ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN --- Nguyễn Tuấn Anh NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI, PHÂN BỐ, VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP BẢO TỒN CHO LOÀI THỎ VẰN TRƯỜNG SƠN N
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Nguyễn Tuấn Anh
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI, PHÂN BỐ, VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP BẢO TỒN CHO LOÀI THỎ VẰN TRƯỜNG SƠN
NESOLAGUS TIMMINSI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Nguyễn Tuấn Anh
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI, PHÂN BỐ, VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP BẢO TỒN CHO LOÀI THỎ VẰN TRƯỜNG SƠN
NESOLAGUS TIMMINSI
Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Mã số: 8440301.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS Lê Đức Minh
Hà Nội – 2019
Trang 3Lời cảm ơn
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn của tôi, là PGS TS Lê Đức Minh, đã giúp đỡ tôi tận tình trong toàn bộ quá trình học và quá trình thực hiện luận văn thạc sĩ này Tôi cũng xin cảm ơn các thầy cô giáo của Khoa Môi trường, trường Đại học Khoa học tự nhiên nói chung, và các thầy cô giáo của Bộ môn Sinh thái môi trường nói riêng, đặc biệt là PGS TS Trần Văn Thụy, PGS TS Nguyễn Kiều Băng Tâm, Th.S Nguyễn Thị Thu Hà, đã tạo điều kiện cho tôi trong thời gian học tập
Tiếp theo, tôi xin cảm ơn TS Mary Blair, giám đốc phòng Tin Sinh học, Trung tâm Bảo tồn đa dạng sinh học, Bảo tàng lịch sử tự nhiên Hoa Kỳ, và các đồng nghiệp ở Bảo tàng lịch sử tự nhiên Hoa Kỳ, đặc biệt là Ned Horning và Peter Galante, đã giúp đỡ trong thời gian đầu tôi làm quen với các phương pháp mô hình hóa
Nhiều phần về thực địa và tổng hợp số liệu của luận văn này sẽ không thể thực hiện được nếu không có sự giúp đỡ tận tình của các anh chị, các đồng nghiệp, bao gồm anh Nguyễn Văn Thành, Ngô Thị Hạnh, và Nguyễn Thị Thắm ở Đại học Khoa học
tự nhiên Hà Nội, anh Nguyễn Thế Trường An, và anh Andrew Tilker ở Viện nghiên cứu thú Leibniz, anh Trịnh Đình Hoàng ở Fauna & Flora International Việt Nam, Santi Xayyasith ở Đại học Quốc gia Lào, anh Trần Văn Bằng ở Viện Sinh thái học miền Nam, anh Nguyễn Quảng Trường ở Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, chị Nguyễn Thị Ánh Minh ở Đại học Khoa học tự nhiên Thành phố Hồ Chí Minh, và nhiều anh em, cán bộ kiểm lâm, và người dẫn đường địa phương ở nhiều khu bảo tồn trên cả nước
Hà Nội, 18/06/2019 Nguyễn Tuấn Anh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Tổng quan về đa dạng sinh học ở khu vực dãy Trường Sơn 3
1.2 Tổng quan về loài Thỏ vằn Trường Sơn 7
1.3 Tổng quan về tình hình khảo sát bẫy ảnh 10
1.4 Tổng quan về Mô hình hóa phân bố loài 14
1.4.1 Sơ lược nghiên cứu mô hình hóa phân bố loài trên thế giới 14
1.4.2 Sơ lược nghiên cứu mô hình hóa phân bố loài ở Việt Nam 17
1.5 Tổng quan về các khu vực nghiên cứu chính 19
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 33
2.2 Nội dung nghiên cứu 34
2.3 Thời gian thực hiện 35
2.4 Dụng cụ nghiên cứu chính 35
2.5 Các phương pháp nghiên cứu chính 36
2.5.1 Phương pháp kế thừa tài liệu 36
2.5.2 Phương pháp phỏng vấn 36
2.5.3 Phương pháp điều tra thực địa theo tuyến 37
2.5.4 Phương pháp điều tra bẫy ảnh 38
2.5.5 Phương pháp mô hình hóa phân bố 40
Trang 5CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 45
3.1 Kết quả điều tra thực địa theo tuyến 45
3.2 Kết quả điều tra bẫy ảnh 46
3.3 Kết quả mô hình hóa phân bố 55
3.3.1 Các ghi nhận về phân bố của Thỏ vằn Trường Sơn 55
3.3.2 Kết quả mô hình phân bố cho loài Thỏ vằn 64
3.4 Một số biện pháp bảo tồn cho loài Thỏ vằn Trường Sơn 74
3.4.1 Các yếu tố chính tác động đến quần thể Thỏ vằn Trường Sơn 74
3.4.2 Các biện pháp bảo tồn quần thể 75
3.4.3 Các biện pháp bảo vệ sinh cảnh 76
3.4.4 Các biện pháp tuyên truyền nâng cao năng lực và nhận thức 77
3.5 Thảo luận 77
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
PHỤ LỤC 97
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 1 Bản đồ độ cao khu vực dãy Trường Sơn 4
Hình 2 Một loài Nguy cấp, Cầy vằn Bắc (Chrosogale owstoni), được ghi nhận bằng bẫy ảnh tại khu vực nghiên cứu 11
Hình 3 Vị trí bốn khu vực nghiên cứu chính của luận văn, so với một số khu bảo tồn khác trong khu vực dãy Trường Sơn 21
Hình 4 Một khu vực tại Vườn quốc gia Bến En 24
Hình 5 Một khu vực tại khu bảo tồn Sao la Huế 32
Hình 6 Minh họa giá trị AICs dùng để lựa chọn mô hình 43
Hình 7 Biểu đồ khung nghiên cứu của luận văn 44
Hình 8 Các tuyến điều tra đã khảo sát ở Vườn quốc gia Bến En 45
Hình 9 Các tuyến điều tra đã khảo sát ở khu bảo tồn Hin Nam No 46
Hình 10 Ghi nhận Thỏ vằn bằng bẫy ảnh ở khu bảo tồn Sao la Huế 48
Hình 11 Đặc điểm sinh thái thời gian trong ngày của Thỏ vằn Trường Sơn 49
Hình 12 Tỉ lệ xuất hiện từ 18h00 đến 22h00 ở các tháng trong năm của Thỏ vằn Trường Sơn 50
Hình 13 Tỉ lệ xuất hiện vào các ngày trong tháng của Thỏ vằn Trường Sơn 51
Hình 14 Tỉ lệ xuất hiện vào các nhóm 5 ngày của Thỏ vằn Trường Sơn 51
Hình 15 Tỉ lệ xuất hiện vào các tháng trong năm của Thỏ vằn Trường Sơn 52
Hình 16 Tỉ lệ xuất hiện vào các tháng trong năm của Cầy vòi hương (Paradoxurus hermaphroditus) ở khu bảo tồn Sao la Huế 53
Hình 17 Tỉ lệ xuất hiện vào các tháng trong năm của Chồn bạc má Bắc (Melogale moschata) ở khu bảo tồn Sao la Huế 53
Hình 18 Tổng hợp các điểm ghi nhận của Thỏ vằn Trường Sơn từ trước tới nay 64
Hình 19 Giá trị AUC của mô hình tốt nhất cho phân bố tiềm năng hiện tại của Maxent 65
Hình 20 Phân bố tiềm năng hiện tại của Thỏ vằn Trường Sơn, với vị trí của các khu bảo tồn ở khu vực dãy Trường Sơn 66
Trang 7Hình 21 Vùng phân bố dự kiến của Thỏ vằn Trường Sơn
ở năm 2050 dưới kịch bản RCP 2,6 và kịch bản RCP 8,5
của mô hình hoàn lưu khí hậu toàn cầu BCC-CSM1-1 69
Hình 22 Vùng phân bố dự kiến của Thỏ vằn Trường Sơn
ở năm 2050 dưới kịch bản RCP 2,6 và kịch bản RCP 8,5
của mô hình hoàn lưu khí hậu toàn cầu MIROC5 70
Hình 23 Vùng phân bố dự kiến của Thỏ vằn Trường Sơn
ở năm 2050 dưới kịch bản RCP 8,5 của mô hình hoàn lưu khí hậu toàn cầu
BCC-CSM1-1 và phân vùng độ cao ở Việt Nam và Lào 72
Hình 24 Vùng phân bố dự kiến của Thỏ vằn Trường Sơn
ở năm 2050 dưới kịch bản RCP 8,5 của mô hình hoàn lưu khí hậu toàn cầu
MIROC5 và phân vùng độ cao ở Việt Nam và Lào 73
Hình 25 Vùng phân bố tiềm năng hiện nay của Thỏ vằn Trường Sơn
so với các vùng có độ cao khác nhau 78
Hình 26 Vị trí tương đối của vùng phân bố tiềm năng hiện tại của
Thỏ vằn Trường Sơn với hệ thống sông Mã ở phía Bắc và
hệ thống sông Sê San – sông Ba ở phía Nam 82
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Các khu vực điều tra thực địa chính của luận văn 20 Bảng 2 Kết quả tổng hợp các ghi nhận về Thỏ vằn từ trước tới này 55 Bảng 3 Diện tích vùng phân bố dự kiến của Thỏ vằn Trường Sơn
trong các kịch bản biến đổi khí hậu khác nhau 71
Trang 10MỞ ĐẦU
Dãy Trường Sơn là một khu vực có mức độ đa dạng sinh học cao, với nhiều loài thú
đặc hữu và quý hiếm, như Sao la (Pseudoryx nghetinhensi), Vooc Hà Tĩnh (Trachypithecus hatinhensis), Vượn má trắng Nam (Nomascus siki), Lợn rừng Heude (Sus bucculentus), Mang Trường Sơn (Muntiacus truongsonensis) [76] Khu
vực này được coi là “mỏ loài mới” của Việt Nam nói riêng, và khu vực Đông Dương nói chung, với nhiều loài thú được phát hiện hoặc tái phát hiện ở giai đoạn gần đây, đặc biệt là từ những năm 1990 trở về đây, ví dụ như Mang Trường Sơn
(Muntiacus truongsonensis) [33], Thỏ vằn Trường Sơn (Nesolagus timminsi) [11], Mang Roosevelt (Muntiacus rooseveltorum) [53] Tuy nhiên, với mức độ đa dạng
cao như vậy, các loài sinh vật ở Trường Sơn đã và đang chịu ảnh hưởng tiêu cực từ việc săn bắn trái phép quá mức và phá hủy sinh cảnh
Tình trạng săn bắn trái phép là một trong những mối đe dọa phổ biến nhất đối với các loài: nhiều loài đã trở nên rất khó ghi nhận ngoài tự nhiên do tình trạng sử dụng bẫy dây phanh với quy mô lớn như Sao la, một số loài khác thậm chí đã bị tuyệt chủng [76] Trong đó, loài Thỏ vằn Trường Sơn, vốn mới chỉ được phát hiện từ năm
