Giáo trình Xã hội học gia đình: Phần 1 trình bày các nội dung chính sau: Định nghĩa gia đình, quan điểm xã hội học về gia đình, sự đa dạng của các hình thái gia đình, hôn nhân và gia đình theo quan điểm giới, đường đời và sự phát triển, biến đổi của gia đình theo đường đời, cách tiếp cận lí thuyết về gia đình. Mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 3MỤC LỤC■ ■
Lời giới th iệu 5
Phần I: XÃ HỘI HỌC GIA ĐÌNH Lời nói d ấ u 7
Chưcmg ỉ. Đ ịnh nghĩa gia đ ì n h 12
Chương // Quan điểm xả hội học vé gia đình 15
Chươnạ III. Sự đ a dạng c ủ a các hình thái gia (Jìn h 22
Gia đinh hạt n h â n 23
Gia đình m ờ rộ n g 25
Gia đình g ố c 25
Gia đình phụ h ệ t 26
Gia đình mẫu h ệ 26
Gia đình lưỡng h ệ 26
Gia đình phụ quy ền 27
Gia đình mẫu q u y ền 27
Gia đình ở nhà c h ồ n g 27
Gia đình ở nhà v ợ 43
Gia đình ở nơi m ớ i 44
Gia đình đơn hôn 45
Gia đình đa h ô n 45
Gia đình tái hôn 47
Nội hôn và gia đình thuần nhất với ngoại hôn và gia đình không thuần nhất 49
Gia đình ít con và gia đình đông c o n 50
Chương ỈV. Hôn nhân và gia đình theo quan điểm g iớ i 53
1 Phân công lao động gia đ ìn h 58
a) Coi nấu nướng là công việc của phụ n ữ 60
b) Quan hộ quyén lực giữa hai giới trong nấu ả n 61
2 Ra các quyết định gia đ ì n h 61
3 Bạo lực trong quan hộ vợ chồng 62
Chương V. Đườno đời và sự phát triển, biến đổi của cia đình theo đường đòi 71
1 Giai đoạn thành lậ p 74
a) Các lý thuyết vé cá n h â n 75
b) Các lý thuyết văn hoá xã h ộ i 76
Trang 42 Giai đoạn mở r ộ n g 86
3 Ly h ô n 90
a) Ly hỏn là một quá tr ìn h 95
b) Tác động cùa lv hỏn đến con c á i 100
4 Giai đoạn chia t á c h 103
5 Giai doạn tan rã 105
Chương Vỉ. Biến đổi gia đ ì n h 108
I Sự hiến đổi gia dinh ờ một số xã hội phương Tây (Anh và Mỹ) nửa sau thế kỷ X X 110
1) Quan hệ gia đình mở rộng đã biến dổi như thô nào 110
2) Vể quan hệ giới trong gia dinh dưới tác động cùa cône nghiệp h o á 111
3) Một vài dặc diêm về gia dinh phương Tày hiện đại 116
II Biến dổi gia đình ờ Việt Nam qua ví dụ người Kinh ờ Đồng bans sông Hổng trong những n á m 1945-1992 7 7 r 121
Chươrig VII Các cách tiếp cận ỉý thuyết vé gia dinh 131
1 Cách tiếp cận chức năng cấu trúc 133
a) George M urdock 134
b) Talcott Parsons 135
2 Cách tiếp cẠn xung đ ột 138
3 Cách tiếp cận theo thuyết tương tác biểu trưng 140
4 Thuyết trao dổi xã hội và lựa chọn hợp lý 141
5 Cách tiếp cận phát triển (đường đời) 145
6 Cách tiếp cận theo thuyết kiến tạo xã h ộ i 145
7 Thuyết nữ quyển phưctng T â y 147
8 Cách tiếp cân mácxít (ờ phưưng T â y ) 151
Sách báo trích d ả n 154
Tài liệu cẩn đ ọ c 163
Tài liộu gợi ý đọc th e m 163
Phần II: MỘT s ố CHỦ ĐỂ GIA ĐÌNH HIỆN NAY - Nâng cao tính khoa học cùa nghiên cứu gia đ ìn h 164
- VỔ một cách nhận diện gia đình Việt N a m 175
- Nơi cư trú sau hôn nhân của người Việt ừ đổng bằng sổng I lồ n g 184
- Vài nhẠn xét về vai trò chăm sóc và dạy dỗ của người c h a 204
- Gắn lý thuyết với thực nghiệm: trường hợp nghiên cứu vồ ly h ô n 223
- Một hình thái gia dinh mới ờ Thụy Điển và mấy vãn để đặt ra cho xã hội học gia d i n h 234
- Góp phần tìm hiểu người nỏns dàn Việt Nam thời kỳ dổi mới kinh tố xã h ộ i 250
Trang 5LỜI GIỚI THIỆU
Cuốn sách náy gồm có hai phấn Phần I (Xã hội học gia dinh) nguyên la giáo trinh môn Xã hội học gia đỉnh, được Nhà xuất bản Khoa học Xã hỏi ấn hành năm 2003, và dâ qua chỉnh lý, cập nhật va bổ sung cho lần xuất bản năm 2009 này Phần II (Một số chủ đé gia đình hiện nay) gồm những bài nghiên cứu viết vé chủ đé gia đinh đăng trèn nhiễu tạp chí khoa học khác nhau, và được tập hợp lám bài đọc đi kèm theo giáo trình.
Đối với tôi, với tư cách tác giả, thì ý tưởng kết hợp hai phần thành một cuốn sách đã đến thật tinh cờ, và lá theo gợi ý của một người bạn Tuy nhiên, sau khi suy nghĩ, tôi thấy sự kết hợp này không hẳn là một ngoại lệ như lúc đầu tôi tưởng, vì trong nghiên cứu vă dáo tạo cùa xã hội học thế giới, người ta thưởng xuất bản tuyển tập các bài dọc (reader) di kém theo giảo trinh (textbook) Dù vậy, đúng hơn, độc giả nên coi phần II la tập hợp các bai viết của tác giả vé gia đình để có thể theo dõi liến mạch mà thôi Nói cách khác, phẩn II là một nỏ lực nhằm kết hợp giáo trinh với tập hợp các bài đọc, chứ chưa thực sự là một tuyển tập những tài liệu dọc.
Sự kết hợp hai phần thành một này đòi hỏi tác giả phái có lời lý giải như sau.
Có nhiểu mục đích cho việc đưa các bài đọc vào Thử nhắt là cung cấp
cho độc giả là sinh viên, học vièn và nghiên cứu sinh những ý niệm cụ thể và minh họa sống động rằng những diều mà họ đọc và học ở trong giáo trinh được nhà xã hội học triển khai vá tiến hành trong nghiên cứu vé một chú đé
cụ thể như thê' nào, và cách sử dụng các khái niệm, lý thuyết và phương
pháp ra sao Thứ hai, tuy bần vể những chủ đé cụ thể khác nhau, song các
bài đọc đếu chung một mạch cảm hứng của tư duy phê phán (một điéu hết sức quan trọng trong nghiên cứu), và tác giả mong muốn truyén nó đến độc giả đổng thời là người học Tư duy phê phán ở đây không mang nghĩa lả chỉ trích, phê bỉnh người khác, mà là xu thế không dễ dãi chấp nhận những tn thức mới thu nhận được, hay sẵn cố Chúng ta chỉ tin váo nó sau khi đã phân tích, kiểm chứng kỹ càng Nói cách khác, tư duy phê phán là tinh thắn chủ tâm suy xét cẩn trọng xem có nên chấp thuận, bác bỏ hay chưa vội nhận định vé một tuyên bò' nào đấy trong học thuật, chừng nào chúng ta chưa kiểm định được nó dưới góc độ lôgic hay vé mặt thực nghiệm Nhà nghiên
Trang 6cứu xã hội học nói chung rất cần tư duy phê phán, song người tìm hiểu vé gia đình càng cần tạo dựng và rèn luyện tư duy náy, vỉ đây tả lĩnh vực mà mỗi cá nhân déu có hiểu biết sống động trực tiếp của mình, do đó coi minh
là chuyên gia Theo nghĩa ấy, các bài đọc ở đây sẽ góp phần lám việc đó.
Do yêu cắu cập nhật kết quả nghiên cứu mới vào giảng dạy, kết hợp giảng dạy với nghiên cứu, nên tác giả đã đưa vào phần I nhiéu kết quà nghiên cứu của mình Bởi vậy, khi gộp hai phán thành một cuốn sách “hai trong một", ở vâi chỗ trong cuốn sách nảy, sự trùng lặp lá không tránh khỏi Tuy nhiên, mỗi bài viết riêng lẻ có mục tiêu riêng vả khác với giáo trình, nên có nhiéu điéu không thể đưa hết vào giáo trinh mà chỉ có thể đặt ở bài viết Mặt khác, giáo trinh thì không thể dành quả nhiéu chỗ cho một chủ đé nào đó để đảm bảo sự cân bằng tương đối với các chủ đé khác Nghĩa lả ở các bài viết còn có nhiéu điéu hơn là những gì được đưa vào giáo trình Bởi vạy, trong cuổn sách không xảy ra tình trạng trùng lặp hoàn toàn giữa hai phắn Hơn nữa, trùng lặp hay không cỏn phụ thuộc vào mục đích và cách đọc Độc giả nào quan tâm đến một chủ đé nào đó có thể tìm đọc bài viết ở phần II để theo dõi đầy đủ và toàn mạch vé nó; còn những độc giả muốn nắm bắt một số luận điểm chính của nó thi có thể theo dõi chỉ qua phần I.
Tác íỉiii
Trang 7Phần I
XÃ HỘI HỌC GIA ĐÌNH
Lời nói đẩu
"Gần đây trong xã hội rất nhiều người bàn bạc vế vấn dé gia đình, ở
nông thôn vấn dẽ gia đinh, họ hàng nổi lên khá rầm rộ [ ] nhiéu chương trình nghiên cứu trong nước và hợp lác quốc tế [ ] cũng thường gặp nhau ở một điểm chung là gia đình" - đó là nhận xét xác dáng của một cố học già đáng kính (Trần Đình Hưựu, 1996:49) Hoàn toàn không phải ngẫu nhiên gia đình thu hút được nhiều quan tâm, và việc nghiẻn cứu gia đình hiện đang trờ nên sôi động Điểu này có nhiều lý do sâu xa
Thứ nhất, theo truyền thống, gia đình vẫn được coi là một trong những thể ch ế then chốt cùa xã hội Việt Nam Gần như mọi người trong độ tuổi kết hôn đều lấy vợ lấy chổng, hoặc mong muốn như vậy Theo dữ liệu cuộc điều tra gia đình Viột Nam năm 2006, trong số những người từ 15 tuổi trờ lên, thì 60,4% hiện đang có vợ có chồng, còn 31,6% chưa từng kết hôn (nhưng con
số này chủ yếu ờ nhóm 15-19 tuổi, và càng ở nhóm tuổi cao hơn, tỉ lệ chưa
có vợ có chổng càng thấp) Điổu đó cho thấy, kết hôn là phổ biến ở Việt Nam (Bộ Văn hoá, Thổ thao và Du lịch, Tổng cục Thống kô, Viện Gia đình
và Giới, Quỹ Nhi dồng Liên hợp quốc, 2008:34) Gia đình thòa mãn hầu như mọi nhu cầũ cơ bản cùa con người từ khi lọt lòng đến khi nhắm mất xuôi tay Sự gắn bó với gia đình khàng khít đến nỗi mọi thứ đéu đứng sau gia đình (Đào Duy Anh, 1938/1992:364; Woodside, 1976:28) Theo lời một nhà nghiên cứu góc Viột, đặc điểm cơ bản của Việt Nam là ành hường nổi trội cùa gia đình trôn tất cả mọi lĩnh vực: tôn giáo, văn hóa và xã hội (trích theo
Le Thi Que, 1986:3)
T hứ hai, nứa sau thế kỷ XX chứng kiến những biến đổi sâu sắc và lớn lao của gia đình Việt Nam Sự biến đổi đó là kết quả cùa nhiẻu nhân tố, trước hết do những chương trình cải cách kinh tế xã hội mà Đàng và Nhà nước tiến hành ban đầu ở mién Bấc, sau đó trên phạm vi toàn quốc Nhưng quan trọng hơn, xuất phát từ quan niệm mácxít về gia đình, vào cuối những năm 1950, Đảng Cộng sản Viột Nam đã đề ra và thực hiện nhiểu chính sách
và biên pháp nhằm thay đổi gia đình một cách triệt để Nòng cốt của quan niệm mácxít cho rằng mọi vấn để của đời sống gia đình hiện tại bắt rễ từ sự
sờ hữu tư nhân vé tài sản, vì thế cẩn xóa bò chế độ tư hữu Một khi đã làm được điều đó, những vấn đé gia đình không còn cơ sờ để tổn tại nữa Hình thái kinh tế xã hội mới đẻ ra gia đinh mới, phù hợp với nó Mượn lời một
Trang 8nhàn vật trong cuòn tiểu thuyết "Mùa lá rụng trong vườn" cùa Ma Vãn Kháng (xuất bản nãm 1985, và được chuyển thể lên màn ánh nhỏ chiếu trên VTV lần đẩu vào tháng 3/2001), đã có một thời, chúng ta nghĩ ràng các quan hệ cha con, vợ chổng và anh chị em không còn vàn đổ gì cần bàn bạc nữa Nhưng thực ra kủ từ công cuộc đổi mới và chuyển sang nền kinh tê' thị trường, nhiều người nhận ra tẩm quan trọng ngày càng tăng cùa gia dinh và sự cần thiết của việc bảo vệ, cùng cố nó, và muốn vậy, trước hết cần tìm hiểu nó.
