NGUYỄN VĂN KHÔI NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM KHU HỆ ẾCH NHÁI TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN ĐỒNG SƠN - KỲ THƯỢNG, TỈNH QUẢNG NINH VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP BẢO TỒN LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Trang 1NGUYỄN VĂN KHÔI
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM KHU HỆ ẾCH NHÁI TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN ĐỒNG SƠN - KỲ THƯỢNG, TỈNH QUẢNG NINH VÀ
ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP BẢO TỒN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
HÀ NỘI, 2016
Trang 2NGUYỄN VĂN KHÔI
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM KHU HỆ ẾCH NHÁI TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN ĐỒNG SƠN - KỲ THƯỢNG, TỈNH QUẢNG NINH VÀ
ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP BẢO TỒN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Chuyên ngành: Quản lý tài nguyên rừng
Mã số: 60.62.02.11
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS VŨ TIẾN THỊNH
HÀ NỘI, 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả cam đoan bản luận văn này do chính tác giả thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Vũ Tiến Thịnh
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa
hề được công bố và sử dụng để bảo vệ một học hàm nào
Các thông tin trích dẫn trong luận văn này được ghi rõ nguồn gốc
Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Hà Nộ n 10 t n 10 n m 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Khôi
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi đã được sự giúp đỡ nhiệt tình của các
cá nhân, các cơ quan ban ngành Nhân dịp này tôi xin tran thành bày tỏ lòng cảm ơn đến:
- PGS.TS Vũ Tiến Thịnh, Phó trưởng phòng khoa Sau đại học trường đại học Lâm Nghiệp, giảng viên bộ môn động vật rừng trường đại học Lâm Nghiệp, người đã hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này
- Nhân dịp này, tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn tới ban giám đốc KBTTN ĐSKT đã tạo điều kiện giúp đỡ về mặt thời gian để tôi hoàn thành luận văn
- Các kiểm lâm viên tại các trạm kiểm lâm cửa rừng, trạm Cài, trạm Đồng Quặng, trạm Vũ Oai, trạm Hòa Bình, tổ khoa học kỹ thuật, đã giúp đỡ tôi thu thập số liệu và góp ý trong suốt thời gian tôi thực hiện đề tài
- UBND các xã Đồng Sơn, Đồng Lâm, Hòa Bình, Kỳ Thượng, Vũ Oai
đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện đề tài
Xin cảm ơn bạn bè, người thân đã động viên, chia sẻ, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn tới tất cả sự giúp đỡ quý báu đó Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nộ n 10 t n 10 n m 2016
Nguyễn Văn Khôi
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 T NG QUAN VẤN ĐỀ NGHI N CỨU 3
1.1 Khái quát tình hình nghiên cứu Ếch nhái 3
1.1.1 Khái quát tình hình nghiên cứu Ếch nhái ở Việt Nam 3
1.1.1.1 Thời kỳ trước năm 1954 3
1.1.1.2 Thời kỳ từ năm 1954 đến năm 1975 4
1.1.1.3 Thời kỳ 1975 - 1986 5
1.1.1.4 Thời kỳ từ năm 1987 đến nay 5
1.1.2 Khái quát tình hình nghiên cứu lưỡng cư tại KBTTN ĐS - KT 10
Chương 2 MỤC TI U, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHI N CỨU 11
2.1 Mục tiêu 11
2.1.1 Mục tiêu chung 11
2.2.2 Mục tiêu cụ thể 11
2.2 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 11
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 11
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 11
2.2.3 Thời gian nghiên cứu 11
2.3 Nội dung nghiên cứu 11
2.4 Phương pháp nghiên cứu 12
Trang 62.4.1 Kế thừa tài liệu 12
2.4.2 Phỏng vấn bán định hướng 12
2.4.4 Điều tra thực địa 13
2.4.5 Xử lý số liệu 16
Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHI N, DÂN SINH, KINH TẾ XÃ HỘI 17
3.1 Điều kiện tự nhiên 17
3.1.1 Vị trí địa lý và phạm vi ranh giới 17
3.1.2 Địa hình địa thế 20
3.1.3 Địa chất và thổ nhưỡng 20
3.1.4 Khí hậu 22
3.1.5.Thuỷ văn 23
3.1.6 Hiện trạng rừng, thực vật và trữ lượng rừng 24
3.1.7 Hệ động vật, thực vật và phân bố của các loài quý hiếm 29
3.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội 32
3.2.1 Dân tộc, dân số và lao động 32
3.2.2 Tình hình phát triển kinh tế 35
3.2.3 Thực trạng cơ sở hạ tầng 36
3.2.4 Đánh giá chung về kinh tế xã hội trong khu vực 38
Chương 4 KẾT QUẢ NGHI N CỨU 39
4.1 Thành phần Thành phần loài Ếch nhái tại KBTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng 39
4.2 Sự đa dạng các taxon Ếch nhái tại khu vực nghiên cứu 46
4.3 Tình trạng và phân bố của một số loài Ếch nhái ưu tiên bảo tồn trong khu vực nghiên cứu 47
4.4 Xác định các mối đe dọa tới tài nguyên Ếch nhái tại khu vực nghiên cứu 51
4.4.1 Nhóm nguyên nhân trực tiếp 52
Trang 74.4.1.1 Săn bắt động vật hoang dã 52
4.4.1.2 Sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu 53
4.4.2 Nhóm nguyên nhân gián tiếp 54
4.4.2.1 Khai thác gỗ trái phép 54
4.4.2.2 Đốt nương làm rẫy 54
4.4.2.3 Khai thác lâm sản ngoài gỗ quá mức 56
4.5 Hiện trang công tác quản lý bảo tồn tại KBTTN ĐSKT 56
4.5.1 Hiện trạng công tác quản lý 56
4.5.2 Đánh giá về công tác bảo tồn tại KVNC 58
4.5.2.1 Thuận lợi 58
4.5.2.2 Khó khăn và thách thức 59
