a Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của mình: Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự: quyền kh
Trang 1ĐỀ CƯƠNG TỐ TỤNG DÂN SỰ
Luật tố tụng dân sự là ngành luật trong hệ thống pháp luật, bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong tố tụng dân sự để bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự
Quy định pháp luật về tố tụng dân sự là trình tự hoạt động do pháp luật quy định cho việc xem xét, giải quyết vụ án dân sự và thỉ hành án dân sự Mục đích của tố tụng dân sự là bảo vệ quyển và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức và lợi ích của Nhà nước
Các nguyên tắc đặc trưng:
Mỗi ngành luật có những nguyên tắc riêng của ngành luật đó Nguyên tắc đặc trưng … làm cho TTDS khác với các tụng khác Nguyên tắc này chỉ đúng trong tố tụng dân sự
1 Nguyên tắc bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự: Điều 5 BLTTDS 2015
- Nguyên tắc này là nguyên tắc cơ bản và quan trọng để đương sự bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình tham gia tố tụng Đương sự có quyền khởi kiện hay không khởi kiện để yêu cầu TAND bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Không ai được ép buộc hay cản trở việc khởi kiện của người khác Đương sự có quyền đưa ra yêu cầu bổ sung, thay đổi, rút lại các yêu cầu khởi kiện của mình và TAND chỉ giải quyết những yêu cầu của đương sự hoặc các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau
a) Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của mình:
Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự: quyền khởi kiện của đương sự được quy định tại Điều 186 BLTTDS 2015 là cơ quan, tổ chức, cá nhân
có thể tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án Bên cạnh đó, điều 187 cũng quy định quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước Nhà nước đã chính thức ghi nhận quyền khởi kiện của cá nhân, cơ quan tổ chức yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của chủ thể khác
Quyền quyết định và tự định đoạt trong việc đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn: quyền quyết định và tự định đoạt phản tố của bị đơn chỉ được thực hiện khi có những mối ràng buộc nhất định với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Mặt khác, quyền quyết định và tự định đoạt phản tố của bị đơn chỉ được thực hiện tại những thời điểm trong những giai đoạn tố tụng nhất định theo quy định tại khoản 3 Điều
200 BLTTDS 2015
Quyền tự định đoạt trong việc đưa ra yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: họ là người tuy không khởi kiện, không bị kiện nhưng việc giải quyết vụ việc dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng và họ cũng có quyền thể hiện sự tự định đoạt của mình thông qua việc đưa ra yêu cầu độc lập được quy định tại điều 201 BLTTDS 2015
b) Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu và thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự:
Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu: không chỉ có nguyên đơn
có quyền thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện mà bị đơn cũng có quyền thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu phản tố, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng có quyền thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu độc lập Tuy nhiên, tùy thuộc vào từng giai đoạn của TTDS mà việc thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện có thể được Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận
Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc thỏa thuận giải quyết vụ việc dân sự: Xuất phát từ bản chất của quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động, các bên đương sự có thể thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp dân sự ở bất cứ một giai đoạn nào trong TTDS Cùng với đó, hòa giải được xem là một trong những thủ tục có ý nghĩa rất quan trọng nhằm giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết các tranh chấp đã phát sinh Quyền tự định đoạt của
