Bức tranh về chọn nghề theo giới nói trên cũng tương tự với những sô" liệu về lựa chọn ngành học ỏ Việt Nam, do sự phân công lao động theo giđi truyền thông và do khuôn mẫu giới còn khá
Trang 1( fiáfì tnnh Xã hôi hoc về guri
1 G iáo dục và vai trò củ a giáo dục đốl VỚI phát triển
1.1 Khái niệm: Giáo dục được định nghĩa là “những cách khác nhau
trong đó kiến thức - kể cả thông tin và kỹ năng thực tế, cũng như quy phạm và giá trị văn hoá được truyền đạt đến từng thành viên trong xã hội” (Macionis, 2004:488) Có một khái niệm rộng hơn về giáo dục, đó
là “Sự trưởng thành của đông đâo người (vổ cơ bản là thế hệ trẻ) nhằm vào những nhiệm vụ của những xã hội cụ thể trong những thời kỳ lịch
sử nhất định” Trong định nghĩa này có hai vế cơ bản trong quan hệ
giáo dục đã được tính đến: 1) xã hội làm nhiệm vụ giáo dục, đó là chủ thể giáo đục, và 2) thế hệ được giáo dục, đó là đối tượng của xã hội giáo dục (S Kowalski, 2003:40)
Theo đó, giáo dục học đường (còn gọi là giáo dục chính thức) là
“sự dạy bảo chính thức dưđi sự hướng dẫn của thầy cô được đào tạo chuyên môn” Giáo dục chính thức là giáo dục được thực hiện trong nhà trường ở các cấp học khác nhau Khái niệm “trường học”(school) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là “sự thư giãn” (leisure) hoặc sự tái sáng tạo (recreation) (A Giddens, 1997:401) Nghiên cứu cho thây, giáo dục chính thức có các chức năng như sau:
Trang 2Hoàng Bá Thịnh
Sự chuyển giao văn hoá: Chuyển giao những chuẩn mực và giá trị
của xã hội, trong xã hội có giai cấp thì những giá trị này sẽ là nhíỉng giá trị của tầng lđp thông trị Những bất đồng văn hoá có thể xuất hiện khi gia đình, nhà trường và nhóm bạn cùng trang lứa có những chuẩn mực và giá trị khác nhau.
Dào tạo đ ể làm việc: Chuẩn bị cho những người trẻ tuổi cho việc
làm trong một xã hội phức tạp và phát triển, kể cả những nhóm châ'p nhận những nghề nghiệp không hài lòng vđi địa vị xã hội thâ'p.
Sự lựa chọn xã hội: Phân loại những người có khả năng thực hiện
những chức năng cụ thể trong xã hội để đảm bảo việc sử đụng tốt nhất năng lực mà họ có thể có được.
Kiểm soát xã hội: Dạy những hành vi ứng xử có thể chấp nhận
được (những điều nên làm và được phép làm, những điều khổng nên làm và không được phép làm) để đảm bảo cho xã hội vận hành êm ả
và thoả mãn đối vđi tất cả mọi người.
1.2 Vai trò của gừío dục đối với sự phát triển xã hội
Nghiên cứu của Liên hợp quốc cho thấy, giáo dục người dân và cải thiện kỹ năng của họ lên trình độ cao hơn là tối cần thiết cho việc nâng cao năng suất và thu hút FDI Chất lượng lao động, trình độ kỹ năng của lao động là một yếu tô' quan trọng trong việc nắm bắt các cơ hội quốc tế Đôi vđi người lao động, kỹ năng bảo đảm cho họ mức lương tốt hơn Giáo dục và đào tạo là thiết yếu để xây đắp nguồn lực con người (UNDP, 1999: 98).
Không những vậy, giáo dục còn nâng cao năng lực con người Giáo dục được coi là nguyên nhân quan trọng nhất trong việc giải thích sự bất binh đẳng về thu nhập, và sự khác nhau về tiền lương giữa các trình
độ tay nghề đã trỏ nên đáng kể (UNDP.1999: 106).
Giáo dục được coi là một trong những nhân tô" quan trọng nhất quyết định sự tăng trưởng kinh tế của quốc gia; đặc biệt khi xã hội phát triển bưđc vào nền kinh tê' dựa trên tri thức, nhẩt là từ những năm 1990 Tri thức trở thành quyền lực xám hay quyền lực trí tuệ, quyền lực mạnh không kém gì các quyền lực khác Giáo dục góp phần làm giảm đi những chi phí (rất khổng lổ) do sự kém hiểu biết, hiểu biết không đầy
đủ, không hiểu biết gây nên.
Trang 3Giáo trình Xã hội hoc về guiri
Không chỉ quyết định đến sư tăng trương của nền kinh tế, sự tiến
hộ xã hội của xã hội đương thời, mà nó còn góp phần quyết định chất lượng nguồn nhân lực tương lai, thố hệ con em sau này Giáo dục là cội nguồn của sự biến đổi VC kỹ thuật công nghệ mà trong xã hội hiện đại
kỹ thuật và công nghệ là một trong những yếu tô" quyết định tăng năng suất, hiệu quả cao, giá thành giảm Đặc biệt khi xã hội bước vào giai đoạn công nghệ thông tin.
2 Vai trò c ủ a phụ nữ trong giáo dục
Các nghiên cứu cho thấy rằng, giáo dục là một trong những phương tiện chủ yếu để phát triển kinh tế và xã hội Vì vậy, việc đầu tư cho giáo dục sẽ tích luỹ vôn con người (Human Capital), là chìa khoá để duy trì sự tăng trưỏng kinh tế và nâng cao thu nhập Mặt khác, giáo dục
- đặc biệt là giáo dục cơ bản (giáo dục phổ thông cơ sở) còn góp phần làm giảm đói nghèo như tăng năng suá't lao động của những người lao động nghèo, giảm sinh đẻ và tăng cường sức khoẻ, tạo cơ hội cho mọi người tham gia đầy đủ vào các hoạt động xã hội và phát triển kinh tế
Và trong thời đại thông tin ngày nay “giáo dục là chiếc vé vào cửa của
mạng lưới xã hội cao cấp” Vì vậy, đầu tư cho giáo dục là hình thức đầu
tư có lợi hơn cả Đó là kết luận của các nhà nghiên cứu Đổng thời, các phân tích khoa học về giđi đểu cho thây đầu tư cho giáo dục vào đốì tượng là nữ giđi mang lại nhiều lợi ích vừa rộng lđn, vừa lâu dài.
2 / Lợi ích của việc đầu tư giảo dục cho phụ nữ
Giáo dục, bên cạnh những tác động tích cực nêu trên, đôi vđi phụ
nữ còn có những ảnh hưởng tốt hơn đến sức khoẻ sinh sản Một người phụ nữ càng được giáo dục thì mức sinh càng thâp Giáo dục ảnh hưởng đôn mức sinh do phụ nữ có giáo dục lập gia đình ở độ tuổi muộn hơn
và thường sử dụng biện pháp tránh thai nhiều hơn so vđi phụ nữ ít được hoặc không được giáo dục Cha mẹ, đặc biệt là người mẹ càng có học thì tỷ lệ tử vong mẹ càng thâp và đứa trẻ càng mạnh khoẻ Trình độ học vân của cha mẹ liên quan mật thiết với tình trạng sức khoẻ của trẻ em, được xác định bởi tỷ lệ tử vong giảm và cơ hội sông sót tăng lên Mức giáo dục của người mẹ tăng lên làm giảm nguy cơ trẻ em tử vong trước hai tuổi ở cả đô thị lẫn nông thôn.
Trang 4Hoàng Bá Thinh
Trình độ học vân của cha mẹ ảnh hưởng đến tỷ lệ tử vong của trẻ
em nhờ sử dụng các dịch vụ y tế (như chăm sóc sức khoẻ và khám bệnh) và những thay đổi trong việc vệ sinh phòng bệnh của gia đình (chẳng hạn như rửa tay trưđc bữa ăn; uống nưđc đun sổi) Những thay đổi này có thể là kết quả của những thay đổi về nhận thức và quan niệm và do khả năng của những người có học có thể cung cấp các dịch
vụ y tế và dinh dưỡng tốt hơn cho con cái họ.
Những nghiên cứu của các chuyên gia Ngân hàng Thế giđi cho thây rằng: thậm chí nếu chưa tính đến những hiệu quả này, thì tỉ suất lợi nhuận của đầu tư giáo dục cho phụ nữ cũng cao hơn so vđi đầu tư giáo dục cho nam giđi Sự am hiểu nhiều hơn các môi quan hệ giữa giáo dục, dinh dưỡng, sức khoẻ và sinh sản đảm bảo sự quan tâm lớn hơn cho giáo dục Các bậc cha mẹ, đặc biệt là các bà mẹ được giáo dục nhiều hơn sẽ chăm sóc, nuôi dưỡng con mình tốt hơn, sẽ có những đứa trẻ khoẻ mạnh hơn, sẽ ít sinh nở hơn và quan tâm nhiều hơn để con họ được giáo dục Giáo dục - và giáo dục phụ nữ nói riêng - là chìa khóa
để phát triển nguồn nhân lực cho đất nước Chính vì vậy mà chính phủ Singapore đã thông qua luật sinh con vđi mục đích chính của điều luật
là nhằm nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, giáo dục cho thế hệ trẻ sau này, bởi những đứa trẻ sẽ chịu ảnh hưởng rất lớn từ người mẹ Điều luật này quy định: đô'i với bất cứ phụ nữ nào tốt nghiệp cao đẳng, nếu sinh một con sẽ được tăng 5% lương, sinh hai con sẽ được tăng 10% lương Song điều luật cũng quy định: đối vđi phụ nữ chưa được đào tạo qua
trường cao đẳng, nếu sinh con thứ hai sẽ bị phạt tiền (An ninh thế giới,
số 102 ngày 27/11/1998) Khi bổ sung thêm các yếu tô"sức khoẻ và sinh
sản, việc giáo dục cho phụ nữ lại càng tỏ ra có hiệu quả hơn Một công trình nghiên cứu về 45 nưđc đang phát triển đã phát hiện rằng tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh trung bình đốì vđi trẻ em dưđi 5 tuổi là 144/1000 ca sinh khi những người mẹ của chúng không có học vân; 106/1000 khi họ chỉ qua bậc tiểu học và 68/1000 khi họ qua bậc trung học Một nghiên cứu khác cho thấy: “Tăng 1% đầu tư giáo dục cho phụ nữ giúp tăng trưỏng kinh tế 0,3%, do đầu tư chăm sóc gia đình và con cái tăng”.
Trang 5Nhiều công trình nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (1993,2001) cho chúng ta kết luận:
Thứ nhất: Đầu tư cho phát triển phụ nữ sẽ có hiệu quả hi<n bởi VJ
phụ nữ có sức khoe, có kiến thức sẽ đóng góp được nhiều cho phát triển bền vững.
Trước hết làm cho lực lượng sản xuất hôm nay làm việc có hiệu quả hơn, nhờ vai trò chăm sóc của phụ nữ đổì vđi các thành viên của hộ gia đình trong độ tuổi lao động.
Sau đó làm cho lực lượng sản xuất trong tương lai làm việc có hiệu quả hđn Nhờ có giáo dục, những người mẹ có học vấn cao hơn có khả năng dạy dỗ, chỉ bảo con cái mình tốt hơn vai trò xã hội hoá trẻ cm trong gia đình và sử dụng nhiều tài liệu học tập hđn, đồng thời trình độ học vấn của người mẹ cũng là tấm gương cho con cái noi theo Hơn nữa, nghiên cứu cũng cho thây mối quan hệ thuận giữa trình độ học vấn của người mẹ và năng lực trí tuệ của con:
“trình độ học vấn của người mẹ càng cao thì thành tích trí tuệ của con cái càng lđn”.
Thứ hai: Đầu tư giáo dục cho phụ nữ là loại đẩu tư đem lại nhiều
lợi ích cho gia đình và xã hội.
Phụ nữ được giáo dục, đầo tạo sẽ đảm nhận được những công việc phức tạp hơn, tăng năng suất lao động, tăng thu nhập.
