Vào mùa đông, sâu non, sâu trưởng thành của một số loài nằm dưới đất hoặc ở trên mặt đất, bị nấm ký sinh côn trùng xâm nhiễm và sử dụng các chất trong cơ thể côn trùng làm thức ăn, làm c
Trang 1I TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Nấm Cordyceps
Nấm Cordyceps (còn gọi là Đông trùng hạ thảo, Trùng thảo hay Hạ thảo đông trùng) là
các loài nấm dược liệu sống ký sinh trên sâu non, nhộng hoặc sâu trưởng thành của một số loài côn trùng Vào mùa đông, sâu non, sâu trưởng thành của một số loài nằm dưới đất hoặc ở trên mặt đất, bị nấm ký sinh côn trùng xâm nhiễm và sử dụng các chất trong cơ thể côn trùng làm thức ăn, làm cho côn trùng chết Giai đoạn này nhiệt độ và ẩm độ không khí thấp, nấm ký sinh
ở dạng hệ sợi Đến mùa hè, nhiệt độ và ẩm độ không khí cao, nấm chuyển giai đoạn, hình thành thể quả và nhú lên khỏi mặt đất nhưng gốc vẫn dính liền vào thân sâu Vì mùa đông nấm
ký sinh trên sâu, mùa hạ mọc thành cây nấm nên có tên là Đông trùng hạ thảo, người ta thường đào lấy cả xác sâu và nấm để làm thuốc Theo đông y Trung Quốc, nấm Đông trùng ha ̣ thảo có tác dụng chữa nhiều bệnh như bệnh về phổi, về thân, đổ mồ hôi trộm, đau lưng, yếu sinh lý …
[56] Cordyceps khi sấy khô có mùi tanh như cá, đốt lên có mùi thơm được đánh giá là nhóm
thực phẩm bổ dưỡng có tác dùng phòng và điều trị ung thư, nâng cao sức đề kháng, điều trị mỡ máu… nâng cao sức khỏe con người [50]
Cordyceps là nhóm nấm thuộc giới Nấm, ngành Ascomycota, lớp Ascomycetes, bộ Hypocreales, họ Clavicipitaceae Dựa trên đặc điểm hình thái cũng như đặc điểm về cấu trúc phân tử, các loài nấm thuộc họ này bao gồm các chi chủ yếu là: Cordyceps, Elaphocordyceps, Metacordyceps và Ophiocordyceps [13] Hiện nay, nấm Cordyceps đã được phát hiện hơn 680 loài Cordyceps sp được tìm thấy trên tất cả 6 lục địa, trong nhiều vùng khí hậu và môi trường
sống và một loạt vật chủ (John Holliday, 2010) Tuy nhiên, chỉ có một vài loại Cordyceps
sp được khai thác hoạt tính sinh học để sử dụng cho mục đích thương mại và thực tế không
cung cấp đủ cho nhu cầu thị trường rất lớn hiện nay Trong tự nhiên, nấm Cordyceps có thể
được tìm thấy vào mùa hè, ở các vùng núi thuộc dãy núi Hymalaya ở độ cao từ 2000-6000m thuộc các nước Nepal, Ấn Độ, Tây Tạng và một số tỉnh của Trung Quốc (Tứ Xuyên, Thanh Hải, Cam Túc, Vân Nam,…) [50] Tuy nhiên theo một số nghiên cứu cho thấy, các thành viên
của chi nấm Cordyceps còn có thể được tìm thấy ở Thái Lan (Cordyceps unilateralis, C.