1996 và chính thức mô tả năm 2001, đã phải đối mặt với những nguy cơ trên Tuy nhiên, Thỏ vằn Trường Sơn lại là loài thiếu nhiều thông tin sinh thái quan trọng, trong đó có đặc điểm phân bố của loài, và chưa có công bố nào về phân bố tiềm năng và dự báo vùng phân bố của loài này trong bối cảnh biến đổi khí hậu, vốn là những thông tin rất cần thiết để có thể đề ra các biện pháp bảo tồn phù hợp cho loài
Vì thế, mục tiêu trước tiên của nghiên cứu này là tổng hợp các thông tin từ các nghiên cứu trước đây liên quan đến loài Thỏ vằn Trường Sơn, kết hợp với các thông tin phỏng vấn chuyên gia và phỏng vấn thực tế, để tìm ra những khu vực có tiềm năng có Thỏ vằn cao mà chưa được ghi nhận thực tế Mục tiêu thứ hai là tiến hành khảo sát thực địa, bằng cả phương pháp điều tra theo tuyến và điều tra bẫy ảnh, để thu thập các vùng có Thỏ vằn sinh sống ở các khu vực tiềm năng, và phân tích số
Trang 11liệu thực địa để tìm ra một số đặc điểm sinh thái của loài, đặc biệt là các đặc điểm phân bố về thời gian Mục tiêu thứ ba là sử dụng các kết quả thu được từ những nghiên cứu trước đây và từ quá trình thực địa để xây dựng mô hình phân bố loài, từ
đó phân tích một số đặc điểm sinh thái về phân bố không gian của Thỏ vằn, đồng thời đánh giá sự thay đổi về đặc điểm phân bố trong tương lại của Thỏ vằn dưới tác động của biến đổi khí hậu, để từ đó đề xuất được các biện pháp bảo tồn thích hợp cho loài và cung cấp cơ sở khoa học cho quy hoạch bảo tồn Thỏ vằn Trường Sơn
Vì thế, các nội dung nghiên cứu chính của luận văn bao gồm:
(1) Tổng hợp các thông tin từ các nghiên cứu trước đây liên quan đến loài Thỏ vằn Trường Sơn, kết hợp với các thông tin phỏng vấn chuyên gia và phỏng vấn thực tế,
để tìm ra những khu vực có tiềm năng có Thỏ vằn cao mà chưa được ghi nhận thực
tế
(2) Tiến hành khảo sát thực địa, bằng cả phương pháp điều tra theo tuyến và điều tra bẫy ảnh, để thu thập các vùng có Thỏ vằn sinh sống ở một khu vực tiềm năng, và phân tích số liệu thực địa để tìm ra một số đặc điểm sinh thái của loài, đặc biệt là các đặc điểm phân bố về không gian và thời gian
(3) Sử dụng các kết quả thu được từ những nghiên cứu trước đây và từ quá trình thực địa để xây dựng mô hình phân bố loài, từ đó phân tích một số đặc điểm sinh thái về phân bố không gian của Thỏ vằn, đồng thời đánh giá sự thay đổi về đặc điểm phân bố trong tương lại của Thỏ vằn dưới tác động của biến đổi khí hậu, và đề xuất một số biện pháp bảo tồn thích hợp cho Thỏ vằn Trường Sơn
Trang 12CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Tổng quan về đa dạng sinh học ở khu vực dãy Trường Sơn
Dãy Trường Sơn là một trong những dãy núi chính của khu vực Đông Dương, chạy
dọc theo biên giới Việt Nam – Lào (Hình 1) Dãy Trường Sơn là nơi có giá trị đa
dạng sinh học cao, là nơi cư trú của nhiều loài quý hiếm, đặc hữu Khu vực này còn được coi là “mỏ loài mới” của Việt Nam và Lào, với rất nhiều loài mới được phát
hiện và mô tả trong những năm gần đây như Sao la (Pseudoryx nghetinhensis) [83], Mang lớn (Muntiacus vuquangensis) [73], và Thỏ vằn (Nesolagus timminsi) [11]
Trong ba thập kỷ gần đây, các nỗ lực bảo tồn và khảo sát đa dạng sinh học được thực hiện nhằm nghiên cứu và bảo vệ giá trị đa dạng sinh học ở nơi đây Tuy nhiên, giống như nhiều khu vực ở Đông Nam Á, các loài sinh vật quý hiếm, đặc hữu của dãy Trường Sơn đang phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng lớn, gây ra bởi tình trạng săn bắt trái phép và phá hủy sinh cảnh trên diện rộng
Trang 13Hình 1 Bản đồ độ cao khu vực dãy Trường Sơn
Nhiều nghiên cứu đã nêu bật đặc điểm đa dạng sinh học đặc biệt của Trường Sơn và các mối đe dọa mà khu vực này đang đối mặt Diện tích rừng ở cảnh quan này đã bị suy giảm nhanh chóng trong vòng khoảng 60 năm trở lại đây do rất nhiều nguyên nhân khác nhau, từ việc chất độc hóa học để phát quang trong chiến tranh; đến quá trình mở lâm trường, nông trường, và chủ trương khai thác gỗ, chuyển đổi các diện tích rừng đã bị khai thác và mở rộng các diện tích đất nông nghiệp vào những năm
1980 và 1990; và tình trạng phá rừng trái phép từ những năm 1990 trở lại đây Kết
Trang 14khu vực [76] Ở phía bên kia biên giới ở Lào, có một số khu vực vẫn có các cánh rừng có diện tích lớn chưa bị khai thác quy mô lớn và ít bị tác động của con người, nhưng các khu rừng này cũng đang phải đối mặt với tình trạng phá rừng và khai thác khoáng sản ngày càng tăng, và nếu như không có các biện pháp bảo vệ trong tương lai gần, thì các cánh rừng và đa dạng sinh học ở Lào cũng sẽ bị suy giảm tới mức như ở Việt Nam [36]
Trong vòng 10 năm trở lại đây, diện tích che phủ rừng ở Việt Nam có tăng nhờ quyết định đóng cửa rừng của Chính phủ và việc cải thiện thực thi pháp luật đối với các vi phạm liên quan đến phá rừng trái phép Tuy nhiên, có một điểm cần phải lưu
ý, rằng một phần đáng kể độ che phủ rừng tăng lên là đến từ việc trồng đơn canh một số loại cây phục vụ sản xuất, ví dụ như Keo và Bạch đàn, chứ không phải là sự gia tăng diện tích rừng tự nhiên [51]
Mối đe dọa trực tiếp đầu tiên trong thời điểm hiện tại đối với các loài động vật ở dãy Trường Sơn là tình trạng săn bắn trái phép để tiêu thụ tại chỗ và cung cấp cho thị trường buôn bán động vật hoang dã trái phép Hoạt động săn bắt trái phép đã gây
ra sự tuyệt chủng của nhiều loài động vật có xương sống ở Việt Nam Một số loài tiêu biểu đã tuyệt chủng hoặc tuyệt chủng về mặt chức năng ở Việt Nam gồm có:
Sao la (Pseudooryx nghetinhensis), Hổ (Panthera tigris), Báo (Panthera pardus), Báo gấm (Neofelis nebulosi), Hươu vàng (Axis porcinus), và Tê giác một sừng (Rhinoceros sondaicus) – và đây chỉ là một số loài trong rất nhiều loài đã bị tuyệt
chủng trong giai đoạn qua [14, 76]
Săn bắn bằng bẫy bắt dây phanh đang là một trong những phương thức săn bắt phổ biến nhất hiện nay ở Việt Nam, vì các bẫy dây phanh có giá rất rẻ, khối lượng nhẹ,
dễ vận chuyển với số lượng lớn, tương đối bền bỉ, và dễ dàng được cài đặt Hơn nữa, ở Việt Nam hiện nay hầu như không có các quy định pháp luật nào hạn chế việc mua bán và sử dụng dây phanh, nên những thợ săn có thể mua và mang vật liệu này vào trong rừng tương đối dễ dàng Việc bẫy bắt bằng dây phanh hiện tại đang ở mức độ tương đối cao ở một số khu bảo tồn, ví dụ các cán bộ kiểm lâm ở khu bảo
Trang 15tồn Sao la Huế phá và tịch thu khoảng 10.000 – 12.000 bẫy dây phanh một năm –
và con số này mới chỉ phản ánh một phần của toàn bộ bẫy dây phanh trong rừng (phỏng vấn Giám đốc Khu bảo tồn Sao la Huế) Kết quả của tình trạng săn bắn trái phép quá mức là nhiều khu rừng ở Trường Sơn nói riêng và Việt Nam nói chung đang hứng chịu “hội chứng rừng trống”, nơi có sinh cảnh và hệ sinh thái phù hợp nhưng hầu như thiếu vắng các loài động vật sinh sống, đặc biệt là các loài thú sống
ở mặt đất, do chúng phải chịu áp lực săn bắn quá lớn [36]
Ở Việt Nam, một số khu bảo tồn đã tiến hành một số chương trình gỡ bỏ bẫy dây phanh, ví dụ như bộ ba khu bảo tồn liền kề nhau là Vườn quốc gia Bạch Mã – khu bảo tồn Sao la Huế – khu bảo tồn Sao la Quảng Nam, với sự hỗ trợ của các tổ chức trong nước và quốc tế chuyên về bảo tồn như WWF Việt Nam, nhưng thậm chí ở những khu này thì tình trạng đặt và sử dụng bẫy dây phanh vẫn diễn ra khá phổ biến Ở Lào, mặc dù dân số nhìn chung là thấp, và có nhiều khu bảo tồn có diện tích lớn nhưng bẫy bắt bằng dây phanh cũng khá phổ biến, đặc biệt là tại các khu rừng nằm liền kề với biên giới Việt Nam, khiến các loài động vật hoang dã ngày càng trở nên quý hiếm [36, 75] Hơn nữa, với việc thiếu các hoạt động thực thi pháp luật hiệu quả, các khu rừng biên giới của Lào có thể cũng sẽ phải đối mặt với tình trạng
“rừng trống” như nhiều khu bảo tồn ở Việt Nam [36, 75]
Mặc dù đã có nhiều báo cáo về tác động tiêu cực của săn bắn trái phép đến đa dạng sinh học nói chung, và đa dạng sinh học ở Việt Nam nói riêng, nhưng đến nay áp lực săn bắn vẫn còn tương đối phổ biến ở nhiều khu bảo tồn tại Việt Nam và Lào
