BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÊ ĐÔNG HIẾU NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, PHÂN BỐ VÀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC TINH
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
LÊ ĐÔNG HIẾU
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, PHÂN BỐ VÀ
THÀNH PHẦN HÓA HỌC TINH DẦU CỦA CÁC LOÀI TRONG
HỌ HỒ TIÊU (PIPERACEAE) Ở BẮC TRUNG BỘ
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
Trang 2Luận án được hoàn thành tại Học viện Khoa học và Công Nghệ
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS TS Trần Minh Hợi
vào hồi giờ , ngày tháng năm 2017
Có thể tìm luận án tại, Thư viện Quốc gia Việt Nam, Thư viện Học viện Khoa học và Công nghệ
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong hệ thực vật Việt Nam, nhóm các cây có tinh dầu rất phong phú và đa dạng Đến nay đã thống kê được khoảng 657 loài thuộc 357 chi và 114 họ (chiếm khoảng 6,3% tổng số loài; 15,8% tổng số chi và 37,8% số họ) Họ Hồ tiêu
(Piperaceae) có 4 chi, 50 loài (chi Lepianthes – Lân hoa có 01 loài: Lepianthes
umbellatum; chi Peperomia – Càng cua có 06 loài; chi Piper – Hồ tiêu có 42 loài; chi Zippelia có 01 loài); thường là dây leo với lá đơn (mọc cách hay mọc đối, ít khi mọc
vòng) phần lớn có gân vòng cung Hoa tạo thành vòng nạc dày đặc (đôi khi có dạng như đuôi sóc); không có cánh hoa; bao phấn ngoại hướng và lá bắc rất nhỏ Tập trung chủ yếu ở vùng nhiệt đới, đặc biệt là vùng Đông Nam Á và nhiệt đới châu Mỹ Xu hướng hiện nay của các nhà khoa học trên thế giới đang tập trung nghiên cứu không chỉ về mặt hình thái mà đặc biệt là các hợp chất hóa học có ở trong họ này nhằm ứng dụng trong y dược học
Kinh nghiệm dân gian cho thấy có nhiều loài trong họ Hồ tiêu (Piperaceae) được đồng bào các dân tộc sử dụng các bộ phận khác nhau để làm thuốc, làm rau ăn, Do vậy, nghiên cứu họ Hồ tiêu (Piperaceae) để có cơ sở khoa học nhằm khai thác và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thực vật đã và đang là mối quan tâm lớn của nhân loại Trong số các nhóm tài nguyên thực vật thì nhóm cây chứa tinh dầu chiếm vị trí rất quan trọng Đây là nguồn nguyên liệu thiết yếu cho nhiều ngành công nghiệp như mỹ phẩm, thực phẩm và dược phẩm Hiện nay, hầu hết các loài trong họ
Hồ tiêu (Piperaceae) đều có khả năng sinh tổng hợp và tích luỹ các hợp chất tự nhiên, đặc biệt là tinh dầu
Bắc Trung Bộ là một trong những trung tâm đa dạng sinh học không chỉ ở Việt Nam mà còn của thế giới Nơi đây, có thể còn nhiều loài động, thực vật mới; trong đó,
họ Hồ tiêu (Piperaceae) có thể tiềm ẩn nhiều loài mới và là nguồn tài nguyên vô cùng phong phú và đa dạng
Những kết quả điều tra, nghiên cứu, thu thập các dữ liệu về các đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái, hóa học nhằm đánh giá đầy đủ tiềm năng về nguồn tài
Trang 4nguyên đa dạng của họ Hồ tiêu (Piperaceae) là lý do mà tác giả luận án đã chọn đề