Trang 2khaoyaiensis và C.pseudomilitaris, C nutans, C brunneapunctata sp, C myrmecophila, C cylindrical,…) [53], Hàn Quốc (Cordyceps adaesanensis, C agriota Kawamura, C bifisispora, C crassispora, C yongmoonensis…) [38], Nhật Bản (Cordyceps agriota, C longissima, C ophioglossoides, C capita, C intermedia f michinoluensis,…) [40] và Việt Nam (Cordyceps sinensis, C militaris và C sabrolifera [5], C nutans, C gunnii [3] và C takaomontana [4], C crinalis, C formosana, C pseudomilitaris,…) Tuy nhiên cho đến nay người ta mới chỉ nghiên cứu được 2 loài nấm Cordyceps sinensis và Cordyceps militaris có giá
trị dược liệu tốt với con người
Hình 1.1 Một số loài Cordyceps
Nấm Cordyceps bifusispora được phát hiện lần đầu bởi Ove Eriksson tại Vasterbotten,
Umea, Klabbole, Thụy Điển vào năm 1976 Thân nấm hình trụ, mịn, màu trắng đến vàng nhạt; quả thể hình cái chùy lõm giữa, màu vàng, dài khoảng 300 µm, rộng 150-170 µm; ký sinh trên
Trang 3nhộng loài Lepidoptera (Noctuidae) Đến nay, nấm C bifusispora đã được tìm thấy ở bốn
nước: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thụy Điển [28, 49]
a) Quả thể non b) Quả thể già c)Cấu trúc hiển vi sợi nấm
Hình 1.2 Hình dạng bào tử và cấu trúc hiển vi của sợi nấm C bifusispora
Theo Bách khoa toàn thư mở, cơ chế xâm nhiễm của loài nấm này vào cơ thể sâu hiện giờ vẫn chưa rõ Vào mùa đông, nấm bắt đầu ký sinh vào sâu non và làm chết sâu non vì ăn hết chất dinh dưỡng của chúng Những con sâu này có thể đã ăn phải bào tử nấm hoặc chúng mắc bệnh nấm ký sinh từ các lỗ thở Đến khi sợi nấm phát triển mạnh, chúng xâm nhiễm vào các mô vật chủ, sử dụng hoàn toàn các chất dinh dưỡng trong cơ thể sâu Đến một giai đoạn nhất định thường là vào mùa hè ấm áp, nấm bắt đầu mọc ra khỏi sâu như một ngọn cỏ và vươn lên khỏi mặt đất phát triển thành dạng cây (hình dạng giống thực vật) và phát tán bào tử [50]
1.2 Một số hợp chất sinh bởi nấm Cordyceps
Sản phẩm từ nấm Cordyceps được sử dụnglàm thuốc nâng cao và phục hồi sức khỏe
được sử dụng ở Trung Quốc và Nhật Bản và được biết đến với tên “Dong Chong Xia Cao” và
“Tochukaso” Ở một số nước khác sản phẩm thu nhận từ nấm Cordyceps được biết đến như
một loại nấm kí sinh trên sâu bướm có giá trị cao trong việc nâng cao sức khỏe, sử dụng trong điều trị chống lại các bệnh có nguồn gốc virus, chống lại sự phát triển của các khối u và nâng
Trang 4cao sức đề kháng [18, 19, 45] Các dược tính trong điều trị khi sử dụng các sản phẩm có nguồn
gốc từ nấm Cordyceps đã được chứng minh bởi y học hiện đại Trong các chất hóa học chứa trong nấm Cordyceps, quan trọng nhất là nhóm chất cordycepic axit, cordycepin và
polysaccharide đây là những chất đặc biệt có tác dụng rất tốt trong điều trị bệnh ung thư và các
bệnh do virus Các thành phần và tác dụng hoạt chất có trong nấm Cordyceps là rất đa dạng
bao gồm N-acetylgalactosamine, Adenosine, Ergosterol và ergosteryl esters, Bioxanthracenes, Hypoxanthine, Polysaccharide, Chitinase, Cicadapeptins và myriocin… [14, 17]
1.3 Giá trị dược liệu của nấm Cordyceps