Phụ nữ có trình độ sẽ có xu hưđng giảm tỷ ]ệ sinh con và trẻ em sinh ra được giáo dục tốil hđn, khoẻ mạnh hưn.
Phụ nữ có trình độ kiến thức tốt sẽ quản lý gia đình có hiệu quả,
cổ khả năng lôi cuốn người chồng cùng chia sẻ trách nhiệm.
Kiến thức còn giúp phụ nữ nâng cao vị trí của họ trong gia đình,
có điều kiện tham gia các quyết định quan trọng trong gia đình
Trang 6Hoàng Bá Thịnh
lợi ích nhất cho một quốc gia” Chúng tôi quan niệm, đầu tư cho phụ nữ
và nam giđi đều mang lại lợi ích cho sự phát triển của cá nhân, nhờ cổ kiến thức họ sẽ có những đóng góp cho sự phát triển cộng đồng, xã hội.
2.2 Vai trồ của phụ n ữ trong gừio dục
Phụ nữ không chỉ là người thầy đầu tiên trong gia đình của trẻ em
mà họ còn chiếm sô" đông trong đội ngũ giáo viên các cấp phổ thổng, một lực lượng quan trọng quyết định phát triển dân trí, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở nông thôn phục vụ công nghiệp hoá n ô n g
nghiệp, nông thôn Trong lực lượng giáo viên, nữ giáo viên nông thôn
lại chiếm đa sô' Theo số liệu thông kê của ngành giáo dục và đào tạo,
năm học 2004, tỷ l ệ nữ giáo viên ở các bậc học như sau: nhà trẻ (93,92%), mẫu giáo (99,56%), tiểu học (78,86%), THCN (44,79%), CĐ (46,30%), ĐH (38,2%)44 Trong ngành giáo dục, lực lượng nữ với trên
600 ngàn (chiếm khoảng 72% lao động trong ngành) Cho đến thời điểm năm 2005, tỷ l ệ nữ cán b ộ là giáo sư là 3,12%, phó giát) SƯ là 13,24%, tiến sĩ và tiến sĩ khoa học đạt 24,8%, thạc sĩ đạt 39,1% v ề quản lý, ở bậc học mầm non 100% cán bộ lãnh đạo là nữ, bậc tiểu học
từ 80-85%, THCS 50-65%, THPT 15-20% Nữ giám đốc sở GD-ĐT có
11, phó giám đốíc sở là 46; hiệu trưởng đại học, cao đẳng 1; phó hiệu trưởng 15, giám đốc trung tâm trực thuộc Bộ 1, phó viện trưởng trực thuộc Bộ 1, thứ trưởng 1, vụ trưởng 2 và vụ phó 6 Theo báo cáo của
các đơn vị sô' cán bộ nữ được b ổ nhiệm làm lãnh đạo chiêm từ 30- 60%
ỏ các sở GD - ĐT và các đơn vị thuộc sỏ, 20-45% đ các trường đại học,
cao đẳng và đơn vị trực thuộc (Giáo d ụ c và Thời đại, s ố 27 ngày 4/3/2006).
Qua một vài sô' liệu trình bày trên đây, chúng ta c ó thể nhận thấy vai trò quan trọng của phụ nữ trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo Vđi phẩm chất thích hợp, nữ giáo viên có vai trò lđn hơn so vđi các đồng nghiệp nam giới trong giáo dục cơ bản (tiểu học và trung học) Nếu thiếu vắng lực lượng nữ trong đội ngũ giáo viên các cấp học, thì việc
44 Đặng Huỳnh Mai: Thực trạng cõng tác cấn bộ nữ của ngành giáo duc; Báo GD & TĐ, số
126 ngày 20/10/2005.
Trang 7đào tao nguồn nhân lực cho đát nước qua các thời kỳ nói chung, đặc biộl thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói riêng chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn, nêu không nói rằng chúng ta sẽ khó đat được những nuu tiêu đã đề ra Vai Irò của phụ nừ trong giáo dục còn thể hiện ở
việc định hướng và chăm lo học hành cho con cái Phụ nữ là người quan tâm đcn việc học tập của con cái nhiều hđn nam giđi Sô" liệu khảo sát cho thây người vợ thường quan tâm đến việc học tập của con hơn người chồng Tuy nhicn, “việc dạy hảo, đưa con vào nề nếp kỷ luật được các gia đình rất quan tâm và đã có sự chia sẻ trách nhiệm khá bình đẳng giữa người cha và mẹ vđi con c á i”.
3 Một vài biểu hiện bất bỉnh đẳng giới trong giáo dục
3.1 phụ nữ ít cơ hội tiếp cận giáo dục so với nam giới
Mặc dù nhiều nưđc trên thế giới đã có những tiến bộ đáng kể về
bình đẳng giđi ở bậc tiểu học và trung học, song vẫn còn những khoảng
cách lớn về giđi, đặc biệt ỏ các quốc gia Arập, Tiểu vùng sa mạc Sahara châu Phi, Nam và Tây Á Các em gái chiếm 57% số’ trẻ em ngoài nhà trường thuộc lứa tuổi tiểu học, tính trên toàn thế giới năm 2(X)1 và hơn 60% ở các quốc gia Arập, Nam và Tây Á Sự tham gia của
các em gái vẫn còn thâp hđn nhiều so vđi các em trai ở bậc tiểu học (chỉ số bình đẳng giđi dưđi 0,97) ở 71 nưđc trong số' 175 nước Bất bình
đẳng giới càng tăng cao ở bậc trung học và đại học Trong số 83 nước đang phát triển có các sô" liệu thống kê, chỉ một nửa đạt bình đẳng giđi
ở bậc tiểu học, dưđi 1/5 ở bậc trung học và chỉ có 4 nước đạt ở bậc đại
học Gần 2/3 sô" người lớn mù chữ trên thế giới (64%) là phụ nữ
(Nguồn: Mục tiêu 5 trong 6 Mục tiêu giáo dục cho mọi người - Báo cáo tóm tất Giám sát Toàn cầu về giáo dục cho mọi người', 2005:1).
Phụ nữ chiếm hai phần ba trong tổng sô" 860 triệu người lđn mù chữ trên thếgiđi, nhưng ở các nền kinh tế đang phát triển, tỷ lệ phụ nữ mù chữ giảm từ 38% năm 1990 xuông còn 30% năm 2001 Sự khác biệt giđi trong tỷ lệ mù chữ càng rõ nét hơn theo khu vực:
_ Giáo trình Xã hôi học về giới
221
Trang 8Hoàng Bá Thinh
Bảng 10: Tỷ lệ giới từ 15 tuổi trở lên mù chữ theo khu vực,
năm 2001 (%)
Hiu vực ĐAng A-ĩtiíl linh
Tram Đđng VỈlicPtll
NIBẨ Chiu Phl
bệ Sahara
(Nguổn: WB, 2005: 18-19)
Nhìn về sô" năm học trung bình, có sự khác biệt giữa nam và nữ:
Bảng 11: Tương quan giới với s ố năm đi học theo khu vực, năm 2000
Hiu vực ĐOog Ầ-TMIInh IƯđng
CM r MỈ La tinh vi làng Carlbé
Tnw Đỉng vilicPhl
tỷ lệ biết chữ theo giới, theo đó nam giđi ở hầu hết các nhóm tuổi đều
có tỷ lệ biết chữ cao hơn nữ (xem bảng):
Bảng 12: Tỷ lệ phần trăm dân s ố 10 tuổi trở lên biết chữ chùi theo
nhóm tuổi, giới tính và nơi cư trú
Trang 9(fia o trình Xã hôi hoc về giới
So sánh phần trăm dân sô từ 5 tuẩi trỏ lổn về tình hình đi học thì tỷ lộ chưa bao giờ đi học của nữ nhiều hđn nam (8% và 5% ) Còn ở các cáp học, ngoại trừ trình độ cao đẳng, phụ nữ có tỷ lệ cao hơn một chút so với nam giới (1, 5% và 1 1 %), điều này có thể do nữ giới thích lựa chọn hệ đào tạo ngắn hạn hơn; các câp học còn lại phụ nữ có tỷ lệ thâp hơn nam giđi, nhất là học đại học trở lên (xem bảng):
Bảng 13: Phần trăm dân số 5 tuổi trở lên theo cấp giáo dục • đào tạo
3.2 Khác biệt giới về lựa chọn ngành học
Thông thường, sinh viên đại học hay gặp câu hỏi: "Bạn học ngành gì?" Nếu so sánh câu trả lời của nam và nữ sinh viẽn, chúng ta sẽ phát hiện ra một sự khác biệt về giđi vể lựa chọn ngành/nghề: nam và nữ
tập 'trung ở những lĩnh vực học thuật khác nhau Nam giđi có xu hưđng
chọm các ngành cơ khí, kiến trúc sư, khoa học tự nhiên, tin học và kinh doainh Cồn nữ giđi thì lại tập trung chu yếu ở ngành khoa học xã hội
và mhân văn; giáo dục; điều dưỡng, quản lý gia đình, thông tin thư
223
Trang 10Hoàng Ba Thjnh
viên Trong nhôm ngành khoa hoc xâ hôi và nhân vàn, c6 môt sô ' it
ngành cô tÿ lê nam nhiêu hcfn nff là chinh tri hoc, tôi pham hoc, triët
hoc và tôn giâo.
Bâng 14: Ty lê bàng cù nhân theo ngành hçc cùa Hoa Ky
Trang 11( Ìiáo trình Xã hôi hoc về giới
lỉảng trcn cho thấy có sự tương phản gần như trái ngược về tỷ lệ nam và nữ sinh vicn trong các ngành có tính đặc thù về giới, như "dành chc nam" là khoa học quân sự, và "dành cho nữ" là kinh tế gia đình và điều ilưỡng Như vậy khuôn mẫu giới gán cho nữ những công việc liên quan iđi gia đình và chức năng chăm sóc người khác; trong khi đó nam gắn vđi những phẩm chất mạnh mẽ, thực hiện chức năng "che chở, hảo vệ' người khác Bức tranh về chọn nghề theo giới nói trên cũng tương
tự với những sô" liệu về lựa chọn ngành học ỏ Việt Nam, do sự phân công lao động theo giđi truyền thông và do khuôn mẫu giới còn khá đậrn nét trong quan niệm của xã hội nên trong cá c ngành học được lựa chọn, sinh viên nữ tập trung chủ yếu ở các ngành học về khoa học xã hội, như sư phạm, văn học, ngổn ngữ, chiếm tỷ lệ khoảng 70% trên tong số sinh viên theo học các ngành này Hiện tượng tương tự như vậy cũng có thể thấy ở các ngành nghề mà phụ nữ và nam giới theo học trong các khoá đào tạo nghề ngắn hạn tại các trung tâm dạy nghề Điều này có thể làm hạn chế sự tiếp cận của phụ nữ đôì với một phạm vi rộng các ngành giáo dục và đào tạo mà có thể dẫn tđi các cơ hội việc làm và ihu nhập lớn hơn trên thị trường lao động Trong vòng 5 năm qua, dã có những tiến bộ đáng kể trong việc cải thiện cơ hội tiếp cận của phụ nữ đôi vđi đào tạo dạy nghề và các bậc học cao hơn Sự tham gia của nữ trong các trường trung học kỹ thuật gần như ngang bằng nam giới, ihậm chí còn tăng lên trong giai đoạn 1995-1999 Mặc dù số’ phụ
nữ có trình độ học vấn cao (cao đẳng và đại học) còn thấp, khoảng 2%
trên tổng Hố dân, nhưng tỷ lệ nữ trong sổ sinh viên có trình độ học vấn cao đã tăng từ 40% lên 42% trong cùng giai đoạn (Liên hợp quốc tại Việt Nam, 2002).
