HN chỉ có thể xác lập, duy trì, tồn tại giữa những chủ thể minh mẫn, có nhận thức và điều khiển được hành vi của mình - Mặt khác, người mất NLHVDS là người không thể thực hiện được các n
Trang 1ĐỀ CƯƠNG LUẬT HN & GĐ
- -Câu 1: Phân tích các điều kiện KH theo Luật HNGĐ 2014
Khái niệm KH: là việc nam và nữ xác lập QH vợ chồng với nhau theo quy định của
Luật này về điều kiện KH và đăng kí KH
Khái niệm điều kiện KH theo PL HNGĐ VN là những quy định có tính chất bắt buộc
do NN quy định trong các văn bản PL và nam nữ phải tuân thủ khi KH Điều kiện KH có ý nghĩa quan trọng đối với việc KH và mục đích HN
- Thứ nhất, điều kiện KH nhằm tiêu chuẩn hóa việc KH của nam và nữ NN đảm bảo
mọi hành vi KH đều phải tuân thủ điều kiện như nhau, không phân biệt giữa các chủ thể, thành phần, địa vị xã hội và các yếu tố khác của các chủ thể tham gia KH Quy định này là
cơ sở bảo đảm quyền bình đẳng của công dân trong việc xác lập QHHN
- Thứ hai, điều kiện KH bảo đảm cho việc thực hiện mục đích KH của vợ và chồng trên
nền tảng các điều kiện KH, nam nữ đã đảm bảo đủ điều kiện về nhận thức, tâm sinh lý, khả năng thực hiện các chức năng của gia đình và trên cơ sở đó, vợ chồng thực hiện được các nghĩa vụ và quyền HN và gia đình đối với nhau và trách nhiệm đối với xã hội, cộng đồng và trước nhà nước
- Thứ ba, điều kiện KH theo luật định là cơ sở pháp lý loại trừ việc KH không đúng quy
định của PL và mục đích của việc KH Việc KH giữa nam nữ không chỉ nhằm đến lợi ích của
các bên đối với nhau trong việc thiết lập gia đình mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của người khác các trách nhiệm pháp lý về mối QH giữa vợ chồng với xã hội, cộng đồng Điều kiện
KH còn giúp cho gia đình phát triển bình thường, đáp ứng được mục đích của HN gia đình phát triển theo định hướng là tế bào lành mạnh của xã hội, góp phần giải phóng con người và được hưởng các quyền cơ bản của con người
Điều kiện KH được quy định theo điều 8 luật HNGĐ năm 2014:
1 Nam, nữ KH với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
b) Việc KH do nam và nữ tự nguyện quyết định;
c) Không bị mất NLHVDS;
d) Việc KH không thuộc một trong các trường hợp cấm KH theo quy định tại các điểm a, b,
c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.
2 NN không thừa nhận HN giữa những người cùng giới tính
Nam từ “đủ 20 tuổi, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên”
- Theo điểm a.K1.Đ8.LHNGĐ 2014 quy định: “Nam từ đủ 20t trở lên, nữ từ đủ 18t trở lên”
Trang 2- Nam, nữ khi KH, họ phải chứng minh mình đã đủ tuổi theo luật định Độ tuổi KH theo quy định của LHNGĐ 2014 là độ tuổi tối thiểu, bắt buộc đối với nam và nữ khi KH Việc
KH ở độ tuổi nào là do nam, nữ quyết định nhưng không được thấp hơn độ tuổi tối thiểu do
PL quy định Độ tuổi KH căn cứ vào nhiều yếu tố phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, lịch
sử lập pháp, thực tiễn thi hành PL đã được tổng kết và sự phát triển của con người VN
- Thứ nhất, độ tuổi KH căn cứ vào chỉ số phát triển tâm sinh lý của con người VN Con
người chỉ ý thức được việc KH và khả năng thực hiện các trách nhiệm của gia đình khi họ phát triển đến một mức độ nhất định về thể chất và ý thức xã hội Nếu nam, nữ KH khi chưa
đủ tuổi thì tùy thuộc vào mức độ, tính chất của vi phạm mà xử lý bằng các chề tài phù hợp
- Thứ hai, khả năng thực hiện các nghĩa vụ và quyền về HN và gia đình của vợ chồng Để
