1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

ĐỀ CƯƠNG MÁC

24 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 48,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vd: Mặt trăng tròn được thấy trên bầu trời vào ngày rằm Lửa tạo ra hơi ấm cho con người vào mùa đông - Theo Lênin YT là sự phản ánh thế giới vật chất bởi bộ óc của con người, thể hiện

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG MÁC_LÊNIN PHẦN 1

Câu 1: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức? Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ vấn đề này?

MB: Thế giới xung quanh chúng ta có vô vàng sự vật, hiện tượng phong phú và

đa dạng Nhưng tất cả đều quy về hai lĩnh vực: VC và YT Lịch sử của triết học

cũng là lịch sử của những cuộc đấu tranh xung quanh vấn đề cơ bản của triết học với hai phạm trù lớn trên: VC và YT Song để đi đến được những quan niệmđịnh nghĩa khoa học và tương đối hoàn chỉnh về chúng cũng phải đến một giai đoạn lịch sử nhất định với sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa duy vật biện chứng Vậy quan niệm duy vật mác xít như thế nào về VC và YT, mối quan hệ giữa hai phạm trù này như thế nào? Thời gian nhất định, sự hiểu biết giới hạn bản thân trình này một cách cơ bản nhất về vấn đề trên

Mối quan hệ biện chứng:

Định nghĩa :

- Trên cơ sở kế thừa những tư tưởng của C.Mác và Ăngghen, phân tích và khái quát sâu sắc những thành tựu mới nhất của KHTN, trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, V.I.Lênin đã nêu ra định nghĩa

kinh điển về VC: VC là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan

được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.

Vd: Mặt trăng tròn được thấy trên bầu trời vào ngày rằm

Lửa tạo ra hơi ấm cho con người vào mùa đông

- Theo Lênin YT là sự phản ánh thế giới vật chất bởi bộ óc của con người, thể

hiện ra như tri thức, tình cảm, niềm tin, ý chí,… Đây cũng là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan

+ Nguồn gốc của YT:

• Nguồn gốc tự nhiên: có 2 yếu tố cơ bản nhất là bộ óc người và mối quan

hệ giữa con người với thế giới khách quan tạo nên hiện tượng phản ánh năng động, sang tạo

• Nguồn gốc xã hội: yếu tố cơ bản nhất và trực tiếp nhất là lao động và ngôn ngữ

+ Bản chất của YT: là sự phản ánh sáng tạo thế giới khách quan bởi bộ óc

của con người YT còn mang bản chất xã hội Thể hiện:

• Phản ánh có chọn lọc

Hoa Hồng Thép

Trang 2

• Phản ánh mô hình hóa

• Phản ánh vượt trước

Vd; Tình yêu giữa con người với con người

Niềm tin vào những giá trị đúng đắn về đạo đức của con người

Mối quan hệ biện chứng giữa VC và YT:

Mối quan hệ giữa VC và YT là mối quan hệ biện chứng Trong mối quan hệ này,

VC có trước, YT có sau, VC là nguồn gốc của YT, quyết định YT; song, YT không hoàn toàn thụ động mà nó có thể tác động trở lại VC thông qua hoạt động thực tiễn của con người.

- VC quyết định YT:

+ VC là nguồn gốc của YT

Vd: Dựa vào sự vận động của Mặt Trăng_Mặt Trời để tạo ra lịch

Ở trên biển khi vào ban đêm có thể nhìn các ngọn hải đăng để biết được hướng vào bở

+ VC quyết định nội dung, sự biến đổi của YT:

Vd: Mùa đông cơ thể cảm thấy lạnh và muốn được mặc áo ấm Cỏn mùa hè cơ thể cảm thấy nóng và muốn được mặc đồ mát hơn

+ VC là điều kiện khách quan để hiện thực hóa YT:

Vd: Khi con người muốn tạo ra công cụ lao động mới, thì họ phải cố tìm tòi và tạo ra công cụ đó dựa trên những công cụ đã có

- YT tác động trở lại VC

+ YT tác động trở lại VC thông qua hoạt động thực tiễn

Vd: Trong nông nghiệp, để nâng cao năng suất thì phải dựa vào những hiểu biết

về tự nhiên, về giống và kĩ thuật canh tác để cho ra năng suất tốt, thu lại lợi nhuận đúng với mục đích của người sản xuất

