Dẫu biết rằng việc trao duyên rất tế nhị, gây khó xử, cả Kiều và Vân đều không muốn, trong lời tâm sự Thúy Vân của Trương Nam Hương có viết : “ Chị yêu lệ chảy đã đành Chứ em nước mắt đâu dành chàng Kim Ơ kìa sao chị ngồi im Máu còn biết chảy về tim để hồng Lấy người yêu chị làm chồng Đời em thể thắt một vòng oan khiên”. Thế nhưng Kiều không thể làm khác, trao kỉ vật cho em mà lòng đau như cắt.
Trang 1Ngày soạn: / 03/ 2016 Ngày dạy: / 03/ 2016 Lớp dạy: 10
Ngày dạy: / 03/ 2016 Lớp dạy: 10 Ngày dạy: / 03/ 2016 Lớp dạy: 10
Tiết 82: Đọc văn
TRAO DUYÊN (Tiếp)
(TRUYỆN KIỀU) - Nguyễn Du
1 Mục tiêu
a Về kiến thức
Giúp học sinh thấy được:
- Hiểu được diễn biến tâm trạng đầy mâu thuẫn, phức tạp, bế tắc của Thúy Kiều trong đêm trao duyên Qua đó, thấy được sự đồng cảm mạnh mẽ, sâu sắc của Nguyễn Du đối với hoàn cảnh đau khổ và phẩm chất cao quý của nhân vật, đức
hi sinh, lòng vị tha
- Nắm được nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật: độc thoại nội tâm, phân tích tâm lí bậc thầy, kết hợp ngôn ngữ dân gian và bác học đặc sắc
b Về kĩ năng
- Rèn kĩ năng đọc thơ trữ tình, thể lục bát, diễn xuôi và phân tích tâm lí nhân vật trong thơ trữ tình
- Củng cố, nâng cao các kĩ năng cảm thụ thơ ca
*Tích hợp kĩ năng sống: kĩ năng tự nhận thức, tư duy sáng tạo.
- Tự nhận thức về cuộc đời và số phận của một người phụ nữ tài hoa bạc mệnh, nhưng sống có tình có nghĩa
- Tư duy sáng tạo về việc phân tích tâm lí nhân vật trữ tình trong thơ
c Về thái độ
- Trân trọng những giá trị tốt đẹp trong truyện Kiều, yêu thích văn chương, giữ gìn văn hóa Việt
- Hình thành quan niệm đúng đắn về tình yêu, lòng vị tha, đức hi sinh cao cả trong tình yêu
2 Chuẩn bị của GV và HS
a Chuẩn bị của GV
- SGK, SGV, giáo án
- Thiết kế bài giảng Ngữ văn 10
b Chuẩn bị của HS
- SGK, vở ghi, vở soạn
3 Tiến trình bài dạy
a Kiểm tra bài cũ
Kiểm tra vở soạn của học sinh
* Lời vào bài mới: Mộng Liên Đường chủ nhân đã khái quát về thân thế Thúy
Kiều: “Khi lai láng tình thơ, người tựa án khen tài châu ngọc; khi duyên ưa kim cải non biển thề bồi; khi đất nổi ba đào, cửa nhà tan tác; khi lầu xanh, khi rừng tía cõi đi về nghĩ cũng chùn chân; khi kinh kệ, khi can qua, mùi từng trải nghĩ càng tê lưỡi ” Thật vậy, Thúy Kiều đã phải trải qua hầu hết những đau khổ của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến, gia đình li tán, tình yêu tan vỡ, làm gái thanh lâu, làm nô tì, làm vợ lẽ, tu hành bất đắc chí và rồi không chồng con giữa
Trang 230 tuổi đời Bài học hôm nay, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu tiếp đoạn trích “Trao duyên” để thấu hiểu nỗi đau vì bi kịch tình yêu tan vỡ của nàng
b Nội dung bài mới
Hoạt động của GV Hoạt động của HS Nội dung ghi bảng
Dẫu biết rằng việc trao
duyên rất tế nhị, gây khó
xử, cả Kiều và Vân đều
không muốn, trong lời
tâm sự Thúy Vân của
Trương Nam Hương có
viết :
“ Chị yêu lệ chảy đã
đành/ Chứ em nước mắt
đâu dành chàng Kim/ Ơ
kìa sao chị ngồi im/ Máu
còn biết chảy về tim để
hồng/ Lấy người yêu chị
làm chồng/ Đời em thể
thắt một vòng oan
khiên” Thế nhưng Kiều
không thể làm khác, trao
kỉ vật cho em mà lòng
đau như cắt
? Kiều đã trao cho em
những kỉ vật gì?
