Luật Ngân hàng Nhà nước (NHNN) năm 2010 đã định nghĩa dịch vụ trung gian thanh toán (TGTT) là hoạt động làm trung gian kết nối, truyền dẫn và xử lý dữ liệu điện tử các giao dịch thanh toán giữa tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và người sử dụng dịch vụ thanh toán (khoản 10 Điều 6). Hiện nay, hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 1012012NĐCP (đã được sửa đổi, bổ sung), Thông tư số 392014TTNHNN (đã được sửa đổi, bổ sung) và một số văn bản liên quan khác. Theo đó, hiện có 06 loại hình dịch vụ TGTT được NHNN cấp phép, trong đó có dịch vụ Ví điện tử. Dịch vụ Ví điện tử là dịch vụ cung cấp cho khách hàng một tài khoản điện tử định danh do các tổ chức cung ứng dịch vụ TGTT lập trên vật mang tin (như chíp điện tử, sim điện thoại di động, máy tính…), cho phép lưu giữ một giá trị tiền tệ được đảm bảo bằng giá trị tiền gửi tương đương với số tiền được chuyển từ tài khoản thanh toán của khách hàng tại ngân hàng vào tài khoản đảm bảo thanh toán (TKĐBTT) của tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử theo tỷ lệ 1:1.
Trang 1Quản lý dịch vụ ví điện tử
MỤC LỤC
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1. Hoạt động cung ứng dịch vụ Ví điện tử
Về cơ sở pháp lý
Trong thời gian qua, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thôngtin (CNTT), viễn thông và nắm bắt được xu hướng phát triển thanh toán khôngdùng tiền mặt (TTKDTM), tại Việt Nam đã xuất hiện một số tổ chức không phải
là ngân hàng (NPIs) với lợi thế về mặt công nghệ tham gia vào việc hỗ trợ ngân
hàng cung ứng các dịch vụ thanh toán ứng dụng công nghệ hiện đại, gọi là dịch
vụ trung gian thanh toán (TGTT) theo quy định tại Luật Ngân hàng Nhà nước
(NHNN) năm 2010 Sau một quá trình triển khai (thí điểm và chính thức), việccung ứng các dịch vụ TGTT đã đạt được những kết quả nhất định, khẳng địnhđược những ưu điểm về tính năng, sự tiện lợi, an toàn, nhanh chóng với chi phíhợp lý, ngày càng nhận được sự quan tâm từ các ngân hàng thương mại(NHTM), đơn vị cung ứng hàng hóa, dịch vụ và người sử dụng; dịch vụ TGTT
đã tạo thêm các kênh thanh toán mới, tiện ích, tiện lợi, bước đầu góp phần pháttriển TTKDTM, làm thay đổi thói quen thanh toán bằng tiền mặt trong dân cư
Về mặt cơ chế, chính sách, sau khi Luật NHNN năm 2010 được ban hành,NHNN đã tích cực phối hợp với các Bộ, ngành, cơ quan liên quan nghiên cứu,hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo điều kiện cho sự phát triển của hoạt động cungứng dịch vụ TGTT như: Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 củaChính phủ về TTKDTM (và các văn bản sửa đổi, bổ sung), Thông tư số39/2014/TT-NHNN ngày 11/12/2014 của NHNN hướng dẫn về dịch vụ TGTT(và các văn bản sửa đổi, bổ sung) Bên cạnh đó, NHNN cũng đã ban hành một
số Thông tư quy định về việc đảm bảo an toàn, bảo mật hệ thống công nghệ vàhoạt động cung ứng dịch vụ ngân hàng
Tuy nhiên, hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT tại Việt Nam hiện vẫn làvấn đề mới, đang trong giai đoạn khởi đầu, khá phức tạp; một số quy định pháp
lý liên quan còn mang tính tổng quan, chưa hướng dẫn cụ thể về quy trình,nghiệp vụ của từng dịch vụ TGTT; một số quy định làm hạn chế việc phát triểndịch vụ TGTT; cơ chế quản lý, giám sát hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT còngặp một số khó khăn, vướng mắc Bên cạnh đó, cùng với trào lưu phát triển củakhoa học công nghệ là sự phát triển của nhiều loại hình dịch vụ, sản phẩm mới,
có đặc điểm gần tương tự các dịch vụ TGTT, nhưng chưa có các quy định pháp
lý điều chỉnh, đặt ra thách thức đối với cơ quan quản lý trong việc ban hành cơ
Trang 3chế, chính sách vừa đảm bảo thúc đẩy hoạt động TTKDTM, vừa đảm bảo cơ chếquản lý, giám sát, tăng cường an ninh, an toàn, bảo mật cho hoạt động cung ứngdịch vụ TGTT trên thị trường
Có thể thấy, việc nghiên cứu thực trạng và đưa ra giải pháp quản lý, hoànthiện cơ chế chính sách, giám sát, xử lý cấp phép đối với các tổ chức TGTT haycông ty công nghệ tài chính (Fintech) vẫn còn là một thách thức, không chỉ đốivới Việt Nam mà còn cả đối với thế giới, cần được tiếp tục nghiên cứu và hoànthiện thường xuyên, liên tục trong thời gian tới Ngày 18/5/2016, Thủ tướng
Chính phủ đã ban hành Quyết định số 844/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025”, NHNN cũng
đã thành lập Ban Chỉ đạo về lĩnh vực công nghệ tài chính (Fintech) của NHNNvào tháng 03/2017 Do được phát triển trên cơ sở ứng dụng các thành tựu củakhoa học và công nghệ hiện đại nên hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT đã vàđang thu hút nhiều sự quan tâm của cộng đồng CNTT và sự tham gia của cácdoanh nghiệp khởi nghiệp trong nước (nghiên cứu cho thấy, trong 31 tổ chứccung ứng dịch vụ TGTT được NHNN cấp phép, hầu hết đều hoạt động tronglĩnh vực Fintech) Thống đốc NHNN cũng đã có ý kiến về việc rà soát, xem xétthủ tục, điều kiện cấp phép hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT
Do vậy, trong thời gian tới, việc hoàn thiện hành lang pháp lý, cơ chếquản lý, giám sát, phân tích, tăng cường năng lực đánh giá cần phải tiếp tụcnghiên cứu, hoàn thiện thường xuyên, liên tục; cần nghiên cứu, có biện phápquản lý chặt chẽ, phù hợp hơn đối với các tổ chức cung ứng dịch vụ TGTT vàđịnh hướng kế hoạch phát triển hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT để đảm bảo
an toàn, hiệu quả hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT, đáp ứng nhu cầu thực tiễntrong nước và phù hợp với thông lệ quốc tế Bên cạnh đó, nội dung nhiệm vụkhoa học công nghệ này cũng phù hợp với chủ trương, giải pháp của Hội nghịTrung ương 5 (khóa XII) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về hoàn thiệnthể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), phát triển kinh
tế tư nhân; phù hợp với ý kiến của Chính phủ tại văn bản số 145/CP-PL ngày19/4/2017 gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cũng như định hướng cho việcnghiên cứu khoa học và công nghệ của NHNN của năm 2017, nhằm đảm bảo antoàn và hiệu quả hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT
Vì vậy, việc triển khai Đề tài nghiên cứu khoa học “Hoạt động cung ứng
dịch vụ trung gian thanh toán tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp quản lý đến năm 2025” là cần thiết trong bối cảnh hiện nay Trong khuôn khổ Đề tài,
Nhóm Nghiên cứu tập trung phân tích, đánh giá, làm rõ thực trạng (mặt được,chưa được) trong hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT tại thị trường Việt Nam
Trang 4hiện nay; nghiên cứu kinh nghiệm các nước, từ đó rút ra những bài học kinhnghiệm cho Việt Nam; xác định những định hướng, giải pháp, đề xuất kiến nghịliên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT trong thời gian tới (tầm nhìnđến 2025).
2. Mục tiêu nghiên cứu của Đề tài:
Đề tài được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu sau:
Thứ nhất, mục tiêu tổng quát là góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý, cơ
chế quản lý, giám sát, phân tích, đánh giá đối với hoạt động cung ứng dịch vụTGTT; góp phần thực hiện chủ trương, giải pháp của Hội nghị TW 5 (khóa XII)
về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, phát triển kinh tế tưnhân
Thứ hai, mục tiêu cụ thể là giải quyết 03 nhiệm vụ được Thống đốc giao
bao gồm: Đánh giá thực trạng hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT tại Việt Nam(số lượng tổ chức, thực trạng hoạt động, thực trạng quản lý, thanh tra, giámsát ); Đề xuất định hướng, giải pháp phát triển hoạt động cung ứng dịch vụTGTT tại Việt Nam giai đoạn 2019-2021, định hướng đến năm 2025 (hành langpháp lý, cơ chế thanh tra, giám sát, an ninh an toàn bảo mật, phòng chống rửatiền, bảo vệ người tiêu dùng ); Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường quản lý hoạtđộng cung ứng dịch vụ TGTT tại Việt Nam giai đoạn 2019-2021, định hướngđến năm 2025 (giải pháp về hành lang pháp lý, cơ chế thanh tra, giám sát, )
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Đề tài tập trung vào việc quản lý hoạt độngcung ứng dịch vụ TGTT tại Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của Đề tài là nghiên cứu thực trạng quản lý hoạtđộng cung ứng dịch vụ TGTT tại Việt Nam; kinh nghiệm của một số quốc gia vàkhu vực trong việc quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT và bài học đối vớiViệt Nam; trên cơ sở đó đề xuất định hướng, giải pháp tăng cường quản lý hoạtđộng cung ứng dịch vụ TGTT tại Việt Nam giai đoạn 2019-2021, định hướngđến năm 2025
4 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật sử dụng
4.1 Cách tiếp cận
Trên cơ sở tổng hợp, đánh giá thực trạng, những khó khăn, rào cản, tháchthức và nguyên nhân trong việc quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT tạiViệt Nam; bài học kinh nghiệm từ một số quốc gia trong khu vực và trên thế
Trang 5giới, Nhóm nghiên cứu đề xuất một số định hướng, giải pháp để tăng cườngquản lý hoạt động TGTT tại Việt Nam giai đoạn 2019-2021, định hướng đếnnăm 2025, bao gồm định hướng, giải pháp phát triển (về hành lang pháp lý, cơchế thanh tra, giám sát, an ninh an toàn bảo mật, bảo vệ người tiêu dùng ).