Theo các ghi chép về đông dược cổ, tên “Đông Trùng Hạ Thảo” được ghi chép là vị thuốc lần đầu trong cuốn bản thảo cương mục đời Minh của Lý Thời Trân Dược tính theo Đông Y là vị ngọt, tính ấm, hơi độc chủ yếu nhập vào kinh Phế và kinh Thận Tác dụng là bổ
hư, kích phát nguyên khí, trừ ho, hoá đàm Do đó, nó trị khó thở và ho do chứng đàm thấp; trị khó thở do hư nhược, ho do lao tổn, ho ra máu, đổ mồ hôi tự nhiên hay ra trộm về đêm; trị dương nuy hay bất lực tình dục và di tinh; trị đau thắt lưng và đầu gối, bổ hư trong thời gian bình phục một cơn bệnh…Vì vậy, các sách y học cổ truyền của Trung Quốc từ xa xưa luôn coi Đông trùng hạ thảo là vị thuốc có tác dụng “Bổ phế ích can, bổ tinh điền tuỷ, chỉ huyết hoá đàm”, “Bổ phế ích thận, hộ dưỡng tạng phủ”, “Tư âm tráng dương, khư bệnh kiện thân”; là loại thuốc “Tư bổ dược thiện”, có thể chữa được “Bách hư bách tổn”,
Cũng theo y học Trung Quốc, nấm Đông trùng hạ thảo đã được dùng để điều trị thành công các chứng rối loạn lipit máu, viêm phế quản mạn, hen phế quản, viêm thận mạn tính, suy thận, rối loạn nhịp tim, cao huyết áp, viêm mũi dị ứng, viêm gan B mạn tính, ung thư phổi và thiểu năng sinh dục Tại Viện nghiên cứu nội tiết Thượng Hải (Trung Quốc), nấm Đông trùng
hạ thảo đã được dùng để chữa liệt dương có hiệu quả tốt Những năm gần đây, rất nhiều tính chất dược lý của loài nấm này được nghiên cứu một cánh khoa học và đã được công bố trên các tạp chí chuyên ngành, được thể hiện thông qua một số công trình tiêu biểu như sau:
Nan et al chứng minh nấm Cordyceps militaris có hiệu quả để chữa trị bệnh rối loạn
chức năng gan [27]
Trang 5Tác dụng chống ung thư được đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu của các tác
giả ở nhiều quốc gia trên thế giới Dịch chiết từ thể quả Cordyceps militaris có tác dụng chống
ung thư, hiệu quả đối với hai loại tế bào màng trong tĩnh mạch rốn là T1080 và B16-F10 do có khả năng chống lại sự tạo thành các mạch máu mới bằng cách giảm sự biểu hiện của bFGF, một trong những nhân tố kích thích quá trình này Do có vai trò kìm hãm quá trình tạo thành các mạch máu mà có thể ngăn chặn được quá trình di căn và sự phát triển của tế bào ung thư [47] Dịch chiết nấm Đông trùng hạ thảo có tác dụng kìm hãm sự phát triển của tế bào ung thư
vú, ung thư phổi [6] Dịch chiết bằng nước ấm nấm Cordyceps militaris có tác dụng kìm hãm
sự phát triển của dòng tế bào ung thư máu ở người bằng cách gây ra hiện tượng tự chết của các
tế bào thông qua sự hoạt hoá enzym caspase-3 [23] Thí nghiệm của Kim G.Y và đồng tác giả (2006) cũng cho kết quả tương tự với khả năng điều trị ung thư máu của dịch chiết từ nấm
Cordyceps militaris [21] Các nhà khoa học cũng đã sử dụng dịch chiết từ loài nấm này để thử
nghiệm trên các dòng tế bào bình thường và các dòng tế bào ung thư Kết quả cho thấy hai dòng tế bào K562 (tế bào ung thư máu-leukemia) và Du145 (tế bào ung thư tuyến tiền liệt-prostate carcinoma) bị ức chế mạnh bởi dịch chiết bằng dung môi butanol [15]
Chống lão hoá, chống các chứng viêm tấy được thể hiện trong công trình nghiên
cứu của Won S.Y và Park E.H (2005) Ahn et al (2000) cho rằng nấm Đông trùng hạ thảo có