tài: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, phân bố và thành phần hoá học tinh dầu của các loài trong họ Hồ tiêu (Piperaceae) ở Bắc Trung Bộ
2 Mục tiêu
Đánh giá được tính đa dạng thành phần loài, một số đặc điểm sinh học, phân
bố và thành phần hóa học trong tinh dầu của một số loài trong họ Hồ tiêu (Piperaceae) ở Bắc Trung Bộ
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Nghiên cứu thực vật họ Hồ tiêu (Piperaceae)
1.1.1 Trên thế giới
Họ Hồ tiêu (Piperaceae) là 1 họ lớn của ngành Ngọc lan (Magnoliophyta); phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới trên thế giới, có khoảng 10 chi và 2.000 loài Trong
đó 2 chi Piper và Peperomia chiếm khoảng 90% tổng số loài Sự phân nhóm đối với
các loài và chi của họ này cho đến nay vẫn chưa đạt được sự thống nhất Tác giả Miquel (1843-1844) chia họ này thành hai nhóm là Piperneae gồm 15 chi với 304 loài và Peperomeae có 5 chi với 209 loài De Candolle (1869) xác định họ này gồm 2
chi Piper và Peperomia với trên 1.000 loài Theo Rendle (1956), họ Hồ tiêu gồm 2 chi lớn là Piper với trên 700 loài và Peperomia với trên 600 loài, ngoài ra, còn thêm
7 chi nhỏ khác Tuy nhiên, theo Lawrence (1957), họ này có 10 - 12 chi với 2 chi lớn
là Piper và Peperomia Theo phân loại của Takhtajan (2009), họ Piperaceae gồm có 7
chi và trên 2.000 loài
Nghiên cứu phân loại họ Hồ tiêu (Piperaceae) bắt đầu với việc xuất bản Các loài thực vật bởi Linnaeus (1753) Ông đã mô tả có 17 loài, tất cả đều được bao gồm
trong chi Piper Sau này có các công trình của Hooker (1885), Quisumbing E (1930),
Ridley (1967), Long (1984), Huber (1987),…
1.1.2 Ở Việt Nam
Nghiên cứu về họ Hồ tiêu (Piperaceae) ở Việt Nam chủ yếu người Pháp với
Trang 5công trình đầu tiên đề cập đến họ này là J Loureio (1793), Gagnepain (1908), Lê Khả
Kế và cộng sự (1975), Phạm Hoàng Hộ (1972), Lê Trần Chấn và cộng sự (1999), Nguyễn Kim Đào (2003),…
1.2 Giá trị sử dụng của các loài trong họ Hồ tiêu (Piperaceae)
Rất nhiều loài trong họ Hồ tiêu (Piperaceae) có chứa tinh dầu nên đã được trồng để dùng làm gia vị, làm chất kích thích và làm thuốc trong y học dân gian
Nhiều bộ phận của các loài thuộc chi Hồ tiêu (Piper L.) đều có thể được dùng để làm
thuốc Tuy nhiên, giữa các quốc gia khác nhau có sự khác nhau về loài hoặc bộ phận được sử dụng của cùng một loài Công dụng phổ biến nhất của chi này theo kinh nghiệm dân gian là để chữa các bệnh về đường tiêu hóa (bệnh dạ dày, đầy hơi, tiêu chảy, táo bón), giảm đau (bệnh thấp khớp, đau lưng, đau răng) và kháng khuẩn, chống viêm (viêm phế quản, vết thương phần mềm, viêm đường tiêu hóa)
Những chế phẩm khác trong thành phần có chứa dịch chiết từ một số loài thuộc
chi Piper L được sử dụng để chữa bệnh như: Eupolin (chứa cao đặc lá Trầu không và
cao đặc Cỏ lào có tác dụng chữa viêm lợi, viêm chân răng); Sakantin có chứa dịch
chiết từ quả của hai loài Piper nigrum L., Piper longum L và gừng giúp kích thích