+ YT chỉ đạo mọi hoạt động của con người

Vd: Trong học tập, ý thức tự giác học tập là quan trọng nhất Nếu như không có

ý chí sẽ dẫn đến việc không hoàn thành được bài tập, còn nếu cố gắng thì người

đó sẽ hoàn thành bài tập một cách xuất sắc

+ YT sẽ thúc đẩy sự kìm hãm và phát triển của thế giới

Vd: Khi con người nhìn thấy rác nếu như nhặt lên thì mặt đất sẽ sạch sẽ và nếu như nhiều người cùng nhặt rác thì sẽ giảm bớt tình trạng ô nhiễm môi trường Ngược lại, nếu ai cũng xả rác thì môi trường sống sẽ bị hủy hoại

Ý nghĩa phương pháp luận:

- VC là nguồn gốc khách quan của YT, YT chỉ là sự phản ánh thế giới khách quanvào trong bộ não người Vì vậy, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn cần phải luôn luôn xuất phát từ thực tế khách quan, nhận thức và hoạt động tuân theo thực tế khách quan

Hoa Hồng Thép

Trang 3

Vd: Khi đi du lịch, phải nhận định chuẩn bị gì dựa vào thực tiễn (đi núi chuẩn bị

gì, đi biển chuẩn bị gì)

Trong làm luật, người soạn luật phải dựa vào thự tiễn để đưa ra các điều luật hợp lí để dân thực hiện một cách tốt nhất

- YT có tính độc lập tương đối và có thể tác động trở lại VC thông qua hoạt động thực tiễn của con người Vì vậy, phải thấy được vai trò tích cực của nhân tố YT, tinh thần, tính chủ động, sáng tạo cuả chủ thể trong việc sử dụng có hiệu quả nhất các điều kiện VC hiện có

Vd: Để nâng cao năng suất và chất lượng, nhà sản xuất phải chủ động ứng dụng KHKT vào sản xuất

- Cần tránh việc tuyệt đối hóa vai trò duy nhất của vật chất trong quan hệ giữa

VC và YT Nghĩa là trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn cần chống lại “chủ nghĩa khách quan”, thái độ thụ động, trông chờ, ỷ lại vào điều kiện khách quan, đỗ lại tại điều kiện khách quan Đồng thời cần chống lại bệnh chủ quan, duy ý chí, tuyệt đối hóa vai trò của YT, tinh thần, hạ thấp, đánh giá không đúng vai trò của các điều kiện VC trong hoạt động thực tiễn

Vd: Trong học tập, khi ta giành được một thành tích nào đó thì phải tránh việc

tự cao chủ quan, phải không ngừng trau dồi kiến thức nếu như không muốn bị mất thành tích đó

Hoa Hồng Thép

Trang 4

KB: Quán triệt PPL CNM-L TTHCM, vận dụng thành thạo mối qhệ BC vào

việc ng.cứu q.lý KT, phát huy mạnh mối qhệ BC KT tự công đổi KT quốc dân, tạo điều kiện cho KT VN cất cánh, để nâng cao vị trí VN trên trường quốc tế, góp phần củng cố ổn định đất nước Đòi hỏi Đảng và NN ta phải kiên trì, kiên định, giữ vững lòng tin, khắc phục khó khăn, đồng thời phải tỉnh táo, thông minh, nhạy bén để thích ứng kịp thời với tình hình thực tế biến đổi ngày nay

Câu 2: Phân tích nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lí về mối liên hệ phổ biến?

Nội dung:

Khái niệm:

- Mối liên hệ dùng để chỉ sự quy định, sự tác động và chuyển hóa lẫn nhau giữa

các sự vật, hiện tượng, hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới.

Vd: Chu kì hoạt động của Mặt Trăng sẽ tác động đến sự lên xuống của thủy triều ô nhiễm không khí làm cho Trái Đất nóng dần lên

- Mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ của các sự

vật, hiện tượng của thế giới, đồng thời cũng dùng để chỉ các mối liên hệ tồn tại

ở nhiều sự vật, hiện tượng của thế giới, trong đó những mối liên hệ phổ biến nhất là những mối liên hệ tồn tại ở mọi sự vật, hiện tượng của thế giới, nó thuộc đối tượng nghiên cứu của phép biện chứng

