Chính vì thế, từ xa xưa con người đã biết sử dụng các loài cây cỏ trong tự nhiên, đặc biệt là các loài cây cỏ có trong rừng để làm thuốc chữa bệnh, từ các loại bệnh thông thường đến các
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
và đề xuất biện pháp bảo tồn
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Nước ta có một hệ thực vật rất phong phú Đó là do Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới thuận lợi cho sự sinh sôi nẩy nở của cây cỏ Việt Nam không có sa mạc lại nằm trên khối Indosinias của vỏ trái đất bền vững từ mấy triệu năm nay, là đường giao lưu giữa hai chiều thực vật phong phú của miền nam Trung Quốc, của Malaysia, Indonesia, và Philippines Nên, nếu ở rừng Amazon, trung bình ta gặp được 90 loài/ha, thì ở Đông Nam Á, ta đếm đến được 160 loài/ha [6] Sự phong phú ấy là một diễm phúc cho dân tộc Việt Nam Bởi lẽ ở rất nhiều nơi, dân ta còn sống một nền văn minh dựa trên thực vật Cây cỏ không phải là “cỏ cây vô loại” mà là những ân nhân nuôi dưỡng chúng ta, che chở, bảo vệ chúng ta, thậm chí còn chữa bệnh cho chúng ta nữa…[6] Chính vì thế, từ xa xưa con người đã biết sử dụng các loài cây cỏ trong tự nhiên, đặc biệt là các loài cây cỏ có trong rừng để làm thuốc chữa bệnh, từ các loại bệnh thông thường đến các loại bệnh khó chữa trị
Theo thời gian cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật nói chung và của ngành y học nói riêng, công nghệ chế biến các loài dược liệu ngày càng phát triển một cách mạnh mẽ hơn bằng các công nghệ, kỹ thuật, hóa chất và máy móc tiên tiến Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ngày nay có khoảng 80% dân số ở các nước đang phát triển với dân số khoảng 3,5 đến 4 tỉ người trên thế giới có nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu phụ thuộc vào nền y học cổ truyền Phần lớn trong số đó phụ thuộc vào nguồn dược liệu hoặc các dược chất chiết xuất từ dược liệu
Ở nước ta lĩnh vực y học nhân dân rất rộng lớn Những kinh nghiệm đó nằm rải rác trong nhân dân Những kinh nghiệm đó thường chỉ truyền miệng từ người này sang người khác, qua mỗi người lại thay đổi một tí, có khi lại bị che giấu, xuyên tạc do người có kinh nghiệm muốn giữ độc quyền [7] Hơn nữa vẫn còn một lượng lớn kiến thức về cây dược liệu chưa được chú ý đến, đặc biệt là kiến thức bản địa của các cộng đồng người đồng bào dân tộc ít người về các thực vật được sử dụng làm dược liệu Các kiến thức đó ngày càng bị mất dần, làm cho những giá trị về dược liệu của các loài cây
cỏ trong thiên nhiên bị giảm sút Hơn nữa, người dân ở miền núi vẫn có thói quen khai thác cây thuốc nam sẵn có từ rừng tự nhiên mang về dùng cũng như “săn lùng” các cây
Trang 3dược liệu có giá trị kinh tế cao phục vụ cho mục đích thương mại Điều này dẫn đến nguy cơ cạn kiệt nguồn tài nguyên này một cách nhanh chóng, thậm chí một số loài có giá trị cao, quý hiếm có thể bị tuyệt chủng Chính vì vậy cần thiết phải có các hoạt động bảo tồn và phát triển tài nguyên cây dược liệu do chính người dân sống gần rừng thực hiện nhằm sử dụng bền vững nguồn tài nguyên này
Người Cơ tu là đồng bào dân tộc ít người duy nhất ở xã Hòa Bắc - Một xã miền núi nằm cách trung tâm thành phố Đà Nẵng không xa về phía Tây Nguồn kiến thức bản địa của họ là vô cùng quý giá, nhất là nguồn kiến thức về các loài thực vật được sử dụng làm dược liệu Tuy nguồn kiến thức này chưa được khoa học công nhận nhưng qua việc sử dụng và kiểm nghiệm trên thực tế đã mang lại kết quả đôi khi tốt hơn cả sự mong đợi Tuy nhiên, hiện nay việc duy trì và phát triển nguồn dược liệu tại đây đang gặp nhiều thách thức bởi sự tác động mạnh mẽ của con người vào hệ sinh thái rừng như cháy rừng, đốt rừng làm nương rẫy, khai thác vàng Khe Đương, dự án thủy điện Gruco Sông Côn…Vì vậy việc chú trọng đến nguồn dược liệu tại xã Hòa Bắc và sử dụng chúng một cách có hiệu quả đang là một vấn đề cần được quan tâm