4.6 Đề xuất các giải pháp quản lý bảo tồn tại khu vực nghiên cứu 60
4.6.1 Giải pháp về mặt chính sách 60
4.6.1.1.Quản lý đất đai 60
4.6.1.2 Chính sách đầu tư và tín dụng 60
4.6.1.3 Chính sách hỗ trợ phát triển vùng đệm 61
4.6.2 Giải pháp cho công tác bảo tồn 62
4.6.2.1 Nâng cao nhận thức về công tác bảo tồn 62
4.6.2.2 Tăng cường phổ biến thể chế pháp luật cho cộng đồng 63
4.6.2.3 Nâng cao đời sống cộng đồng và chia sẻ lợi ích 64
4.6.2.4 Xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ công tác bảo tồn 64
4.6.3 Giải pháp về mặt khoa học và công nghệ 65
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 66 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
31 Hiện trạng tài nguyên và tình hình sử dụng đất tại KBTTN Đồng
32 Phân bố diện tích thảm thực vật rừng KBT Đồng Sơn - Kỳ Thượng 26
33 Thống kê diện tích các loại đất đai và trữ lượng thực vật rừng 28
34 Thành phần thực vật khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng 29
35 Thành phần thực vật thân thảo KBTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng 30
36 Thống kê các lớp động vật KTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng (nguồn
37 Dân số, dân tộc vùng lõi và vùng đệm KBTTN Đồng Sơn - Kỳ
41 Danh sách các loài lưỡng cư ghi nhận tại KBTTN ĐS-KT 38
42 Danh sách các loài lưỡng cư mới ghi nhận tại KBTTN Đồng Sơn -
43 Sự phân bố các loài, họ trong các bộ Ếch nhái ở KBTTN Đồng Sơn
44 So sánh tài nguyên Ếch nhái của KBTTNĐSKT với cả nước 46
45 So sánh tài nguyên Ếch nhái của KVNC với các KBT khác 46
46 Danh sách các loài Ếch nhái ưu tiên bảo tồn 47
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
3.1 Vị Trí KBTTN ĐS - KT trong tỉnh Quảng Ninh 17
3.3 Vị Trí KBTTN ĐS-KT so với các khu bảo tồn lân cận 19
4.8 Ếch cây mép trắng Polypedates leucomystax 43
4.17 Cá Cóc việt nam Tylototriton vietnamensis 48 4.18 Cá Cóc việt nam Tylototriton vietnamensis 48 4.19 Con non của cá cóc việt nam Tylototriton vietnamensis 48 4.20 Cá cóc tam đảo Paramesotriton deloustali tại phòng mẫu 50
Trang 114.23 Người dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật 53
4.28 Cơ cấu tổ chức, quản lý KBTTN Đồng Sơn – Kỳ
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Tài nguyên động vật rừng Việt Nam không những phong phú và đa dạng mà còn có tính đặc hữu cao Động vật trong hệ sinh thái rừng nhiệt đới nước ta đã từng là nguồn cung cấp thực phẩm, nguồn dược liệu độc đáo mà nhân dân sử dụng từ thế hệ này đến thế hệ khác Nhiều sản phẩm từ động vật rừng được sử dụng làm nguyên liệu để chế biến các mặt hàng tiểu thủ công nghiệp và mỹ nghệ được ưa thích trên thị trường Một số loài động vật có vai trò quan trọng trong nghiên cứu khoa học nhằm tìm ra các nguyên lý, các cơ chế sinh học, sinh lý học, phục vụ cho việc phòng và chữa bệnh, nâng cao sức khỏe cộng đồng Đặc biệt là ngân hàng gen vô cùng quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho con người Động vật rừng còn có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh cân bằng hệ sinh thái
Ếch nhái cũng là nguồn tài nguyên động vật có giá trị cao bên cạnh các tài nguyên chim, thú và cá Trong hệ sinh thái tự nhiên và các hệ sinh thái nhân văn ở mọi miền nước ta, nguồn tài nguyên Ếch nhái có vai trò quan trọng trong đời sống đối với cộng đồng
Khu Bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Đồng Sơn - Kỳ Thượng nằm trọn trên địa bàn 5 xã: Đồng Lâm, Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Vũ Oai, Hoà Bình thuộc huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh Khu rừng này có tính đa dạng sinh học cao và được xem là một khu vực điển hình của hệ sinh thái rừng kín thường xanh núi thấp có diện tích rừng tự nhiên tập trung lớn nhất vùng Đông Bắc Việt Nam với nhiều loài động vật, thực vật rừng quí hiếm
Từ khi thành lập theo quyết định số 1672/QĐ - UB ngày 22/5/2002 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc phê duyệt Dự án xây dựng KBT Đồng Sơn -
Kỳ Thượng và Quyết định số 440/QĐ - UB ngày 12/02/2003 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc thành lập Ban quản lý (KBTTN) Đồng Sơn - Kỳ Thượng thuộc Chi Cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ninh Tháng 5 năm 2007 Khu bảo tồn
Trang 13phối hợp với đoàn cán bộ khoa học thuộc Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật; Viện Động vật Xanh Pê-téc-bua của Nga điều tra thực địa tại tiểu khu 61
xã Kỳ Thƣợng đã phát hiện và lấy mẫu đƣợc 43 loài bò sát, Ếch nhái Qua phân tích các mẫu động vật, đoàn công tác đã đánh giá đây là khu vực đa dạng về bò sát, Ếch nhái.Tuy nhiên, quá trình điều tra này chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn do vậy, việc nghiên cứu khu hệ Ếch nhái tại khu vực là một trong những yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa thực tiễn cao về mặt khoa học
và bảo tồn Chính vì vậy, tôi tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu đặc điểm khu hệ Ếch nhái tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn –
Kỳ Thƣợng, tỉnh Quảng Ninh và đề xuất biện pháp bảo tồn”
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để góp phần đề xuất những giải