Vd: Mối liên hệ giàu_nghèo

Trong gia đình tồn tại mối quan hệ vợ chồng, anh hem, ông bà

Tính chất của các mối liên hệ:

- Tính khách quan: Theo quan niệm biện chứng duy vật, các mối liên hệ của sự

vật, hiện tượng của thế giới là có tính khách quan Sự tác động qua lại lẫn nhau của sự vật, hiện tượng là vốn có của nó, tồn tại độc lập và không phụ thuộc vào

ý chí

Vd: Giàu_nghèo là hai quan niệm phụ thuộc vào nhau và có sự tác động qua lại lẫn nhau

- Tính phổ biến: Theo quan điểm biện chứng thì không có bất cứ sự vật, hiện

tượng hay quá trình nào tồn tại tuyệt đối biệt lập với các sự vật hiện tượng khác

Sự vật hiện tượng tồn tại không phải là cấu trúc hệ thống mà là bất cứ một tồn tại nào cũng là một hệ thống, hơn nữa là một hệ thống mở, tồn tại trong mối liên

hệ với các hệ thống khác, tương tác và làm biến đổi lẫn nhau

Vd: Mối liên hệ thầy trò, giữa giáo viên và học sinh

Trang 5

- Tính đa dạng, phong phú: Mỗi sự vật, hiện tượng khác nhau đều giữ vai trò

khác nhau đối với sự phát triển của nó Giữa mỗi sự vật, hiện tượng đều có mối liên hệ nhất định, đó là mối liên hệ bên trong_bên ngoài, trực tiếp_gián tiếp, cơ bản_không cơ bản

Vd: Mỗi người trong xã hội sẽ có nhiều mối quan hệ khác nhau trong từng lĩnh vực

+ Mối liên hệ bên trong_bên ngoài:

Vd: Trong một công ty, sẽ có mối liên hệ bên trong là các nhân viên đang làm việc cho công ty, và mối liên hệ bên ngoài là các đối tác chiến lược tương trợ cho công ty phát triển một cách ổn định

+ Mối liên hệ chủ yếu_thứ yếu:

Vd:

+ Mối liên hệ cơ bản_không cơ bản:

Vd: Một người có mối liên hệ cơ bản là quan hệ gia đình và mối liên hệ không

cơ bản là mối liên hệ với mọi người xung quanh

+ Mối liên hệ trực tiếp_gián tiếp:

Vd: Vợ chồng có mối liên hệ trực tiếp với nhau, còn mối quan hệ gián tiếp là với cha mẹ của vợ và chồng

Ý nghĩa phương pháp luận:

Từ việc nghiên cứu nguyên lí mối liên hệ phổ biến của các sự vật, hiện tượng, chúng ta cần rút ra quan điểm toàn diện trong việc nhận thức xem xét các sự vật,hiện tượng cũng như trong hoạt động thực tiễn

- Quan điểm toàn diện đòi hỏi để có được nhận thức đúng về sự vật, hiện tượng, chúng ta phải xem xét nó trong các mối liên hệ vốn có của nó:

+ Một là, trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, các thuộc tính khác nhau của chính sự vật đó

+ Hai là trong mối liên hệ giữa các sự vật đó với các sự vật khác ( kể cả trực tiếp và gián tiếp)

+ Ba là, trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con người

Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện không chỉ ở chỗ nó chú ýtới nhiều mặt, nhiều mối liên hệ mà còn làm nổi bật cái cơ bản, cái quan trọng nhất của sự vật hay hiện tượng đó Nói cách khác, quan điểm toàn diện không đồng nhất với cách xem xét bình quân mà có trọng tâm, trọng điểm Vì vậy, quan điểm toàn diện phải gắn với quan điểm lịch sử cụ thể

Vd: Khi đưa ra một chính sách nào đó cho công ty, cần phải tính tới sự tác động mật thiết của nó tới sự điều hành bền vững của công ty, phải nắm rõ ưu-khuyết điểm của chính sách đó, tránh đưa ra những ý kiến cá nhân, chưa được mọi người thống nhất đã ban hành

- Tính đa dạng phong phú của các mối liên hệ, trong nhận thức nói chung cần phải kết hợp quan điểm toàn diện với quan điểm lịch sử cụ thể Phải đánh giá

Trang 6

đúng vai trò, vị trí của các mối liên hệ đối với sự phát triển của sự vật, hiện tượng, tránh quan điểm chiết trung ngụy biện.