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài “Điều tra nguồn tài
nguyên cây thuốc qua tri thức bản địa của cộng đồng người Cơ tu tại xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng và đề xuất biện pháp bảo tồn” nhằm mục tiêu:
- Điều tra, thu thập và sắp xếp có hệ thống các loài cây, cỏ ở xã Hòa Bắc được người dân tộc Cơ tu sử dụng làm thuốc
- Phân tích sự đa dạng sinh học của cây thuốc về thành phần loài, bộ phận sử dụng, công dụng và vùng phân bố của chúng
- Đề xuất một số ý kiến về biện pháp sử dụng, khai thác hợp lý và bảo tồn, phát triển các loài cây thuốc hiện có, đặc biệt là các loài cây thuốc quý có giá trị chữa bệnh tốt
Chúng tôi hy vọng kết quả nghiên cứu này sẽ góp một phần nhỏ vào quá trình nghiên cứu cây thuốc phục vụ cho con người, làm cơ sở cho việc phát triển kinh tế địa phương
Trang 4CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
I TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ SỬ DỤNG CÂY THUỐC
1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc trên Thế giới
Tri thức bản địa về sử dụng cây thuốc trên thế giới được hình thành từ rất lâu đời, qua nhiều thế hệ Lịch sử nền Y học Trung Quốc, Ấn Độ đều đã ghi nhận về việc
sử dụng cây cỏ làm thuốc cách đây 3000- 5000 năm Những người có cơ sở lý luận cho rằng vua Thần Nông là người phát minh ra cây thuốc Theo truyền thuyết một ngày vua Thần Nông nếm 100 cây cỏ để tìm thuốc, có khi một ngày ngộ độc tới 70 lần, rồi soạn
ra cuốn sách đầu tiên gọi là “ Thần Nông bản thảo” Trong bộ sách này có ghi chép tất
cả 365 vị thuốc và là một bộ sách thuốc cổ nhất của Đông y [7]
Cùng với sự ra đời của Dược liệu Phương Đông vào thế kỉ thứ I, thầy thuốc người Hy Lạp Dioscorides khi giới thiệu trên 600 loài cây thuốc đã tập trung vào công dụng chữa bệnh của cây cỏ Về mặt Tài nguyên học, Dioscorides là người đặt nền móng cho môn Dược học Vào thời kỳ này nhà Tài nguyên học La mã, Plinus cho ra
đời bộ “Bách khoa toàn thư” 37 tập đã giới thiệu 1000 loài cây cỏ có ích [3]
Từ những kinh nghiệm dân gian, các nhà khoa họa đã đúc kết thành nhiều thuốc sách có giá trị để lại cho hậu thế Một trong những tập sách có giá trị của thời đại là
tập “Bản thảo cương mục”do Lý Thời Trân soạn và hoàn thành năm 1578 Đây được coi là bộ sách dược vật hoàn chỉnh nhất của Đông y, “Bản thảo cương mục” có tổng
cộng 52 quyển tập hợp 1892 chủng loại cây, con, vật thuốc khác nhau trong đó có 374 loại do đích thân Lý Thời Trân tìm ra Bộ sách liệt kê 11.096 đơn thuốc (phương tễ) trong đó có 8000 do Lý Thời Trân sưu tập mới hoặc tự sáng chế
Bên cạnh đó, “Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn” là bộ sách y học cổ truyền lâu đời
của phương Đông và là tài sản riêng của y học cổ truyền Trung Hoa Những nhà y học
cổ truyền xưa nay như Hoa Đà, Biển Thước, Y Doãn của Trung Hoa cổ, Hải Thượng Lãn Ông, Tuệ Tĩnh của nước ta, đều coi bộ Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn là cuốn sách gối đầu nằm trong việc nghiên cứu, chẩn trị, bổ, tả liệu dược bệnh nhân và truyền dạy môn sinh đệ tử, và cho đến ngày nay bộ sách vẫn được sử dụng trong thực tế lâm sàng
Trang 5Ngoài việc kế thừa những kinh nghiệm chữa bệnh của danh y cổ, các nhà khoa học còn đi sâu vào việc nghiên cứu, tìm hiểu cơ chế và các hợp chất hóa học trong cây
có tác dụng chữa bệnh Các nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu cấu trúc của hơn