tiêu hóa; sản phẩm Armorex T (chứa hạt tiêu, tinh dầu tỏi, tinh dầu mè…, có tác dụng kháng khuẩn, chống oxy hóa, giảm co thắt, chữa tiêu chảy) Đặc biệt, một số sản
phẩm chứa dịch chiết từ rễ loài Piper methysticum G Forst (có tên gọi khác là kava)
có tác dụng an thần, giảm lo âu Tuy nhiên, gần đây có một số báo cáo về những tác dụng phụ trên gan khi sử dụng những sản phẩm này, vì thế, cần thận trọng khi sử dụng chúng
1.3 Tinh dầu
Phần này nêu lên khái niệm về cây tinh dầu, Trạng thái tự nhiên và phân bố, Đặc tính và thành phần hoá học của tinh dầu, Giá trị sử dụng, tầm quan trọng của tinh dầu và nguyên liệu chứa tinh dầu
1.4 Nghiên cứu về thành phần hóa học tinh dầu họ Hồ tiêu (Piperaceae)
Phần này tác giả đã tổng hợp các công trình nghiên cứu về tinh dầu của họ Hồ tiêu (Piperaceae) ở trên thế giới và ở Việt Nam
Trang 61.5 Điều kiện tự nhiên xã hội ở Bắc Trung Bộ
Phần này nêu lên vị trí địa lý, địa hình, địa mạo, đặc điểm khí hậu, đặc điểm kinh tế xã hội, đặc điểm hệ thực vật của khu vực nghiên cứu
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các loài trong họ Hồ tiêu (Piperaceae) ở Bắc Trung Bộ Phạm vi nghiên cứu: Chủ yếu là các Vườn Quốc Gia (Bến En, Pù Mát, Vũ Quang, Phong Nha - Kẻ Bàng, Bạch Mã) và các Khu Bảo tồn Thiên nhiên (Xuân Liên,
Pù Luông, Pù Hoạt, Pù Huống, Kẻ Gỗ, Đak Krông) ở Bắc Trung Bộ Ngoài ra còn thu mẫu ở một số địa điểm của các huyện có phân bố của họ này
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu các đặc điểm sinh học (hình thái, sinh thái), phân bố và tính đa dạng các loài trong họ Hồ tiêu (Piperaceae) ở Bắc Trung Bộ
- Tìm hiểu về giá trị sử dụng của các loài thuộc họ Hồ tiêu (Piperaceae) ở Bắc Trung Bộ
- Xác định hàm lượng, thành phần hóa học tinh dầu của một số loài trong trong
họ Hồ tiêu (Piperaceae) ở Bắc Trung Bộ
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu thực vật
2.3.1.1 Phương pháp kế thừa số liệu
Các số liệu về điều kiện tự nhiên, xã hội ở khu vực nghiên cứu, các mẫu vật lưu ở bảo tàng trong nước và nước ngoài, các công trình công bố liên quan
2.3.1.2 Phương pháp điều tra thực địa
Ở mỗi địa điểm nghiên cứu tác giả chọn các tuyến điều tra chính để nghiên cứu: + VQG Bến En: tuyến Sông Tràng - Bãi Trành; tuyến Đồng Mười – Hồ Sông Mực - Điện Ngọc; tuyến Đồng Mười - Xuân Thái
+ VQG Pù Mát: tuyến Môn Sơn - Sông Giăng; tuyến Chi Khê - Khe Bu; tuyến
Trang 7Lâm Trường Con Cuông - Khe Kèm; tuyến Tam Đình - Tam Hợp; tuyến Châu Khê - Khe Choang
+ VQG Vũ Quang: tuyến Hương Quang - Dốc Dẻ; tuyến Hương Đại - Hương Quang; tuyến Trạm chè - Sơn Kim II
+ VQG Phong Nha – Kẻ Bàng: tuyến ngã ba Đông – Vườn Thực vật và Tây đường Trường Sơn - U Bò
+ VQG Bạch Mã: tuyến Trung tâm Vườn - Thác Thủy Điện - thác Đá Dựng; tuyến Trĩ Sao - Đỉnh Bạch Mã - Đỗ Quyên; tuyến Hương Phú - Thị trấn Khe Tre, Thượng Nhật - Hưng Lộc)