Bảng 15: s ố lượng học sinh, sinh viên vồ nữ sinh các cấp học
Trang 12noang õa ẵ nịnh
Nghiên cứu ở nhiều quốc gia cho thấy, càng học lên bậc cao, sổ' lượng nữ nhận bằng tốt nghiệp càng giảm Mặc dù phụ nữ chiếm một
nửa số người có bằng cử nhân và thạc sĩ, nhưng họ chỉ chiếm 1/3 tống
sô' tiến sĩ Đáng chú ý hơn, số' nam giđi có trình độ tiến sĩ vượt xa nữ
giới cùng trình độ ở lĩnh vực mà ở bậc cử nhân, nữ vốn chiếm đa sổ
hoặc tương đương nam Lấy ví dụ ngành xã hội học ở Mỹ, nam giới chỉ chiếm 31% cử nhân xã hội học nhưng lại chiếm đến 87% sô" tiến sĩ.
Bảng ¡6 : s ố lượng tiến sĩ theo ngành ở Hoa Kỳ năm học 1986 -Ỉ987
(Nguổn: United Nations Economic Comission for Europe, www.unece.org)
3.3 Khúc biệt giới trong giảng viên bậc đại học
3.3.1 Tỷ lệ giảng viên nữ bậc đại học
Từ lâu nữ giđi đã bị ngăn cản nếu không muốn nói là bị loại trừ khỏi những bậc học cao hơn như cao đẳng, đại học hay trên đại học Bôi quan niệm phụ nữ không cần học nhiểu Học càng nhiều càng "khó dạy bảo" và hoàn toàn không cần thiết Theo quan niệm xã hội, phụ nữ phải chăm lo công việc của gia đình, nội trợ, may vá thêu thùa Điểu này lý giải tại sao, gần hai trăm năm sau khi trường đại học đầu tiên dành cho nam giđi ra đời thì đến năm 1883, Trường Cao đẳng Oberlin ở nước Mỹ mới là trường đầu tiên nhận nữ sinh viên Mặc dù nhận nữ sinh viên, nhưng trường này lại tin rằng "phụ nữ nên nghĩ đến chuyện trở thành những người vợ, người mẹ, hơn là những luật sư, trí thức, " chẳng những vậy "sinh viên nữ còn phụ giặt giũ quần áo cho nam giđi, dọn phòng và dọn bữa ăn cho họ nữa" (T.Schaefer, 2005: 528).
226
Trang 13Giáo trình Xã hôi hoe về giới
Các nhà xã hội học Mỹ cổ nhận xét rằng: "Có lẽ không nơi nào mà
sự phân hiệt đôi xử trong giáo dục lại rõ rệt hơn trong chuyện tuyển dung giáo viên C ác vị trí giáo sư đai học và quản lý nhà Irường vốn có địa vị tưđng đổi cao tại Mỹ, nói chung đều do nam giới chiếm giữ hết Các giáo viên trung học công lập, những người cổ lưđng tương đối thấp, phần lớn đều là nữ giđi" (T.Schaefer, 2005: 528).
Có một xu hưđng tỷ lệ nghịch về đội ngũ giáo viên trong ngành giáo dục - đào lạo Đó là, tỷ lệ nữ giáo viên giảm dần theo sự tăng lên của cấp học Trong khi nữ giáo viên chiếm tỷ lệ rất cao ở cấp tiểu học
(thì ờ bậc đại học, tỷ lệ nữ giáo viên chỉ chiếm hrtn 1/3) Sô" liệu thông
kc năm 2005 -2006 cho thấy, tỷ lệ nữ giáo viên giảm mạnh từ 78,0% ở tiểu học xuống còn 68,1% ở cấp trung học cơ sở, 54,5% ở trung học phổ thông, 45% ỏ trung học chuyên nghiệp và chỉ còn 40,5% ỏ cấp đại học
Tỷ lệ nữ giáo viên năm học 2006 -2007 lần lượt là tiểu học: 76,1%; trung học crt sở: 67,1%; trung học phổ thông: 56,4%; cao đẳng: 49,1%
(Nguôn Tác giả xử lý từ số liệu của Bô Giáo dục và Đào tạo: www edu net.vn)
3.2.2 Tỷ lệ giảng viên nữ theo ngành học
Như vậy, khổng chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước khác vẫn tồn
tại sự khác biệt giới trong đội ngũ giảng viên bậc đại học.
Theo khảo sát của Ngân hàng Thế giđi năm 1999 cho thây: nữ giảng viên tập trung vđi tỷ lệ cao ở các lĩnh vực đào tạo truyền thông, được coi là hợp vđi nữ giới như y - dược (40,3%), khoa học xã hội và nhân văn (38,5%) và cao nhất là sư phạm chiếm 51,8% Trong khi đó,
tỷ lệ nữ giảng viên ở các ngành kỹ thuật chỉ có 24,5% và khoa học tự nhiên là 29,7% Ngoài ra, tỷ lệ nữ giảng viên trong các trường cao đẳng
227
Trang 14Hoàng Bá Thịnh
chiếm 50,9% cao hơn nữ giảng viên trong các trường đại học (41,7%) Đặc biệt, tỷ lệ nữ giảng viên trong các trường do tỉnh quản lý chiếm tđi 52,8%- Tỷ lệ nữ giảng viên trong các đại học lđn, có đào tạo đến bậc sau đại học là 41,5% , thấp hơn tỷ lệ này ở các trường chỉ đào tạo đến bậc đại học là 43,6% Các sô' liệu trên đầy cho thấy tỷ lệ phân bô' nữ giảng viên theo lĩnh vực đào tạo và loại hình trường còn thiếu cân đối:
Nữ giảng viên còn ít có mặt trong các lĩnh vực khoa học công nghệ
"trọng điểm", mà chủ yếu tập trung ở các lính vực được coi là nhẹ nhàng, phù hợp vđi nữ, nhưng ít được coi trọng và ít thu nhập hơn Nữ giảng viên cũng tập trung nhiều hơn ở bậc cao đẳng, nhất là cao đẳng
sư phạm của tỉnh hay các đại học có quy mô nhỏ Sô' liệu giảng viên ở
Đại học Quốc gia Hà Nội cũng phản ánh một tình trạng tương tự như
bức tranh chung của toàn quốc về số lượng nữ giảng viên đại học theo
Tống stf giảng
1 Truờng Đại học Khoa
Trang 153.2 .? T ỷ lệ ịỊÍânịỊ viên nữ bậc đại học theo học hàm, học vị
Trong những năm gần đây, sô nữ giảng viên trình độ sau đại học
đã tăng lên đáng kể, do sự phát triển và mỏ rộng hệ đào tạo sau đại học troing nước đã tạo thuận lợi cho giảng viên nói chung và nữ giảng viên nC’i riêng có điều kiện theo học Bên cạnh đó, sự cô"gắng vươn lên
củ a chị em nhằm đáp ứng yêu cầu của công việc và một phần do sức
ép của các chính sách như chuẩn hoá cán bộ, nâng chuyển ngạch lương Tuy nhiên, thực tế tỷ lệ nữ giảng viên có trình độ chuyên môn cao còn thấp hơn nhiều hđn so với giảng viên nam và chưa thực sự tương xứng v«đi tiềm năng của phụ nữ, đặc biệt ở trình độ tiến sĩ, tỷ lệ giảng viên naim cao gấp gần 5 lần giảng viên nữ Cách biệt giới càng gia tăng theo học hàm, vđi 14,7% nữ giảng viên có học hàm phó giáo sư và chỉ
có 6% có học hàm giáo sư Điều này cho thấy khoảng cách giđi về trình
độ chuyên môn giữa nam giảng viên và nữ giảng viên đại học còn rất lđn và không dễ thu hẹp (Xem bảng)
_ _ Giáo trinft Xã hôi hoc về giới
liảrtỊỊ 19: Học vị và học hàm của giảng viên nữ
trong các trường đại học (năm 2006)
(Ngujön: Bộ Giáo dục và Đào tạo - Vụ kế hoạch Tài chinh, 2006)
Sụr khác biệt giđi trong giáo dục còn thể hiện trong việc phong tặng
cá c chiức danh như danh hiệu "Nhà giáo nhân dân" phần lđn là thuộc
về nann giđi Tính đến tháng 8/2001, có 137 nhà giáo vinh dự được ph<ong tặng danh hiệu "Nhà giáo nhân dân" Trong khi đó, chỉ có 4 nữ nhà giáo có được vinh dự này (Nguồn: www.edu.net.vn).
3.3 Bất bình đẳng về chi tiêu cho giáo dục
K<ết quả điều tra mức sông dân cư năm 2004 cho thấy, trung bình mửc chi tiôu cho giáo dục của nữ chỉ bằng 94,8% so vđi nam (803.1 4 ngàn đồng so vđi 846.82 ngàn đổng) Trong cơ cấu chi tiêu cho
g iáo diực, cũng có sự khác biệt giữa nam và nữ, ví dụ nam giới chi nhiều
Trang 16Hoàng Bá Thjnh
hơn nữ ở các khoản học phí (nhiều hơn 15,4%), sách giáo khoa (nhiều
hơn 6,4%) và các khoản chi khác (15,7%); trong khi đó nữ cho nhiều hơn nam ở các khoản chi đóng góp trường lớp (nhiều hơn 5,8%), quần
áo đổng phục (nhiều hđn 13%), và học thêm (nhiều hơn 6,1%), như bảng sau đây:
Bảng 20: Chi gừío dục, đào tạo bình quân 1 người đi học
trong 12 tháng qua chùi theo các khoản chi, thành thị nông thôn,
Quán áo đổng phục
Sách giáo khoa
Dụng
cụ học tập
Học thẽm Khác
Cả nước 826.28 253.25 85.83 59.90 89.02 67.32 129.50 96.91
Thinh tin •
Nõna thồn
Thành thị 1537.03 567.16 132.42 87.37 130.90 85.73 296.31 167.05 Nông thốn 602.00 154.19 71.13 51.23 75.80 61.51 76.86 77.41
Giới tính
Nam 846.82 270.24 83.53 56.45 91.62 66.84 125 83 105.65
Nữ 803.14 234.10 88.42 63.78 86.09 67.86 133.63 91.32 (Nguổn: Tổng cục thing kẻ - Điểu tra mức sống dân cư năm 2004)
Nghiên cứu cho thấy, bất bình đẳng có thể tác động đến kết quả học tập, như công trình do Ngân hàng Thế giđi tài trợ thực hiện mang
tên "Nghiên cứu đánh giá kết quả học tập môn văn và toán được thực hiện ở Việt Nam (tháng 12/2004) Trong nghiên cứu này, đốì tượng là
kết quả điểm kiểm tra của học sinh lđp 5 qua các môn văn và toán Nghiên cứu được thực hiện vđi những mẫu đại diện đáng tin cậy có thể tiêu biểu cho các trường tiểu học ở nưđc ta Nghiên cứu cho thây khi
"mức độ không bình đẳng càng cao trong phân phôi cơ hội giáo dục ỏ một địa phương, thì kết quả học tập của học sinh nơi đó càng thấp Môi liên hệ này có mạnh hđn một chút ở môn văn so vđi môn toán” Báo cáo nhân mạnh về mức độ tỷ lệ nghịch giữa mức độ không bình đẳng
và điểm trung bình của học sinh.
Trang 17( ìiáọ trình Xã hộ i hoc vè giới
4 Quan điểm về mục tiêu binh đẳng giới trong giáo dục
( 'hình phủ đã han hành hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật như: Nghị định số 43/2000/NĐ-CP ngày 30/8/2000 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số’ điểu của Luật Giáo dục; Nghị định 35/2001/NĐ-CP ngày 09A7/2001 về chính sách đôi vđi nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục cổng tác ở trường chuyên hiệt, ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khổ khăn; Nghị định sô 88/2001/NĐ-CP ngày 22/11/2001 về thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở.
Năm 2001, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
201/2001/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, trong đó quy định mục tiêu là tạo bước chuyển biến crt bản
về chất lượng giáo dục, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục và tạo C(J hội học tập ngày càng tốt hớn cho các tầng lđp nhân dân, đặc biệl là ở các vùng còn nhiều khó khăn Năm 2003, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định sô" 26/2003/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu quôc gia Giáo đục và Đào tạo đến 2005.