Vd: Trong các cuộc cách mạn, người lãnh đạo cần có cái nhìn khái quát chi những vai trò, vị trí của các mối liên hệ ảnh hưởng tới cuộc cách mạng và dựa vào đó mới tạo nên những chiến thắng, chịu ít tổn thương

Trong hoạt động thực tiễn, để cải tạo sự vật chúng ta phải bằng hoạt động thực tiễn làm biến đổi những mối liên hệ nội tại của chính sự vật cũng như mối liên

hệ qua lại giữa sự vật đó với sự vật khác Đồng thời, phải sử dụng đồng bộ nhiều biện pháp, nhiều phương tiện khác nhau Các mối liên hệ có vai trò không như nhau, do đó, để thúc đẩy sự vật phát triển phải phân loại được các mối liên hệ; nhận thức được mối liên hệ cơ bản quy định bản chất của sự vật vàgiải quyết mối liên hệ đó

*Sự vận dụng của Đảng ta: Đó là kết hợp ngay từ đầu đổi mới kinh tế và đổi

mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị

-Đổi mới toàn diện: Đổi mới từ nhận thức, tư duy đến hoạt động thực tiễn; từ kinh tế, chính trị, đối ngoại đến tất cá các lĩnh vực của đời sống xã hội; từ hoạt động lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đến hoạt động cụ thể trong từng

bộ phận của hệ thống chính trị

-Đổi mới tất cá các mặt của đời sống xã hội nhưng phải có trọng tâm, trọng điểm, có những bước đi thích hợp; bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ và đồng bộ giữabốn nhiệm vụ: phát triển kinh tế- xã hội là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, phát triển văn hóa- nền tảng tinh thần của xã hội, bảo đảm quốc phòng và

an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên./

Câu 3: Phân tích nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập ?

a Vị trí của quy luật

Qui luật mâu thuẫn là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật Nó đã được con người nhận thức ngày càng sâu sắc và đầy đủ hơn Chính điều đó là một tiền đề lý luận hết sức quan trọng để hình thành lý luận mác xít

về mâu thuẫn Lênin gọi nó là hạt nhân của phép biện chứng Quy luật này chỉ

ra nguồn gốc của sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng

C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã kế thừa tư tưởng biện chứng về mâu thuẫn, tổng kết những thực tế của lịch sử loài người, khái quát những thành tựu mới của khoa học từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX để luận giải mâu thuẫn một cách khoa học và vận dụng lý luận này để phân tích xã hội, tìm ra phương thức cải tạo nó

Trang 7

Trên cơ sở xác định rõ qui luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là hạt nhân của phép biện chứng, chủ nghĩa Mác đã làm rõ thực chất của mâu thuẫn biện chứng thông qua việc phân tích bản chất của các mặt đối lập và mối quan hệ giữa chúng.

b Các khái niệm

Mặt đối lập là phạm trù triết học chỉ những mặt có đặc điểm, thuộc tính, tính

quy định có khuynh hướng phát triển trái ngược nhau tồn tại khách quan trong

sự vật Ví dụ, đồng hoá và dị hoá trong cơ thể động vật, cực bắc và cực nam trong thanh nam châm, tích điện dương và điện tích âm trong dòng điện

Mâu thuẫn biện chứng là sự liên hệ tác động qua lại lẫn nhau của hai mặt đối

lập Nhưng không phải bất kỳ hai mặt đối lập nào cũng tạo thành mâu thuẫn Chỉ khi hai mặt đối lập cùng tồn tại trong cùng một sự vật, trong cùng một thời gian, về cùng một mối liên hệ và thường xuyên tác động qua lại lẫn nhau mới tạo thành mâu thuẫn

Ví dụ: đồng hoá và dị hoá trong cùng một cơ thể động vật; cùng về một mối liên

hệ ở đây là cùng về năng lượng (đồng hoá là nạp năng lượng dị hoá là giải phóng năng lượng); đồng hoá và dị hoá thường xuyên tác động theo nghĩa nhờ đồng hoá mà cơ thể mới có nhu cầu dị hoá Ngược lại nhờ dị hoá thì cơ thể mới đồng hoá được

Mâu thuẫn biện chứng là sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập

Thống nhất của các mặt đối lập được hiểu theo 3 nghĩa:

Các mặt đối lập nương tựa vào nhau, làm điều kiện, tiền đề tồn tại cho nhau Ví

dụ, đồng hoá cần đến dị hoá và dị hoá cần đến đồng hoá Giai cấp tư sản và giai cấp vô sản phải nương tựa vào nhau

Giữa hai mặt đối lập có những yếu tố đồng nhất, giống nhau, tương đồng nhau,

do vậy, trong những điều kiện nhất định chúng có thể chuyển hoá cho nhau Sự chuyển hoá của các mặt đối lập diễn ra dưới nhiều hình thức

Hình thức thứ nhất là chuyển hoá từng mặt, từng khía cạnh của mặt đối lập này

sang mặt đối lập khác Chẳng hạn trong xã hội có giai cấp đối kháng, lối sống của giai cấp này có thể ảnh hưởng đến tư tưởng, lối sống của một bộ phận trong giai cấp khác Trong các thời kỳ cách mạng, những cá nhân tiến bộ thuộc các giai cấp thống trị có thể chuyển sang hàng ngũ giai cấp cách mạng

Hình thức thứ hai là có thể mặt đối lập này chuyển thành mặt đối lập khác Ví

dụ, trong một số trường hợp cụ thể, thiện có thể trở thành ác và ngược lại

Hình thức thứ ba là có thể cả hai mặt đối lập đều bị triệt tiêu và chuyển thành

những mặt đối lập mới Chẳng hạn, khi chế độ chiếm hữu nô lệ tan rã, cả hai giai cấp chủ nô và nô lệ căn bản bị triệt tiêu, hai giai cấp mới là địa chủ phong kiến và nông dân hình thành

Trang 8

Giữa hai mặt đối lập có trạng thái cân bằng, tác động ngang nhau Ví dụ, lúc đồng hoá và dị hoá ngang nhau thì con người không no, không đói Trong xã hội, đó là thời kỳ quá độ - thời kỳ đan xen giữa cái cũ và cái mới, chưa cái nào thắng cái nào; cái cũ đã lỗi thời nhưng chưa mất đi, cái mới tuy tiến bộ nhưng còn non nớt chưa khẳng định được ưu thế của nó

Đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động lẫn nhau, là sự triển khai của các

mặt đối lập; là sự bài trừ, phủ định lẫn nhau giữa chúng Như vậy, đấu tranh của các mặt đối lập không chỉ được hiểu là sự bài trừ, phủ định, thủ tiêu lẫn nhau của các mặt đối lập, mà đấu tranh của các mặt đối lập còn được hiểu là quá trìnhtác động, triển khai của các mặt đối lập Chính điều này làm cho sự vật có sự chuyển hóa và vẫn còn là nó trong quá trình phát triển

Thống nhất giữa các mặt đối lập là tương đối, đấu tranh giữa các mặt đối lập

là tuyệt đối, vì ngay trong sự thống nhất của các mặt đối lập cũng hàm chứa

những nhân tố phá vỡ sự thống nhất đó Mọi sự thống nhất của các mặt đối lập chỉ có thể xét về một mặt nào đó, một phương diện nào đó mà thôi Đấu tranh của các mặt đối lập diễn ra thường xuyên, liên tục, trong tất cả quá trình vận động, phát triển của sự vật;

c Mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động và phát triển của sự vật

Trong thực tế, mâu thuẫn có hai cách hiểu khác nhau Một cách tổng quát có thểthấy khi sự vật được tạo thành bởi các mặt đối lập thì ở trong nó đã luôn chứa đựng mâu thuẫn và mâu thuẫn này vẫn tồn tại chừng nào sự vật chưa bị phá vỡ

Vì vậy, theo nghĩa chung nhất mâu thuẫn là sự tác động qua lại của các mặt đối

lập Với cách nhìn đó, chủ nghĩa Mác cho rằng bất kỳ sự vật nào cũng chứa mâu

thuẫn Không ở đâu không có mâu thuẫn và không bao giờ không có mâu thuẫn.Nhìn sự vật mà chỉ thấy sự đồng nhất, “đồng nhất tuyệt đối” là lối nhìn hời hợt,