?Nó như thế nào đối với
Kiều? (Với những
người ngoài cuộc nó có
ý nghĩa gì không?)
- Thúy Kiều trao kỉ vật cho Thúy Vân: chiếc vành, bức tờ mây, phím đàn, mảnh hương
nguyền
→ Những vật gắn bó, thiêng liêng, ghi nhận, gợi nhớ tình yêu Kim - Kiều
- Với người ngoài cuộc thì không có giá trị vật chất gì đáng kể
- Với Thúy Kiều: quý giá, gợi tình cảm sâu nặng, lời thề ước thiêng liêng của Kim - Kiều
→Vật chứng minh tình
I Tìm hiểu chung
II Đọc - Hiểu văn bản
1 Thúy Kiều thuyết phục trao duyên cho
em (12 câu đầu)
2 Kiều trao kỉ vật và dặn dò em (14 câu tiếp)
* Kỉ vật : + Chiếc vành
+ Bức tờ mây
+ Phím đàn
+ Mảnh hương nguyền → Những vật gắn bó, thiêng liêng, ghi nhận, gợi nhớ tình yêu Kim - Kiều
Trang 3Chiếc vành với bức tờ
mây kia chính là những
kỉ vật tình yêu của hai
người Ở phần đầu gặp
gỡ và đính ước, những
vật này đã xuất hiện Sau
lần gặp nhau ở lễ hội đạp
thanh tiết Thanh Minh,
Kim - Kiều gặp nhau,
trao nhau những kỉ vật
chứng minh cho tình yêu
đẹp của 2 người
Trao cho em nhưng Thúy
Kiều lại nói: “Duyên này
thì giữ vật này của
chung” “Mất người còn
chút của tin”
? Em hiểu thế nào là
“của chung” “của tin”?
? Em hiểu như thế nào
về câu thơ “Duyên này
thì giữ vật này của
chung”?
Duyên này thì giữ/vật
này của chung Câu thơ
ngắt nhịp 4/4 như bẻ đôi
ra 2 trạng thái của Kiều
Dẫu đã trao cho Thúy
Vân những kỉ vật ấy
nhưng nàng vẫn luyến
tiếc và mong rằng nó sẽ
là của chung Trao kỉ vật
cho em, lí trí Kiều bảo
phải trao nhưng tình cảm
thì muốn níu giữ Biết
bao giằng xé trong hai từ
“của chung” ấy Vật trao
đi nhưng tình còn lưu
luyến
? “Của tin” theo em
yêu Kim - Kiều
- Của chung → Kỉ vật là
sở hữu riêng của Kim, Kiều nay đã có sự sở hữu của Vân
- Kiều chỉ có thể trao kỉ vật nhưng tình yêu thì không thể trao
- Vật chứng giám, niềm
- Của chung → Kỉ vật của Kim, Kiều, Vân
- Của tin: Vật chứng
Trang 4hiểu là gì?
? Nó thể hiện điều gì?
Sau khi trao kỉ vật, Thúy
Kiều dặn dò em như thế
nào?
“Dù em nên vợ nên
chồng/ Xót người mệnh
bạc ắt lòng chẳng quên”
? Nghệ thuật nào đã
được sử dụng ở đây, nó
thể hiện điều gì?
? Tâm trạng của Kiều
lúc này như thế nào?
(Kiều tự nhận mình là
người như thế nào?)