Kế hoạch hành động quốc gia giáo dục cho mọi người giai đoạn 2003-2015 đó coi bình đẳng giđi là một mục tiêu ưu tiên vđi những nội dung cụ thể là: “Xóa bỏ bâ*t bình đẳng giới ở bậc tiểu học và trung học vào nãm 2005, đạt bình đẳng giđi trong giáo dục vào năm 2015, chú trọng đảm bảo trẻ em gái được tiếp cận đầy đủ và công bằng cũng như hoàn thành giáo dục cđ bản vđi chất lượng tốt”.
Quy định tại các văn bản nói trẽn tiếp tục tuân thủ nguyên tắc bình đẳng trong giáo dục, đồng thời tạo ra các cơ chế và điều kiện cần thiết cho phụ nữ và trẻ em gái được thụ hưởng quyền bình đẳng của mình trong lTnh vực giáo đục và đào tạo.
Bôn cạnh đó, việc thông qua Luật Bình đẳng giđi trong đó có những điều liên quan đến bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục, như Điều 14 sau đây cho thấy hước tiến mới trong nhận thức và quyết tâm của Việt Nam đôi vđi việc thực hiện các mục tiêu phát triển của thiên niên kỷ.
Điều 14: Bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo:
1 Nam, nữ bình đẳng về độ tuổi đi học, đào tạo, bồi dưỡng
2 Nam, nữ bình đẳng trong việc lực chọn ngành, nghề học tập, đào tạo.
Trang 18Hoàng Bá Thịnh
3 Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận và hưởng thụ các chính sách
về giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ.
4 Nữ cán bộ, công chức, viên chức khi tham gia đào tạo, bồi dưổng mang theo con dưđi ba mươi sáu tháng tuổi được hỗ trợ theo quy định của Chính phủ.
5 Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo bao gồm:
a Quy định tỷ lệ nam, nữ tham gia học tập, đào tạo.
b Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ dạy nghề theo quy định cda pháp luật.
Tóm tát
Chương 7, sau khi giới thiệu khái quát về vai trò của giáo đục đôi với
sự phát triển xã hội đã trình bày những nét cơ bản về vai ưò của phụ nữ trong giáo dục nói chung và giáo dục gia đình nói riêng Qua việc phân tích những dữ liệu nghiên cứu, chúng ta hiểu được một số biểu hiện bất
bình đẳng giđi trong giáo dục hiện nay ở trên thế giới và Việt Nam Những
thành tựu về giáo dục với việc thu hẹp khoảng cách giđi trong giáo dục ở nước ta cho thây những bước thành công của Chính phủ trong việc thực hiện công ước CEDAW và các mục tiêu thiên niên kỷ.
Câu hỏi ôn tộp
1 Các chức năng và vai trò của giáo dục đối vđi sự phát triển xã hội?
2 Tầm quan trọng của việc đầu tư giáo dục cho phụ nữ?
3 Vai trò của phụ nữ trong giáo dục?
4 Những biểu hiện của bất bình đẳng giđi trong giáo dục?
5 Những thành tựu về bình đẳng giđi trong giáo dục ở nước ta?
TÒI liệu dọc »hôm
1 Hoàng Bá Thịnh (2002): Vai trò của người phụ nữ nông thôn trong công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn; NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
2 WB, ADB, DFID, CIDA (2006): Đánh giá tình hình giới à Việt Nam; Hà Nội 12/2006.
3 Lê Ngọc Hùng - Nguyễn Thị Mỹ Lộc (đồng chủ biên) (2000): Xã hội học về giới và phát triển; NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
4 Institute of Education - Oxfam (2004): Kiểm định về bình đãng giới
và giáo dục các em gái ở châu Á 1990 -2000.
232
Trang 19(riáo trình Xã hôi học về _gịớị
CHƯƠNG 8
G IỚ I VÀ LAO ĐỘ N G
Mục tiêu học tộp
Biết được ý nghĩa của lao động theo quan điểm xã hội học.
Hiểu được phân cổng lao đông theo giđi từ cách tiếp cận
đó, bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian, điều tiết
và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiôn".
Lao động là những hoạt động mà con người thực hiện nhằm đáp ứng các nhu cầu cơ bản của cuộc sông trong môi trường xã hội Trên một phương diện nào đó, thì lao động đổng nghĩa với việc làm, theo Bộ luật Lao động thì “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật ngăn cấm đều được thừa nhận là việc làm” (2002:15).
Trang 20Hoàng Bá Thịnh
Khi đề cập đến các hình thức lao động của con người đã hình thAnh trong lịch sử, K Marx viết: “Phân công lao động chỉ thực sự được thực hiện từ khi có sự phân chia thành lao động vật chất và lao động tinh thần” Điều này hàm ý rằng, sự phân công lao động xã hội được thể hiện và kết thúc ở việc phân chia thành lao động trí óc và lao động chân tay, nghĩa là ở chỗ tách riêng các nhóm xã hội và dành cho mỗi nhóm chỉ là một trong hai hình thức lao động trí óc hoặc lao động chân tay mà thổi.
1.2 Ý nghĩa của lao động theo quan điểm xã hội học
Lao động được hiểu rộng hơn một nghề nghiệp Nó là một khổng gian mà ở đó chúng ta gặp gỡ những người khác, kết bạn, kể cà khả năng có thể đi đến hôn nhân Đôi với nhiều người, đó là nơi họ đạt điíỢc địa vị bên ngoài xã hội cao hơn những người khác, ví dụ: làm việc ở ngành bưu chính viễn thông hoặc ngành ngân hàng sẽ có giá trị hơn là làm việc ở ngành xây dựng hay ngành khai thác khoáng sản.
Con người ta thích nghi vđi một vai trò xã hội khi họ có một cỏng việc; hưđng tới sự trông đợi xã hội về họ sẽ ứng xử như thế nào: “một quan toà được xem là thận trọng và điềm đạm, đúng mực; một kế toán phải chính xác và sạch sẽ, gọn gàng” (E Goffman,1972) Con người làm theo những vai trò công việc của họ như là một phần của bản sắc cái tôi của mình và lao động như là một phần của quá trình xã hội hoá Loại hình lao động cũng có nhiều khả năng ảnh hưởng đến quan
hệ gia đình của chúng ta, nếu sự vắng mặt lâu dài khiến cho gia đình chúng ta trở nên xa lạ hơn bạn bè đồng nghiệp hoặc vì bận công việc khiến cho chúng ta không còn mây quan tâm đến gia đình, do chúng ta tập trung sự chú ý của mình vào những mốì quan hộ khác.
Trong tác phẩm Tâm lý học xã hội về lao động (1974), Argyle liệt
kê những động cơ chính để lao động:
Kinh tế: Đạt được tiền và những phúc lợi xã hội
Sự hài lòng: Một kênh của sự thành đạt và nguồn lực của sự kiêu hãnh và sở thích, lợi ích cá nhân.
Xã hội: Đạt được địa vị, tình đồng đội và sự an toàn, an sinh xã hội.
Trang 21C o thố nổi rằng chức năng của lao động là đem lại địa vị, bản sắc
và Ihn nhập Trong ba điều này, thu nhập cổ thể không phải là quan trọng nhất, mặc dù đa sô người đòi hỏi về điều này Một điều tra về
Quan điếm của vị thành niên với 3925 người ở độ tuổi 15- 19 ỏ
Ipswich năm 1984 cho thấy 6 0 % nói thích được trả giông như “trợ cấp thất nghiệp” và cổ một nghề, việc làm hđn là khổng có một nghề, việc làm nào.
C á c nhà xã hội học chỉ ra, người ta lao động vì những ý nghĩa sau đây: để đóng góp (Contribution), hội nhập (Integration), địa vị
xã hỏi (Status), sự hài lòng (Satisfaction), phần thưdng kinh té" ( E c o n o m i c Reward) và tương tác xã hội (Social contact) (G O ’ Donnell, 1 9 9 4 :1 4 7 -4 8 ).
2 Quan điểm xã hội học về giới và lao động
Nếu như Durkheim tập trung chú ý vào sự gắn kết và đoàn kết xã hội, thì Karl Marx xem xét xã hội được lập thành bởi các lực lượng thay đổi không ngừng và đôi nghịch làm sản sinh ra thay đểi xã hội do những căng thẳng và đấu tranh giữa các giai cấp đối kháng Trong khi Durkheim viết về ảnh hưởng của sự phân công lao động phức tạp đốì với sự đoàn kết xã hội như là sự đoàn kết tiến từ cơ học sang hữu cơ, thì Marx lại viết về sự bóc lột lao động dẫn đến sự phân hoá và hình thành các giai cấp đôi kháng Đây cũng có thể nói đó là sự khác nhau
về bản chất trong cách tiếp cận của hai nhà xẫ hội học nổi tiếng này.
Sự phát triển của chủ nghĩa Marx là do ảnh hưởng mạnh mẽ của phong trào lao động ỏ Anh và Pháp, cũng như sự phát triển nhanh của công nghiệp cùng với sản xuất tư bản chủ nghĩa Các bài viết của Marx đưa ra nhiều khái niệm mấu chốt cho môn xã hội học bao gồm sự phân hoá lao động, chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng, sự hình thành giai cấp và ý thức giai cấp Ông cũng giải quyết vấn đề tư tưởng liên quan đôn các điều kiện xã hội, chính trị và kinh tế và khả năng thay đổi Các tác phẩm của Marx đã góp phần quan trọng cho nghiên cứu
vể phụ nữ Những khái niệm chủ chốt được sử dụng phân tích về áp bức phụ nữ hao gồm phân hoá, áp bức kinh tế, giá trị sử dụng, lao động dự trữ và phcp biện chứng (Benstron, 1969, Rowbotham, 1973) Trong bộ
_ (Jiao trình Xã hôi học về giới
Trang 22Hoàng Bá Thịnh
Tư bản, Marx phân tích tác động của máy móc đốì vđi sinh hoỉt gia
đình trong các ngành công nghiệp nội địa Trong các bài viết của Marx,
sự áp bức phụ nữ được đưa ra trong khuôn khổ bôì cảnh những }ếu tô' kinh tế hình thành câu trúc chính trị và xã hội và cuộc sông của p.iụ nữ trong đó.
2.1 Quan điểm của K Marx về phụ n ữ và lao động45
K Marx không chỉ là nhà kinh tế học, nhà triết học, nhà hoạt động
xã hội vĩ đại, người sáng lập chủ nghĩa Marx, mà ông còn đượi thừa nhận là một trong những nhà xã hội học đầu tiên Những công t r ì r h của Marx có ảnh hưởng sâu sắc đến những người làm xã hội học, dù họ theo hệ tư tưởng nào, yêu thích hoặc phê phán Marx Đặc biệt, K M arx
và F Engels đã xây dựng và phát triển xã hội học Mác- xít như lì một ngành khoa học trong môi liên hệ chặt chẽ giữa lý thuyết và thự; tiễn của phong trào công nhân và xã hội chủ nghĩa.
Trong phần này, chúng tôi chỉ đề cập đến một khía cạnh rết nhỏ trong những công trình nghiên cứu khổng lổ của Marx, đó là vấn dề lao động nữ trong thời kỳ công nghiệp hoá dưới chủ nghĩa tư bản Năm
1867, tác phẩm chính của Marx Tư bản phê phán kinh tế chínk trị -
quyển thứ nhất được xuất bản ở Hamburg Tác phẩm này đã trình bày những quan điểm kinh tế và xã hội chủ nghĩa của Marx cùng vđi ìhững nét chính của sự phê phán của Marx đối vđi xã hội đương thời, đVi vđi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và những hậu quả của nó.Ciũng
trong bộ Tư bản, vấn đề lao động nữ đã được Marx dành nhiều trang
viết tâm huyết đề cập đến.