đạt được mục tiêu của việc KH thì vợ chồng phải có những kỹ năng nhất định trong đời sống gia đình và thực hiện các chức năng của xã hội Con người khi phát triển đến mức độ nhất định thì mới có khả năng tham gia lao động tạo thu nhập cho gia đình, gánh vác trách nhiệm, thực hiện các nghĩa vụ đối với nhau và đối với xã hội
Độ tuổi KH ở mỗi nước được quy định khác nhau và ngay cả bản thân nước ta trong mỗi thời kỳ khác nhau cũng có quy định khác nhau về tuổi KH Trước đây LHNGĐ 1986 và LHNGĐ 2000 đều quy định độ tuổi KH là “Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên” dẫn đến cách hiểu là nam bắt đầu bước sang tuổi 20, nữ bắt đầu bước sang tuổi 18 đã đủ điều kiện KH LHNGĐ 2014 đã quy định chặt chẽ hơn khi bổ sung thêm từ “đủ” vào độ tuổi, có nghĩa nam phải tròn 20 tuổi không thiếu 01 ngày, nữ phải tròn 18 tuổi không thiếu
01 ngày mới đủ tuổi KH
Việc KH do nam và nữ tự nguyện quyết định
- Theo điểm b.K1.Đ8.LHNGĐ 2014 quy định: “Việc KH do nam và nữ tự nguyện quyết định”
- Việc KH do bên nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào, không ai được cưỡng ép hoặc cản trở
- Việc KH giữa nam và nữ phải thể hiện sự mong muốn của các bên trong việc thiết lập
HN, xây dựng gia đình Động lực của việc KH là nam và nữ muốn chung sống với nhau, cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc và thực hiện các chức năng xã hội của gia đình
- Sự tự nguyện của nam nữ trong việc KH được thể hiện thông qua việc nam nữ tự nguyện quyết định; thể hiện mong muốn trong việc thiết lập QHHN, thông qua các hành vi sau:
+ Ký trong tờ khai đăng kí KH
+ Thể hiện sự đồng ý KH tại cơ quan hộ tịch
+ Ký vào sổ đăng kí KH
+ Ký vào giấy chứng nhận KH
- Việc KH tự nguyện có ý nghĩa quan trọng trong việc xác lập HN:
+ Thứ nhất, HN chỉ có thể đạt được mục đích khi việc KH là tự nguyện Sự tự nguyện là yếu tố đảm bảo cho các thành viên trong gi đình chung sống với nhau, quan tâm, chăm sóc nhau, cùng xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc và bền vững Mục đích của HN đạt hay không phụ thuộc vào tình yêu và sự tự nguyện của vợ và chồng khi thực hiện các trách nhiệm pháp lý đối với nhau và đối với người khác
+ Thứ hai, KH tự nguyện xóa bỏ tàn tích của HN phong kiến lạc hậu HN tự nguyện thể
hiện sự tự do lựa chọn người bạn đời của mình nhằm chung sống lâu dài, hạnh phúc Mọi sự gắn bó không xuất phát từ sự tự nguyện đều là mầm móng của sự tan vỡ, là nguyên nhân của
Trang 3các xung đột trong đời sống gia đình Quan niệm KH theo ý chí cha, mẹ, ông, bà trước đây
đã lỗi thời, không còn phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh kinh tế xã hội và nhận thức của con người trong giai đoạn hiện nay
Không bị mất năng lực hành vi dân sự
- NLHVDS là khả năng của cá nhân trong việc nhận thức, điều khiển hành vi của mình xác lập quyền, thực hiện nghĩa vụ dân sự với cá nhân, tổ chức khác
- Người bị mất NLHVDS là người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình Theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, TA ra quyết định tuyên bố người này là người mất NLHVDS trên cơ sở kết luận giám đinh pháp y tâm thần
- Người mất NLHVDS không thể KH vì họ không thể hiện được ý chí khi tham gia KH Quy định này nhằm đảm bảo cho HN được thiết lập trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng HN chỉ
có thể xác lập, duy trì, tồn tại giữa những chủ thể minh mẫn, có nhận thức và điều khiển được hành vi của mình