121 hợp chất hóa học tự nhiên được chiết từ cây cỏ để làm thuốc
Theo tài liệu của Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO), đến năm 1985 đã xác định được 20.000 loài thực vật được sử dụng làm thuốc hoặc cung cấp hoạt chất để chế biến thuốc Riêng ở Trung Quốc gần đây công bố có 11.118 loài [12] , Ấn Độ có trên 6000 loài và ở Việt Nam cũng đã biết gần 4000 loài [11]
Năm 1992 theo thống kê của Unesco, thì ở vùng nông thôn ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, các sản phẩm làm lương thực, thực phẩm có nguồn gốc thực vật chiếm tỷ lệ 90-93%, còn các sản phẩm dùng làm thuốc có tỷ lệ là 70-80% [9] Cũng theo tổ chức Y tế thế giới, 80% dân số toàn cầu sử dụng các loại thảo dược truyền thống để bảo vệ sức khỏe Vì thế song song với việc nghiên cứu sử dụng cây thuốc thì một vấn đề cấp bách khác là bảo tồn các loài cây thuốc cũng cần đề ra Tại Hội nghị Quốc tế về bảo tồn quỹ gen cây thuốc từ ngày 21-27/3/1983 tại Cheng Mai - Thái Lan hàng loạt các công trình về tính đa dạng và việc bảo tồn cây thuốc được đại diện của các nước nêu lên khẩn thiết [8]
Việc kết hợp y học hiện đại với kinh nghiệm y học cổ truyền để chữa bệnh trở nên cực kì cần thiết, nên vấn đề khai thác kết hợp với việc bảo tồn cây thuốc trên thế giới là rất quan trọng, nhất là các cây thuốc quý hiếm đang có nguy cơ bị tuyệt chủng
2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam
Dân tộc Việt Nam đã có trên 1000 năm lịch sử, có nhiều truyền thống xây dựng đất nước, đánh giặc giữ nước, phát triển văn hóa; nhân dân ta có nhiều kinh nghiệm phòng bệnh và chữa bệnh bảo vệ sức khỏe và đã có một nền Y học dân tộc không ngừng phát triển qua các thời kì lịch sử [10]
Ngay từ thời Hùng Vương 2900 năm TCN, thời kì này Y học còn truyền miệng Lúc này có người đã biết dùng gừng, riềng làm thức ăn, gia vị và chữa bệnh, biết ăn trầu để làm ấm cơ thể, biết nhuộm răng để bảo vệ răng Theo Long Ủy Bí thư chép lại
Trang 6đến đầu thế kỷ thứ II TCN đã có hàng trăm vị thuốc được phát hiện và sử dụng ở nước
ta như: quả giun (sử quân tử), sắn dây (cắt căn), sen, quế
Cùng với sự phát triển và tiến bộ của loài người, những kinh nghiệm chữa bệnh của dân gian đã được ghi chép và lưu giữ Gắn với đó là tên tuổi và sự nghiệp của những vị danh Y cổ
Thời nhà Lý (1010-1224) lương y Nguyễn Chí Thanh đã dùng nhiều cây cỏ để chữa bệnh cho nhân dân và nhà vua Năm 1136 ông được phong là “Quốc sư” [10]
Thời nhà Trần (1225-1399) xuất hiện một số danh y tiêu biểu, trước hết là danh
y Phạm Ngũ Lão nổi tiếng với “Sơn dược”, Phan Phu Tiên biên soạn sách thuốc đầu tiên với “Bản thảo cương mục toàn yếu” xuất bản năm 1429 [3], Phạm Công Bân giữ
chức Thái y lệnh từ 1278-1314, ngoài việc chăm sóc sức khỏe cho dân ông còn bỏ tiền riêng mua sắm thuốc men, dựng nhà nuôi dưỡng bệnh nhân nghèo tàn tật hoặc trẻ mồ côi cơ nhỡ [10]
Sau đó là Tuệ Tĩnh còn gọi là Nguyễn Bá Tĩnh đỗ tiến sĩ nhưng không ra làm quan, đi tu, chuyên làm thuốc chữa bệnh cho nhân dân, phát hiện cây thuốc viết sách
và truyền bá y học Tác phẩm của ông để lại gồm “ Nam dược thần hiệu” gồm 11 quyển với 580 vị thuốc có trong nước, và “Hồng Nghĩa giác tư y thư " gồm 2 bài phú thuốc nam Tuệ Tĩnh là người đầu tiên nêu cao khẩu hiệu “ Nam dược trị nam nhân”
phổ biến y dược học một cách dễ hiểu, dễ làm để nhân dân tự chữa bệnh bằng các phương pháp: xông, cứu, thuốc uống [10]
Dưới triều Lê (1428-1788), tiêu biểu cho nền y học cổ truyền Việt Nam thời kì này là Danh y Lê Hữu Trác tức Hải Thượng Lãn Ông (1720-1791) Ông đã để lại cho