Người mệnh bạc là người
chịu nhiều bất hạnh, cay
đắng, nghiệt ngã oan trái
mà định mệnh đã an bài
Biết bao tiếc nuối, đớn
đau, Kiều tự nhận mình
là “người mệnh bạc” -
người có số phận bất
hạnh ?
Kiều nhận ra điều gì ở
đây?
tin gửi lại cho Kim Trọng
→ Sự luyến tiếc, đau đớn, bi kịch, duyên trao
đi nhưng tình không trao được
* Kiều dặn em: Trong các kỉ vật được trao có
sự sở hữu của mình
- Nghệ thuật đối lập:
hạnh phúc Thúy Vân - Kim Trọng >< cô đơn, bất hạnh của Kiều
→ Kiều ý thức được bi kịch của mình, nỗi cay đắng trong tình yêu và cuộc sống Nàng mong
em và chàng Kim sau này dù có nên duyên vợ chồng với thì cũng đừng quên đi mình
* Nỗi niềm của Kiều
- Kiều tự coi mình là người mệnh bạc
→ Kiều đau đớn nhận ra
1 nghịch cảnh đó là: tình chị duyên em, nàng xem mình là một người bất hạnh, có số phận bạc bẽo
giám, niềm tin gửi lại cho Kim Trọng
→ Sự luyến tiếc, đau đớn, bi kịch, duyên trao
đi nhưng tình không trao được
* Kiều dặn dò em: Trong các kỉ vật được trao có
sự sở hữu của mình
- Nghệ thuật đối lập: hạnh phúc Thúy Vân - Kim Trọng >< cô đơn, bất hạnh của Kiều
→ Kiều ý thức được bi kịch của mình, nỗi cay đắng trong tình yêu và cuộc sống Nàng mong
em và chàng Kim sau này dù có nên duyên vợ chồng với thì cũng đừng quên đi mình
- Kiều tự coi mình là người mệnh bạc
→ Kiều đau đớn nhận ra
1 nghịch cảnh đó là: tình chị duyên em, nàng xem mình là một người bất hạnh, có số phận bạc bẽo
Trang 5Nàng chỉ có thể phó thác
cho Vân việc nối mối
duyên dang dở với Kim
Trọng để trả nghĩa cho
chàng chứ không thể trao
tình yêu Nên sau khi
trao kỉ vật, trao duyên rồi
nhưng nàng không tìm
được sự thanh thản, nàng
coi như mình đã chết
? Thời gian được nhắc
đến ở đây là gì?
So với hiện tại thì nó ra
sao?
Kiều như sống lại với
những kỉ niệm Trong
đêm thề nguyền, để tạo
không khí thiêng liêng,
trang trọng, Kim - Kiều
đã bên nhau đốt hương
và thề nguyền: “Trăm
năm tạc một chữ đồng
đến xương” Sau đó Kiều
đã gảy đàn cho Kim
Trọng nghe, phím đàn
Kiều gảy cho chàng Kim
ngày ấy, giờ nàng đem
trao hết cho em
?Sau khi trao kỉ vật cho
em, Kiều còn dặn dò
em điều gì? (Nó được
thể hiện qua những từ
ngữ, hình ảnh nào?).
? Những từ ngữ này thể
hiện tâm trạng gì của
- Ngày xưa → thời gian quá khứ xa xôi, chia cuộc đời Kiều làm hai mảng đối lập
Quá khứ (Hạnh phúc tươi đẹp rực rỡ) ><
Hiện tại (Chia li, tan vỡ, đột ngột thảm khốc)
→ Quá khứ đã trở thành
ảo ảnh vô cùng xa xôi
- Hàng loạt những từ ngữ, hình ảnh, điển tích nói về cái chết: hồn, nát thân bồ liễu, dạ đài, thác oan
- Ngày xưa → thời gian quá khứ xa xôi, chia cuộc đời Kiều làm hai mảng đối lập
Quá khứ (Hạnh phúc tươi đẹp rực rỡ) >< Hiện tại (Chia li, tan vỡ, đột ngột thảm khốc)
→ Quá khứ đã trở thành
ảo ảnh vô cùng xa xôi
- Hàng loạt những từ ngữ, hình ảnh, điển tích nói về cái chết: hồn, nát thân bồ liễu, dạ đài, thác oan
Trang 6Kiều đã vẽ ra viễn cảnh
tương lai đối lập giữa
một bên là cảnh sum vầy
của Kim Trọng- Thúy
Vân, một bên là linh hồn
cô độc, bất hạnh của
nàng
? Nàng có ước nguyện
gì khi nói lên những
điều này với Thúy
Vân?