- Mặt khác, người mất NLHVDS là người không thể thực hiện được các nghĩa vụ và quyền giữa vợ và chồng, trách nhiệm của gia đình đối với xã hội Hầu hết các trách nhiệm trong gia đình đòi hỏi vợ và chồng phải là người có khả năng thực hiện một cách tích cực để tạo điều kiện cho gia đình tồn tại và phát triển Việc một bên vợ hoặc chồng là người mất NLHVDS không những họ không thực hiện được trách nhiệm của mình mà còn có thể có những hành vi xâm phạm quyền lợi bên kia
- Quy định này còn là yếu tố đảm bảo cho sự phát triển lành mạnh của con Theo khoa học, những chứng bệnh làm cho cá nhân bị mất NLHVDS có khả năng di truyền cho thế hệ
kế tiếp, làm suy thoái nòi giống cũng như tạo ra gánh nặng cho gia đình và xã hội
- Theo luật định, khi cơ quan hộ tịch phát hiện người tham gia KH có dấu hiệu mất NLHVDS, họ có quyền yêu cầu người đó chứng minh là họ không bị mất NLHVDS
V iệc KH không thuộc một trong các trường hợp cấm KH theo quy định tại các điểm
a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này
Theo đó, cấm các hành vi sau đây KH:
a) KH giả tạo, LH giả tạo: Thông thường việc KH giả tạo, LH giả tạo hướng đến mục
đích tư lợi thông qua hành vi tuân thủ các quy định của PL Thực chất việc KH giả tạo, LH giả tạo không vi phạm điều kiện về sự tự nguyện trong việc KH, vì cả 2 chủ thể có sự bàn bạc, thỏa thuận với nhau nhưng việc KH này không đảm bảo sự tiến bộ trong HN VD: KH nhằm được xuất cảnh ra nước ngoài, KH để được nhập hộ khẩu vào thành phố,…
b) Tảo hôn, cưỡng ép KH, lừa dối KH, cản trở KH:
- Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả 2 bên chưa đủ tuổi KH theo quy
định của PL
Trang 4- Cưỡng ép KH là hành vi buộc người khác phải KH trái với nguyện vọng của họ Việc
cưỡng éo KH có thể là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thực hiện các hành vi khác tác động đến nam, nữ để họ KH theo ý muốn của người thứ ba VD: Cha mẹ ép con
KH để trừ nợ, cha mẹ các bên hứa hẹn với nhau,…
- Lừa dối KH là hành vi cố ý của một bên nhằm làm cho bên kia hiểu sai sự thật về thân
nhân, hoàn cảnh của mình nên đã đồng ý KH VD: Không có khả năng sinh lý nhưng cố tình giấu, biết mình bị nhiễm HIV nhưng cố tình giấu,…
- Cản trở KH là hành vi ngăn cản người khác KH trái với nguyện vọng của họ Cản trở
KH có thể là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thực hiện các hành vi khác làm cho nam, nữ không thực hiện việc KH theo ý chí của mình
c) Người đang có vợ, có chồng mà KH hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà KH hoặc chung sống như vợ chồng với người đang
có chồng, có vợ: Người đang có vợ có chồng là người đang tồn tại HN hợp pháp, các bên vợ
chồng đều còn sống và chưa LH NN chỉ thừa nhận chế độ HN một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng PL không chấp nhận chế độ đa thê đa phu bởi bản chất của tình yêu là không thể chia sẻ, vợ chồng có trách nhiệm chung thủy với nhau và cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ PL quy định như vậy là để đảm bảo cho vợ chồng thực hiện một cách tốt nhất các chức năng của gia đình và thực hiện tốt nghĩa vụ đối với nhau
d) KH hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng
- KH hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ Những
người cùng dòng máu về trực hệ là những người có cùng huyết thống Là giữa cha mẹ đối với con, giữa ông bà với cháu nội cháu ngoại