đời sau bộ sách đồ sộ “Hải Thượng Y Tông tâm Lĩnh” gồm 28 tập chia làm 66 quyển đề
cập nhiều vấn đề về y dược
Ngoài ra còn có các danh y khác như Hoàng Đơn Hòa có công lớn trong việc tìm ra các bài thuốc chữa các bệnh dịch, tổ chức y tế trong quân đội, tổ chức trồng thuốc sử dụng trong quân đội
Trong thời kì 1884-1945 thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân, loại y học dân tộc nước ta ra khỏi chính sách bảo trợ nên việc nghiên cứu cây thuốc gặp nhiều
Trang 7khó khăn Có một số nhà thực vật học, dược học người pháp nghiên cứu với mục đích khai thác tài nguyên như Crevost, Petelot
Từ khi hòa bình lập lại ở miền Bắc (1954) và giải phóng thống nhất đất nước (1975) Đảng và Chính phủ đã quan tâm nhiều hơn đến công tác nghiên cứu dược liệu phục vụ nhu cầu bảo vệ sức khỏe cho nhân dân và xuất khẩu Sau khi thành lập (1957) Viện y học dân tộc Hà Nội đã bước đầu nghiên cứu về lịch sử nền y học cổ truyền của dân tộc Hơn nữa Viện đã nghiên cứu các định phân loại khoa học tác dụng dược lý , thành phần hóa học của nhiều vị thuốc có trong nước, đã tổ chức di thực được nhiều vị thuốc xưa nay phải nhập… Chứng minh nguồn dược liệu phong phú ở nước ta có khả năng trồng trọt, khai thác phục vụ chữa bệnh và xuất khẩu [10]
Những công trình nghiên cứu cây thuốc có giá trị và đóng góp nhiều cho nền y học dân tộc phải kể đến đó là công trình nghiên cứu của dược sĩ Đỗ Tất Lợi
Năm 1957 dược sĩ Đỗ tất Lợi đã biên soạn bộ “ Dược liệu học và các vị thuốc
Việt Nam” gồm 3 tập Năm 1961 tái bản thành 2 tập đã mô tả và nêu công dụng của
hơn 100 cây thuốc nam
Từ năm 1962-1965 Đỗ Tất Lợi lại cho xuất bản cuốn “ Những cây thuốc và vị
thuốc Việt Nam” gồm 6 tập Đến năm 1969 tái bản thành 2 tập trong đó giới thiệu tỉ mỉ
trên 500 vị thuốc có nguồn gốc động vật, thực vật và khoáng vật Ông đã kiên trì nghiên cứu, bổ sung cây thuốc trong mấy chục năm, công trình của ông được tái bản nhiều lần vào các năm 1970, 1977, 1981, 1986, đến lần tái bản lần thứ 7 (1995) số cây thuốc của ông nghiên cứu đã tới 792 loài Trong đó ông nêu tên khoa học, tên địa phương, mô tả đặc điểm của cây, thành phần hóa học, vùng phân bố, cách thu hái chế biến, tác dụng, công dụng, liều dùng, một số loài thuốc đã được kiểm nghiệm Đây là
bộ sách có giá trị lớn về khoa học và thực tiễn, đã giúp cho khoa học dân tộc xích lại gần với khoa học hiện đại [7]
Từ năm 1954 về sau ngành Y tế Việt Nam đã xuất bản nhiều cuốn sách về dược
liệu như: “450 cây thuốc nam” của Phó đức Thành, Văn Đức Tôn, Trần Quang Hy (1963) Cuốn “Thuốc nam châm cứu” của viện Y học dân tộc (1968); “Danh mục cây
thuốc Việt nam” của Vũ Văn Chuyên (1976), “ Dược liệu Việt nam” của Bộ y tế
Trang 8(1978), “Sổ tay cây thuốc Việt Nam” của Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chương (1980) và
hàng loạt sách về dược liệu do Bộ y tế, các bộ, viện, các trường xuất bản dùng làm tư liệu giảng dạy và học tập [4] Đó là những đóng góp không nhỏ vào nền y học của nước nhà
Việt Nam cũng được đánh giá là nước đứng thứ 16 trên thế giới về sự phong phú và đa dạng sinh vật Trong đó, hệ thực vật cũng rất phong phú và đa dạng Hiện nay, đã biết 10.386 loài thực vật bậc cao có mạch, dự đoán có thể lên đến 12.000 loài Trong số này nguồn tài nguyên cây thuốc chiếm khoảng 30% Theo số liệu của Viện Dược liệu (2000) thì ở Việt Nam có tới 3.830 loài cây làm thuốc thuộc khoảng 270 họ thực vật, phân bố trên khắp vùng sinh thái ở Việt Nam [3]