pháp quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thƣợng một cách hiệu quả
Trang 14Chương 1
T NG QUAN VẤN ĐỀ NGHI N C U 1.1 Khái quát tình hình nghiên cứu Ếch nhái
1.1.1 Khái quát tình hình nghiên cứu Ếch nhái ở Việt Nam
Trước đây các công trình nghiên cứu thường gắn liền các loài bò sát, Ếch nhái, ít công trình nghiên cứu Ếch nhái độc lập
Theo Nguyễn Văn Sáng và cs (2009), có thể chia lịch sử nghiên cứu lưỡng cư bò sát thành 4 thời kỳ chính: thời kỳ trước năm 1954, thời kỳ từ năm 1954 đến năm 1975, thời kỳ 1976 đến năm 1986 và thời kỳ từ năm 1987 đến nay
1.1.1.1 T ờ kỳ trước n m 1954
Tuệ Tĩnh (1623-1713) - nhà y học dân tộc, người đầu tiên đã ghi nhận
16 vị thuốc có nguồn gốc từ Ếch nhái và bò sát (Tuệ Tĩnh, 1972) [25]
Sau ông những nghiên cứu Ếch nhái, bò sát do người nước ngoài thực hiện Các kết quả nghiên cứu được xuất bản trên nhiều ấn phẩm khác nhau cả trong nước và ngoài nước cho một khu vực hay chung cho cả vùng Đông Dương
Một số chuyên khảo về Ếch nhái và bò sát đã được xuất bản như: “Sur
la Faune de la Cochinchine Francaise”của Morice A., 1875; “Notes surles Reptiles et Batraciens de la Cochinchine et du Cambodge” của Tirant G., năm
1885 (Theo Nguyen Van Sang et al., 2009), trong thế kỷ XIX và đầu thế kỷ
XX có 84 loài mới được các tác giả Bourret (1920,1937,1939, 1942), Cuvier (1829), Smith (1921, 1922, 1924), Boulenger (1903, 1927), Angel (1927,
1928, 1933), Schlegel (1839), Mocquard (1897), Morice (1875), Pellegril (1910) Siebenrock (1903)v.v…[26] mô tả với mẫu vật thu được ở Việt Nam
Trang 15Ba cuốn sách chuyên khảo của Bourret gồm: Les Serpents de l’Indochine mô tả 189 loài và phân loài rắn xuất bản năm 1936, Les Tortues l’Indochine mô tả 44 loài và phân loài rùa xuất bản năm 1941 và Les Batraciens de l’Indochine mô tả 171 loài và phân loài Ếch nhái xuất bản năm
1942 được coi là tài liệu đầy đủ nhất về Ếch nhái và bò sát của vùng Đông Dương (trong đó chủ yếu là Việt Nam, Lào và Campuchia)
Qua tài liệu công bố cho thấy thời kỳ này tập trung thống kê phân loại
và mô tả loài, địa điểm khảo sát tập trung ở Nam Bộ, các khu nghỉ mát (Mẫu Sơn, Tam Đảo, Sa Pa, BaVì, Đà Lạt) hay khu đồn trú của người Pháp (Ngân Sơn, Phước Sơn…)
1.1.1.2 T ờ kỳ từ n m 1954 đến n m 1975
Mở đầu thời kỳ này, đoàn nghiên cứu của Đào Văn Tiến và cộng sự tiến hành điều tra lưỡng cư, bò sát ở Vĩnh Linh (Quảng Trị), từ ngày 8 đến ngày 28 tháng 8 năm 1956 đã thống kê được 12 loài, trong đó có một loài mới
Nghiên cứu về động vật có xương sống trên cạn ở Lạng Sơn có Võ Quý (1961), Lê Vũ Khôi (1962) Năm 1971, Lê Hiền Hào và cộng sự công bố ở Cúc Phương (Ninh Bình) có 49 loài Ếch nhái, bò sát[36] Từ năm 1956 -
1975, Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc đã điều tra, thống kê ở miền Bắc Việt Nam có 159 loài bò sát, 69 loài Ếch nhái (Trần Kiên và cs., 1981)[28]
Địa điểm nghiên cứu cũng được mở rộng ra nhiều khu vực: Ba Bể, Chợ
Rã (Bắc Kạn), Hữu Lũng (Lạng Sơn), Cúc Phương (Ninh Bình), Thái Nguyên, Bắc Giang, Quảng Ninh, Hòa Bình, Vĩnh Phú Kết quả nghiên cứu được công bố trên nhiều tạp chí chuyên ngành trong và ngoài nước Hướng
Trang 16nghiên cứu cũng mở rộng ra như nghiên cứu về sinh thái học Cá cóc, Thạch sùng đuôi sần, Ếch đồng của ĐàoVăn Tiến, Lê Vũ Khôi (1965)[4]
1.1.1.3 T ờ kỳ 1975 - 1986
Sau khi đất nước thống nhất, cùng với sự phát triển kinh tế, nhiều trường đại học, viện nghiên cứu mới được thành lập, công tác nghiên cứu cơ bản trong đó có lưỡng cư cũng bắt đầu được chú ý Mở đầu thời kỳ này là chương trình khảo sát do Viện Sinh vật học thuộc Viện Khoa học Việt Nam tổ chức từ ngày 5/3 đến ngày 12/5 năm 1977 ở miền Tây Nam bộ: Hà Tiên, Phú Quốc, Côn Đảo, Mũi Gót, rừng U Minh, Rạch Giá, Tây Ninh Sau đó hàng loạt khảo sát của Viện Sinh vật học, Khoa Sinh vật của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Huế, Viện Điều tra Quy hoạch rừng, Viện Nghiên cứu biển Nha Trang ở nhiều địa phương khác nhau như: Xuân Sơn (Phú Thọ), Mường Nhà và Mường Lói (Điện Biên), vùng Tây Nguyên (Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng)
Trong giai đoạn này có 1 loài Ếch nhái và 5 loài thằn lằn mới được phát hiện ở Việt Nam trong đó có 3 loài do Darevsky và Nguyễn Văn Sáng mô tả (Nguyen et al., 2009)[22]
1.1.1.4 T ờ kỳ từ n m 1987 đến na
Sau thời kỳ đổi mới, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, giao lưu với các nước thuận tiện hơn, sự bùng nổ thông tin đã giúp cho những cán bộ nghiên cứu về lưỡng cư có cơ hội trao đổi kinh nghiệm và tham khảo các tài liệu Công tác nghiên cứu và bảo tồn, do vậy cũng phát triển mạnh mẽ đặc biệt là sau năm 1990 Các lĩnh vực nghiên cứu cũng hết sức đa dạng: phân loại học, hệ thống học, di truyền và tiến hoá, sinh học, sinh thái học, ký sinh trùng và bệnh học Có thể nói đây là thời kỳ phát triển đáng khích lệ của các
Trang 17nghiên cứu về lưỡng cư ở Việt Nam, đóng góp đáng kể cho khoa học cũng như góp phần vào sự phát triển của đất nước
Về thành phần loài, số lượng loài Ếch nhái và bò sát tăng lên nhanh chóng: năm 1996, Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc thống kê ở nước ta có