- KH hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người có họ trong phạm vi ba đời Là
những người có cùng một gốc sinh ra Cấm KH giữa cha mẹ đối với con; ông bà đối với cháu nội, cháu ngoại; giữa anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; giữa anh chị em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì ruột; giữa bác, chú, cô, cậu, dì ruột Những người có cùng huyết thống hoặc có huyết thống gần nhau sẽ không còn đảm bảo việc thực hiện chức năng duy trì nòi giống nếu họ là vợ chồng Những người có củng dòng máu về trực hệ, có họ trong phạm vi 3 đời là vợ chồng của nhau con sinh ra sẽ bị biến dạng vê di truyền, không lành lặn về mặt thể chất, trí tuệ, tinh thần
- Cấm KH hoặc chung sống như vợ chồng giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng Tuy những QH này không có thân thuộc
nhưng NN cấm vì để đảm bảo sự trong sáng, lành mạnh của những QH đó Hơn nữa, truyền
Trang 5thống đạo đức không cho phép đánh đổi QH cha mẹ và con Bậc làm cha làm mẹ phải là tấm gương sáng, tốt đẹp để các con học tập, noi theo; các con phải nghe lời dạy bảo của cha mẹ
Nhà nước không thừa nhận HN giữa những người cùng giới tính
- HN là sự kết hợp giữa người đàn ông và người đàn bà theo lẽ tự nhiên nhằm xây dựng
gia đình và sinh con đẻ cái Việc KH giữa những người khác giới là sự kiện tự nhiên gắn liền với nhu cầu của con người, tạo ra sự cân bằng trong xã hội loài người, làm thăng hoa giá trị cuộc sống Những người cùng giới tính KH là hành vi đi ngược lại với quy luật tự nhiên Hơn nữa, những người cùng giới tính KH sẽ không thực hiện được chức năng của gia đình, các quyền và nghĩa vụ về nhân thân, tạo ra sự xung đột về sự cân bằng trong xã hội, ảnh hưởng đến đời sống chung của xã hội
- Đối với vấn đề này chúng ta có thể thấy được rằng nhằm bắt kịp với thực trạng của xã hội hiện tại thì LHNGĐ 2014 đã có quy định khác với LHNGĐ 2000 về vấn đề giới tính của
hai người KH K5.Đ10.LHNGĐ 2000 quy định “cấm KH giữa những người cùng giới tính” còn K2.Đ8 LHNGĐ 2014 quy định “NN không thừa nhận HN giữa những người cùng giới
tính”., Những người cùng giới có thể làm lễ cưới, thực hiện các nghi thức KH như những
cặp đôi nam nữ bình thường khác tuy nhiên PL lại không công nhận mối QH của họ là HN hợp pháp, việc họ ăn ở chung với nhau không làm phát sinh quyền, quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm như vợ chồng hợp pháp có đăng ký KH Việc nhà nước không thừa nhận HN giữa những người đồng giới xuất phát từ chức năng duy trì nòi giống của HN và xuất phát từ việc nếu công nhận HN đồng giới cũng có nghĩa nhà nước đã trao quyền cho họ, việc đó buộc nhà nước phải có những chính sách để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, cũng như có những sự điều chỉnh trong những quy định của PL nước mình cho phù hợp với việc công nhận và việc này sẽ gây ra một sự xáo trộn rất lớn Chính vì các lý do trên mà nước ta không cấm cũng như không công nhận HN giữa những người cùng giới tính
Từ những phân tích trên về điều kiện KH chúng ta có thể thấy được rằng LHNGĐ 2014
đã có sự điều chỉnh và hoàn thiện các quy định của PL về điều kiện KH cho phù hợp với thực tiễn nước ta so với những quy định của LHNGĐ 2000 Như vậy để việc KH trong thời điểm này không trái với các quy định của PL thì hai bên khi đăng ký KH phải đảm bảo được đầy đủ các điều kiện KH được quy định trong LHNGĐ 2014