Vậy là dù có chết nàng
cũng không quên mối
tình với chàng Kim, một
tình cảm bền chặt, thủy
chung, mãnh liệt Nàng ý
thức ngày càng rõ hơn bi
kịch của mình nên đã
chuyển từ đối thoại sang
độc thoại nội tâm Trong
khi dự cảm về viễn cảnh
tương lai mình phải chết
oan, chết hận, hồn tả tơi
bay vật vờ trong gió,
không siêu thoát được,
nhưng vẫn mang nặng lời
thề
GV liên hệ đến câu
chuyện về anh Trương
Chi Trương Chi còn tìm
được sự đồng cảm của
→Nàng dần mất đi tỉnh táo và rơi vào trạng thái
mê sảng, đang sống mà toàn nhắc đến cái chết thể hiện nỗi đau đớn tuyệt vọng và dự cảm tương lai bất hạnh của Kiều
* Ước nguyện của Thúy Kiều: Trở về bằng linh hồn bất tử để nhận được
sự thấu hiểu, cảm thông, chia sẻ của người thân, của chàng Kim
→ Khẳng định tấm lòng thủy chung son sắt, nặng tình của Kiều
→Nàng dần mất đi tỉnh táo và rơi vào trạng thái
mê sảng, đang sống mà toàn nhắc đến cái chết thể hiện nỗi đau đớn tuyệt vọng và dự cảm tương lai bất hạnh của Kiều
* Ước nguyện của Thúy Kiều: Trở về bằng linh hồn bất tử để nhận được
sự thấu hiểu, cảm thông, chia sẻ của người thân, của chàng Kim
→ Khẳng định tấm lòng thủy chung son sắt, nặng tình của Kiều
Trang 7Mị Nương sau khi chàng
chết nhưng Kiều thì bi
kịch tình yêu không được
giải quyết vì đó mới chỉ
là ảo giác của mai sau
Sự bất công của xã hội
và sự mất đi tình yêu của
Kiều sẽ khiến cho nàng
cảm thấy oan khuất mà
cứ vấn vương trên cõi
trần không thể siêu thoát
Cảm nhận nàng đang về,
sự vương vấn cõi trần
theo cỏ cây lá gió Lời
thề với chàng Kim thì
dẫu cho Kiều có nát thân
liễu yếu thì cũng không
thể nào đền đáp được
Khi ấy chỉ mong Kim và
Vân hãy rót một chén
cho người thác oan là
Thúy Kiều Cuộc sống
của con người ai mà
chẳng sợ chết người ta
nghĩ đến cái chết chỉ khi
trong họ thật sự cảm thấy
rất đau khổ không thể
nào có thể chịu đựng
được nữa thì họ mới dám
nghĩ đến Kiều ý thức
được nỗi đau trong mình,
nàng như biết trước con
dường mà nàng sắp đi
khổ cực và gian truân
đến mức nào Cũng có
thể chết bất cứ lúc nào
Ở 12 câu thơ đầu khi
thuyết phục và trao
duyên cho em, Kiều là
một con người hoàn toàn
thiên về lí trí, thông
minh, khôn khéo nhưng
- Kiều đau đớn, xót xa, không làm chủ được lí trí
và lời nói, đang nói với Thúy Vân mà như độc thoại một mình
- Kiều đau đớn, xót xa, không làm chủ được lí trí
và lời nói, đang nói với Thúy Vân mà như độc thoại một mình
Trang 8đến bây giờ, Kiều lại là
một con người hoàn toàn
thiên về tình cảm
? Qua đây em có nhận
xét gì về Kiều? (Kiều là
một con người như thế
nào?).