4.2 Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng
- Sử dụng phương pháp điều tra, khảo sát, thu thập thông tin, dữ liệu, trên
cơ sở đó phân tích, đánh giá thực trạng quản lý, những khó khăn, vướng mắc,thách thức, rào cản, nguyên nhân đối với trong việc quản lý hoạt động cung ứngdịch vụ TGTT tại Việt Nam
- Sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, luận giải, chứng minh gắnvới thực tế, bài học kinh nghiệm của một số nước/khu vực trên thế giới
- Trên cơ sở các thông tin, dữ liệu, kết quả thu được, phân tích, tổng hợp
và đúc rút bài học kinh nghiệm, xây dựng phương pháp phù hợp và khả thi gắnvới lộ trình cụ thể, đề xuất các kiến nghị đối với việc quản lý hoạt động cungứng dịch vụ TGTT tại Việt Nam trong thời gian tới
5 Tổng quan nghiên cứu
5.1 Tình hình nghiên cứu nước ngoài
Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến hoạt động cung ứngdịch vụ thanh toán của các tổ chức không phải là ngân hàng , là những tổ chứcđược pháp luật tại Việt Nam định nghĩa là tổ chức cung ứng dịch vụ TGTT, thamgia với vai trò hỗ trợ các ngân hàng cung ứng dịch vụ thanh toán cho kháchhàng, cụ thể như:
Thứ nhất, nghiên cứu “Tổ chức không phải là ngân hàng trong hoạt động
thanh toán bán lẻ” của Ngân hàng Thanh toán quốc tế BIS (2014) cho rằng,nhiệm vụ đảm bảo an toàn và hiệu quả hệ thống thanh toán, cũng như cácphương tiện, dịch vụ thanh toán bán lẻ là nhiệm vụ quan trọng của Ngân hàngTrung ương (NHTW) các nước, được phản ảnh thông qua sự tham gia củaNHTWtrong việc quản lý, giám sát và/hoặc tổ chức vận hành Báo cáo chỉ rarằng, trong bối cảnh sự phát triển của các NPIs tham gia chuỗi cung ứng dịch
vụ thanh toán ngày càng sâu rộng, thì NHTW và các cơ quan quản lý nhà nước
có liên quan sẽ gặp phải nhiều thách thức trong việc đảm bảo sự an toàn, hiệuquả của các hệ thống thanh toán, kiểm soát rủi ro và bảo vệ người tiêu dùng.Trên cơ sở đó, Báo cáo đưa ra một số khuyến nghị đối với ngân hàng trung ươngtrong việc quản lý các NPIs khi tham gia vào hoạt động cung ứng dịch vụ thanhtoán bán lẻ
Trang 6Thứ hai, nghiên cứu “Tổ chức không phải là ngân hàng và các rủi ro trong
các hệ thống thanh toán bán lẻ: Kinh nghiệm tại Châu Âu và Mỹ” của nhóm tácgiả Terri Bradford, Fumiko Hayashi, Christian Hung, Simonetta Rosati, Richard
J Sullivan, Zhu Wang, and Stuart E Weiner (2008) nhấn mạnh vào tầm quantrọng ngày càng tăng của các NPI tại Mỹ và 12 quốc gia của Liên minh Châu Âu(EU) Nhóm tác giả tập trung nghiên cứu, phân tích, đánh giá về các rủi ro củaNPI đối với hoạt động thanh toán bán lẻ và cho rằng việc kiểm soát các rủi ro làmột thức thách cho ngân hàng, NPIs và NHTW các nước trong bối cảnh côngnghệ ngày càng phát triển
Thứ ba, nghiên cứu “Các vấn đề chính sách của ngân hàng trung ương
trong thanh toán bán lẻ” của BIS (2003) tập trung phân tích các chính sách củaNHTW các nước G10 và Úc trong thanh toán bán lẻ và những khác biệt trongthể chế của các quốc gia này Nghiên cứu đưa ra một số khuyến nghị đối vớiNHTW, đó là cần phải lưu ý trong quá trình ban hành cơ chế, chính sách vềthanh toán bán lẻ cầnđảm bảo an toàn và hiệu quả trong thanh toán bán lẻ
Thứ tư, nghiên cứu về tiền điện tử, Ví điện tử của một số quốc gia và tổ
chức quốc tế (làm rõ những điểm giống, khác nhau giữa Việt Nam và thế giớiliên quan đến dịch vụ TGTT)
Thứ năm, nghiên cứu kinh nghiệm của Trung Quốc trong thời gian gần
đây về NPIs cung ứng dịch vụ thanh toán, tiên phong ứng dụng những côngnghệ thanh toán mới như mã phản hồi nhanh (QR Code), mở rộng đối tượng,phạm vi cung ứng dịch vụ, chấp nhận thanh toán
5.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Có thể thấy, các nghiên cứu trên thế giới tương đối nhiều, tuy nhiên, cácnghiên cứu cụ thể về dịch vụ TGTT tại Việt Nam còn khá ít, chủ yếu tập trungvào thanh toán điện tử và TTKDTM, một số nghiên cứu cũng đã có phân tích,đánh giá về vai trò và tầm quan trọng của dịch vụ TGTT đối với sự phát triểncủa TTKDTM nói chung và tại Việt Nam nói riêng
Năm 2014, tác giả Lê Văn Luyện và đồng nghiệp đã đưa ra nghiên cứu về
“Định hướng phát triển và giải pháp quản lý dịch vụ TGTT ở Việt Nam”, trong
đó đã khái quát cơ sở lý luận về dịch vụ TGTT; phân tích, làm rõ vai trò, thựctrạng sự phát triển của dịch vụ TGTT đối với thanh toán điện tử trên thế giới nóichung và tại Việt Nam nói riêng; từ đó đề xuất một số giải pháp để phát triển vàquản lý dịch vụ TGTT tại Việt Nam
Tuy nhiên, sau thời điểm năm 2014 khi NHNN ban hành Thông tư số39/2014/TT-NHNN hướng dẫn về dịch vu TGTT đến nay thì chưa có nghiên
Trang 7cứu, đánh giá, phân tích chuyên sâu nào về thực trạng hoạt động cung ứng dịch
vụ TGTT; đánh giá những thuận lợi, khó khăn, thách thức trong quá trình quản
lý, cấp phép, thanh tra, giám sát hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT và địnhhướng, lộ trình cần thiết để đảm bảo hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT tại ViệtNam an toàn, hiệu quả
6 Bố cục Đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục viết tắt, danh mục bảng và biểu
đồ, danh mục tài liệu tham khảo, Đề tài được thiết kế gồm 03 chương:
Chương I: Thực trạng phát triển, quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ
TGTT tại Việt Nam
Chương II: Kinh nghiệm quốc tế về quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ
TGTT
Chương III: Giải pháp tăng cường quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ
TGTT tại Việt Nam đến năm 2025
Trong bối cảnh công nghệ thanh toán đang phát triển và thay đổi nhanhchóng như hiện nay, trong quá trình nghiên cứu, Nhóm nhiên cứu Đề tài cũnggặp những khó khăn, thách thức; nội dung Đề tài không tránh khỏi những tồntại, hạn chế Vì vậy, Nhóm nghiên cứu Đề tài rất mong nhận được những ý kiếngóp ý, phản biện, qua đó góp phần hoàn thiện thêm Đề tài, làm cơ sở nghiêncứu, triển khai áp dụng trên thực tế, đảm bảo hoạt động TGTT được an toàn, bảomật, phát triển bền vững, góp phần phát triển TTKDTM và Tài chính Toàn diệntại Việt Nam
Trang 8CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN, QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ TGTT TẠI VIỆT NAM
1.1 Tổng quan về hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT
1.1.1 Định nghĩa về dịch vụ TGTT
Luật Ngân hàng Nhà nước (NHNN) năm 2010 đã định nghĩa dịch vụ
trung gian thanh toán (TGTT) là hoạt động làm trung gian kết nối, truyền dẫn
và xử lý dữ liệu điện tử các giao dịch thanh toán giữa tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và người sử dụng dịch vụ thanh toán (khoản 10 Điều 6) và giao tráchnhiệm cho NHNN cấp, thu hồi giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT chocác tổ chức không phải là ngân hàng (khoản 9 Điều 4)
Hiện nay, hHoạt động cung ứng dịch vụ TGTT được thực hiện theo quyđịnh tại Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 của Chính phủ vềTTKDTM ((đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 80/2016/NĐ-CP ngày01/7/2016 và Nghị định số 16/2019/NĐ-CP ngày 01/02/2019), và Thông tư số
(đã được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 20/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016
và Thông tư số 30/2016/TT-NHNN ngày 14/10/2016)) và một số văn bản liênquan khác Theo đó, hiện có 06 loại hình dịch vụ TGTT được NHNN cấp phép,gồm các dịch vụ cung ứng hạ tầng thanh toán điện tử (dịch vụ chuyển mạch tàichính; dịch vụ bù trừ điện tử; dịch vụ cổng thanh toán điện tử) và các dịch vụ hỗtrợ dịch vụ thanh toán (dịch vụ hỗ trợ thu hộ, chi hộ; dịch vụ hỗ trợ chuyển tiềnđiện tử; trong đó có dịch vụ Ví điện tử), trong đó.:
- Dịch vụ chuyển mạch tài chính là dịch vụ cung ứng hạ tầng kỹ thuật để
thực hiện việc kết nối, truyền dẫn và xử lý dữ liệu điện tử để thực hiện các giaodịch thanh toán thông qua ATM, POS, Internet, điện thoại di động và các kênhgiao dịch điện tử khác giữa các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và/hoặcgiữa các tổ chức cung ứng dịch vụ TGTT Theo đó, tổ chức cung ứng dịch vụchuyển mạch tài chính có vai trò như một trung tâm liên kết giữa các tổ chứccung ứng dịch vụ thanh toán, các tổ chức cung ứng dịch vụ TGTT với nhau, chophép chủ thẻ của các ngân hàng thanh toán thuộc trung tâm sử dụng nguồn tàinguyên về máy ATM hoặc điểm chấp nhận thanh toán thẻ thực hiện các giaodịch
- Dịch vụ bù trừ điện tử là dịch vụ cung ứng hạ tầng kỹ thuật để thực
hiện việc tiếp nhận, đối chiếu dữ liệu thanh toán và tính toán kết quả số tiền phảithu, phải trả sau khi bù trừ giữa các bên thành viên tham gia là tổ chức cung ứng
Trang 9dịch vụ thanh toán hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ TGTT để thực hiện việc quyếttoán cho các bên có liên quan.