Ví dụ, loài Lợn vòi (Tapirus indicus) đã bị coi là tuyệt chủng do không có ghi nhận trong thời gian dài, hoặc Tê giác một sừng (Rhinoceros sondaicus) đã tuyệt chủng
gần một thập niên [14] Trong khoảng một thập niên gần đây, một số sáng kiến bảo tồn đã và đang được thực hiện nhằm cố gắng ngăn chặn các ảnh hưởng tiêu cực từ săn bắn trái phép đến đa dạng sinh học ở khu vực Trường Sơn Các giải pháp có thể
kể đến gồm có thành lập mới ba khu bảo tồn (khu bảo tồn Sao la Huế, khu bảo tồn Sao la Quảng Nam, và khu bảo tồn Voi Nông Sơn) và mở rộng diện tích Vườn quốc
Trang 16gia Bạch Mã Thêm vào đó, các đội chuyên trách tuần tra bảo vệ rừng và phá gỡ bẫy dây phanh trên diện rộng, tập trung cho diện tích rừng thuộc hai khu bảo tồn Sao la của Thừa Thiên Huế và Quảng Nam, đã được thành lập và triển khai như là một phần của một dự án hợp tác lớn của KfW và WWF – Dự án Sinh khối carbon và Đa dạng sinh học Cũng trong dự án này, chương trình Chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) đã được tiến hành thực hiện đễ hỗ trợ các cộng đồng dân cư địa phương quanh các khu bảo tồn và cung cấp một phần kinh phí cho các hoạt động bảo tồn Tuy nhiên, do thiếu một bộ dữ liệu nền cơ sở về hiện trạng bảo tồn của các loài và không có bất cứ một khảo sát có hệ thống nào được thực hiện trước đó, hiệu quả của các giải pháp bảo tồn trên đối với các loài động vật nguy cấp, quý hiếm, đặc hữu trong khu vực Trường Sơn vẫn còn chưa được làm sáng tỏ Các dữ liệu nền là rất cần thiết để làm cơ sở đánh giá một cách toàn diện các tác động của các hoạt động bảo tồn khác nhau đến hiện trạng quần thể của các loài, để từ đó có các giải pháp điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện thực tiễn Các cuộc điều tra thực địa nếu được tổ chức bài bản và có hệ thống, có phương pháp rõ ràng ở khu vực dãy Trường Sơn có thể sẽ giúp đánh giá chính xác hơn hiệu quả thực tế của các giải pháp bảo tồn ở khu vực này
1.2 Tổng quan về loài Thỏ vằn Trường Sơn
Giống Thỏ vằn (Nesolagus) được phát hiện từ năm 1880, với một loài duy nhất là Thỏ vằn Sumatra (N netscheri) ghi nhận ở một số vùng ở phía Nam đảo Sumatra,
Indonesia [77] Thỏ vằn Sumatra rất khó điều tra theo phương pháp truyền thống, và
từ trước đến giờ mới chỉ thu thập được 12 mẫu bảo tàng của loài Vì thế, các thông tin về tập tính sinh thái của loài này rất hạn chế, với một số đặc điểm bao gồm: đây
là loài chỉ hoạt động về đêm, chỉ phân bố ở các cánh rừng nguyên sinh có độ cao từ
600 m – 1.200 m ở một số khu vực có diện tích nhỏ phía Nam đảo Sumatra [58]
Trang 17Đến đầu những năm 1990, cùng với việc các tổ chức quốc tế đầu tư nhiều cho công tác điều tra đa dạng sinh học ở Đông Dương, đã bắt đầu xuất hiện những báo cáo về việc có một loài thỏ mới có hình dạng gần giống với Thỏ vằn Sumatra ở Lào Đến năm 1996, Robert Timmins và các đồng nghiệp đã thu được một mẫu thỏ vằn tại một chợ mua bán thực phẩm ở Ban Lak (Bản Lác), Lào, chỉ cách biên giới Việt Nam – Lào đoạn qua tỉnh Hà Tĩnh – Quảng Bình khoảng 30 km Các kết quả phân tích ban đầu về hình thái và di truyền cho thấy, loài thỏ này là một loài thú hoàn toàn mới, đã có thời gian cách ly với loài Thỏ vằn Sumatra lên tới 8 triệu năm [77] Đến năm 2000, Robert Timmins và cs đã phát hiện nhiều cá thể của loài thỏ này ở khu vực rừng giao thoa giữa Việt Nam và Lào ở Nghệ An và Hà Tĩnh [80] Đến giữa năm 2000, loài thỏ mới chính thức được mô tả bởi Averianov và cs dựa trên một cá thể phát hiện ở huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh, và được đặt tên chính thức là
Thỏ vằn Trường Sơn Nesolagus timminsi [11]
Về hình thái bên ngoài, Thỏ vằn Trường Sơn có nhiều đặc điểm giống với Thỏ vằn Sumatra, ví dụ như các sọc nâu/đen chạy ngang phần lưng/thân, tai và đuôi khá ngắn, nhưng khác loài Sumatra ở kích thước và cấu trúc xương sọ và các răng [11]
Về một số đặc tính sinh thái về tập tính và phân bố của Thỏ vằn Trường Sơn, đã có một số nghiên cứu trong và ngoài nước từ năm 2001 đến gần đây Ví dụ, Đặng
Ngọc Cẩn và cs (2001) đã thống kê thêm một số khu phân bố của N timminsi, bao
gồm từ Vườn Quốc gia Pù Mát – Nghệ An đến Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bảng – Quảng Bình, và thường được tìm thấy ở những nơi có độ cao từ 600 m – 1,200m Tác giả cũng đã nhận định săn bắn là một trong những nguy cơ lớn nhất cho loài [15]
Phạm Trọng Ảnh và cs (2009) đã tiến hành điều tra thực địa, thu thập một số mẫu vật thu ở Hương Sơn, Hà Tĩnh và Lệ Thủy, Quảng Bình để xác định đa dạng di truyền và một số đặc tính sinh học – sinh thái của loài Thỏ vằn Trường Sơn Các tác
giả đã xác định loài N timminsi có khoảng cách di truyền lớn so với nhiều loài
khác, từ xấp xỉ 19% – 26% Tuy nhiên các tác giả đã không thực hiện phân tích giữa
Trang 18Thỏ vằn Trường Sơn và Thỏ vằn Sumatra Về đặc điểm sinh học – sinh thái, các tác
giả kết luận N timminsi là loài thú sống về đêm, hoạt động chủ yếu từ 7h tối đến 3h
sáng, với thời gian thường gặp nhất là từ 10h tối đến 2h sáng Sinh cảnh ưa thích chính của loài là rừng ẩm thường xanh có độ che phủ nhẹ, rừng thứ sinh hỗn giao tre nứa, rừng tái sinh sau khai thác có thảm thực vật cây bụi thập và tầng vỏ quyết [2]
Các tác giả cũng ghi nhận một số trường hợp có người bắt gặp thỏ ra kiếm ăn ở các nương bãi bỏ hoang hoặc đang canh tác gần rừng Thỏ vằn thường dễ gặp ở gần khe suối, mặc dù nước không phải là yếu tố chi phối, mà thảm thực vật cạnh suối là yếu
tố ảnh hưởng quyết định Loài Thỏ vằn Trường Sơn thường phân bố từ độ cao 500m trở xuống, sống ở các hang nông, dựa vào các hốc cây, hốc đá, bờ hẻm sườn núi, hó dưới các bụi cây rậm, không đào xuống lòng đất Thỏ vằn sống một mình, không kiếm ăn theo đàn trừ trường hợp mẹ con Các loài săn mồi đe dọa chủ yếu
đến thỏ vằn gồm các loài thú ăn thịt nhỏ như Triết (Mustela sp.), Chồn vàng (Mertes flavigula), Lỏn tranh (Herpestes jananicus), Cầy đốm (Pronodon
paradicolor), Mèo báo (Prionailurus bengalensis), Báo lửa (Catopumur temminckii) Thú cạnh tranh chủ yếu của thỏ vằn là loài Thỏ nâu (Lepus pyguensis),
nhưng số lượng Thỏ nâu trong vùng phân bố của thỏ vằn không đáng kể Các tác giả cũng đề cập đến việc quan sát được một tổ thỏ vằn có 2 con non khoảng 15 – 20 ngày tuổi vào tháng 8/2003 ở Hương Sơn, Hà Tĩnh Thỏ vằn được xác định là ăn lá, cuống lá, ngọn của cây, nhưng ưa thích phần lá và chồi non Các tác giả cho rằng, tuy thức ăn của thỏ vằn tương đối đa dạng, gồm nhiều loài và họ, nhưng các khảo sát thực địa cho thấy các cây thức ăn ưa thích là các loài cây thảo, cây bụi dây leo thuộc lớp hai lá mầm, cây thuộc lớp một lá mầm rất ít Các tác giả đã xác định được thành phần loài thực vật thức ăn của thỏ vằn gồm 44 loài thuộc 6 họ và 16 chi khác nhau [2]
Andrew Tilker và cs (2018) đã tiến hành khảo sát thực địa ở 3 tỉnh tiếp giáp với nhau là Thừa Thiên Huế và Quảng Nam (Việt Nam), và Salavan (Lào) dựa vào bẫy
Trang 19ảnh và đã ghi nhận Thỏ vằn Trường Sơn ở 36 địa điểm khác nhau Các tác giả cũng đánh giá ảnh hưởng của một số yếu tố khác nhau, ví dụ như độ che phủ tán, mật độ cây, đặc điểm sinh cảnh, đặc điểm địa hình và mức độ tác động của con người để từ
đó tính ra mức độ phổ biến của Thỏ vằn Trường Sơn ở một số khu bảo tồn trong khu vực Các tác giả cũng kết luận rằng, mức độ tác động của con người là nhân tố ảnh hưởng chính đến phân bố hiện nay của Thỏ vằn Trường Sơn ở 3 tỉnh được nghiên cứu, nhiều hơn cả ảnh hưởng từ các nhân tố tự nhiên [79]
1.3 Tổng quan về tình hình khảo sát bẫy ảnh
Khảo sát bẫy ảnh là phương pháp khảo sát không gây hại cho động vật được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu gần đây Phương pháp này đặc biệt thích hợp để phát hiện các loài quý hiếm, khó phát hiện và khó nghiên cứu bằng các phương
pháp quan sát trực tiếp (Hình 2) Khảo sát bẫy ảnh có lợi thế với khả năng tích lũy