Sau khi trao kỉ vật và dặn
dò em, Thúy Kiều có tâm
trạng như thế nào?
? Cụm từ dùng để chỉ
thời gian ở đây là gì?
Thời gian đó là khi
nào? (Hiện tại hay quá
khứ?) Nó thể hiện điều
gì?
?Thực tại cay đắng
được biểu hiện qua các
từ ngữ như thế nào?
? Nó thể hiện điều gì?
→Kiều là một con người chu đáo, có lòng độ lượng và đức hi sinh, luôn lo lắng và hiểu cho người khác trước khi nghĩ đến mình Đây là một vẻ đẹp nhân cách rất đáng trân trọng ở con người Kiều
- Cụm từ chỉ thời gian:
Bây giờ
→Kiều đã chuyển từ tâm trạng mơ hồ sang việc ý thức về hiện tại bây giờ
và nhận ra một thực tại cay đắng
- Thành ngữ:
+Trâm gãy, gương tan
+ Phận bạc như vôi
+ Nước chảy hoa trôi
→ Những thành ngữ chỉ việc Kiều ý thức thực tại không thể thay đổi của mình đó là sự tan vỡ, dở dang, bạc bẽo, trôi nổi của tình yêu và số phận bất hạnh của Kiều
- Lời than trách , đau đớn đến tột cùng
→Kiều là một con người
có tình yêu mãnh liệt, chu đáo, có lòng độ lượng và đức hi sinh, luôn lo lắng và hiểu cho người khác trước khi nghĩ đến mình
3 Tâm trạng đau đớn, tuyệt vọng của Thúy Kiều, lời đối thoại với người tình vắng mặt Kim Trọng (8 câu thơ cuối)
- Cụm từ chỉ thời gian: Bây giờ
→Kiều đã chuyển từ tâm trạng mơ hồ sang việc ý thức về hiện tại bây giờ
và nhận ra một thực tại cay đắng
- Vận dụng sáng tạo các thành ngữ:
+Trâm gãy, gương tan + Phận bạc như vôi + Nước chảy hoa trôi
→ Những thành ngữ chỉ việc Kiều ý thức thực tại không thể thay đổi của mình đó là sự tan vỡ, dở dang, bạc bẽo, trôi nổi của tình yêu và số phận bất hạnh của Kiều
- Lời than trách , đau đớn đến tột cùng
Trang 9Chỉ vài từ ngữ đã miêu tả
thực tại cay đắng của
Kiều, không còn cuộc
sống êm đềm trướng rủ
màn che, tường đông ong
bướm đi về mặc ai, giờ
nàng chỉ còn lại cay đắng
bi thương
Không chỉ sử dụng các
thành ngữ mà còn có
các từ hô gọi đặc biệt để
nhắc đến Kim Trọng,
đó là những từ nào?
Gọi Kim Trọng là tình
quân, Kim Lang, chàng,
Thúy Kiều đã coi Kim
Trọng như là người
chồng, người tình trăm
năm của mình
? Nó thể hiện điều gì?
Bút pháp độc thoại nội
tâm đã được Nguyễn Du
sử dụng rất tài tình trong
đoạn thơ này
? Kiều còn có hành
động gì?
? Lạy để làm gì?
? Đây có phải lần đầu
tiên Kiều có hành động
lạy không?
? Kiều đã từng lạy ai?
