1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Giáo trình Xã hội học gia đình: Phần 2

20 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quá nhiều kiến nghị còn có một gốc rễ sâu xa: không phân biệt dươc những nghiên cứu ứng dụng với nghiên cứu thuần tuý... Vietnam's women in transition.[r]

Trang 1

Phần II

MỘT SỐ CHỦ ĐỂ GIA ĐÌNH HIỆN NAY■ _ _ _■ _

NÂNG CAO TÍNH KHOA HỌC CỦA NGHIÊN CỨU GIA ĐÌNH

"Gần đây trong xã hội ta rất nhiều người bàn bạc về vấn đề gia đình, ở nông thôn vấn đề gia đình, họ hàng nổi lên khá rầm rộ" (Trần Đình Hượu, 1996:49) - đó là nhận xét xác đáng của một cô' học giả đáng kính Gia đình

là mối quan tâm không chỉ của người bình thường, mà của cả giới nghiên cứu Vẫn theo lời học giả trên, "Nhiều chương trình nghiên cứu trong nirớc

và hợp tác quốc tế do Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn thanh niẽn, Viện Xã hội học chủ trương cũng thường gặp nhau ờ một điểm chung là gia đình" Những nghiên cứu vể gia đình dựa trên các phương pháp thu thập dữ liệu của

xã hội học như điều tra dùng bảng hỏi, phỏng vấn, thảo luận nhóm v.v đirợc triển khai ở nhiều nơi; các ấn phẩm nghiên cứu về gia đình được công bố ngày càng nhiều trong những năm gần đây

Có thể khẳng định rằng đã xuất hiện một phong trào nghiên cứu gia đình với một lực lượng nghiên cứu khá đỏng đảo Các ấn phẩm nghiên cứu

đã bao quát một diộn rộng nhiều vấn đề gia đình khác nhau và soi sáng nhiều khía cạnh cùa gia đình mà trước kia chưa hoặc ít ai biết tới

Nhưng không thể phủ nhận rằng, bên cạnh một sô' ít ấn phẩm nghiên cứu thực sự đáp ứng được những yêu cầu chặt chẽ về tính khoa học, khổng phải mọi nghiên cứu đã và đang tiến hành về gia đình theo phương pháp xã hội học đều đáp ứng đúng và đầy đủ đòi hỏi đó Qua hai cuốn sách của các

cơ quan nghiên cứu về gia đình và phụ nữ, một số chuyên đề về gia đình của Tạp chí Xã hội học (số 4, 1995), 2 sô' năm 1998 của Tạp chí Khoa học về phụ nữ, và 16 số ra năm 1997 và 1998 của Tạp chí Vãn hoá nghệ thuật, chúng tôi đã tìm được 45 bài viết về gia đình có áp dụng phương pháp nghiên cứu xã hội học Bài viết này ạẽ phân tích một sô' vấn đề nổi bật về phương pháp nghiên cứu trong 45 ấn phẩm đó, với hy vọng góp phần nâng cao chất lượng của các nghiên cứu khoa học về gia đình

1 "Ly hôn bừa bãi" là nhận xét được một tác giả nêu ra và nhắc lại trong cùng một bài viết (Trần Đình Hượu, 1996:52, 85) Nhận xét này hàm ý đánh giá tình trạng ly hôn gia tăng trong thời gian gần đây theo một quan điểm đạo đức truyền thống vốn được không ít người tán thành, coi ly hôn

Trang 2

như một hành động vô trách nhiệm và vô đạo đức Điều căn bàn hơn và cần nói nhất ở đây là nhận xét trên không dựa trên một sự tìm hiểu khách quan những cảm nghiệm mà đương sự trong một cuộc ly hỏn thường nếm trải Trong khi đó, nhiều nghiên cứu xã hội học về ly hôn ờ các nước khác nhau trcn thê' giới đã cho thấy, ly hôn hầu như bao giờ cũng rất cãng thẳng

và đớn đau vé tình cảm, thường tạo ra những khó khăn rất lớn về nhiều mặt với một hoặc cà hai đương sự Chẳng hạn, nhà nghiên cứu người Mỹ RobÃt Weiss đã phỏng vấn hàng loạt nam nữ ly hôn và thấy rằng, vổ mặt tâm lý và

xã hội, ly hôn gây đau khổ cho cả hai giới; chỉ một tỷ lệ nhỏ những người được hỏi có cảm giác khoan khoái vì được tự do và có khả năng sống theo ý mình Trong phần lớn các trường hợp, sự tôn trọng và ưa thích mà một cặp

vợ chồng vốn có với nhau đã mất đi trước khi họ ly thân Thay vào đó là sự thù địch và bất tín Những cuộc cãi cọ thường rất gay gắt Các cặp vợ chồng nếm trải cái mà Weiss gọi là "sự trầm cảm chia lìa" Việc người vợ (người chổng) cũ đột ngột không chung sống nữa tạo nên cảm giác lo âu và hoảng loạn Sau một thời gian nào đấy, cả nỗi đau khổ sự khoan khoái nhường chỗ cho Iihững cảm giác cô độc Những người ly hỏn thấy mình đã lìa bỏ cái thế giới gia đình yên ổn mà những người khác, dù có mọi vấn đé, vẫn đang sống trong đó (Giddens, 1989:401) Chỉ bằng một thái độ vô tư và khách quan khoa học, kết hợp với những phương pháp nghiỏn cứu đáng tin cậy, cuộc khảo sát trôn mới phát hiện cho ta thấy những người ly hôn đau khổ như thế nào Rất tiếc chúng ta chưa có nghiên cứu tương tự ờ Viột Nam để cho thấy các cặp ly hôn nếm trải những gì, liệu sô' đông trong họ có "bừa bãi" như nhận xét trích ra trẽn đây hay không?

Nhận xét đó không phải là ngoại lộ duy nhất, mà những phán xét đôi tượng nghiôn cứu của mình vể mặt đạo đức rất phổ biến trong các án phẩm khoa học Theo ý kiến của một nhà nghiên cứu nước ngoài (người tập hợp bài vở, biên tập và viết giới thiệu cho một cuốn sách chung giữa các tác giả

Mỹ và Việt Nam), thì các nhà nghiên cứu Việt Nam trong cuốn sách "không tránh thứ ngôn ngữ mang đậm màu sắc đạo đức; họ cũng không thấy như nhiều người phương Tây rằng cần tránh cái vẻ phán xét hay suy lý vé đạo đức ( ) Đúng và sai, công bằng và bất công đểu được khuôn vào dưới góc

độ cà những giá trị xã hội chủ nghĩa và những dấu tích của đạo đức truyền thống Điểu đó có xu hướng cho phép có một sự thuyết giáo đạo dức" (Barry, 1996:16)

Tác phong phán xét đối tượng nghiên cứu của mình về đạo đức như trên xuÁt phát từ chỗ nhiều nhà nghiên cứu đã không phân biệt được sự khác nhau giữa cách tiếp cận mà trong xã hội học gọi là "chuẩn mực" (normative

Trang 3

approach) với cách tiếp cận "thực nghiệm" khi nghiên cứu gia đình Cách tiếp cận chuẩn mực được nhào nặn bởi các truyển thông đạo đức, tởn g iio và chính trị Ở kháp nơi, các quy phạm, các chuẩn mực đạo đức, các giảo lý và luật nhà nước đểu cần thiết ch ế hoá hành vi gia đình: chọn vợ, chọn chốne như thế nào, giới hạn quan hẹ tình dục trong hôn nhãn, quyển lợi và nghĩa vụ

vợ chồng, trách nhiệm làm cha mẹ v.v Tóm lại, cách tiếp cận chuẩn mục đối với gia đình dé cập đến những khía cạnh chuẩn mực gia đình, những gì nén

và phải làm, những gì được coi là tốt và xấu, đúng và sai

Khác vói cách tiếp cận chuẩn mực, cách tiếp cận thực nghiệm (empirical approach) nhằm trả lời cho những câu hói về gia đình trong thực

tế, mà những câu trả lời này khòng thể rút ra từ các quy phạm có tính chuãn mực và những điểu đúng sai Những câu hòi như: "Lứa tuổi trung bình khi kết hôn lần đầu là bao nhiêu? Người ta thường chọn vợ chọn chổng trong thực tế như thế nào? Tỷ lệ ly hôn so vối tỳ lệ kết hôn là bao nhiêu?", v.v và v.v chi có thổ được trả lời bằng cách nghicn cứu gia đình như nó tổn tại trong thực tế, bằng thực nghiệm (tức là thòng tin và dữ liệu có thể được thu thập và đánh giá có hệ thống dê hiểu những gì diồn ra trong gia dìnli và tại sao) Cách tiếp cận thực nghiệm là dựa trên cơ sờ thu thập và phân tích dữ liệu để trả lời các câu hỏi đó

Lẫn lộn các cách tiếp cận chuẩn mực và thực nghiệm thường dẫn dến định kiến và sai lôch trong nghicn cứu, vi phạm nguyôn tắc cơ bản thứ nhất của khoa học là tính khách quan Nhà nghiôn cứu cần cô gắng để những yếu

tố riêng tư và chù quan của mình càng ít tham dự vào cuộc kháo sát càng tòt Tất nhiên, ai cũng có quan điểm của mình về một vấn để gia đình nào đó nhưng nhà nghiên cứu khác với người thường ờ chỗ anh ta phài tìm hiểu để

mô tả, lý giải và dự đoán những chù đề được nghiồn cứu Do đó, anh ta cần giảm ảnh hưởng của quan điểm riêng đến nghiên cứu của mình

2 Đổ đánh giá chất lượng các nghiên cứu vể gia đình, chúng ta còn có thể tập trung vào một khía cạnh quan trọng khác nữa trong nghiên cứu: quan điểm lý luân và khái niôm

Về mặt này, có thể nói lý luận vắng bóng hầu hốt các bài viết trên về gia đình; không có những nghiên cứu được chỉ đạo bởi các quan niệm lý thuyết; quá ít những nỗ lực nghiêm túc nhằm kiểm nghiệm lý thuyết và xây dựng lý thuyết Ở các công trình này lý luận xã hội học gia đình hẩu như không tồn tại đối với đa sô' các nghiên cứu thực nghiệm về gia dinh Chi 5 trong số 45 ấn phẩm có dổ cập đến lý luận vẻ gia đình Trong một bài viết, tác giả cũng chỉ điểm lại các định nghĩa khác nhau về gia dinh, chứ không

Trang 4

làm gì íơn Ỏ loạt ba bài viết khác, tác giả trình bày một cách lộn xộn và rối rắm nhmg thòng tin vé các khuynh hướng, các quan niệm lý thuyết trong xã hội hợi gia dinh trên thế giới, chứ không liên quan gì tới Việt Nam Theo nghĩa <ó, lý luận khỏng gắn với thực nghiệm, và khỏng có tác dụng định hướng ho thực nghiệm

H;U quả của tình trạng đó là gì? Trước hết là hicu sai các khái niệm lý luAn cc bàn

M>t ví dụ; "Gia đình Khổng giáo" là một khái niệm mang tính trừu tượng cao Đi có thể đo lường nó trong nghiên cứu thực nghiệm, nhà nghiên cứu cần

mõ xè íó thành những khái niệm cụ thể hơn (hay còn gọi là những "chi báo thực níniệm" có thê "càn đong đo đếm", lượng hoá được); nói cách khác, họ cần tha» tác hoá nó Trong mổt nghiên cứu thực nghiệm cùa mình, có hai tác giả đã (Uy giàn khái niệm "gia đình Khổng giáo" thành gia đình "sông chung hoậc sèig gần" bô mẹ chồng (Hirschma & Vũ Mạnh Lợi, 1996:164) Nói cụ thể hơn họ cho rằng gia đình Khổng giáo là hình thái mà cô dâu chú rẽ’ "sống chung loặc sống gần" bố mẹ chú rể! Đâv là một trường hợp điển hình của việc quy già» một khái niệm lý luận tinh tế thành một chi báo thực nghiệm thò thiển Liệu chíng ta có cần nhác lại ở dây những lời cùa Khồng từ về cách nên diễn giải và )iổu các khái niệm Khổng giáo như thế nào? Có Iigười hỏi Khổng Tử rằng "hếu" là gì, và nuôi bô mẹ có phài là "hiếu" không Khổng Tử đáp: "Ngày nay hiéi nghĩa là nuôi dưỡng cha mẹ Nhưng người ta cũng nuôi cả chó lẫn ngựa Mu viộc chăm sóc cha ipẹ không kèm sự tòn kính, thì có khác gì giữa nuỏi chi mẹ và nuòi súc vật" (Lang, o 1946:24) Như vậy, Khổng Từ nhấn mạnh "liếu" của con cái với cha mẹ; ỏng đòi hòi một người con trai có hiêu khAng pài sự thực thi nghĩa vụ một cách lạnh lùng, mà là thái độ nồng nhiệt và tôn kín) Nói cách khác, gia dinh Khổng giáo nhấn mạnh đặc biệt cách con cái tôn kínỉ cha mẹ, chứ khổng dưn giản chỉ nuôi cha mẹ Theo nghĩa đó khổng thê châ> nhận việc quy giàn gia đình Khổng giáo thành gia đình sòng cùng hoẠc gấi cha mẹ chổng!

Qiv giàn thô thiển gia đình Khổng giáo như trôn không phái sai lầm duy nh.t của hai tác già trên; họ còn đặt câu hỏi sai và hỏi nhẩm đối tượng Dựa tréi lời đáp cho các câu hỏi đặt sai của họ, họ đã đi đến kết luận rằng 80% nhíng người được hỏi không chung sống với ông bà nội (và ngoại nữa ),

từ đó siy ra rằng đại đa sô' gia đình Việt Nam không phải mỏ hình Khổng giáo ( Hrschman & Vũ Mạnh Lợi, 1996:167)

Tnng khi đó nhiều nghiên cứu khác lại cho thấy mô hình gia đình phổ biến tạ châu thổ sông Hổng là cặp vợ chổng trẻ sống chung với bô' mẹ chổng au khi cưới, rồi dần dẩn tách ra thường bằng cách ãn riêng nhưng vản

Trang 5

ở chung, rồi ăn riêng và ở riêng Theo một nguồn, 93,7% trong số 206 phụ

nữ kết hôn nói rằng họ khời đầu cuộc sống hôn nhàn ờ cùng một nhà với bô

mẹ chồng, chỉ có 6,3% có nhà và tự lập hộ riêng ngay sau khi cưới (Võ Phương Lan, 1994) Một nghiên cứu khác cũng cho kết quả tương tự: hầu hết trong sô' 1.200 phụ nữ có chồng ở sáu xã miền Bắc thích lập hộ riêng sau kh cưới, nhưng không đủ khả năng m u a hoặc làtn nhà mới, nên 73% son , chung với bố mẹ chổng 1-2 năm để chuẩn bị cơ sở vật chất cho việc làm nl.a riêng, chỉ 10% có nhà ngay sau lễ cưới (Havanon et al., 1997:22) •

Vậy các tác giả Hirschman và Vũ Mạnh Lợi đi đến kết luận sai lẩm đó như thế nào? May mắn thay họ có cho biết (trong bài viết của mình) nhừng phương pháp nghiên cứu họ đã áp dụng, cách họ chọn những người được hỏi

ý kiến (tức là cách chọn mẫu nghiên cứu), và họ đặt câu hỏi như thế nào - điều này khiến họ hoàn toàn khác với đa sô các nghiên cứu khác vé gia đình (như dưới đây ta sẽ rõ) Nhờ thế, người đọc đã biết sai lầm của hai nhà nghiên cứu này là:

- Đặt câu hỏi chung chung và dễ gây sai sót Hai câu hỏi của họ nhằm kiểm định có hay không mô hình gia đình sống chung hoặc gần bố mẹ chồng được đặt ra như sau: "Khi còn bé ông (bà) cố sống cùng làng hoặc gần gia đình bố đẻ hoặc gia đình mẹ đẻ không?" và "Khi còn nhỏ, anh (chị)

có sống cùng với ông (bà) hoặc bà con họ hàng không?" Rõ rang các câu hỏi này quá mông lung, không xác định về mặt thời gian "Khi còn bé (nhỏ)" chỉ một thời gian gần như vô định, trong khi đó thời kỳ một cặp vợ chổng mới cưới chung sống với bố mẹ chồng lại rất xác định, không kéo dài, nhất

là trong trường hợp tập tục không đòi hỏi họ là người trực tiếp chịu trách nhiệm chãm sóc cha mẹ chồng

- Không hỏi trực tiếp các cặp vợ chồng về nơi cư trú của họ sau khi cưới, mà hỏi "tất cả những người trong độ tuổi 15-65 trong mỗi gia đình" vé ông bà nội (ngoại) cùa họ khi họ còn bé Như vậy, hai tác giả đã hỏi nhầm đối tượng, và điều đó còn kéo theo những sai sót về trí nhớ của người được hỏi (nhất là khi hỏi về thời xa xưa, lúc họ còn nhỏ, thêm nữa, nhiều người được hỏi bây giờ đã già)

Điểu cần lưu ý rằng chính các tác giả trên đã phê phán một số nhà nghiên cứu khác (những người đã khẳng định sự tồn tại của mô hình hôn nhân ở nhà chồng) rằng "chỉ với khối lượng thực nghiệm rất hạn chế, nhiểu học giả có khuynh hướng dựa trên những bằng chứng đầy ấn tượng để khái quát" Nghĩa là hai tác giả muốn bác bò điều đã được chứng minh là đúng,

và bác bỏ một cách sai lầm

Trang 6

Thiếu một tri thức lý luận về quan hệ qua lại mât thiết giữa con cái đã lây vợ lấy chổng và cha mẹ họ còn khiến các tác già trẽn quy quan hệ giữa gia đình hạt nhún với bô mẹ chồng (và vợ) chỉ vé một khía cạnh duv nhất: di thâm lần nhau, và thấy rằng hơn 75% người được hỏi có bô mẹ còn sông dã viếng thám bô mẹ hàng ngày hoặc hàng tuần Bằng cách xem xét như vậy, những khác biệt (nếu có) giữa gia đình Việt Nam và phương Tây về mật quan hệ với bố mẹ chồng (hoặc vợ) đã bị quy giàn đến mức tối thiểu Cháng hạn, nếu ta so sánh con số trên đây của hai tác già với tỳ lệ viếng thăm bỏ

mẹ ờ gia đình Anh mà Willmott và Young cung cấp (ờ hai địa bàn dược nghicn cứu, 30% và 43% thăm bô' mẹ ngay ngày hôm trước khi được hỏi ý kiến), thì ngoài sự khác biôt về tỷ lệ người thăm viếng, chúng ta hầu như không được cho biết gì về khác biệt giữa hai nền văn hoá Nhưng như một nhà nghiên cứu gia đình người Anh đã nêu rõ, "vổ mặt xã hội học, hộ vấn dc

lý thú nhất là những vấn đề vể ý nghĩa" (Morgan, 1985:163) cùa hành dộng

và sự kiện Vé mặt này, có thể nói dưới góc độ xã hội học, ý nghĩa cùa các cuộc viếng thăm bố mẹ là khác hẳn nhau dối với các cập vợ chồng Anh và Viột Nam, ngay dù tỳ lệ người đi thãm có thể gần hoặc giống nhau Ở Việt Nam, "thăm bố mẹ" có thể hàm nghĩa trao đổi với bố mẹ sự giúp đữ thiết thục, trong khi tại Anh, "thăm bô' mẹ" rất có thể chỉ hàm.đúng nghĩa của tù

đó Rõ ràng, sự khiếm khuyết trong kiến thức lý luận đã đưa các tác giả bài viết nói trên tới chỗ bỏ qua một đặc điểm quan trọng của gia đình Việt Nam

3 Đọc 45 ấn phẩm nghiên cứu gia đình, ta thấy một điểm nổi bật là vẻn vẹn một ít trong số đó cung cấp cho bạn đọc những thông tin cần thiết vé các phương pháp đã áp dụng; đa số chỉ nêu vắn tát vẻ thời gian và địa diôm nghiên cứu Trừ năm bài có tính chất lý luận, chi mười trong sô' còn lại có nêu rõ phương pháp nghiôn cứu; còn ba mươi bài khác trình bày luôn kết quà nghiôn cứu dưới dạng các con sổ, tỷ lệ phần trăm, bảng biểu, v.v mà không cho biết phương pháp nghiên cứu nào đã áp dụng để đi đến kết quả, dung lượng mẫu ra sao, mảu được chọn như thế nào, cơ cấu mẫu ra sao về giới, lứa tuổi, tôn giáo, học vấn và nghể nghiệp, v.v và v.v

Nhiều bài viết trong cuốn sách "Những nghiôn cứu xã hội học vể gia đình Việt Nam" là những ví dụ như vậy Có bài hoàn toàn khòng dựa irôn cơ

sờ bất cứ nghiên cứu thực nghiệm nào; trái lại, đó chỉ là một tiểu luận, phát hiểu những suy nghĩ, ấn tượng chủ quan cùa tác giả về chủ đề gia đình, không hề có lấy một trích dần của các nhà nghiẽn cứu nào khác

Do đó bạn đọc, nếu hoài nghi một điểu gì dó từ các nghiên cứu này, hoàn toàn không thể kiểm nghiệm xem những kết quả được trình bày có

Trang 7

dáng tin cậy và có căn cứ hay không, mẫu nghiên cứu có đại diện cho cư dâ.n đòng đào khổng, nguyên tắc giấu tên những người trả lời dược tuân thủ h ay không, những chù đề nhạy cảm (tính dục, mâu thuản vợ chồng, bạo lực gua đình ) được hỏi ra sao v.v Nói cách khác, đằng sau vè ngoài chinh xác, khoa học của kết quả nghiên cứu dưới dạng các con số, tỷ lệ phần trăm, bán g biểu, là một sự mập mờ phi khoa học: người đọc không dược cho biết chút gì

về phương pháp nghiên cứu đã áp dụng để thu lại kết quả ấy

Yêu cầu nêu rõ phương pháp nghiên cứu trong một ấn phẩm khoa học không phải nhầm thoả mãn trí tò mò thông thường thc hiện ớ một câu nói nổi tiếng: "Điều quan trọng khòng phải ở phát hiện rằng trái đất tròn, mà là làm thế nào người ta đi đến phát hiện đó" Yêu cầu này là nhằm đảm bảo một nguyên tắc cơ bủn khác của tư duv khoa học: tính lặp lại (replicability) Tính lặp lại nghĩa là những phát hiện của một nghiên cứu có thể gặp bới nhà nghiên cứu khác nếu họ đi theo cùna một số thể thức nghiên cứu, hay những thể thức tương tự Cần phân biệt nhà khoa học, người có thổ có những thicn

vị và những giá trị ricng, với những thể thức khoa học vốn là các quy ước chung Ncu các thể thức mang tính khách quan và chung cho mọi người, được nêu rõ cho các nhà nghiên cứu khác biết, thì các nhà nghiên cứu khác

có thể tuân theo chúng, và gặp lại, hav bác bỏ, những phát hiện đã đạt đượe

Tất nhicn rất khó, hoặc không thể gặp lại đúng y hệt các kết quả nghiên cứu trước, nhưng nếu các phát hiện nêu lên được những mò hình quan hệ mạnh

mẽ và nhất quán, dủ để nhiều người khảo sát cùng thấy lại, thì chúng đáng tin cậy hơn

Trong tình hình chung đó, mười bài viết có nêu rõ phưcrng pháp mà các tác giả đã áp dụng trong nghiên cứu của mình là ngoại lệ hiếm hoi, và cần tính điểm cho họ vé điểu đó Thật đáng khâm phục tinh thần tự phê bình về mặt khoa học của cố tác giả Nguyễn Từ Chi, người mờ đầu bài tiểu luận về gia đình của mình đã nêu rõ: "Những gì viết sau đăy, tự thần chúng, khổng phải là một công trình nghiôn cứu Đấy chỉ là những cảm giác đầu tiên chưa thoát khỏi vòng trực cảm thuần tuý " (Nguyễn Từ Chi, 1997) Nhừ tinh thần

tự phê bình khoa học khá cao của tác giả các bài viết trên, chúng ta đã biết,

họ dùng phương pháp gì để thu thập dữ liệu, chọn mẫu ra sao, đặt câu hỏi như thế nào, và nói chung dữ liệu của họ đáng tin cậy và có cản cứ tới đâu Chẳng hạn, trên đây dựa vào những thông tin về phương pháp nghicn cứu mà hai tác già cùa một bài viết cung cấp, chúng ta đã phát hiện được những sai sót của họ khi tìm hiểu gia đình Khổng giáo ở Việt Nam

Trang 8

Một cuộc khảo sát thực nghiệm khác dật mục đích tìm hiểu "gia đình, riha nước và cá nhàn đã kct hợp như thế nào trong khi thực hiện các mong rnuốn và đòi hỏi cùa họ trong quá trình hỏn nhân" (Belanger & Khuất Thu lỉổng, 1996:246) ớ Hà Nội trước và sau công cuộc đổi mới kinh tế xã hội Tuân theo yêu cầu dối với một ấn phẩm khoa học thực nghiệm là nêu phương pháp nghiên cứu của mình, hai đồng tác giả người Canada và Việt Nam cho biết họ đã dùng phương pháp phỏng ván nhóm tập trung dối với nhung người đã kết hỏn ờ Hà Nội thuộc ba trình độ học vấn khác nhau ỉ)áng tiếc họ không nói rõ có ai (trong số những người tham gia thảo luận nhóm tẠp trung) không thuộc biên chế nhà nước, "làm ngoài" hay không Có

vẻ toàn bộ những người tham gia đều là cán bộ nhà nước Do đó, một trong nhừng kết luận quan trọng cùa bài viết rằng trước đổi mới, "trong khi lựa chọn, tiêu chuẩn quan trọng của người bạn đời tương lai là phài làm việc trong cơ quan Nhà nước (tốt nhất là đã có bicn chế)", xem ra chi đúng với những người trong biên chế nhà nước Như vậy trong việc chọn mẩu, hai đồng tác già này có lẽ đã sai lệch và thicn vị khi khỏng đưa bất kỳ người ngoài biên c h ế nhà nước vào mẫu Dù rất có thể người ngoài biên ch ế chi là sô' ít trong cư dan Hà Nội thời đó, điều này cần được chứng minh bàng con

số (mà hai dồng tác già không làm) Thêm nữa, ngay dẫu điều trên có thể là đúng, vẫn cần đưa dại diện của những người ngoài biên chế nhà nước vào niẫu nghiên cứu, đổ nghe ý kiến họ, và đê biết tiêu chuẩn chọn bạn đời của

họ Tiếc thay, đây cũng là việc mà hai đồng tác già khỏng thực hiện Họ cũng không đưa ra bất kỳ lời thuyết minh nào dê giới hạn tính khái quát trong các kết quà nghiên cứu của họ

Tóm lại, rất ít bài cung cấp thõng tin về việc làm thê' nào họ đi đến các kết quả nghiên cứu Càng ít bài viết nhìn nhận các phương pháp và kết quà nghiên cứu cùa mình băng con mắt tự phc bình khoa học, nồu lên một cách trung thực những thiếu sót và sai lệch có thể có trong nghicn cứu của mình, cũng như gợi ý cho những nghiẽn cứu cần tiến hành trong tương lai

4 Khác hản với tình trang thiếu vắng những ý kiến tự phc bình phương pháp và kết quả nghiôn cứu của minh là sự dồi dào các kiến nghị cho các nhà hoạt động thực tiễn Rất nhiều trong số 15 bài viết trong cuốn sách nghiên cứu

Mỹ - Việt (đã dản trên đủy) déu đưa ra những kiến nghị thực tiễn Nói theo lời ruột nhà nghicn cứu người Mỹ, ờ nhiều bài viết của các tác già Việt Nam, "các phái hiện cùa nghiên cứu trực tiếp dẫn tới những kiến nghị về chính sách" (Ikirry, 1996:16) Các nhà làm luật, hoạch định chính sách và những người làm cỏng tác thực tiễn, v.v hẳn không thiếu những kiến nghị, lời khuyên từ phía giới

Trang 9

nghiên cứu Chỉ có điều, độ khả thi và sự mới mỏ cùa các kiến nghị thì cán phải bàn, vì chúng phụ thuộc vào nhiều nhàn tố, trước hết là độ tin cậy và có càn cứ của bản thân các kết quả nghiên cứu

Trong bài viết về tính dục trẻ vị thành niên, hiếp dâm trẻ em và lạm dụng tình dục trẻ em, v.v (đăng trên một sô' của tạp chí "Vietnam social sciences" bằng tiếng Anh), một số tác giả nêu kiến nghị về giải pháp bằng cách yêu cầu mọi người tìm hiểu và thực thi bộ luật hình sự trừng trị những tôi trên Để tăng sức nặng cho kiến nghị của minh, các tác giũ đó còn trích dần nhiều điều luật liên quan của bộ luật hình sự (Vietnam social sciences, 1996)