340 loài (82 loài Ếch nhái, 258 loài bò sát[20], đến năm 2005 tổng số loài đã lên tới 458 loài (162 loài Ếch nhái, 296 loài bò sát (Nguyễn Văn Sáng và cs., 2005)[21], và cuốn danh lục xuất bản năm 2009 đã ghi nhận tổng số loài là
545 loài (177 loài Ếch nhái, 368 loài bò sát) (Nguyen et al., 2009)[22]
Số loài mới cho khoa học được công bố hàng năm cũng tăng lên rõ rệt qua các thời kỳ Nếu trong thời kỳ 1975 - 1986 phát hiện được 6 loài mới cho khoa học, trong đó chỉ có 3 loài có tác giả là người Việt Nam thì từ năm 1987
- 2009, số loài phát hiện mới cho khoa học đã tăng lên 108 loài, trong đó có
65 loài có nhà khoa học Việt Nam tham gia và có tới 11 loài có tác giả đứng đầu là người Việt Nam Từ năm 2010 - 2013 có 49 loài mới cho khoa học được tiếp tục phát hiện ở Việt Nam Điều đó chứng tỏ cán bộ Việt Nam đã có những bước trưởng thành đáng kể và tiềm năng nghiên cứu về khu hệ Ếch nhái và bò sát ở nước ta còn rất lớn
Từ năm 1990 đến nay cùng với việc thành lập các Vườn Quốc gia và các KBTTN, việc nghiên cứu càng được phát triển mạnh Năm 1993, Hoàng Xuân Quang nghiên cứu lưỡng cư, bò sát ở Bắc Trung bộ Từ năm 1994, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Lê Nguyên Ngật và nhiều tác giả khác đã nghiên cứu ở Vườn Quốc gia Tam Đảo và thị trấn Tam Đảo, đến nay đã phát hiện có 57 loài lưỡng cư, 124 loài bò sát [] Năm 1996, Lê Nguyên Ngật, Nguyễn Văn Sáng ghi nhận 17 loài lưỡng cư, 42 loài bò sát ở rừng Cúc Phương và ở Ngọc Linh (Kontum, 1997)[9]; Năm 1998, Ngô Đắc Chứng nghiên cứu ở Nam Bình Trị Thiên có 28 loài lưỡng cư, 147 loài bò sát (Ngô
Trang 18Đắc Chứng, 1998)[15]; Năm 1997, Hoàng Xuân Quang và cs nghiên cứu ở Tây Nam Nghệ An thống kê được 18 loài lưỡng cư, 38 loài bò sát[10]; điều tra sự đa dạng và hiện trạng Ếch nhái, bò sát ở vùng núi Yên Tử trong thời gian 2004 đến năm 2008 (Trần Thanh Tùng, 2008);…
Năm 1996, Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc xuất bản cuốn Danh lục Ếch nhái, bò sát Việt Nam với 82 loài Ếch nhái, 258 loài bò sát[20]
Orlov et al (2002) tổng hợp và công bố danh sách các loài Ếch nhái, bò sát của Việt Nam (phần I) ghi nhận 147 loài lưỡng cư Năm 2005, Nguyễn Văn Sáng và cs công bố cuốn Danh lục Ếch nhái và bò sát Việt Nam đã ghi nhận 116 loài bò sát thuộc 23 họ, 3 bộ và 135 loài lưỡng cư thuộc 9 họ, 3 bộ Năm 2009, Nguyen et al đã thống kê được 186 loài Ếch nhái thuộc 10 họ, 3
bộ và 375 loài bò sát thuộc 24 họ ở Việt Nam[21,22]
Trong Hội thảo Quốc gia về Lưỡng cư và Bò sát ở Việt Nam lần thứ nhất diễn ra năm 2009 tại Trường Đại học Sư phạm Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế, các báo cáo khoa học về đánh giá khu hệ Ếch nhái như: Điều tra tại KBTTN Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai năm 2008 - 2009 (Hồ Thu Cúc và cs 2009) có 31 loài lưỡng cư thuộc 5 họ, 1 bộ và 61 loài bò sát thuộc 13 họ, 2 bộ; Đánh giá sự đa dạng Ếch nhái ở KBTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa năm
2008 (Lê Nguyên Ngật và cs 2009) có 38 loài lưỡng cư thuộc 6 họ, 1 bộ và
53 loài bò sát thuộc 14 họ, 2 bộ; Thống kê thành phần loài Ếch nhái của huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp từ năm 2008 đến 2009 (Hoàng Thị Nghiệp
và cs 2009) ghi nhận 49 loài, trong đó có 17 loài lưỡng cư thuộc 5 họ và 32 loài bò sát thuộc 11 họ; Nghiên cứu tính chất địa động vật của khu hệ Ếch nhái và bò sát của tỉnh Phú Yên (Trần Duy Ngọc và cs 2009); Ziegler et al
2009 đã tổng kết 10 năm nghiên cứu đa dạng sinh học Ếch nhái, bò sát ở
Trang 19Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng từ năm 2000 đến 2009 thống kê 45 loài lưỡng cư và 33 loài bò sát,…
Trong báo cáo khoa học về Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Hội nghị khoa học toàn quốc lần thứ III năm 2009, có một số kết quả nghiên cứu về đa dạng khu hệ Ếch nhái của một số vùng trên cả nước: Điều tra đa dạng Ếch nhái bò sát tại VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ (Nguyễn Văn Sáng và cs 2009) ghi nhận 77 loài thuộc 22 họ, 5 bộ gồm 48 loài bò sát thuộc 14 họ, 2 bộ và 29 loài Ếch nhái thuộc 8 họ, 3 bộ; Điều tra tại VQG và Khu BTTN Lam Kinh tỉnh Thanh Hóa (Nguyễn Kim Tiến, 2009)[22] cho thấy có 49 loài Ếch nhái
và 72 loài bò sát thuộc 22 họ, 73 giống,…
Trong báo cáo khoa học về Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, hội nghị khoa học toàn quốc lần thứ IV năm 2011, có một số báo cáo nghiên cứu về đa dạng khu hệ Ếch nhái: Điều tra tại KBTTN Pù Huống, tỉnh Nghệ An (Lê Vũ Khôi và cs., 2011)[10] ghi nhận 72 loài bò sát thuộc 15 họ, 2 bộ và lớp lưỡng
cư có 25 loài thuộc 7 họ, 1 bộ; Điều tra lưỡng cư, bò sát tại vùng An Giang, Đồng Tháp (Hoàng Thị Nghiệp và cs., 2011) ghi nhận 24 loài lưỡng cư thuộc
2 bộ, 6 họ ; Nghiên cứu khu hệ VQG Côn Đảo, Bà Rịa - Vũng Tàu (Poyarkov, 2011) chỉ ra 11 loài lưỡng cư thuộc 2 bộ, 6 họ và 31 loài bò sát thuộc 16 họ, 3 bộ;…
Hoàng Xuân Quang và cs., 2012[11] điều tra khu hệ Ếch nhái, bò sát ở VQG Bạch Mã, tỉnh Thừa Thiên Huế đã thống kê được 44 loài Ếch nhái thuộc
6 họ, 1 bộ và 64 loài bò sát thuộc 14 họ, 2 bộ