Nhằm góp phần đáp ứng nhu cầu tìm hiểu xã hội học gia đình, cuốn sách này được viết ra với tư cách là tài liệu giảng dạy cho sinh viên, học viên cao học tại các trường đại học và Viện Xã hội học, Hà Nội Cuốn sách khòng tham vọng đưa ra một tổng quan bao quát rộng vé gia đình Mục đích của tài li(Ịu giảng dạy này là trang bị cách nhìn nhận dối lượng, cách tiẽp cận gia đình theo nhãn quan xã hội học chứ không cung cấp mọi hiểu biết vé xã hội học gia đình Người học được khuyên khích sứ dụng tri thức và cách liếp cận ờ đây đè’ tìm đọc rộng ra nhằm rèn luyện kỹ năng và cách nhìn, cũng như mờ mang hiểu biết Cao hơn nữa họ nón dùng các lý thuyết được giới thiệu ờ dây de tìm hiểu kỹ và sâu về chúng, rồi kiểm nghiệm trong nhìrng khảo sát thực nghiệm trong tương lai của mình
Cuốn sách cố gáng kết hợp chặt chẽ tư duy iý thuyết với nghiên cứu thực nghiệm trong xã hội học gia đình Về lý thuyết, thay vì trình bày một và chỉ một lý thuyết duy nhất đúng (như cách làm quen thuộc cụa nhiều giáo trình và sách tham khảo ờ nước ta), cuôn sách đưa ra nhiều cách xem xéi, lý giải và cắt nghĩa khác nhau, thậm chí đòi lập nhau vé cùng một chù đề Những cách tiếp cận nổi tiếng, và với thời gian, dã (rớ thành cổ điển được giới thiệu cùng những cách tiếp cận xuất hiện gần dây (ví dụ cách tiếp cận đường đời, quan điểm giới, cách tiếp cận kiến tạo xã hội, V.V.) Những khái niệm mới được giới thiệu và sừ dụng thay thế khái niệm cũ đã lỗi thời (như
"gia đình cha mẹ đơn thân" thay cho "gia đình không đầy đù", "đườns đời" thay "chu trình sống", V.V.) Mỗi lý thuyết trong xã hội học gia dinh thường được nôu rõ tôn và tác giả, nội dung chính của nó được tóm tắt; đồng thời cuốn sách cũng phân tích nhũng điểm mạnh và điểm yếu những đánli giá ca ngợi và cả những phê phán nó từ các góc độ khác nhau Việc này là để giúp người dọc làm quen và rèn luyện kỹ năng phân tích, đánh giá một lý thu\êì
và tránh quan niệm sai lộch mà tác giả cuốn sách này từng có dịp bàn đến (Mai Huy Bích, 2 0 0 lb) rằng áp dụng lý thuyết trong nghiên cứu chỉ có nghĩa là đổng ý với nó
Về thực nghiệm, người viết cuốn sách cũng cỏ gắng theo sát nhũng thành tựu nghicn cứu gần đây để cập nhật các kết quà ỡ cả Việt Nam lẫn íT:ột
Trang 9số nước trẽn thế giới Tuy nhiên, do người viết chi có khả năng tiếp cận kẽt quà nghiên cứu của vài ba quốc gia nói tiêng Anh thuộc khối Anglo-Saxons, còn các nơi khác - thì qua sách báo tiếng Anh liên phạm vi bao quái dữ liệu nước ngoài chưa thật sự đáp ứng được yêu cáu da dạng Riêng dối với Viội Nam từ hơn 50 tộc người sinh sông trẽn lãnh (hố nước ta (dựa trên cách phân chia chính thức hiện hành), theo sự phân công lao động dược ngẩm thừa nhận trong khoa học xã hội chúng ta, thì xã hội học tập trung vào người Kinh, còn các tộc người khác là đối tượng nghiên cứu chù yếu cùa dàn tộc học - nhân học Do khả năng bao quát có hạn cùa người viết, cuốn sách này
sẽ chỉ xét gia đình người Kinh qua ví dụ vùng Đống bằng sông Hổng Trong khi khoanh vùng tìm hiểu gia dinh chỉ ở địa bàn và tộc người này, người viết
đé nghị độc giả ncn luôn nhớ rằng các mẫu hình gia dinh trên lãnh thổ Việt Nam vừa có nhũng nét chung nhất định vừa rất đa dạng Theo nghĩa dó gia dinh người Kinh ờ các địa bàn khác, cũng như gia đình các tộc ít người cùa Việt Nam - có thổ khác với mầu hình đề cập ờ dây - không dược bao quát trong cuốn sách này Ngay trong nội bộ người Kinh ớ dịa hàn nói trên, gia đình bên giáo (Thicn Chúa giáo) có nét khác với gia dinh bên Lương (Mai Huy Bích 1995) Tuy nhiên, hy vọna của người viết là việc kết hợp dữ liệu thực Iighiệm về mẫu hình gia dinh từ khống phái chi ờ một nước, một nén Víìn hóa sẽ phần n à o giúp độc giả c ó m ột cái nhìn xuyên văn hóa.
Nhằm cố gắng cập nhật dữ liệu thực nghiộm về đời sống gia dinh ở Việt Nam cũng như một số nước irỏn thê' giới, cuốn sách sử dụng rộng rãi các sách và tạp chí nghiên cứu mang tính chất hàn lâm viện, và ngoài ra, còn dùng cả báo chí thông thường Đây là cách khai thác dữ liệu dã được nhiều nhà xã hội học chấp thuận Nó dược vận dụng rộng rãi khòng chi trong kháo cứu của họ, mà cả ở các giáo trình, nhất là khi đề cập đốn những chủ đề mà giới hàn lâm viện chậm và kém thế hơn báo chí Khi đó, lất nhiên, người sứ dụng nên luòn ý thức được những đặc điểm và khác biệt giữa sách báo thõng thường với nghiổn cứu khoa học
Cách trích dẫn và chú thích sách báo trích dẫn trong cuốn sách này không theo những quy ước thông dụng bấy lâu nay của Việt Nam, mà chù yếu áp dụng các quy tắc của Hội Xã hội học quốc tế (nguyên là hệ thông có tên gọi Harvard và hiện dang được chấp thuận làm chuẩn trên Tạp chí
International Socioloẹv của Hội) Những quy chuẩn này có lẽ còn xa lạ với đông đào bạn đọc trong nước, nhưng người viết mạnh dạn giới thiệu đẽ độc giả làm quen: nếu chúng ta muốn hội nhẠp với công đồng nghe nghiệp quỏc
tố, thì không thổ không tiếp thu các quy chuẩn ấy Hơn thế nữa, đày là ycu cầu bắt buộc dối với luận án và các nghiên cứu của giới xã hội học nhiều nước Không chỉ học viên cao học, nghiên cứu sinh mà cà mọi nhà nghicn cứu xã hội học ờ những nước này dcu cần tuân thủ những quy chuẩn dó
Trang 10v ề cơ cấu, sách bao gồm bảy chương, mỗi chương trình bày một chù đé riêng và tương đối độc lập với nhau, đồng thời các chương đểu tuân theo một logic chung Chương I bàn về những khó khăn và vấn đề trong những nỗ lực đưa ra một định nghĩa chung và có thể áp dụng mọi nơi, mọi lúc ve gia dinh
ở các nén văn hóa, các xã hội, hay thậm chí các nhóm trong cùng một xã hội (mà nguyên nhân cơ bản là gia đình rất đa dạng và khá linh động) Trong hoàn cảnh ấy, điều dẻ được chấp nhận hơn cả là xác định gia đình theo hoàn cảnh cụ thể Tiếp đó, chương II nêu lên những nét chính trong cách xã hội học tiếp cận gia đình, hay nhãn quan xã hội học về gia đình Điểu này nhằm giúp nhà nghiên cứu tránh khỏi xu hướng cùa tri thức thòng thường và của những người không làm xã hội học là coi gia đình hoặc mang tính riêng tư, chứ không chịu sự chi phối của các nhân tố văn hóa xã hội, hoặc chủ yếu bị ảnh hường của các quá trình tự nhiên (thỏa mãn nhu cầu tính dục, thụ thai, thai nghén, sinh đẻ, cho con bú V.V.)
Chương III trình bày cơ cấu gia đình, nghĩa là những thành viên nào cấu thành gia đình, quan hộ qua lại giữa các thành viên dưới nhiều góc độ khác nhau Điểm nổi bật khi xét cơ cấu gia đình là dù nhìn từ góc độ nào các hình thái của gia đình đều rất đa dạng, nhiều hình nhiều vẻ
Chương IV dành riêng xem xét cơ cấu gia đình dưới một góc độ mới và hiện đang trở thành thời sự là quan hệ giới Đây là một cố gắng tiếp thu và vận dụng những thành tựu lý luận và thực nghiệm mới trên thế giới và ơ Việt Nam vào một lĩnh vực tương đối nhạy cảm và nhiều vấn đề - do tình ưạng phổ biến mà một số nhà nghiỏn cứu gọi là "mù giới" Yôu cầu đặi ra trong chương này là nêu lên và phân tích quan hệ giới trong gia đình, trước hết à chủ yếu ở quan hộ vợ chồng, cả những yếu tố tích cực lẫn tiêu cực cùa nổ.Nếu như các chương III và IV mổ xẻ và phân tích cơ cấu gia đình trong một thời điểm nào đó, và theo một nghĩa nhất định, xét nó ờ trạng thái tương đối tĩnh, thì chương V vận dụng một cách tiếp cận khác Đó là cách tiếp cân đường dời, nghĩa là khảo sát sự diễn biến, tiến hóa và thay đổi của gia đình theo thời gian Quan điểm động này đặt gia dinh trên trục thời gian, theo quá trình chung sống cùa các thành viên, nhằm nêu ra sự vận động của gia đình,
và là sự bổ sung cho quan điểm tĩnh của cách tiếp cận cấu trúc
Cũng liền mạch đó, chương VI đề cập đến sự biến đổi gia đình Nhưr;g khác với chương V chương này gắn sự thay đổi của gia dinh không phải vói đường đời các thành viên cá nhân, mà với những biến đổi kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội rộng lớn Nói cách khác, trong khi chương V xem xét íự vận động, thay đổi của gia đình ở cấp độ vi mô, thì chương VI - ớ sự gàn lién các cấp độ vi mô với vĩ mô Những vấn đề lý thuyết đặt ra khi nghicn cứu :ự biến dổi gia đình được nêu lên để đúc rút những bài học về phương pháp luậr
Trang 11Cuối cùng, chương VII trình bày một sô cách tiếp cận lý thuyêì chú yếu trong nghiên cứu xã hội học gia đình Dựa trên cơ sờ niềm tin rằng lý thuyết chỉ có giá trị khi nó giúp lý giải và cắt nghĩa những hiện tượng thực nghiệm, người viết đã đưa ra các lý thuyết khác nhau về đời sống gia đình trong suốt cuốn sách Chương VII này dành riêng đê giới thiệu những định hướng lý thuyết bao quát, rộng lớn về bản chất gia đình, mang tầm và tính chất triết
lý Các định hướng đó bao trùm và chi phối cách xây dựng, phát triển, kiếm nghiệm, hiệu chỉnh, hoặc bác bỏ những lý thuyết cụ thè
Như vậy, cuốn sách đi dần từ những chù đề tương đối đơn giản đến phức hợp của gia đình theo quan điểm xã hội học Tuy nhiên, các chương được viết thành những đơn vị độc lập; do vậy, tùy theo nhu cầu của mình, người đọc có thổ chọn đọc bát kỳ chương nào, không nhất thiết phái theo đúng trình tự của sách Cuối mỗi chương đều có phần tóm tắt của nó, dặt trong ô hlnh chữ nhật dưới nhan đề "Điểm lại những khái niệm then chốt và nội dung chính" để người đọc dễ nắm bắt những ý chủ yếu và khái niệm quan trọng Sau hết, ở cuối sách có giới thiệu danh mục tài liệu đọc thêm nhằm giúp người đọc có ý niộm về việc mờ rộng phạm vi đọc của mình ra ngoài cuốn sách này, và đồng thời làm quen với những quan điểm khác Tuy nhiên, danh mục này rất hạn hẹp, tất nhiên không phải do thiếu sách báo mà
vì điều kiện tiếp cận tài liệu nước ngoài ở ta còn nhiều khó khãn, và nhất là đông đảo sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chúng ta chưa quen hoặc không ham đọc Một danh sách dài rất có thổ gây cảm giác choáng ngợp, ngại và sợ đọc Theo thông lệ quốc tế, danh mục tài liêu đọc gồm hai loại: một loại được chỉ định, nghĩa là người học nhất thiết cần đọc để nắm được nội dung cơ bản của một học phần, và loại kia thì mang tính chất gợi ý
và tùy chọn Độc giả nào quan tâm và muốn đọc thêm, thì có thể dựa vào danh mục gợi ý tài liệu tham khảo, hoặc nhiểu hơn nữa thì tìm đọc theo mục sách báo trích dẫn
Trước hết và chù yếu dành cho sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành xã hội học, nhưng cuốn sách này không chỉ nhằm ricng vào những người đọc đó Hy vọng rằng nó cũng có thể giúp ích cho những nhà nghiên cứu quan tâm đến gia đình, những ai muốn tiếp cận các thành tựu nghiên cứu gần đây ờ một số nước trên thế giới, và mong muốn thay đổi lình vực nghiên cứu này ở ta để đưa nó tiếp cận quỹ đạo chung của giới xã ịiội học gia đình quốc tế
Do trình độ và khả năng người viết có hạn, cuốn sách không tránh khỏi thiếu sót Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc
Trang 12Chương I
ĐỊNH NGHĨA GIA ĐÌNH
Có thế gặp rất nhiểu định nghĩa về gia đình (cùa nhà luật học kinh tê học hay xã hội học, của Tổng cục Thống ké khi điều tra dân sò cùa nước này
so với một nước khác, V.V.), và những định nghĩa đổ rất khác nhau "Các nhà
xã hội học và nhân học đã tranh cãi hàng chục năm nay về cách I1ÕI1 định nghĩa gia dinh như thế nào ( ) Có nhiều loại đơn vị xã hội trông dường như
giống gia dinh, nhưng lại không khớp với bất kỳ định nghĩa cụ the nào vé nó" (Goodc, 1982:8) Sự khác nhau này không chỉ do quan diềm các h nhìn nhận của người định nghĩa, mù còn do một thực tẽ' là: gia dinh gắn chặt với những nhân tố văn hóa xã hội nhất định
Như thế, quan niệm vé gia đình trong một xã hội này khác với quan niệm gia đình ờ xã hội kia “Các xã hội và nén vân hóa khác nhau có Iiliững quy tắc khác nhau vẻ việc nên tính ai là người trong gia đình và quan hệ cụ thể giữa các thành viên" (Steel et al-, 2000:10) Không có định nghĩa phổ biến, có thể áp dụng và được chấp nhận phổ hiến Ngay trong nội bộ một xã hội, một nén vãn hóa, quan niệm vé gia đình cỏ the thay dổi từ nhóm này sang nhóm khác, từ nơi này sang nơi khác, và từ thời này sang thời kia
Ví dụ, người Kinh ờ Đồng bằng sông Hóng cho đến tận cuối những năm 1980 vẫn không thừa nhận tình trạng phụ nữ "không chổng mà chửa",
dù rằng có thô không còn nữa tục "gọt tóc hỏi vôi" hay "thà bò chuối Irõi sông" vốn dược áp dụng cho đến tận máy chục năm dầu the ký XX (Pham Van Bich 1999:37) Trong thời kỳ 1960-1989 những phụ nữ như ihè thường