- Dịch vụ cổng thanh toán điện tử là dịch vụ cung ứng hạ tầng kỹ thuật
để thực hiện việc kết nối giữa các đơn vị chấp nhận thanh toán và ngân hàngnhằm hỗ trợ khách hàng thực hiện thanh toán trong giao dịch thương mại điện
tử, thanh toán hóa đơn điện tử và các dịch vụ thanh toán điện tử khác Như vậy,
về bản chất, cổng thanh toán là dịch vụ cho phép khách hàng thực hiện thanhtoán trực tuyến tại các website thương mại điện tử Cổng thanh toán cung cấp hệthống kết nối an toàn giữa tài khoản thanh toán của khách hàng (tài khoản thẻ, víđiện tử) với tài khoản của website bán hàng, cho phép các cá nhân và doanhnghiệp thanh toán và nhận tiền trên internet một cách nhanh chóng, tiện lợi vàđược bảo vệ an toàn Có thể khái quát về quy trình thanh toán qua cổng thanhtoán với 06 bước, cụ thể như sau: (i) Người mua hàng đặt lệnh mua hàng tạiwebsite của người bán; (ii) Hệ thống của bên bán chuyển thông tin tài khoản củangười mua tới cổng thanh toán Cổng thanh toán tiếp nhận thông tin về yêu cầuthanh toán; (iii) Cổng thanh toán định dạng các thông tin chi tiết của giao dịch
và gửi yêu cầu thanh toán tới các bên liên quan (có thể gửi trực tiếp đến ngânhàng của người mua hoặc thông qua tổ chức trung gian bù trừ điện tử, chuyểnmạch tài chính để gửi thông tin đến ngân hàng của người mua); (iv) Phần xácnhận thông tin từ phía ngân hàng của người mua (chấp thuận hoặc từ chối); (v)Cổng thanh toán truyền tin nhắn xác nhận của ngân hàng đến hệ thống củangười bán; (vi) Trường hợp chấp thuận, ngân hàng người mua hạch toán trừ tiềntrên tài khoản của người mua và chuyển tiền tới ngân hàng của người bán (trựctiếp hoặc thông qua tổ chức trung gian bù trừ điện tử)
- Dịch vụ Ví điện tử là dịch vụ cung cấp cho khách hàng một tài khoản
điện tử định danh do các tổ chức cung ứng dịch vụ TGTT lập trên vật mang tin(như chíp điện tử, sim điện thoại di động, máy tính…), cho phép lưu giữ một giátrị tiền tệ được đảm bảo bằng giá trị tiền gửi tương đương với số tiền đượcchuyển từ tài khoản thanh toán của khách hàng tại ngân hàng vào tài khoản đảmbảo thanh toán (TKĐBTT) của tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử theo tỷ lệ1:1
Theo các quy định quản lý của pháp luật hiện hành, tổ chức cung ứng dịch
vụ Ví điện tử hiện nay không được: phép (i) P phát hành hơn một01 (một) Víđiện tử cho mộtmột tài khoản thanh toán của khách hàng tại một ngân hàng; (ii)cũng như Ccấp tín dụng cho khách hàng sử dụng Ví điện tử, trả lãi trên số dư Víđiện tử hoặc bất kỳ hành động nào có thể làm tăng giá trị tiền tệ trên Ví điện tử
Tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử phải có công cụ để NHNN kiểm tra, giám
Trang 10sát theo thời gian thực tổng số tiền của khách hàng trên các Ví điện tử và tổng sốtiền trên tài khoản đảm bảo thanh toánTKĐBTT của tổ chức cung ứng dịch vụ
Ví điện tử tại các ngân hàng Việc nạp tiền vào Ví điện tử, rút tiền ra khỏi Víđiện tử của khách hàng phải thực hiện thông qua tài khoản thanh toán của kháchhàng tại ngân hàng Hiện nay, khách hàng sở hữu Ví điện tử có thể sử dụng Víđiện tử vào các chức năng bao gồm: (i) Nạp tiền vào Ví điện tử từ tài khoảnthanh toán của khách hàng tại ngân hàng; (ii) Rút tiền từ Ví điện tử về tài khoảnthanh toán của khách hàng tại ngân hàng; (iii) Chuyển tiền giữa các Ví điện tửtrong cùng hệ thống của 01 tổ chức TGTT; (iv) Sử dụng Ví điện tử để thanh toáncho các hàng hóa, dịch vụ hợp pháp
Về tình hình hoạt động cung ứng dịch vụ Ví điện tử
- Ngoài dịch vụ Ví điện tử là khá phổ biến nêu trên, đối với loại hình dịch
vụ hỗ trợ dịch vụ thanh toán còn bao gồm 02 dịch vụ nữa là dịch vụ hỗ trợ thu
hộ, chi hộ và dịch vụ hỗ trợ chuyển tiền điện tử Trong đó:
+ Đối với dịch vụ hỗ trợ thu hộ, chi hộ, tổ chức TGTT sẽ làm nhiệm vụ
hỗ trợ các ngân hàng thực hiện dịch vụ thu hộ, chi hộ cho khách hàng có tàikhoản thanh toán, thẻ ngân hàng tại ngân hàng thông qua việc nhận, xử lý, gửithông điệp dữ liệu điện tử và tính toán kết quả thu hộ, chi hộ; hủy việc thu hộ,chi hộ để quyết toán cho các bên có liên quan Quy trình giao dịch qua dịch vụ
hỗ trợ thu hộ, chi hộ có thể khái quát hóa qua 6 bước như sau:(i) Khách hàngvào website của ĐVCNTT chọn mua hàng hóa dịch vụ và chọn thanh toán quacổng thanh toán điện tử của TCTGTT có hợp tác, nhập thông tin thanh toán; (ii)ĐVCNTT gửi thông tin dữ liệu thanh toán sang TCTGTT; (iii) TCTGTT gửithông tin dữ liệu thanh toán sang ngân hàng; (iv) Ngân hàng xác thực thông tin
và số dư thẻ, tài khoản của khách hàng (có thể kèm theo yếu tố xác thực khácnhư OTP, token, ); sau khi xác thực thành công, ngân hàng thực hiện trừ tiềntrên tài khoản thanh toán của khách hàng (ghi Nợ tài khoản thanh toán củakhách hàng), ghi Có tài khoản đảm bảo thanh toán (TKĐBTT) của TCTGTT với
số tiền tương ứng; đồng thời, gửi kết quả sang TCTGTT; (v) TCTGTT gửi kếtquả thanh toán cho ĐVCNTT; (vi) ĐVCNTT xác nhận và giao hàng cho kháchhàng
+ Đối với dịch vụ hỗ trợ chuyển tiền điện tử, tổ chức TGTT sẽ hỗ trợ
việc tiếp nhận, truyền dẫn và xử lý dữ liệu trong các giao dịch chuyển tiền điện
tử của ngân hàng hoặc được ngân hàng ủy thác Thông qua các mô hình này sẽgiúp ngân hàng cung cấp dịch vụ tới người dân một cách thuận tiện hơn, tiết
kiệm thời gian cho các bên liên quan (người bán, người mua) Về quy trình giao dịch qua dịch vụ hỗ trợ chuyển tiền điện tử, có thể khái quát qua 04 bước:
Trang 11(i) Khách hàng vào website/ứng dụng của TCTGTT đăng nhập và chọn tínhnăng hỗ trợ chuyển tiền điện tử, nhập thông tin yêu cầu hỗ trợ chuyển tiền (sốtiền, số tài khoản/số thẻ người thụ hưởng, nội dung chuyển tiền, mật khẩu) Cácthông tin được mã hóa và chuyển cho TCTGTT; (ii) TCTGTT xử lý thông tin vàchuyển thông tin yêu cầu chuyển tiền cho ngân hàng (số tiền, số tài khoản/số thẻngười thụ hưởng, nội dung chuyển tiền); (iii) Ngân hàng tiếp nhận, kiểm trathông tin và số dư thẻ, tài khoản của khách hàng và chuyển yêu cầu khách hàngxác thực giao dịch bằng OTP, token ; sau khi xác thực thành công (thông quaTCTGTT), ngân hàng thực hiện hạch toán ghi Nợ tài khoản thanh toán củakhách hàng chuyển tiền, ghi Có tài khoản thanh toán của khách hàng thụthưởng; đồng thời, gửi thông báo sang TCTGTT; (iv) TCTGTT gửi thông báogiao dịch thành công cho khách hàng.
Trên thế giới hiện nay, không có quy định định nghĩa dịch vụ TGTT nhưViệt nam Theo định nghĩa của BIS (2014) trong báo cáo nghiên cứu “Tổ chứckhông phải là ngân hàng trong thanh toán bán lẻ” thì NPIs thực hiện cung ứngdịch thanh toán bán lẻ làm ngành, nghề kinh doanh chính và không liên quanđến hoạt động nhận tiền gửi và cho vay Ví điện tử tại Việt Nam về bản chấttương tự như hình thức phương tiện thanh toán trả trước - tiền điện tử (e-money)đang được quy định trên thế giới Theo quy định pháp luật hiện hành tại ViệtNam, đối tượng cung ứng dịch vụ TGTT có thể là ngân hàng thương mại(NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoặc NPIs được NHNN cấp Giấyphép hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT Tuy nhiên, tại một số quốc gia hiệnnay, các tổ chức cung ứng dịch vụ TGTT chỉ là các NPI mà không bao gồm các
tổ chức là ngân hàng
1.1.2 Sự cần thiết của dịch vụ TGTT đối với sự phát triển TTKDTM tại Việt Nam
Hơn 10 năm trước, dịch vụ Ví điện tử TGTT đã được NHNN bắt đầu cho
phép triển khai thí điểmthử nghiệm Ở thời điểm đó, chỉ một số đơn vị như NgânLượng (tiền thân là Công ty PeaceSoft), VTC Pay,… tham gia và phần lớn cũngchỉ dừng ở hai mảng hoạt động chính gồm cổng thanh toán và Ví điện tử Kể từkhi Thông tư số 39/2014/TT-NHNN có hiệu lực (ngày 01/3/2015) đến30/6/2019, NHNN đã tiếp nhận Hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép hoạt động cungứng dịch vụ TGTT của 82 tổ chức và đã thực hiện cấp Giấy phép cho 31 tổchức, trong đó có 27 tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử Đến cuối Quý I/2019,
có 25/27 tổ chức được cấp giấy phép đã triển khai cung ứng 10,5 triệu Ví điện tử
ra thị trường với tổng số dư khoảng 1.258,17 tỷ đồng Trong Quý I/2019, tổng
số lượng giao dịch bằng Ví điện tử đạt gần 77.454 nghìn giao dịch với tổng giá
Trang 12trị giao dịch đạt gần 29,5 nghìn tỷ đồng (tăng 55,5% về số lượng và tăng 77,7%
về giá trị so với cùng kỳ năm 2018), bình quân khoảng 380.864 đồng/giao dịch;
số lượng giao dịch bình quân của 01 Ví điện tử là khoảng 2,54 giao dịch/tháng,giá trị giao dịch bình quân của 01 Ví điện tử là khoảng hơn 966.000 đồng/tháng
Trong thời gian qua, dịch vụ Ví điện tử đã đạt được những kết quả nhấtđịnh, khẳng định được những ưu điểm về tính năng, sự tiện lợi, an toàn, nhanhchóng với chi phí hợp lý Nhìn chung, dịch vụ Ví điện tử được khách hàng đánhgiá cao, bước đầu khẳng định được lòng tin đối với khách hàng và ngày càngnhận được sự quan tâm từ các ngân hàng và đơn vị cung ứng dịch vụ, hàng hóa