Trong báo cáo Hội thảo quốc gia về lưỡng cư, bò sát ở Việt Nam lần thứ II tổ chức tại Đại học Vinh (Nghệ An, 2012), có một số báo cáo về đa dạng khu hệ Ếch nhái, bò sát : Nghiên cứu thành phần loài bò sát và Ếch nhái
ở Khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa (Phạm Thế Cường và cs, 2012)[28]
Trang 20với 70 loài được ghi nhận trong đó có 38 loài bò sát và 32 loài Ếch nhái; Nghiên cứu sự đa dạng thành phần loài Ếch nhái, bò sát ở khu dự trữ sinh quyển Tây Nghệ An (Hoàng Ngọc Thảo và nnk, 2012)[11] ghi nhận 144 loài Ếch nhái, bò sát thuộc 24 họ, 5 bộ;…
Bên cạnh đó có rất nhiều loài mới được mô tả và nhiều loài mới được
ghi nhận từ năm 2010 trở lại đây như loài Leptolalax bidoupensis (Rowley et al., 2011); Theloderma palliatum và T.nebulsum (Rowley et al.,2011); Gracixalus quangi (Rowley et al.,2011); Leptobrachium leucops (Stuart et al., 2011); Ichthyophis nguyenorum (Nishikawa, 2012); Leptolalax firthi (Rowley
et al.,2012)
Bên cạnh các nghiên cứu về phân loại học, nhiều công trình nghiên cứu
đã được công bố về quan hệ di truyền tiến hóa cũng hỗ trợ cho việc sắp xếp
và hệ thống lại các loài ếch nhái, bò sát ở Việt Nam Hàng loạt các loài thuộc
một số giống như Philautus được chuyển sang giống Gracixalus và Theloderma (Rowley et al., 2011; Orlov et al., 2012)
Về các loài quý hiếm: Năm 1992, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường xuất bản Sách Đỏ Việt Nam (Phần Động vật) trong đó liệt kê 43 loài
bò sát và 11 loài lưỡng cư bị đe dọa Năm 2000, Sách Đỏ Việt Nam được tái bản có chỉnh sửa và bổ sung đã thống kê 43 loài bò sát và 11 loài lưỡng cư Mới đây nhất, Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 đã ghi nhận 40 loài bò sát và 13 loài Ếch nhái bị đe dọa ở Việt Nam[1]
Cho đến nay đã có 9 chuyên khảo về Ếch nhái và bò sát việt Nam được xuất bản: Danh lục bò sát và Ếch nhái Việt Nam của Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc (1996)[25], Ếch nhái và bò sát ở một khu Bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam [Die Amphibien und Reptilien eines Tieflandfeuchtwald-Schutzgebietes in Vietnam] của Ziegler (2002), Bò sát và Ếch nhái Vườn
Trang 21Quốc gia Cúc Phương của Nguyễn Văn Sáng và cs (2003), Danh lục Ếch nhái và bò sát Việt Nam của Nguyễn Văn Sáng và cs (2005) [26], Động vật chí Việt Nam - Phân bộ Rắn của Nguyễn Văn Sáng (2007)[], Thằn lằn Việt Nam của Bobrov và Semenov (2008)[], Ếch nhái, bò sát ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Huống của Hoàng Xuân Quang và cs (2008)[11], Khu hệ bò sát và Ếch nhái Việt Nam [Herpetofauna of Vietnam] của Nguyen et al (2009)[], Ếch nhái, bò sát ở Vườn Quốc Gia Bạch Mã của Hoàng Xuân Quang và cs (2012)[] Bên cạnh đó, từ năm 2000 trở lại đây, ít nhất 6 cuốn sách nhận dạng của một số Vườn Quốc gia hoặc Khu Bảo tồn thiên nhiên như Ba Bể, Na Hang, Phú Quốc hoặc các loài thường bị buôn bán cũng được xuất bản bởi các cơ quan quản lý hoặc các tổ chức bảo tồn quốc tế
1.1.2 Khái quát tình hình nghiên cứu lưỡng cư tại KBTTN ĐS - KT
Tháng 5 năm 2007 Khu bảo tồn phối hợp với đoàn cán bộ khoa học thuộc Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật; Viện Động vật Xanh Pê-téc-bua của Nga điều tra thực địa tại tiểu khu 61 xã Kỳ Thượng, đã phát hiện và lấy mẫu được 43 loài bò sát, Ếch nhái Qua phân tích các mẫu động vật, đoàn công tác đã đánh giá đây là khu vực đa dạng về bò sát, Ếch nhái
Năm 2006 Khu bảo tồn trong hoạt động tuần tra bảo vệ rừng đã phát hiện 3 cá thể cá nước ngọt quý hiếm, kết quả thẩm định 1 cá thể là cá thằn lằn
cá sấu, 1 cá thể là cá Cóc tam đảo (là loài thuộc sách đỏ Việt Nam)
Có thể thấy không nhiều công trình nghiên cứu đa dạng sinh học Ếch nhái đã được thực thiện tại khu vực nghiên cứu
Trang 22Chương 2 MỤC TI U, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHI N C U 2.1 Mục tiêu
- Đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn cho khu vực nghiên cứu
2.2 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các loài Ếch nhái tại KBTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu tại KBTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng, tỉnh Quảng Ninh
2.2.3 Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu của đề tài từ tháng 4 đến tháng 9 năm 2016, trong đó:
- Thời gian thu thập tài liệu và khảo sát thực địa: tháng 4 năm 2016
- Thời gian điều tra thực địa: tháng 6 - tháng 7 năm 2016
- Xử lý số liệu và hoàn thiện luận văn: tháng 8 - tháng 9 năm 2016
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu thành phần loài Ếch nhái tại KBTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng
Trang 23- Nghiên cứu đặc điểm phân bố và tình trạng của một số loài Ếch nhái
ưu tiên bảo tồn trong khu vực
- Xác định các yếu tố đe doạ tới Khu hệ Ếch nhái tại KBTTNĐSKT
- Đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn cho khu vực nghiên cứu
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Kế thừa tài liệu
Thu thập các tài liệu, thông tin có liên quan đến công tác nghiên cứu:
- Các báo cáo điều tra đa dạng sinh học tại KBT Đồng Sơn - Kỳ Thượng
- Bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng, bản đồ địa hình, bản đồ khu dân
+ Phỏng vấn người dân địa phương khác