bị phê phán gay gát; nếu họ là cán bộ còng nhãn viên nhà nước, thi họ phái chịu sự trừng phạt nghiêm khắc Họ buộc phái viết bán kiểm điểm, ihưa nhận mình đã quan hệ tính dục bất chính, có con ngoài giá thú, v.v rồi đọc bàn kiểm điểm trước mặt dồng nghiệp trong một cuộc họp dể nghe đồng nghiộp phê phán Cuối cùng họ bị thù trưởng và cơ quan cảnh cáo, yêu cầu phải chấm dirt quan hộ tính dục trước hôn nliftn (Hiebert 1994) Nhưng sò lượng phụ nữ khòng chổng do hậu quả cuộc chiến tranh chống Mỹ quá lón kết hợp với điều kiện kinh tế khó khăn, và nhất là vai trò không thể ihay thê cùa gia đình trong đời sống con rmười đã dẫn đến tình trạng gọi là "xin con" (Le Nham, 1994) Nhiều phụ nữ trong số này trờ thành người mẹ dơn thân;
họ khóng lấy chổng nhưng có con và nuôi con một mình
Trang 13ĐAy có phải một gia dinh không? Xác định họ là gia đình hay khòng có
V n g líũ rất quan trọng, không chỉ với những ngư ời hoạch định chính sá c h ,
ma cả với nhà xã hội học và có hệ quả kinh tê' xã hội rất phức tạp Nếu nhà hoạch định chính sách không thừa nhận đâv là gia dinh, thì ngay dù họ khỏng trực tiếp trừng phạt những neười mẹ này, mẹ con những phụ nữ đó sẽ vâp plríi bao diều phân biệt đối xứ (khỏng dược phân nhà, không khai sinh, khòníỉ tem phiếu, không hộ khẩu, V.V.) Nếu nhà xã hội học không thừa nhận một nhóm chỉ gổin mẹ và con là gia đình, thì họ sẽ bỏ qua không nghiên cứu những hình thái gia đình phi truyền thống này, mà chi lìm hiếu các hình thái quen thuộc, và từ đó di đến những két luận không đáy dù hoặc klìóng chính xác vé gia dinh nói chung
Turc tế mây năm gần đây cho thấy, chính sách cùa nhà nước đối với những người mẹ dơn thân và con cái họ dã và đang thay đổi theo hướng chãp nhận; Jư luận và thái độ xã hội với họ cũng bớt nghicm khắc hưii Nghĩa là định nghĩa về gia dinh của người Kinh ờ dây dã thay dổi khác đi so với quan niệm truyền thống
Từ những giới thuyết trên dây, có thể định nghĩa gia dinh người Kinh ở Việt Nam vào thời diêm này (đầu thế kỷ XXI) là một nhóm người có quan
hç hỏn nhăn hoặc huyết ihống với nhau, thường chung sống và hợp tác kinh
tê với nhau để thỏa mãn những nhu cầu cơ bàn trong cuộc sòng của họ về: sinh đỉ và nuôi dạy con cái, chăm sóc người già và người ốm v.v Dưới dạng phổ b.ến nhất hiện nay (vé mặt thống kê chứ khòng phủi về mặt chuẩn mực đạo đức), gia đình người Kinh bao gồm thành vi fin của hai giới nam và nữ,
có cor đò hoặc con nuôi
Mnrng cần lưu ý răng nhiều hình thái gia dinh khác nhau đang nổi lên,
và rất có thể chúng dã và dang thách thức định nghĩa trồn dây vổ gia dinh (ví
dụ gia đình mẹ dơn Ihân nói trên), đòi hỏi nó phái thay đổi
Như trên đã nêu, gia đình được nhiều khoa học khác nhau xác định và quan -âm nghiên cứu, và xã hội học là một trong số đó Sau khi dịnh nghĩa gia đ';íih người Kinh ờ Việt Nam, hây giờ chúng ta hãy xct xem có gì khác biệt trong cách xã hội học tiếp cận gia đình
Trang 14ĐIỂM lại n h ữ n g khái niệm t h e n c h ố t và nội d u n g ch ín h
Không có định nghĩa phổ biến về gia đình do gia đình hết sức đa dạng theo thời gian và không gian Gia đình người Kinh ờ Việt Nam hiện nay ỉà một nhóm người có quan hệ hỏn nhân hoặc huyết thống với nhau, thường chung sông và hợp tác kinh tê với nhau đế thỏa mãn những nhu cầu cơ bán trong cuộc sống của họ về: sinh đẻ và nuỏi dạy con cái, chăm sóc người già và người ốm v.v Dạng phổ biến nhất cho tới nay của gia đình người Kinh bao gồm thành viồn cùa hai giới, có con đẻ hoặc con nuôi
Trang 15Chương II
QUAN ĐIỂM XÃ HỘÍ HỌC VỀ GIA ĐÌNH
Niicu nhà xã hội học coi gia đình là hòn dá táng của xã hội theo nghĩa
nó là cơn vị cơ bàn của tổ chức xã hội, là một hộ phận không thổ thiếu của
xã hiội :on người, và khó lòng hình duna xã hội con người sẽ vận hành ra sao nếũ th e u gia đình Nói như Hồ Chủ tịch, "Gia dinh là tế bào của xã hội".Tiy gia đình có tầm quan trọng như vậy, nhưng việc nghiên cứu gia đình thường gặp nhiều khó khăn Vấn đê nghièm trọng nhât cho bất cứ ai mưốin aghiên cứu gia đình là ờ chỗ mọi người đều quá quen thuộc với chủ đề này iv.ỗi người chúng ta ít nhất có một gia đình, nơi ta sinh ra và lớn lên, nơi thườmg có cha mẹ, anh chị em ta, và được các nhà xã hội học gọi là gia dinh xuất thân, hay gia đình định hướng Nếu khi lớn lèn chúng ta lấy vợ lấy chổn g, sinh con đè cái, thì chúng ta biết thêm một hình thái nữa mà các nhà
xã h ồ i 1ỌC gọi là gia đình sinh đè
Sị quen biết này thực sự là một trờ ngại: khi đã là một thành viên trong gia (Hình, ihật khó giữ tư cách người ngoài để nghiên cứu Hoặc là người ta cho rằng họ đã biết đầy đủ vẻ nó, nên không còn sự tò mò cần thiết để tìm hiểu céc gia đình khác, và các gia đình khác cũng na ná như gia đình mình Hoặc: người ta có xu hướng cho rằng gia đình mình là chuẩn cho các gia đình khác (ví dụ có người nói "Sao bác chiều con thế, nhà tối thì không the thế được !"> Nói như một nhà nghiên cứu, "một trong những khó khãn lớn nhất củíi wiéc tìm hiểu gia đình là chính chúng ta", "vì chính bản thân chúng ta dính IÍJ sâu sắc vào các quan hệ gia đình, việc phùn tích khách quan quá khồnig dễ dàng Khi chúng ta đọc về các kiểu hành vi gia đình khác, ở các giai cấp hay xã hội khác, chúng ta dễ cảm thấy ràng chúng thật ngược đời hoặc không thích hợp" (Goodc, 1982:4)
'Tiong khi đó, tư duy xã hội học đòi hòi chúng ta phải nhìn các sự vật theo <cách mới, chứ không theo lối mòn quen thuộc Như nhà nghiên cứu tên tuổi /A Giddens (2001:2) đã nói, "một nhà xã hội học là người có khả nàng dứt na khỏi hoàn cảnh riông tư và đặt các sự vật vào một bối cành rộng hơn Công; việc xã hội học phụ thuộc vào cái mà tác già Mỹ c Wright Mills gọi
là ‘trỉí tường tượng xã hội h ọ c’ trong một câu nói nổi tiếng Trí tướng tượng
xã h ô i học trước hết đòi hỏi ta vượt khỏi những nếp mòn quen thuộc trong đời Síống hàng ngày của chúng ta để nhìn chúng theo cách mới"
Trang 16Nói cách khác, để vượt qua khó khăn này sinh (Jo quá quen biòt đừi '.ỏng gia dinh, nhà nghiên cứu cần rèn luyện trí tướns tượng xã hội học Nó giúp nhà nghiên cứu thoát khỏi cách nhìn riêng iư cá nhân de nhìn ra mối licn hệ giữa kinh nghiêm cá nhãn và sự kiện xã hội Một khi nhà xã hội học dạt được điểu đó, họ sẽ thííy công việc cùa mình thật lý thú "Điều đáng mé hồn của xã hội học là ờ chỗ cách nhìn của nó giúp ta phát hiện ra dưứi ánh sáng mới chính thế giới mà chúng ta sông suốt dời ( ) Sự thông thái cùa xã hội học chính là ờ chỗ các sự vật không đúng như vỏ ngoài của chúng" (Bcrger 1963:32-34) Tóm lại nhiều người nghĩ mình "quá quen biẽt" đời sòng gia đình, và coi nó là dương nhiên, khỏi cán tìm hiểu Đè khắc phục tình trạng này nhà xã hội học cẩn từ bó sự "đương nhiên hóa” (Smart 2006:189-190) này, sao cho mọi tuyên bò rằng ai đó hiểu biết VC gia đinh dcu phải được kiểm chứng, và đế gia đình trở thành tiêu diểm cùa sự phân tích xã hội.
Thêm nữa, đời sông gia đình có liên quan dến nhiều hoạt động sinh lv
và thỏa mãn nhiều nhu cẩu tự nhiên cùa con người: tính dục, thụ thai, thai nghén, sinh con dè cái, và cho con bú, v.v và v.v Nhiều người có xu hướng cho ràng đời sông gia đình vì thế gắn với tự nhiên, chứ khòng phái là sán phẩm của một nền văn hóa nhất dịnh, một xã hội nào đó Quan diêm xã hội học thì một mặt cho rằng vì con người là một phần của tự nhiên, là sản phẩm của tự nhiên, nên tạ nhiên dóng vai trò nhất địnli trong hành vi con người Mật khác, xã hội học khảng định gia đình là một kiến tạo vãn hóa - xã hội, chứ không thuần túy bị chi phối bời những hiện tượng tự nhiên Do vậy gia dinh ờ xã hội này, hay một ncn vãn hóa này, của một nhóm này có thể rất
khác với gia đình của các xã hội, nền văn hóa và nhóm khác
Cuối cùng nhưng không kém phán quan trọng, từ xưa ờ một số xã hội người ta đã quan niộm ràng tình yêu và hỏn nhan cũng như dời sống gia đinh
là những chuyện riêng tư theo nghĩa rằng chúng dược tiến hành hoặc theo sờ thích cá nhân hoặc theo liền định cùa các thế lực siêu nhiên
Những người khác giói yêu nhau và kết hôn với nhau như thê nào? Trơng thần thoại Hy Lạp và La Mã người ta tin ràng có một vị thần gọi là thần tình yêu (Cupid, hay Amor, còn có tôn là Bros); vị Ihán này thư(mg được thổ hiện là một thanh niên trẻ bị bịt mắt với một chiếc cung tên Nếu thẩn bắn tên vào trái tim ai, thì nhữna người trúng tên ấy phải lòng nhau
ở Việt Nam và Trung Quốc thì có câu chuyện vể òng tơ bà nguyệt Họ
xe duyỏn các đỏi trai gái, buộc chỉ vào chàn những người này dè tạo nên sự gắn bó (ví dụ "Truyện Kiều" có các câu: "Tráng già độc địa làm sao, cầm
Trang 17dây chang lựa, buộc vào tự nhiên", và "Buộc chân thôi cũng xích thằng nhiệm trao").
Trong thời đại ngày nay, nhất là ờ những nơi lự do hôn nhân được thừa nhận, nhiều người cho rằng đời Sống gia đình cũa họ là sự lựa chọn
cá nhân, riêng tư của họ, chứ không bị chi phối bời bất kỳ nhân tô nào khác Ví dụ theo họ, việc tôi ycu ai lấy ai là do sờ thích cá nhân và sự lựa chọn riêng cùa tôi
Quan điểm xã hội học cho rằng không thế hiểu được hành vi con người nếu tách rời nó khỏi bối cảnh văn hóa xã hội rộng lớn hơn cụ thể là cẩn xét hành vi qua những phong tục tập quán, những quan niệm về đúng sai, V.V.;
và điều đó cũng đúng với xã hội học gia đình
Cách tiếp cận xã hội học xét xem các nhân tố xã hội nào định hướng, nhào nặn hay ảnh hưởng đốn những gì con người ta làm trong hôn nhân và gia đình Nghiên cứu xã hội học là để tìm ra cách thức mà các nền vãn hóa, các nhân tô' xã hội chi phối hôn nhân và đời sống gia dinh
Chúng ta thường không ý thức được rằng xã hội nhào nặn và chi phối chúng ta đến độ nào Thực ra, ngay những ý nghĩ, kỳ vọng, ước nguyện mà chúng ta cho là hết sức riêng tư vẫn bị chi phối bời xã hội và nền văn hóa nơi
ta sinh trưởng Ví dụ luẠt hôn nhân và gia đình Việt Nam quy định tuổi kết hôn, số người có thể kết hôn (một vợ một chổng), kế hoạch hóa gia đình (sinh mấy con, khi nào sinh, khoảng cách giữa các lần sinh), v.v
Nhưng hầu hết cái gọi là sự kiểm soát xã hội đối với hôn nhân và gia đình khổng rõ rệt như trên, và chúng ta thường tuân theo chúng mà không có
ý thức vẻ điều đó Xã hội học gia đình cô' gắng làm rõ những cơ c h ế và tác động của sự kiểm soát xã hội khổng dễ thấy này
Đê làm rõ những điểu nói trên, xin nêu một vài ví dụ Nhiều người hiồn nay có thiên hướng cho rằng yêu là tình cảm tự nhiẻn và phổ biến của con người ta Thực ra, tình yôu khỏng phải một tình cảm mà hầu hết nhân loại đều nếm trải, và không phải bao giờ cũng gắn với hôn nhân
Nhiều nền văn hóa không biết đến cái gọi là tình yêu, còn ờ phương Tây, khái niộm tình yôu chỉ gắn với hôn nhân từ thời kỳ được gọi là "hiện đại” (khoảng thế kỷ XVIII tới nay) Vào thời Trung cổ, người phương Tây chù yếu kết hôn để giữ tài sản, tước vị trong gia đình, để có con cái làm việc trên vườn đất của gia đình, v.v Khi đã kết hỏn, đôi khi người ta nảy sinh tình cảin gán bó, gần gũi với nhau, nhưng điều đó xày ra sau hơn là trước hỏn nhíln Một số người ngoại tình, nhưng phỉ eó với nhau một chút tìnỉrcàTĩT nào
Trang 18đó mà ta có thể gọi là tình yêu Tinh yêu lãng mạn xuất hiện trong giới qu> tộc, và không phải trong hôn nhân, mà trong những vụ ngoại tình Với cá người giàu lẫn kẻ nghèo, gia đinh và họ hàng quyết định việc hỏn nhũn, các đương sự chi có rất ít hoặc khòng có tiếng nói trong vấn đé hệ trọng này Quan hệ vợ chồng trong giai cấp quý tộc rất lạnh lùng; những gia đình giàu
có thường nhà cao cửa rộng, vợ chồng mỗi người có một phòng riêng, thậm chí kẻ hầu người hạ riêng (Giddens, 1989:8)
Như vậy, cả tình yêu lãng mạn lẫn mối liên hệ của nó với hòn nhân không phải một hằng số cho sẩn và nhất thành bất biến trong cuộc sống con người, mà do các nhân tô' vãn hóa xã hội nhào nặn Xã hội học nghiên cứu chính các nhân tố này Hầu hết chúng ta nhìn cuộc sống xã hội từ những điểu quen thuộc trong cuộc sống của chính chúng ta Xã hội học chứng minh rằng cần xem xét rộng hơn để hiểu vì sao chúng ta hành động như thế này hay thế khác
Lấy ví dụ, anh A yêu và chọn chị B làm vợ Theo quan điểm xã hội học, điểu gì đang diễn ra? Cần nhận thấy rằng mặc dù hai đương sự cho rằng đày
là việc riêng tư, xuất phát từ nguyện vọng riêng và tự do cá nhân, song sự lựa chọn được tiến hành trong những ranh giới khá hạn hẹp nhưng không dễ dàng nhận thấy đối với họ
Những ranh giới này do tư cách thành viên của họ trong một nhổrn xã hội nhất định tạo ra Là một người Kinh, họ không dễ kết hỏn với người thuộc tộc khác trong hơn 50 tộc người trên đất nước Việt Nam Họ thường không chọn người quá chênh lệch so với họ về tài sản, địa vị xã hội, tuổi tác, nghề nghiệp, v.v.