lượng lớn dữ liệu so với nguồn lực về thời gian phải đầu tư, và thích hợp cho các khảo sát ở các khu vực xa xôi [39, 49, 55, 91] Kết quả từ nhiều nghiên cứu khác nhau có sử dụng bẫy ảnh đã cho thấy phương pháp này có thể cung cấp thông tin về phân bố, tập tính và tương quan giữa loài với các yếu tố con người và tự nhiên Dữ liệu từ khảo sát bẫy ảnh còn có thể được sử dụng để tính toán nhiều thông số khác nhau của quần thể và quần xã, và do đó phương pháp này cũng giúp ích cho các nghiên cứu về biến động quần thể [19]
Trang 20Hình 2 Một loài Nguy cấp, Cầy vằn Bắc (Chrosogale owstoni), được ghi nhận
bằng bẫy ảnh tại khu vực nghiên cứu
Khảo sát bẫy ảnh đã được phát triển trong một thời gian dài để nghiên cứu các loài thú có kích thước trung bình và lớn Đa số khảo sát sử dụng bẫy ảnh đều tập trung
vào các loài thú có tính biểu tượng cao như Hổ (Panthera tigris) hoặc được thiết kế
để nghiên cứu quần xã các loài thú nói chung [16, 47] Tuy nhiên, gần đây một số nghiên cứu đã cho thấy bẫy ảnh cũng có thể được sử dụng để thu thập thông tin về các loài thú nhỏ, đặc biệt là các loài hoạt động nhiều gần mặt đất Bẫy ảnh có khả năng ghi nhận từ các loài gặm nhấm, các loài khỉ, cho đến thú ăn thịt nhỏ với hiệu suất tương đối tốt [22, 37, 46] Mặc dù các loài này có thể được điều tra bằng phương pháp khảo sát theo điểm và khảo sát theo tuyến truyền thống, nhưng bẫy ảnh lại có lợi thế rất lớn khi có thể thu thập được nhiều dữ liệu trong khoảng thời
Trang 21gian dài Như vậy, dữ liệu thu thập được từ khảo sát bẫy ảnh không chỉ cung cấp được các thông tin theo không gian mà còn theo thời gian
Khảo sát đa dạng sinh học bằng bẫy ảnh đã được bắt đầu ứng dụng trên thế giới từ đầu thế kỷ 20, nhưng đại đa số các cuộc điều tra trước những năm 80 của thế kỷ trước thường không mang tính thực tiễn cao và rất đắt đỏ, do các máy ảnh thế hệ đầu phải dùng bột ma-giê cháy cho đèn chiếu (flash), rất nguy hiểm nếu dùng trong rừng do dễ gây cháy rừng, và dễ bị hỏng do dính ẩm từ điều kiện thời tiết mưa hoặc sương Cơ chế kích hoạt chụp ảnh thời kỳ đầu cũng chủ yếu là dùng các loại dây hoặc bẫy chăng ngang đường di chuyển của các loài động vật, nếu cá thể động vật
đi ngang qua vướng phải dây sẽ kích hoạt máy ảnh Ngoài ra, các ống kính và cảm biến máy ảnh thời kỳ đầu cũng tương đối kém, không có bắt nét tự động, không chụp được ảnh trong điều kiện ánh sáng thiếu, và không chụp được ảnh vật thể di chuyển quá nhanh, ngoài tầm bắt nét của máy Thay đổi lớn, mang tính cách mạng cho việc sử dụng bẫy ảnh đầu tiên trên thế giới, là nghiên cứu dùng bẫy ảnh ghi nhận các loài động vật ở Australia, bằng cách sử dụng một thiết bị phát tia hồng ngoại liên tục và một cảm biến thu nhận hồng ngoại Khi một cá thể động vật đi ngang qua bẫy ảnh, làm gián đoạn việc thu nhận hồng ngoại của cảm biến, cảm biến
sẽ gửi tín hiệu đến máy ảnh để máy ảnh tự động khởi động và chụp ảnh, đồng thời cảm biến cũng sẽ gửi tín hiệu đến một đồng hồ điện tử để đồng hồ ghi nhận lại thời gian của việc chụp ảnh Nghiên cứu này đã tạo tiền đề quan trọng cho các nghiên cứu dùng bẫy ảnh để phân tích các đặc điểm sinh thái về không gian và thời gian của các loài động vật sau này [19]
Việc sử dụng bẫy ảnh trong nghiên cứu đa dạng sinh học vì thế đã trở nên phát triển
và dần phổ biến trong suốt những năm 90, với rất nhiều ứng dụng ở rất nhiều địa điểm trên toàn thế giới, ví dụ như để tính toán mật độ rắn đuôi chuông ở Massachusetts, Mỹ; hay để thuyết minh cho việc xây dựng các đường tránh cho động vật di chuyển khi thiết kế và xây dựng các tuyến đường cao tốc ở Florida, Mỹ; hay để giám sát và ước tính thay đổi quần thể của loài hươu đuôi trắng trong khoảng
Trang 22thời gian ba năm Một nghiên cứu ở Ấn Độ đã sử dụng bẫy ảnh để nhận dạng chính xác từng cá thể Hổ, từ đó tính số lượng hổ còn lại trong tự nhiên ở nhiều khu vực khác nhau, tạo tiền đề cho việc thành lập khu bảo tồn hổ ở nước này Một nghiên cứu ở Nhật đã dùng số liệu từ bẫy ảnh để tính toán mức độ tiêu thụ quả có hạt của loài Khỉ Nhật Bản, từ đó ước tính mức độ đóng góp của các loài linh trưởng trong việc phát tán hạt cho các loài cây khác nhau trong rừng Một nghiên cứu khác ở Florida, Mỹ, dùng số liệu về tần suất và kích thước các loài ghi nhận được trước và sau mùa cháy rừng trong nhiều năm liên tục để ước tính về ảnh hưởng của cháy rừng tự nhiên đến quần xã sinh vật, và từ đó kết luận là cháy rừng tự nhiên hoàn toàn có thể có tác dụng có lợi cho việc phát triển của quần xã tự nhiên [19]
Trong 20 năm qua, bẫy ảnh đã được sử dụng phổ biến trong các cuộc điều tra thú ở Việt Nam nói chung, và khu vực Trường Sơn nói riêng Do các hạn chế kỹ thuật liên quan đến các loại bẫy ảnh truyền thống trước đây, cũng như do hạn chế về nguồn kinh phí, lúc đầu chỉ có một số ít máy ảnh được sử dụng trong các nghiên cứu và do đó chỉ tập trung khảo sát ở các khu vực nhỏ trong một khoảng thời gian ngắn Các nghiên cứu này thường chỉ cung cấp dữ liệu về sự hiện diện hoặc vắng mặt của các loài thú lớn – thường là các loài có tính biểu tượng cao [89] Trong thời gian gần đây, những hạn chế về công nghệ đã được khắc phục và các nhà nghiên cứu có thể mua được những bẫy ảnh đủ tin cậy để hoạt động trong thời gian dài trong các điều kiện thực địa khắc nghiệt Các loại bẫy ảnh hiện đại này đã được sử dụng để điều tra nhiều loài thú khác nhau, cả thú nhỏ và thú lớn, và cả những loài phổ biến và quý hiếm [37, 52, 90] Một trong những loài thú hiếm nhất của khu vực
Đông Dương, loài Sao la (Pseudoryx nghetinhensis) đã được bẫy ảnh ghi nhận lại
sau hơn 15 năm không có thông tin ở khu vực khu bảo tồn Sao la Quảng Nam vào năm 2013
Trong nghiên cứu này, khảo sát bẫy ảnh được sử dụng trong một thời gian kéo dài, xấp xỉ 12 tháng, để cung cấp các dữ liệu trong suốt một năm tại khu vực nghiên cứu, từ đó tìm ra được các đặc điểm sinh thái về phân bố thời gian, từ phân bố theo
Trang 23các giờ trong ngày, các ngày trong tháng, đến các tháng trong năm Các bẫy ảnh được đặt thấp hơn nhiều so với các nghiên cứu trước đó để đảm bảo rằng tập trung được cho Thỏ vằn Trường Sơn, vốn là một loài thú có kích thước tương đối nhỏ Khảo sát được tiến hành trên bốn khu vực thuộc cảnh quan Trường Sơn từ năm
2016 đến năm 2019
1.4 Tổng quan về Mô hình hóa phân bố loài
1.4.1 Sơ lược nghiên cứu mô hình hóa phân bố loài trên thế giới
Mô hình hóa phân bố loài là một phương pháp phổ biến trong những năm gần đây trong nghiên cứu sinh thái và được áp dụng để giải quyết nhiều vấn đề khác nhau trong sinh thái Các vấn đề phổ biến được giải quyết bằng phương pháp mô hình hóa bao gồm mô hình hóa phân bố tự nhiên của loài, nhận dạng điểm nóng đa dạng sinh học, dự đoán đặc điểm phân bố của loài, dự báo thay đổi phân bố của loài dưới tác động của biến đổi khí hậu, nhận diện các nhánh/loài mới mà các bằng chứng hình thái/di truyền vẫn chưa đủ rõ, nhận diện các cách ly phân chia loài tự nhiên, đánh giá về mức độ tiến hóa/bảo tồn của các đặc tính ổ sinh thái, hoặc thay đổi phân
bố của loài dưới tác động của các nhân tố tự nhiên – nhân tạo [10, 21, 35, 57, 63,
70, 71, 87] Mô hình hóa phân bố loài là phương pháp kết hợp giữa phân tích đặc tính sinh thái tự nhiên dựa trên điều tra thực địa và các tính toán dự báo dựa trên các
mô hình xác suất thống kê và nhận diện đặc tính Các thuật toán mô hình hóa phân
bố loài chủ yếu dựa trên nội suy hoặc ngoại suy từ các điểm phân bố dựa trên các điều tra thực địa, và dựa vào đó để dự báo qua không gian và thời gian, ví dụ như
dự báo phân bố của loài ở những địa điểm hay khu bảo tồn chưa có ghi nhận loài, hoặc dự báo phân bố của loài ở thời điểm trong tương lai [67, 30, 32]
Hiện nay, có khá nhiều thuật toán mô hình hóa phân bố loài khác nhau được sử dụng trong các nghiên cứu có liên quan, như BIO-CLIM, hoặc Neural network, hoặc Boosted Regression Trees Tuy nhiên, một trong những phương pháp được sử
Trang 24giai đoạn 2004 – 2005, Maxent sử dụng các số liệu về điểm xuất hiện để xây dựng một hàm phân bố xác suất trên vùng nghiên cứu, và tính toán giá trị hàm phân bố đó dựa trên nguyên lý entropy [29, 67] Thuật toán này được đánh giá cao vì nó có thể