Trên đây là những dẫn liệu tuy không đầy đủ nhưng cũng góp phần không nhỏ cho thấy được sự đa dạng và phong phú của tài nguyên cây thuốc Việt Nam Và nguồn tài nguyên này đang đứng trước nguy cơ bị tàn phá nghiêm trọng, nguyên nhân là phần lớn các cây thuốc mọc hoang dại ở các vùng rừng núi nên dễ bị ảnh hưởng bởi xói mòn, cháy rừng cũng như bị người dân khai thác quá mức, thiếu khoa học….Vì thế cần đẩy mạnh hơn nữa trong công tác nghiên cứu định loại, bảo tồn, nhân giống các loài cây thuốc quý để phục vụ tích cực trong công tác nghiên cứu, chữa bệnh, nâng cao sức khỏe cho con người
II ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1 Điều kiện tự nhiên
1.1 Vị trí địa lý và phạm vi hành chính
Xã Hòa Bắc cách thành phố Đà Nẵng 25 km về phía Tây Hòa Bắc thuộc địa phận quản lý của huyện Hòa Vang, với tổng diện tích là 33.864 km2 (chiếm 45% tổng diện tích huyện Hòa Vang) Lãnh thổ xã Hòa Bắc được giới hạn:
+ Phía Tây giáp huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam
+ Phía Đông giáp phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu
+ Phía Bắc giáp khe Tre Nam Đông thuộc huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế + Phía Nam giáp xã Hòa Liên, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
Trang 9Nếu dựa trên vị trí địa lý của xã Hòa Bắc thì đây được xem là vùng chuyển tiếp của các vùng địa lý
Hình 1 Sơ đồ vị trí xã Hòa Bắc
1.2 Địa hình và địa thế
Hòa Bắc nằm trong lưu vực sông Cu Đê, có các dãy núi chạy theo hướng Tây Đông, trong đó dãy núi Cà Nhông có độ cao gần 1000m Các hệ phụ chạy phần lớn đổ theo hướng Nam Đặc điểm nổi bậc của địa hình ở đây là phần lớn diện tích nằm trên một mái dông, trị thủy về phía sông Cu Đê Chiều dài của sườn núi rất hẹp nhưng độ chênh cao của địa hình lại lớn - độ dốc phổ biến từ 250-300 Địa hình bị chia cắt rất mạnh ảnh hưởng đến sản xuất và xây dựng trong khu vực
1.3 Địa chất và thổ nhưỡng
Theo tài liệu “ Luận chứng kinh tế khu rừng Nam Hải Vân năm 1990” thì Hòa Bắc được hình thành từ kỷ Cambri cách ngày nay khoảng 2000 triệu năm Đất đai toàn khu vực có 2 nhóm sau:
+ Nhóm đất feralit vàng đỏ phát triển trên đá Mắcmaxit : nhóm này phân bố ở đỉnh dông chính đến 2/3 các dông phụ, chiếm hơn 51% tổng diện tích Có đặc điểm: tầng đất mỏng, đất xấu và nghèo dinh dưỡng, kết cấu hạt thô, thành phần cơ giới thịt nhẹ, nhiều đá lộ đầu Nơi có rừng tự nhiên thì đất mùn và xốp, giữ được nước Còn
Trang 10phần lớn nơi mất rừng, cây bụi phát triển, xói mòn mạnh làm đất bạc màu, xói lở và trơ trọi đá
+ Nhóm đất feralit vàng đỏ phát triển trên đá đất và đá biến chất: nhóm này phân bố ở chân dông chiếm hơn 38% tổng diện tích Đất có thành phần cơ giới thịt nhỏ đến trung bình, tầng đất mỏng độ pH từ 4,5 - 5
1.4 Khí hậu
- Hòa Bắc nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, có bức xạ lớn (141.293 cal/m2/năm) Nhờ có hệ thống sông suối và thảm thực vật phong phú nên khí hậu ở đây rất ôn hòa và có hai mùa rõ rệt: Mùa khô: bắt đầu từ tháng 1 đến tháng 8, giai đoạn nắng nhất trong năm từ tháng 5 đến tháng 8 Tổng số giờ nắng trung bình trong năm là: 2.058 giờ Mùa mưa thường tập trung, kéo dài từ tháng 9 đến tháng 12, chiếm 70% tổng lượng mưa cả năm
- Xã Hòa Bắc chịu ảnh hưởng của hai loại gió mùa: Gió mùa Đông Bắc hoạt động
từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, thường khô và lạnh Gió mùa Tây Nam hoạt động từ tháng 4 đến tháng 9, thường nóng và khô
Bảng 1 Số liệu đặc trưng khí tượng ở Hòa Bắc
Nhiệt
độ cao nhất (oC)
Nhiệt
độ thấp nhất (oC)
Độ
ẩm
TB tháng (%)
Độ
ẩm thấp nhất (%)
Số giờ nắng (giờ)
Bốc hơi (mm)
Số ngày mưa
Số ngày dông
Trang 111.5 Thủy văn
Hệ thống thủy văn của Hòa Bắc gồm các khe suối cạn xuất phát từ những dãy núi cao Các con suối trong vùng tập trung thành hai nhánh sông chính là sông Bắc và sông Nam, sau đó hòa vào sông Cu Đê Tốc độ dòng chảy của sông Cu Đê cực đại từ tháng 9 và cực tiểu từ cuối tháng 7 đến đầu tháng 8 Gần đây tốc độ dòng chảy của sông Cu Đê giảm dần