tác dụng chống viêm nhiễm kìm hãm sự phát triển của một số virut, vi khuẩn và nấm [6]
Ngoài ra nấm Đông trùng hạ thảo Cordyceps militaris còn có tác dụng kìm hãm sự oxy hoá
của lipit, lipoprotein và lipoprotein tỷ trọng thấp [22]
Một ví dụ cụ thế về hiệu quả của Đông trùng hạ thảo: vào những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ 20, ba nữ vận độ ng viên điền kinh Trung Hoa đã đạt 3 kỷ lục thế giới mới suốt trong các kỳ thi ở các cự ly 1.500 m, 3.000 m và 10.000 m nhờ có sử dụng Đông trùng hạ thảo Huấn luyện viên Ma Zunren của 3 nữ vận động viên này khẳng định, Đông trùng hạ thảo giúp cho sự tập luyện của các vận động viên thêm mạnh mẽ và dẻo dai, đồng thời làm giảm nhanh căng thẳng (stress) Sau những thành công vang dội của vận động viên Trung Hoa, trên các đấu trường quốc tế trong thực đơn ăn uống có thêm nấm Đông trùng hạ thảo Từ đầu thập kỷ
90 của thế kỷ trước, các nước phương Tây mà tiêu biểu là Hoa Kỳ đã quan tâm và có những nghiên cứu về loại nấm này [51]
Trang 61.4 Khai thác và sử dụng các hợp chất có hoạt tính sinh học từ nấm Cordyceps
Nấm Cordyceps được đánh giá cao về giá trị dinh dưỡng sử dụng trong sản xuất thực
phẩm chức năng, thuốc trong phòng và chữa bệnh Các hợp chất có hiệu lực làm thuốc được tách chiết từ sinh khối của nấm khi nuôi trên môi trường lỏng và môi trường rắn có thể kể đến codycepin, cordycepic axit, polysaccharide và các hợp chất chống oxi hóa [14, 25, 41]
1.4.1 Polysaccharide
Polysaccharides là các polyme ngưng tụ được hình thành từ một lượng lớn monosaccharide được liên kết với nhau bởi O-glycosidic Một liên kết glycosidic được hình thành từ một nửa là glycosyl của hemiacetal (hoặc hemiketal) kết hợp với nhóm hydroxyl của mono khác để hình thành nên một đơn vị glycosyl trong chuỗi polysaccharide Polysaccharides
có cấu trúc mạch thẳng hoặc phân nhánh, tuy theo số lượng các monome chứa trong polysaccharides mà được chia thành hai nhóm: homopolysaccharides chỉ bao gồm một loại monosaccharide và heteropolysaccharides được hình thành từ hai hay nhiều chủng loại monosaccharide
Các glycosidic liên kết với nhau tại các vị trí, như liên kết α (1/2), (1/3), (1/4) hay β -(1/2), β - (1/3), β -(1/4) Cả hai homopolysaccharides và heteropolysaccharides có thể chứa các liên kết dạng α, β phụ thuộc vào đơn vị hình thành lên chúng Các heteropolysaccharides không chỉ khác nhau về đơn vị cấu tạo, số lượng và trình tự của các đơn vị monosaccharide mà chúng cũng khác nhau về trình tự của các mối liên kết glycosidic Điều này dẫn đến một đa dạng gần như vô hạn trong cấu trúc của các polysaccharide
Các polysaccharides chính trong nấm Cordyceps có một số dạng glucans với các mối
liên kết glycosidic được hình thành từ liên kết (1/3) - (1/6) – β glucans và (1/3) - 1 -glucans Mặc dù, vách tế bào nấm là nguồn cung cấp chính của polysaccharides được chứng minh kháng khối u, trong khi với polysaccharide thu nhận từ thực vật lại không có đặc điểm này, điều này chỉ có thể được giải thích được thông qua sự khác nhau trong cấu trúc hóa học của các polysaccharide Các polysaccharide có khả năng chống lại sự hoạt động của tế bào ung thư thường có cấu tạo từ đơn giản đến phức tạp chứa các đường glucose, galactose, mannose, xylose, arabinose, fucose, ribose và axit glucuronic Trong một số loài nấm, polysaccharides liên kết với các protein hoặc peptide tạo thành các hệ polysaccharide - protein hoặc