Tóm lại, khi lựa chọn, họ đáp úmg những điều mà người xung quanh, nhất là bố mẹ, họ hàng, bạn bè, v.v kỳ vọng ở họ Nói cách khác, như hầu hết chúng ta, anh.A và chị B lựa chọn nhau theo những kênh tuyến xã hội đã xác lập trước khi họ sinh ra Lớn lên trong xã hội này, họ đã nhập tâm những
kỳ vọng ấy, và cho rằng sự lựa chọn của họ là "làm theo những gì đương nhiên", những điều không cần giải thích Chỉ khi có sự vi phạm những kv vọng, người ta mới thấy cần giải thích
Nhưng thực ra, họ không nhận thấy rằng quá trình họ học và nhập tâm các kỳ vọng đã đạt ra những giới hạn cho sự lựa chọn của họ Theo quan điểm xã hội học, cả sự tuân theo các kỳ vọng lẫn sự vi phạm chúng đều cần giải thích, và cả hai đều là kết quả của các quá trình xã hội mà các đương sự khó thấy Nhiộm vụ của xã hội học là làm rõ những quá trình này
Trang 19Sau khi lốt nghiệp, anh A và chị B đãng ký kết hôn làm lề cưới linh đình với tiệc cưới được dặt ở một nhà hàna, có nhiểu hoa, khách khứa, phong
bì và nhạc, v.v Họ cho rằng sự lựa chọn cùa họ là tự do Song họ không thấy tác động cùa các nhân tỏ' văn hóa - xã hội đến sự lựa chọn của họ như: quy định của luật pháp vé chế độ một vợ một chổng; những kỳ vọng của xã hội
về thời đ iể m kết hôn (sau khi tốt ng h iệp ch ứ khô n g phải trước đó, V.V.); ảnh hưởng của thành phần xã hội về tôn giáo, học vấn và nghồ nghiệp, v.v của cha mẹ cũng như của chính họ đến phạm vi lựa chọn của họ
Một ví dụ khác: khi có tự do hôn nhân, và khi tình yOu dược nhiều người coi là cơ sở duy nhất chấp nhận được dê kết hôn thì họ cho ràng tình yêu phái không tính toán, không vụ lợi, mà chi nghe theo một tiếng gọi duy nhất: tiếng gọi của trái tim, y như trong tiểu thuyết và phim ảnh (ví dụ bộ phim về thiên tình sử "Titanic") Họ không tin, và khòng chấp nhận rằng tính toán hơn thiệt, so sánh được mất, v.v là điều có thể và vần xảy ra trong hôn nhân và gia đình Như ta sẽ thấy sau đáy, thực tế khòng phải bao giờ cũns vậy Nói cách khác, tình yêu là một hiện tượng xã hội Nó có sự tính toán của nó do các nhân tố xã hội chi phối Xã hội học hôn nhân và gia đinh đã chứng minh rằng thực tế không phải bao giờ cũng khớp với quan niệm lãng mạn vể tình yêu
Tóm lại, quan diểm xã hội học về hôn nhân và gia đình đòi hỏi phải nhìn hỏn nhân và đời sống gia đình như là những kiến tạo xã hội, nghĩa là những điéu do xã hội tạo ra, và xem xét hôn nhân và gia đình dưới ánh sáng của các nhân tô’ xã hội, tức là tìm xem những nhân tố xã hội chi phôi hôn nhân và đời sống gia đình của các cá nhân như thế nào dù rằng họ coi đó là những điều riêng tư và tự do Xã hội học cũng làm rõ các nhân tố này tuy rằng chúng không dẻ thấy đối với các đương sự
Nhưng quan điểm xã hội học về gia đình, giống như trong mọi lĩnh vực
xã hội học khác, còn đòi hỏi nhà nghiên cứu có một lập trường mà Max
W eber gọi là "trung lập vé mặt giá trị" (value-free), hay trung lập về mặt đạo đức Điều này có nghĩa là nhà xã hội học cần cô' gáng giữ (hái độ khách quan đối với đối tượng nghiôn cứu của mình, dù đó là những người vợ người chổng mẫu mực vổ mặt đạo đức, hay những kẻ "ông ăn chả, bà ãn nem", chổng nãm thô bày thiếp, vợ dăm ba nhân tinh, v.v Không nôn và không thể bàv tỏ thái độ đạo đức quá lộ liẻu, vì trước hết cần phan biệt hai cách tiếp cận m à trong xã hội học gọi là thực nghiệm và chuẩn mực khi nghiên cứu
%ia đình
Cách tiếp cận chuẩn mực (normative approach) là dựa trên các truyền thông đạo đức, tôn giáo và chính trị Hầu hết các xã hội đểu có những quy
Trang 20phạm, chuẩn mực đạo đức, các giáo lý và kổ cả luật pháp dế quy định và thế chế hóa hành vi gia đình Cụ thể là có những quy định về tuổi kết hôn chọn người cho hôn nhân như thế nào, giới hạn quan hỏ chì trong hôn nhãn ra sao, quyền lợi và nghĩa vụ vợ chồng, làm cha làm mẹ, v.v và v.v Tóm lại, cách tiếp cận chuẩn mực đối với gia đình đề cập đến những khía cạnh chuẩn mực của gia đình, những gì nên và phải làm, những gì được coi là tốt và đúng, xấu và sai.
Khác với cách tiếp cận chuẩn mực, cách tiếp cận thực nghiệm (empirical approach) nhàm trả lời cho những câu hỏi về gia đình trong thực
tế Những câu trà lời này không thể suy rút ra từ những quy phạm dạo đức có tính chuẩn mực và những điều đúng sai, vì thường có khác biệt và khoáng cách giữa chuẩn mực với thực tế Ví dụ, luật hồn nhân và gia đình Việt Nam quy định tuổi kết hôn cho phcp là nam 20 và nữ 18, nhưng trong thực tê nhiều người kết hôn sớm hoặc muộn hơn thế nhiều Quy phạm đòi hòi vợ chồng phải thương yêu nhau cho đến khi nhắm mắt xuôi tay, song trong thực
tế ta thấy, có hiện tượng bạo lực gia đình (đánh vợ đập con, V.V.), vợ chòng
bỏ nhau, cuộc hỏn nhân giữa đường đứt gánh Những câu hỏi như: "Lứa tuổi kết hôn lần đầu trung bình là bao nhiêu? Người ta thường chọn vợ chọn chồng trong thực tế là như thế nào? Tinh trạng bạo lực gia đình ra sao?" v.v
và v.v chỉ có thổ được trả lời bằng cách nghiên cứu gia đình như nó tổn tại trong thực tế (chứ không phải như nó cần phài có theo chuẩn mực), bàng thực nghiệm, tức là bằng thu thập thòng tin và dữ liệu có hệ thống Cách tiếp cận thực nghiệm là dựa trôn cơ sở thu thập và phân tích dữ liệu để trả lời cho những câu hỏi dó
Nhầ xã hội học cần chú ý đến cả những chuẩn mực lẫn thực tế Tìm hiểu những chuẩn mực và lý tường về gia đình sẽ giúp họ ít nhiều nắm đưực những chỉ dẫn sơ lược cho hành vi, và biết được rằng nếu một người vi phạm chuẩn mực hay lý tưởng, anh (chị) ta dỗ che giấu điều đó nếu có thể hoăc tìm cách bao biện Nhưng nhà xã hội học không nên phán xét đối tương nghiên cứu của mình nếu anh (chị) ta vi phạm những chuẩn mực và lý tưỏng Bày tỏ thái độ quá lộ liễu đối với đối tượng nghiên cứu của mình là lẵn lộn hai cách tiếp cận trên Việc này sẽ làm mất tính khách quan trong ngHẽn cứu Nhiệm vụ đặt ra với nhà xã hội học chủ yếu không phải phê phán đôi tượng nghiên cứu của rrùnh về mặt đạo đức, không phải lên "án ai đó là vô đạo đức Phê phán và lên án thì không khó, ai cũng có thể làm được việc ây, thậm chí người khác có thể còn làm tốt hơn nhà xã hội học Việc ấy có the nhà đạo đức học làm tốt hơn, và kẻ đạo đức giả làm giỏi hơn nhà xã hội lọc
Trang 21Nhưng nhà xã hội học có thể thực hiện một việc mà những người khác khó lòng làm dược: đó là tìm hiểu xem và đưa ra tri thức đổ trả lời những càu hỏi quan trọng như: đối tượng nghiên cứu của họ có biết một hành vi nào đấy là
vô đạo đức không? Nếu không biết, thì vì sao không? Nếu có biết, thì vì sao
họ biết mà vẫn làm những việc vò đạo đức đó?
Sau nữa, hôn nhân và gia đình ngày nay ờ nhiều xã hội là lĩnh vực riêng
tư cùa con người Cư dân được nghiên cứu đã đồng ý hợp tác với nhà xã hội học hằng cách dành thì giờ và công sức trả lời các câu hỏi của nhà nghiên cứu, và cung cấp thòng tin cho nhà nghiên cứu, v.v Họ kỳ vọng nhà xã hội học giữ kín thông tin riẻng tư cho họ, và không làm gì tác hại đến họ Đó cũng chính là một trong những quv tắc nghề nghiệp của nhà xã hội học Nếu lên án đối tượng nghiên cứu của mình về mặt đạo đức, nhà xã hội học
có thể vi phạm quy tắc đạo đức nghể nghiệp này
Nói như thế không có nghĩa rằng nhà xã hội học bàng quan, thờ ơ với những hiộn tượng vi phạm đạo đức và luật pháp trong đời sống hôn nhan và gia đình mà họ nghiôn cứu Ai cũng có lập trường, ý kiến, quan diểm của mình về một chủ đề nào đó, và nhà xã hội học không hề là một ngoại lệ Nhưng nhà xã hội học nên bày tỏ thái độ của mình ớ chỗ khác, không phải khi dang khai thác thông tin từ đối tượng, không phải trong các ấn phẩm nghiôn cứu của mình, và không nên biến ấn phẩm thành những bài rao giảng
về đạo đức
6>lê?M l ạ i n h ữ n g k h á i niệm t h e n CHỐrvk NỔI DUNG CHÍNH
Các nhà xã hội học nhìn gia đình như một kiến tạo xã hội theo hai nghĩa Thứ nhất, họ coi những hiện tượng và quá trình trong đời sống gia đình không hoàn toàn mang tính chất riêng tư, cá nhản, mà chịu sự chi phối của các nhân tố xã hội Thứ hai, tuy trong gia đình diễn ra nhiều hiện tượng và quá trình tự nhiên, sinh học (ví dụ, tính dục, thụ thai, thai nghén, sinh con đẻ cái và cho con bú, V.V.), nhưng các nhân tô' văn hóa xã hôi có vai trò rất lớn
Khr nghiên cứu gia đình, nhà xã hội học nên phân biệt rõ ràng những chuẩn mực về đời sống gia đình với gia đình như nó hiện có trong thực tế,
và tránh lẫn lộn hai điểu này
Trang 22Ch ương UI
Sự DA DẠNG CỦA CÁC HÌNH THÁI GIA ĐÌNH■ •
Trong một chương trước, chúng ta đã nói dcn khó khãn trong \ iệc định nghĩa gia dinh Một trong những nguyên nhân gây nên khó khãn đó là do gia đình có vô sô' hình thái rất nhiều hlnh nhiéu vẻ Dựa trẽn két quà nghiên cứu
so sánh của mình, nhiều nhà xã hội học cho rằng các hình thái của đời sống gia đinh ngay trong một xã hội hết sức da dạng, muỏn hình muôn vẻ đến mức có lẽ không thể nói rằng có một khái niệm chung gọi là gia đình Sự đa dạng ấy khiến việc định nghĩa gia đình không khác gì "trói voi bỏ rọ" Sau đây chúng ta sẽ thấy cụ the sự muôn màu muôn vè ày
Nói ví dụ, cùng ờ trên lãnh thổ một quốc gia thống nhất, nhưng gia dinh cùa người Kinh khác với gia đình người Thái: ngay trong nội bộ người Kinh, gia đình nông thôn khác với gia đình thành thị; cùng là gia đình nòng thôn người Kinh, nhung miền Bắc không giống với miền Nam, như tác già Đồ Thái Đồng (1991) dã cho thấy
Trong những xã hội đa sắc tộc và tôn giáo, gia đình càng đa dạng hơn nữa theo sắc tộc, tôn giáo, học vấn, nghề nghiôp, dịa vị kinh tế-xã hội, v.v
Chính vì thế, một sô tác gfả viết bằng tiếng Anh dé nghị phải dùng khái niệm gia đình ờ sô' nhiổu (families) để nắm bắt sự đa dạng đó, chứ không thê dùng sô' ít (family), vì khái niệm gia đình số ít hàm ý rằng có một mầu hình gia đình chung, phổ biến và duy nhất Có tác già thậm chí đề xuất bó luỏn khái niệm gia đình do cho rằng nó khống nắm bắl được các hình tliái đa dạng của đời sống gia dinh Nhiéu nhà nhAn học Ihường nói về "các nhóm thân tộc" (kinship groups) hơn là gia đình dể chỉ sự cực kỳ đa dạng vể gia đình ở các xã hội khác nhau Lý do là các nhóm này có duy nhất mội điểm chung: chúng được tạo nứn từ những người có quan hệ thân tộc với nhau do huyết thống hay hôn nhủn
Trong ngôn ngữ và hộ thống quan niệm cùa người Việt, không có sự phân biệt về sô' như tiếng Anh, nên chúng ta có thể nói chung về "gia đình", nhưng nên nhớ rằng các hình thái đời sống gia đình hct sức đa dạng Dưới đây chúng ta sẽ thấy các hình thái gia đình muôn màu muôn vẻ như thế nao
* Trước hết, xét theo sô thế hệ trong gia đình, chúng ta có thể phủn loại các gia đình như sau
Trang 23Gia đình hạt nhân
Đ(tfì vị gia đình nhỏ nhất được gọi là gia đình hạt nhãn, và bao gồm một cặp vợ chồng và con cái chưa kết hôn của họ Nó bao gồm chỉ hai thế hệ: cha mẹ và thế hệ con cái
Tên gọi gia đình hạt nhân có lẽ xuất phát từ sự vay mượn thuật ngữ của vật lý học, và vì vậy có những hạn chế gắn với tình trạng phát triển của vật lý học thời đicm ấy Cụ thể là vào thời điểm ấy, người ta tin rằng hạt nhân là đơn vị nhỏ nhất của vật chất; nhưng có lẽ vật lý học ngày nay không còn quan niệm như vậy nữa Ngay trong bản thân xã hội học, hiện ta thâv có những hình thái gia đình nhỏ hơn hình thái gọi là hạt nhân, chảng hạn gia đình (cha) mẹ đơn thân Tuy nhiên, thuật ngữ gia đình hạt nhân vẫn đang được sử dụng rộng rãi như là hình thái nhỏ nhất, và hiộn thời chúng ta cứ chấp nhận nó, trong khi chờ đợi những thuật ngữ mới chính xác hơn
Trong hình thái nhỏ nhất này, gia đình bao gồm ít nhất ba trục quan hệ
cơ bàn sau đây:
- Quan hệ vợ chồng;
- Quan hộ cha mẹ - con cái;
- và nếu gia đình có từ hai con trở lên, thì thêm trục quan hệ giữa con cái với nhau, tức là quan hệ anh chị em (Harris, 1983:35)
Cần phân biệt gia đình với cặp vợ chồng (còn gọi là cặp hôn nhân) Nếu hai người kết hôn hay chung ¿ống với nhau mà chưa hoặc không có con, họ
là một cặp hôn nhân, hay nôm na là cặp vợ chồng Đó không phải ià một gia đình; họ chỉ trở thành một gia đình khi họ có con Đây là sự phân biột cần lưu ý để tránh lẫn lộn hay quy giản thái quá về lý thuyết Một bài viết về những khía cạnh của sự biến đổi gia đình đăng trong cuốn sách "Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam" (Tương Lai, 1996) đã quy giản gia đình như vậy
Có thổ phân nhỏ hơn nữa ba trục quan hệ cơ bản trên đây để tiện phân tích, và phù hợp với hiện thực Ví dụ, khi áp dụng vào gia đình đa thẻ (nhiều vợ) ờ Việt Nam trước năm 1960, trục quan hệ vợ chổng có thổ và cần tách bạch ihành quan hộ chồng với vợ cả; và quan hệ chồng với vợ hai Bởi vì, tuy đây cùng là quan hộ hôn nhân giữa bên nam và bên nữ trong một hình thái gia đình, nhưng do quan niệm về vợ cả và vợ hai có khác nhau, vai trò khác nhau của họ, cũng như do tính chất phức tạp về tôn ti giữa các bà vợ, nên quan hệ giữa người chồng với vợ cả khác hẳn quan hệ của ông ta với vợ hai Không thể đánh đổng hai nhánh quan hộ này làm một
Trang 24Cũng vậy, có thô tách quan hệ cha mẹ con cái thành quan hệ cha với con trai, cha với con gái; mẹ với con trai, và mẹ với con gái Sự phân biệt này không chỉ cần thiết vì tính cụ thể trong nghiên cứu mà còn vì sự khác biệt về chất trong từng nhánh quan hệ.