2.1.1 Công nghiệp hoá và sử dụng lao động nữ
Từ xã hội nông nghiệp bưđc vào công nghiệp hoá, là bước vào sự phân công lao động mđi, quá trình phân công này đã dẫn đên các ngành cồng nghiệp mđi đòi hỏi nam giới phải làm việc xa nhà trcng khi phụ nữ vẫn sông tại các làng nhỏ và phải đảm nhận các công việỉ rohà Tuy nhiên, hiện tượng này không tồn tại lâu, thời kỳ đầu công nạhtiệp hoá đòi hỏi những lao động giản đớn, không cần chuyên môn, kỹ hiuật, nhưng lại cần lao động khéo léo, chịu khó, cần cù Phụ nữ đáp ứnị điược
45 Hoàng Bá Thịnh (2005): vấn để lao động nữ trong tác phẩm Tư bản của K.Marx,Tạip chí Nghiên cứu khoa học vể Phụ nữ, số 6.
Trang 23những phẩm chât này, và là nguồn cung cấp lao động dồi dào cho c á c
công xưởng, nhà máy Khi viết hộ Tư ban, Marx đã đành nhiều trang
phân tích lao động phu nữ và trẻ cm Xem xét tác động của nền sản xuât cơ khí đến người lao đông, Marx đã có nhiều trang viết sâu sắc đề cập đến việc tư hản chiếm hữu sức lao động phụ nữ và trẻ em Ông viết: “Vì máy mổc làm cho sức bắp thịt trở thành thừa, cho nên nó trở thành một công cụ để sử dụng những người lao động khổng có sức hắp thịt hoặc có cd thể chưa phát triển đầy đủ nhưng chân tay lại mềm mại h(<n Vì vậy, khi tư bản sử dụng máy móc thì tiếng nói đầu tiên của nó là: I.ao động của phụ nữ và trẻ cm ”46 Rõ ràng, khi sức người được thay thế bằng máy móc, băng kỹ thuật thì nó cũng góp phần vào việc xoá
nhoà ranh giới của sự phân công lao động truyền thông theo giđi tính,
theo đó nam giới vđi sức lực cơ bắp thường đảm nhận công việc nặng nhọc còn phu nữ chân yếu tay mềm thì đảm nhận công việc nhẹ nhàng
Ưu thế cơ hắp của nam giới hầu như không còn trong điều kiện công
nghiệp hoá, như Marx đã có nhận xct thật chí lý: “Máy móc làm cho sức bắp thịt trở thành thừa".
Trước đó hai mưđi năm, trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sân,
K Marx và F Engels đã chỉ ra sự tác động của khoa học kỹ thuật đến
phân công lao động theo giđi “Imo động càng ít cần đến sự khéo léo và sức lực chừng nào, nghĩa là công nghiệp hiện đại càng tiến triển thì lao động của đàn ông càng được thay thê bằng lao động của đàn bà và trẻ
em Những phărt biệt về lứa tuổi và giới tính khổng còn có ý nghĩa xã hội
gì nữa đôi với giai cấp cổng nhân Tất cả đều là công cụ lao động mà
chi phí thì thay đổi tuỳ theo lửa tuổi và giới tính
Điều này dẫn đến sự thay thế ngày càng nhiều lao động nam giới bằng lao động phụ nữ và nhâi là thay thế lao động của người lđn bằng lao động của trẻ em Bởi vì tiền công trả cho trẻ cm hết sức rẻ mạt: “Ba
em gái 13 tuổi, tiển cổng từ 6 đến 8 silinh một tuần thay thế cho một người đàn ông lđn tuổi có tiền công từ 18 đến 45 silinh”.47
Một điểm đáng chú ý là, các ông chủ khi thuê lao động lại thích lựa chọn phụ nữ có gia đình hơn phụ nữ chưa có gia đình - điều mà những ông chủ hiện nay làm ngược lại Lý do, theo một chủ xưởng cho
46 c Mác: Tư bản - Phán thứ nhất, Tập 1, NXB Tiến bộ, Mát-xco-va - NXb Sự thật, Hà Nội,
Trang 24Do “ưu điểm” của lao động nữ như vậy nên trong phân xưởng dệt, có râ't nhiều người làm việc mà phần lđn là phụ nữ và “phụ nữ và trẻ em
là thành phần chiếm tuyệt đại đa số’ trong công nhân viên công xưởng”49.
Xu hướng này của thời kỳ công xưởng dưđi chủ nghĩa tư bản ngƯỢc lại với thời kỳ công trường thủ công, bấy giờ “phân công lao độtg dựa trên việc dùng lao động cùa phụ nữ, của trẻ em đủ mọi lứa tuổi, cỉa thợ không lành nghề vào bất cứ những nơi nào có thể dùng được, nói tóm lại là dựa trên việc dùng “cheap labour” tức là lao động rẻ tiền, như người Anh thường gọi”50.
2.1.2 Những hậu quả đối với lao động nữ
2.1.2.1 Ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ
Theo cách diễn đạt của Marx, tư bản bóc lột lao động của người công nhân nhằm không ngừng tăng giá trị thặng dư Trong tay nhà tư bản, máy móc trở thành một phương tiện khách quan và được si’ dụng một cách có hệ thông để bóp nặn sức lao động nhiều hơn tronỊ cùng
một khoảng thời gian Điều này được thực hiện bằng hai cáci: Thứ nhất, tăng thêm tốc độ của máy móc; Thứ hai, tăng thêm khôi lượng
máy móc do cùng một công nhân trông coi, hay tăng thêm phạit vi lao động cùa người này.
Điều đó dẫn đến cường độ lao động của nữ cổng nhân dệt rít căng thẳng, vđi độ dài, quãng đường vận động trong phân xưởng tỷ lt thuận
48 c Mác: Tư bản - Phán thứ nhất, Tập 1, NXB Tiến bộ, Mát-xcơ-va - NXb Sự thật Hà Nội,
Trang 25fiiáo truth Xã hÿi hoc về giới
VỚI số máy mà họ đứng: “năm IHI5, lao động đứng hai máy kéo sợi trong vòng 12 giờ, để kéo sợi sô 40, đòi hỏi phải chạy đi chạy lại đến
8 dặm Năm 1832, do đứng hai máy kéo sđi trong vòng 12 giờ để kéo
sỢi có số như trên khoảng cách phải chạy đi chạy lại là 20 dặm và
thuờng còn hitn thế nữa”51.
Cách khai thác sức lao động như vậy của nhà tư bản đã vắt kiệt sức của nữ công nhân đứng máy Bên cạnh đó, điều kiện môi trường lao động “như không gian, khổng khí, ánh sáng, cũng như những phương tiện bảo hộ của người công nhân” không đảm bảo cũng là một yếu tô" tác động xấu đến sức khoẻ của lao động nữ.
Báng chú ý rằng, nhà iư bản sử dụng lao động nữ và trẻ em gái khổng chỉ trong những lao động dệt vải, sợi bông mà còn trong những công việc nặng nhọc, vất vả chỉ dành cho nam giới có thể chất mạnh khoẻ: “Trưđc khi có lệnh cấm dùng phụ nữ và trẻ em (dưới 10 tuổi) trong các hầm mỏ, tư bản đã tìm được cách sử dụng những người đàn
hà và thiếu nữ trần truồng ở dưới các giếng mỏ than và các mỏ khác”
và “ở Anh để kéo thuyền dọc sông đào, thỉnh thoảng người ta vẫn còn dùng phụ nữ thay cho ngựa”.52
Sự bóc lột sức lao động rẻ tiền và chưa đến tuổi trưởng thành trong
cá c công xưởng thủ công hiện đại, lại còn trắng trỢn hơn là trong các công xưởng chính cống, bởi lẽ những cơ sở kỹ thuật trong công xưởng việc thay thế sức bắp thịt bằng máy móc và tính chất nhẹ nhàng của lao động, thì phần ỉđn lại khổng có trong cồng trường thủ công hiện đại, đồng thời cơ thể của phụ nữ hoặc cơ thể chưa phát triển đầy đủ của trẻ envđã bị phó mặc một cách vô lương tâm cho ảnh hưởng của các chất
độc: “ở đây người ta thường gặp họ làm việc ở những nơi có hại cho
sức khoỏ như trong xưởng đúc đổng, xưởng làm cúc áo, xưởng tráng men, xưởng mạ kẽm và xưởng sơn Lao động quá mức của người lớn
và thiếu niên trong xưởng in sách báo ỏ Luân Đôn đã làm cho những nơii dó nổi danh là “lò sát sinh” và “Một trong những công việc bỉ ổi
51 c Mác: Tư bản - Phán thứ nhất, Tâp 1, NXB Tiến bô, Mát-xcơ-va - NXb Sự thật, Hà Nội,
1988, tr 521
52 c Mác: Tư bản - Phân thứ nhất, Tâp 1, NXB Tiến bô Mát-xcơ-va - NXb Sự thật, Hà NÔI
1988.tr 498
239
Trang 26Hoàng Bá Thịnh
nhất, bẩn thỉu nhất và được trả công ít nhất, mà người ta thường thích dùng các cô gái trẻ và phụ nữ để làm là việc chọn lọc giẻ rách: “nhiĩng phụ nữ chọn giẻ rách là những môi giới truyền bệnh đậu mùa và các bệnh dịch truyén nhiễm khác mà bản thân họ là nạn nhân đầu tiên”.
Có thể nói, sự bóc lột sức lao động hết sức tinh vi và tàn nhẫn của nhà tư bản cùng vđi điều kiện lao động không đảm bảo an toàn và
vệ sinh đã khiến cho sức khỏe của cổng nhân nói chung và nữ cổng nhân nói riêng ngày càng suy sụp Người công nhân chịu những nỗi đau khổ, nghèo đói và nhọc nhằn khi phải trải qua sự đoạ đày của chủ nghĩa tư bản.
2.1.2.2 Tác động đến đời sông gia đinh, con cái và tệ nạn xã hội
Khi người phụ nữ có gia đình phải lao động trên 10 tiếng đồng hổ
ỏ công xưởng, thì họ khó có thời gian và sức lực để thực hiện công việc gia đình, nội trợ Do vậy, khi phụ nữ bán sức lao động của họ lấy đổng lương rẻ mạt thì sô" tiền mà họ vất vả, nhọc nhằn mđi kiếm được đó lại phải chi phí cho những khoản chi phục vụ gia đình - công việc mà phụ
nữ lẽ ra sẽ làm mà không làm được: “Vì có một sô' chức năng trong gia đình, ví dụ như việc trông nom con cái và cho chúng bú, không thể hoàn toàn bỏ đi được, cho nên các bà mẹ bị tư bản trưng dụng ít nhiều (lều phải thuê người thay thế Nhưng công việc cần thiết cho việc tiêu dùng của gia đình như may vá, đều phải thay thế bằng việc mua những hàng làm sẩn Như vậy là việc giẫm bđt những chi phí về lao động gia đình ăn khđp vđi việc tăng những chi phí bằng tiền Do đó, chi phí để sản xuất ra một gia đình công nhân tăng lên và cân bằng lại sô' thu đã tăng thêm”53 Như thế, đời sống kinh tế của gia đình không cải thiện thêm được cho dù họ phải lao động vấi vả vđi cường độ và thời gian kéo dài.
Trong bộ Tư bản, Marx đã chỉ ra hệ quả của việc các chức năng
của gia đình không được thực hiện đúng và đủ, đặc biệt là việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em Bởi lẽ, người phụ nữ làm mẹ, nhưng do làm việc tại các công xưởng, không có điểu kiện chăm sóc con cái, dẫn đến “tỷ lệ trẻ chết rất lớn của con cái công nhân trong những năm đầu của cuộc đời chúng”, nguyên nhân của tỷ lệ trẻ em tử
53 c Mác: Tư bản - Phân thứ nhất, Tập 1, NXB Tiến bỗ, Mál-xcct-va - NXb Sự thật, Hà Nội,
1988 tr 500
240
Trang 27v o n g c a o c h ú y ế u là d o “ những người m ẹ bị h ắ t b u ộ c p h ả i l à m v i ệ c ngoài gia đình và vì Ihế mà con cái không được chăm sóc và hị trông coi không tốt như bị cho ăn uống không thích hợp, thiếu ăn, cho ăn những chát có thuôe phiện,., Ihêm vào đó là việc làm cho người mẹ xa rời con cái một cách trái với tự nhiên, tiếp đó là việc cố tình để cho chúng bị đói và đầu độc chúng”.