sử dụng toàn bộ số liệu để xây dựng mô hình, mà không yêu cầu các số liệu đầu vào quá phức tạp Khi so sánh với một số thuật toán mô hình hóa phổ biến khác, ví dụ như generalized linear model, generalized additive model, hoặc BIO-CLIM, cũng như các phương pháp phức tạp khác như Genetic Algorithm for Rule-Set Production, thì Maxent được coi là có khả năng dự báo tương đối chính xác Vì thế,
từ năm 2006 đến nay, Maxent được sử dụng rất phổ biến trong việc mô hình hóa phân bố loài [28, 29, 31, 66]
Một trong những nghiên cứu cơ bản đầu tiên chứng minh khả năng mô hình hóa phân bố loài tương đối chính xác của Maxent là nghiên cứu của Pearson và cs (2007), dùng số liệu điểm ghi nhận tương đối ít ỏi của 13 loài thằn loài đuôi lá ở Madagascas để kiểm tra khả năng dự đoán các vùng phân bố tiềm năng của các loài Các tác giả đã sử dụng nhiều cách tiếp cận khác nhau, với nhiều thông số khác nhau trong Maxent để đánh giá và đề xuất được cách tiếp cận tốt nhất cho những loài hiếm gặp Qua nghiên cứu này, các tác giả đã chứng minh được rằng Maxent tương đối hiệu quả cho các loài quý hiếm, có ít số liệu về điểm xuất hiện (từ 10 – 25 điểm), và đề xuất được phương pháp mô hình hóa cho kết quả phù hợp nhất Pearson và cs (2007) cũng đã so sánh kết quả chạy mô hình Maxent với một phương pháp rất phổ biến ở thời điểm đó là GARP, dựa trên kết quả của ngưỡng thấp nhất có thể (lowest presence threshold), và kết luận Maxent có khả năng dự đoán tốt hơn hẳn GARP trong trường hợp mô hình hóa cho các loài quý hiếm [64] Ngoài khả năng dự báo phân bố tiềm năng hiện tại của các loài, Maxent còn có khả năng dự báo thay đổi phân bố và quần thể của các loài trong tương lai Ví dụ, trong một nghiên cứu của Ihlow và cs., các tác giả đã sử dụng Maxent để dự báo độ giàu loài và thay đổi phân bố của nhiều loài rùa trên toàn thế giới dưới tác động của biến đổi khí hậu Cụ thể, các tác giả đã tổng hợp hơn hai mươi nghìn điểm xuất hiện của
Trang 25199 loài rùa trên toàn cầu, và sử dụng các kịch bản thay đổi khí hậu khác nhau theo khuyến nghị của IPCC Từ đó, các tác giả đã dự báo được các thay đổi đáng kể, chủ yếu là suy giảm vùng phân bố, của nhiều loài rùa ở giai đoạn 2080, và từ đó, ước tính được các thay đổi về độ phổ biến và độ giàu loài ở một số khu vực vốn rất quan trọng cho các loài rùa, và các thay đổi này chủ yếu theo chiều hướng giảm số lượng loài [44]
Maxent còn có thể sử dụng để hiểu theo về phân bố trong quá khứ của các loài sinh vât Ví dụ, Cooper và cs (2016) đã sử dụng các điểm phân bố hiện tại của loài Hổ
để mô hình hóa phân bố của chúng ở thời kỳ từ cuối thời Pleistocene đến hết thời Holocene Từ mô hình, các tác giả kết luận vùng phân bố trong quá khứ của loài Hổ
là từ toàn bộ tiểu lục địa Ấn Độ qua toàn bộ vùng Đông Nam Á, và đến cả vùng Đông Bắc Siberi Tuy nhiên, phân bố của Hổ phụ thuộc rất nhiều vào phân bố của các cánh rừng ở Châu Á, và việc mở rộng và thu hẹp của các cánh rừng này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc mở rộng và thu hẹp phân bố của loài Hổ Vì thế, vùng phân bố lõi của loài Hổ chủ yếu nằm ở vùng phía Đông của Ấn Độ và khu vực đất liền của Đông Nam Á Đồng thời, các tác giả cũng đặt ra giả thuyết về việc phun trào núi lửa Toba ở Indonesia đã làm ảnh hưởng tương đối lớn đến việc mở rộng phân bố của Hổ sang các đảo ở khu vực Đông Nam Á [20]
Ngoài việc dự báo phân bố ở hiện tại, tương lai, và quá khứ của các loài, Maxent còn có thể được dùng để tìm hiểu thêm về lịch sử tiến hóa, đặc biệt cho các nhánh tiến hóa chưa rõ ràng Bett và cs (2012) đã sử dụng số liệu phân bố ở ba nước Việt
Nam – Lào – Cam-pu-chia của ba loài trong nhóm Chà vá Pygathrix, bao gồm Chà
vá chân nâu P nemaeus, Chà vá chân xám P cinerea, và Chà vá chân đen P
nigripes, để chạy mô hình Maxent và kiểm tra tính tương thích về mặt sinh thái của
cả ba loài, và coi đó là một cách để kiểm tra độ gần/xa về mặt tiến hóa giữa ba loài này Kết quả từ mô hình đã cho thấy, ba loài Chà vá này có phân bố tách biệt theo trục Bắc – Nam, và tính tương thích về mặt sinh thái giữa chúng khá thấp, chứng tỏ
cả ba loài đã tiến hóa tách biệt với nhau tương đối xa Đặc biệt, hai loài Chà vá chân
Trang 26nâu và Chà vá chân xám có tính tương thích về mặt sinh thái thấp, nhưng lại có vùng phân bố không khác biệt nhiều, đặt ra giả thuyết về việc hai loài này phân tách nhau chủ yếu từ cách ly ổ sinh thái, chứ không hẳn do cách ly địa lý [12]
Với việc phát triển rất phổ biến của các phần mềm thống kê và GIS miễn phí như R
và QGIS trong những năm gần đây, đã có nhiều nỗ lực để tích hợp phương pháp mô hình hóa Maxent vào các phần mềm này để tăng tính đơn giản hóa và thuận tiện cho việc chia sẻ Hai ví dụ điển hình nhất là gói tiện ích ENMeval và ứng dụng tương tác người dùng Wallace, được phát triển và chia sẻ hoàn toàn miễn phí, với nhiều lựa chọn theo quy trình chuẩn được đóng góp và xây dựng theo kết quả những nghiên cứu chuyên sâu của nhiều nhà khoa học trên thế giới [48, 59]
1.4.2 Sơ lược nghiên cứu mô hình hóa phân bố loài ở Việt Nam
Ở Việt Nam, mô hình hóa phân bố loài đã được sử dụng ở một số nghiên cứu trong những năm vừa qua để nghiên cứu về đặc tính sinh thái trong phân bố của một số loài quý hiếm Ví dụ, Hà Quý Quỳnh và cs (2009) đã sử dụng phương pháp này để
dự báo phân bố của các sinh cảnh thích hợp cho loài Sao la (Pseudoryx
nghetinhhensis) Các tác giả đã sử dụng các điểm ghi nhận có Sao la trong các
nghiên cứu trước đây, và các số liệu sinh khí hậu của Việt Nam và bản đồ thảm thực vật rừng cho số liệu đầu vào của mô hình Maxent Theo đó, các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, và Quảng Nam là vùng phân bố thích hợp nhất cho loài, với tổng diện tích vào khoảng hơn một triệu héc-ta Trong đó, hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên Huế là hai tỉnh phù hợp nhất, và có 13 khu bảo tồn là nơi còn khả năng có Sao la, bao gồm bốn khu bảo tồn rất quan trọng trong khu vực: khu bảo tồn Pù Huống, Vườn quốc gia Pù Mát, Vườn quốc gia Vũ Quang, và Vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng [3]
Schingen và cs (2016) đã sử dụng Maxent để đánh giá mức độ khác biệt về đặc tính
sinh thái giữa các quần thể của loài Thằn lằn cá sấu (Shinisaurus crocodilurus) ở
Trang 27Trung Quốc và Việt Nam, bằng cách sử dụng các điểm phân bố của quần thể Thằn lằn cá sấu ở Việt Nam, chủ yếu ở hai tỉnh Bắc Giang và Quảng Ninh, và các điểm của quần thể Thằn lằn cá sấu ở Trung Quốc, để mô hình hóa hai vùng phân bố của hai quần thể đó Kết quả cho thấy, vùng phân bố của hai quần thể này hầu như không trùng nhau, và có một vùng chia cách tương đối lớn giữa hai vùng phân bố của hai quần thể Các tác giả sử dụng kết quả từ mô hình, cùng với các kết quả khác, để từ đó quyết định chia các quần thể Thằn lằn cá sấu ở Việt Nam thành một phân loài mới [84]
Ngô Ngọc Hải và cs (2018) đã ứng dụng Maxent trong đánh giá sinh cảnh tiềm
năng của loài Thạch sùng mí Cát Bà (Goniurosaurus catbensis) ở khu vực tỉnh
Quảng Ninh Bộ số liệu các điểm phân bố của loài, gồm 60 điểm, được sử dụng cùng với 19 biến sinh khí hậu để đánh giá các sinh cảnh phù hợp với loài ở miền Bắc Việt Nam Kết quả cho thấy, loài Thạch sùng mí Cát Bà phân bố ở phần lớn các đảo ở khu vực vịnh Hạ Long – đảo Cát Bà, và một phần lớn các khu vực bờ biển tỉnh Quảng Ninh Đồng thời, các tác giả đưa ra thảo luận về việc các đảo của khu vực vịnh Hạ Long – đảo Cát Bà bị ảnh hưởng do việc xói mòn của các dãy núi đá vôi ở trong vịnh Bắc Bộ, và quá trình biển tiến – biển thoái liên tục, với biên độ dao động của mực nước biển có thể lên tới 50 m, qua các thời kỳ Băng Hà ảnh hưởng đến việc kết nối – chia cắt các đảo với đất liền, và từ đó ảnh hưởng đến việc trao đổi quần thể và phân bố của loài đối với các khu vực xung quanh vịnh Hạ Long [38] Nguyễn Tuấn Anh và cs (2019) cũng đã sử dụng Maxent để tìm các khu vực phân
bố tiềm năng của loài Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus) ở Việt Nam [82] Các
