Do đó, đề tài về du lịch Quốc Tế là một trong những đề tài phổ biến nhất được lựa chọn để nghiên cứu trong các luận án hay đề tài nghiên cứu khoa học; và đặc biệt là tại các Quốc gia xem
Trang 1ĐỀ TÀI: CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG THU HÚT KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ
CỦA TỈNH QUẢNG NINH
Sinh viên: Lưu Ngọc Quỳnh Giang Lớp: Anh 11- Kế toán K52
Mã Sinh viên: 1312238018
Trang 21 Tổng quan nghiên cứu
Có thể nói năm 2016 là một năm phát triển của ngành Du lịch Việt Nam, đặc biệt trong mảng thu hút khách du lịch Quốc Tế Theo số liệu mới nhất do Tổng cục Thống
kê cung cấp: Lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong tháng 12/2016 ước đạt 897.279 lượt, tăng 17,9% so với cùng kỳ năm 2015 Tính chung cả năm 2016 ước đạt
10.012.735 lượt khách, tăng 26,0% so với năm 2015 Trong đó, lượng khách đến bằng phương tiện đường không đạt 8.260.623 lượt khách, chiếm 82,5% (tăng 31,7% so với cùng kỳ năm 2015), khách đến bằng phương tiện đường biển và đường bộ lần lượt chiếm 2,8% và 14,7%
Trung Quốc và Hàn Quốc là hai thị trường có khách du lịch tới Việt Nam lớn nhất trong năm (2.696.848 lượt khách/năm và 1.543.883 lượt khách/năm)
Cùng với tốc độ phát triển nhanh chóng và vai trò ngày càng to lớn trong nền kinh tế quốc gia, ngành du lịch của Việt Nam được dự đoán sắp trở thành một trong những ngành mũi nhọn của nước nhà Theo số liệu từ Báo cáo thường niên Travel & Tourism Economic Impact 2016 Viet Nam (WTTC) của Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới công bố hồi tháng 3/2016: Du lịch tại Việt Nam đóng góp 6,6% cho GDP, đứng thứ 40/184 nước về quy mô đóng góp trực tiếp vào GDP và xếp thứ 55/184 nước
về quy mô tổng đóng góp vào GDP quốc gia
Tuy chưa có số liệu cụ thể được công bố vào cuối năm 2016 và số liệu tổng thu
du lịch hằng năm cũng không tách biệt giữa doanh thu từ khách nước ngoài và du lịch nội địa, nhưng nhìn vào số liệu được thống kê hằng năm có thể thấy rõ ảnh hưởng của việc thu hút khách du lịch nước ngoài vào tổng thu ngành Du lịch là cực kì quan trọng
Do đó, đề tài về du lịch Quốc Tế là một trong những đề tài phổ biến nhất được lựa chọn để nghiên cứu trong các luận án hay đề tài nghiên cứu khoa học; và đặc biệt là tại các Quốc gia xem du lịch là ngành Kinh tế mũi nhọn như Thái Lan, Malaysia, Nam Phi…
Trong quá trình tìm hiểu tình hình nghiên cứu của đề tài “Các nhân tố tác động đến hoạt động thu hút khách du lịch Quốc tế của Quảng Ninh”, em đã tìm hiểu về các
Trang 3đề tài trong và ngoài nước có đối tượng nghiên cứu hoặc phạm vi nghiên cứu trùng hoặc gần với đề tài nói trên và rút ra tổng quan tình hình như sau:
Đối với tình hình nghiên cứu trong nước, các đề tài thực hiện chủ yếu là các đề tài định tính dựa trên phương pháp phân tích, thống kê trên số liệu về hoặc liên quan tới hoạt động Du lịch Việt Nam Phương pháp định lựợng như xây dựng mô hình hồi quy đựợc sử dụng làm phương pháp nghiên cứu chính trong các đề tài này là rất hiếm, nếu có chỉ đựợc bổ sung nhằm chứng minh cho kết luận đã cho ra trước Luận văn thạc
sĩ với đề tài: “ Du lịch quốc tế và vấn đề thị thực xuất nhập cảnh Việt Nam thực trạng
và giải pháp” của Lê Đình Vinh được thực hiện năm 2008 đã chứng minh vấn đề miễn thị thực du lịch giúp tạo điều kiện dễ dàng cho việc thu hút khách du lịch (KDL) Quốc
tế đến Việt Nam Đề tài cũng có khảo sát về mức độ hài lòng của du khách Quốc tế đối với nhân tố thị thực và thủ tục xuất nhập cảnh và rút ra kết luận về các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng này như thái độ của nhân viên xuất nhập cảnh, phương tiện trang thiết bị làm thủ tục xuất nhập cảnh, các biển báo và chỉ dẫn, Đề tài “Phát triển
