nhà Mồ lớn, bền và đẹp nhất, bề thế và khang trang nhất, nhà Mồ của những người giàu có được kính trọng trong xã hội Nó được dựng khi tổ chức tang lễ lần thứ hai cho người quá cố sau khi
đã mai tang từ một năm trở lên, tương tự như
lễ “bỏ mã” tren Tây Nguyên Đó là dịp lễ trọng
có cúng tế bằng trâu có sự tham gia của toàn thể dân làng họ hàng gần xa
Trang 44 Trong nghĩa địa của làng người ta đào lấy
nguyên cả quan tài đã chôn lên và đem đựng vào cỗ hòm quách đặt lộ thiên dưới hố hoặc
mặt đất trong ngôi nhà Mồ mới dựng này
Có thể 4-5 người quá cố được dồn chung vào một nhà Mồ, nhưng khi là những thành viên
của một gia đình dòng tộc và mỗi người đều có hòm quách riêng,
Ở làng ,nhà Mồ được dựng một mái về hướng đông, một mía về hương tây, và chân người
chết cũng quay về hương tây Quanh nhà Mồ người ta thương gieo trồng lúa, ngô, mía,
chuối cho người chết
Trang 45Các trang trí được tạo ra bằng kĩ thuật và nghệ thuật điêu khắc kết hợp sử dụng các màu đen, đỏ, trắng, vàng, theo truyền thống Cơ-tu Nổi bật là những hình đầu lâu, con rồng, kì đà, chim Tring, chim groóc, biểu
tượng ngọn rau dớn chiêng cồng, bên cạnh
đó còn có mô típ lá cây móc, hình người
ngồi than khóc, người gõ chiên, có cả trâu húc nhau hinh con lợn rừng, rắn, cá, cua,
nhện,
Trang 46Nhà Mồ là một phần đặc sắc trong di sản
văn hoá Cơ-tu Nó không chỉ phản ánh
những khía cạnh về xã hội mà còn phản ánh tín nhiệm cổ truyền Cơ-tu về thế giới bên kia của ma người chết bên cạnh đó còn thể hiện đậm nét những tạo hình trang trí và nghệ
thuật trang trí dân gian trên gỗ của người
Cơ-tu Thêm nữa nó gắn chặt chẽ với nghi
lễ lớn nhất trong tập tục tang ma của đồng bào Nó chứa đựng đồng thời cả những giá trị văn hoá vật thể cả những giá trị văn hoá phi vật thể của một tộc người
Trang 475 Trang phục
Trang phục lễ hội Trang phục thường ngày
Trang 48Đàn ông Cơ-tu thường đóng khố cởi trần
Khố của người đàn ông Cơ Tu có loại bình thường (không trang trí hoa văn và ít màu
sắc), loại dùng trong lễ hội dài rộng về kích thước và trang trí đẹp với màu sắc và hoa
văn trên nền chàm
Mùa rét, họ khoác thêm tấm choàng dài màu chàm và được trang trí hoa văn theo nguyên tắc bố cục dải băng truyền thống với các
màu trắng đỏ, xanh
Trang 49 Ngoài ra nam giới Cơ Tu còn có một loại trang phục rất độc đáo đó là trang phục làm từ vỏ cây.
Những vật liệu làm ra bộ áo quần này là vỏ
cây Trơ Ra Dang, Tà Coóng và Tà Dúir hoặc
cây Mít rừng Đây là những loại cây được kêu theo tên của đồng bào Cơtu, những loại cây này rất mềm và dẻo nên rất dễ đập lột những vỏ
cứng đi còn lại là lớp mỏng bên trong nên lấy
làm áo quần.
Trang 51 Trang phục nữ giới
Trang 52Phụ nữ Cơ-tu cũng cởi trần chỉ buộc một
mảnh vải như cái yếm che ngực (ado),mặc váy ngắn đến đầu gối, về mùa đông khoác
thêm một tấm chăn(adin)
Người phụ nữ Cơ Tu rất thích đeo các đồ
trang sức như vòng cổ, vòng tay, ( mỗi người
có khi mang tới 5,6 cái), khuyên tai bằng gỗ, xương hay đồng xu, vòng cổ bằng đồng, sắt cũng như các chuỗi hạt cườm, vỏ sò, mã
não Nhiều người còn đội trên đầu vòng tre
có kết nút hoặc những vòng dây rừng
trắng(rơnơk) và cắm một số loại lông chim
Trang 56Trang phục lễ hội
-Người Cơ Tu có trang phục riêng cho
những ngày lễ hội Được tạo nên từ những nguyên vật liệu xuât xứ từ cây trồng, cây củ, quả có sẵn trong rừng, những chiếc khố (cha lon), áo cột tay( a doót), tấm choàng (a
duông), váy dài (cơđơớch)
Tấm choàng của đàn ông được dệt trên nền chàm đen có nhiều màu trắng đỏ,vàng
Trang 57 Chiếc áo cột tay của đàn ông, thanh niên trang trí
những dãy hoa văn đối xứng, với những gạch sọc có khoảng cách đều nhau được dệt bởi ba màu: vàng,
đỏ, trắng trông nổi bật trên nền vải chàm đen
Chiếc khố của đàn ông được bố trí các hoạ tiết đường nét hoa văn thành từng mảng lớn
Váy dài của phụ nữ có nhiều hoa văn cách điệu tập
trung thành mặt phẳng lớn ở dưới thân váy Các hoạ tiết hoa văn ở phần thân váy thường đứng riêng lẻ
bằng cách vạch sọc như: hoa văn ablơm(hoa tình
yêu), lá trầu, dây buộc nhà Gươl, múa da dá
Trang 586 Ẩm thực
Người Cơ-tu thường ngày ăn cơm tẻ, ngày lễ hội
có thêm cơm nếp Ăn bốc là tập quán cổ truyền Người Cơ-tu thích ăn những thức ăn luộc, nướng với hương vị chua, đặc biệt là món ăn từ thịt, cá trộn với sắn tươi, bắp chuối, cà bỏ vào ống nứa nướng trên lửa cho đến khi chín nhuyễn mà họ
thường gọi là món Chaza
Họ thích các món và ủ trong ống tre, uống nước lã (nay nhiều người đã dùng nước chín), rượu mía, rượu tà-vạt (chế từ một loaiị cây rừng, họ dừa) và rượu lam từ gạo, sắn Họ hút thuốc bằng tẩu.