nông cạn, bề ngoài Tuy nhiên, mâu thuẫn còn có nghĩa thứ hai Đó là sự bất

đồng, sự không phù hợp, sự mất cân bằng giữa các mặt đối lập Trong cuộc

sống thường nói đến mâu thuẫn theo nghĩa này Chính khi Mác phân tích những mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa tư sản và vô sản trong xã hội tư bản chủ nghĩa cũng như phân tích mâu thuẫn giữa các giai cấp trong xã hội ông đều dùng mâu thuẫn theo nghĩa thứ hai này Khi Đảng ta phân tích những mâu thuẫn giữa nhân dân ta và bọn đế quốc phong kiến, mâu thuẫn giữa phe phái trong hàng ngũ của địch cũng đều nói đến những sự bất đồng, những xung đột giữa các lực lượng xã hội Mâu thuẫn trong trường hợp này được hiểu là điểm đỉnh của sự khác biệt giữa các mặt đối lập, là sự phát triển của các yếu tố không phù hợp, những sự trái ngược giữa chúng Tất nhiên, dù

hiểu mâu thuẫn theo bất kỳ nghĩa nào thì nó vẫn là nguồn gốc của sự phát triển.

Nói mâu thuẫn là nguồn gốc của sự phát triển không có nghĩa là tuyệt đối hoá

Trang 9

vai trò của mâu thuẫn, là đề cao mâu thuẫn Vấn đề chính ở đây là muốn khẳng định rằng, có mâu thuẫn mới có đấu tranh và chỉ có đấu tranh mới tạo ra sự pháttriển như phần trên đã đề cập Tuy nhiên, mỗi sự vật không phải chỉ có một mâuthuẫn mà có thể có rất nhiều mâu thuẫn và vai trò của các mâu thuẫn này đối với

sự phát triển của sự vật không giống nhau Vì vậy, triết học mác-xít đã chia mâuthuẫn thành các loại khác nhau

Mỗi sự vật không phải chỉ có một mà có nhiều mâu thuẫn Các mâu thuẫn lại cóvai trò khác nhau đối với sự vận động và phát triển của sự vật

Căn cứ vào quan hệ đối với sự vật được xem xét, có mâu thuẫn thành bên trong

và mâu thuẫn bên ngoài.

Mâu thuẫn bên trong là sự tác động qua lại giữa các mặt, các khuynh hướng đối

lập nhau của cùng một sự vật Ví dụ, mâu thuẫn giữa đột biến và di truyền trong

cơ thể động vật

Mâu thuẫn bên ngoài là sự tác động qua lại giữa các mặt, các khuynh hướng đối

lập nhau của các sự vật khác nhau Ví dụ, mâu thuẫn giữa con người với môi trường tự nhiên bên ngoài

Mâu thuẫn bên trong đóng vai trò quyết định trực tiếp đối với sự vận động phát triển của sự vật Mâu thuẫn bên ngoài đóng vai trò quan trọng nhưng chỉ phát huy tác dụng thông qua mâu thuẫn bên trong Giải quyết mâu thuẫn bên trong không thể tách rời việc giải quyết mâu thuẫn bên ngoài Giải quyết mâu thuẫn bên ngoài là điều kiện để giải quyết mâu thuẫn bên trong

Căn cứ vào ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật, có mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản.

Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật và tồn tại trong

suốt quá trình tồn tại của sự vật

Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn đặc trưng cho một phương diện nào đó

của sự vật và quy định sự vận động phát triển của phương diện đó của sự vật Ví

dụ, mâu thuẫn giữa lao động trí óc và lao động chân tay trong thời kỳ quá độ lênchủ nghĩa xã hội ở nước ta

Căn cứ vào vai trò của mâu thuẫn đối với sự vận động và phát triển của sự vật trong một giai đoạn phát triển nhất định, người ta chia thành mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn không chủ yếu.

Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu ở một giai đoạn phát triển

nhất định của sự vật

Mâu thuẫn không chủ yếu là mâu thuẫn mà việc giải quyết nó không quyết định

việc giải quyết các mâu thuẫn khác ở giai đoạn đó của sự vật

Căn cứ vào quan hệ lợi ích, người ta chia thành mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng.