Tuy nhiên, đến nay, đã có 31 tổ chức không phải là ngân hàng đượcNHNN cấp giấy phép hoạt động chính thức và các mảng dịch vụ được triển khaicũng đa dạng hơn (01 tổ chức đã bị thu hồi Giấy phép) Trong thời gian qua, sựphát triển của hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT tại Việt Nam đã và đang gópphần hỗ trợ các NHTM đa dạng hóa và gia tăng tiện ích, tiện lợi trong cung ứngcác dịch vụ thanh toán đến khách hàng, đáp ứng nhu cầu thực tế của thị trường;giúp NHTM mở rộng phạm vi phục vụ khách hàng, góp phần tích cực trong việcphát triển TTKDTM tại Việt Nam theo định hướng của Chính phủ và NHNN.Các tổ chức TGTT đã chủ động phối hợp với các NHTM để triển khai dịch vụ;đồng thời, cũng tích cực tìm kiếm đối tác, mở rộng phạm vi chấp nhận cácphương thức TTKDTM Dịch vụ TGTT thời gian qua đã và đang đóng vai trò là
“cánh tay nối dài”, hỗ trợ các ngân hàng trong việc cung ứng các dịch vụ thanhtoán đến với khách hàng và là đối tác đem khách hàng về cho ngân hàng
Theo thông tin từ Bộ Công Thương, số lượng người tham gia thị trườngthương mại điện tử Việt Nam đang đứng thứ hai trong khu vực Đông Nam Á sauIndonesia với khoảng 40 triệu người mua sắm trực tuyến Trung bình, người tiêudùng Việt Nam chi 210 USD/năm cho hoạt động mua sắm trực tuyến Nhu cầuthanh toán của người sử dụng ngày càng gia tăng cùng với xu hướng TTKDTM
đã tạo tiền đề để phát triển và đa dạng hóa các phương thức thanhh toán điện tửhiện đại, đáp ứng nhu cầu của người sử dụng Dịch vụ TGTT giúp thiết lậpmạng lưới thanh toán điện tử rộng khắp và đồng bộ hơn Mỗi giao dịch thanhtoán điện tử yêu cầu tối thiểu các bên tham gia là người mua, người bán, ngânhàng phục vụ người mua và người bán Khi đó, tổng hợp các giao dịch thanhtoán điện tử riêng lẻ tạo nên môi trường thanh toán điện tử cồng kềnh, phức tạp.Dịch vụ TGTT giúp kết nối các chủ thể sử dụng thanh toán điện tử Khi tham giavào mạng lưới thanh toán điện tử được tổ chức bởi các TGTT, chủ thể sử dụngdịch vụ sẽ kết nối với nhiều hơn một đối tác, theo đó phạm vi giao dịch được mởrộng Chức năng thanh toán bù trừ điện tử được phát triển, giúp các giao dịch
Trang 13thanh toán được xử lý một cách đồng bộ, chính xác và đơn giản hóa quy trìnhnghiệp vụ
Ngoài ra, dịch vụ TGTT giúp tiết kiệm thời gian, chi phí thực hiện giaodịch thanh toán Nhờ có sự chuyên sâu về chuyên môn và đầu tư về cơ sở vậtchất, kỹ thuật, các giao dịch thanh toán điện tử thông qua TGTT tiết kiệm đượcnhiều chi phí so với việc xử lý từng giao dịch riêng lẻ Điều này làm gia tăng sựthuận thiện trong thanh toán điện tử, góp phần giảm thiểu rủi ro từ phía đối tác.Theo Hiệp hội thương mại điện tử Việt Nam, hình thức thanh toán an toàn nhấtcho cả người mua và người bán khi tham gia giao dịch trên mạng Internet làgiao dịch qua các đơn vị TGTT đã được NHNN cấp phép hoạt động Người muakhi giao dịch thanh toán qua các ví điện tử sẽ được các đơn vị quản lý ví điện tửhoặc cổng thanh toán điện tử bảo vệ quyền lợi trong trường hợp không nhậnđược hàng hóa hoặc nhận được hàng không đúng như mô tả Hơn nữa, các tổchức TGTT thường xây dựng hệ thống cho phép người dùng tra cứu lại các giaodịch đã thực hiện và có lưu lại lịch sử giao dịch theo ngày, tháng…Do đó, cảngười mua và người bán khi cần thiết đều có thể theo dõi tiến trình của giao dịchhoặc tìm lại những giao dịch đã từng thực hiện
Dịch vụ TGTT giúp đảm bảo an toàn chi trả và bảo mật thông tin kháchhàng trong thanh toán điện tử Cùng với sự phát triển của loại hình giao dịchthương mại điện tử, các hành vi gian lận trong lĩnh vực thương mại điện tử , hiệntượng ăn cắp thông tin, gian lận tài chính, niêm yết sai giá, sai chất lượng có xuhướng ngày một gia tăng … Dịch vụ TGTT với việc đảm bảo các điều kiện kỹthuật và tuân thủ các quy định về đảm bảo an toàn, giữ bí mật thông tin giaodịch, tài khoản của khách hàng và chịu trách nhiệm pháp lý cho việc thanh toánđiện tử, thông tin của khách hàng được đảm bảo an toàn và bảo mật trong khithực hiện các giao dịch thương mại điện tử Theo đó, việc mua bán hàng hóa quamạng sẽ trở nên dễ dàng và an toàn hơn cho cả hai phía
Mặt khác, dịch vụ TGTT cũng góp phần ngăn chặn các giao dịch với mụcđích rửa tiền, tài trợ khủng bố và giao dịch bất hợp pháp theo quy định pháp lýhiện hành Nhờ chức năng lưu trữ thông tin, làm đầu mối cho mọi giao dịch điện
tử nên các tổ chức TGTT có khả năng kiểm soát và phát hiện các giao dịch bấtthường từ một cá nhân (tổ chức) đến nhiều đơn vị thanh toán khác nhau Sự hợptác giữa ngân hàng và các TGTT/công ty Fintech còn giúp hai bên tận dụngđược thế mạnh của nhau để cung ứng các dịch vụ, giải pháp tài chính ngân hàngtốt hơn, an toàn và thuận tiện cho người sử dụng Có thể thấy, thế mạnh củangân hàng là tuân thủ các quy định của pháp luật Bên cạnh đó, các ngân hàng
có danh tiếng, uy tín đối với khách hàng và cộng đồng, kinh nghiệm quản trị rủi
Trang 14ro, sự hiểu biết về dịch vụ ngân hàng tốt Tuy nhiên, điểm yếu của các ngânhàng là thường đi chậm hơn so với các TGTT/công ty Fintech trong việc sángtạo, cải tiến trong công nghệ Trong khi đó, các công ty TGTT/công ty Fintechthường rất sáng tạo và năng động; đánh giá dịch vụ ngân hàng dưới góc độ củakhách hàng là trung tâm và sẵn sàng cung cấp các dịch vụ mang lại trải nghiệmtốt hơn cho người sử dụng dịch vụ, do đócác TGTT/công ty Fintech phát triểnvới quy trình linh hoạt, gọn nhẹ hơn Tuy vậy, điểm yếu của các TGTT/Công tyFintech là không có được sự hỗ trợ về tính tuân thủ pháp lý, các quy định về antoàn tài chính - tiền tệ, … nên khó tạo được sự tin tưởng, thương hiệu cho cáchoạt động tài chính Trong khi đó, ngân hàng có một lượng khách hàng truyềnthống, có thương hiệu, có uy tín và mạng lưới Niềm tin của khách hàng vàongân hàng được xây dựng qua hàng thập kỷ về trách nhiệm quản trị rủi ro vàkinh nghiệm pháp lý Vì vậy các ngân hàng cũng nên lưu ý để lựa chọn hợp tácvới đơn vị TGTT phù hợp.
Như vậy, có thể thấy, trong thời gian qua, các dịch vụ TGTT đã đạt đượcnhững kết quả nhất định, khẳng định được những ưu điểm về tính năng, sự tiệnlợi, an toàn, nhanh chóng với chi phí hợp lý, ngày càng nhận được sự quan tâm
từ các NHTM, đơn vị cung ứng hàng hóa, dịch vụ và người sử dụng; dịch vụTGTT đã tạo thêm các kênh thanh toán mới, tiện ích, tiện lợi Dịch vụ TGTTgiúp giảm chi phí thanh toán trong nền kinh tế, tăng tính an toàn, bảo mật trongcác giao dịch và bảo vệ người tiêu dùng khi thanh toán qua mạng Từ đó thu hútkhách hàng tham gia thanh toán điện tử nhiều hơn, hạn chế thanh toán tiền mặttrong nền kinh tế, góp phần giảm tải thất thoát và các rủi ro không mong muốncho người sử dụng, đặc biệt đối với các sản phẩm, dịch vụ có giá trị lớn
1.1.3 Các động lực thúc đẩy thị trường hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT
Thị trường TGTT tại Việt Nam đi sau về quy mô và số lượng so với cácthị trường lớn trong khu vực cũng như trên thế giới Tuy nhiên, Việt Nam hội tụ
đủ các yếu tố giúp thị trường tăng trưởng trong vòng 05 năm trở lại đây và trongcác năm tiếp theo
Quyết định 2545/QĐ-TTg ngày 30/12/2016 của Chính phủ phê duyệt Đề
án phát triển TTKDTM tại Việt Nam giai đoạn 2016-2020 được coi là dấu mốcquan trọng thể hiện nhận thức đúng đắn của Chính phủ về vai trò và tầm quantrọng của hoạt động TTKDTM, đặc biệt là thanh toán điện tử Cùng với đó, sự rađời của Nghị định 101/2012/NĐ-CP, Nghị định 80/2016/NĐ-CP và các văn bảnhướng dẫn của NHNN về dịch vụ TGTT đã tạo lập hành lang pháp lý quan trọng
để quản lý, cấp phép, giám sát hoạt động TGTT; các tổ chức cung ứng dịch vụ
Trang 15TGTT ban hành các quy định, quy trình, hướng dẫn nghiệp vụ tại đơn vị, hỗ trợhoạt động kinh doanh của các tổ chức cung ứng dịch vụ, thúc đẩy sự phát triểncủa thị trường và mang lại những tiện ích phục vụ cho người dân và xã hội Trên
cơ sở hành lang pháp lý được ban hành, các tổ chức cung ứng dịch vụ TGTT đãchú trọng đến việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, công nghệ, các giải pháp bảomật, phần mềm phục vụ cho việc cung ứng các dịch vụ TGTT an toàn, hiệu quả,hướng tới cung cấp cho khách hàng các dịch vụ tiện ích, an toàn; tạo điều kiện
để kết nối với các đối tác, khách hàng, đơn vị cung cấp hàng hóa, dịch vụ để mởrộng dịch vụ, mở rộng khách hàng
Bên cạnh yếu tố thuận lợi về hành lang pháp lý, định hướng và hành độngquyết liệt của cơ quan quản lý nhà nước trong hoạt động TTKDTM, Việt Namcòn có những lợi thế so sánh khác cho sự phát triển của dịch vụ TGTT Cụ thể:
Thứ nhất, tỷ lệ người dùng tiếp cận Internet và sử dụng điện thoại di động
tăng trưởng ấn tượng: Với dân số 76 triệu người, số lượng người sử dụngInternet ở Việt Nam trong năm 2018 đạt 64 triệu, chiếm 67% tổng dân số Thịtrường Internet ghi nhận mức tăng trưởng mạnh 26% về cả số lượng người dùng