Câu 2: Nêu khái niệm KH trái PL, các trường hợp KH trái PL và cách thức xử lý
Khái niệm KH trái PL:
Khái niệm KH trái PL là hình thức KH không được PL thừa nhận mặc dù trong chừng
mực nào đó hành vi KH này có tuân thủ PL KH trái PL là việc KH có đăng kí KH tại cơ
quan có thẩm quyền nhưng tại thời điểm KH một hoặc cả 2 bên tham gia việc KH vi phạm các điều kiện KH do luật định Việc KH trái PL sẽ bị xử lý theo quy định của quy định của
PL và không được NN bảo hộ như việc KH hợp pháp
Các trường hợp KH trái PL:
Trang 6- Thứ nhất, nam nữ tham gia KH khi chưa đạt đến độ tuổi theo luật định Người nam
tham gia KH khi chưa đủ 20 tuổi, người nữ tham gia KH khi chưa đủ 18 tuổi Việc KH này trái với quy định của PL HNGĐ
- Thứ hai, thiếu sự tự nguyện của một hoặc cả hai bên nam nữ trong việc KH Bên nam,
nữ hoặc cả hai bên tham gia KH do bị cưỡng ép, lừa dối, tảo hôn, kết hôn giả tạo Việc KH này không phản ánh đúng mong muốn của họ trong việc xác lập QH vợ chồng
- Thứ ba, người mất NLHVDS KH Tại thời điểm KH, một hoặc cả hai bên nam, nữ tham
gia KH lâm vào tình trạng không có khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình nhưng vẫn tham gia KH và được cơ quan hộ tịch công nhận
- Thứ tư, người tham gia vào việc KH đang trong tình trạng đang có vợ, có chồng Đó là
những người đang tồn tại QHHN hợp pháp nhưng sử dụng các biện pháp khác nhau để đăng
kí KH với người khác, vi phạm chế độ HN một vợ, một chồng
- Thứ năm, những người tham gia KH là những người có cùng dòng máu về trực hệ hoặc
có họ trong phạm vi 3 đời Đó là những người có cùng huyết thống hoặc có quan hệ huyết
thống gần nhau
- Thứ sáu, những người tham gia KH là cha, mẹ nuôi với con nuôi; những người đã từng
là cha, mẹ nuôi với con nuôi, đã từng là bố chồng với con dâu, đã từng là mẹ vợ với con rể,
đã từng là bố dượng với con riêng của vợ, đã từng là mẹ kế với con riêng của chồng
Khi phát hiện việc KH trái PL, theo yêu cầu của chủ thể có thẩm quyền, TAND có quyền
ra quyết định hủy việc KH trái PL
Xử lý các trường hợp KH trái PL
- Nếu tại thời điểm TAND giải quyết yêu cầu hủy việc KH trái PL mà cả hai bên đã có đủ
điều kiện KH theo luật định và hai bên yêu cầu công nhận QHHN thì:
+ TAND công nhận QHHN đó
+ QHHN được xác lập từ thời điểm các bên đủ điều kiện KH theo luật định
- Nếu tại thời điểm TAND giải quyết yêu cầu hủy việc KH trái PL mà cả hai bên có đủ điều kiện KH theo luật định và một hoặc hai bên yêu cầu hủy việc KH trái PL hoặc một bên yêu cầu ly hôn còn bên kia không yêu cầu thì TAND quyết định hủy việc KH trái PL
- Nếu tại thời điểm TAND giải quyết yêu cầu hủy việc KH trái PL, hai bên vẫn không đủ điều kiện KH mà một trong hai bên yêu cầu ly hôn, hoặc một trong hai bên yêu cầu công nhận QHHN thì TAND bác bỏ yêu cầu của họ và ra quyết định hủy việc KH trái PL
Câu 3: Hãy trình bày về quyền và nghĩa vụ của vợ và chồng đối với TS chung
Trang 7Để HN ổn định, lâu dài, bền vũng và hạnh phúc thì vấn đề vô cùng quan trọng đó là đời sống vật chất ,kinh tế và TS của vợ và chồng Thời kì HN có ý nghĩa trong việc xác định thời điểm phát sinh TS chung Vợ và chồng có nghĩa vụ và quyền TS giữa vợ và chồng ngang nhau nhằm duy trì tạo lập phát triển TS chung ,chăm lo đời sống chung trong gia đình
- TS chung của vợ chồng là TS thuộc sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia Đó là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của các sở hữu chung không được xác định đối với TS chung
Các loại TS chung của vợ chồng bao gồm:
TS do vợ chồng tạo ra trong thời kì HN, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh trong thời kì HN
- Đây là nhóm TS chủ yếu của vợ chồng Duy trì, phát triển TS chung, chăm lo đời sống chung trong gia đình phần lớn đều dựa vào loại TS này Khối TS chung của vợ chồng có thể được tạo thành từ 3 nguồn: do người chồng tạo ra, do người vợ tạo ra và do cả hai vợ chồng tạo ra Xuất phát từ tính chất của QHHN là cùng chung ý chí, cùng chung công sức trong việc tạo lập, chăm lo đời sống gia đình, nên PL không căn cứ vào sức đóng góp của mỗi người Do sức khỏe, năng lực, trình độ,…vợ và chồng có thể tạo lập khối TS chung không ngang bằng nhau, nhưng PL vẫn thừa nhận quyền bình đẳng giữa vợ và chồng đối với khối
TS chung đó
Các khoản thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kì HN
- Thu nhập hợp pháp khác ở đây có thể được hiểu là số tiền mà vợ, chồng trúng xổ số; số tiền thưởng mà vợ, chồng nhận được; hay khoản tiền trợ cấp,… Như vậy, các khoản thu nhập hợp pháp này có thể do một mình người chồng hoặc người vợ có được, và thời điểm có được này là trong thời gian họ đang là vợ chồng của nhau Theo luật định, TS được coi là TS chung phải có nguồn gốc hợp pháp Nếu như vậy, TS do vợ hoặc chồng trộm cắp, buôn lậu, tham nhũng,…mà có nguồn gốc bất hợp pháp thì sẽ không được xem là TS chung
TS mà vợ chồng được tặng cho chung, thừa kế chung
- Đây là những TS mà vợ chồng được chủ sở hữu thể hiện ý chí chuyển giao quyền sở hữu lại cho cả hai vợ chồng Tôn trọng quyền định đoạt của chủ sở hữu TS, PL xác định những TS này là của chung 2 vợ chồng Để xác định là TS chung của vợ chồng, phải dựa vào ý chí của người tặng cho, người để lại thừa kế Theo luật định, TS mà vợ chồng được thừa kế chung để trở thành TS chung chỉ có thể xảy ra trong trường hợp thừa kế thoe di chúc, bởi vì diện và hàng thừa kế theo PL không có con dâu, con rể Trong những trường hợp đặc biệt, nếu cả vợ và chồng đều được hưởng thừa kế theo PL, thì phần mà mỗi người được hưởng sẽ là TS riêng của người đó
TS riêng của vợ hoặc chồng nhưng họ đã đồng ý nhập vào khối TS chung
Trang 8- Quy định này vừa thể hiện rõ quyền tự định đoạt của vợ chồng đối với TS thuộc sở hữu của mình, vừa thể hiện quyền của vợ chồng trong việc quyết định về phạm vi các TS thuộc
sở hữu chung Loại TS chung này của vợ chồng thực chất được xác định vào ý thức chủ quan của vợ, chồng Việc nhập hay không nhập TS riêng của vợ, chồng vào khối TS chung của vợ chồng hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của vợ, chồng, PL không can thiệp Trường hợp nhập TS riêng của một bên vào khối TS chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ riêng của bên đó về TS (nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ trả nợ cho người khác,…) thì vô hiệu Quy định này nhằm tạo cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp về TS giữa vợ chồng sau này, đồng thời bảo vệ quyền lợi cho các chủ thể khác có liên quan
Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với TS chung
Vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với TS chung (cùng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt TS chung; bình đẳng với nhau không phân biệt giữa lao động trong gia đình hay lao động có thu nhập): Tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh, mà mỗi gia đình có sự