Phương pháp này cung cấp cho chúng ta những thông tin có ý nghĩa về tình hình tài nguyên động vật rừng của địa phương điều tra trên các phương diện thành phần loài, mức độ phong phú, phân bố thực tại, thức ăn, sinh sản, tình trạng các loài Trong khi trao đổi, thu thập thông tin, chúng tôi đã sử dụng tranh ảnh chuẩn về hình thái bên ngoài của các loài Với hình thức các
Trang 24câu hỏi ngắn gọn, dễ hiểu về những đặc điểm dễ nhận dạng của loài Gặp gỡ người dân địa phương hay đi rừng để thu thập thông tin về các loài động vật
có mặt ở địa phương và tìm hiểu về nơi ở, tập tính hoạt động, thành phần thức
ăn, sinh cảnh, phân bố theo độ cao, thành phần và số lượng các loài động vật
bị đánh bắt cũng như ý nghĩa kinh tế của các loài đó
Toàn bộ thông tin thu thập được ghi chép đầy đủ vào phiếu phỏng vấn (Mẫu biểu 01) và các thông tin từ nguồn khác được ghi vào sổ ghi chép thực địa
Mẫu biểu 01: Phiếu phỏng vấn
Thời gian gặp
Số lượng gặp
Ghi chú
Tên địa
phương
Tên phổ thông
1
2
3
…
2.4.4 Điều tra thực địa
a) Chuẩn bị địa đ ểm đ ều tra
- Khảo sát thực tế để kiểm tra lại các thông tin đã có trên bản đồ hiện trạng Bổ sung và hiệu chỉnh các thông tin thu thập được
Trang 25- Mô tả các dạng sinh cảnh chính của khu vực theo các chỉ tiêu (địa hình, cấu trúc rừng, thảm thực vật, tác động của con người tới sinh cảnh …)
- Lập các tuyến điều tra cố định Các tuyến điều tra được phân bố đều trên các dạng sinh cảnh chính của khu vực nghiên cứu
b) Đ ều tra theo tuyến
- Đ ều tra thành phần các loài Ếch nhái
Các tuyến được bố trí theo các con suối, con khe trong rừng và đi qua các dạng sinh cảnh khác nhau
Các cá thể Ếch nhái quan sát được bằng mắt sẽ được phân loại tới loài
và ghi vào mẫu biểu 02
Mẫu biểu 02: Điều tra theo tuyến
Ngày … tháng.… năm 20… Thời tiết Tuyến số: Tọa độ điểm đầu: Tọa độ điểm cuối:…….….… Người điều tra: …… Thời gian bắt đầu:… Thời gian kết thúc:.…………
TT Sinh
cảnh
Thời gian
Tên loài Số
lượng
Giới tính
Khoản
g cách
Dấu hiệu nhận biết
Hoạt động
Ghi chú
1
2
3
…
Trang 26Hình 2.1: Sơ đồ tuyến điều tra Bảng 2.1: Thông tin về các tuyến khảo sát trong khu vực nghiên cứu
Chiều dài tuyến
Khu vực Sinh cảnh chủ yếu
Rừng hỗn giao tre nứa, rừng TX phục hồi, suối
Trang 27c) Xử lý mẫu vật
Mẫu vật được thu thập bằng tay và gậy chuyên dụng Sau khi chụp hình ngoài tự nhiên được định hình trong Formol 4% trong 24 giờ và lưu giữ trong cồn 70% tại bảo quản tại phòng động vật KBTTN ĐSKT
Trang 28Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHI N, DÂN SINH, KINH TẾ XÃ HỘI
3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý và phạm vi ranh giới
Vị trí địa lý
Khu Bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng thuộc địa giới hành chính huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh bao gồm 5 xã: Đồng Sơn, Đồng Lâm, Kỳ Thượng, Vũ Oai, Hoà Bình Tọa độ địa lý:
Từ 1070 00 ’ 30 ’’ đến 107 0 14 ’ 00’’ vĩ độ Bắc
Từ 210 04 ’ 00 ’’ đến 21 0 11’ 00 ’’ kinh độ Đông
- Phía Đông giáp xã Dương Huy, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
- Phía Bắc giáp huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh
- Phía Tây giáp xã Sơn Dương huyện Hoành Bồ
- Phía Nam giáp xã Thống Nhất huyện Hoành Bồ
Trang 29Hình 3.1 Vị Trí KBTTN ĐS - KT trong tỉnh Quảng Ninh
Phạm vi ranh giới
- Phía Bắc: Ranh giới KBT bắt đầu từ đỉnh ngọn Mo cao 852,5 m theo ranh giới giữa hai huyện Hoành Bồ và huyện Ba Chẽ đến đỉnh 562,5 m Từ đỉnh 562,5 m theo hướng Tây Bắc cắt qua khe Phương lên đỉnh 341,3 m, tiếp tục theo dông hướng Bắc đến ngã ba suối lớn chảy về khe Phương Từ ngã ba suối lớn lên đỉnh 280,6 m theo dông hướng Tây đến đỉnh 480,3 m, từ đỉnh 480,3 m theo dông hướng Tây Bắc cắt qua khe Luông lên đỉnh đèo Dài 597,3
m tiếp tục theo dông hướng Tây cắt qua đỉnh 444,1 m dọc dông lên đỉnh núi khe O
- Phía Tây: Từ đỉnh núi khe O theo hướng Tây Nam đến ngã ba suối chính lên dông theo hướng Tây Nam qua đỉnh 578,4 m đến đỉnh 457,2 m đi theo khe đến ngã ba nhỏ theo dông hướng Đông Nam lên đỉnh khe Ru 566,9
m, từ đỉnh khe Ru theo đường phân thuỷ giữa hai khe Đồng Quặng và khe Cài đến đỉnh 574,4 m trên đường ranh giới giữa hai xã Đồng Lâm và Sơn Dương
Phía Nam: Từ đỉnh 547,4 m theo đường dông qua đỉnh 583,0 m, theo đường dông hướng Bắc cắt xen kẽ rừng sản xuất lên đỉnh 246,0 m qua đỉnh 224,3 m đến đỉnh 198,3 m theo sườn hướng Bắc và Đông Bắc cắt qua khe lên đỉnh 333,1 m đi theo sườn dông hướng Đông cắt qua suối Đồng Trà đến đỉnh 223,4 m đi theo sườn dông xen kẽ với rừng sản xuất qua đỉnh 267,1 m lên dông đến đỉnh 442,3 m chạy dọc dông theo hướng Đông Nam đến đỉnh 472,2
m tiếp tục theo dông hướng Nam qua các đỉnh 352,4; 212,4; 346,9 m, sau đó dọc dông theo hướng Đông qua các đỉnh 236,2; 136,2, 113,1 m cắt qua suối
Vũ Oai lên đỉnh 81,8 m đi theo dông qua các khe nhỏ đến đỉnh 132,5 m
- Phía Đông: Từ đỉnh 132,5 m đi theo hướng Đông Bắc qua các đỉnh 154,8; 374,9; 473,3 m, tiếp tục đi theo dông hướng Bắc, Tây Bắc đến đỉnh 852,5 m
Trang 30Hình 3.2 Ranh giới KBTTN Đồng Sơn Kỳ Thƣợng
Hình 3.3 Vị Trí KBTTN ĐS-KT so với các khu bảo tồn lân cận
Trang 313.1.2 Địa hình địa thế
KBTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng nằm ở sườn Nam của dãy núi chính phân cách ranh giới hai huyện Hoành Bồ và Ba Chẽ, trên địa phận huyện Hoành Bồ, phía Đông của dãy núi thuộc cánh cung Đông Triều
- Hệ thống núi chính của KBT nằm theo hướng Đông - Tây, bắt đầu từ đỉnh ngọn Mo 852,5m chạy qua nhiều đỉnh núi tới đỉnh núi đèo Gốc
- Các dải núi độc lập và các dãy núi phụ trong KBT đa phần có hướng Tây Bắc - Đông Nam
- Hệ thống dông và núi trong KBT có một số đỉnh cao vượt trội Đáng chú ý là đỉnh Thiên Sơn 1090m Dông núi chạy từ khe Ru 826m qua đèo Kinh 694m, Đồng Trà 889m, Am Váp 1051m tới ngọn Mo 852.5m đã chia KBT thành hai lưu vực, phía Bắc nước chảy về sông Ba Chẽ, phía Nam nước tập trung chảy về sông Man rồi chảy ra Bắc Cửa Lục và thoát ra vịnh Hạ Long
Độ cao tuyệt đối không quá cao nhưng độ chênh cao trong vùng khá lớn lên tới hàng ngàn mét Địa hình trong khu vực bị chia cắt mạnh bởi nhiều dông núi nhỏ và khe suối, độ dốc trung bình 20 - 250 nhiều nơi có độ dốc tới
30 - 400 xen kẽ đôi chỗ có độ dốc 50 - 600 rất hiểm trở
Hai lưu vực sông chính trong khu vực là Ba Chẽ và Sông Man có nhiều khe suối sâu, dốc bắt nguồn từ chân núi Am Váp, Thiên Sơn đã góp phần chia cắt địa hình khu vực
3.1.3 Địa chất và thổ nhưỡng
Tài liệu địa chất miền Bắc Việt Nam cho thấy địa chất của khu vực Đồng Sơn - Kỳ Thượng hình thành từ kỷ Triat thuộc thời kỳ Đệ Tứ với các loại đá mẹ thuộc nhóm đá trầm tích chính: Phấn sa, Sa thạch, Sỏi sạn kết, Phù sa cổ, đôi chỗ
Trang 32có đá phiến thạch sét xen kẽ Trên các đỉnh núi, đá mẹ có nguồn gốc macma phun trào nhờ hoạt động tạo sơn Hymalaya thuộc kỷ Trias - judava tạo nên
Kết quả điều tra xây dựng bản đồ dạng đất do Viện Điều tra Quy hoạch rừng xây dựng tháng 04 năm 2001, đã phát hiện trong khu vực có 22 dạng đất trong 4 nhóm đất chính sau:
- Đất Feralit có mùn trên núi (độ cao trên 700 m) Đất khá nhiều mùn nên có màu nâu nhạt, phát triển trên đá Sa thạch khối, có tầng đất mỏng đến trung bình hoặc rất mỏng, có nhiều đá lộ đầu, phân bố rải rác nhưng tập trung chủ yếu trên núi cao Thiên Sơn, Am Váp, đèo Mo
- Đất Feralit màu nâu vàng, vàng nhạt vùng đồi phát triển trên đá Phiến thạch sét, Sa thạch, Phấn sa, Sạn kết Phân bố chủ yếu ở vùng thấp dưới 700
m Tầng đất dày đến trung bình, nơi đất mỏng thường là sườn các đỉnh núi có
đá Sa thạch khối phân bố, thành phần cơ giới trung bình, phân bố tập trung chủ yếu ở Đồng Sơn, Đồng Lâm, Kỳ Thượng và quanh núi Thiên Sơn (Vũ Oai)
- Đất Feralit màu vàng đỏ đến đỏ vàng hay xám vàng, phát triển trên Sa thạch, Sỏi kết của nền phù sa cổ thường phân bố trên các đồi thấp trong khu vực các xã Đồng Sơn, Đồng Lâm, Vũ Oai, Hoà Bình Tầng đất mỏng đến trung bình, thành phần cơ giới nhẹ, đất nghèo dinh dưỡng
- Nhóm đất thung lũng, đất đồng ruộng trên nền phù sa cổ và bồi tụ ven suối Nhóm đất này nhỏ, tầng đất dày, chủ yếu là đất cát pha, thành phần cơ giới nhẹ, phân bố chủ yếu dọc theo các sông suối, thung lũng hẹp của các xã trong và quanh Khu bảo tồn
Nhìn chung, đất đai trong khu BTTN là đất Feralit màu đỏ vàng, vàng
đỏ đến vàng nhạt có thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, đất tơi xốp dễ
Trang 33thoát nước, tầng đất trung bình, khả năng kết dính kém đất dễ bị rửa trôi xói mòn nếu mất rừng Đất đai thuận lợi cho sản xuất nông lâm nghiệp nhưng đòi hỏi phải có phân bón
- Chế độ mưa: Lượng mưa bình quân năm là 2.000-2.400mm, mưa tập trung vào các tháng 7, 8 chiếm khoảng 80% lượng mưa trong năm Đặc biệt trong tháng 7-8 thường xảy ra lũ ở các suối trong khu vực Trong mùa khô, lượng mưa chỉ chiếm 15-20% lượng mưa trong năm nên mùa khô thường gây
ra hiện tượng khô hạn kéo dài từ 2 đến 3 tháng
- Chế độ ẩm: Độ ẩm bình quân năm là 80%, cao nhất vào các tháng 3-4 lên tới 89% và thấp nhất là 65% vào các tháng 1 - 2 Lượng bốc hơi bình quân năm là 1.300mm Trong những tháng khô hạn có lúc độ ẩm xuống 40 - 50% gây ra nóng bức và khô, ảnh hưởng không tốt đến cây cối
- Chế độ gió: Khu vực Đồng Sơn - Kỳ Thượng có 2 loại gió thịnh hành
là gió Đông Bắc vào mùa khô hanh và gió Đông Nam vào mùa mưa Gió
Trang 34Đông Bắc lạnh thường xảy ra vào các ngày khô hanh độ ẩm thấp thường gây thiệt hại cho cây cối
+ Bão: Mặc dù khu vực Đồng Sơn - Kỳ Thượng gần biển nhưng do vịnh Hạ Long có nhiều đảo che chắn nên ít bị ảnh hưởng của bão lớn Tuy vậy, hàng năm vẫn chịu ảnh hưởng trung bình từ 2 đến 3 cơn bão đổ bộ vào với tốc độ gió cấp 8, cấp 9 gây mưa lớn kéo dài, nhiều vùng bị lũ lụt ảnh hưởng lớn tới sản xuất nông lâm nghiệp
+ Sương muối: Do đặc điểm địa hình nên trong các thung lũng thường xuất hiện sương muối Sương muối thường xảy ra vào các tháng 12, tháng 1 ảnh hưởng đến cây trồng đặc biệt là cây trồng nông nghiệp và cây trồng lâm nghiệp trong giai đoạn đang được chăm sóc ở vườn ươm
- Các nhân tố cực đoan: Mùa mưa hay có mưa lớn và kéo dài gây lũ cục
bộ Gần đây xuất hiện mưa axit Mùa đông thường xuất hiện sương muối Đây là yếu tố gây trở ngại không nhỏ đến đời sống, giao thông và sản xuất nông lâm nghiệp