và tỷ lệ thâm nhập trên tổng dân số trong năm 2018 so với 2017 Trong năm
2018, tỷ lệ người dùng sử dụng di động chiếm 52% trên tổng dân số, tương ứngvới 50 triệu người sử dụng, tăng 22% so với năm 2017 Với 62,4 triệu người sửdụng Internet trên thiết bị di động, tỷ lệ người dùng tiếp cận Internet thông quathiết bị di động cá nhân đạt 97,5% tổng số người dùng truy cập Internet
Thứ hai, sự tăng trưởng mạnh mẽ của các ngành kinh doanh trên nền tảng
công nghệ: Số lượng người truy cập Internet và sử dụng thiết bị di động đã tạo
cơ hội mạnh mẽ cho sự phát triển của các ngành kinh doanh trên nền tảng côngnghệ Theo báo cáo của Công ty kiểm toán quốc tế PwC, mô hình kinh tế chia sẻtrên nền tảng công nghệ sẽ sớm đạt tỷ lệ ngang bằng 50% so với nền kinh tếtruyền thống vào năm 2025 Các ngành dịch vụ kinh doanh trên nền tảng côngnghệ phát triển đồng nghĩa với việc gia tăng nhu cầu thanh toán điện tử bên cạnhcác phương thức thanh toán truyền thống nhiều hạn chế là tiền mặt Tại ViệtNam, nền tảng giao dịch được biết đến với các đại diện thương mại điện tử làSendo, Tiki, Lazada và các đại diện ngành vận tải công nghệ (e-logistics) nhưGrab, Go-Viet, Với mức tăng trưởng 30% của năm 2018 đã đưa quy môdoanh thu ngành thương mại điện tử Việt Nam lên 8 tỷ USD, gấp gần hai lần sovới doanh thu của năm 2015 Dự báo quy mô thương mại điện tử vào năm 2020
sẽ đạt trên 10 tỷ USD Thị trường e-logistics cũng được kỳ vọng sẽ đạt 200 triệuUSD vào năm 2020, đóng góp tích cực vào tăng trưởng chung của nền kinh tếViệt Nam
Trang 16Thứ ba, nhu cầu lớn từ thị trường kinh tế nền tảng với tốc độ tăng trưởng
nhanh về doanh số giao dịch Chỉ tính riêng thị trường thương mại điện tử vớiquy mô giao dịch dự kiến đạt 10 tỷ USD vào năm 2020 đã cho thấy nhu cầu và
cơ hội rất lớn về giao dịch thanh toán điện tử Theo báo cáo về thị trường thươngmại điện tử 2018 của Asia Plus – đơn vị nghiên cứu thị trường, thanh toán tiềnmặt hiện vẫn chiếm tới 80% tổng giá trị giao dịch thương mại điện tử, điều nàymang lại cơ hội rất lơn cho những tổ chức cung ứng dịch vụ TGTT Việt Namvới 35% dân số đang ở độ tuổi 18 đến dưới 40 tuổi (thế hệ Y hay còn gọi làMillennials) cao hơn đáng kể so với mức trung bình 32% của thế giới hứa hẹnmột thị trường tiềm năng cho hoạt động TGTT Đây chính là nhóm khách hàngmục tiêu của các sản phẩm dịch vụ nội dung số và cũng là nhóm khách hàngchính sử dụng hệ sinh thái dịch vụ công nghệ, trong đó có thanh toán điện tử
1.2 Thực trạng quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT tại Việt Nam
1.2.1 Thực trạng hoạt động của các tổ chức cung ứng dịch vụ TGTT 1.2.1.1 Hành lang pháp lý cho hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT
Hành lang pháp lý cho hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT đã từng bướcđược nghiên cứu và dần hoàn thiện, có thể chia thành 03 giai đoạn như sau:
Thứ nhất, trong giai đoạn trước năm 2010, các khái niệm, quy định liên
quan đến dịch vụ TGTT chưa được đề cập trong bất kỳ văn bản quy phạm phápluật nào, chỉ có duy nhất định nghĩa và một số khái niệm về dịch vụ chuyểnmạch thẻ được quy định tại Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/5/2007ban hành Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợhoạt động thẻ ngân hàng
Trong giai đoạn này, việc xem xét, cho phép các tổ chức không phải làTCTD được triển khai cung ứng một số dịch vụ thanh toán được NHNN thựchiện căn cứ quy định tại Luật Các TCTD năm 1997, Nghị định số 64/2001/NĐ-
CP ngày 20/9/2001 của Chính phủ về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cungứng dịch vụ thanh toán, Quyết định số 226/2002/QĐ-NHNN ngày 26/3/2002 vềquy chế hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.Theo đó, từ năm 2008, trên cơ sở nhu cầu thực tế của thị trường, NHNN đã bắtđầu nghiên cứu, cho phép một số tổ chức không phải là ngân hàng được triểnkhai thí điểm việc cung ứng dịch vụ Ví điện tử, để có đủ cơ sở thực tiễn nghiêncứu, là tiền đề cho việc hoàn thiện hành lang pháp lý cho dịch vụ Ví điện tử nóiriêng và các dịch vụ TGTT nói chung (đơn vị đầu tiên được NHNN cho phép thí
Trang 17điểm dịch vụ Ví điện tử là Công ty Cổ phần Hỗ trợ dịch vụ Thanh toán Việt Phútheo Quyết định số 1789/QĐ-NHNN ngày 12/8/2008)
Thứ hai, trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2014, định nghĩa và một số
quy định liên quan đến dịch vụ TGTT đã được đưa ra tại Luật NHNN năm 2010,Luật các TCTD năm 2010, Nghị định số 101/2012/NĐ-CP, cụ thể: Luật NHNNnăm 2010 quy định dịch vụ TGTT là hoạt động làm trung gian kết nối, truyềndẫn và xử lý dữ liệu điện tử các giao dịch thanh toán giữa tổ chức cung ứng dịch
vụ thanh toán và người sử dụng dịch vụ thanh toán (khoản 10 Điều 6); NHNN
thực hiện việc cấp, thu hồi giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT cho các
tthu hồi giấy phép hoạt động cu (khoản 9 Điều 4); bên cạnh đó, Luật NHNN
năm 2010 cũng quy định NHNN tổ chức, quản lý, vận hành, giám sát hệ thống
thanh toán quôc gia (Điều 28) và NHNN thanh tra các đối tượng là tổ chức cung ứng dịch vụ TGTT không phải là ngân hàng (khoản 2 Điều 52)
Luật các TCTD năm 2010 quy định nghiêm cấm cá nhân, tổ chức khôngphải là TCTD thực hiện hoạt động ngân hàng, trong đó có hoạt động cung ứng
dịch vụ thanh toán qua tài khoản (khoản 2 Điều 8); đồng thời quy định cho phép
NHTM được thành lập, mua lại công ty con, công ty liên kết hoạt động tronglĩnh vực dịch vụ TGTT; NHTM được góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp
hoạt động trong các lĩnh vực TGTT; NHTGTT (khoản 3, điểm a khoản 4 Điều 103)
Ngày 22/11/2012, Chính phủ ban hành Nghị định số 101/2012/NĐ-CP;trong đó Điều 15, Điều 16 quy định về dịch vụ TGTT bao gồm dịch vụ cung ứng
hạ tầng thanh toán điện tử, dịch vụ hỗ trợ dịch vụ thanh toán, các dịch vụ TGTTkhác theo quy định của NHNN, các điều kiện mà tổ chức không phải là ngânhàng phải đáp ứng khi cung ứng dịch vụ TGTT (các điều kiện về có giấy phépthành lập hoặc đăng ký kinh doanh, phương án kinh doanh dịch vụ TGTT, vốnđiều lệ tối thiểu là 50 tỷ đồng, điều kiện về nhân sự, điều kiện kỹ thuật, nghiệpvụ); Nghị định số 101/2012/NĐ-CP cũng quy định tổ chức cung ứng dịch vụTGTT có nghĩa vụ báo cáo và cung cấp thông tin cho các cơ quan nhà nước cóthẩm quyền theo quy định của pháp luật; tổ chức cung ứnTGTT có trách nhiứngdịch vụ TGTT có nghĩa vụ báo cáo và cung cấp thông tin cho các cơ quan nhànước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; cho khách hàng thông qua tài
khoản của khách hàng (khoản 1 Điều 22, khoản 2 Điều 23) Các quy định tại
Nghị định số 101/2012/NĐ-CP đóng vai trò quan trọng trong quá trình hìnhthành, phát triển các dịch vụ TGTT
Trong giai đoạn này, để tiếp tục có cơ sơ nghiên cứu, xây dựng và hoànthiện Thông tư của NHNN hướng dẫn về dịch vụ TGTT, NHNN tiếp tục cho
Trang 18phép một số tổ chức không phải là ngân hàng triển khai thí điểm cung ứng dịch
vụ Ví điện tử
Thứ ba, giai đoạn từ cuối năm 2014 đến nay, hành lang pháp lý liên quan
đến hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT về cơ bản đã được nghiên cứu, hoànthiện Ngày 11/12/2014, NHNN ban hành Thông tư số 39/2014/TT-NHNNhướng dẫn về dịch vụ TGTT, trong đó quy định cụ thể về việc có 06 dịch vụTGTT, định nghĩa từng dịch vụ TGTT, mẫu Đơn đề nghị cấp Giấy phép, mẫuGiấy phép, việc sử dụng Giấy phép và các nội dung khác liên quan đến việccung ứng dịch vụ TGTT trên thị trường Sau khi Thông tư số 39/2014/TT-NHNN có hiệu lực thi hành (ngày 01/3/2015), cùng với các quy định về điềukiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp Giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ TGTTtại Nghị định số 101/2012/NĐ-CP, NHNN đã cơ bản hoàn thiện hành lang pháp
lý về việc cấp phép, đặt dốc mốc triển khai chính thức dịch vụ TGTT trên thịtrường
Trong giai đoạn này, nhiều văn bản pháp lý liên quan đến hoạt động cungứng dịch vụ TGTT được sửa đổi, bổ sung và ban hành mới như: Chính phủ đãban hành các Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 101/2012/NĐ-CP; cácThông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư số 39/2014/TT-NHNN, Thông tư quy định
về việc quản lý, vận hành và sử dụng Hệ thống Thanh toán điện tử liên ngânhàng Quốc gia, Thông tư quy định về hoạt động thẻ ngân hàng và các Thông tưliên quan đến việc thực hiện các yêu cầu đảm bảo an toàn, bảo mật hệ thốngCNTT trong hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT Cụ thể, có thể hệ thống một sốvăn bản pháp luật liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT như sau:
Bảng 1.1: Hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động cung ứng
dịch vụ TGTT STT Tên văn bản
Trang 19và Nghị định số 16/2019/NĐ-CP ngày 01/02/2019)
Trang 20số 24/2018/TT-NHNN ngày 28/9/2018, Thông tư số 35/2018/TT-NHNN ngày 24/12/ 2018).
Nguồn: Nhóm nghiên cứu tổng hợp
1.2.1.2 Thực trạng hoạt động của các tổ chức cung ứng dịch vụ TGTT
a) Giai đoạn trước năm 2014
Trong giai đoạn này, hành lang pháp lý cho hoạt động cung ứng dịch vụTGTT đang được nghiên cứu, xây dựng và chưa hoàn thiện Trước sự phát triểncủa công nghệ thông tin và nhu cầu thực tiễn của thị trường, các tổ chức khôngphải là ngân hàng cũng đã tích cực phối hợp với các ngân hàng triển khai cungứng một số dịch vụ TGTT, tiêu biểu trong giai đoạn từ tháng 8/20108 đến tháng8/2011, NHNN đã cho phép 09 tổ chức không phải là ngân hàng triển khai thíđiểm cung ứng dịch vụ Ví điện tử (là dịch vụ thanh toán mới, hiện đại đã đượcứng dụng và phát triển tại một số quốc gia trên thế giới), cụ thể:
Bảng 1.2: Danh sách các tổ chức không phải là ngân hàng được phép thí điểm dịch vụ Ví điện tử
STT Tên tổ chức Tên Ví điện tử Quyết định/ Công văn của NHNN
1 Công ty Cổ phần Hỗ trợ
dịch vụ Thanh toán Việt
Phú (MobiVí)
Ví điện tử MobiVí
Quyết định số 1789/QĐ-NHNN ngày 12/8/2008; Công văn số 8117/NHNN-TT ngày 15/10/2009
2 Công ty Cổ phần Dịch
vụ Trực tuyến Cộng
đồng Việt (VietUnion)
Ví điện tử Payoo Quyết định số 288/QĐ-NHNN ngày18/2/2009
3 Công ty Cổ phần Giải
pháp thanh toán Việt
Nam (VNPay)
Ví điện tử VnMart
Quyết định số 675/QĐ-NHNN ngày 30/3/2009
4 Công ty Cổ phần Dịch
vụ thẻ Smartlink
(Smartlink)
Ví điện tử Smartlink Ewallet
Quyết định số 1432/QĐ-NHNN ngày 15/6/2009
5 Công ty Cổ phần Công
nghệ thanh toán Việt
Nam (VinaPay)
Ví điện tử VCash
Quyết định số 2176/QĐ-NHNN ngày 15/9/2009
6 Công ty Cổ phần Dịch
vụ Di động trực tuyến
(M_Service)
Ví điện tử M_Money Quyết định số 2752/QĐ-NHNNngày 27/11/2009
7 Công ty Cổ phần Thanh Ví điện tử Quyết định số 1929/QĐ-NHNN
Trang 21toán điện tử VNPT
(VNPT EPAY)
MegaPaymen t
Quyết định số 2608/QĐ-NHNN ngày 02/11/2010
Nguồn: Nhóm nghiên cứu tổng hợp
Kể từ sau tháng 8/2011, NHNN đã dừng việc cấp phép thí điểm cho các tổchức không phải là TCTD cung ứng dịch vụ Ví điện tử để tập trung vào việcnghiên cứu, hoàn thiện hành lang pháp lý hướng dẫn Luật NHNN năm 2010 làm
cơ sở cho việc cấp Giấy phép chính thức đối với các dịch vụ này
Về kết quả triển khai thí điểm, tính đến hết Quý IV/2015, tổng số Ví điện
tử do 08 tổ chức thí điểm phát hành đạt hơn 4,02 triệu Ví (từ ngày 01/1/2013,
Công ty Smartlink đã ngừng thử nghiệm nội bộ dịch vụ Ví điện tử, đã đóng cáctài khoản Ví và hoàn trả hết số tiền còn dư trong các Ví) Trong Quý IV/2015, số
lượng giao dịch qua Ví điện tử đạt hơn 21,72 triệu giao dịch với giá trị hơn 9.847 tỷ đồng; bình quân một giao dịch qua Ví điện tử đạt khoảng 453 nghìn
đồng/1 giao dịch Trong giai đoạn triển khai thí điểm cũng đã ghi nhận một tỷ lệnhỏ các giao dịch không thành công, cụ thể: Trong Quý IV/2015 ghi nhận hơn
76 nghìn giao dịch không thành công với giá trị khoảng gần 123 tỷ đồng.
Nguyên nhân chủ yếu các giao dịch không thành công là do người bán khôngcòn hàng để cung cấp cho người mua, khách hàng tự hủy giao dịch, hoặc thaotác sai, thực hiện giao dịch khi chưa đăng ký kích hoạt dịch vụ hoặc không còntiền trong tài khoản, thực hiện giao dịch không đúng hạn mức về giá trị hoặcvượt quá thời gian quy định, lỗi kỹ thuật đứt đường truyền hay quá tải,… Các tổchức cung ứng dịch vụ đã kịp thời xử lý các giao dịch không thành công, không
để ảnh hưởng gây mất tiền của khách hàng
Ngoài ra, trong giai đoạn này, trên thị trường cũng đang tồn tại một sốdịch vụ TGTT khác như: (i) Dịch vụ chuyển mạch tài chính, cụ thể trên thịtrường tồn tại 03 tổ chức lớn tham gia vào lĩnh vực chuyển mạch tài chínhATM/POS là Công ty Cổ phần chuyển mạch tài chính Quốc gia Việt Nam(Banknetvn), Công ty Cổ phần dịch vụ thẻ (Smartlink), Công ty Cổ phần thẻthông minh (VNBC) Triển khai Đề án thành lập xây dựng trung tâm chuyểnmạch thẻ thống nhất đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đến nay, các tổchức này đã được sát nhập, hợp nhất thành Công ty Cổ phần Thanh toán Quốc
Trang 22Gia Việt Nam (NAPAS); (ii) Các dịch vụ TGTT khác (như cổng thanh toán điện
tử, hỗ trợ thu hộ, chi hộ, hỗ trợ chuyển tiền điện tử) chưa được phát triển nhiềutrong giai đoạn này
Một số thuận lợi, khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thí điểm:
Về thuận lợi: Sau một thời gian thực hiện thí điểm, các dịch vụ do các tổ
chức không phải là TCTD cung cấp (đặc biệt là dịch vụ Ví điện tử) đã khẳngđịnh được những ưu điểm về tính năng, sự tiện lợi, an toàn, nhanh chóng với chiphí hợp lý Nhìn chung các dịch vụ này được khách hàng đánh giá cao, bước đầukhẳng định được lòng tin đối với khách hàng và ngày càng nhận được nhiều sựquan tâm từ phía các ngân hàng và đơn vị cung ứng dịch vụ, hàng hóa Do vậy,trong thời gian thí điểm, việc hợp tác triển khai dịch vụ Ví điện tử giữa các tổchức này với một số ngân hàng tương đối thuận tiện và nhanh chóng, một sốdoanh nghiệp cung ứng dịch vụ, hàng hóa cũng bắt đầu chủ động đề xuất hợptác với các tổ chức này Đây là những tín hiệu tích cực từ phía khách hàng, đốitác, tạo cơ hội để các tổ chức có cơ hội tiếp tục mở rộng triển khai dịch vụ Víđiện tử, cũng như các dịch vụ TGTT khác thời gian tới
Về Khó khăn, vướng mắc: Trong quá trình triển khai thí điểm cung ứng
dịch vụ thanh toán, các tổ chức không phải là TCTD cũng gặp một số khó khăn,vướng mắc như:
Thứ nhất, về phía quản lý nhà nước: Tại thời điểm thí điểm, hành lang
pháp lý cho hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT của các tổ chức không phải làngân hàng chưa được hoàn thiện Quá trình nghiên cứu, xây dựng các văn bảnpháp lý liên quan cũng mất thời gian tương đối dài Mặc dù, định nghĩa và thẩmquyền cấp Giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT cho các tổ chức khôngphải là ngân hàng đã được quy định tại Luật NHNN năm 2010 Nghị định số101/2012/NĐ-CP ngày 22/12/2012 của Chính phủ về thanh toán không dùngtiền mặt (Nghị định số 101/2012/NĐ-CP) đã quy định điều kiện cung ứng dịch
vụ TGTT, quy trình, thủ tục, hồ sơ cấp, thu hồi và cấp lại Giấy phép hoạt độngcung ứng dịch vụ TGTT NHNN cũng đã ban hành Quyết định số 477/QĐ-NHNN ngày 28/2/2013 về việc công bố thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực hoạtđộng thanh toán, trong đó có thủ tục cấp Giấy phép, cấp lại Giấy phép và thu hồiGiấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT Tuy nhiên, phải đến ngày01/3/2015 (khi Thông tư số 39/2014/TT-NHNN ngày 11/12/2014 của NHNNhướng dẫn về dịch vụ TGTT có hiệu lực thi hành), NHNN mới có đủ cơ sở pháp
lý chính thức cho việc cấp Giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT
Trang 23Thứ hai, về phía người sử dụng dịch vụ: Do đây là sản phẩm mới, được sử
dụng trên môi trường công nghệ hiện đại nên người tiêu dùng còn nhiều e ngại,
lo sợ tính an toàn bảo mật của sản phẩm Số người dân có tài khoản ngân hàng
và các khoản thu nhập được trả qua tài khoản ngân hàng tại Việt Nam còn chưanhiều, đặc biệt là tại các khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa Mặt khác, ngườidân cũng còn những hạn chế nhất định về trình độ và kiến thức về công nghệ, tàichính, thương mại điện tử và còn thói quen sử dụng tiền mặt để thanh toán
Thứ ba, về phía doanh nghiệp: Phần lớn các doanh nghiệp cung ứng hàng
hóa, dịch vụ chưa có cơ sở hạ tầng kỹ thuật đáp ứng được việc kết nối dịch vụ.Một số doanh nghiệp tham gia thị trường thương mại điện tử còn thiếu kinhnghiệm, phục vụ chưa chuyên nghiệp, một số doanh nghiệp chưa thực sự đầu tư
và coi kênh thanh toán trực tuyến là tiện lợi, chưa sẵn sàng cho các giải phápTTKDTM, một số doanh nghiệp còn tâm lý không muốn minh bạch trong doanhthu, khai báo thuế
Thứ tư, về phía các NHTM: Việc kết nối với ngân hàng còn gặp một số
khó khăn do có ngân hàng còn hạn chế về kỹ thuật và chưa phát triển các giảipháp không dùng tiền mặt Đa số các NHTM đều phát triển ngân hàng điện tửnhưng chỉ dừng lại ở mức truy cập vào để truy vấn giao dịch, chỉ một số ngânhàng thực hiện tính năng chuyển khoản và thanh toán hàng hóa, dịch vụ
b) Giai đoạn sau năm 2014:
Căn cứ quy định tại Luật NHNN năm 2010, Nghị định số
101/2012/NĐ-CP, kết quả triển khai thí điểm của các tổ chức, ngày 11/12/2014 NHNN đã banhành Thông tư số 39/2014/TT-NHNN; trong đó quy định cụ thể về việc có 06dịch vụ TGTT, định nghĩa từng dịch vụ TGTT, mẫu Đơn đề nghị cấp Giấy phép,mẫu Giấy phép, việc sử dụng Giấy phép và các nội dung khác liên quan đến việccung ứng dịch vụ TGTT trên thị trường Sau khi Thông tư số 39/2014/TT-NHNN có hiệu lực thi hành (ngày 01/3/2015), cùng với các quy định về điềukiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp Giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ TGTTtại Nghị định số 101/2012/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung), NHNN đã cơ bảnhoàn thiện hành lang pháp lý liên quan đến việc cấp phép, đặt dốc mốc triểnkhai chính thức dịch vụ TGTT trên thị trường
Theo đó, kể từ ngày 01/3/2015 đến ngày 30/6/2019, NHNN đã tiếp nhận
Hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT của 82 công ty;trong đó NHNN đã thực hiện cấp Giấy phép cho 31 tổ chức, thu hồi Giấy phépcủa 01 tổ chức; từ chối cấp phép của 09 tổ chức; đã trả lại Hồ sơ của 17 tổ chức;
đã có văn bản trả lời và đang tiếp tục xử lý, theo dõi Hồ sơ của 25 tổ chức.Trong số 30 tổ chức không phải là ngân hàng được NHNN cấp Giấy phép hoạt
Trang 24động cung ứng dịch vụ TGTT bao gồm cung ứng dịch vụ chuyển mạch tài chính
và bù trừ điện tử (01 tổ chức); cung ứng dịch vụ cổng thanh toán điện tử (26 tổ chức); cung ứng dịch vụ hỗ trợ thu hộ, chi hộ (26 tổ chức); cung ứng dịch vụ Ví điện tử (27 tổ chức); cung ứng dịch vụ hỗ trợ chuyển tiền điện tử (08 tổ chức).