F)ó là một hệ quả đáng lo ngại đối vđi sự phát triển thế hệ tương lai Xã hội tư bản - qua tác phẩm của K Marx - cho thấy một điều: chủ nghĩa tư bản không chỉ bóc lột tận cùng người phụ nữ mà còn đẩy họ vào lối sổng buông thả, vào con đường tộ nạn xã hội “Buổi sáng và buổi chiều, người ta thường gặp họ đi trên các đường làng, đàn bà thì mặc váy ngắn và áo cánh tương ứng, chân đi hôt và đôi khi mặc quần nữa, bề ngoài trông rất khoẻ mạnh nhưng đã hư thân mất nết vì quen tính sông phóng đãng và họ khổng chú ý gì về những hậu quả tai hại
mà sự thích thú muôn sông một lổì sống hoạt động và tự do như thế sẽ gây ra cho con cái họ đang chết dần chết mòn ở nhà”
Không chỉ nữ công nhân mà phụ nữ ở các vùng nông nghiệp cũng chịu ảnh hưởng xấu: “Cũng giông như trong những khu công nghiệp ở Anh, trong các khu nông nghiệp sô' công nhân nam, nữ lđn tuổi dùng thuốc phiện ngày càng tăng” Nạn nghiện hút này không chỉ tác động xấu đến thế hệ hiện tại mà còn ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển thể chất và tâm lý- tinh thần của thế hệ tương lai, khiến cho những em
bé còn bú sữa mà ãn phải chất thuốc phiện thì “trở thành cằn cỗi như những ông cụ non hay dăn dúm như những chú khĩ con vậy”.
Sống trong xã hội mà ở đó “Những người bán thuốc đã công nhận rằng thuốc phiện là thứ hàng hoá bán chạy nhất” thì tất yêu dẫn đến:
“Những người phụ nữ bất hạnh khỏng có công ăn việc làm vì nạn khan
hiếm bông đã trở thành cặn bã của xã hội và tiếp tục ở trong tình trạng
ấy Con sô gái điếm trẻ hây giờ nhiều hơn bất cứ lúc nào trong 25 năm qua ”54 Nhưng đáng lo ngại hớn, là sự tha hoá nhân tính của một sô" phụ
nữ, có những người mẹ bán con và “những người mẹ đã mất những tình cAm tự nhiên đổì vđi con cái họ đến một mức độ kinh khủng thường
( iiáo trình Xã hội hoc về Æ i
54 c Mác: Tư bản - Phán thứ nhất Tâp 1, NXB Tiến bô, Mát-xcơ-va - NXb Sự thật, Hà Nội,
1988 tr 577
241
Trang 282.2 Quan điểm của Max Weber - Xung đột địa vị
Các tníđc tác của Max Weber tập trung vào các mổíi quan hệ qua lại giữa các giai cấp, địa vị và quyền lực Đôi vđi Weber, giai cấp là cơ
sở kinh tế của sự bất bình đẳng được tổ chức một cách lỏng lẻo xung quanh các giai cấp “có của” và “không có của” Ông còn thêm vào đó
địa vị - một quan niệm về danh dự hoặc uy tín do nguồn gốc gia đinh,
hoạt động nghề nghiệp hoặc cách tiêu dùng mà có Khía cạnh thứ ba của ống, quyền lực, rõ ràng nói đến các quyền chính trị và các nguồn lực Các khía cạnh này chổng chéo lên nhau rất nhiều trong các xã hội công nghiệp tiên tiến, nhưng Weber quan tâm đến sự đa dạng trong các khía cạnh này Ví dụ, một phụ nữ có thể bị đặt ở địa vị thấp kém do yếu tô" giới và có ít nguồn lực kinh tế hoặc quyền chính trị Nhưng khi làm nghề y tá, người phụ nữ ây có thể có được một mức độ địa vị danh dự nhất định trong các cộng đổng coi trọng giá trị của vai trò điều dưỡng, chăm sóc sức khoẻ của người phụ nữ đó.
Đây là một điểm quan trọng để phân tích phụ nữ trong xã hội, bởi
vị trí hoặc địa vị của một con người trong trật tự xã hội có liên quan đến quyền lực Địa vị phụ nữ trong xã hội có thể phân tích về những điều thiệt thòi của họ trong cả quyền lực xã hội và kinh tế bằng việc kiến tạo uy tín xã hội liên hệ đến các vai trò giđi và nghề nghiệp.
Weber không dành ưu tiên cho các khía cạnh đa dạng này, mặc dù ông ta ghi nhận tầm quan trọng của các nguồn lực kinh tế là phương thức tiếp cận hai khía cạnh khác Weber cũng nhằm vào một môn xã hội học phi giá trị hoặc một môn xã hội học tập trung vào tính khách quan Trong xã hội học đương đại, sự nhân mạnh vào tính khách quan này giúp cho môn này tiến hành những mô hình khoa học lập ra các phương pháp thực chứng và quan sát khoa học Đứng về mặt lịch sử,
cả cương vị người quan sát và việc xác định các chuẩn mực khoa học
242
Trang 29Cìiáo trình Xã hôi hoc về giới
đều do nam giđi độc quyền có thổ làm tầm thường hoá hoặc làm lu mờ những kinh nghiêm của phu nữ đi Việc tập trung vào tính khách quan này chứng nhận những người quan sát thây kc cả những kinh nghiệm khách quan cùa phụ nữ làm cho chúng “không được nhìn thây” hoặc
“phi khoa học” (Nebraska, 1983).
Khi đề cập đến các lý thuyết vĩ mô nói trên, G Ritzer đã nhận xét như sau: “Vị Irí cơ bản của phu nữ - theo nghĩa nó là một vị trí được nhìn từ hên trong mọi nền vãn hoá như là một “khu vực” đỏi vđi phụ
nữ - là nội trỢ trong gia đình Từ vị trí cơ bản đổ, và luôn luôn coi nó như một điều kiện cót yếu, phu nữ có thể có các vị trí câu trúc quan trọng khác đôi vđi hoạt động, đáng chú ý nhất là trong nền kinh tế thị trường Lúc này, vấn đề trở thành việc nhận thức lại các chức năng của hộ/gia đình trong hệ thông xã hội và lập biểu đồ mốì quan hệ giữa hộ gia đình và nền kinh tế ” Đổng thời, cũng theo Ritzer các nhà lý thuyết nói trên cũng tìm cách lý giải về “sự phân tầng giđi, được xem như là
sự bất lợi xã hội phổ biến của phụ nữ, trong phạm vi liên kết câu trúc hình tam giác của hộ/gia đình, kinh tế, và các nhu cầu và quá trình chung của hệ thống xã hội” (G Ritzer, 1996: 304).
3 Phân công lao dộng theo giới
3.1 Phân công lao động xã hội
Theo Từ điển triết học, có hai cách hiểu về phân cổng lao động:
Một là, “theo nghĩa rộng, là hệ thống các loại lao động, chức năng sản
xuất, công việc nói chung được phân hiệt theo những dấu hiệu của mình và đồng thời tác động qua lại lẫn nhau, cũng như hệ thống các
mối liên hệ xã hội giữa chúng”; Hai là, “Phân công lao động với tư
cách là hoạt động của con người, khác với sự chuyên môn hoá, là một quan hộ xã hội có tính chất tạm thời trong lịch sử Sự chuyên môn hoá lao động là việc phân chia các loại lao động theo đốì tượng; nó trực tiêp biểu hiện sự tiến bộ của các lực lượng sản xuất và góp phần thúc đẩy
sự tiến bộ đó” (1986: 436).
Theo quan điểm xã hội học, khái niệm này được sử dụng theo
ba cách:
Trang 303.2 Phân công lao động theo giới
Được xem là một thành tô" cơ bản trong câu trúc xã hội của nhân
loại, phân công lao động theo giđi (có tác giả dùng thuật ngữ phân công lao động theo giới tính) là một chủ đề hắt đầu được quan tâm từ thế kỷ
XIX Những quan tâm về sự phân công lao động theo giới thay đổi theo thời gian cùng với quá trình tiến hoá, phát triển của con người, cững như ảnh hưởng của sự phân công lao động theo giđi đến môi quan hệ giữa phụ nữ và nam giới.
Theo Marx và Engels trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, thì sự phân
công lao động theo giđi khởi nguồn từ lĩnh vực tình cảm sau đó mở rộng phạm vi đến lĩnh vực sản xuất: “Sự phân công lao động cũng phát triển, lúc đầu chỉ là phân công lao động trong hành vi tình dục và về sau là phân công lao động tự hình thành “một cách tự nhiên” do những thiên tính bẩm sinh (như thể lực chẳng hạn), do những nhu cầu, do những sự ngẫu nhiên, V.V ”55.
Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, hai ông cũng chỉ ra khía
cạnh giới về phân công lao động trong xã hội công nghiệp thời tư bản chủ nghĩa: “Lao động càng ít cần đến sự khéo léo và sức lực chừng nào, nghĩa là công nghiệp hiện đại càng tiến triển thì lao động của đàn ổng càng được thay thế bằng lao động đàn bà và trẻ em Những sự phân biệt về lứa tuổi và giđi tính không còn có ý nghĩa xã hội gì nữa đổi vđi giai cấp công nhân Tất cả đều là công cụ lao động mà chi phí thì thay đổi tuỳ theo lứa tuổi và giđi tính”56.
Có thể thây nguyên nhân “những sự phân biệt về lứa tuổi và giđi tính không còn có ý nghĩa xã hội gì nữa đối với giai cấp công nhân”
theo giải thích của Marx trong bộ Tư bản (Lao động làm thuê và tưbản)
55 Mác - Angghen: Tuyển tập, Tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980, tr 291
56 Mác - Angghen: Tuyển tập Tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980, tr 550
244
Trang 31là do máy móc tác động đcn phán công lao động: “Sự phân công lao động càng tăng hao nhiêu thì lao đông cũng càng trở nên giản đơn hấy nhiCu Sự khéo léo dặc biệt của người cóng nhân mất hết mọi giá trị NgtiYti công nhân sẽ hiến thành một sức sản xuất giản đớn, đơn điệu, khónịi đòi hỏi phải có những năng lực và kỹ năng đặc biệt về mặt thể chât hay trí tuệ Lao động của anh ta trỏ thành thứ mà ai cũng làm
được”
Không những the, khoa học và công nghệ còn góp phần xoá mờ ranh giới lao động giữa phụ nữ và nam giới, giữa các lứa tuổi: “Máy móc cũng sản sinh ra một tác dụng như thố, nhưng trên một quy mô rộng ]đn hđn nhiều, vì chúng loại bỏ những công nhân khéo léo và thay thế họ bằng những công nhân ít khéo léo, thay đàn ông bằng đàn bà, thay người lớn bằng trẻ em”58.
Sự phân công lao động trong các xã hội gắn liền với các hình mẫu
xã hội - văn hoá, trong đó xác định các chức năng nhiệm vụ mà phụ nữ
và nam giới sẽ thưc hiện Nhìn chung, các xã hội sử dụng sự khác nhau trong các vai trò tái sinh sản, xuất phát từ những khác biệt sinh học giữa phụ nữ và nam giđi như là cơ sở để phân chia các chức năng, nhiệm vụ
của họ trong gia đình và ngoài xã hội.Ví như “người Ban - ton ở phía
nam không để cho phụ nữ đốn gần các đàn gia súc trong khi ở người Hottentots thì chính phụ nữ phải thường xuyên vắt sữa bò” (R Lowie; 2001:102) Như vậy, phân cổng lao động theo giđi tuỳ thuộc vào các nền văn hoá, vđi những phong tục, tập quán của các cộng đồng chi phôi các hoạt động của phụ nữ và nam giới: “Pôị với phần lđn người bản xứ
ở Bắc Mỹ, việc thuộc da coi như nhiệm vụ rõ ràng của phụ nữ, nhưng
ở vùng tây nam, lại là công việc của đàn ông Đôi với người Hopi ở miền bắc Arizona, chính nam giới lại xe sợi và dệt vải, trong khi người Navaho láng giềng lại coi đó là công việc của đàn bà” (R Lowie, 2001:105).