Chẳng hạn, có những xã hội thích con trai hơn con gái, và thực thi (ập quán gọi là hôn nhân ờ nhà chồng, theo đó nam giới sau khi kết hỏn, van ớ lại nhà mình, còn phụ nữ sau kết hỏn thì rời gia đình góc, tức gia đình bô mẹ
đẻ, vè chung sống với gia đình nhà
chồng-Một số nhà nghiên cứu vạch ra rằng trong những xã hội như vậy, nhiều gia đình có sự phân biệt đối xử giữa con trai với con gái, và quan hệ giữa cha
mẹ với con trai và con gái của họ rất khác nhau Cụ thể nhiều người cha gần gũi và rất chiều "con gái rượu", trong khi rất nghicm khắc và xa cách với con trai Còn nhiểu người mẹ rất quý con trai
Một trong những lý do tạo nên thái độ người cha là như sau: con gái chỉ sống trong gia đình gốc một thời gian nhất định, rổi sẽ rời nhà đi lấy chồng, đáng được biệt đãi; trong khi con trai ớ lại nhà và rất có thể đe dọa địa vị của người cha, nên cần được đối xử nghiôm khác
Còn người mẹ lừ chỗ là người ngoài, bước chân về nhà chổng, nếu chỉ sinh con gái, rất có thể bị nhà chổng hắt hủi, ngược đãi; nếu sinh dược con trai, sẽ củng cố được địa vị cùa mình trong gia đình Hơn nữa, C011 tra là những nam giới duy nhất trong gia đình mà bà mẹ có thể gây ảnh hưưng (O'Harrow, 1995) Và cuối cùng, con trai lấy vợ SC đ ư a con dâu vào nhà, vừa
đỡ gánh nặng lao động phụ nữ mà mẹ chồng vãn đảm nhiệm trước đó, 'ừa thêm người dưới quyền cho mẹ chồng, qua đó nâng cao địa vị mẹ chồng.Trên đây là những kết quà nghicn cứu lý thú Chúng vừa mở mang cho chúng ta, và chứng tỏ sự cần thiết, tầm quan trọng cùa viêc tách bạch cụ thể trục quan hệ cha mẹ - con cái, vừa có thể làm dối lượng để nếu cần chúnị ta kiểm nghiệm trong những nghiồn cứu sau này
Trong gia đình hạt nhân có hai biến thể Một gọi là giơ đình dầy hi,
trong đó có đủ cả hai vợ chồng với con cái chưa kết hôn của họ Một bến thể khác của gia đình hạt nhân là gia đình có hai thế hộ (cha mẹ và con :ái chưa kết hôn), nhưng trong thế hệ thứ nhất (tức thế hệ cha mẹ), không đủ lai người của cặp vợ chồng, mà chỉ có một người (hoặc mẹ hoặc cha) do nhều nguyên nhân khác nhau (ly hôn, góa, hay đơn giàn là không hoặc chưa cết hôn mà có con, V.V.) Trong xã hội học trước đây, biến thê này gọi là "?ia đình không đầy đủ" (incomplete family), nhưng gần đây khái niệm này đã bị loại bỏ do hàm ý tiêu cực ngầm ẩn trong đó Thay vào đấy, người ta dừig
Trang 25khái niệm "gia dinh (cha) mẹ đơn thân'' (one-parent family, lone-parent
family, singlc-parent family).
Điém mạnh của gia đình hạt nhàn là ỡ chỏ nếu được thành lập do kết quà cùa tự do hỏn nhân và tình yêu, nó tạo ra nhiều lợi thế về tình cảm cho quan hệ vợ chổng và giảm khả năng mâu thuẫn thố hộ Nhưng mặt yếu của
nó là dẻ bị tác động cùa những khó khăn, khùng hoàng trong các giai đoạn của đường đời mà nhà nghiên cứu A.F Robertson (1991) gọi là "sức ép tái sinh sản"
(ỉia đình mớ rộng
Những đơn vị lớn hơn gia đình hạt nhân thường (lược gọi một cách lòng lèo là gia đình mờ rộng Nó có thể là sự mờ rộng hạt nhân cơ bản theo chiều dọc, ví dụ bao gồm cả các thành viên thế hộ thứ ba (như bò mẹ chổng hoặc
bố mẹ vợ) hay theo chiều ngang để gồm cả thành viên của thế hệ ngang hàng với người vợ hoặc người chồng (cụ thể là anh chị em chồng, hay vợ
hai, vợ ba, V.V.) Gia đình m ờ rộng có ưu th ế trong việc tập trung nhân lực
cho sàn xuất gia đình, và các thế hệ có the giúp đỡ lản nhau vượt qua những khó khăn trong đường đời, khắc phục "sức ép tái sinh sàn" Tuy nhiên, loại hình gia đình này dẻ dản đến khác biệl và mâu thuản thế hộ, và đổ duy trì nó, cần có nỗ lực rất lớn của các thành viên đổ vượt qua xu hướng chia tách
Gia đình góc
Tuy nhiên khi về nông thòn Việt Nam, ta có thế gặp những gia đình có
cơ cấu gồm cha mẹ già sống với một trong nhiều con trai của họ, cùng với
vợ con cùa anh ta Đây là gia đình gì? Có phải gia đình mờ rộng hay không? Không, vì hình thái này có tôi đa hai cặp hôn nhũn (bố mẹ già và vợ chổng anh con trai), và không phức tạp như hình thái mờ rộng Irong đó bỏ mẹ già sống với vài ba cặp vợ chồng các con trai (đây mới là gia đình mở rộng được dịnh nghĩa chạt chẽ) Nhà nghicn cứu Đỗ Thái Đổng (1991) gọi đây là gia dinh nừa hạt nhân, nhưng theo tồi, chính xác hơn nồn gọi bằng cái tên mà nhà nghiên cứu người Pháp Ferederic Le Play (1806-1882) đặt là gia dinh gốc (stem family)
Nói cách khác, cần phân biệt gia đình mở rộng với gia đình gốc Sự phíìn biệt này rất cần thiết vừa do sự khác biệt thật sự giữa chúng, vừa do lợi ích về phương pháp luận: nó giúp ta tránh lối tư duy lưỡng phân, ncm tất cả những gia đình không phải hạt nhản vào một bị chung của gia đình mỡ rộng,
và bõ qua những khác biột giữa các gia đình phi hạt nhân này
Trang 26* Nốu xét cơ cấu gia đình theo cách tính dòng dõi, ta có các loại gia đình sau đây: gia đình đơn hộ (cụ thể là phụ hệ và mẫu hệ) và lưỡng hệ Trong gia đình đơn hệ, những người là vợ là chổng với nhau thường không được coi là thân tộc ờ cùng một cách như những người cùng huyết thống Chỉ một trong hai bô' raẹ đỏ thuộc cùng một nhóm dòng dõi với con cái Nam nữ thường tìm bạn kết hỏn ờ ngoài phạm vi những thân tộc nhát định,
và điều này có ưu thế là cho phép nhóm những người cùng dòng dõi (descent group) thành lập liên minh với những nhóm khác
(ỉỉa dinh phụ hệ
Đứa trẻ mới sinh ra được tính là dòng dõi cùa người đàn ông (tức bố nó), và mang họ bố Gia đình xuất thân của hố được coi là gần gũi hơn, và người Kinh ở Việt Nam gọi là bên nội còn gia dinh xuất thân của người mẹ
gọi là bên ngoại
Gia đình mẫu hệ
Con cái tính theo dòng dõi người phụ nữ (tức người mẹ), và mang họ
mẹ Điều cẩn lưu ý là trong xã hội mầu hộ, vần có thể có tình trạng là nam giới nắm địa vị chính trị và kiểm soát các nguồn lực kinh tế Thường thì con cái gắn với anh (em) trai của mẹ, và quyền lực cùng địa vị trong xã hội do nam giới nắm giữ thì được truyén qua người phụ nữ Tóm lại, hệ thông mấu
hệ có xu hướng phức tạp hơn phụ hệ
G ia đình lưỡng hệ (song phương)
»Con cái được tính theo dòng dõi và mang họ của cả bố lẫn mẹ
Thực tế, nhiều hộ thống thân tộc tổ chức quan hệ họ hàng ở cả đằng bô lẫn đằng mẹ, dù rằng quyén lợi, tên họ và tư cách thành viên nhóm thườrig tính theo một bên Gia đình người Kinh ờ Đồng bằng sông Hổng tuy là phụ
hệ nhưng họ ngoại vẫn được coi trọng: mặc dù có sự phân biệt rõ ràng giửa
em trai bố (được gọi bằng chú) với em trai mẹ (cậu), em gái bố (cô) và em gái mẹ (dì), và giữa họ nội với họ ngoại (Luong Van Hy, 1989), nhưng ngươi
ta vãn nhớ câu ca: "Sảy cha còn chú, sảy mẹ bú dì" Phụ nữ sau khi lấy
chồng vẫn giữ quan hệ với gia đình gốc cùa mình, và giữ họ của mình Chị
vẫn đua con về nhà bố mẹ đẻ dự giỗ chạp, cưới xin, ma chay, v.v (L.e Thi
Que, 1986:20) Như vậy, chế độ phụ hệ trong gia đình người Kinh Đồr.g
bằng sông Hồng không phải là tuyệt đối mà có thừa nhận vai trò cùa họ
hàng bcn ngoại (Luong Van Hv, 1989:744-749)
Trang 27* Nếu xét cơ cấu gia đình theo sự phán chia quyén lực irong nội bộ các thành viên, ta có các loại hình gia đình như sau:
Gia dinh phụ quyền
Quyền lực, ticng nói cao nhất trong nhà thuộc về người cha hay người đàn ông nhiều tuổi nhất
Gia dinh mảu quyền
Người mẹ hay người phụ nữ nhiều tuổi nhất trong nhà cổ tiếng nói và
uy quyển cao nhất Hình thái gia đình này phổ biến ờ một số tộc ít người vùng Tây Nguycn của Việt Nam
* Sau khi cưới, cập vợ chổng trẻ cần sống ờ đàu dó Quyêt dịnh về nơi ờ của cặp vợ chổng bị chi phối bời phong tục hay những suy tính thực tiền về chính trị kinh tế, văn hóa cùa một xã hội nào đó Những quy tắc về nơi cư trú có tác động mạnh đến cơ cấu gia đình theo nhiéu nghĩa Thứ nhất, chúng cho phép vợ chồng thường xuyôn tiếp xúc với nhau, khác với loại hình gọi là hôn nhân đến thảm nhau (visiting marriage) (Pham Van Bich, 1999:174-176)
Thử hai, chúng quyết định ai có liên hệ với ai sau khi cưới Ví dụ, nếu một nam giới chuyển đến sống với vợ và họ hàng của chị, anh ta dẻ thường tiếp' xúc với những nhân vật có thế lực của bèn vợ; còn nếu người phụ nữ về sống bôn chổng, chị sẽ một mình giữa họ hàng nhà chổng Thứ ba, các quy tác về nơi cư trú tác động đến việc một trong hai bcn gia dinh sẽ mất đi một nhân lực lao động, và do đó dẫn đốn tục thách cưới hoặc đòi của hồi mòn, v.v
Thứ tư, có những khác biệt đáng kê trong việc nuôi dạy con cái giữa các loại hình gia đình khác nhau theo nơi cư trú Dù là ờ nhà chổng hay nhà vợ, gia dinh trè thường sống cùng những đơn vị lớn hơn gia đình hạt nhủn Sự ở chung với họ hàng một bcn thường khuyến khích những người ngoài cha mẹ tham gia vào việc chăm sóc và dạy dỗ trẻ em, mặc dù cha mẹ chúng là người chịu trách nhiộm chính
Xét cơ cáu gia đình theo nơi cư trú cùa cặp vợ chồng mới cưới, ta có ba loại hình gia dinh sau:
Gia đình ở nhà chồng
Sau khi kết hỏn, cô dâu rời nhà mình vé ờ cùng hoặc gán gia đình nhà chỏng Đây là loại hình rất phổ hiến ở người Kinh Đổng bằng sòng Hồng, và nếu Yu Insun (1990:93/1994:107) là đúng, thì mầu hình này thịnh hành ít nhaít từ các the kỷ XVII-XVIII Như vậy, sự phổ biến cùa nó ờ đầu thế kỷ
Trang 28XX mà Phan Kế Bính (1915/1992:56) và Đào Duy Anh (1938/1992:210- 212) nêu ra là sự tiếp nối tập quán đó Nhưng cần lưu ý rằng, mẫu hình này
có hai biến thể quan trọng về mặt thời gian và không gian Chúng ta sẽ dừng lại p h â n tíc h tỉ m ỉ hai b iế n th e n à y vì h iệ n nay có nhiều C]uan n iệ m m â u thuản và không chính xác về nơi cư trú sau hồn nliãn
Biển th ể về thời gian nghía là cặp vợ chổng trè chi chung sống với gia đình nhà chổng trong một khoảng Thời gian nhất định, rồi tách ra ờ riêng Đây là vấn đề mà nhiều nhà nghiên cứu khóng tính tới và chính vì thế họ đã đưa ra những bức tranh không chính xác về cơ cấu gia đình cũng như m ẫu hình thành lập hộ của người Kinh ở Đồng bằng sông Hồng Ví dụ dựa trên
dữ liệu điều tra định lượng của họ, Hirschman và đồng nghiệp đã khẳng dịnh rằng ờ một làng thuộc khu vực nói trên, chi 14% những người được hỏi dã sống với họ hàng bén bố; 80% không sống với họ hàng bèn bô hoặc bên mẹ Theo họ điều đó có nghĩa là đa số các gia đình không theo mẫu hình hỏn nhân ờ nhà chổng (Hirschman et al., 1996:167)
Một nhà nghiên cứu khác sử dụng dữ liệu cuộc diéu tra toàn quôc về mức sống do Ngân hàng thế giới tiến hành năm 1992-1993 cũng khảng định tương tự Theo tác giả này, ờ miền Bắc, "hầu hết các cặp vợ chổng trỏ hắt đầu cuộc sống hôn nhân bằng cách lập một hộ gia đình hạt nhân ngay lập tức" (Belanger, 2000:181); "chung sống với bố mẹ chổng sau khi cưới không phải một thực tế phổ biến ờ miền Bắc” (Belanger 2000:185); và "chỉ người con nào sống với bô' mẹ mình cho đến khi các cụ mất mới cùng cư trú với họ sau khi cưới" (Belanger, 2000:183)
Phải nói rằng dữ liệu cuộc điéu tra trôn cùa Hirschman và đồne nghiộp rất đáng ngờ vì họ không trực tiếp hỏi các cặp vợ chổng vẻ nơi ờ của họ sau khi cưới Thay vào đó, họ đặt cho tất cà mọi người từ 15 đến 65 tuổi trong mẫu nghiên cứu các câu hòi đóng với các đáp án trả lời cho sẵn Câu hỏi thứ nhất như sau: "Khi còn bé ông (bà) có sống cùng làng hoặc gẩn gia đình bô
đò hoặc gia đình mẹ đẻ không?" Bốn phương án trà lời cho sẩn là:
1 Có, gần gia đình mẹ dẻ.
2 Có, gần gia đình bỏ' đè.
3 Có, gần cả hai.
4 Không cùng làng hoặc sống gần gia đình bỏ’ hoặc mẹ đẻ
Còn câu hỏi thứ hai Ịà: "Khi còn nhỏ, anh (chị) có sống với òng (bà) hoặc bà con họ hàng không?" Lời đáp cho sẵn bao gổm bôn phương án sau:
1 Ô ng bà ngoại hoặc gia đình
2 Ông bà nội hoặc gia đình
Trang 293 Với gia đình cà bên nội và bên ngoại.