Trang 2đương sự còn thể hiện ở quyền tự thỏa thuận, dàn xếp, thương lượn với nhau về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án sau khi Tòa án đã thụ lý Trong trường hợp này, Tòa án không phải là người chủ động đưa vụ án ra hòa giải mà các đương sự tự thương lượng, thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án Việc các đương sự tự thỏa thuận với nhau về giải quyêt vụ án có thể được thực hiện ở mọi giai đoạn trong quá trình tố tụng
c) Ý nghĩa:
Thứ nhất, việc Nhà nước thể chế hóa quyền tự định đoạt của đương sự là một nguyên tắc quan trọng trong pháp luật TTDS là sự khẳng định pháp luật thực sự đã ghi nhận và bảo đảm cho các đương sự có điều kiện bằng hành vi của mình quyết định và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chính mình
Thứ hai, bên cạnh việc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thì nguyên tắc này còn có ý nghĩa trong việc xác định rõ trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm quyền tự định đoạt của đương
sự, tòa án chỉ tiến hành giải quyết vụ việc dân sự khi có yêu cầu của đương sự, điều đó đồng nghĩa với việc Tòa án sẽ không được xem xét và giải quyết vụ việc dân sự khi không có yêu cầu của đương sự Thứ ba, hoạt động xét xử có vai trò rất lớn trong việc ổn định trật tự pháp luật, giữ vững kỷ cương xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích của mọi người… đó là đương sự được quyền tự do thể hiện ý chí của mình bằng việc tự mình lựa chọn các hành vi tố tụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Nhờ
đó mà các hoạt động xét xử đảm bảo được tính đúng đắn, khách quan và phát huy được vai trò của hoạt động này đối với việc ổn định trật tự kỉ cương xã hội
Nguyên tắc bảo đảm thực hiện nghĩa vụ chứng minh của đương sự
1 Nguyên tắc nghĩa vụ chứng minh của đương sự là một nguyên tắc cơ bản và có tính chỉ đạo xuyên suốt vì xuất phát từ bản chất của tố tụng dân sự là giải quyết các tranh chấp giữa các bên trên cơ sở pháp luật, mục đích là để bảo vệ các quyền và lợi ích của mọi chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự Đương sự (nguyên đơn) có quyền yêu cầu TAND bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình thì bản thân đương sự đó phải chứng minh quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm
Theo quy định của BLTTDS 2015, yêu cầu của đương sự có thể xác định cụ thể, đó là: yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; yêu cầu phản tố và yêu cầu độc lập của bị đơn; yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Đương sự có nghĩa vụ thu thập, cung cấp, giao nộp chứng cứ để chứng minh quyền và lợi ích hợp pháp của minh bị xâm phạm
Nếu ĐS phản đối yêu cầu có nghĩa vụ chứng minh tại sao lại phản đối yêu cầu đó Đương sự phản đối yêu cầu phải đưa ra chứng cứ, căn cứ pháp lý, các lý lẽ, lập luận để chứng minh cho việc phản đối đó là đúng đắn và có cơ sở, từ đó tòa án mới có căn cứ, cơ sở để bác bỏ yêu cầu mà phía bên kia đưa ra Bên cạnh ĐS có nghĩa vụ chứng minh thì cũng có những trường hợp ĐS không phải chứng minh Nhằm tôn trọng và bảo vệ quyền con người, khoản 1 Điều 91 BLTTDS 2015 có quy định hoàn toàn mới về những trường hợp đương sự không phải thực hiện nghĩa vụ chứng minh Cụ thể: Người tiêu dùng không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa dịch vụ Trong trường hợp này, nghĩa vụ chứng minh được đảo ngược cho bên bị kiện - bên bị kiện phải chứng minh mình không có lỗi gây ra thiệt hại
Những tình tiết, sự kiên ĐS không phải chứng minh Điều 92
2 Ý nghĩa
Chứng cứ, chứng minh trong trong tố tụng dân sự đóng một vai trò rất quan trọng trong việc xác định
sự thật khách quan của vụ án; để xác định chứng cứ nào là có thật, giúp cho việc giải quyết vụ án được đúng đắn, khách quan, đòi hỏi Kiểm sát viên và Thẩm phán phải có trình độ nghiệp vụ, có kiến thức xã hội và khả năng nhạy bén trong quá trình xác minh, thu thập, đánh giá chứng cứ và Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015 đã có những quy định phù hợp với thực tế, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của