Nhiều nhà nghicn cứu lập luận rằng: những nhà tài trợ cho một dự án, một đề tài nghiên cứu rất cán có và đã "đặt hàng" những kiến nghị thực tiền, nên giới khoa học phải thực hiện theo đơn đặt hàng này Nhưng bảo rầng một kiến nghị chung chung (ví dụ "Nhà nước cần quan tâm ", hay "quan tâm thôi chưa đủ, nhà nước nên giúp đỡ ") là bổ ích cũng đúng, mà nói rằng

nó vu vơ (vì không nhằm vào một ai rõ ràng, và không đề đạt một hành động

cụ thể nào) cũng không sai

Tinh trạng lạm phát kiến nghị cho các nhà hoạch định chính sách, và vể phần mình, thiếu những nhận xét tự phê bình và những thỏng tin vé phương pháp nghiên cứu phản ánh sự tự-tin thái quá của nhiều nhà nghiên cúu Điều này quả khác hẳn với một thực tiễn phổ biến trong khoa học xã hội phương Tây Theo một tác giả Mỹ, "nhiều nhà nghiên cứu phương Tây có thái độ hoài nghi đối với những chính sách xuất phát trực tiếp từ nghiên cún,

vì người ta cho rằng họ (tức các nhà nghiên cứu - MHB.) có thể không nhn

xa trông rộng do họ bỏ qua một điều gì đó trong khuôn khổ hạn họp cua nghiên cứu của mình" (Barry, 1996:16-17) Thiết nghĩ tinh thần thận trọng khia học này đáng là bài học cho nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam chúng ta

Quá nhiều kiến nghị còn có một gốc rễ sâu xa: không phân biệt dươc những nghiên cứu ứng dụng với nghiên cứu thuần tuý Nghiên cứu ứng ciụig

được tiến hành theo một cách thức sao cho kiến thức thu về có thổ được CIC

nhà hoạch định chính sách, các nhà tài trợ, các nhà hoạt động thực tiễn, vv

áp dụng Nhưng ngoài nghiên cứu ứng dụng, còn có nghiên cứu cơ bản (lioic nghiên cứu thuần tuý), mà thực chất là chỉ nhằm hiểu đúng hơn, chính Xic hơn gia đình và các vấn đề của nó Ai đó rất có thể chất vấn tính thiết thvc

và bổ ích trực tiếp của nghiên cứu cơ bản, song thật khó mà nói được rằig khi nào thì một nghiên cứu mới thoạt nhìn quá hàn lâm viện hoá ra lại d;n đến những phát hiộn có giá trị ứng dụng cao

Trang 10

Liên quan đến các kiến nghị, còn một vấn đề nữa: nhiều bài viết đưa ra những kiến nghị không hề xuất phát từ các bằng chứng và lập luận trong cuốc nghiên cứu, mà đột nhiên được đé xuất, như "từ trên trời rơi xuống" vậy Khỏi cần nói những kiến nghị kiểu này thật vô cân cứ đến đâủ!

Chúng tôi mới dọc và phân tích một số lượng nhò các ấn phẩm nghiên cứu về gia đình gần dây, từ một sô' sách báo chuyên môn hẹp, nên bỏ sót rất nhiều ấn phẩm khác Cần có một sự bao quát rộng rãi hơn nữa sô lượng ấn phẩm trước khi rút ra những kết luận chắc chắn vé tình hình nghiên cứu gia đình Thêm vào đó, nhũng nhận xét, đánh giá trên đày xuất phát từ các quy ước chung của giới học thuật quốc tế, nhưng rất có thể bị coi là không thích hợp với hoàn cảnh Việt Nam Dù sao chúng tôi cũng mạnh dạn đưa ra V kiến cùa mình với hy vọng góp ý, trao đổi nhằm nâng cao tính khoa học cùa nghiên cứu gia đình

SÁCH BÁO TRÍCH DẪN

- Barry, K (ed.) 1996 Vietnam's women in transition. London: Macmillan Press Limited

- Belanger, D & Khuất Thu Hồng 1996 "Một số biến đổi trong hôn nhân và gia đình ờ Hà Nội" Trong sách: Tương Lai (chù biến) Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học

xã hội

- Giddens, A 1989 Sociology. London: Polity Press

- Havanon, N & Archavannitknl, K 1997 Production reproduction and

fa m ily well-being The analysis o f gender relations in Vietnamese household. Hanoi: The population council

- Hirschman, Ch & Vũ Mạnh Lợi 1996 "Gia đình và cơ cấu hộ gia đình

Việt Nam Vài nét đại cương từ một cuộc khảo sát xã hội học gần đây" Trong sách: Tương Lai (chủ biến) Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam. Hà Nội: N hà xuất bàn Khoa học xã hội

Ngày đăng: 29/03/2021, 13:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w