Trang 7polysaccharide peptide cấu trúc này có hoạt tính kháng khối u mạnh hơn Ngoài cấu trúc 1/3
-β -glucans có khả năng kháng khối u đã được chứng minh trên cơ sở nghiên cứu lâm sàng, các nghiên cứu đã chỉ ra glucans có được hoạt tính sinh học này là trong cấu tạo của mình các phân tử thẳng hoặc phân nhánh với cấu trúc chính là phân tử đường glucose đã liên kết với các đơn vị khác trong chuỗi ở một số vị trí, với các chuỗi bên là các đơn vị được hình thành từ axit glucuronic, xylose, galactose, mannose, arabinose, hoặc ribose [7, 17, 18, 19, 25, 30, 36, 37]
Bảng 1.1 Khả năng kháng khối u của một số polysaccharide được thu nhận từ một số
loại nấm
polysaccharide
Kháng khối u dạng
Cordyceps militaris Sinh khối Khối u ác tính, ung thư phổi
Đặc tính kháng khối u của các polysaccharides có thể bị ảnh hưởng bởi kích thước củaphân tử, mức độ phân nhánh, hình thức, và khả năng hòa tan trong nước Nói chung, các polysachcharide càng có trọng lượng phân tử lớn và hòa tan trong nước tốt có khả năng kháng khối u cao hơn Một số nghiên thu được trên lâm sàng cho biết về khả năng kháng khối u cao thuộc về phức hợp polysaccharide - protein tách ra từ quả thể, đây là các heteropolysaccharides
có chứa galactose, glucose, mannose và fucose [30, 36, 46]
Hợp chất exopolysaccharide (EPS) là một polysaccharide ngoài bào, có thể được thu nhận bằng lên men chìm từ một số loài nấm lớn Một số nghiên cứu đã rất thành công trong
thu nhận EPS và sinh khối nấm Cordyceps trong lên men chìm trên môi trường gồm
glucose-peptone-cao nấm men với lượng EPS cao nhất là (0,2-1,01g/L) thu được sau từ 7-15 ngày lên men Lượng sản phẩm thu được thường trùng với động học phát triển hệ sợi, hình thái nấm và trạng thái dinh dưỡng Trong số các các nghiên cứu, sản phẩm tổng hợp ngoại bào ở một số
chủng nấm Cordyceps đạt được có mức độ cao khi lên men trên môi trường khoai
tây-malt-peptone Như vậy, sự tích lũy EPS trong nuôi lỏng tương quan chặt chẽ với lượng sinh khối nấm tạo ra Sự sinh tổng hợp các dạng EPS trong lên men chìm sẽ phụ thuộc đặc điểm sinh
Trang 8học của các chủng nấm Hơn nữa, sự sản xuất polysaccharide ngoại bào có vai trò như như một chất bám dính trên bề mặt, cố định các enzyme, ngăn cản sự mất nước của sợi nấm, lưu trữ các chất dinh dưỡng dư thừa [30, 41]
1.4.2 Axit cordycepic
Theo dược điển củaTrung Quốc, axit cordycepic hay D-mannitol, một đồng phân của
axit quinic với cấu trúc polyol được sinh tổng hợp trong quá trình phát triển của nấm C sinensis và đượcsử dụng như là một dấu hiệu trong kiểm soát quá trình nuôi Axit cordycepic được tách ra từ C.sinensis từ những năm 1957, chứng minh có tác dụng lợi tiểu và phòng ngừa