du lịch tỉnh Quảng Ninh trong xu thế hội nhập” làm luận văn thạc sĩ của Đỗ Thu Trang năm 2015 phân tích đánh giá các tài nguyên du lịch của tỉnh Quảng Ninh mà cụ thể là các điểm, tuyến, cụm du lịch, trung tâm du lịch có ý nghĩa quan trọng của Tỉnh, mối quan hệ với các tỉnh lân cận và đề ra một số giải pháp phát triển cho tới năm 2020 .Hay như đề tài “ Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh” làm luận văn Thạc sĩ Kinh Tế năm 2013 của Ngô Long cũng có những phân tích, nghiên cứu đi sâu vào các vấn đề như điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội, tình hình lao động, hiện trạng đầu tư…… Tuy nhiên, đề tài nghiên cứu khá rộng và bao trùm cả về khách du lịch nội địa và Quốc Tế Và một số vấn đề từ năm 2013 không còn đúng so với tình hình của Tỉnh hiện tại và một số vấn đề tồn tại khác
Ngoài ra, đề tài “Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển ngành du lịch” của một tỉnh/ thành phố nào khác của Việt Nam cũng là đối tượng nghiên cứu cho nhiều đề tài khóa luận tốt nghiệp của các anh chị đi trước như: Công trình của tác giả Dương Xuân Thắng (2006): Giải pháp nâng cao sự phát triển ngành du lịch tỉnh Khánh Hòa đến năm 2015 Công trình này đã làm rõ hơn cơ sở lý luận về du lịch và cạnh tranh trong lĩnh vực du lịch Đồng thời đánh giá thực trạng thu hút khách du lịch và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao sự phát triển ngành du lịch tỉnh Khánh Hòa tới năm
Trang 42015 Cũng có một số đề tài đi sâu về mảng hoạt động thu hút KDL Quốc tế như đề tài
“Thu hút khách du lịch quốc tế đến thành phố Hồ Chí Minh” của Nguyễn Đức Tiến Đạt (2011),
Tình hình nghiên cứu đề tài tương tự ở nước ngoài có sự đa dạng hơn trong phạm
vi và phương pháp nghiên cứu Điển hình là các đề tài có xây dựng mô hình định lượng các yếu tố tác động đến số lượng KDL Quốc tế hay doanh thu từ KDL Quốc tế của một quốc gia Đề tài “The Determinants of International tourismdemand for
Egypt : Panel Data Evidence”(tạm dịch là “Các nhân tố quyết định đến cầu về du lịch quốc tế của Ai Cập”) của Ibrahim (2011) hay đề tài “Demand factors for international tourism in Malaysia: 1998-2009”(tạm dịch: “Các yếu tố liên quan tới cầu của du lịch quốc tế ở Malaysia trong giai đoạn 2008-2009”) của Kosnan và Kaniappan(2012) hoặc
đề tài xem xét các nhân tố ảnh hưởng tới cầu về du lịch tạicác nước thuộc Liên minh Tiền tệ Đông Ca-ri-bê (Eastern Caribbean CurrencyUnion) với tên gọi “What Attracts Tourists to Paradise?” (tạm dịch là “Điều gì thu hút khách du lịch đến với thiên
đường?”) của Evridiki Tsounta (2008), xây dựng mô hình định lượng và chứng minh các yếu tố như thu nhập của KDL hay mức sống của nơi cư trú thường xuyên của du khách có tác động tích cực đến lượng KDL Quốc tế đến du lịch tại địa phương được nghiên cứu Ngoài ra, một số đề tài khác tập trung vào các yếu tố thuộc địa phương cung cấp sản phẩm du lịch quốc tế để xâydựng mô hình định lượng ảnh hưởng của các yếu tố này đến hoạt động thu hút KDL Quốc tế của địa phương như các đề tài “A empirical analysis of influential factors ininternational tourism income in Sichuan province” (tạm dịch là: “Một phân tích theo kinh nghiệm về những yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập từ du lịch quốc tế của tỉnh Tứ Xuyên.”) của Yang, Ye và Yan (2011) hay công trình nghiên cứu của Khadaroo và Seetanah (2007) về ảnh hưởng của cơ sở hạ tầng lên sự phát triển của du lịch trong đề tài “Transport Infrastructure and Tourism Development” (Tạm dịch: “Cơ sở hạ tầng giao thông và sự phát triển của du lịch”) Các đề tài này cũng đã chứng minh rằng các nhân tố thuộc địa phương cung cấp dịch