- Cách gọi Kim Trọng:
+ Tình quân
+ Kim Lang
+ Chàng
→ Kiều chuyển từ đối thoại với Thúy Vân sang độc thoại nội tâm, đối thoại với người tình vắng mặt là Kim Trọng
Kiều trao duyên nhưng tình chưa dứt
- Lạy (lạy tình quân, lạy chàng Kim)
→Lạy để tạ lỗi với chàng Kim, người nàng đã phụ tình
- Không
- Kiều đã từng lạy Thúy Vân
- Lạy Thúy Vân: Lạy ân
- Cách gọi Kim Trọng: + Tình quân
+ Kim Lang
+ Chàng
→ Kiều chuyển từ đối thoại với Thúy Vân sang độc thoại nội tâm, đối thoại với người tình vắng mặt là Kim Trọng
Kiều trao duyên nhưng tình chưa dứt
- Lạy (lạy tình quân, lạy chàng Kim)
→Tạ lỗi với chàng Kim, người nàng đã phụ tình
Trang 10? Việc lạy ở đoạn thơ
này có gì khác?
Kim Trọng không phải là
ân nhân, không phải bề
trên nhưng Kiều vẫn có
hành động lạy để hướng
đến chàng vì Thúy Kiều
tự nhận mình là kẻ đã
phụ tình, kẻ bạc tình bội
nghĩa
? Kiều có phải là người
bạc tình bạc nghĩa
không? Tại sao?
? Qua đây em có nhận
xét gì về hành động lạy
của Kiều.
Nàng không có lỗi trong
chuyện này, bởi vì sóng
gió ập đến, bởi làm con
trước phải đền ơn sinh
thành nên Kiều đành trở
thành kẻ bội tín bội
nghĩa, nhưng trong thâm
tâm Kiều không muốn
như vậy, nàng vẫn tự
nhận lỗi về mình, vẫn lạy
tạ lỗi chàng Kim, cho
nên Kiều không đáng
trách mà còn rất đáng
thương
? Đoạn thơ còn sử dụng
câu gì?
nhân, người đã giúp Kiều trả tình nghĩa cho chàng Kim
- Lạy Kim Trọng: Lạy người mình đã phụ tình
- Không Do hoàn cảnh
xô đẩy, ép buộc Kiều phải làm như vậy
→Lạy tạ lỗi cho thấy vẻ đẹp nhân cách của Kiều
- Câu cảm thán:
+ Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
+ Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!
+ Phận sao phận bạc như vôi!
+ Ôi Kim Lang! Hỡi Kim Lang!
- Sử dụng hàng loạt các câu cảm thán
Trang 11Đoạn thơ chỉ có 8 câu
nhưng đã có đến 6 dấu
cảm thán ở 5 câu
?Có từ cảm thán
không? Đó là những từ
nào?
?Những từ cảm thán
này có tác dụng gì?
8 câu cuối, Kiều chuyển
hẳn sang độc thoại nội
tâm mang tính chất đối
thoại với người vắng mặt
(Kim Trọng) Hàng loạt
các câu cảm thán gợi tình
yêu mãnh liệt, nhưng sự
chia biệt là vĩnh biệt Bi
kịch càng lên cao, Kiều
càng đau đớn, tuyệt vọng
đến mê sảng, quên cả ý
tứ để chuyển sang người
vắng mặt là chàng Kim
Thúy Kiều từ chỗ nhận
mình là người mệnh bạc,
giờ lại tự nhận mình là
người phụ bạc chàng
Kim, Vì vậy, đang độc
thoại nàng quay sang đối
thoại tưởng tượng với
Kim Trọng, gọi tên
chàng trong đớn đau mê
sảng Cái lạy ở đây khác
với cái lạy ở phần đầu
Kiều nhận tất cả lỗi về
mình nhưng nàng nào có
lỗi gì đâu Những dòng
+ Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!
- Có Từ cảm thán: ôi, hỡi, thôi thôi
→ Nhấn mạnh tâm trạng, cảm xúc của Thúy Kiều
Gợi tình yêu mãnh liệt,
bi kịch lên cao đến đỉnh điểm Tình cảm vỡ òa như giọt nước tràn li không gì có thể ngăn lại được
- Từ cảm thán: ôi, hỡi, thôi thôi
→ Nhấn mạnh tâm trạng, cảm xúc của Thúy Kiều Gợi tình yêu mãnh liệt,
bi kịch lên cao đến đỉnh điểm