tác giả đã sử dụng các điểm phân bố từ trước đến nay của Chà vá chân nâu và năm biến môi trường để tìm các khu vực phân bố tiềm năng hiện nay của loài, bao gồm Vườn quốc gia Vũ Quang và khu bảo tồn Kẻ Gỗ ở Hà Tĩnh, Vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng ở Quảng Bình, khu bảo tồn Bắc Hướng Hóa và khu bảo tồn Dakrong
ở Quảng Trị, khu bảo tồn Phong Điền và khu bảo tồn Sao la Huế và Vườn quốc gia Bạch Mã ở Thừa Thiên Huế, và khu rừng đặc dụng Bắc Hải Vân – Nam Hải Vân ở
Trang 28hai tỉnh Thừa Thiên Huế – Quảng Nam, và khu bảo tồn Sơn Trà và khu Bà Nà – Núi Chúa ở Đà Nẵng, là các khu vực có mức độ phù hợp cao cho phân bố của loài
1.5 Tổng quan về các khu vực nghiên cứu chính
Các khu vực khảo sát chính (Bảng 1) được xác định dựa trên một số tiêu chí sau:
- Nằm ở gần các vùng được coi là ở vùng giới hạn phân bố của loài Thỏ vằn Trường Sơn Do sau khi thống kê và phân tích kết quả các nghiên cứu trước đây, đã xác định được vùng phân bố chính của thỏ vằn có giới hạn Bắc – Nam từ Vườn Quốc gia Pù Mát (Nghệ An) đến Khu bảo tồn Sông Thanh (Quảng Nam), nên học viên xác định nghiên cứu thêm ở Vườn Quốc gia Bến
En (Thanh Hóa) – phía Bắc của Pù Mát Khu bảo tồn phía Nam của Sông Thanh là Khu bảo tồn Ngọc Linh, nơi đã có nhiều nghiên cứu về khu hệ động vật và đều không xác định được có loài Thỏ vằn Trường Sơn ở đây nên học viên đã loại bỏ
- Khu bảo tồn chưa có ghi nhận Thỏ vằn Trường Sơn chính thức, và có công tác bảo vệ tương đối tốt, ví dụ như Khu bảo tồn Sao la Huế (Thừa Thiên Huế)
- Khu bảo tồn nằm gần các khu đã có ghi nhận Thỏ vằn Trường Sơn, nhưng từ trước đến giờ chưa có thông tin xác nhận có độ tin cậy cao Ví dụ, Khu bảo tồn Hin Nam No (Lào), vốn nằm tiếp giáp ngay phía Nam của Khu bảo tồn Nakai Nam Theun (Lào), là nơi quan sát được loài Thỏ vằn Trường Sơn
ngoài tự nhiên đầu tiên vào năm 1995 Ban Lak, nơi thu được mẫu N
timminsi đầu tiên, thuộc khu ngoại vi của Nakai Nam Theun
Trang 29Bảng 1 Các khu vực điều tra thực địa chính của luận văn
Thời điểm
điều tra
Khu vực điều tra Phương pháp điều tra
2016 – 2017 - Khu bảo tồn Sao la Huế (Thừa
Thiên Huế)
- Khu bảo tồn Bắc Hướng Hóa (Quảng Trị)
Điều tra bẫy ảnh
2018 - Vườn quốc gia Bến En (Thanh
Hóa)
Điều tra theo tuyến
2019 - Khu bảo tồn Hin Nam No
(Khammoune)
Điều tra theo tuyến
Dù việc khảo sát thực địa của luận văn trải dài trên nhiều khu bảo tồn khác nhau
(Hình 3), với nhiều đặc điểm tự nhiên riêng biệt, nhưng toàn bộ khu vực nghiên
cứu được đặc trưng bởi lượng mưa trung bình hằng năm cao, khoảng trên dưới mức 2.500 mm – 3.000 mm và địa hình rất hiểm trở Tại các khu vực nghiên cứu này, địa hình có độ cao trung bình từ 300 m đến trên 500 m và độ dốc trung bình là trên 20
độ Sinh cảnh ở đây rất đa dạng, gồm nhiều loại thảm thực vật khác nhau, từ rừng thứ sinh sau khai thác, rừng thường xanh trên đất thấp, cho đến rừng trên núi đá vôi [76]
Trang 30Hình 3 Vị trí bốn khu vực nghiên cứu chính của luận văn, so với một số khu bảo
tồn khác trong khu vực dãy Trường Sơn
Vườn Quốc gia Bến En
Về vị trí địa lý, Vườn Quốc gia Bến En là một vườn quốc gia thuộc tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam, được thành lập năm 1992, với ranh giới tự nhiên phía Bắc giáp xã Hải Long, Xuân Khang của huyện Như Thanh, phía Đông giáp xã Hải Vân, Xuân Phúc của huyện Như Thanh, phía Nam giáp xã Xuân Bình, Xuân Hòa của huyện Như Xuân và xã Xuân Thái của huyện Như Thanh, và phía Tây giáp xã Tân Bình, Bình
Trang 31Lương, Xuân Quỳ, Hóa Quỳ của huyện Như Xuân Địa hình của Bến En là sự kết hợp và xen kẽ gữa các địa hình đồi núi, sông hồ Khu vực ở giữa Vườn là hồ Sông Mực với các đảo nổi được bao phủ bởi rừng và nhiều sông suối nhỏ, do việc ngăn đập gây nên Rừng núi đá vôi nằm ở phía Tây Nam chiếm một tỉ lệ nhỏ trong toàn
bộ diện tích của Bến En Những khu rừng núi đá còn lại chủ yếu nằm ở vùng đệm, với vị trí cao nhất của Vườn đạt độ cao 497 m [4, 5]
Về diện tích, tổng diện tích đất tự nhiên là 14.735 ha, trong đó diện tích rừng nguyên sinh là 8.544 ha Diện tích đất lâm nghiệp của Vườn quốc gia Bến En chiếm
tỉ lệ lớn nhất trong tổng diện tích đất tự nhiên với khoảng gần 82% tổng diện tích Vườn Tiếp theo là diện tích đất phi nông nghiệp, với chủ yếu là diện tích sông hồ, chiếm khoảng hơn 16% Diện tích đất nông nghiệp chiếm khoảng hơn 2%, và còn lại là diện tích đất thổ cư tập trung ở ba xã Xuân Quỳ, Hóa Quỳ, và Tân Bình Các kiểu rừng chính ở Vườn quốc gia Bến En bao gồm kiểu rừng nhiệt đới thường xanh trên núi đá vôi ít bị tác động, thường dễ gặp ở khu vực thung Sen, núi Đàm, sông Chàng, và cổng trời Đức Lương Thứ hai là kiểu rừng thường xanh trên núi đá vôi
bị tác động mạnh, với phân bố chủ yếu ở khu vực núi Thủ Lợn, sông Chàng, và khu
Ba Bái – Xuân Thái Thứ ba là kiểu trảng cây bụi trên núi đá vôi, phân bố ở khu vực núi Đầu Lớn, Xuân Thái, sông Chàng, và núi Thủ Lớn Thứ tư là kiểu rừng nhiệt đới thường xanh trên núi đất ít bị tác động, là kiểu rừng còn lại rất ít tại Bến En do qua trình khai thác trong quá khứ, hiện chủ yếu phân bố ở khu vực thung Sen, núi Đàm, sông Chàng, Điện Ngọc, Xuân Bình, và Xuân Thái Thứ năm là kiểu rừng nhiệt đới thường xanh trên núi đất bị tác động mạnh, đây là kiểu rừng có thể gặp ở hầu hệt các tiểu khu thuộc Bến En do quá trình khai thác trước đây Thứ sáu là kiểu trảng cỏ cây bụi trên núi đất, phân bố chủ yếu ở khu vực Xuân Thái, Đức Lương, Xuân Bình, Đồng Thổ, và Xuân Lý Cuối cùng là kiểu rừng tre nứa xen với cây lá rộng, là kiểu rừng phân bố rải rác khắp Bến En [4, 5]
Về thổ nhưỡng, khu vực Vườn quốc gia Bến En có bốn loại đất chính, bao gồm một
là đất phù sa sông suối có diện tích khoảng 310 ha Đất có tầng loang lổ, quá trình
Trang 32ngập nước không thường xuyên trong năm nên bị biến chất Đất thường có màu nâu xám, tơi xốp, tầng dày, thành phần cơ giới cát pha hay thịt nhẹ Hai là đất Feralit nâu vàng phát triển trên nhóm đá sét có diện tích khoảng 11.500 ha Đây là loại đất tốt tầng dày, thành phận cơ giới thịt nặng, phù hợp với nhiều loại cây rừng, có khả năng giữ ẩm tốt nhưng thoát nước kém Loại đất này tập trung chủ yếu ở vùng trung tâm và phía Bắc của Bến En Ba là đất Feralit vàng nhạt phát triển trên nhóm đá cát
có diện ích khoảng 1.250 ha Đất có tầng mỏng đến trung bình, thành phần cơ giới cát pha đến thịt trung bình, khả năng giữ nước kém, thoát nước và thu nhiệt tốt, khả năng phân giải chất hữu cơ mạnh, đất tương đối nghèo dinh dưỡng Và cuối cùng là đất phong hóa trên núi đá vôi có diện tích khoảng gần 1.100 ha Đất có nhiều mùn, màu xám đen, thành phần cơ giới nặng, thiếu nước Nhìn chung, thổ nhưỡng khu vực Vườn quốc gia Bến En có độ phì tương đối cao, tầng đất trung bình đến dày, là điều kiện thuận lợi cho các loài thực vật sinh trưởng và phát triển, tạo nên tính đa dạng sinh học nói chung cho khu vực này [4, 5]
Về khí hậu, khu vực Vườn quốc gia Bến En có gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, gió Tây Nam từ tháng 4 đến tháng 10, và đôi khi có các đợt gió Lào từ tháng 6 đến tháng 7 Lượng mưa trong vùng khá cao và phân làm hai mùa rõ rệt Mùa mưa từ tháng 5 tới tháng 11 với lượng mưa chiếm khoảng 90% tổng lượng mưa trong năm, và là nguyên nhân gây ra một số trận lũ Mùa khô kéo dài từ tháng
12 năm trước đến tháng 4 năm sau, chỉ chiếm khoảng 10% tổng lượng mưa hàng năm Tuy nhiên, do có bốc hơi từ khu vực hồ ở trung tâm Vườn quốc gia nên kể cả vào mùa khô, khu vực này vẫn có độ ẩm tương đối [4, 5]
Về đa dạng sinh học, kết quả các nghiên cứu trước đây đã thống kê được ở Vườn quốc gia Bến En có 1.417 loài thuộc 712 chi, 191 họ, 76 bộ, 9 lớp và 6 ngành thực
vật bậc cao có mạch (Hình 4) Trong đó 58 loài có trong danh sách đỏ IUCN, 46
loài có tên trong sách đỏ Việt Nam, và 10 loài có tên trong Nghị định
32/2006/NĐ-CP Hệ động vật rừng ở Bến En rất phong phú và đa dạng Kết quả điều tra thống kê được ở Bến En có 102 loài thú, 277 loài chim, 66 loài bò sát, 47 loài Lưỡng cư, 97