vụ du lịch như số lượng lao động, cơ sở vật chất, hạ tầng, cảnh quan thiên nhiên, cũng tác động đến hiệu quả hoạt động thu hút KDL Quốc tế
Tính mới của đề tài
Trang 5Căn cứ vào tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước đã được trình bày ở trên, hiện nay đã có khá nhiều đề tài với đối tượng nghiên cứu là “Thu hút du lịch” hay “Hoạt động thu hút khách du lịch quốc tế” của một địa phương hay một quốc
gia được thực hiện Đặc biệt, là với tỉnh được coi là trung tâm Du lịch, Quảng Ninh đương nghiên trở thành phạm vi nghiên cứu ngày một phổ biến cho các đề tài tương tự
của các nhà nghiên cứu Việt Nam Tuy nhiên, một số đề tài chỉ tập trung phân tích tác động của các nhân tố tới hoạt động du lịch chung của Quảng Ninh bao gồm cả mảng nội địa và Quốc tế Đề tài tập trung phân tích “Các nhân tố tác động đến hoạt động thu hút KDL Quốc tế của tỉnh Quảng Ninh”có sự hệ thống hóa các nhân tố này còn khá hiếm hoi
Mặt khác, rất hiếm có đề tài nào của các nhà nghiên cứu trong nước xây dựng mô hình định lượng các nhân tố tác động tới hoạt động thu hút KDL Quốc tế của một địa phương Việc xây dựng mô hình định lượng khá phổ biến trong các nghiên cứu của nước ngoài nhưng hầu hết các nghiên cứu chỉ tập trung nghiên cứu trên phạm vi của một quốc gia mà ít tập trung vào một phạm vi của một tỉnh/thành
Như vậy, với việc xây dựng mô hình định lượng và phân tích các nhân tố tác động đến hoạt động thu hút KDL Quốc tế của một địa phương là tỉnh Quảng Ninh đã tạo nên tính mới của đề tài “Các nhân tố tác động đến hoạt động thu hút khách du lịch Quốc tế của tỉnh Quảng Ninh”
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
+ Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động thu hút khách du lịch quốc tế của tỉnh Quảng Ninh cùng với các nhân tố tác động đến hoạt động thu hút KDL Quốc
tế của tỉnh
+ Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: kết quả hoạt động thu hút KDL quốc tế của Quảng Ninh và các nhân tố tác động đến hoạt động này được nghiên cứu trong phạm vi tỉnh Quảng Ninh
Trang 6 Về thời gian:
K
ết quả hoạt động của du lịch quốc tế tại Quảng Ninh trong giai
đoạn 2011-2016
M
ô hình định lượng với các quan sát được nghiên cứu trong giai
đoạn 2007-2011: dựa vào các nghiên cứu liên quan trước đây của Yang, Ye và Yan (2011), Khadaroo và Seetanah (2007), WEF (2011), Sookram (2011) để lựa chọn các chỉ tiêu đại diện biến phụ thuộc và các biến độc lập để đưa vào mô hình định lượng
C
ác giải pháp được đề ra cho việc áp dụng trong giai đoạn
2015-
2020
- Phương pháp nghiên cứu
+ Trong quá trình nghiên cứu, người viết sử dụng mô hình kinh tế lượng để xác định các nhân tố tác động đến hoạt động thu hút khách du lịch quốc tế của Quảng Ninh Các số liệu phục vụ mô hình được thu thập từ các báo cáo thống
kê của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức quốc tế Phương pháp phân tích định lượng được tham khảo từ giáo trình môn Kinh tế lượng và các bài
nghiên cứu tại Việt Nam và trên thế giới Số liệu được xử lý và rút ra kết quả
từ phần mềm Eviews 6.0
+ Các giải pháp nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động thu hút khách du lịch quốc
tế của TP.HCM được người viết đề xuất dựa trên kết quả nghiên cứu định lượng và các định hướng, chiến lược và mục tiêu đặt ra cho ngành du lịch Quảng Ninh quy định trong các văn bản luật và dưới luật do các cơ quan Nhà nước ban hành