Cụ thể tình hình cung ứng dịch vụ TGTT như sau:
* Dịch vụ chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử:
Triển khai Đề án thành lập xây dựng trung tâm chuyển mạch thẻ thốngnhất đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, cuối năm 2014 NHNN đã chỉ đạo
và thực hiện sát nhập 03 liên minh thẻ thành Công ty Cổ phần Thanh toán Quốcgia Việt Nam - NAPAS (tiền thân là Banknet.vn) Việc hoàn thành xây dựngTTCMTTN đã giúp tập trung chức năng chuyển mạch các giao dịch thanh toánthẻ qua hệ thống ATM và hệ thống POS tại Việt Nam về một đầu mối duy nhất,tiết kiệm đầu tư hạ tầng kỹ thuật của xã hội, tạo điều kiện để nâng cao chấtlượng dịch vụ và áp dụng chính sách thống nhất, mang lại lợi ích tối đa chongười sử dụng; đồng thời, góp phần xây dựng và phát triển một định chế mangtầm vóc quốc gia, đủ năng lực thực hiện vai trò làm đầu mối kết nối với các tổchức chuyển mạch thẻ quốc tế Ngày 08/9/2015, NHNN đã cấp Giấy phép số11/GP-NHNN cho phép NAPAS được cung ứng dịch vụ chuyển mạch tài chính
và bù trừ điện tử Hiện, NAPAS là đơn vị duy nhất được NHNN cho phép cungứng dịch vụ này
Theo báo cáo của NAPAS, tính đến hết Quý I/2019, NAPAS đã phối hợp
triển khai: (i) dịch vụ chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử trên ATM và POS với 46 tổ chức (bao gồm 45 ngân hàng và 01 công ty tài chính); (ii) dịch vụ chuyển mạch cho giao dịch thẻ quốc tế với 21 ngân hàng trong nước; (iii) dịch
vụ chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử cho giao dịch chuyển khoản liênngân hàng 24/7 với 45 ngân hàng
Trong Quý I/2019, số lượng giao dịch chuyển mạch tài chính và bù trừđiện tử qua NAPAS đạt gần 120.816,11 nghìn giao dịch với tổng giá trị hơn
753,80 nghìn tỷ đồng (tăng 53,39% về số lượng giao dịch chuyển mạch tài chính và tăng 162,32% về giá trị giao dịch chuyển mạch tài chính so với cùng
kỳ năm 2018; tăng 48,03% về số lượng giao dịch bù trừ điện tử và tăng 160,84% về giá trị giao dịch bù trừ điện tử so với cùng kỳ năm 2018)
Bảng 1.3: Số lượng và giá trị giao dịch chuyển mạch và bù trừ điện tử trong Quý I/2019
(nghìn món)
Số tiền
(nghìn tỷ đồng)
Trang 251 Chuyển mạch tài chính/bù trừ điện tử cho các
2 Chuyển mạch tài chính/bù trừ điện tử cho các
3 Chuyển mạch tài chính/bù trừ điện tử cho giao
dịch chuyển khoản liên ngân hàng 24/7 48.355,01 622,41
4 Chuyển mạch tài chính/bù trừ điện tử cho giao
5 Chuyển mạch tài chính/bù trừ điện tử cho giao
Nguồn: Vụ Thanh toán, NHNN
Bên cạnh đó, tính đến hết Quý I/2019, Công ty NAPAS đã phối hợp triểnkhai dịch vụ cung ứng hạ tầng hỗ trợ thanh toán điện tử đối với 20 tổ chức cungứng dịch vụ TGTT
Bảng 3: Số lượng và giá trị giao dịch chuyển mạch tài chính
giai đoạn 2016 - Quý I/2019
Nguồn: Vụ Thanh toán, NHNN
Bảng 1.4: Số lượng và giá trị giao dịch bù trừ điện tử
trong giai đoạn 2016 - Quý I/2019
Nguồn: Vụ Thanh toán, NHNN
* Dịch vụ cổng thanh toán điện tử:
Tính đến cuối Quý I/2019, thị trường đã có 23/25 tổ chức được cấp phépcung ứng dịch vụ cổng thanh toán hợp tác với 40 ngân hàng triển khai dịch vụ rathị trường (ngoại trừ Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Mạng lưới thôngminh và Công ty Cổ phần Paytech được cấp phép ngày 30/01/2019) Tổng số
giao dịch trong Quý I/2019 đạt xấp xỉ 25,07 triệu giao dịch với giá trị giao dịch
đạt gần 11,90 nghìn tỷ đồng (tăng 110,67% về số lượng giao dịch và tăng
21,42% về giá trị giao dịch so với cùng kỳ năm 2018)
Trang 26Bảng 1.5: Số lượng và giá trị giao dịch qua dịch vụ cổng thanh toán điện tử
trong giai đoạn 2016 - Quý I/2019
Nguồn: Vụ Thanh toán, NHNN
giao dịch hơn 26,11 nghìn tỷ đồng (tăng 115,94% về số lượng và tăng 100,33%
về giá trị so với cùng kỳ năm 2018)
Bảng 1.6: Số lượng và giá trị giao dịch qua dịch vụ hỗ trợ thu hộ, chi hộ
trong giai đoạn 2016 - Quý I/2019
Nguồn: Vụ Thanh toán, NHNN
Theo báo cáo của các tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử, trong Quý
I/2019, tổng số lượng giao dịch bằng Ví điện tử đạt gần 77.454,31 nghìn món
với tổng giá trị giao dịch đạt gần 29,50 nghìn tỷ đồng (tăng 55,49% về số lượng
và tăng 77,67% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018), bình quân khoảng 380.864
đồng/giao dịch Trong Quý I/2019, số lượng giao dịch bình quân của 01 Ví điện
tử là khoảng 2,54 giao dịch/tháng, giá trị giao dịch bình quân của 01 Ví điện tử
là khoảng hơn 966.000 VND/tháng
Bảng 1.7: Số lượng và giá trị giao dịch qua dịch vụ Ví điện tử
trong giai đoạn 2015 - Quý I/2019
Nguồn: Vụ Thanh toán, NHNN
* Dịch vụ hỗ trợ chuyển tiền điện tử:
Đến hết Quý I/2019, 08/08 tổ chức đã được cấp phép cung ứng dịch vụ hỗtrợ chuyển tiền điện tử hợp tác với 35 ngân hàng cung ứng dịch vụ ra thị trường
với 11.751,02 nghìn giao dịch, đạt xấp xỉ 39,07 nghìn tỷ đồng (giảm 41,44% về số lượng giao dịch và giảm 81,20% về giá trị giao dịch so với cùng kỳ năm
Trang 272018) Số lượng và giá trị giao dịch qua dịch vụ hỗ trợ chuyển tiền điện tử giảm
mạnh là do NAPAS điều chỉnh lại các dịch vụ, theo đó, các giao dịch chuyểnkhoản liên ngân hàng 24/7 thuộc dịch vụ chuyển mạch tài chính và bù trừ điện
tử, không còn thuộc dịch vụ hỗ trợ chuyển tiền điện tử như trước đây
Trong Quý I/2019, Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel)đứng đầu cả về số lượng và giá trị giao dịch qua dịch vụ hỗ trợ chuyển tiền điện
tử với 7.764,42 nghìn giao dịch và gần 37,90 nghìn tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 66,07% tổng số giao dịch và 96,99% tổng giá trị giao dịch của toàn thị trường).