4 Không sống với bà con họ hàng (mặc dù họ có đến thăm) (Hirschinan etal., 1996:164: Hirschman& Vũ Mạnh Lợi 1994:19-20)
Như tôi đã có dịp phân tích (Mai Huv Bích, 2000), những thiếu sót cùa
họ là như sau:
Thứ nhất, câu hỏi đật chung chung và dễ gây nhiều cách hiểu khác nliau Rõ ràng, hai câu hỏi quá mông lung, không xác định về mặt thời gian Tuy các tác giả khoanh lại đến trước 15 tuổi (Hirschman ct al., 1996:164), nhưng cụm từ "khi còn bé (nhò)" chỉ một khoảng thời gian có thể là 1, 2 3 cho tới 14 tuổi, nghĩa là một khoảng thời gian gần như vô định trong đó bao nhiêu biến dổi có thể xảy ra mà câu hỏi đặt ra như thế không nắm hát được, nớn dỗ dẫn đến thông tin sai lệch Ví dụ, một người được hỏi có thế sông cũng nhà với ông bà nội trong một khoảng thời gian nhất định, nhưng đến một thời điểm nào đó (chẳng hạn năm anh ta 5 tuổi), bô mẹ anh ta tách hộ ờ riẽng Gặp câu hỏi đặt như tren, anh ta có thể hiểu (hoặc chỉ nhớ) "khi còn nhỏ" là khoảng thời gian bố mẹ anh ta đã tách hộ, và trà lời "Không" Một người khác có thể lại hiểu, nhớ và trả lời "Có" dù chị ta ớ hoàn cảnh tương
tự Như vây, người ta thu được thông tin không đáng tin cậy Bài học sơ đáng
vổ đặt câu hỏi - cụ thể là câu hỏi phải hết sức xác định về đối tượng (ai, cái gì), về thời gian và không gian, v.v nhằm tạo ra cách hiểu thõng nhất ở mọi người được hỏi - đã bị lãng quên ở đày Giống như vậy, cụm từ "gia đình bố
đỏ (mẹ đẻ)" cũng rất mỏng lung, hàm chỉ nhiều người khác nhau, dễ gây nhiéu cách hiểu khác nhau, không trực tiếp đề cập đến mẫu hình hòn nhân ờ nhà chổng
Thứ hai, các tác giả không trực tiếp hỏi những người đã và đang kết hôn
vổ nơi ở của họ sau khi cưới Đặt câu hỏi cho những người ấy là cách tốt nhất đổ biết hôn nhân có phải là ở nhà chồng hay không Lẽ ra nôn làm như vây, thì các tác giả nghiên cứu lại đặt câu hỏi cho mọi người, cả đã và đang kết hỏn lản chưa bao giờ lấy vợ lấy chồng, về sự chung sống có the có cùa ông bà nội (ngoại) của họ dưới cùng một mái nhà hay cùng một làng Đối với nhiều người được hỏi, nhất là những người già, không thể đàm bào ràng không có sai sót vé trí nhớ, đặc biệt do phải nhớ lại những gì không trực tiếp liên quan đến họ Càng không thể đảm bảo tránh được thiếu sót về khả năng
và trình độ nhận thức, nếu cha mẹ những người được hỏi rời khỏi nhà ông bà nội trước khi họ ra đời, hoặc trước khi họ đủ phát triển trí tuộ để nhận biết vé
sự chung sống Nếu được hỏi về nơi ở của bản thân sau khi cưới, chắc hẳn người ta sẽ biết và nhớ tốt hơn là hỏi về ông bà nội (ngoại) hồi người ta còn nhỏ Nói cách khác, để xác định mẫu hình cư trú sau hôn nhân, việc đặt câu
Trang 30hòi về sự chung sông hay không của ông bà nội (ngoại) là vòng vo loanh quanh; và gập cả những người chưa kết hôn để hòi là nhầm đối tượng (Mai Huy Bích 2000)
Điều quan trọng nhất là khi gặp các câu hỏi dóng với những phương án trả led cho sẵn mang tính chất loại trừ nhau như trên, cho dù đã đù phát triển nhận thức để biết những thay đổi nơi ở, và cho dù có trí nhớ tốt, nhưng người được hỏi chỉ có quyền chọn một trong bốn phương án cho từng câu hỏi (hoặc
"Có" hoặc "Không") Các nhà nghiên cứu thiết kế những câu hỏi này không chừa chỗ cho phương án trả lời cả "Có" lẫn ’Không"; với lôgic này, nếu ai trả lời cả "Có" lẫn "Không" sẽ bị coi là khỏng hợp lệ Nhung thực ra ta hoàn toàn có quyền trả lời như vậy, vì rất có thể một ngưừi nào dó sông cùng gia đình bố đẻ (tức ông bà nội, v.v.) trong một thời khoảng nhất định, rồi sau đó bô' mẹ của anh (chị) ta chuyển ra ở ricng, tách khỏi gia dinh ông bà nội Họ hoàn toàn chính xác khi trả lời cả "Có" lẫn "Không" cho hai càu hỏi trẽn, nhưng các nhà nghiên cứu đã không thiết kế phương án trà lời này cho họ Điều đó có nghĩa là Hirschman và Vũ Mạnh Lợi đã không tính tới sự thay đổi chỗ ờ trong thời khoảng người trả lời "còn bé" Nguyên nhân sâu xa khiến họ làm như vậy là họ đật toàn bộ tư duy của mình tròn nền tảng một giả định không nói ra (tức là họ xuất phát từ một tiên đề mặc định ngấm) rằng nơi cư trú của mỗi gia đình được giải quyết chỉ một lần là xong mãi mãi; không có chỗ cho sự thay đổi chỗ ờ
Đối với nghiên cứu của Belanger, tác giả chỉ cho thấy một vài câu hỏi trong bảng hỏi của cuộc điểu tra mức sống như: "Bố/mẹ của ông (bà) còn sống không?", "Bô'/mẹ/vợ (chồng) ông (bà) có đang sống trong hộ này không?” (Belanger, 2000:174) Rất đáng tiếc là tác giả không cho biết liệu trong bảng hỏi có bất cứ câu hỏi nào về nơi ò của các cặp vợ chống trẻ sau khi cưới hay không Ta chỉ có thê đoán rằng trong một cuộc điều tra về mức sống, người ta thường chỉ hỏi một hộ có bao nhiêu người vào thời điểm điều tra, ai là chủ hộ, quan hệ của các thành viên khác với chủ hộ là gì, v.v chứ ít khi người ta hỏi về nơi ở của cặp vợ chồng mới sau khi cưới Nếu suy đoán
và lập luận này là đúng, có thể nói dữ liệu cuộc điều tra mức sống không hoàn toàn thích hợp đổ nhận diện mẫu hình cư trú sau hôn nhân và lịch sử hình thành hộ Nói cách khác, dữ liệu thứ cấp của một cuộc điều tra khác, với mục đích khác có thể không hợp ờ đây Giỏi lắm các dữ liệu đó có thể cho biết ít nhiều chỉ về những cặp vợ chồng vẫn đang sống với bố mẹ chồng vào thời điểm điểu tra, chứ không phải về những cặp đã từng sống với bố mẹ chồng nhưng hiện đã ở riêng
Như vậy, cả hai nghiên cứu vừa nêu trên đày đều xuất phát từ một tiên
đề ngầm định cơ bản rằng sau khi cưới, nơi ờ của các cặp vợ chồng được xác
Trang 31định n ộ t lần và chỉ một lần; khòng có sự thay đổi nào vé nơi ờ ke từ đó Nhiniị; thực tế khòng phải bao giờ cũng như vậy Theo một nghiên cứu, cặp
vơ chóng trẻ bát đáu cuộc sống hỏn nhân bằng cách chung sông với bỏ mẹ chổng Thoạt tiên họ ãn chung với bố mẹ chổng Sáu tháng sau, họ ăn riêng nhưng vẩn sống chung dưới cùng một mái nhà Hai năm sau, họ được cho một núêng đất đổ làm ngôi nhà hai gian mái rạ Họ vừa làm việc vừa để dành, rồi dán dà mua gạch ngói để xây nhà mới trên mảnh đất đó (Pham Van Fich 1999:214) Một nghiên cứu SỪ dụng phương pháp vẽ đường đời sinh sin cùa nhiổu phụ nữ thuộc nhiều lứa khác nhau (sinh từ trước những nảm 1930 đến sau năm 1960) cũng cho thấy có thời kỳ chung sống với bô
mẹ chồng ngay sau khi cưới, rồi mới đến thòi kỳ ở riêng (Vo Phuong Lan, 1994; Johansson, 1999:196-202) Ví thừ con cái họ được đật cho hai câu hói
n h u cua Hirschman và đồng nghiệp, câu trà lời rất có thể là "không" vì thời
kỳ chung sống đã qua, con cái có thể không biết hoặc nhớ nhầm về sự chung sóng dó- Và ví thử cuộc điều tra mức sống tiến hành vào thời điểm cặp vợ chồng n ày đã tách hộ khỏi bô mẹ chồng, thì người ta dc có cảm tường giống như Bilanger rằng họ không hề sống với bô mẹ chổng, và gia đình hạt nhàn
ờ ntri n ó i là phô biến, v.v
Trong khi đó, dữ liệu các cuộc nghiên cứu khác cũng cho thấy nhiều cập vơ chồ n g quyết định vé nơi cư trú và lập hộ theo mẫu hình giống như cập trin
Một trong những khảo sát sớm nhất vể mảu hình cư trú sau hôn nhân là của Nancy Wiegersma (1988:248) Khi nữ tác giả hòi nhiều phụ nữ nóng thôn lằng họ sống ờ đâu sau khi kết hôn, những phụ nữ này coi đó là một cAu hii "lạ lùng, kỳ cục" và đáp: "Tất nhiên là chúng tôi sống với bố mẹ chổng c h ứ sống ờ dâu khác?" Chính đây là một trong những nghiên cứu mà Hirscầman và đổng nghiêp đã phê phán, vì họ cho rằng chi "với khối lượng thực Tghiệm rất hạn chế” nhưng bà lại dựa trôn những bằng chứng về "ấn tượng' đ ể khái quát hóa (ý họ muốn nói là bà dùng mẫu quá nhò và dựa vào
ấn tưcng thuần túy, chứ không phải bằng chứng khoa học) Tuy mẫu nghiên cứu c5 thổ nhỏ, nhưng tác giả này đã hỏi trực tiếp các phụ nữ có chồng về nơi ở sau khi cưới của họ - một ưu điểm rõ rôt so với cuộc điều tra của
H irscìm an và đồng nghiệp
Mộit cuộc diổu tra 206 phụ nữ có chóng tại hai xã thuộc huyộn Tiền Hải, Thái 3ình trong đó có câu hỏi vể nơi ở của họ sau khi cưới cho thấy 93,7% bắt điu đời sông gia đình bằng cách ờ cùng nhà với bố mẹ chồng, nghĩa là theo n ả u hình hôn nhân ở nhà chồng, và chỉ 6,3% lập hộ riỏng ngay sau khi cưới (Vo Phuong Lan, 1994)
Trang 32Một cuộc diều tra khác cho thấv trong sò 1.200 phu nữ có chổng ờ sau xã miền Bác, hầu hot thích lập hộ rièng sau khi cưứi nhưng trung Ihực tế 73% sóng chung với bỏ’ mẹ chồng, và chi 10% ờ nhà riêng (Havanon ct al 1997).