+ Khu BTTN Xuân Liên: tuyến Xuân Liên - Vạn Xuân, tuyến Yên Nhân – Bát Mọt + Khu BTTN Pù Luông: tuyến Phú Lệ - Thung Hang; tuyến Cổ Lũng – Lũng Cao + Khu BTTN Pù Huống: tuyến Châu Thái - Nam Sơn – Bắc Sơn – Bình Chuẩn; tuyến Châu Hoàn – Diên Lãm – Quang Phong
+ Khu BTTN Pù Hoạt: Tri Lễ - Nậm Giải; Hạnh Dịch - Thông Thụ - Đồng Văn + Khu BTTN Kẻ Gỗ: Trung tâm du lịch đến các khu vực chạy theo phía Nam – Bắc
2.3.1.3 Phương pháp thu mẫu và định loại
Mỗi cây ít nhất thu 2-3 mẫu tiêu bản ở cùng 1 địa điểm Sau khi thu mẫu ghi số hiệu mẫu Khi thu mẫu thì ghi chép tỉ mỉ ngay những đặc điểm dễ bị mất khi mẫu khô như: màu sắc, hình dạng tự nhiên của hoa, quả, lá Ngoải ra còn chụp ảnh tổng thể
và chi tiết từng bộ phận của cây bằng máy ảnh kỹ thuật số Canon
Sau khi mẫu được xử lý sơ bộ ở ngoài thực địa, tiếp tục xử lý khô tại phòng mẫu Dược liệu, Bộ môn Dược liệu, Trường Đại học Y Khoa Vinh
Phương pháp dùng để nghiên cứu phân loại là phương pháp hình thái so sánh Đây là phương pháp nghiên cứu truyền thống nhưng vẫn là phương pháp thông dụng được sử dụng hiện nay Trong phương pháp này dựa trên các đặc điểm của cơ quan sinh dưỡng và cơ quan sinh sản để nghiên cứu trong đó chủ yếu dựa vào cơ quan sinh sản như vị trí cụm hoa, cấu tạo của hoa, đặc điểm của lá bắc, đài hoa, cấu tạo của nhị
và đầu nhụy khi tạo thành quả Bởi vì đây là những đặc điểm ít thay đổi dưới tác động của điều kiện sống
Tổng số mẫu thu được là hơn 500 mẫu, số mẫu đã phân tích và xác định tên khoa
Trang 8học hơn 300 mẫu Mẫu hiện được lưu trữ ở phòng mẫu Dược liệu, bộ Môn Dược liệu, Trường Đại học Y Khoa Vinh
Các tài liệu chính được sử dụng trong quá trình nghiên cứu mẫu là: Phạm Hoàng
Hộ (1999), Cây cỏ Việt Nam, Quyển II; H W Li (1982), Flora of China; Cheng Y.,
N Xia & M.G Gilbert (1999), Flora of China, Vol 4, Piperaceae
2.3.1.4 Tìm hiểu về giá trị sử dụng của các loài trong họ Hồ tiêu (Piperaceae) ở Bắc Trung Bộ
Tìm hiểu về giá trị sử dụng của các loài trong họ Hồ tiêu (Piperaceae) qua các tài liệu đã công bố trong và ngoài nước về các loài nghiên cứu để bổ sung vào giá trị sử dụng tài nguyên của họ này trong các tài liệu: Võ Văn Chi (2012), Đỗ Tất Lợi (1995),
Lê Trần Đức (1997), Triệu Văn Hùng và cộng sự (2007), Đỗ Huy Bích và cộng sự
(2004), Chaveerach A.et al., (2006) và thông qua phỏng vấn người dân bằng phương
phương pháp có sự tham gia PRA: Parcitipartory Rual Appraisal
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu thành phần hóa họctinh dầu
2.3.2.1 Thu mẫu và chưng cất tinh dầu
Mẫu để chưng cất tinh dầu là các bộ phận riêng biệt của cây (lá, thân giả, thân rễ, hoa, quả) Mỗi mẫu thu từ 0,5-3 kg tươi Mẫu được ghi số hiệu (số hiệu này trùng với
số hiệu mẫu thực vật để định loại) và ngày tháng được thu Sau khi thu hái, mẫu được cắt nhỏ và chưng cất bằng phương pháp lôi cuốn hơi nước có hồi lưu trong thiết bị Clevenger trong thời gian 2-4 giờ ở áp suất thường theo tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam IV (2010)