Nhìn chung khí hậu Đồng Sơn - Kỳ Thượng thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa (ở dưới thấp) và khí hậu á nhiệt đới núi thấp (ở trên đỉnh cao), chế độ nhiệt, mưa, ẩm, gió, bốc hơi, phân mùa của khu vực là thuận lợi cho cây rừng sinh trưởng và phát triển Tuy nhiên, yếu tố khí hậu cực đoan cũng gây không
ít khó khăn đến việc tổ chức sản xuất, đi lại và sinh hoạt
3.1.5.Thuỷ văn
Khu vực Đồng Sơn - Kỳ Thượng có 2 hệ thống suối chính:
- Hệ thống suối tụ nước đổ về sông Ba Chẽ ở phía Bắc KBT
- Hệ thống suối tụ nước đổ về sông Man ở phía Nam KBT
Hai hệ suối này đều bắt nguồn từ các dãy núi và đỉnh núi trong khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng nơi có khá nhiều rừng tự nhiên, tuy có cạn về
Trang 35mùa khô nhưng các suối phần lớn có nước quanh năm, đáp ứng được yêu cầu đời sống và sản xuất trong khu vực Những năm gần đây do ảnh hưởng của nạn phá rừng tự nhiên, mở đường và san lấp đồng ruộng của các xã quanh khu BTTN dẫn đến nước trên hai hệ thống suối thường đục hơn, nhiều cát trôi, nhiều lũ cuốn làm hại hoa màu, đời sống và cảnh quan
Hồ Cao Vân có diện tích 146 ha, dung tích 5.000.000 m3 đón nước chủ yếu từ các suối bắt nguồn phía Tây Nam núi Thiên Sơn để cung cấp nước sạch cho huyện Hoành Bồ và thành phố Hạ Long tuy nằm ngoài KBTTN Đồng Sơn -
Kỳ Thượng nhưng có ý nghĩa vô cùng lớn trong việc điều tiết khí hậu của khu BTTN
3.1.6 Hiện trạng rừng, thực vật và trữ lượng rừng
- Hiện trạng rừng và sử dụng đất lâm nghiệp
Căn cứ kết quả rà soát điều chỉnh rừng đặc dụng, giai đoạn 2009 - 2015
và kết quả phúc tra hiện trạng của Phân viện ĐTQH rừng Đông Bắc bộ tháng
11 năm 2012 hiện trạng tài nguyên và sử dụng đất Khu bảo tồn như sau:
Bảng 3.1 Hiện trạng tài nguyên và tình hình sử dụng đất tại KBTTN
Đồng Sơn
Hoà Bình
Kỳ Thườn
g
Vũ Oai
0
Trang 37Trên cơ sở ranh giới đóng mốc ngoài thực địa, ranh giới các phân khu chức năng do Ban quản lý Khu bảo tồn cung cấp, sau khi tính diện tích lại bằng phần mềm Mapinfor, diện tích tự nhiên của Khu bảo tồn Đồng Sơn - Kỳ Thượng hiện tại là 16.878,7 ha Trong đó:
- Xã Đồng Sơn gồm 4 tiểu khu: 52, 56, 58, 59, diện tích 4.196,8 ha
- Xã Kỳ Thượng gồm 2 tiểu khu: 60, 61, diện tích 3.279,6 ha
- Xã Đồng Lâm gồm 4 tiểu khu: 68, 69, 70, 77A, diện tích 3.719,4 ha
- Xã Vũ Oai gồm 2 tiểu khu: 71, 79, diện tích 3.269,9 ha
- Xã Hoà Bình gồm 2 tiểu khu 72, 80A diện tích 2.413,1 ha
- Thảm thực vật rừng
Phân loại thảm thực vật rừng
Trên cơ sở phân loại Thảm thực vật rừng Việt Nam của GS.TS Thái Văn Trừng, thảm thực vật của KBTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng có thể xếp vào các kiểu rừng và thảm tươi như sau:
- Kiểu thảm thực vật thường xanh mưa ẩm Á nhiệt đới núi thấp
- Kiểu thảm thực vật thường xanh mưa ẩm nhiệt đới
Bảng 3.2 Phân bố diện tích thảm thực vật rừng KBT Đồng Sơn - Kỳ Thượng
Đơn vị tính: ha
1 Rừng thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp 1.137
2 Rừng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới 14.500,7
2.1 Kiểu phụ rừng thứ sinh sau khai thác 13.627,4
Trang 382.1.2 Ưu hợp Thành ngạnh, Sau sau, Dẻ, Trâm, Kháo 7.560,15 2.1.3 Ưu hợp Thẩu tấu, Me rừng, Sim, Mua, Cỏ lào 2.103,61 2.1.4 Ưu hợp Cỏ Lào, Lau, Lách, Chè vè 1.479,9 2.2 Kiểu phụ rừng trồng thứ sinh nhân tạo 873,3
- Đánh giá chung về giá trị thảm thực vật rừng trong khu vực
Khu vực Đồng Sơn - Kỳ Thượng không đa dạng về kiểu thảm thực vật rừng, nhưng thảm thực vật tự nhiên đặc biệt là rừng kín thường xanh Á nhiệt đới còn tương đối nguyên vẹn về cấu trúc Rừng kín thường xanh Á nhiệt đới
có diện tích tập trung lớn nhất trong tỉnh Quảng Ninh Nhìn chung, các loại rừng này mới bị tác động nhẹ còn khá đa dạng về tổ thành loài, có nhiều loài quý hiếm cần được đặc biệt quan tâm, bảo vệ
Các loại thảm thực vật tự nhiên khác tuy ít có giá trị bảo tồn về nguồn gen nhưng cũng là nơi môi trường, nơi cư trú cho hệ động vật hoang dã sinh sống; vì vậy cần được bảo vệ rừng tự nhiên phục hồi
Thảm thực vật nhân tạo có ý nghĩa trong việc cung cấp lâm sản, thảo mãn cho nhu cầu tiêu dùng, phục vụ công nghiệp làm giảm áp lực khai thác đối với rừng tự nhiên và góp phần phòng hộ môi trường sinh thái
- Thực trạng trữ lượng rừng của Khu bảo tồn
Thực hiện chủ trương đóng cửa khai thác rừng tự nhiên trên toàn quốc Trong những năm qua KBTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng làm nhiệm vụ bảo vệ nghiêm ngặt rừng hiện có Rừng có trữ lượng nhưng trữ lượng chưa cao, tổ
Trang 39thành loài cây phức tạp chủ yếu là cây có phẩm chất tốt và trung bình Vì vậy, ngoài việc bảo vệ tốt cần có các biện pháp tích cực về mặt lâm học để điều chỉnh tổ thành phát triển sinh khối, khôi phục lại vốn rừng, nâng cao chất lƣợng rừng Điều này đƣợc thể hiện qua bảng 03
Trang 40Bảng 3.3 Thống kê diện tích các loại đất đai và trữ lượng thực vật rừng
4 Rừng phục hồi sau khai thác kiệt 3.054,5 388.977
5 Rừng phục hồi sau nương rẫy 2.870,1
Nguồn:Dự n r so t đ ều chỉn đầu tư rừn đặc dụn a đoạn 2009 - 2015
3.1.7 Hệ động vật, thực vật và phân bố của các loài quý hiếm
Tài nguyên thực vật rừng
Theo điều tra ban đầu hệ thực vật khu bảo tồn bao gồm 4 yếu tố: thực vật bản địa Bắc Việt Nam - Nam Trung Quốc, thực vật di cư India - Myanma, thực vật quý hiếm và thực vật đặc hữu của vùng
Thực vật thân gỗ: