1. Trang chủ
  2. » LUYỆN THI QUỐC GIA PEN -C

Giáo trình Xã hội học gia đình: Phần 1

20 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 1,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoàn toàn không phải ngẫu nhiên gia đình thu hút được nhiều quan tâm, và việc nghiẻn cứu gia đình hiện đang trờ nên sôi động... Nhưng thực ra..[r]

Trang 2

M A I H U Y B ÍC H

GIÁO TRÌNH

NHẢ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 3

MỤC LỤC■ ■

Lời giới th iệu 5

Phần I: XÃ HỘI HỌC GIA ĐÌNH Lời nói d ấ u 7

Chưcmg ỉ. Đ ịnh nghĩa gia đ ì n h 12

Chương // Quan điểm xả hội học vé gia đình 15

Chươnạ III. Sự đ a dạng c ủ a các hình thái gia (Jìn h 22

Gia đinh hạt n h â n 23

Gia đình m ờ rộ n g 25

Gia đình g ố c 25

Gia đình phụ h ệ t 26

Gia đình mẫu h ệ 26

Gia đình lưỡng h ệ 26

Gia đình phụ quy ền 27

Gia đình mẫu q u y ền 27

Gia đình ở nhà c h ồ n g 27

Gia đình ở nhà v ợ 43

Gia đình ở nơi m ớ i 44

Gia đình đơn hôn 45

Gia đình đa h ô n 45

Gia đình tái hôn 47

Nội hôn và gia đình thuần nhất với ngoại hôn và gia đình không thuần nhất 49

Gia đình ít con và gia đình đông c o n 50

Chương ỈV. Hôn nhân và gia đình theo quan điểm g iớ i 53

1 Phân công lao động gia đ ìn h 58

a) Coi nấu nướng là công việc của phụ n ữ 60

b) Quan hộ quyén lực giữa hai giới trong nấu ả n 61

2 Ra các quyết định gia đ ì n h 61

3 Bạo lực trong quan hộ vợ chồng 62

Chương V. Đườno đời và sự phát triển, biến đổi của cia đình theo đường đòi 71

1 Giai đoạn thành lậ p 74

a) Các lý thuyết vé cá n h â n 75

b) Các lý thuyết văn hoá xã h ộ i 76

3

Trang 4

2 Giai đoạn mở r ộ n g 86

3 Ly h ô n 90

a) Ly hỏn là một quá tr ìn h 95

b) Tác động cùa lv hỏn đến con c á i 100

4 Giai đoạn chia t á c h 103

5 Giai doạn tan rã 105

Chương Vỉ. Biến đổi gia đ ì n h 108

I Sự hiến đổi gia dinh ờ một số xã hội phương Tây (Anh và Mỹ) nửa sau thế kỷ X X 110

1) Quan hệ gia đình mở rộng đã biến dổi như thô nào 110

2) Vể quan hệ giới trong gia dinh dưới tác động cùa cône nghiệp h o á 111

3) Một vài dặc diêm về gia dinh phương Tày hiện đại 116

II Biến dổi gia đình ờ Việt Nam qua ví dụ người Kinh ờ Đồng bans sông Hổng trong những n á m 1945-1992 7 7 r 121

Chươrig VII Các cách tiếp cận ỉý thuyết vé gia dinh 131

1 Cách tiếp cận chức năng cấu trúc 133

a) George M urdock 134

b) Talcott Parsons 135

2 Cách tiếp cẠn xung đ ột 138

3 Cách tiếp cận theo thuyết tương tác biểu trưng 140

4 Thuyết trao dổi xã hội và lựa chọn hợp lý 141

5 Cách tiếp cận phát triển (đường đời) 145

6 Cách tiếp cận theo thuyết kiến tạo xã h ộ i 145

7 Thuyết nữ quyển phưctng T â y 147

8 Cách tiếp cân mácxít (ờ phưưng T â y ) 151

Sách báo trích d ả n 154

Tài liệu cẩn đ ọ c 163

Tài liộu gợi ý đọc th e m 163

Phần II: MỘT s ố CHỦ ĐỂ GIA ĐÌNH HIỆN NAY - Nâng cao tính khoa học cùa nghiên cứu gia đ ìn h 164

- VỔ một cách nhận diện gia đình Việt N a m 175

- Nơi cư trú sau hôn nhân của người Việt ừ đổng bằng sổng I lồ n g 184

- Vài nhẠn xét về vai trò chăm sóc và dạy dỗ của người c h a 204

- Gắn lý thuyết với thực nghiệm: trường hợp nghiên cứu vồ ly h ô n 223

- Một hình thái gia dinh mới ờ Thụy Điển và mấy vãn để đặt ra cho xã hội học gia d i n h 234

- Góp phần tìm hiểu người nỏns dàn Việt Nam thời kỳ dổi mới kinh tố xã h ộ i 250

4

Trang 5

LỜI GIỚI THIỆU

Cuốn sách náy gồm có hai phấn Phần I (Xã hội học gia dinh) nguyên la giáo trinh môn Xã hội học gia đỉnh, được Nhà xuất bản Khoa học Xã hỏi ấn

năm 2009 này Phần II (Một số chủ đé gia đình hiện nay) gồm những bài nghiên cứu viết vé chủ đé gia đinh đăng trèn nhiễu tạp chí khoa học khác nhau, và được tập hợp lám bài đọc đi kèm theo giáo trình.

Đối với tôi, với tư cách tác giả, thì ý tưởng kết hợp hai phần thành một cuốn sách đã đến thật tinh cờ, và lá theo gợi ý của một người bạn Tuy nhiên, sau khi suy nghĩ, tôi thấy sự kết hợp này không hẳn là một ngoại lệ như lúc đầu tôi tưởng, vì trong nghiên cứu vă dáo tạo cùa xã hội học thế giới, người ta thưởng xuất bản tuyển tập các bài dọc (reader) di kém theo giảo trinh (textbook) Dù vậy, đúng hơn, độc giả nên coi phần II la tập hợp các bai viết của tác giả vé gia đình để có thể theo dõi liến mạch mà thôi Nói cách khác, phẩn II là một nỏ lực nhằm kết hợp giáo trinh với tập hợp các bài đọc, chứ chưa thực sự là một tuyển tập những tài liệu dọc.

Sự kết hợp hai phần thành một này đòi hỏi tác giả phái có lời lý giải như sau.

Có nhiểu mục đích cho việc đưa các bài đọc vào Thử nhắt là cung cấp

cho độc giả là sinh viên, học vièn và nghiên cứu sinh những ý niệm cụ thể và minh họa sống động rằng những diều mà họ đọc và học ở trong giáo trinh được nhà xã hội học triển khai vá tiến hành trong nghiên cứu vé một chú đé

cụ thể như thê' nào, và cách sử dụng các khái niệm, lý thuyết và phương

pháp ra sao Thứ hai, tuy bần vể những chủ đé cụ thể khác nhau, song các

bài đọc đếu chung một mạch cảm hứng của tư duy phê phán (một điéu hết sức quan trọng trong nghiên cứu), và tác giả mong muốn truyén nó đến độc giả đổng thời là người học Tư duy phê phán ở đây không mang nghĩa lả chỉ trích, phê bỉnh người khác, mà là xu thế không dễ dãi chấp nhận những tn thức mới thu nhận được, hay sẵn cố Chúng ta chỉ tin váo nó sau khi đã phân tích, kiểm chứng kỹ càng Nói cách khác, tư duy phê phán là tinh thắn chủ tâm suy xét cẩn trọng xem có nên chấp thuận, bác bỏ hay chưa vội nhận định vé một tuyên bò' nào đấy trong học thuật, chừng nào chúng ta chưa kiểm định được nó dưới góc độ lôgic hay vé mặt thực nghiệm Nhà nghiên

Trang 6

cứu xã hội học nói chung rất cần tư duy phê phán, song người tìm hiểu vé gia đình càng cần tạo dựng và rèn luyện tư duy náy, vỉ đây tả lĩnh vực mà mỗi cá nhân déu có hiểu biết sống động trực tiếp của mình, do đó coi minh

là chuyên gia Theo nghĩa ấy, các bài đọc ở đây sẽ góp phần lám việc đó.

Do yêu cắu cập nhật kết quả nghiên cứu mới vào giảng dạy, kết hợp giảng dạy với nghiên cứu, nên tác giả đã đưa vào phần I nhiéu kết quà nghiên cứu của mình Bởi vậy, khi gộp hai phán thành một cuốn sách “hai trong một", ở vâi chỗ trong cuốn sách nảy, sự trùng lặp lá không tránh khỏi Tuy nhiên, mỗi bài viết riêng lẻ có mục tiêu riêng vả khác với giáo trình, nên có nhiéu điéu không thể đưa hết vào giáo trinh mà chỉ có thể đặt ở bài viết Mặt khác, giáo trinh thì không thể dành quả nhiéu chỗ cho một chủ đé nào đó để đảm bảo sự cân bằng tương đối với các chủ đé khác Nghĩa lả ở các bài viết còn có nhiéu điéu hơn là những gì được đưa vào giáo trình Bởi vạy, trong cuổn sách không xảy ra tình trạng trùng lặp hoàn toàn giữa hai phắn Hơn nữa, trùng lặp hay không cỏn phụ thuộc vào mục đích và cách đọc Độc giả nào quan tâm đến một chủ đé nào đó có thể tìm đọc bài viết ở phần II để theo dõi đầy đủ và toàn mạch vé nó; còn những độc giả muốn nắm bắt một số luận điểm chính của nó thi có thể theo dõi chỉ qua phần I.

Tác íỉiii

Trang 7

Phần I

XÃ HỘI HỌC GIA ĐÌNH

Lời nói đẩu

nông thôn vấn dẽ gia đinh, họ hàng nổi lên khá rầm rộ [ ] nhiéu chương trình nghiên cứu trong nước và hợp lác quốc tế [ ] cũng thường gặp nhau ở một điểm chung là gia đình" - đó là nhận xét xác dáng của một cố học già đáng kính (Trần Đình Hưựu, 1996:49) Hoàn toàn không phải ngẫu nhiên gia đình thu hút được nhiều quan tâm, và việc nghiẻn cứu gia đình hiện đang trờ nên sôi động Điểu này có nhiều lý do sâu xa

Thứ nhất, theo truyền thống, gia đình vẫn được coi là một trong những thể ch ế then chốt cùa xã hội Việt Nam Gần như mọi người trong độ tuổi kết hôn đều lấy vợ lấy chổng, hoặc mong muốn như vậy Theo dữ liệu cuộc điều tra gia đình Viột Nam năm 2006, trong số những người từ 15 tuổi trờ lên, thì 60,4% hiện đang có vợ có chồng, còn 31,6% chưa từng kết hôn (nhưng con

số này chủ yếu ờ nhóm 15-19 tuổi, và càng ở nhóm tuổi cao hơn, tỉ lệ chưa

có vợ có chổng càng thấp) Điổu đó cho thấy, kết hôn là phổ biến ở Việt Nam (Bộ Văn hoá, Thổ thao và Du lịch, Tổng cục Thống kô, Viện Gia đình

và Giới, Quỹ Nhi dồng Liên hợp quốc, 2008:34) Gia đình thòa mãn hầu như mọi nhu cầũ cơ bản cùa con người từ khi lọt lòng đến khi nhắm mất xuôi tay Sự gắn bó với gia đình khàng khít đến nỗi mọi thứ đéu đứng sau gia đình (Đào Duy Anh, 1938/1992:364; Woodside, 1976:28) Theo lời một nhà nghiên cứu góc Viột, đặc điểm cơ bản của Việt Nam là ành hường nổi trội cùa gia đình trôn tất cả mọi lĩnh vực: tôn giáo, văn hóa và xã hội (trích theo

Le Thi Que, 1986:3)

T hứ hai, nứa sau thế kỷ XX chứng kiến những biến đổi sâu sắc và lớn lao của gia đình Việt Nam Sự biến đổi đó là kết quả cùa nhiẻu nhân tố, trước hết do những chương trình cải cách kinh tế xã hội mà Đàng và Nhà nước tiến hành ban đầu ở mién Bấc, sau đó trên phạm vi toàn quốc Nhưng quan trọng hơn, xuất phát từ quan niệm mácxít về gia đình, vào cuối những năm 1950, Đảng Cộng sản Viột Nam đã đề ra và thực hiện nhiểu chính sách

và biên pháp nhằm thay đổi gia đình một cách triệt để Nòng cốt của quan niệm mácxít cho rằng mọi vấn để của đời sống gia đình hiện tại bắt rễ từ sự

sờ hữu tư nhân vé tài sản, vì thế cẩn xóa bò chế độ tư hữu Một khi đã làm được điều đó, những vấn đé gia đình không còn cơ sờ để tổn tại nữa Hình thái kinh tế xã hội mới đẻ ra gia đinh mới, phù hợp với nó Mượn lời một

7

Trang 8

nhàn vật trong cuòn tiểu thuyết "Mùa lá rụng trong vườn" cùa Ma Vãn Kháng (xuất bản nãm 1985, và được chuyển thể lên màn ánh nhỏ chiếu trên VTV lần đẩu vào tháng 3/2001), đã có một thời, chúng ta nghĩ ràng các quan hệ cha con, vợ chổng và anh chị em không còn vàn đổ gì cần bàn bạc nữa Nhưng thực ra kủ từ công cuộc đổi mới và chuyển sang nền kinh tê' thị trường, nhiều người nhận ra tẩm quan trọng ngày càng tăng cùa gia dinh và sự cần thiết của việc bảo vệ, cùng cố nó, và muốn vậy, trước hết cần tìm hiểu nó

Nhằm góp phần đáp ứng nhu cầu tìm hiểu xã hội học gia đình, cuốn sách này được viết ra với tư cách là tài liệu giảng dạy cho sinh viên, học viên cao học tại các trường đại học và Viện Xã hội học, Hà Nội Cuốn sách khòng tham vọng đưa ra một tổng quan bao quát rộng vé gia đình Mục đích của tài li(Ịu giảng dạy này là trang bị cách nhìn nhận dối lượng, cách tiẽp cận gia đình theo nhãn quan xã hội học chứ không cung cấp mọi hiểu biết vé xã hội học gia đình Người học được khuyên khích sứ dụng tri thức và cách liếp cận ờ đây đè’ tìm đọc rộng ra nhằm rèn luyện kỹ năng và cách nhìn, cũng như mờ mang hiểu biết Cao hơn nữa họ nón dùng các lý thuyết được giới

khảo sát thực nghiệm trong tương lai của mình

Cuốn sách cố gáng kết hợp chặt chẽ tư duy iý thuyết với nghiên cứu thực nghiệm trong xã hội học gia đình Về lý thuyết, thay vì trình bày một và chỉ một lý thuyết duy nhất đúng (như cách làm quen thuộc cụa nhiều giáo trình và sách tham khảo ờ nước ta), cuôn sách đưa ra nhiều cách xem xéi, lý giải và cắt nghĩa khác nhau, thậm chí đòi lập nhau vé cùng một chù đề Những cách tiếp cận nổi tiếng, và với thời gian, dã (rớ thành cổ điển được giới thiệu cùng những cách tiếp cận xuất hiện gần dây (ví dụ cách tiếp cận đường đời, quan điểm giới, cách tiếp cận kiến tạo xã hội, V.V.) Những khái niệm mới được giới thiệu và sừ dụng thay thế khái niệm cũ đã lỗi thời (như

"gia đình cha mẹ đơn thân" thay cho "gia đình không đầy đù", "đườns đời" thay "chu trình sống", V.V.) Mỗi lý thuyết trong xã hội học gia dinh thường được nôu rõ tôn và tác giả, nội dung chính của nó được tóm tắt; đồng thời cuốn sách cũng phân tích nhũng điểm mạnh và điểm yếu những đánli giá ca ngợi và cả những phê phán nó từ các góc độ khác nhau Việc này là để giúp người dọc làm quen và rèn luyện kỹ năng phân tích, đánh giá một lý thu\êì

và tránh quan niệm sai lộch mà tác giả cuốn sách này từng có dịp bàn đến (Mai Huy Bích, 2 0 0 lb) rằng áp dụng lý thuyết trong nghiên cứu chỉ có nghĩa là đổng ý với nó

Về thực nghiệm, người viết cuốn sách cũng cỏ gắng theo sát nhũng thành tựu nghicn cứu gần đây để cập nhật các kết quà ỡ cả Việt Nam lẫn íT:ột

8

Trang 9

số nước trẽn thế giới Tuy nhiên, do người viết chi có khả năng tiếp cận kẽt quà nghiên cứu của vài ba quốc gia nói tiêng Anh thuộc khối Anglo-Saxons, còn các nơi khác - thì qua sách báo tiếng Anh liên phạm vi bao quái dữ liệu nước ngoài chưa thật sự đáp ứng được yêu cáu da dạng Riêng dối với Viội Nam từ hơn 50 tộc người sinh sông trẽn lãnh (hố nước ta (dựa trên cách phân chia chính thức hiện hành), theo sự phân công lao động dược ngẩm thừa nhận trong khoa học xã hội chúng ta, thì xã hội học tập trung vào người Kinh, còn các tộc người khác là đối tượng nghiên cứu chù yếu cùa dàn tộc học - nhân học Do khả năng bao quát có hạn cùa người viết, cuốn sách này

sẽ chỉ xét gia đình người Kinh qua ví dụ vùng Đống bằng sông Hổng Trong khi khoanh vùng tìm hiểu gia dinh chỉ ở địa bàn và tộc người này, người viết

đé nghị độc giả ncn luôn nhớ rằng các mẫu hình gia dinh trên lãnh thổ Việt Nam vừa có nhũng nét chung nhất định vừa rất đa dạng Theo nghĩa dó gia dinh người Kinh ờ các địa bàn khác, cũng như gia đình các tộc ít người cùa Việt Nam - có thổ khác với mầu hình đề cập ờ dây - không dược bao quát trong cuốn sách này Ngay trong nội bộ người Kinh ớ dịa hàn nói trên, gia đình bên giáo (Thicn Chúa giáo) có nét khác với gia dinh bên Lương (Mai Huy Bích 1995) Tuy nhiên, hy vọna của người viết là việc kết hợp dữ liệu thực Iighiệm về mẫu hình gia dinh từ khống phái chi ờ một nước, một nén

Víìn hóa sẽ phần n à o giúp độc giả c ó m ột cái nhìn xuyên văn hóa.

Nam cũng như một số nước irỏn thê' giới, cuốn sách sử dụng rộng rãi các sách và tạp chí nghiên cứu mang tính chất hàn lâm viện, và ngoài ra, còn dùng cả báo chí thông thường Đây là cách khai thác dữ liệu dã được nhiều nhà xã hội học chấp thuận Nó dược vận dụng rộng rãi khòng chi trong kháo cứu của họ, mà cả ở các giáo trình, nhất là khi đề cập đốn những chủ đề mà giới hàn lâm viện chậm và kém thế hơn báo chí Khi đó, lất nhiên, người sứ dụng nên luòn ý thức được những đặc điểm và khác biệt giữa sách báo thõng thường với nghiổn cứu khoa học

Cách trích dẫn và chú thích sách báo trích dẫn trong cuốn sách này không theo những quy ước thông dụng bấy lâu nay của Việt Nam, mà chù yếu áp dụng các quy tắc của Hội Xã hội học quốc tế (nguyên là hệ thông có tên gọi Harvard và hiện dang được chấp thuận làm chuẩn trên Tạp chí

International Socioloẹv của Hội) Những quy chuẩn này có lẽ còn xa lạ với đông đào bạn đọc trong nước, nhưng người viết mạnh dạn giới thiệu đẽ độc giả làm quen: nếu chúng ta muốn hội nhẠp với công đồng nghe nghiệp quỏc

tố, thì không thổ không tiếp thu các quy chuẩn ấy Hơn thế nữa, đày là ycu cầu bắt buộc dối với luận án và các nghiên cứu của giới xã hội học nhiều nước Không chỉ học viên cao học, nghiên cứu sinh mà cà mọi nhà nghicn cứu xã hội học ờ những nước này dcu cần tuân thủ những quy chuẩn dó