2.3.2.2 Phương pháp định lượng tinh dầu
Tinh dầu của các bộ phận khác nhau được định lượng theo phương pháp I của Dược điển Việt Nam IV (2010) Hàm lượng tinh dầu được tính theo công thức:
Trang 9Trong đó: a là thể tích của tinh dầu (ml); b là khối lượng của mẫu (gam)
Tinh dầu được làm khô bằng Na2SO4 khan, đựng trong các lọ tiêu chuẩn đậy kín, bảo quản ở 0-5oC trước khi đem phân tích
2.3.2.3 Phương pháp phân tích thành phần hoá học tinh dầu
Chuẩn bị mẫu phân tích cho sắc ký khí : Hoà tan 1,5 mg tinh dầu đã được làm khô bằng Na2SO4 khan trong 1ml hexan tinh khiết loại dùng cho phân tích sắc ký
Sắc ký khí (GC) với đầu dò FID: Được thực hiện trên máy Agilent Technologies
HP 6890N Plus với detectơ FID, cột mao quản HP-5MS chiều dài 30 m, đường kính trong (ID) = 0,25 mm, lớp phim mỏng 0,25m với khí mang là hydro Nhiệt độ buồng bơm mẫu là 250oC Nhiệt độ Detectơ là 260oC Chương trình nhiệt độ 60o
C (2 min), tăng 4oC/phút cho đến 220o
C, dừng ở nhiệt độ này trong 10 phút
Sắc ký khí-khối phổ (GC/MS): Được thực hiện trên hệ thống thiết bị sắc ký khí
khối phổ liên hợp Agilent Technologies HP 6890N/ HP 5973 MSD với cột tách và các điều kiện vận hành sắc ký như nêu ở trên và với Heli làm khí mang
Việc xác định định tính các thành phần của tinh dầu được thực hiện bằng các phương pháp sau:
- Dựa trên giá trị của chỉ số lưu giữ (Retention Index), xác định với một dãy các đồng đẳng n-alkan trong cùng một điều kiện sắc ký
- Dựa trên sắc ký nội chuẩn (co-injection) với các chất chuẩn thương mại (của hãng Sigma-Aldrich, St Louis, MO, USA) hoặc với các thành phần tinh dầu đã biết
- Dựa trên phổ khối lượng, so sánh với phổ khối lượng tìm thấy trong các ngân hàng dữ liệu (NIST 08 và Wiley 9th Version) hoặc so sánh với các dữ liệu của các tài liệu tham khảo
Tỉ lệ % các thành phần trong tinh dầu được tính toán dựa trên diện tích hoặc chiều cao của pic sắc ký (detector FID) mà không sử dụng các yếu tố điều chỉnh Tinh dầu được phân tích tại Phòng Thí nghiệm Trung tâm, Trường Đại học Vinh
2.4 Phương pháp xử lí số liệu
Số liệu được xử lí trên phần mềm Microsoft Office Excel 2010
Trang 10CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đặc điểm sinh học của các loài trong họ Hồ tiêu (Piperaceae)
3.1.1 Đặc điểm hình thái của các loài trong họ Hồ tiêu (Piperaceae)
+ Thân: Cây bụi đứng thẳng, cây leo với rễ mọc ở đốt; đôi khi có dạng thân thảo bò trên mặt đất hoặc sống bì sinh; thường có mùi thơm
+ Lá: Đơn, mép nguyên, mọc đối hoặc mọc cách, có thể có hoặc không có lá kèm