Trang 10

Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa những giai cấp, tập đoan người, những

nhóm xã hội có lợi ích cơ bản đối lập nhau không thể điều hoà Ví dụ, mâu thuẫn giữa tư sản và vô sản trong xã hội tư bản chủ nghĩa

Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa những lực lượng, khuynh hướng

xã hội có đối lập về lợi ích nhưng đó không phải là lợi ích cơ bản, mà chỉ là lợi ích cục bộ, tạm thời Ví dụ, mâu thuẫn giữa công nhân và nông dân về những lợiích tạm thời nào đó

Từ những nội dung trên rút ra nội dung quy luật mâu thuẫn như sau: Mọi sự vật

đều chứa đựng những mặt có khuynh hướng biến đổi ngược chiều nhau gọi là những mặt đối lập Mối liên hệ của hai mặt đối lập tạo nên mâu thuẫn Khi các mặt đối lập thống nhất với nhau thì sự vật còn là nó Khi các mặt đối lập đấu tranh lẫn nhau thì sự thống nhất cũ của sự vật mất đi, xuất hiện sự thống nhất mới, sự vật mới ra đời thay thế sự vật cũ Sự thống nhất mới này lại mâu thuẫn nhau, rồi lại được giải quyết, cứ như vậy sự vật vận động, biến đổi, phát triển, cái mới ra đời thay thế cái cũ.

2 Ý nghĩa phương pháp luận

Qui luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là qui luật có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với hoạt động của con người Do mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động và phát triển nên muốn hiểu rõ sự vật hay cải tạo nó phải nhận thức được mâu thuẫn Trong xã hội xác định được mâu thuẫn cơ bản và không

cơ bản sẽ có cơ sở để đề ra đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn; xác định

rõ mâu thuẫn chủ yếu sẽ có các giải pháp tập trung để giải quyết những vấn đề trọng yếu nhất tạo ra khả năng phát triển của xã hội trong từng giai đoạn phát triển của nó Đặc biệt khi có những vấn đề bức xúc nảy sinh thì việc phân biệt

rõ mâu thuẫn đối kháng và không đối kháng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng Điều

đó sẽ giúp cho một tổ chức cách mạng hay các cá nhân phân biệt rõ bạn và thù

và đề ra được phương thức giải quyết mâu thuẫn thích hợp, tuỳ vào tình hình cụ thể

Nhận thức mâu thuẫn không phải chỉ là nhận thức loại hình mâu thuẫn mà còn phải xác định được trình độ phát triển của nó Đó là những mâu thuẫn vừa nảy sinh hay mâu thuẫn đã đến độ chín muồi Cùng một mâu thuẫn nhưng trình độ phát triển khác nhau thì phương thức giải quyết cũng khác nhau Tuy nhiên, muốn nhận thức mâu thuẫn phải căn cứ vào các mặt đối lập, không dựa trên các mặt đối lập và những mối quan hệ cơ bản của chúng không thể xác định rõ loại hình mâu thuẫn cũng như trình độ phát triển của mâu thuẫn

Việc phân tích và giải quyết mâu thuẫn không phải chỉ đòi hỏi sự nhiệt tình, hăng hái mà phải có sự hiểu biết, có tri thức khoa học, có vốn sống nhất định Thiếu tri thức và vốn sống cần thiết sẽ không nhận thức đúng được bản chất của

Trang 11

mâu thuẫn và do đó cũng không thực sự hiểu biết được thế giới khách quan, không đề ra được những phươngthức giải quyết các vấn đề đặt ra một cách có hiệu quả Lịch sử phát triển của xã hội loài người thực chất là lịch sử phát hiện

và giải quyết các mâu thuẫn Năng lực của một cán bộ lãnh đạo quản lý trước hết phải là năng lực phát hiện ra các mâu thuẫn và tổ chức chỉ đạo quần chúng nhân dân giải quyết các mâu thuẫn đó Chính vì vậy, đường lối cách mạng Việt Nam từ khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đến nay bao giờ cũng dựa trên cơ sởcủa việc phân tích những mâu thuẫn ở Việt Nam và trên thế giới Không căn cứ vào các mâu thuẫn cần phải giải quyết, một đất nước, một dân tộc, một Đảng không thể tìm ra những giải pháp tích cực nhất để vượt qua những thách thức, tiếp tục phát triển trong quá trình thực hiện những nhiệm vụ mà lịch sử đặt ra.Văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng khẳng định: “Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới biểu hiện dưới những hình thức và mức độ khác nhau vẫn tồn tại và phát triển”; “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác, vừađấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xãhội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng sẽ có bước tiến mới”./

Câu 4: Thực tiễn là gì? Phân tích vai trò của thực tiễn đối với nhận thức? ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu vấn đề này?