Bảng 2 Tốc độ dòng chảy của sông Cu Đê giảm qua các năm
Dòng chảy nhỏ nhất
[ Đài khí tượng thủy văn Trung Trung Bộ, 2009]
2 Điều kiện kinh tế, xã hội
2.1 Tình hình dân cư và sự phân bố dân cư
2.1.1 Dân cư
Theo số liệu điều tra thì Hòa Bắc có 840 hộ dân với 3.414 khẩu, trong đó đồng bào Cơ tu là 144 hộ với 620 khẩu Hằng năm, Hòa Bắc tiếp nhận một lượng đáng kể dân nhập cư từ các vùng khác đến khai thác tài nguyên rừng, chính vì vậy mà tình hình xuất nhập cư ở đây chưa thể kiểm soát được
Số người trong độ tuổi lao động là 1.750 người Trong đó:
Lao động nông lâm nghiệp: 85%
Lao động trong dịch vụ và ngành nghề khác: 15%
2.1.2 Phân bố dân cư
Dân cư phân bố không đều, đại đa số dân cư tập trung ở vùng thấp, một bộ phận khác phân bố ở các thung lũng theo tuyến sông Bắc và sông Nam Một bộ phận dân tộc thiểu số Cơ tu chủ yếu phân bố ở các cánh rừng và khu vực có địa hình hết sức hiểm trở Chính vì vậy mà việc săn bắn động vật hoang dã cũng như đốt rừng làm nương rẫy của người dân nơi đây rất khó kiểm soát
2.2 Cơ sở hạ tầng
2.2.1 Giao thông
Trang 12Hiện nay đường ĐT 601, xuất phát từ Hòa Khánh đến trung tâm xã Hòa Bắc và các tuyến đường trong thôn xóm đều đã được nhựa hóa và bê tông hóa Hơn nữa, cầu Nam Yên bắc qua sông Cu Đê đã được xây dựng giải quyết việc đi lại của người dân 3 thôn Nam Yên, An Định, Lộc Mỹ
2.2.2 Hệ thống điện
Hiện nay mạng lưới điện ở xã Hòa Bắc đã ổn định Toàn bộ các hộ gia đình đều
có điện thắp sáng, phục vụ cho sinh hoạt thuận lợi
2.2.3 Giáo dục
Hòa Bắc có địa hình hiểm trở và rộng, dân cư phân tán nên vấn đề giáo dục gặp nhiều khó khăn Có thể nói rằng, sự quan tâm của chính quyền địa phương và thành phố Đà Nẵng là rất ưu tiên đối với khu vực này Các học sinh ở đây đi học và được trợ cấp tiền và dụng cụ học tập Hiện nay toàn xã Hòa Bắc có 1 trường Trung học cơ sở, 6 trường Tiểu học và 7 trường Mẫu giáo
2.2.4 Y tế
Xã Hòa Bắc có 1 trạm y tế xã và 1 trạm y tế Quân dân y kết hợp phục vụ khám
và chữa bệnh miễn phí cho người dân Ngoài ra, định kỳ còn có đoàn về khám bệnh và cấp thuốc miễn phí cho người dân
2.2.5 Thông tin liên lạc
Hòa Bắc có 7 trạm truyền thanh không dây Nhiều nhà đã có ti vi, xe máy nên việc tiếp nhận thông tin không còn là vấn đề khó khăn nữa
2.3 Các hoạt động kinh tế
Trang 13Các hoạt động kinh tế chủ yếu trong vùng là khai thác và sử dụng lâm sản Người dân ở đây sống dựa vào tài nguyên rừng mà thiên nhiên ban tặng Lối sống chỉ biết khai thác tài nguyên rừng dần được thay đổi nhờ sự quan tâm giúp đỡ của Nhà nước và các tổ chức kinh tế xã hội Việc giao đất rừng, các Dự án “ Tầm nhìn thế giới”
đã tạo điều kiện cho bà con cải thiện kinh tế Ngoài kinh tế lâm nghiệp thì nông nghiệp cũng góp một phần quan trọng vào thu nhập của người dân Các cây trồng chủ yếu ở đây là lúa, sắn, ngô Nhìn chung sản xuất nông nghiệp mang tính tự cung tự cấp và năng suất không cao Trong quá trình phát triển kinh tế người dân ở đây thường xuyên nhận được sự trợ cấp của thành phố và các tổ chức phi chính phủ
Tuy vậy, hiện nay trên địa bàn xã Hòa Bắc đã có những thay đổi căn bản: Kinh
tế thương nghiệp dịch vụ đã có những bước phát triển đáng mừng do việc mở rộng giao thông tạo điều kiện thuận lợi trong sản xuất kinh doanh Vấn đề còn tồn tại ở xã là lối sống chỉ biết khai thác những sản phẩm có sẵn từ rừng và từ trợ cấp xã hội Chính thói quen sống của bà con như trên đã tạo ra sự cản trở trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của xã