(rụng sớm để lại sẹo ở mấu khá rõ) Lá rất khác nhau về hình dạng và kích thước giữa các loài Lá có các dạng: hình mác, hình trứng, hình tim, Trên cùng một cây có thể có nhiều hình dạng lá khác nhau với đặc điểm lá già thường to và nổi bật hơn so với những lá còn lại Phiến lá có thể mỏng hoặc dày, nhẵn bóng, nhăn nheo hoặc thô ráp, có thể có lông Lông che chở màu nâu hoặc trắng, có thể đơn bào hoặc đa bào, bao phủ bề mặt lá và/hoặc toàn thân cây Gốc lá cân đối hoặc lệch, hình tròn hoặc hình tim Cuống lá ngắn hoặc dài khoảng vài cm Gân lá thường tạo thành các cặp xuất phát từ một số điểm như: gốc lá, điểm sát gốc lá, điểm giữa hoặc điểm phía trên của gân giữa lá Một số lá có hệ gân thứ cấp chạy dọc theo gân giữa, có dạng đường cong từ gốc đến đỉnh của lá, có hình chân vịt hoặc có một phần xẻ lông chim
+ Hoa: Cụm hoa dạng bông, mọc đối diện với lá, ngoài nách lá hoặc ở nách lá; hiếm
khi mọc ở đỉnh cành và cũng hiếm khi tạo thành cụm gồm nhiều bông mọc ở nách lá Cụm hoa có dạng vươn thẳng hoặc uốn cong nhẹ và có thể bị rủ xuống khi chín Hoa trần, thường đơn tính (đa số khác gốc, ít khi cùng gốc) hoặc lưỡng tính, không có cuống Cánh hoa có thể có màu hồng, màu hạt dẻ, màu xanh xám, màu vàng xanh, màu trắng đục… Lá bắc nhỏ; mọc đối diện với hoa, đôi khi dính với trục cụm hoa; hình khiên, hình tam giác hoặc hình tròn; thường nhẵn hoặc có lông mịn Bộ nhị có 2-6 nhị, chỉ nhị ngắn; bao phấn 2, 2-4 thùy Bộ nhụy có bầu nhụy rời hoặc đôi khi ôm lấy trục, 1 ô, 1 lá noãn; đầu nhụy 2-5
+ Quả: Hạch, có hoặc không có cuống; hình trứng, hình cầu, hình trứng ngược hoặc
có mặt cắt hình tam giác, hiếm khi hình bầu dục; khi chín thường có màu đỏ hoặc vàng Quả thường nhẵn hoặc đôi khi có lông tơ; mỗi quả có 1 hạt Hạt gần hình cầu,
Trang 11vỏ hạt mỏng; phôi nhỏ, ngoại nhũ dạng bột và cứng
3.1.2 Đặc điểm sinh thái, mùa hoa, mùa quả của các loài trong họ Hồ tiêu (Piperaceae)
+ Nơi sống: Các loài chủ yếu leo trườn trên đá hoặc bám lên các loài cây khác như: Tiêu
gắt (Piper acre Blume), Tiêu thượng mộc (Piper arboricola C DC.), Tiêu ba vì (Piper
bavinum C DC.), Trầu không (Piper betle L.), Tiêu cam bốt (Piper cambodianum C
DC.), Tiêu chó (Piper cf caninum Blume), Tiêu châu đốc (Piper chaudocanum C DC.), Tiêu griffithi (Piper griffithii C DC.), Tiêu maclure (Piper cf maclurei Merr.),
Hồ tiêu (Piper nigrum L.),… Một số loài mọc ở dưới đất hoặc trong hốc núi đá vôi như: Rau càng cua (Peperomia pellucida (L.) Kunth.), Càng cua ba lá (Peperomia
parcicilia C DC.), Tiêu lá gai (Piper boehmeriifolium Wall ex Miq.), Tiêu lá gai bắc
bộ (Piper boehmeriifolium var tonkinensis C DC.), Lá lốt (Piper lolot L.), Lốt (Piper
sarmentosum Roxb.), Tiêu rận (Zippelia begoniifolia Blume ex Schult & Schult f.)…
+ Mùa ra hoa, mùa quả: Tùy vào từng loài mà có mùa ra hoa, mùa quả khác nhau
nhưng chủ yếu ra hoa từ tháng 2(3) - 5(6), có quả từ tháng 4 - 8, điển hình là các loài
Rau càng cua (Peperomia pellucida (L.) Kunth.), Càng cua ba lá (Peperomia
parcicilia C DC.), Tiêu cam bốt (Piper cambodianum C DC.), Tiêu chó (Piper cf caninum Blume), Tiêu hải nam (Piper hainanense Hemsl.), Tiêu lá mỏng (Piper hymenophyllum Miq.), Tiêu harmand (Piper harmandii C DC.), Tiêu maclure (Piper