Theo kết quả một cuộc điều tra gần đủv hơn, 80% số người được hòi cà nam lẫn nữ từng sống với bô mẹ chồng sau khi kết hôn, và xu hướng này ổn định trong suốt nửa thế kỷ qua (Nguyễn Hữu Minh et al., 2000) Điều lý thú
là kết quả này hoàn toàn trái ngược với kết quả cuộc nghiên cứu của Hirschman và đồng nghiệp khỏng chỉ ở luận điểm chung (một bôn nói da số khóng có hòn nhân ở nhà chồng, bên kia nói có), mà còn ở chỗ cùng mọt dữ liệu định lượng (80%) được đưa ra đẽ hậu thuần cho những luận diêm tương phản nhau
Cuối cùng, dữ liệu cuộc điểu tra gia đình Việt Nam nãm 2006 cho thày 64,8% các cặp vợ chồng độ tuổi 18-60 và 57,8% các cặp dộ tuổi 61 trỡ lên
đã “ờ chung với gia đình nhà chồng và ãn chung" ngay sau khi cưới Đáy là phương án sắp xếp nơi ờ dược lựa chọn cao nhất, sau đó mới đến phương án
“sống riêng hoàn toàn” (lần lượt ở hai nhóm tuổi là 23,7% và 28.6%) (Bộ Văn hoá, The thao và Du lịch, Tổng cục Thống kồ, Viện Gia đình và Giới, Quỹ Nhi đồng Liôn hợp quốc, 2008:65)
Như vậy, ở nông thôn Đổng bằng sông Hồng, khỏng kể những người đã mất bố mẹ, và người rời khỏi qué quán đi sinh sống ớ nơi xa bố mẹ, hoặc người có khả năng lập hộ riêng sau khi cưới (nhờ sự hổ trợ của bố mẹ, anh
em họ hàng hay nhờ nâng lực bàn thân), v.v thì da số các cặp vợ chổng trẻ bắt đầu cuộc sống hôn nhân tại nhà bõ' mẹ chồng
Nhưng điẻu cán nêu rõ tiếp theo là: trừ những cặp vợ chồng mà theo phong tục địa phương sẽ ờ lại cùng nhà với bỏ mẹ chồng đò’ chăm sóc khi bò'
mẹ vẻ già (thường là con trai cả, song ờ một sô' nơi lại là con trai út), thì thời gian chung sống với bố mẹ chổng không kéo dài Sau một thời gian nhất định chung sống với bố mẹ chồng, cặp vợ chồng có thế tách hộ bàng cách hoặc đi dần từng bước (trước tiên thì ờ chung ăn chung, rổi án riông nhưng vần ờ chung, và cuối cùng thì ăn riêng ở riêng) hoặc chi di một bước (cùng một lúc vừa ăn riông vừa ở riêng) Nói cách khác, sự chung sống thường k¿0 dài cho đến khi cặp vợ chổng đủ điểu kiện vật chất (bằng nỗ lực kiếm sống
và tiết kiẽm của bản thùn hay vói sự giúp đờ của bố mẹ, anh em, họ hàno, bạn bè hoặc vay mượn, v.v.) để tách hộ
Như vậy ta thấy tại nông thôn Đồng bàng sỏng Hổng nổi lên cả míu hình hôn nhân ờ nhà chổng lẫn biến thể về thời gian của nó (tức là sống víi
bố mẹ chổng chỉ trong một thời khoảng nhất định rồi (ách ra), chứ khỏrg
Trang 33phải m it mảu hình nguyên dạng và bất biến Chính hiến thể này là điều
H irschnan và dỏng nghiệp cũng như Belanger không tính tới Và chính nó
đã đánh lừa họ khi họ muốn thông qua những câu hỏi vé thời thơ ấu của nhííng rgười được hòi dc nhận diện mẫu hình cư trú sau hỏn nhún của bõ mẹ nhííng r.gười này (trường hợp Hirschman), hoặc thòng qua những câu hòi về những người đang chung sống vào thời điểm điểu tra nhằm xác định mẫu hình về nơi cư trú sau hòn nhân và thành lập hộ (trường hợp Belanger) Các tác giả rẽn cho rằng từ thời điểm một cặp vợ chồng kết hôn đến lúc sinh con
đẻ cái, iọ không thay đổi nơi cư trú, trong khi thực ra đối với những người khdng 'án h trách nhiộm trực tiếp châm sóc bô mẹ ờ tuổi già, thì nơi ớ có thay đ ổ Nói theo ngổn ngữ lý thuvết gia đình là một quá trình, không phải một cấi trúc tĩnh; và như vậy, nhóm cư trú hình thành do quá trình đó chắc chắn CC thay đổi theo giai đoạn trong sự phát triển của dường đời gia đình Song cÉch xem xét, đật vấn để và nêu câu hỏi cùa các tác già trên đã coi gia đình n h i một cấu trúc tĩnh, và đây là một thiếu sót nữa cùa họ
Bien th ể về không gian nghĩa là cặp vợ chồng mới cưới có nhà ở gần với
bố m ẹ (hồng Như ta SC thấy sau đây, quan hệ giữa mẹ chổng với nàng dâu
thường phức tạp Nhưng không chỉ quan hệ này, mà cả quan hệ giữa bố mẹ nói chuig với con cái lớn và cháu, cũng như giữa anh chị cm dâu, v.v nói chung ¿ểu phức tạp Do sự phức tạp của việc quản lý trong gia đình nhiều thế hồ n eo mẫu hình hôn nhân ờ nhà chồng, để đảm bảo sự hòa thuận nhất định, g ảm xích mích và chống lại xu hướng chia tách, nôn biến thể về không p an này - tức viộc cha mẹ và con cái lóm ở riông nhưng gần nhau - được nhiều người Kinh ờ Đồng bằng sông Hổng ưa thích hơn so với nguyên dạng cùa nó Nó đàm bảo sự giúp đỡ lẫn nhau giữa các thế hộ theo đúng câu tục ngũ "trẻ cậy cha, già cậy con", nhưng vẫn tạo cho mỏi thế hệ một sự tự
do nào ió Nói theo ngôn ngữ của nhà nghiên cứu Castillo, biến the này cho phép gii đình "cư trú trong hình thái hạt nhân, nhưng vổ chức năng lại là gia đình rrtf rộng"
Khi cặp vợ chổng trỏ theo biến thể này, quan hộ giữa họ và bỏ' mẹ chồng nường vẫn chặt chẽ, chứ họ không tạo thành cái mà nhiểu nhà xã hội học phtơng Tây gọi là "gia đình hạt nhân biệt lập" Nhưng một sô' tác giả đã khống rhìn nhận như vây Trôn giấy tờ, họ viết: "Sông độc lập không nhất
thiết c ó cùng ý nghĩa giữa các xã hội Hoàn toàn có khả năng các gia đình
mờ rộ n í sống tách biột nhau, nhưng tham gia vào các hoạt động giúp đỡ lản nhau, ỉể cả sức lao động và những nguồn khác" (Hirschman et al., 1996: R9-170) Song trỏn thực tế họ đã hiểu gia đình hạt nhân theo nghĩa
Trang 34biệt lập khi họ quy quan hệ qua lại giữa gia đình hạt nhàn của con cái lớn với cha mẹ già chỉ thành một khía cạnh duy nhất - sự "đi thãm lản nhau" (Hirschman et al., 1996:169) Bằng chứng là dể khảo sát quan hệ q u a lại giữa con cái lớn đã ờ riêng và cha mẹ già họ đặt câu hỏi như sau: "Trong năm qua, ông (bà) có thường xuyên đi thăm mẹ đè (bô đè) không?" (Hirschman et al., 1996:170) Khi đặt một và chỉ một câu hỏi như vây họ đã ném tất cả những hoại động giúp đỡ lần nhau muôn hình muôn vẻ chỉ vào một cái bị "đi thăm lẫn nhau" Do đó, chúng ta thấy trong bài viết của họ cả một mục về "việc sống gần và đi thăm lẫn nhau giữa các thành viên của gia đình người Viột Nam" (Hirschman et al., 1996:169-175), nhưng khống c ó gì đằng sau các cuộc thăm viếng, nghĩa là không hc nói đến ý nghĩa của sự di thãm lẫn nhau Như vậy, họ đã không thấy rằng thăm bố mẹ không dơn thuần chỉ là gặp mật bố mẹ, mà rất có thể hàm nghĩa khác Nói cụ thể hơn thãm bố mẹ rất có thể hàm nghĩa trao đổi sự giúp đỡ lẫn nhau với bố mẹ Như một nhà nghiên cứu người Anh đã vạch rõ, "về mặt xã hội học, hệ vàn
đề iý thú nhất là những vấn đề về V nghĩa" của các hành động và sự kiện
(Morgan, 1985:163) Quy giản quan hệ qua lại giữa gia đình hạt nhăn của con cái lớn với bố mẹ già chi thành sự thăm viếng là không thấy hoặc bỏ qua
sự giúp đỡ lẫn nhau của họ - cái lôgic xã hội chi phối mẫu hình hôn nhân ớ nhà chồng
Loại hình gia đình ở nhà chồng này ờ Việt Nam có tác động rất Ufa đến địa vị phụ nữ Thứ nhất, trong gia đình gốc của họ, COI1 gái bị coi là "vịt trời" theo nghĩa họ được cha mẹ đè sinh ra và nuỏi lớn, nhưng khi lấy chổng họ rời khỏi nhà bố mẹ đẻ, như vịt trời lớn khôn, đù lỏng đù cánh là bay đi Vì thế nhiều bậc cha mẹ coi nuôi con gái là "nuôi hộ", và có câu ca dao: "Con gái là con người ta, con dâu mới thực mẹ cha mua vể"
Thứ hai, thông qua vai trò làm dâu, người vợ bị đặt vào tình th ế khó khăn khi về nhà chồng, và tạo nên quan hệ mẹ chổng nàng dâu rất dáng lưu
ý mà tiếc thay hẳn là bị bỏ qua hoặc phủ nhận với những nhà nghiên cứu như Hirschman cùng đồng nghiộp, và Belanger Lý do là những nhà nghiên cứu trên cho rằng các cặp vợ chồng trẻ lập hộ riêng ngay sau khi cưci, và gia đình hạt nhân chiếm đa số Một khi đã khẳng định như vậy, thì nghĩa là theo
họ làm gì có chuyện mẹ chồng nàng dảu chung sống dưới cùng một mái nhà, nói gì đến mâu thuẫn giữa họ
Thực tố, con dâu mới bị hoàn toàn tách khỏi gia đình gốc và họ hàng của mình, đến sống trong một gia đình chưa quen Là người lạ hoặc ít nhất là người ngoài đối với gia đình chồng, để hòa nhập vào gia đình chồng, cô dâu mới phải đảm nhận trách nhiệm "lấy chồng gánh vác giang sơn nhè chồng"
Trang 35Nếu là ớõu trường, cồ phủi chịu trỏch nhiệm cao hơn nặng nể hưn (nghĩa là
cũ phải àrn nhiều viộc mà con dõu thứ được miễn; hơn thế nữa cụ phải ón ờ mẫu mic, làm gương cho cỏc con dõu khỏc) Mặc dự khi chưa lõy chổng, cú
cú th ể cược cha mẹ (nhỏt là mẹ đố) dạy và chuẩn bị cho những kiến thức và
kỹ nónị cần thiết cho vai trũ làm dõu, nhưng sự xó hội húa sơ cấp và đún trước (aiticipatory socialisation) cho vai trũ này hoàn toàn chưa đủ Đẽ hoàn thành vỳ trũ làm dõu, khi bước chõn về nhà chồng, cụ phải qua sự xó hội húa thứcấp, do chổng (mà khẩu ngữ dõn gian gọi nụm na là "dạy vợ") và me chồng tốn hành, và đõy thực sự là một thử thỏch khú khăn
C ụ dõu mới phải thay đổi thúi quen và lối sống của mỡnh, phục tựng sự dạy d ỗ 'à kiểm soỏt nghiờm khắc của mẹ chồng Trước năm 1945, việc mẹ chồng reuợc đói con dõu đó thành thúi quen (Marr 1981:193): con dõu nào khổng jtằải chịu cảnh đú được coi là may mắn Chớnh vỡ thế ca dao cú cõu đỳc kết "Thật thà chảng thể lỏi trõu, yờu nhau chảng thể nàng dõu mẹ chồng" Theo một nhà nghiờn cứu người nước ngoài, khụng ờ đàu trờn thế giới m à vón học dõn gian lại cú nhiều đến mức thành một cỏi mỏ lớn những cõu n ú về quan hộ căng thẳng mẹ chồng nàng dõu như Việt Nam (O'H&rnw, 1995:167-168) Chớnh vỡ thế, ở nhiều nơi, cú tục rằng, vào ngày cưới, ikh đụ dõu mới vồ đến nhà chồng, bà mẹ chồng tạm lỏnh (rong một lỳc, trỏnh đ ạ m mặt cổ dõu, vỡ người ta tin rằng việc lỏnh mặt này hy vọng sẽ giỳp trỏih khỏi xung dột giữa hai người phụ nữ này (Lỗ Thị Nhỳm Tuyết 1975:151-152)
X uig khắc giữa mẹ chồng và nàng dàu khởi phỏt ngay từ những ngày đầu củacuộc hỏn nhỳn với tục thừ con dõu mới Cú nhiộu cỏch thử con dõu
mà ta c< thể chia thành hai kiểu chớnh: thử tớnh nết và thử ý tứ Vớ dụ về thừ tớnh niết mẹ chổng vờ đỏnh rơi tiền rồi sai con dõu quột nhà xem cú trả lại khụng; ;iao thúc đó đong cho con dõu xay gió rồi đong lại; hoặc đưa tiền sai
đi c h ơ nua bỏn rồi theo dừi xem cú ón bớt khụng Thử ý tứ cú thể gồm: bỏ kim khiu vào ngừng cối xay để xem trước khi xay con dõu cú đưa tay vào khua sờtrong cối hay khụng; và bắc sẵn nồi chừ lỏn bốp rồi sai nấu cơm thổi xụi xe;rr cú làm chỏy nồi do khụng soỏt lại nước trong nổi, v.v Sau đú là đến việc rrnẹchồng chửi mắng, thậm chớ đỏnh đập con dõu (Lụ Thị Nhõm Tuyết, 1975: 12) Tất nhiờn, khụng phải mẹ chồng nào cũng làm như trẻn, nhưng đoạn ươi đỏy cho ta một vài ý niệm về sự căng thảng trong quan hệ mẹ chồng: rong dõu
\ ri ,ao mẹ chồng thường đối xừ "độc ỏc", "cay nghiột” với nàng dõu như vậy? T h ớ nhất, một trong nhiểu lý do là tục thỏch cưới, và việc gia đỡnh chỳ
Trang 36rể thường phải trả giá để có cô dâu, trả giá cho sự sinh đẻ, lao động viẹc nhà
và dịch vụ tính dục của cô đối vói chồng Trước lỗ cưới, nhà gái thường yêu cầu nhà trai mang đến một số lượng nhất định gạo nếp, rượu, thịt lơn và gà, trầu cau và đôi khi cả tiển mặt, v.v Nếu không thách cưới, gia đìai cỏ dâu rất có thể bị thiệt hại không chỉ về mặt kinh tế, mà cả về mặt xã h<i: không riêng cha mẹ cô dâu dề mất uy tín vì đã rẻ rúng "cho khòng" con gái mình,
mà bản thân cô dâu cũng dễ bị nghi ngờ về nhân cách, phẩm chất đạo Jức và nhất là trinh tiết Do thế, số lượng hiện vật và tiền mặt thách cư á thường cao, và nhà trai nói chung phải thương lượng, mặc cả, "bớt một thên hai" để giảm mức thách cưới xuống Kết cục là nhiểu mẹ chồng thường nghĩ: một khi họ đã trả tiền thách cưới thì họ có hai thứ: một là quyền lực đố với con dâu, như một người con dâu đã nhận xét (Gammeltoft, 1999:170), lai là họ được phép đối xử với con dâu tùy ý mình Sự đối xử này tương đươrg số ticn thách cưới họ phải trả, theo tinh thần câu tục ngữ "Mất tiền mua mâm thì đâm cho thùng" (Gammeltoft, 1999:175)
Thứ hai, không giống quan hệ giữa mẹ chồng và con trai VỐI là ruột thịt, quan hệ mẹ chồng nàng dâu không dựa trên cơ sở huyết thống, náu mủ Trong khi đó, người Kinh tin tưởng rằng chỉ huyết thống máu mủ lĩứi là mật thiết; còn các quan hệ khác, không phải cùng huyết thống, thì xa li và cách biệt ("khác máu tanh lòng") Thêm nữa, hai phụ nữ này cạnh tranh nhau để giành tình cảm và ảnh hưởng đối với người con trai Nhiều mẹ chồnỊ coi con dâu là "kẻ thù chính" (arch-rival) vì trong bối cành Viột Nam, con rai họ [à những nam giới duy nhất họ có thể thống trị, và nhìn họ theo cách cuy nhất, chứ khòng nhìn các phụ nữ khác theo cùng một cách như nhìn họ Fill họ có con dâu, con trai phàn bội quan hệ thân tình với mẹ, và rời mẹ để heo con dâu (O'Harrow, 1995:170-171) Trong cuộc cạnh tranh này, người ta mong đợi rằng con trai phải coi người mẹ là số một Nếu không được ráư thế, ít nhất con trai phải trung lập Làm sao giữ được cân bằng giữa mẹ VI vợ thật không hề dễ, và nhiểu con trai bị dằn vặt, không biết "bôn tình bên ũếu bên nào nặng hơn"
Thứ ba, như câu nói nổi tiếng của nhân vật bà Bằng trong cuốn tiểu thuyết "Mùa lá rụng trong vườn" (1985) của Ma Văn Kháng (ngườichỉ xuất hiện thoáng qua mà đã để lại một câu nói tóm tắt được bản chất sự ihác biệt giữa mẹ và vợ) cho thấy: nếu vợ chết thì lấy được vợ khác, chứ nếi mất mẹ
là hết! Như vậy, người ta tin rằng người mẹ là không thể thay thế, /à do đó đáng quý vô ngần, còn vợ thì hoàn toàn có thể thay, như dải cái á(! Đáy là một lý do nữa để người mẹ phải là số một; nếu khởng thế thì xun; đột mẹ chồng nàng dâu là khống tránh khỏi
Trang 37Thử tư, trong bối cảnh quan hệ giới của gia đình Việt Nam, người vợ thường là đối tượng chịu sự chi phối cùa chồng và bô mẹ chồng; chỉ khi thành mẹ chồng, họ mới cải thiện đáng kể được địa vị của mình Từ thời điểm ấy trở đi, mẹ chổng thường chỉ có thể khẳng dịnh vị thế và quyển lực của mình trước hết và chủ yếu là đối với con dâu, chứ ít có ai khác Đấy là chưa kể một số mẹ chồng coi việc khẳng định uy quyển của mình với con dâu là sự trả thù cho sự ngược đãi mà bản thân họ từng chịu đựng mấy chục nãm trước, thời mới về làm dâu Đây là nguyên nhân nữa khiến quan hệ mẹ chổng nàng dâu thường đầy khó khăn và càng thẳng.