Trang 33loài cá, 728 loài côn trùng và 213 loài động vật đáy và nổi Khu hệ động vật Bến En khá phong phú và đa dạng, với 56 loài động vật quí hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam, 433 loài trong danh sách đỏ IUCN, và 50 loài trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP như: Vượn đen má trắng, Cu li lớn, Cu li nhỏ, Gà lôi, Gấu [4, 5] Tuy nhiên, từ trước đến nay vẫn chưa có một ghi nhận chính thức nào về loài Thỏ vằn Trường Sơn ở Bến En
Hình 4 Một khu vực tại Vườn quốc gia Bến En
Khu bảo tồn Hin Nam No
Về vị trí địa lý, khu bảo tồn Hin Nam No nằm ở huyện Boulapha, tỉnh Khammouane, Lào, và nằm ngay cạnh Vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng của Việt Nam ở phía Đông, cũng như nằm dưới khu bảo tồn Nakai Nam Theun của Lào ở phía Bắc
Trang 34Về diện tích và địa hình, tổng diện tích của khu bảo tồn vào khoảng 82,000 ha với địa hình chủ đạo là các dãy núi đá dốc xen kẽ các dải núi đá vôi, có độ cao từ 200 đến trên 1.000m Hin Nam No là một trong hai khu bảo tồn có diện tích núi đá vôi lớn ở Lào Con sông chính chảy qua khu bảo tồn, và cũng là ranh giới tự nhiên của khu bảo tồn, là sông Xe Bangfai Về mặt địa chất, toàn bộ khu vực Hin Nam No – Nakai Nam Theun – Phong Nha Kẻ Bàng tạo thành một phần quan trọng của dãy Trường Sơn
Về mặt khí hậu, Hin Nam No chỉ bị ảnh hưởng một phần từ khí hậu gió mùa của Việt Nam, và nhìn chung có đặc điểm tương đối khô so với khí hậu của Vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bảng ở Việt Nam Ở khu vực này có hai mùa chính, là mùa mưa
từ tháng sáu đến tháng mười, và mùa khô từ tháng mười một đến tháng năm năm sau Nhiệt độ trung bình năm ở đây vào khoảng 26oC, với nhiệt độ trung bình tháng nhỏ nhất là khoảng 21 oC vào tháng 1, và nhiệt độ trung bình tháng lớn nhất là khoảng 31 oC vào tháng 4 Lượng mưa trung bình năm vào khoảng 1,503 mm, với lượng mưa trung bình tháng thấp nhất là 1,1 mm vào tháng 1, và lượng mưa trung bình tháng lớn nhất là 316,3 mm vào tháng 5 [23, 65]
Về sinh cảnh, sinh cảnh chính và dễ gặp nhất ở Hin Nam No là các kiểu rừng trên núi đá vôi Các dãy núi đá vôi phía Bắc của khu bảo tồn chủ yếu là rừng nguyên sinh thường xanh và bán thường xanh, với các khoảng rừng thứ sinh xen kẽ Các khu vực phía Nam lại chủ yếu là các cánh rừng nguyên sinh và thứ sinh trên đất thấp, xen kẽ với các hệ sinh thái thủy vực dọc theo sông Xe Bangfai
Về đa dạng sinh học, các nghiên cứu trước đây đã ghi nhận khoảng 536 loài thực vật ở Hin Nam No, với các loài phổ biến nhất chủ yếu thuộc ba họ Agavaceae, Arecaceae và Poaceae Nhiều loài động thực vật quý hiếm cư trú ở khu vực này, ví
dụ như Mang lớn (Muntiacus vuquangensis), Báo gấm (Neofelis nebulosi), Mèo gấm (Pardofelis marmorata), Sóc đen lớn (Ratufa bicolar), Cu li lớn (Nycticebus
bengalensis), Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus), Vooc Hà Tĩnh (Trachypithecus hatinhensis), Vượn má trắng Nam (Nomascus siki) [23, 65] Thỏ vằn Trường Sơn
Trang 35được phỏng đoán là có xuất hiện ở khu vực này do khoảng cách tương đối gần giữa Hin Nam No và hai khu vực là Nakai Nam Theun và Phong Nha Kẻ Bàng, tuy nhiên vẫn chưa hề có ghi nhận chính thức về loài ở đây
Các mối đe dọa chủ yếu đến đa dạng sinh học trong khu vực bao gồm săn bắn trái phép và phá hủy sinh cảnh Việc săn bắn ở Hin Nam No chủ yếu sử dụng súng và bẫy dây phanh, và nhắm đến các loài có giá trị cao trong cộng đồng địa phương cho việc cung cấp thực phẩm và thuốc truyền thống, bao gồm Chà vá chân đỏ, Vooc Hà Tĩnh, Linh dương, Tê tê, và Nhím; và việc phá hủy sinh cảnh chủ yếu do quá trình
di canh di cư, khai thác gỗ, và khai thác lâm sản ngoài gỗ gây ra Ngoài ra, đã có một số báo cáo về việc mua bán và trao đổi động vật hoang dã ở trong phạm vi khu bảo tồn Cụ thể, ở nhiều bản làng, cứ khoảng một tuần sẽ có một đến hai nhóm người đi thu mua và trao đổi các mặt hàng thiết yếu cho các sản phẩm động vật hoang dã, và giá các sản phẩm này, khi bán ở trung tâm thị trấn Lang Khang, thì sẽ
có giá gấp đôi giá thu mua ở trong dân Ở trong khu bảo tồn, có tổng cộng 22 làng
và khu dân cư chính, với khoảng hơn 7.000 người dân Các bản làng ở phía Bắc của khu bảo tồn, ví dụ như các khu vực Ban Dou, Nong Ping, Kha Nyou, Lang Khang,
và Pak Phanang phụ thuộc chủ yếu vào thâm canh lúa nước và khai thác gỗ cho sinh
kế hàng ngày, và thường có thu nhập trung bình ở mức khá so với mặt bằng chung của khu vực; và các bản làng phía Nam, ví dụ như Thap Lao và Nong Ma phụ thuộc chủ yếu và canh tác nương rẫy theo hướng di canh, săn bắn động vật hoang dã, và mua bán phế liệu chiến tranh cho sinh kế của mình, và thường có thu nhập trung bình ở mức thấp so với mặt bằng chung của khu vực [23, 65]
Các khu vực quan trọng nhất cho bảo tồn đa dạng sinh học ở Hin Nam No bao gồm thứ nhất là Nam Khoum, là khu vực đồng bằng rộng lớn, vốn có một số lượng lớn các loài quý hiếm như Chà vá chân nâu, Vooc Hà Tĩnh, và một số loài thú cỡ vừa Thứ hai là khu vực Nam Masai, là khu đồng bằng ở gần Nam Khoum và rất gần khu Nong Ping, với nhiều loài linh trưởng quý hiếm Thứ ba là khu vực núi Nam Kaloc, nằm ở khu vực Nong Ping và có thể tiếp cận từ hướng Nam Masai, là vùng sống
Trang 36cho nhiều loài linh trưởng và chim quý hiếm Thứ tư là khu vực Khoun Ka-arn, là một khu đồng bằng gần nhiều sông suối khác nhau ở gần Ban Salang, Ban Dou, và Ban Vangmaneu, và là nơi cư trú và kiếm ăn của rất nhiều loài thú Thứ năm là khu vực Pha Nangtok, nằm tương đối sâu trong vùng lõi của Hin Nam No và nằm gần biên giới Việt Nam – Lào, với nhiều loài thú lớn quý hiếm, bao gồm cả Bò tót Thứ sáu là khu vực Kuane Ke, gồm chủ yếu là các dãy núi đá vôi, và là nơi sinh sống của nhiều loài thú như Chà vá chân nâu, Vooc Hà Tĩnh, và Linh dương Cuối cùng
là khu Kuane Khing, nằm gần Kuane Ke, và là nơi sống của nhiều loài linh trưởng [41, 65]
Khu bảo tồn Bắc Hướng Hóa
Về vị trí địa lý, khu bảo tồn Bắc Hướng Hóa thuộc địa bàn phía Bắc huyện Hướng Hóa, Quảng Trị Khu bảo tồn có diện tích khoảng 25.000 ha Địa hình khu bảo tồn Bắc Hướng Hóa chủ yếu là núi thấp của dãy Trường Sơn với dãy núi cao trên 1.000
m chạy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam dọc ranh giới hai tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị Về phía Quảng Trị địa hình nâng cao hơn, chia cắt mạnh, độ dốc cao phổ biến từ 15-25o, có nhiều nơi, nhiều chỗ dốc đứng Trong khu vực có các đỉnh cao điển hình như: Động Sa Mù (1.550m) gần đỉnh đèo Sa Mù và Động Voi Mẹp/Voi Nằm (1.771m) ở phía Đông Nam khu bảo tồn Trong khu vực ngoài đồi, núi đất chiếm đa số còn lại có hai dãy núi đá vôi Ở gần trung tâm là dãy đá vôi chạy theo hướng Đông – Tây, ranh giới hai xã Hướng Lập và Hướng Việt, gần trung tâm xã Hướng Việt có dãy núi đá vôi chạy theo hướng Bắc-Nam [7, 56]
Về mặt khí hậu, khu bảo tồn Bắc Hướng Hóa nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh, mùa khô từ tháng 1 đến tháng 5 Nhiệt độ trung bình năm vào khoảng từ 24oC – 25 oC, với mùa đông tương đối lạnh và rất ẩm ướt do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, nhiệt độ trung bình trong các tháng này ở vùng đồng bằng xuống dưới 22 oC, còn trên các vùng có độ cao từ 400 – 500 m trở lên thường xuống dưới 20 oC và nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất xuống dưới 15oC ở Khe Sanh vào tháng 12 và tháng 1 Ngược lại mùa hè do có sự hoạt động của gió Tây
Trang 37nên rất nóng và khô Có tới 3 – 4 tháng (thường từ tháng 1 đến tháng 5) có nhiệt độ không khí trung bình lớn hơn 25 oC, và tháng nóng nhất thường là tháng 4 hoặc tháng 5 với nhiệt độ trung bình lên tới 29 oC Nhiệt độ cao nhất lên tới 39 – 40oC
Độ ẩm trong các tháng này cũng xuống rất thấp, dưới 30% Khu vực Bắc Hướng Hóa có lượng mưa rất lớn, lượng mưa trung bình năm đạt tới 2.400 – 2.800mm hoặc lớn hơn, và tập trung chủ yếu trong mùa mưa, hai tháng có lượng mưa lớn nhất
là tháng 9 và 11, chiếm tới 45% tổng lượng mưa toàn năm Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5, kết thúc vào tháng 11, tuy vậy lượng mưa trung bình của tháng 5 ở Khe Sanh cũng đạt tới 157,4 mm Độ ẩm không khí trong vùng đạt tới 85 – 90%, trong mùa mưa độ ẩm lên tới 91% [7, 56]