cf maclurei Merr.), Tiêu lào (Piper laosanum C DC.),… Một số loài ra hoa tháng
7-12, có quả tháng 10 đến 4 năm sau như: Tiêu thất (Piper cubeba L f.), Tiêu gié trần
(Piper gymnostachyum C DC.), Lốt (Piper sarmentosum Roxb.),
3.1.3 Đa dạng họ Hồ tiêu (Piperaceae) ở Bắc Trung Bộ
Kết quả điều tra, thu thập mẫu của các loài trong họ Hồ tiêu (Piperaceae) ở Bắc Trung Bộ đã xác định được 3 chi thuộc 36 loài và thứ; ghi nhận vùng phân bố cho khu vực Bắc Trung Bộ cho 28 loài Kết quả được trình bày trong bảng 3.1
Bảng 3.1 Danh lục thành phần loài trong họ Hồ tiêu (Piperaceae) ở Bắc Trung Bộ
Trang 122 Peperomia parcicilia C DC Càng cua ba lá Th ĂNĐ
4 Piper albispicum C DC * Tiêu gié trắng Th CTD
5 Piper arboricola C DC.* Tiêu thượng mộc L THU, CTD
6 Piper baccatum Blume* Tiêu phì quả L CTD
9 Piper boehmeriifolium (Miquel)
Wallich ex C de Candolle in A de
Candolle
Tiêu lá gai Th THU, CTD
10 Piper boehmeriifolium var
tonkinensis C DC
Tiêu lá gai bắc bộ Th THU, CTD
12 Piper brevicaule C DC.* Tiêu thân ngắn L CTD
13 Piper cambodianum C DC * Tiêu cam bốt L CTD
14 Piper cf caninum Blume* Tiêu chó L CTD
15 Piper carnibracteum C DC * Tiêu lá hoa mập L CTD
16 Piper chaudocanum C DC. Tiêu châu đốc L THU, CTD
18 Piper griffithii C DC.* Tiêu griffith L CTD
19 Piper gymnostachyum C DC.* Tiêu gié trần L CTD
20 Piper hainanense Hemsl.* Tiêu hải nam L CTD
21 Piper harmandii C DC * Tiêu harmand L CTD
22 Piper hymenophyllum Miq * Tiêu lá mỏng L CTD
26 Piper cf maclurei Merr.* Tiêu maclure L CTD
Trang 1328 Piper mutabile C DC.* Tiêu biến thể L THU, CTD
ĂNĐ, GV
30 Piper pendulispicum C DC * Tiêu gié thòng L CTD
31 Piper pierrei C DC.* Tiêu pierre Th CTD
32 Piper pubicatulum C DC.* Tiêu sóng có lông L CTD
33 Piper retrofractum Vahl* Tiêu dội L THU, CTD
35 Piper saxicola C DC.* Tiêu trên đá Th CTD
36 Zippelia begoniifolia Blume ex
Schult & Schult f.*
Ghi chú: * loài ghi nhận phân bố ở Bắc Trung Bộ; L: thân leo; Th: thân thảo; THU: cây làm thuốc; CTD: cây tinh dầu; GV: Cây gia vị; ĂNĐ: cây ăn được
Để thấy được tính đa dạng họ Hồ tiêu (Piperaceae) ở Bắc Trung Bộ, kết quả được
so sánh với tổng số loài hiện biết ở Việt Nam (Nguyễn Kim Đào, 2003) (bảng 3.2)
Bảng 3.2 So sánh số loài trong họ Hồ tiêu (Piperaceae) ở Bắc Trung Bộ với tổng số
loài đã biết ở Việt Nam
Chi Bắc Trung Bộ (1) Việt Nam (2) Tỷ lệ % giữa (1) và (2)
(2)
theo Nguyễn Kim Đào (2003)
Các kết quả trình bày trong bảng 3.2 cho thấy, thành phần loài của họ Hồ tiêu ở Bắc Trung Bộ khá đa dạng Trong đó, có 3 chi so với 4 chi, chiếm 75% tổng số chi và
36 loài và thứ so với 50 loài và thứ chiếm 72,00% tổng số loài và thứ hiện biết ở Việt Nam Từ đây cho thấy, tuy chỉ ở trong một khu vực phân bố với một diện tích khá khiêm tốn so với các khu vực khác trong cả nước, nhưng thành phần loài trong họ này cũng khá đa dạng và phong phú
3.1.4 Các loài trong họ Hồ tiêu (Piperaceae) được ghi nhận thêm vùng phân bố cho khu Hệ Thực vật Bắc Trung Bộ