1 Phạm trù thực tiễn

Theo triết học duy vật biện chứng, thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất cảm tính, có mục đích, mang tính lịch sử – xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội

Từ định nghĩa trên cho thấy, thực tiễn có 3 đặc trưng sau:

Thứ nhất, thực tiễn là hoạt động vật chất cảm tính Đó là những hoạt động

mà con người phải dùng công cụ vật chất, lực lượng vật chất tác động vàocác đối tượng vật chất để làm biến đổi chúng Ví dụ, hoạt động cày ruộng đào đất, xây nhà, sản xuất ra của cải vật chất nói chung…

Thứ hai, thực tiễn có tính lịch sử - xã hội Nghĩa là hoạt động thực tiễn là

hoạt động của con người, diễn ra trong xã hội với sự tham gia của đông đảo người, và trải qua những giai đoạn lịch sử nhất định, bị giới hạn bởi những điều kiện lịch sử – cụ thể nhất định

Thứ ba, thực tiễn là hoạt động có tính mục đích của con người nhằm trực

tiếp cải tự nhiên và xã hội phục vụ con người

Thực tiễn có ba hình thức cơ bản:

Sản xuất vật chất Đây là hình thức cơ bản và quan trọng nhất của thực tiễn Nó đóng vai trò quyết định các hình thức thực tiễn khác Đó là

Trang 12

những hoạt động sản xuất ra của của cải vật chất như lương thực, quần

ra để nhận thức và cải tạo tự nhiên – xã hội phục vụ con người

Mỗi hình thức hoạt động thực tiễn có vai trò, chức năng riêng không thể thay thế, nhưng chúng quan hệ mật thiết với nhau, liên hệ tác động lẫn nhau Trong đó, sản xuất đóng vai trò quyết định đối với các hình thức khác Bởi lẽ, nếu sản xuất vật chất không phát triển thì các hoạt động cải tạo xã hội, hoạt động thực nghiệm khoa học không thể tiến hành được Hoặc có tiến hành được cũng kém hiệu quả Tuy nhiên, hai hình thức thựctiễn kia có ảnh hưởng quan trọng đối với sản xuất vật chất Chẳng hạn, nếu những hoạt động cải tạo xã hội, các quan hệ xã hội tốt sẽ tạo ra

những điều kiện xã hội thuận lợi cho phát triển sản xuất vật chất Nếu thực nghiệm khoa học phát triển sẽ góp phần tăng năng suất lao động

2 Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức

Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức Thông qua hoạt động thực

tiễn con người tác động vào sự vật làm cho sự vật bộc lộ thuộc tính, tính chất Trên cơ sở đó con người có hiểu biết về chúng Nghĩa là thực tiễn cung cấp “vật liệu” cho nhận thức Không có thực tiễn không thể có nhận thức Ví dụ, chính đo đạc ruộng đất trong chế độ chiếm hữu nô lệ là cơ sởcho định lý Talét, Pitago ra đời

Thực tiễn luôn đặt ra nhu cầu, nhiệm vụ cho nhận thức, trên cơ sở đó thúc

đẩy nhận thức phát triển

Thực tiễn còn là nơi rèn luyện giác quan của con người Ví dụ, thông qua

sản xuất, chiến đấu những cơ quan cảm giá như tính giác, thị giác… đượcrèn luyện Các cơ quan cảm giác được rèn luyện sẽ tạo ra cơ sở cho chủ thể nhận thức hiệu quả hơn, nghĩa là, thúc đẩy nhận thức phát triển

Thực tiễn còn là cơ sở chế tạo công cụ, máy móc hỗ trợ con người nhận thức hiệu quả hơn Ví dụ, kính thiên văn, hàn thử biểu, máy vi tính,…

đều được sản xuất, chế tạo trong sản xuất vật chất Nhờ những công cụ, máy móc này mà con người nhận thức sự vật chính xác hơn, đúng đắn hơn Trên cơ sở đó thúc đẩy nhận thức phát triển

Thực tiễn là mục đích của nhận thức.

Nhận thức phải góp phần làm cho hoạt động thực tiễn của con người có hiệu quả hơn Nên những kết quả của nhận thức chỉ có ý nghĩa đích thực

Ngày đăng: 11/03/2020, 20:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w