Trang 14CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
Tất cả các loài thực vật bậc cao có mạch được người dân tộc Cơ tu xã Hòa Bắc
sử dụng làm thuốc chữa bệnh, bồi bổ sức khỏe
2 Địa điểm nghiên cứu
Xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang, Thành phố Đà Nẵng
3 Thời gian nghiên cứu
- Tổng quan và viết đề cương nghiên cứu: Tháng 11 năm 2011
- Khảo sát thực địa: Từ tháng 12/2011 đến tháng 04/2012 chia làm 4 đợt:
4 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra và lập danh lục các loài cây thuốc điều tra được tại xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
- Nghiên cứu các bộ phận dùng làm thuốc, công dụng và kinh nghiệm sử dụng các loài cây thuốc đó để chữa các loại bệnh khác nhau của người dân tộc Cơ tu ở xã Hòa Bắc
- Tìm hiểu sự phân bố của các loài cây thuốc theo sinh cảnh trên địa bàn nghiên cứu
- Xác định các loài cây thuốc có tên trong Sách đỏ Việt Nam
- Tìm hiểu nguyên nhân tác động đến nguồn tài nguyên cây thuốc và đề xuất biện pháp bảo tồn
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 155.1 Phương pháp điều tra thành phần loài, bộ phận sử dụng, công dụng và vùng phân bố của cây thuốc
5.1.1 Phương pháp phỏng vấn
Chúng tôi tiến hành phỏng vấn người dân, người đi hái thuốc và thầy lang nhằm biết trước sự có mặt của các loài cây thuốc trong khu vực, thu được những thông tin cần thiết về thành phần loài, mức độ phong phú, sự phân bố tự nhiên cũng như kinh nghiệm sử dụng các loài cây thuốc của người dân tộc Cơ tu
5.1.2 Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa
- Khảo sát tổng thể để xác định tuyến nghiên cứu và tiến hành thu mẫu theo các tuyến Các tuyến nghiên cứu gồm:
+ Tuyến 1: Dọc tuyến đường ĐT 601 trên địa phận thôn Giàn Bí, xã Hòa Bắc + Tuyến 2: Dọc tuyến đường ĐT 601 trên địa phận thôn Tà Lang, xã Hòa Bắc + Tuyến 3: Tuyến đường đi vào rừng
+ Tuyến 4: Tuyến đường đi ven suối
- Dụng cụ thu mẫu: Cặp thực địa, sổ ghi chép, bút chì mềm, nhãn ghi số hiệu, kéo cắt cây, máy ảnh
- Nguyên tắc thu mẫu
+ Mỗi mẫu phải có đầy đủ các bộ phận nhất là cành có lá, cùng hoa quả hay cả cây đối với loài cây thảo
+ Các mẫu thu trên cùng một cây thì đánh cùng số hiệu
+ Ghi chép ngay những điểm dễ nhận biết ngoài thiên nhiên, nhất là đặc điểm dễ mất khi khô (màu sắc hoa, quả ) Đồng thời ghi chép nơi phân bố của cây
+ Đặt mẫu vào giữa một tờ báo rồi xếp vào cặp gỗ mang về phòng thí nghiệm xử lý
5.1.3 Phương pháp xử lý và bảo quản mẫu
- Mẫu mang về cần được xử lý ngay: cắt tỉa lại, để vào một tờ báo khác sao cho
có thể nhìn thấy tất cả các bộ phận, đặc điểm có ở trên mẫu cây
- Xếp khoảng 10 - 15 mẫu lại với nhau, buộc lại đồng thời dùng vật nặng ép xuống
Trang 16- Phơi nắng các bó mẫu, thay báo 3 - 4 lần/ngày cho đến khô, nếu nắng yếu thì dùng than hoặc điện để sấy mẫu
- Để bảo quản mẫu được lâu, sau khi mẫu khô sẽ được xử lý bằng cồn 900 và đồng sunphat để ngăn ngừa nấm mốc Đổ cồn 900 vào một chậu men rộng, hòa tan CuSO4 vào cho đến khi dung dịch bão hòa Cho mẫu cây vào ngâm trong thời gian từ
5 - 10 phút rồi đem sấy lại cho đến khi khô
- Lên tiêu bản: Mẫu được đính trên giấy Croqui cỡ 29 x 41 cm, chú ý cách sắp xếp mẫu sao cho có dáng đẹp một cách tự nhiên và có dán nhãn ở một góc phía bên dưới về bên tay phải
5.1.4 Phương pháp giám định tên cây
- Phương pháp so sánh hình thái
- Trong quá trình giám định, sử dụng khóa phân loại của Phạm Hoàng Hộ, 1991,
1992, 1993 Ngoài ra còn tra cứu tham khảo thêm: Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của Đỗ Tất Lợi (2006)
5.1.5 Phương pháp lập danh lục:
Sau khi định loại chúng tôi tiến hành lập danh lục:
- Danh lục thực vật được xếp vào từng chi, họ theo cách sắp xếp của Brummitt,
+ Phạm Hoàng Hộ (1991-1993) trong tập “Cây cỏ Việt Nam” gồm 6 tập
+ “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi (2006)
+ “Những cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” của Đỗ Huy Bích và cộng
sự (2002)
5.2 Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm Excel xử lý số liệu phỏng vấn
Trang 17CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN
1 Kết quả điều tra thành phần loài cây thuốc do người Cơ tu sử dụng tại xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
Qua quá trình điều tra và xử lý số liệu, chúng tôi đã thống kê được 76 loài cây thuốc thuộc 73 chi, 43 họ (Bảng 3)
Trong danh lục, các loài cây thuốc được sắp xếp vào từng chi, từng họ dựa theo cách sắp xếp của Brummitt (1922), trật tự các loài trong từng chi, các chi trong từng họ được sắp xếp theo thứ tự a, b, c
Tổng các loài thống kê được thuộc 3 ngành thực vật bậc cao có mạch:
- Ngành Thông đá (Lycopodiophyta)
- Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta)
- Ngành Hạt kín (Angiospermae)
Mỗi loài được ghi đầy đủ tên khoa học, tên Việt Nam, tên địa phương, bộ phận
sử dụng, công dụng và vùng phân bố của chúng
Trang 18Bảng 3 Danh lục các loài cây thuốc do người Cơ tu sử dụng tại xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
NAM
TÊN ĐỊA PHƯƠNG
3 Lygodium flexuosum (L.) Sw Bòng bong À van B, R, Rt Rễ Không đi cầu, đi tiểu được,
đau thắt ruột non
6 Amaranthaceae Họ Rau giền
6 Achyranthes aspera L Cỏ xước Cỏ xước B, R Rễ Đau lưng, viêm khớp, kinh
nguyệt không đều
Trang 19(1) (2) (3) (4) (5) (6) (7)
7 Apiaceae Họ Hoa tán
7 Centella asiatica (L.) Urban Rau má Rau má B, Rt, Cả cây Sốt cao, ho ra máu, thanh
nhiệt, chảy máu cam
8 Eryngium foetidum L Mùi tàu Ngò tây V Cả cây Đau bụng, tiêu chảy
8 Apocynaceae Họ Trúc đào
9 Alstonia scholaris (L.) R Br Hoa Sữa Hoa Sữa V Vỏ thân Người bị đau bụng đẻ, kinh
nguyệt không đều
10 Holarrhena antidysenterica
(Roxb Ex Flem.) A.DC Mức hoa trắng Mức V, R Vỏ thân, hạt Lỵ, abidan
9 Araliaceae Họ Nhân sâm
11 Tieghemopanax fruticosus Vig Đinh lăng Đinh lăng V Rễ củ Đau lưng, nhức mỏi
15 Eclipta prostrata (L.) L Nhọ nồi Cỏ mực R Phần thân
trên mặt đất Phụ nữ bị huyết rong
16 Eupatorium odoratum L Cỏ lào Tờ hôi B, Rt Lá, rễ Tiêu chảy, cầm máu, đau
khớp, ghẻ
12 Borraginaceae Họ Vòi voi
17 Helitropium indicum L Vòi voi Ngà voi B Cả cây Phong thấp, sưng khớp, nhức
mỏi lưng gối
Trang 20(1) (2) (3) (4) (5) (6) (7)
14 Crassulaceae Họ Thuốc
bỏng
19 Kalanchoe pinnata (Lamk.) Pers Thuốc bỏng Thuốc
bỏng V Lá Chữa bỏng, viêm loét dạ dày
15 Cupressaceae Họ Hoàng đàn
20 Biota orientalis (L.) Endl Trắc bá Trắc bách
16 Dilleniaceae Họ Sổ
21 Tetracera scandens (L.) Merr Dây chiều U chạc chìu B, R Rễ, thân leo Phong thấp, đau nhức xương
khớp
17 Euphorbiaceae Họ Thầu dầu
22 Breynia fruticosa (L.) Hook.f Bồ cu vẽ Dà nưu tan B, R Lá, rễ Kiết lị, viêm dạ dày
23 Jatropha multifida L Bạch phụ tử Đỗ trọng V Rễ Khó tiêu, đau bụng, thuốc bổ
24 Phyllanthus amarus Schum et
Thonn
Diệp hạ châu đắng
Lovaviên xanh B, R Cả cây Viêm gan, vàng da, rắn cắn
25 Phyllanthus urinaria L Chó đẻ Lovaviên
đỏ B, R Cả cây Phong thấp, cao huyết áp
26 Ricinus communis L Đu đủ tía Thù đủ tía V, B Lá Bệnh trĩ
27 Sauropus androgynus (L.) Merr Rau ngót Bồ ngót V Lá Bổ, thanh nhiệt, chữa sót rau
Kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh
30 Hyptis suaveolens (L.) Poit Tía tô dại hương núi Hoắc R
Phần thân trên mặt đất Cảm sốt, nhức đầu
19 Lauraceae Họ Long não
31 Cinamomum cassia Blume Quế Quế V Vỏ thân Tiểu đường, đau bụng