Trong cuốn sách K ế hoạch hoá về giới và phát triển, tác giầ
C Moser khi nói đến sự phân công lao động iheo giđi, có định nghĩa là
“Việc một số công việc được phân chủ yếu hay ngoại lệ cho phụ nữ và
những việc khác cho nam giới, còn rất dai dẳng trong xã hội loài người” (Moser, 1996:51) Tuy nhiên, bà cũng chỉ ra sự khác nhau và biến đổi
( Háo trìn h Xã hội hoc về giới
57 Mác - Angghen: Tuyển tập, Tập 1, NXB Sự thật Hà NỘI, 1980, tr 764
58 Mác - Angghen Tuyển tập, Tập 1 NXB Sự thât, Hà Nôi, 1980, tr 765
Trang 32Hoàng Bá Thịnh
của sự phân công lao động theo giới, một sự phân công vổ'n được xcm
là “rất cứng nhắc”, như sau: “Phân công việc tại bất kỳ thời điểm nào
ở mỗi nước đều rất khác nhau Bởi vì mỗi nước đang có những biến dổi
về kinh tế và bản chất của công việc thay đổi, nên sự phân công lao động và phân phôi giữa nam và nữ cũng thay đổi” (Moser, 1996:52).
Để cập đến phân công lao động theo giđi, các nhà nữ quyền đã gặp phải hai tiền đề cơ bẳn, theo Moser, thứ nhât, điều đó là “tự nhiên” và thứ hai, sự phân công nam giới là người kiếm cơm còn nữ giới làm nội trợ, dựa trên sự bổ sung thêm vai trò cho nam giới và nữ giới đã được nhận thức, họ “khác nhau nhưng bình đẳng”.
Nhà nhân học xã hội G p Murdock (1935) khi khảo sát 224 xã hội
đã phát hiện những khác biệt rất lđn tồn tại trong các định nghĩa xã hội
về cái gì tạo nên phù hợp vđi những hành vi nam tính và nữ tính Bảng sau đây cho thấy:
Bảng 21: Sự phân công lao động theo giới tính trong 124 xã hội
Pl| lỉ
tun
tili II lil
FH li Iliill
Trang 33Giáo trình Xã hôi hoc về giới
Phân tích phân công lao động theo gịđi không chỉ xem xdt ai làm cái gì và làm bao nhiêu, mà còn phải xem xét những chức năng, nhiệm
vụ có được như thê nào và những nguồn lực và những phần thưởng được pliân chia ra sao Hơn nữa, còn phân tích những môi liên hệ giữa những sự phân công và quan hệ này vổ quyền uy, ra quyết định và kiểm soát ở tất cả các bước của các quá trình sản xuất và phân phôi Trong khi sự phân công lao động giữa phụ nữ và nam giđi thay đổi trong các nền văn hoá và theo thời gian, lao động của phụ nữ nhìn chung được trả lương ít hơn và kém giá trị hơn lao động của nam giới, những việc làm của nam giới thường uy tín hơn, được trả lương tốt hơn,
và có nhiều khả năng được ghi nhận trong tính toán của quốc gia Ngược lại, lao động của phụ nữ có xu hướng làm việc nửa thời gian, với
mứt lương thấp hoặc không được trả tý nào.
Cách thức trong đó các vai trò giới được tổ chức trong xã hội đem lại sự giải thích về các loại hình nghề nghiệp được tạo ra cho phụ nữ Việc làm được trả công hay không được trả công đã tăng lên rất nhiều, nhưng sự tăng trưởng to lớn này phản ánh, ví dụ, sự bành trướng quốc
tế về những khu vực chế biến xuất khẩu được xây dựng, với những nghề nghiệp trả lương thấp, như dệt, may và lắp ráp điện tử thường được phân công cho phụ nữ Những người sử dụng lao động thích phụ
nữ trong những công việc này vì một sô lý do phân biệt đôi xử bắt nguồn từ thiên vị giđi Phụ nữ nhìn chung đươc xác định là ít kỹ năng lao động và do vậy họ được tổ chức, sắp xếp với đồng lương thấp hơn, phụ nữ đưực xem là dỗ bảo hđn và ít có khả nãng tổ chức vì những quyổn lao động của họ; phụ nữ được cho là phù hợp hơn, do bản chất
và bởi điều kiện gia đình, với công việc đớn điệu Mặc dù sự tham gia của phụ nữ vào thị trường lao động ngày càng tăng, gánh nặng sân xuất của phụ nữ thường ở nhà, ở đồng ruộng và trong những lĩnh vực phi chính thức Phụ nữ đóng gổp rất nhiều cho kinh tế nhưng không được
phản ánh đầy đủ trong nền kinh tế của quốc gia Không có trong các số* liệu thcíng kê, họ bị lãng quen trong việc xây dựng kế hoạch và chính sách Để giải quyết cho vấn đẻ này, lao động của phụ nữ phải được
nhìn nhận và đem lại giá trị kinh tế, điều này đòi hỏi một cái nhìn mới
về ý nghĩa và thước đo về sản xuất.
Trang 34Hoàng Bá Thinh
Những nỗ lực đặc biệt là cần thiết để khắc phục các khuôn mẫu về năng lực chuyên môn của phụ nữ và nam giđi Những tư tưởng dựa trên kinh nghiệm về “công việc của phụ nữ” là một trong những yếu tô' chịu trách nhiệm về sự hạn chế những cơ hội nghề nghiệp của phụ nữ, giông như nấu nướng và dọn dẹp, lau chùi Đào tạo nghề, kỹ thuật, khoa học
và chuyên môn là quan trọng để mở ra những cơ hội cho phụ nữ để phá
vở khuôn mẫu truyền thô'ng Tuy nhiên, có một câu nói khuôn sáo vẫn
còn đúng là “Công việc của phụ nữ không bao giờ hoàn thành Phụ nữ,
dù có đi làm hay không, cũng cần được giảm bớt gánh nặng về những công việc liên quan đến thực hiện các chức năng gia đình nhưng ít được chia sẻ và không được trả công Những quan điểm cởi mở hơn vể phụ
nữ và công việc của nam giđi phải được thấm nhuần vào trong lĩnh vực gia đình Những điều này cần được thể hiện trong các chính sách của Chính phủ hỗ trợ về điện, nưđc, sức khoẻ, giáo dục, khả năng chăm sóc trẻ em và những dịch vụ cơ bản khác để giảm bđt những trách nhiệm
và gánh nặng về gia đình của phụ nữ và nam giđi.
4 Bình đổng giới trong lĩnh vực việc làm
So vđi giai đoạn trưđc, việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực việc làm ỏ Việt Nam đó được cải thiện thông qua việc Nhà nước tiến hành sửa đổi một sô' điều khoản pháp luật và chính sách cũng như triển khai các biện pháp tích cực để hỗ trợ cho lao động nữ.
4.1 Sự tham gia của phụ n ữ vào thị trường lao động
Xem xét cơ cấủ dân sô' hoạt động kinh tế theo giới tính và độ tuổi cho thấy sự phản ánh tình trạng nhân khẩu học và kinh tế xã hội Nhìn chung, tỷ suất hoạt động kinh tế chung của nưđc ta là 71%, con sổ' này
ở nữ giđi có thấp hơn nam nhưng vẫn ở mức khá cao (64,4% và 78,2%) (TCTK,2007: 45) Đối vđi cả hai giđi, tỷ lệ cao nhất ở nhóm tuổi
30- 34 (nam: 98,2% và nữ 84,7%) Mức chênh lệch giữa nam và nữ về
tỷ suất hoạt động kinh té tảng theo độ tuổi, đạt cực đại ở nhóm 55-
59 (nam: 76,9% và nữ 52,2%) và giảm ở các nhóm tuổi tiếp theo
Điổu này cho thây, không chỉ tỷ trọng tham gia vào lực lượng lao động của nữ thấp hơn nam mà phụ nữ còn ra khỏi lực lượng lao động sđm hơn nam giđi.
Trang 35Cũng có sự khác biệt về tỷ suất hoạt động kinh tế giữa nam và nữ theo các vùng Hai vùng có tỷ suât hoạt động kinh tế của nữ thấp nhất
là Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long (55% và 56%) Sự khác biệt theo giđi giữa các nhóm tuổi trong lao động còn có Lhc thấy khi so sánh khu vực nông thôn và đô thị, theo đó các độ tuổi của thành thị thấp hdn nông thôn Điều này do phụ nữ nông thôn tham gia lao động nhiều hơn so với đồ thị, thêm nữa vđi cả nam và nữ ở đô thị làm công ăn lương nên hết tuổi lao động (nữ 55 và nam 60), họ nghỉ hưu, còn ở nông thôn nhiều người sau độ tuổi này vẫn lao động.
Việt Nam cũng tự hào là một trong những nưđc có tỷ lệ tham gia kinh tế cao nhất thế giđi: 85% nam giđi và 83% phụ nữ trong độ tuổi
15 đến 60 tham gia vào lực lượng lao động trong năm 2002 (Báo cáo phát triển Việt Nam, 2004).
Hộp 4: Tóm tắt về sự tham gùt của phụ nữ Việt Nam vào lực lượng lao động
Năm 2005, nam giới chiếm 51% lực lượng lao động và nữ giđi chiếm 49% lực lượng lao động, tương đương vđi 22,3 triệu nam
và 21,1 triệu nữ (Bộ KH&ĐT - Uỷ ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, 2006).
Nhìn chung, 26% số phụ nữ làm việc có công việc chính thuộc
lĩnh vực làm công ăn lương, tỷ lệ này ở nam giới là 41% (WB,
Trong giai đoạn 2001 -2005, khoảng cách giới trong lực lượng lao động tăng lên theo hưđng có lợi cho nam giđi, từ 0,6% năm
2001 lên 2,8% năm 2005(BỘ KH&ĐT - uỷ ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, 2006).
4.2 Chính sách xã hội với lao động nữ
Nhà nước Việt Nam đã ban hành luật và các văn bản pháp luật nhằm tạo cơ hội bình đẳng cho phụ nữ trong lĩnh vực việc làm, có thể dẫn ra một vài ví dụ sau đây:
_ _ _ _(ìiátì trình Xã hội hoc về giới
Trang 36Hoàng Bá Thinh
4.2.1 Trong một sô'văn bản luật
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động (năm 2002) tiếp tục khẳng định những nguyên tắc về bình đẳng giđi /ề lao động được đề cập trong Hiến pháp Những nội dung được sửa đối, bổ sung liên quan đến chính sách đối vđi lao động nữ bao gổm một ỉô' vấn
đề về bảo hiểm xã hội, tiền lương, bảo hộ lao động, thời hiệu kỷ luật lao động Trong đó, Điều 111 (Chương X : Những quy định riêng ¿ối vđi lao động nữ) có bổ sung: “người sử dụng lao động khổng được ía thầi hoặc đơn phương châm dứt hợp đồng đối với người lao động nữ vị lý do kết hôn, có thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưđi 12 tháng tuổi, trừ Tường hợp doanh nghiệp châm dứt hoạt động” và trong thời gian có thai, nghỉ thai sản, nuôi con nhỏ dưđi 12 tháng tuổi “người lao động nữ đươc tạm hoãn việc đơn phương châm dứt hợp đồng lao động, kéo dài thíi hiệu xem xét kỷ luật lao động, trừ trường hợp doanh nghiệp chấm dứt hoạt động”.
Luật Bình đẳng giđi, Điều 13 (bình đẳng giđi trong lĩnh vực lao động) cũng quy định những điều cụ thể về bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới khi tham gia lực lượng lao động.
4.2.2 Một sô' văn bản liên quan đến lao động nữ
Những năm qua, bên cạnh các văn bản luật, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản liên quan đến lao động nói chung và lao đống nữ nói riêng, thể hiện quan điểm về bình đẳng giđi trong lao độnị Như một sô' văn bản sau đây:
- Nghị định 02/2001/NĐ-CP ngày 9/01/2001 của Chính phủ về Dạy nghề quy định: học viên nữ không phải bổi thường phí dạt nghề khi chấm dứt hợp đổng học nghề trong trường hựp có giấy chứng nhận của y tế cấp huyện trở lên về việc thực hiện hợp đồig học nghề sẽ bị ảnh hưởng xấu tới thai nhi; sau thời gian nghỉ thìi sản, nếu có nguyện vọng và đủ điều kiện, thì được tiếp tục theo học.
- Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg của Thủ tưđng Chính plủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia Xoá đói giảm nghèo >à việc làm đến năm 2005.
Trang 37- Nghị định 114/2002/NĐ-CP ngày 31/12/2002 của Chính phủ về tiền lương tiếp tục khẳng định quyền bình đẳng trong trả lương: lao đông nữ nếu cùng làm công việc như lao động nam, thì được trả li/ơng như nhau Nghị định này tiếp tục thể hiện quan điểm bình đẳng giới trong lao động được đề cập trong Điều 63 của Hiến pháp: “Lao động nữ và nam làm việc như nhau thì tiền lương ngang nhau” và Điểu 111 trong Bộ luật Lao động - đã được bổ
sung, sửa đổi năm 2002 - “Người sử dụng lao động phải thực hiện
nguyên tắc bình đẳng nam nữ về tuyển dụng, sử dụng, nâng bậc lương và trả công lao động”.
Nghị định 01/2003/NĐ-CP ngày 09/01/2003 của Chính phủ về việc
sửa đổi, bổ sung một số điều của Điều lệ Bảo hiểm xã hội quy định
đổi tượng tham gia được mở rộng cho người lao động làm việc ở các thành phần kinh tế tập thể và cá thể, trong các thành phần kinh
tế này, lao động nữ chiếm tỷ lệ khá cao.
Nghị định 33/2003/NĐ-CP ngày 2/4/2003 của Chính phủ quy định không được xử lý kỷ luật lao động đôi vđi lao động nữ có thai, nghỉ thai sản, nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi và lao động nam đang phải nuôi con nhỏ dưđi 12 tháng tuổi.
Nghị định 39/2003/NĐ-CP ngày 18/4/2003 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một sô' điều của Bộ luật Lao động về việc làm, trong đó giao cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội nghiên cứu trình Chính phủ chính sách hỗ trỢ giải quyết việc làm cho các đỏi tượng là lao động nữ (Báo cáo CEDAW 5&6).
4.2.3 Nhà nước tiếp tục thực thi các biện pháp tích cực nhằm bảo đảm quyền bình đằng về mọi mặt của phụ nữ trong lĩnh vực việc làm
* Quyển bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực việc làm tiếp tục được phát huy cùng vđi quá trình thực hiện đổi mđi đất nước Chính phủ Việt Nam trong thời gian qua đã tập trung thực hiện nhiều biện pháp
để tạo ra cắc cơ hội việc làm theo hưđng: tăng cường chính sách đầu tư
trong và ngoài nước để thực hiện các chương trình kinh tế-xã hội; tiếp tục Chương trình mục tiêu quôc gia về xoá đói giảm nghèo và việc làm;
mở rộng thị trường xuất khẩu lao động và chuyên gia; đào tạo nghề gắn
(ìiáo trình Xã hội học về giới
Trang 38Hoàng Bá Thịnh
vđi việc làm Phụ nữ tham gia hoạt động kinh tế vđi tỷ lệ cao và nhất
là ở các ngành dịch vụ, thương mại, xuâ't khẩu phù hợp vđi xu hưđng chuyển dịch, có nhiều lợi thế và góp phẩn tăng nhanh tỷ trọng GDP.
Trong những năm qua, số người được giải quyết việc làm năm sau
cao hơn năm trưđc, trong đó nữ chiếm tỷ lệ khá cao Trong kết quả chung đó, việc làm được tạo ra từ các chương trình phát triển kinh tế-
xã hội chiếm 78,6%, quỹ quốc gia về việc làm chiếm 21,4% Hàng năm, Chính phủ dành một khoản ngần sách khoảng 200 tỷ đồng để chi cho giải quyết việc làm Theo quy định mđi, từ năm 2003, các hộ gia đình, hợp tác xã và cơ sd sản xuất nhỏ và vừa được vay vốn từ Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm dưới 15 triệu đồng không phải thế châp, trong
đó ưu tiên cho các đôi tượng là người tàn tật và đơn vị sử dụng nhiều lao động nữ Điểm mđi trong giải quyết việc làm là mở rộng các mô hình kinh tế trang trại và hộ gia đình, phát triển làng nghề và sản xuẩt hàng xuất khẩu, phát triển các doanh nghiệp tư nhân, khu công nghiệp, khu chế xuất Việc mở rộng thị trường xuất khẩu lao động và chuyên gia sang các nưđc Đông Nam Á cũng là một giải pháp tốt nhằm tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho lao động nói chung, trong đó có lao động nữ nói riêng.
- về đào tạo nghề: Đến nay chương trình đào tạo nghề đã phát ưiển
mạnh cả về sô" lượng và chất lượng Từ năm 2001-2003, đã đào tạo được hơn 2,9 triệu người, trong đó nữ chiếm 30% Các ngành nghề đào tạo được mở rộng, trong đó có nhiều ngành nghề phù hợp vđi nữ Nét mđi trong đào tạo nghề là đã có sự chú trọng đáng kể của các địa
phương trong việc đầu tư hỗ trợ phát triển các cơ sở dạy nghề Chât
lượng dạy nghề có nhiều tiến bộ, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động Một sô' nghề đạt trên 90% học sinh sau khi tốt nghiệp có việc làm (như nghể bưu chính viễn thỏng, giao thổng, may mặc), trong đó nữ chiếm tỷ lệ khá cao Sô' lượng các trường dạy nghề tăng thêm và phân
bổ rộng rãi trên loàn quốc, đáp ứng tốt hơn nhu cầu đào tạo nghề đang
tăng lên của lao động nam cũng như nữ Sô'lượng lao động nữ qua đào tạo đã tăng lên và thu hẹp khoảng cách so vđi nam giới Tuy nhiên, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của lao động nữ nhìn chung thấp hơn nam giđi và lao động nữ chiếm 3/4 sô' công việc không có tay nghề (theo kết quả điều tra của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội và ILO năm 2001).
Trang 39Giáo trình Xã hôi hoc về giới
về bao hiểm xã hội: Điều lộ Hảo hiểm xã hội dã được sửa đổi, hổ
sung năm 2003, theo đó một số quy định có lợi nhiều hơn cho lao động
nữ Theo quy định hiện hành, đôi tượng tham gia hảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm người lao động làm việc trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, trong đó có cả doanh nghiệp ngoài quốc doanh
và tư nhân Tính đcn năm 2002, có khoảng 4,4 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, trong đó khu vực Nhà nước là 3,8 triệu người (chiếm 86,4% so với tổng sô" người tham gia) Tỷ lệ lao động nữ tham gia bảo hiểm xã hội hiện nay rất cao (chiếm 50,5%), trong đó nữ cán bộ, công
chức khu vực hành chính sự nghiệp là 52,2% Điểm hạn chế hiện nay
là tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội của người lao động ở khu vực ngoài quốc doanh còn thấp, khoảng từ 15- 20% Nguyên nhân chủ yếu là do người sử dụng lao động chưa nghiêm chỉnh chấp hành luật pháp, đồng thời việc thanh tra, kiểm tra của các cơ quan chức năng chưa được tiến hành thường xuyên để xử lý kịp thời vi phạm Hiện nay, các cơ quan chức năng đang gấp rút tham mưu cho Chính phủ hoàn thiện chính sách bảo hiểm xã hội hưu trí tự nguyện để mọi người lao động thuộc các thành phần kinh tế, kể cả người nông dân và lao động tự do được có lương hưu Khi chính sách này được ban hành, sẽ mở ra cơ hội cho khoảng 30 triệu lao động tham gia.
- Về vấn đề phụ nữ làm kinh tế gia đình: Phụ nừ làm kinh tế gia đình
đưực hưởng các quyển lợi như nam giới theo quy định chung, ngoài ra không có quy định riêng nào khác Trong những năm gần đây, Chính phủ Việt Nam đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm phát triển kinh tế hộ
gia đình, đặc biệt phát triển mạnh ở khu vực nông thôn, coi mỗi hộ gia
đình là một đơn vị kinh tế, tạo việc làm cho chính các thành viên trong gia đình, thu hút lao động tại chỗ, góp phần xoá đói giảm nghèo và nâng cao đời sông nhân dân Các mô hình cho vay tín dụng nhỏ từ các chương trình việc làm, xoá đói giảm nghèo, kinh tế trang trại, đã giúp phụ nữ vừa có việc làm, vừa tăng thu nhập cho gia đình Ngoài ra, phụ
nữ còn được sự quan tâm của các tổ chức đoàn thể Đặc biệt, các cấp Hội phụ nữ được Chính phủ cho phép đứng ra làm tín chấp để tổ chức cho hội viên vay vốn làm kinh tế gia đình Hàng năm, có khoảng 30%
trong tổng số dự án nhỏ do các câp Hội phụ nữ đứng ra tổ chức cho phụ
nữ vay Mức thu nhập bình quân của người làm kinh tế gia đình bằng
253
Trang 40Hoàng Bá Thinh
khoảng 40-60% và khoản thu nhập này đã đóng góp vào tăng thu nhập cho bản thân và gia đình họ.
- về các dịch vụ hố trợ người lao động: Cùng vđi đầu tư tăng tiưổng
kinh tế, Chính phủ Việt Nam cũng rất quan tâm đến phát triển chính sách xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày một tăng của người dân Qua đó, phụ nữ cũng được hỗ trợ đáng kể thông qua các dịch vụ xã hội nhí nhà trẻ, mẫu giáo, giúp việc gia đình, thực phẩm chế biên sẵn Hiện nay,
hệ thống nhà trẻ, mẫu giáo được mỏ rộng và phát triển với nhiềi loại hình (như công lập, bán công, tư thục) đ cả thành thị và nông thôn Riêng vđi khu vực thành phố', nhu cầu về giúp việc gia đình cũng ngày càng phổ biến hơn Việc phát triển loại hình dịch vụ này đã tạo ứĩôm
cơ hội việc làm cho lao động nữ, đặc biệt là phụ nữ nông thôn 'à nữ sinh viên Lao động giúp việc gia đình đã được pháp luật thừa nhịn và bảo vệ theo quy định của Bộ luật Lao động.
5 Một vàl biếu hiộn bốt bình đẩng glớl trong lao dộng
5.1 Phụ nữ làm việc nhiều hơn nam giới
Việt Nam tự hào là một trong những quốíc gia có tỷ lệ nữ than gia kinh tế cao nhất trên thế giđi: 85% nam giđi và 83% nữ giới troig độ
tuổi 15 đến 60 tham gia vào lực lượng lao động ưong năm 2002 (Báo cáo phát triển Việt Nam, 2004) Nhưng nhiều dữ liệu cho thấy plụ nữ hiện đang phải làm việc nhiều hơn nam giđi s ố liệu điều tra Mức sống dân cư Việt Nam năm 2002 cho biết phụ nữ chiếm đa số trong sô" rhững
người làm việc từ 51- 60 giờ mỗi tuần và thậm chí còn đông hơn Tơng
số những người làm việc trên 61 giờ mỗi tuần Những nghiên cứi sâu
hơn cho thấy phụ nữ nông thôn thường làm việc từ 16 -18 giờ mỗi Igày, nhiều hơn nam giđi từ 6 - 8 giờ (Nhóm công tác Nghèo đói của Chính phủ - Nhà tài trợ - Tổ chức phi chính phủ; 2000) Uỷ ban Quốc ỊÌa vì
sự tiến bộ của phụ nữ (NCFAW 2005) cho biết khi phụ nữ và nan giđi làm việc vđi số giờ tương đương trong sản xuất và kinh doanh, th phụ
nữ sử dụng thời gian cho việc nhà nhiều hơn 2,5 lần so với nam íiđi ở vùng thành thị và 2,3 lần ở vùng nông thôn.)59
59 WB and UN in Vietnam, Sdd,tr.9
254