Trong mấy thập niên cuối thế kỷ XX, quan hệ mẹ chồng nàng dâu đã thay dổi đáng kể do kết quả của nhiều biến thiồn về kinh tế, văn hóa và xã hội Có những bà mẹ chồng từng nếm chịu cảnh bị mẹ chồng ngược đãi đến mức ly tán vợ chồng và thậm chí suýt phải tan vỡ gia đình, nhưng đến lượt mình, khi có con dâu, họ không ăn ở "cay nghiệt" với con dâu Trái lại, họ đối xử với con dâu như con gái (Mai Huy Bích, 1993:89-90) Nhưng trong khồng ít trường hợp, xung đột mẹ chồng nàng dâu là nguyên nhân dẫn đến
ly hôn (Lê Phượng, 1986), và nói chung, quan hệ mẹ chồng nàng dâu vẫn còn cách biệt, khiến người ta ít tin rằng mẹ chồng có thể ãn ở tốt với nàng dâu (Werner, 2000) Nhiểu bà mẹ vẫn có thái độ hai mặt: với con gái thì nương nhẹ, nhưng với con dâu thì nghiêm khắc (Ngo Thi Ngan Binh, 2000)
Có bà mẹ chồng tức giận với sự cải thiện quan hê mẹ chồng nàng dâu, vì theo họ, trật tự cũ đã bị lộn tùng phèo: trước kia, khi làm dâu, họ không bao giờ dám láo với mẹ chồng, thế mà bây giờ con dâu thậm chí đi đâu không thèm xin phép, nhưng mẹ chồng phải nín chịu Đúng là đất trời đảo ngược! (Gammeltoft, 1999:176) Nhiều mẹ chồng phàn nàn rằng: con dâu bây giờ giống như mẹ chồng ngày xưa, tức là lấn át mẹ chồng Trong khẩu ngữ dân gian dã xuất hiện câu thành ngữ "con dâu Tây" để chỉ kiổu con dâu mới và quan hệ mới giữa mẹ chồng với nàng dâu, chưa từng thấy trước đây mà người ta tin rằng chỉ xuất hiện với sự ảnh hưởng phương Tây Những trường hợp khó khãn của mối quan hộ này là ví dụ rằng, sự áp bức không chỉ thấy ở quan hệ giới giữa nam và nữ, mà ngay phụ nữ cũng có thể áp bức nhau trong cùng m ột gia đình (Mai Huy Bích, 2001) Nói cách khác, quan hệ đồng giới cùa phụ nữ với nhau rất có thể tiếp tay cho quan hệ áp bức giữa hai giới nam
và nữ
Đến đây, một câu hỏi đặt ra là: vì sao mẫu hình hôn nhân ở nhà chồng lại phổ biến, đặc biệt khi tính tới sự phức tạp của quan hộ mẹ chổng nàng dâu như trên đã nêu? Nên lưu ý rằng đó chưa phải là quan hộ duy nhất, mà
Trang 38bên cạnh đó còn có nhiều mối quan hệ khác nữa phức tạp và khó khăn K hông
chỉ quan hệ mẹ chồng nàng dâu, mà cả quan hệ giữa nàng dâu với chị e m gái
của chồng cũng thường khó khãn ("giặc bên Ngô không bằng bà cò bẽn chổng",
và "em chồng ở với chị dâu, coi chừng kẻo nó giết nhau có ngày" như tục ngữ nói) Vậy thì đâu là lý do người ta lại chấp nhận mẫu hình này?
Phải khẳng định có rất nhiều nhân tô chi phối mẫu hình này: c h ế độ nam trị và phụ hệ cùng các giá trị đi kèm theo chúng, sự hạn chế về không gian cư trú, đất đai, v.v Nhưng một trong những nhân'tố hết sức quan trọng
đó là cái gọi là "sức ép tái sinh sản" và nhu cầu phải giải tỏa sức ép tái sinh sản "Sức ép tái sinh sản" là những khó khăn thách thức mà các cá nhân và gia đinh phải vượt qua để sống còn và tồn tại trong đường đời của rnình Thời khoảng gọi là chu trình đời người đầy những khó khăn Chúng ta sinh
ra ban đầu là những đứa trẻ yếu ớt, không thể tự lực sống độc lập rồi lớn lên trưởng thành, đầy sức sáng tạo, và dần dần lão hóa, mắt mờ chân chậm, tuổi già sức yếu, cuối cùng thì chết Sự tăng tiến từ khi sinh ra đến lúc chết đi đưa chúng ta từ chỗ hoàn toàn bất lực khi còn nhỏ đến năng lực dồi dào cúa tuổi trưởng thành, rồi lại trở về sự hoàn toàn bất lực tuổi già Những sức ép nội tại định kỳ như vậy được nhà nghiên cứu Robertson (1991) mênh danh là
"sức ép tái sinh sản" Để sống sót, người ta phải có năng lực không chỉ kiếm sống cho riêng mình, mà còn có khả năng hỗ trợ những người khác đê họ hỗ trợ lại mình khi mình yếu đuối bất lực Quan hệ tái sinh sản của con người được sắp xếp về mặt thời gian sao cho một đứa trẻ yếu ớt bất lực được đặt vào tay những người lớn đủ năng iực tạo ra các nguồn lực vật chất để nuôi
nó là bố mẹ nó Như vậy, khi còn nhỏ, chúng ta lệ thuộc vào cha mẹ chúng
ta, và cha mẹ chúng ta hy vọng khi chúng ta lớn lên sẽ chăm sóc các cụ khi các cụ già yếu bất lực Đến lượt mình, chúng ta sinh con đẻ cái và nuôi chúng cho trưởng thành với hy vọng nhờ cậy chúng khi bản thân ta về già.Đối với một hộ gia đình, sự hợp tác với mạng lưới họ hàng thông qua
hình thái gia đinh nhiều th ế hệ là một trong những cách đối phó với "sức ép
tái sinh sản" Bằng cách kéo dài thời kỳ hợp tác giữa các thành viên đổ "làm phẳng đường cong lệ thuộc hình chữ U" trong chu trình đời của mỗi cá nhàn,
có thể đạt được an ninh chung "Khi vài ba đơn vị gia đình được hợp nhất vào một khuôn khổ duy nhất, sự mất ổn định bên trong mỗi đơn vị được san phẳng rất nhiều Nói cách khác, có thể lợi dụng sự phát triển chênh nhau của các đơn vị gia đình, kẻ yếu và người khỏe đảm bảo an ninh cho nhau ở các giai đoạn khác nhau trong chu trình tăng trường và suy thoái cùa họ" (Robertson, 1991:29) Một cách dễ hiểu hơn, sự chung sống nhiều thế hệ
Trang 39trong ga đình ià đẽ’ các thế hệ giúp đỡ lẫn nhau vượt qua những khó khăn thách tlức mà mỏi cá nhân dều vấp phải trong đời từ khi sinh ra, lớn lên đến lúc già
Thnh công cùa lý thuyết "sức ép tái sinh sản" là đã nêu lôn rằng những sức ép ó chu kỳ xảy ra không chỉ khi một cá nhàn dã về già (như lâu nay nhiểu n»ười thường quan niệm), mà cả ở thời nhỏ và đàu tuổi trưởng thành Nhưng ý thuyết này không nói lên được rằng (rong khi "sức ép tái sinh sàn"
có thổ ,iống nhau ờ nhiéu xã hội, thì con đường và mức độ giải tỏa "sức ép tái sinl sản" là không giống nhau ờ các xà hội thậm chí khác nhau ờ mỗi nhóm, nỗi khu vực địa lý, mỏi tộc người hay mỗi giai cấp trong cùng một
xã hội Trong khi ờ phương Tây, nhiều xã hội chù trương giải tỏa "sức ép tái sinh sải" bằng con đường xây dựng thể chế phúc lợi ngoài gia đình (lương
và trợ dip hưu trí hệ thồng nhà bàng gửi tiền tiết kiệm, nhà dưỡng lão, khả năng v.y tiền ngân hàng, v.v và V.V.), thì ờ Việt Nam, con đường này rất chậm ciạp và không đủ hiộu quả Kết quả là cho tới nay đa sô người, cả thế
hệ già ản thế hộ trẻ, vản phải dựa vào gia đình Hôn nhân ờ nhà chồng và gia đìni nhiều thế hệ ờ Đồng bằng sông Hồng cung cấp chỗ dựa ấy
L ' do cơ bàn thứ nhất khiến thế hộ trẻ cần hôn nhủn ở nhà chồng, dù chi troig một thời gian nhất định, là như sau: điểu kiộn cần đô’ tách hộ là con cái có -hà năng lập hộ riCng Muốn thế, họ phải đủ tiổm lực vật chất de có nhà riéig Nhưng trừ một số ít ngoại lệ, giai đoạn đầu tiên trong đường đời gia dìm thường gắn với tình trạng nghèo nàn do chưa có khả nãng kiếm sống ụ lập hoặc mới bắt đẩu kiếm sống, chưa tích lũy dù, v.v Trong khi đó, gia dìm trẻ lại chịu "sức ép tái sinh sản" rất lớn không chỉ dô có nhà riông,
m à CÒI nhằm đáp ứng những nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng do họ đang bước VIO giai đoạn mờ rộng trong đường đ ờ i gia dinh với viộc con cái lần lượt raJời, cẩn sự chu cấp, chăm sóc và giáo dục v.v Từ ngàn xưa, người Kinh di có câu ca dao vé những khó khăn lớn nhất trong đời nông dân: "Tậu trâu, CIÓÍ vợ, làm nhà, cả ba viêc đó thực là khó thay" Đối với cập vợ chồng trẻ, nhmg khó khản đó xuất hiện gần như cùng một lúc, khiến họ đã nghèo càng kió có khả năng giải quyết
N;ay hiện nay, sau hơn 20 năm đổi mới kinh tế giai đoạn đầu trong đường lời gia đình vản thường đi liền với sự nghèo khó Theo dữ liệu nghiên cứu, thh trạng nghèo khó kéo dài tới cả khi nhiều hộ gia đình trẻ đã tách ra khỏi b» mẹ Nhìn vào nhóm nghèo sau hơn một thập kỷ cải cách kinh tế ta
th íy c.c hộ mới tách ra khỏi gia đình bố mẹ và trờ thành những hộ mới thườnị được xếp vào loại nghèo (Việt Nam tấn công nghèo đói, 2000:23)
Trang 40Các cặp vợ chồng trẻ (chủ hộ ớ độ tuổi 25-35) chiếm sỏ rất đông trong 2‘0%
những người nghèo nhất (Vietnam development report 2000:24) Vì tthế,
viộc các cặp vợ chổng trẻ dựa vào cha mẹ anh chị cm thòng qua việc Hạm
thời ờ chung với cha mẹ chổng là một giải pháp trong tình thế dó Chính bởi vậy, tục lộ nhiều nơi đòi hỏi rằng khi con trai đến tuổi trường thành, Iigườti ta trông đợi cha mẹ có trách nhiệm khòng chi cưới vợ, nià cả làm nhà cho c on
và sắm cho con một sô đồ dùng gia đình nhất định, v.v Một gia đình càng nhiéu con trai thì trách nhiệm của cha mẹ càng "nặng gánh" Nhiểu bậc ch a
mẹ phải lo xa ngay từ khi con trai họ nhỏ, vậy mà khi họ dã già, vẫn chưa lo xong hết cho các con trai (Mai Huv Bích 1993:28-29) Người ta tin rằng
"nghèo đói trong trường hợp này phần nào là vân dổ cùa chu kỳ cuộc song gia đình và sẽ giảm dần theo thời gian khi các hộ bắt đầu có thu nhẠp dư thừa, mua sắm thêm tài sản, tạo lập cách kiếm sông ổn định và ccUhu nhập khá hơn" (Việt Nam tấn công nghèo đói, 2000:25)
Lý do thứ hai cùa sự chấp nhận rộng rãi mẫu hình hôn nhân ờ nhà chổng
và biến thể của nó tại Đồng bằng sống Hồng là: theo quan niệm của người Kinh, cặp vợ chồng trẻ không biệt lập với mạng lưới thân tộc bao quanh họ, mà
là một bộ phận trong đó Họ phải có khả năng hoàn thành những nhiệm vụ qua lại mà hệ thống thân tộc giao cho Đê làm được diổu đó, cặp vợ chồng trẻ, dặc biột cô dâu mới, cần sống với bố mẹ chồng ít nhất một thời gian nhằm có một vài ý niệm về hệ thông thân tộc xung quanh mình Chính vì thế, những tháng
ngày đầu tiên sau khi cưới là thời kỳ cô dâu dược giới thiệu để làm quen với rất
nhiéu (nếu không phải tất cà) bà con họ hàng bẽn chồng Tình hình tương tự như cô dâu mới ờ Trung Quốc, nên ta có thể mượn lời một nhà nghiên cứu về phụ nữ Trung Quốc rằng trong thời kỳ này cô dâu mứi được day "một khóa học cấp tốc vể quan hộ họ hàng" (Watson, 2001:174) đổ ít nhất biết ai là ai, và mình phải cư xử thế nào với họ
Về phần mình, bố mẹ chồng cũng có nghĩa vụ giúp đỡ cặp vợ chổng Irẻ khi họ mới bắt đầu cuộc sống gia đình bằng cách khỏng chì lo lẻ cưới, mà cả nơi ờ (dù lâu dài hay nhất thời), sắm sửa đồ dùng gia đinh, cũng như chàm sóc con nhỏ của họ cùng vô sô sự hỗ trợ thực tiồn khác, v.v Sự hỗ trợ của
cha mẹ đối với con cái lớn có thể m ang nhiều hình thức khác nhau đối với
các nhóm khác nhau Cha mẹ giàu có thì cho con những khoàn tiền lớn hoặc hiộn vật có giá trị cao, gia tài thừa kế Những người không có khả năng làm như thế thì trải dài, mờ rộng sự giúp đỡ theo thời gian, suốt trong đường đài: khi con kết hôn, khi con cái làm nhà, hay lúc cháu ra dời, v.v