biến chứng sau phẫu thuật cắt thận, làm giảm ho và hen suyễn Đặc biệt axit cordycepic có thể cung cấp sự bảo vệ hiệu quả và trong điều trị cho các bệnh nhân sau nhồi máu não và chấn thương, cải thiện vi tuần hoàn não và lưu lượng máu não, thúc đẩy phục hồi thần kinh và bảo tồn các khu vực thiếu máu cục bộ, giảm điều tiết áp lực nội sọ, giảm sự hình thành dịch não tủy và não mô hàm lượng nước Mặc dù axit cordycepic là an toàn cho bệnh nhân xuất huyết nội sọ, tuy nhiên vẫn được khuyến cáo không nên sử dụng ở các những bệnh nhân suy thận, suy thận mãn tính và bệnh tiểu đường Ngoài ra, một số nghiên cứu cho rằng axit cordycepic
có thể điều trị bệnh viêm màng não Các nghiên cứu gần đây cho thấy axit cordycepic có thể nâng cao hiệu quả của các tế bào mô đệm sau khi xuất huyết trong não và gia tăng hình thành
tế bào mới xung quanh các xuất huyết trong não [16, 36]
1.4.3 Các hợp chất có hoạt tính chống oxy hóa
Hoạt tính chống oxy hóa là một đặc tính sinh học quan trọng xuất hiện trong các chủng
thuộc ngành nấm Basidiomycetes Mặc dù có nhiều nhà nghiên cứu đã khảo sát đặc tính chống
oxy hóa của các quả thể nấm, nhưng chỉ có số ít được chú ý và tiến hành thu nhận các chất chống oxy hóa trên sinh khối trong lên men chìm Một trong số các nghiên cứu các chủng nấm lên men trên môi trường lỏng để thu nhận dịch sau lên men, dịch chiết sinh khối nấm và sinh
khối của 14 chủng nấm (Cordyceps comatus, C.disseminatus, C.micaceus, Pleuronata ostreatus, Hypholomafasciculare, Lentinus edodes, Lepista personata, Marasmius oreades, Pholiota alnicola, Stropharia coronilla, Suillusluteus, Schizophyllum commune, Trimetes versicolor và Volvariella bombycina) đều cho thấycó chứa các chất chống oxy hóa có khả năng
Trang 9ức chế gốc tự do trong phản ứng peroxide hóa lipid khi thí nghiệm trên não chuột Hiệu quả loại bỏ gốc tự do thu nhận từ sinh khối các chủng nấm từ môi trường lên men, các chất khô của dịch lọc sau lên men, và các hợp chất chiết khi sử dụng dung môi chiết khác nhau Kết quả dịch chiết từ sinh khối có tác động tích cực với khả năng loại bỏ gốc tự do mạnh, ngay cả khi
sử dụng dung môi chiết sinh khối nấm bằng nước cũng cho thấy khả năng và hoạt tính chống oxy hóa Các nhà nghiên cứu đã chứng minh được mối quan hệ tuyến tính giữa sự ức chế quá trình peroxy hóa chất béo và hàm lượng polyphenol tổng thu nhận được từ dịch lên men của
các chủng nấm Antrodia camphorata [25, 36, 46]
1.5. Nghiên cứu trong và ngoài nước
Các sản phẩm từ nấm Cordyceps có giá trị cao trong điều trị và nâng cao sức khỏe dẫn
đến việc khai thác quá mức các sản phẩm nấm trong tự nhiên đã khiến sản lượng ngày càng
giảm sút, giá một kg nấm Cordyceps tự nhiên dao động 40000- 60000 USD/kg [9] Để đáp ứng nhu cầu sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc từ nấm Cordyceps trong việc chăm sóc sức
khỏe con người ngày một tăng, từ những năm 1980 của thế kỷ trước nhiều nhà khoa học đã
nghiên cứu nuôi các chủng nấm Cordyceps sp trong điều kiện nhân tạo Năm 1982, Shen Nanying tại Viện Nghiên cứu Tứ Xuyên đã tách và nuôi thành công chủng Cordyceps sp CS4