tổ chức, công dân
Trang 3Nguyên tắc bảo đảm trách nhiệm hòa giải vụ án của Tòa án nhân dân
Hòa giải trong tố tụng dân sự là hoạt động tố tụng do Tòa án tiến hành nhầm giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau để giải quyết vụ việc dân sự
Và nguyên tắc “Hòa giải trong tố tụng dân sự” cũng đã được khẳng định là một trong những nguyên tắc
cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự quy định tại Điều 10 Bộ luật tố tụng dân sự 2015
‘Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này’
1 Việc hòa giải được tiến hành theo các nguyên tắc sau đây :
a) Thứ nhất, hòa giải phải tôn trọng sự tự nguyện của các bên, không bắt buộc, áp đặt các bên tranh chấp phải tiến hành hòa giải Như vậy, khi các đương sự đã tự nguyện thỏa thuận tức là các đương sự tự lựa chọn quyết định các vấn đề tranh chấp bằng hòa giải và thương lượng, thỏa thuận với nhau giải quyết các vấn đề của vụ án
b) Thứ hai, hòa giải phải được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật, nội dung thỏa thuận không trái với pháp luật, đạo đức xã hội:
Khi tòa án tiến hành hòa giải để giải quyết vụ án dân sự ngoài yếu tố tự nguyện thỏa thuận của các đương sự thì việc tòa án hòa giải còn phải thỏa mãn các điều kiện:
Tuân thủ đúng trình tự, thủ tục hòa giải;
Phạm vi hòa giải theo pháp luật quy định;
Nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không được trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội
c) Thứ ba, hòa giải phải tích cực, kiên trì nhằm đạt được kết quả hòa giải:
Tích cực để có thể giải quyết được nhanh chóng vụ án, không để việc hòa giải kéo dài vô ích khi không
có khả năng hòa giải nhưng lại phải kiên trì giải thích cho đương sự hiểu rõ pháp luật áp dụng giải quyết vụ án và đi sâu giải quyết các mắc mớ trong tâm tư tình cảm của họ
Mở phiên hòa giải là trách nhiệm của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án dân sự nhằm giúp đương
sự có thể thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết quan hệ tranh chấp Theo quy định của BLTTDS
2015, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có trách nhiệm tổ chức phiên hòa giải theo quy định trừ trường hợp vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn; vụ án không được tiến hành hòa giải (Điều 206 BLTTDS) và những vụ án không tiến hành hòa giải được (Điều 207 BLTTDS)
Pháp luật tố tụng không quy định thời điểm mở phiên hòa giải cụ thể là bao nhiêu ngày kể từ ngày thụ
lý, tùy từng trường hợp khi xét thấy việc xây dựng hồ sơ, thu thập chứng cứ đã đầy đủ, các tình tiết của
vụ án đã được làm rõ; Thẩm phán sẽ linh hoạt ấn định thời điểm mở phiên hòa giải trong thời hạn chuẩn bị xét xử sao cho phù hợp
2 Ý nghĩa
Hòa giải trong tố tụng dân sự là một thủ tục do toà án tiến hành nhằm giúp đỡ nhằm giúp đỡ các đương
sự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án dân sự, giúp các đương sự hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, nhằm giảm bớt thời gian tố tụng kéo dài, …
Nhận định
1 Không phải mọi quyết định của TAND trong TTDS đều bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Đúng Vì những quyết định của TAND mà có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành thì không bị kháng cáo, kháng nghị theo TT phúc thẩm ví dụ quyết định công nhận sự thỏa thuận của ĐS (khoản 1 Điều 213)
2 ĐS (có đầy đủ NLHVTTDS) được ủy quyền cho người khác( có đầy đủ NLHVTTDS) thay mặt mình khởi kiện mọi vụ án dân sự ra TAND để bv quyền, lợi ích hợp pháp cho mình Sai Vì căn cứ
Trang 4khoản 4 Điều 85 thì đối với việc ly hôn, ĐS không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng
3 Mọi tranh chấp dân sự đều không thuộc thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của TAND cấp cao Đúng Vì căn cứ điểm a khoản 1 Điều 37; khoản 1, 4 Điều35 thì TAND cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm nững tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26,28,30 và 32 của Bộ luật này, trừ những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp huyện quy định tại khoản 1 và khảon 4 Điều 35 của Bộ luật này Như vậy, các tranh chấp dân sự không thuộc thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của TAND cấp huyện thì thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp tỉnh TAND cấp cao chỉ giải quyết theo thủ tục phúc thẩm, GĐT, tái thẩm
4 Trong trường hợp áp dụng BPKCTT gây thiệt hại thì người yêu cầu áp dụng BPKCTT có trách nhiệm phải bồi thường Sai Vì việc APBPKCTT không đúng mà gây thiệt hại thì mới phải bồi thường K1.Đ113 Hoặc TAND áp dụng không đúng mà gây ra thiệt hại thì TAND phải bồi thường (khoản 2 Điều 113)
5 Trong mọi trường hợp, TAND tiến hành hòa giải không thành thì TAND ra quyết định đưa vụ án dân
sự ra xét xử tại phiên tòa Sai Vì có trường hợp TAND ra quyết định đình chỉ GQVA hoặc tạm đình chỉ (khoản 3 Điều 203)
6 Thời hạn chuẩn bị xét xử một vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình nhiều nhất là 6 tháng kể từ ngày TAND nhận đơn khởi kiện? SAI Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 203 BLTTDS 2015 thì những vụ án quy định tại Điều 26, 28 của Bộ luật này thì thời hạn là 04 thán kể từ ngày thụ lý vụ án Đối với những vụ việc án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan thì không quá 02 tháng Như vậy, thì… không quá 06 tháng và tính từ ngày thụ lý vụ án chứ không phải từ ngày nhận đơn
7 Thời hạn mở phiên toà xét xử sơ thẩm 1 vụ án lao động nhiều nhất là 05 tháng kể từ ngày thụ lý vụ
án SAI Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 203 thì thời hạn … vụ án lao động là 02 tháng kể từ ngày thụ lý
vụ án Đối với những vụ việc án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan thì không quá 01 tháng Như vậy, thời hạn… không quá 03 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án
8 Chánh án ra quyết định phân công giải quyết một vụ án từ đầu đến cuối vụ án SAI Chánh án sẽ phân công Thẩm phán thụ lý vụ trên cơ sở báo cáo thụ lý vụ án chủa Thẩm phán được phân công thì Chánh án quyết định phân công Thẩm phán giải quyết vụ án Đối với nhưng vụ án phức tạo thì Chánh
án phân công Thẩm phán dự khuyết trong quá trình giải quyết vụ án, nếu Thẩm phán được phân công không thể tiếp tục thì phân công Thẩm phán khác… như vậy có thể thấy, trong quá trình từ thụ lý vụ án đến xét xử, có sự thay đổi Thẩm phán chứ không phải một Thẩm phán giải quyết vụ án từ đầu đến cuối Đ197
9 Trong trường hợp người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa thì HĐXX quyết định vẫn tiến hành xét
xử vắng mặt họ SAI Trường hợp nếu người làm chứng vắng mặt thì HĐXXquyết định vẫn tiến hành xét xử hoặc hoãn phiên tòa HĐXX vẫn tiếp tục xét xử trong trường hợp người làm chứng vắng mặt nhưng trước đó họ đã có lời khai trực tiếp với Tòa án hoặc gửi lời khai cho TA HĐXX hoãn nếu việc vắng mặt gây khó khăn, ảnh hưởng đến việc giải quyết khách quan, toàn diện vụ án CSPL: khoản 2 Điều 229
10 Trong trường hợp người phiên dịch vắng mặt tại phiên toà thì HĐXX quyết định vẫn tiếp tục xét
xử SAI Trưởng hợp người phiên dịch vắng mặt mà không có người ohieen dịch thay thế thì HĐXX quyết định hoãn phiên tòa CSPL: khoản 2 Điều 231
11 Trong trường hợp Kiểm Sát Viên (được VTVKS phân công tham dự phiên tòa) vắng mặt tại phiên tòa thì HĐXX quyết định vẫn tiếp tục xét xử? ĐÚNG Khoản 1 Điều 232
Trang 512 Bản án sơ thẩm gồm phần mở đầu, phần nội dung vụ án và phần quyết định cura Tòa án? SAI Ngoài phần mở đầu, trong phần nội dung còn có phần nhận dịnh và phần quyết định CSPL: Điều 266
13 HĐXX chỉ tuyên đọc bản án với sựu có mặt đầy đủ của các đương sự: SAI HĐXX đọc bản án khi
có mặt của ĐS, đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện CSPL Điều 267
14 Trong trường hợp Tòa án xét xử kín thì HĐXX chỉ tuyên công khai phần quyết định của Tòa án? SAI Toàn án tuyên công khai phần mở đầu và phần quyết định của bản án CSPL Điều 267