Về đặc điểm sông suối, do có địa hình có độ dốc lớn nên sông suối xuất phát từ đây thường ngắn, dốc đổ ra biển theo hướng Đông hoặc Đông Bắc Trong khu vực có các hệ thống sông chính, một là phía Đông Bắc giáp với sông Bến Hải, tất cả các con suối bắt nguồn từ sườn Đông đều chảy vào sông Bến Hải và đổ ra biển Đông ở Cửa Tùng Thứ hai là phía Tây Bắc và Nam, là thượng nguồn sông Xê Păng Hiêng chảy qua Lào vào sông Mê Kông Ba là phía Đông Nam, bao gồm phía Bắc của Động Sa Mùi và phía Đông của Động Voi Mẹp, là thượng nguồn của sông Cam Lộ (gọi là nguồn Rào) và đổ ra biển Đông tại Cửa Việt Bốn là phía Nam, vốn là hệ thống suối của sông Rào Quán, là một chi lưu của sông Quảng Trị (Thạch Hãn) [7, 56]
Về sinh cảnh, toàn bộ khu vực được bao phủ bởi các kiểu rừng kín thường xanh Ở
độ cao dưới 600 m là rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và từ 600m trở lên là kiểu rừng kín thường xanh á nhiệt đới Nhưng trải qua các quá trình tác động lâu dài như đốt nương làm rẫy, khai thác lâm sản, và ảnh hưởng một phần của chiến tranh, hiện diện tích rừng nguyên sinh ở khu vực Bắc Hướng Hóa cũng không còn nhiều
Về đa dạng sinh học, các nghiên cứu trước đây đã ghi nhận được 920 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 518 chi và 130 họ, trong đó có 17 loài quý hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam và 23 loài được ghi trong danh lục đỏ IUCN Trong số
Trang 38những loài thống kê được có 125 loài cây cung cấp gỗ, 161 loài cây làm thuốc, 44 loài cây làm cảnh, và 89 loài cây làm thực phẩm Về khu hệ động vật, theo các nghiên cứu trước đây, ở khu bảo tồn Bắc Hướng Hóa có ổng số 42 loài thú thuộc 17
họ đã được ghi nhận, trong đó có 11 loài có trong danh lục đỏ IUCN Các loài này bao gồm Chà vá chân nâu, Voọc Hà Tĩnh, Vượn đen má trắng Nam, Gấu ngựa, Sao
la, Tê tê, Khỉ cộc, Rái cá vuốt bé, Mang lớn, Bò tót, và Sơn dương Về Thỏ vằn Trường Sơn, đầu năm 2005, một cá thể Thỏ vằn Trường Sơn được ghi nhận gần đường đi từ Bắc Hướng Hóa ra Khe Sanh, gần đèo Sa Mù Giữa năm 2005, nhiều
bộ xương Thỏ vằn được tìm thấy ở một lán bỏ hoang của thợ săn gần khu vực làng Cuồi – Cợp Thợ săn địa phương cho biết đã bắt được 4 cá thể Thỏ vằn ở khu vực này trong giai đoạn tháng 4 năm 2005 Một mẫu Thỏ vằn Trường Sơn được ghi nhận trong một cuộc điều tra thực địa của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật ở một nhà thợ săn ở làng Cuội vào tháng 9 năm 2006
Các mối đe dọa chính đối với khu bảo tồn Bắc Hướng Hóa bao gồm một là tình trạng khai thác gỗ trái phép ở những vùng sâu, vùng xa, đặc biệt là các tiểu khu rừng phía Đông giáp với lâm trường Bến Hải Hai là tình trạng săn bắt động vật hoang dã ở diện rộng, khó kiểm soát Ba là do khoảng cách tương đối gần giữa khu bảo tồn Bắc Hướng Hóa và đường Hồ Chí Minh, hiện là tuyến đường tạo thuận lợi
để vận chuyển các sản phẩm khai thác từ rừng Bốn là, tình trạng thu mua phế liệu chiến tranh của người dân địa phương, và đây là nguyên nhân gây ra các vụ cháy rừng hàng năm Và cuối cùng là việc khai thác vàng và sa khoáng trái phép, gây phá rừng, phá sinh cảnh, và ô nhiễm nguồn nước ở khu vực [1, 7]
Khu bảo tồn Sao la Huế
Về vị trí địa lý, khu bảo tồn Sao la Huế là khu bảo tồn ở phía Tây Nam của tỉnh Thừa Thiên Huế, thuộc hai huyện A Lưới và Nam Đông Về diện tích, tổng diện tích khu bảo tồn là 15.519,93 ha, gồm 15 tiểu khu Về địa hình, khu bảo tồn Sao la
có địa hình núi thấp và núi trung bình, độ cao thấp dần về hướng Bắc, độ cao thấp
Trang 39nhất là 120 m, độ cao lớn nhất là 1.232 m Độ dốc của khu vực khá lớn, độ dốc thấp nhất 20o, độ dốc cao nhất > 35o Do địa hình bị phân cắt mạnh và sâu nên thung lũng thường hẹp và gần như không có thay vào đó là các lòng suối hẹp dốc, nhiều thác ghềnh
Về khí hậu, nhiệt độ trung bình năm của khu bảo tồn từ 22 đến 25oC, nhiệt độ thấp nhất trong năm vào khoảng 11 – 12oC Lượng mưa trung bình năm ở khu vực thường từ 3.400 – 3.800 mm Mưa tập trung vào giai đoạn tháng 9 – 12, với lượng mưa thường chiếm 80 – 85% tổng lượng mưa cả năm [79, 81]
Về sinh cảnh, các kiểu rừng chính ở khu bảo tồn Sao la Huế bao gồm, một là kiểu rừng nguyên sinh rậm thường xanh, cây lá rộng chưa bị tác động ở đất thấp Các mảnh rừng kiểu này còn sót lại ở khắp xã Thượng Quảng thuộc huyện Nam Đông, ở
xã A Roàng và xã Hương Nguyên thuộc huyện A Lưới Ở các khu vực này rừng nguyên sinh vẫn còn giữ được cấu trúc, thành phần loài và đặc trưng bên ngoài Hai
là kiểu rừng thứ sinh rậm và thưa thường xanh cây lá rộng ở đất thấp, có sự phân bố rộng ở vùng nghiên cứu, và ước tính che phủ từ 15 đến 55% diện tích ở xã A Roàng, huyện A Lưới, và xã Thượng Quảng, huyện Nam Đông, Cấu trúc, thành phần loài và cấu trúc bên ngoài của kiểu rừng này rất giống nhau Sự phân tầng chỉ
rõ rệt ở rừng thứ sinh già, có tuổi trên 30 – 40 năm Phần lớn diện tích rừng thứ sinh có tuổi trẻ hơn và thể hiện sự phân tầng không rõ rệt Ba là trảng cây bụi thứ sinh rậm và thưa, với cấu trúc, thành phần loài và cấu trúc bên ngoài rất giống nhau Cấu trúc thẳng đứng của trảng cây bụi thứ sinh nói chung rất đơn giản, chỉ gồm tầng cây bụi và tầng cỏ Đôi khi nứa có thể tạo thành tầng bổ sung cao hơn, nhưng độ che phủ của nó thường ít hơn 5 – 10% Thứ tư là trảng cỏ thưa và các quần xã ráng thứ sinh, có phân bố rộng ở vùng nghiên cứu, trừ xã A Roàng, huyện A Lưới Cấu trúc, thành phần loài và cấu trúc bên ngoài của các quần xã này rất giống nhau Cấu trúc thẳng đứng của trảng cỏ và Ráng thứ sinh rất đơn giản, chỉ gồm một tầng cỏ Thứ năm là các quần xã rang, thường là các quần xã tiên phong trên đất bị thoái hóa mạnh và bồi tụ trẻ trên sườn núi đá mẹ đang phong hóa Thành phần loài của các
Trang 40loại quần xã này rất nghèo, gồm các loài Ráng thông thường với thân leo dài từ 2 -3 mét Cuối cùng là các quần xã thực vật ở ven suối, chỉ chiếm một diện tích nhỏ, có thể gặp dọc sông suối lớn được phù sa của các loại đá mẹ granit, đá phiến, và cát bồi tụ Ở các vùng đồi núi, các quần xã thực vật loại này thường gặp ở các thung lũng suối hẹp sát các vách đá lộ đầu Môi trường sống điển hình của các loài cây mọc ven suối cũng là các vách đá, có khi cả ở thác rất ẩm, được che bóng [61, 79, 81]
Về giá trị đa dạng sinh học, các nghiên cứu trước đây đã ghi nhận 816 loài thực vật, thuộc 130 họ thực vật bậc cao có mạch ở khu bảo tồn Sao la Huế Đồng thời, ở khu vực này đã ghi nhận 37 loài thú, với 23 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam và 18 loài có tên trong danh lục đỏ IUCN Riêng với loài Thỏ vằn Trường Sơn, từ đầu những năm 2000 đã có thông tin phỏng vấn về việc có Thỏ vằn ở khu vực gần khu bảo tồn Sao la Huế, đặc biệt là khu vực Nam Đông, do vị trí tương đối đối với Vườn quốc gia Bạch Mã [81] Tuy nhiên, cho đến trước nghiên cứu này vẫn chưa có ghi nhận xác thực về Thỏ vằn ở khu vực
Các mối đe dọa chính lên khu bảo tồn Sao la Huế bao gồm, một là hoạt động khai thác gỗ Khai thác gỗ trái phép thường xuyên xảy ra trên địa bàn, chủ yếu nhắm tới các loài gỗ quý, có giá trị thương mại cao như Lim, Gụ, Huỷnh theo phương thức thủ công Hoạt động khai thác trái phép trong vùng theo từng nhóm người độc lập, các nhóm này có cả người từ nơi khác tới Mỗi nhóm thường có 3-4 người vào rừng chặt hạ, sơ chế rồi vận chuyển ra khỏi rừng giao cho các đầu nậu Hai là việc săn bắn động vật hoang dã trái phép, đặc biệt là vùng rừng khu vực đầu nguồn sông Hữu Trạch, đang diễn ra phổ biến và trên diện rộng Trong quá khứ, việc sử dụng súng để săn bắn động vật rừng rất phổ biến trong khu vực, và làm suy giảm nghiêm trọng số lượng quần thể của các loài động vật, đặc biệt là các loài linh trưởng và thú lớn Trong những năm gần đây, tình trạng săn bắn động vật bằng súng đã giảm đáng
kể, nhưng phương thức săn bắt bằng bẫy dây phanh lại có xu hướng tăng lên Ba là việc khai thác lâm sản ngoài gỗ Lượng khai thác quá mức đã làm cho một số loài