trong môi trường nhân tạo Chủng nấm CS4 sau quá trình tinh sạch trải quả quá trình lên men trong điều kiện vô trùng với các điều kiện tương tự như điều kiện tự nhiên của vùng núi Tây Tạng như nhiệt độ thấp, thành phần không khí được tối ưu hóa về nồng độ nitơ, carbondioxide, carbonmonoxide và oxy chỉ có mức độ thấp Với qui trình lên men bề mặt, sản phẩm thu được đã được thử nghiệm lâm sàng trên 2000 bệnh nhân đang điều trị ung thư đã
đem nhiều kết quả tốt, từ đó các sản phẩm thuốc có bổ sung sinh khối nấm Cordyceps sp CS4
ngày càng được sự dụng rộng rãi và nổi tiếng trên toàn thế giới [26, 39, 45]
Với phương pháp nuôi bề mặt nấm Cordyceps ở Trung Quốc sử dụng môi trường có
chứa các thành phần được cân đối về nguồn nitơ và cacbon: nguồn cacbon gồm glucose, saccharose…; nguồn nitơ gồm cao nấm men, peptone, cao thịt… với nhiệt độ nuôi thích hợp 20-28°C trong điều kiện không khí thường, ánh sáng khuếch tán thời gian thu nhận từ 28-30
Trang 10ngày Nếu nuôi trong điều kiện không khí loãng với lượng oxi thấp xấp xỉ đạt 50% so với điều kiện thông thường, không có ánh sáng sau thời gian 15 đến 20 tuần mới là điều kiện thích hợp
thu nhận sinh khối nấm Cordyceps, vì sau thời gian trên trong cơ thể nấm mới tích lũy đủ các
hợp chất có giá trị cao
Ở Nhật Bản và Mỹ cũng sử dụng phương pháp lên men bề mặt với thành phần môi trường có chứa ngũ cốc hoặc các loại hạt để tạo điều kiện cho sợi nấm phát triển Các hạt sử dụng thường là các hạt lúa mỳ, gạo hoặc ngô sau khi sợi nấm phát triển tích lũy đầy đủ các hợp chất, các hạt được thu hoạch cùng với sợi nấm [48] Với phương pháp này cách thực hiện dễ dàng, chi phí thấp tuy nhiên nó có nhiều nhược điểm, quá trình tạp nhiễm dễ xảy ra, do chứa lượng cơ chất cao lên đã ảnh hưởng một phần đến chất lượng của sản phẩm Việc thu nhận bằng phương pháp lên men bề mắt khi áp dụng ở qui mô lớn đòi hỏi diện tích lớn thời gian kéo dài do vậy đã không đáp ứng nhu cầu sử dụng các sản phẩm ngày một cao
Nghiên cứu ứng dụng các phương pháp lên men men mới, dễ dàng áp dụng ở qui mô công nghiệp mặc dù chi phí cao nhưng đáp ứng tốt các yêu cầu về chất lượng và mức độ an toàn của sản phẩm Kết quả đã có những thành công với phương pháp lên men trên các thiết bị
tự động, có thể sản xuất trên qui mô công nghiệp đã rất thành công ở Nhật Bản, Trung Quốc,
Hàn Quốc với các chủng nấm C sinensis và C militaris [12, 20] Cùng với sự phát triển của
các kỹ thuật lên men, việc tạo ra các giống mới bằng cách lai giữa các dòng, hoặc gây đột biến
để tạo ra các dòng Cordyceps có thể sinh hàm lượng các chất cordycepin cao hơn với chất
lượng ổn định so với các chủng tự nhiên Đến này đã có nhiều sản phẩm sản xuất từ nấm
C.sinensis được bổ sung vào thuốc y học cổ truyền Trung Quốc, tạo thành thuốc viên sử dụng
để nâng cao sức đề kháng trong điều trị các bệnh ung thư, phòng chống mỡ máu… [45] Từ
năm 1950 đến nay, nấm C.militaris vẫn đang được sử dụng trong sản xuất 3-deoxyadenosine
một hợp chất có dược tính quan trọng trong điều trị các bệnh nhân ung thư
Tại Việt Nam một số nhóm nghiên cứu đã bước đầu công bố một số kết quả trong việc
sản xuất chế phẩm từ các chủng nấm Cordyceps sp như: TS Nguyễn Mậu Tuấn tại Trung tâm
Nghiên cứu thực nghiệm Nông lâm nghiệp Lâm Đồng, đã nghiên cứu và sản xuất thành công