9

Trang 10

v ề cơ cấu, sách bao gồm bảy chương, mỗi chương trình bày một chù đé riêng và tương đối độc lập với nhau, đồng thời các chương đểu tuân theo một logic chung Chương I bàn về những khó khăn và vấn đề trong những nỗ lực đưa ra một định nghĩa chung và có thể áp dụng mọi nơi, mọi lúc ve gia dinh

ở các nén văn hóa, các xã hội, hay thậm chí các nhóm trong cùng một xã hội (mà nguyên nhân cơ bản là gia đình rất đa dạng và khá linh động) Trong hoàn cảnh ấy, điều dẻ được chấp nhận hơn cả là xác định gia đình theo hoàn cảnh cụ thể Tiếp đó, chương II nêu lên những nét chính trong cách xã hội học tiếp cận gia đình, hay nhãn quan xã hội học về gia đình Điểu này nhằm giúp nhà nghiên cứu tránh khỏi xu hướng cùa tri thức thòng thường và của những người không làm xã hội học là coi gia đình hoặc mang tính riêng tư, chứ không chịu sự chi phối của các nhân tố văn hóa xã hội, hoặc chủ yếu bị ảnh hường của các quá trình tự nhiên (thỏa mãn nhu cầu tính dục, thụ thai, thai nghén, sinh đẻ, cho con bú V.V.)

Chương III trình bày cơ cấu gia đình, nghĩa là những thành viên nào cấu thành gia đình, quan hộ qua lại giữa các thành viên dưới nhiều góc độ khác nhau Điểm nổi bật khi xét cơ cấu gia đình là dù nhìn từ góc độ nào các hình thái của gia đình đều rất đa dạng, nhiều hình nhiều vẻ

Chương IV dành riêng xem xét cơ cấu gia đình dưới một góc độ mới và hiện đang trở thành thời sự là quan hệ giới Đây là một cố gắng tiếp thu và vận dụng những thành tựu lý luận và thực nghiệm mới trên thế giới và ơ Việt Nam vào một lĩnh vực tương đối nhạy cảm và nhiều vấn đề - do tình ưạng phổ biến mà một số nhà nghiỏn cứu gọi là "mù giới" Yôu cầu đặi ra trong chương này là nêu lên và phân tích quan hệ giới trong gia đình, trước hết à chủ yếu ở quan hộ vợ chồng, cả những yếu tố tích cực lẫn tiêu cực cùa nổ Nếu như các chương III và IV mổ xẻ và phân tích cơ cấu gia đình trong một thời điểm nào đó, và theo một nghĩa nhất định, xét nó ờ trạng thái tương đối tĩnh, thì chương V vận dụng một cách tiếp cận khác Đó là cách tiếp cân đường dời, nghĩa là khảo sát sự diễn biến, tiến hóa và thay đổi của gia đình theo thời gian Quan điểm động này đặt gia dinh trên trục thời gian, theo quá trình chung sống cùa các thành viên, nhằm nêu ra sự vận động của gia đình,

và là sự bổ sung cho quan điểm tĩnh của cách tiếp cận cấu trúc

Cũng liền mạch đó, chương VI đề cập đến sự biến đổi gia đình Nhưr;g khác với chương V chương này gắn sự thay đổi của gia dinh không phải vói đường đời các thành viên cá nhân, mà với những biến đổi kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội rộng lớn Nói cách khác, trong khi chương V xem xét íự vận động, thay đổi của gia đình ở cấp độ vi mô, thì chương VI - ớ sự gàn lién các cấp độ vi mô với vĩ mô Những vấn đề lý thuyết đặt ra khi nghicn cứu :ự biến dổi gia đình được nêu lên để đúc rút những bài học về phương pháp luậr

10

Ngày đăng: 10/03/2021, 16:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w