bàn bạc, thỏa thuận, phân công giữa vợ và chồng trong việc quản lý TS chung Việc quản lý
TS chung của vợ và chồng phảo đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tiến bộ Đối với
TS chung của vợ chồng thì vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt TS Quyền bình đẳng của vợ chồng đối với khối TS chung thể hiện trong việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến TS chung có giá trị lớn hoặc nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng TS để đầu tư, kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thỏa thuận Trong trường hợp vợ, chồng ủy quyền cho nhau thì người được ủy quyền có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt TS chung trong phạm vi được
ủy quyền
TS chung của vợ chồng được sử dụng để đáp ứng các nhu cầu chung của gia đình
và thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng: Mục đích sử dụng TS chung của vợ chồng
trước hết nhằm để đáp ứng các nhu cầu chung trong gia đình, như để ăn, ở, mua sắm đồ dùng sinh hoạt,… phục vụ cho đời sống của các thành viên trong gia đình về vật chất, tinh thần, đồng thời dùng để thực hiện các nghĩa vụ về TS của cả 2 vợ chồng Về nguyên tắc, vợ
và chồng không được lấy TS chung để thỏa mãn các nhu cầu riêng tư của mình, các bên chỉ
có thể thực hiện điều này khi có sự đồng ý của cả 2 vợ chồng
Việc xác lập thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến TS chung của vợ chồng cần phải được sự đồng ý của vợ và chồng: Việc định đoạt của vợ và chồng liên quan đến TS
chung sẽ ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của gia đình, do đó PL yêu cầu phải có sự bàn bạc, cân nhắc thận trọng của hai vợ chồng và phải do 2 vợ chồng quyết định Quy định này không những thể hiện quyền bình đẳng mà còn nhằm bảo vệ quyền lợi cho gia đình Trong trường hợp thiếu sự thống nhất ý chí của một bên vợ hoặc chồng thì bên còn lại có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố gia dịch đó vô hiệu
Vợ chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với các giao dịch do một bên thực hiện:
Khi vợ hoặc chồng thực hiện một giao dịch liên quan tới TS chung, phải có sự đồng ý của 2
vợ chồng Tuy nhiên trong một số trường hợp, giao dịch của vợ hoặc chồng liên quan đến TS chung có thể chỉ do một bên thực hiện, phía bên kia cho dù không biết hoặc biết nhưng
Trang 9không đồng ý, vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm Đó là gia dịch dân sự hợp pháp, nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình
Câu 4: Hãy trình bày về quyền và nghĩa vụ của vợ và chồng đối với TS riêng
Các loại TS riêng của vợ và chồng bao gồm:
TS riêng của vợ, chồng có trước khi KH
TS được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ HN
TS chung của vợ, chồng nhưng họ đã chia riêng
TS phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng (đồ dùng cá nhân và tư trang)
Quyền và nghĩa vụ của vợ và chồng đối với TS riêng
Vợ chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt TS riêng theo ý chí của mình (phù hợp với quy định PL), miễn là không làm thiệt hại hoặc ảnh hưởng đến lợi ích nhà
nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Xuất phát từ lợi ích chung của gia đình, do đó trong trường hợp hợp TS chung không đủ để đáp ứng các nhu cầu chung trong gia đình, thì vợ, chồng phải dùng TS riêng của mình để đáp ứng các nhu cầu đó Đối với các TS mà vợ, chồng đã chi dùng cho gia đình mà không còn nữa thì vợ, chồng không có quyền đòi lại
Vợ chồng có quyền quyết định nhập hoặc không nhập TS riêng của mình vào khối
TS chung của vợ chồng Tuy nhiên, với những TS riêng khi tham gia giao dịch, PL yêu cầu
phải tuân theo hình thức nhất định thì vợ, chồng cũng phải tuân theo hình thức đó khi nhập vào TS chung Việc nhập TS riêng vào TS chung mà xâm phạm đến lợi ích gia đình hoặc trốn tránh các nghĩa vụ về TS sẽ không được PL thừa nhận
TS riêng của các bên vợ, chồng do họ tự quản lý Trong trường hợp vợ hoặc chồng
không thể tự mình quản lý TS riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thì PL dành cho người chồng, người vợ của họ có quyền quản lý TS đó
Nghĩa vụ của mỗi bên vợ, chồng có trước khi KH TS mà vợ, chồng có được trước khi
KH được xác định là TS riêng của người đó Họ có toàn quyền sở hữu đối với khối TS này
Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt TS riêng TS riêng gắn liền
với chủ sở hữu, về nguyên tắc, chủ sở hữu có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt một cách độc lập về TS mà mình sở hữu Vì vậy, những chi phí phát sinh trong quá trình quản lý, sử dụng cũng chỉ gắn liền với chủ sở hữu
Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình Nếu vợ, chồng tự thực hiện giao dịch nhưng chứng minh được giao dịch mà họ
thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch
Trang 10này là nghĩa vụ chung của vợ và chồng Ngược lại, nếu không chứng minh được giao dịch
mà mình thực hiện là nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì người đó phải thực hiện bằng chính TS riêng của mình
Nghĩa vụ phát sinh từ hành vi VPPL của vợ, chồng Những hành vi trái PL của vợ,
chồng như xâm phạm TS, tính mạng, sức khỏe của một ai đó dẫn đến hậu quả là phảu gánh chịu trách nhiệm về TS thì là nghĩa vụ riêng của chính người đó
TS riêng của vợ, chồng được dùng để đáp ứng nhu cầu chung của gia đình (trong trường hợp TS chung không đủ)
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có sau khi KH (mà không phải được thừa kế riêng, tặng cho riêng) là TS chung của vợ chồng
Lưu ý:
- Điểm mới của LHNGĐ 2014 thừa nhận chế độ TS theo luật định và theo thỏa thuận: nam và nữ có quyền lựa chọn chế độ TS theo thỏa thuận (hoặc lựa chọn nhưng thỏa thuận này bị TAND tuyên bố vô hiệu) thì sẽ áp dụng TS theo luật định
- Dù áp dụng chế độ TS nào thì cũng phải tuân thủ nguyên tắc chung:
+ Đảm bảo quyền bình đẳng giữa vợ và chồng
+ Đảm bảo lợi ích chung của gia đình
+ Đảm bảo quyền lợi của người thứ ba ngay tình
Câu 5: Ai có quyền yêu cầu LH?Ai có thẩm quyền giải quyết việc LH?
HN là sự gắn kết từ hai phía nam và nữ HN có thể được gọi là “kết thúc” đẹp của một tình yêu trai gái Khi KH, hai bên tự nguyện đến với nhau và được PL công nhận Tuy nhiên trong cuộc sống, có nhiều điều mà tình yêu không thể giải quyết được, các bên lựa chọn cách giải thoát cho nhau bằng việc LH
LH theo quy định tại khoản 14, điều 3, Luật HN và Gia đình năm 2014 là “LH là việc chấm dứt QH vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực PL của Tòa án”
Quyền yêu cầu giải quyết LH được quy định tại Điều 51 Luật HN và Gia đình năm
2014 như sau:
Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu TA giải quyết LH KH và LH là quyền tự nhiên của con người không ai có thể cưỡng ép hay cản trở PL công nhận cho
nam, nữ quyền quyết định việc KH để xác lập QH vợ chồng thì cũng quy định cho vợ, chồng