Bảng 1.8: Số lượng và giá trị giao dịch qua dịch vụ hỗ trợ chuyển tiền điện
tử trong giai đoạn 2015 - Quý I/2019
1.2.2 Thực trạng quản lý, thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT
1.2.2.1 Về cơ sở pháp lý
Hiện nay, việc giám sát hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT đang đượcthực hiện trên cơ sở khuôn khổ Chiến lược giám sát các hệ thống thanh toán tạiViệt Nam giai đoạn 2014 - 2020 đã được Thống đốc NHNN phê duyệt (Quyếtđịnh số 1490/QĐ-NHNN ngày 29/7/2014) Trong đó, Vụ Thanh toán NHNNđược Thống đốc giao thực hiện theo dõi, giám sát các phương tiện thanh toán vàkênh thanh toán phục vụ giao dịch ngân hàng bán lẻ, bao gồm các dịch vụ thanhtoán qua TGTT
Cơ sở pháp lý hiện hành đã có các quy định liên quan đến việc quản lý,thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT của các tổ chứckhông phải là ngân hàng như: Trách nhiệm thực hiện, việc theo dõi, hậu kiểmsau khi được NHNN cấp Giấy phép (thu hồi giấy phép, xử phạt hành chính),việc theo dõi, giám sát việc cung ứng dịch vụ Ví điện tử Cụ thể như sau:
Về trách nhiệm thực hiện, Luật NHNN năm 2010 quy định tổ chức cungứng dịch vụ TGTT không phải là ngân hàng là đối tượng của thanh tra ngânhàng (khoản 2 Điều 52) Nghị định số 101/2012/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổsung) quy định trách nhiệm của NHNN trong việc giám sát hoạt động cung ứngdịch vụ TGTT; kiểm tra, thanh tra, giám sát và xử lý theo thẩm quyền đối vớicác hành vi vi phạm pháp luật của các tổ chức và cá nhân có liên quan đếnTTKDTM (khoản 3, khoản 4 Điều 5) Theo đó, các tổ chức cung ứng dịch vụTGTT tuy là các doanh nghiệp hoạt động đa, ngành theo quy định tại LuậtDoanh nghiệp, Luật Đầu tư và các văn bản pháp luật chuyên ngành có liên quan;nhưng đối với lĩnh vực TGTT, các tổ chức này chịu sự quản lý, thanh tra, giámsát của NHNN
Trang 28Tại NHNN có 03 đơn vị Vụ, Cục chịu trách nhiệm chính tham mưu choThống đốc trong việc quản lý, thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động cung ứngdịch vụ TGTT sau khi được cấp phép, cụ thể: Thông tư số 39/2014/TT-NHNN(đã được sửa đổi, bổ sung) quy định Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng làđơn vị đầu mối thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát các tổ chức, cá nhân cóliên quan trong việc thực hiện Thông tư này Đối với việc cung ứng dịch vụ Víđiện tử, Thông tư số 39/2014/TT-NHNN quy định tổ chức cung ứng dịch vụ Víđiện tử phải có công cụ để NHNN kiểm tra, giám sát theo thời gian thực tổng sốtiền của khách hàng trên các Ví điện tử và tổng số tiền trên tài khoản đảm bảothanh toán của tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử tại các ngân hàng (khoản 2Điều 9), Vụ Thanh toán là đơn vị đầu mối theo dõi, giám sát việc duy trì số dưtrên tài khoản đảm bảo thanh toán và tổng số dư các Ví điện tử của tổ chứcTGTT theo quy định Vụ Thanh toán cũng là đơn vị thực hiện chức năng theodõi, tổng hợp, đánh giá các báo cáo định kỳ hàng quý về tình hình cung ứng dịch
vụ TGTT của các đơn vị đã được NHNN cấp Giấy phép; đồng thời nghiên cứuxây dựng, hoàn thiện cơ chế, thực hiện giám sát chặt chẽ, thận trọng đối với các
tổ chức cung ứng dịch vụ TGTT Đối với việc tuân thủ, duy trì các điều kiện vềcông nghệ thông tin, Thông tư số 18/2018/TT-NHNN quy định Cục Công nghệthông tin có trách nhiệm theo dõi, tổng hợp báo cáo Thống đốc NHNN tình hình
thực hiện của các tổ chức theo quy định tại Thông tư này, hàng năm lập kế hoạch kiểm tra việc thực hiện Thông tư này, chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên
quan thuộc NHNN xử lý các vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai thựchiện Thông tư này (khoản 1 Điều 54); theo đó, hàng năm, Cục Công nghệ thôngtin sẽ lập kế hoạch, báo cáo Thống đốc về việc kiểm tra các tổ chức TGTT saukhi cấp phép
Để đảm bảo sự hoạt động hiệu quả, an toàn của dịch vụ TGTT trên thịtrường, cơ sở pháp lý hiện hành cũng đã có các quy định liên quan đến việc thuhồi Giấy phép, cũng như xử phạt hành chính trong lĩnh vực cung ứng dịch vụTGTT Cụ thể: Khoản 4 Điều 16 Nghị định số 101/2012/NĐ-CP (đã được sửađổi, bổ sung) quy định tổ chức được cấp phép sẽ bị thu hồi Giấy phép và phảichấm dứt hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT đối với một trong các trường hợpsau: (i) Trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày được cấp Giấy phép, tổ chức đó khôngtiến hành triển khai hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT được cấp phép mà không
có lý do chính đáng; (ii) trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày NHNN có văn bảnthông báo cho tổ chức có vi phạm một trong các điều kiện quy định tại khoản 2,Điều 15 Nghị định này và phải thực hiện các biện pháp khắc phục nhưng tổ chức
Trang 29không khắc phục được; (iii) tổ chức bị giải thể hoặc phá sản theo quy định củapháp luật liên quan
Nếu vi phạm các quy định trong quá trình hoạt động và cung ứng dịch vụ,
tổ chức TGTT sẽ bị xử phạt theo quy định tại Nghị định số 96/2014/NĐ-CP về
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng như: (i) Vi phạmquy định về giấy phép do NHNN cấp, quy định phạt tiền từ 400.000.000 đồngđến 500.000.000 đồng đối với hành vi hoạt động không có giấy phép, trong đóbao gồm cả các hành vi hoạt động không có Giấy phép hoạt động cung ứng dịch
vụ TGTT (khoản 6 Điều 4); (ii) Phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng đốivới một trong các hành vi vi phạm gồm cung cấp, tiết lộ thông tin liên quan đếntiền gửi của chủ tài khoản tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, tổ chức cungứng dịch vụ TGTT không đúng quy định của pháp luật, Cung cấp thông tinkhông trung thực trong quá trình cung ứng dịch vụ thanh toán, dịch vụ TGTT;(iii) Phạt tiền từ 40 triệu đồng đến 60 triệu đồng đối với hành vi cung ứng dịch
vụ thanh toán, dịch vụ TGTT không đúng quy định của pháp luật; (iv) Phạt tiền
từ 150 triệu đồng đến 200 triệu đồng đối với một trong các hành vi vi phạm làmgiả chứng từ khi sử dụng dịch vụ TGTT
Tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định thì tùy theo tính chất và mức độ viphạm sẽ bị xử lý vi phạm hành chính, trường hợp nghiêm trọng thì bị truy cứutrách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định củapháp luật (quy định tại Điều 17 Thông tư số 39/2014/TT-NHNN)
Ngoài ra, để đảm bảo an ninh, an toàn trong thanh toán thẻ và thanh toántrực tuyến, trong đó có hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT, NHNN đã ban hànhChỉ thị số 03/CT-NHNN ngày 10/01/2017 về việc tăng cường đảm bảo an ninh,
an toàn trong thanh toán điện tử và thanh toán thẻ Đồng thời, NHNN cũng đã cócác văn bản gửi các NHTM, tổ chức cung ứng dịch vụ TGTT để hướng dẫn chủtrương, định hướng của Chính phủ, Nhà nước, chấn chỉnh hoạt động cung ứngdịch vụ TGTT, góp phần đẩy mạnh TTKDTM trong nền kinh tế, tạo điều kiệnthúc đẩy các dịch vụ TGTT phát triển và được giám sát chặt chẽ, an toàn và hiệuquả
1.2.2.2 Về kết quả thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT
Căn cứ cơ sở pháp lý nêu trên, thời gian qua, NHNN (Cơ quan Thanh tra,giám sát ngân hàng, Cục Công nghệ thông tin, Vụ Thanh toán) đã triển khai thựchiện việc thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động cung ứng các dịch vụ TGTTtheo quy định
Trang 30Bảng 1.9: Danh sách các tổ chức TGTT thanh tra, kiểm tra
Chỉ tiêu Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019
Mộ t số khó khăn, rào cản, hạn chế, nguyên nhân
Hành lang pháp lý trong lĩnh vực TGTT khó theo kịp với sự phát triểndịch vụ thực tế trên thị trường, bên cạnh đó, lĩnh vực TGTT cũng là lĩnh vực gắnnhiều với công nghệ thông tin mới, hiện đại, nên Ttrong quá trình triển khai
cung ứng dịch vụ Ví điện tử thời gian qua cũng có những khó khăn, hạn chế,ràocản, hạn chế, do một số nguyên nhân (cả khách quan và chủ quan), như sau:
Một là, m1.3.1 Về cơ sở pháp lý
1.3.1.1 M ột số quy định pháp lý hiện hành cần được chưa có quy định rõ hơn và có h ướng dẫn cụ thể hơn đối với hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT :
Thứ nhất, về quy trình, thủ tục, hồ sơ cấp Giấy phép hoạt động cung ứng
dịch vụ TGTT, Nghị định số 101/2012/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung) đangquy định các điều kiện cấp Giấy phép đối với các dịch vụ TGTT là như nhau,chưa dựa trên cơ sở mức độ rủi ro và sự cần thiết, mục tiêu quản lý của NHNNđối với từng dịch vụ TGTT; dẫn đến NHNN khó quản lý được số lượng tổ chứccung ứng từng dịch vụ TGTT phù hợp với mục tiêu quản lý nhà nước như hiệnnay có một số tổ chức đang có nhu cầu đề nghị cung ứng dịch vụ chuyển mạchtài chính và bù trừ điện tử Đến nay, bên cạnh các TCTQT cung ứng dịch vụchuyển mạch tại thị trường Việt Nam từ trước, NAPAS là đơn vị duy nhất đượccấp phép cung ứng dịch vụ chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử và yếu tố cổđông cá nhân vẫn còn tồn tại tại doanh nghiệp này Quá trình tái cấu trúc cũngcòn những khó khăn, vướng mắc Việc thành lập một đơn vị mới để cung cấpdịch vụ chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử cũng rất khó khăn như: việctriển khai thực tế có thể gây xáo trộn nhất định trong hoạt động chuyển mạch tạiViệt Nam; việc thành lập một đơn vị mới (một doanh nghiệp hoặc đơn vị sựnghiệp) dù là hiệu quả thì vẫn gặp rào cản nhất định về tổ chức bộ máy, pháp lý;cần có nhân lực có trình độ cao về thanh toán bán lẻ, công nghệ thanh toán mới
Nghị định số 101/2012/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung) cũng mới chỉquy định về điều kiện cung ứng dịch vụ TGTT; chưa phân biệt rõ điều kiện cấpGiấy phép và điều kiện hoạt động mà tổ chức TGTT cần duy trì trong quá trìnhcung ứng dịch vụ; dẫn đến việc ngay từ khi gửi Hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép
Trang 31hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT, các tổ chức đã phải đầu tư đầy đủ hệ thốngcông nghệ thông tin, nhân sự,
Thứ hai, văn bản pháp lý hiện hành chưa có quy định và hướng dẫn cụ thể
về những thay đổi mà tổ chức TGTT cần gửi NHNN để chấp thuận hoặc chỉ đểbáo cáo sau khi được NHNN cấp Giấy phép; dẫn đến sự không thống nhất trongcách hiểu và việc triển khai của các tổ chức TGTT Hiện nay, Nghị định số101/2012/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung) quy định việc sửa đổi, bổ sungGiấy phép là một trường hợp NHNN cấp lại Giấy phép cho tổ chức Tuy nhiên,qua theo dõi, giám sát cho thấy, thực tế sau khi cấp Giấy phép, một số tổ chứcchỉ thay đổi về thông tin liên lạc, địa chỉ kinh doanh trường hợp này, NHNNchỉ cần thực hiện theo dõi, nắm thông tin; một số tổ chức đề nghị mở rộng phạm
vi, đối tượng cung ứng dịch vụ TGTT thông qua hợp tác với tổ chức thanh toánnước ngoài (như Alipay/Wechat Pay) để phục vụ nhu cầu thanh toán của dukhách nước ngoài đến Việt Nam, trong trường hợp này, NHNN cần xem xét,thẩm định để nghiên cứu, trình cấp có thẩm quyền về hướng xử lý phù hợp Do
đó, cần có quy định và hướng dẫn cụ thể hơn về nội dung này
Thứ ba, Ccơ sở pháp lý hiện hành về hoạt động cung ứng dịch vụ Ví điện
tử TGTT còn quy định còn mang tính tổng quan, chưa hướng dẫn, quy định vàhướng dẫn cụ thể; như: Ccác quy định tại Nghị định số 101/2012/NĐ-CP (đãđược sửa đổi, bổ sung) mới tập trung chủ yếu vào điều kiện, hồ sơ, quy trình,thủ tục cấp Giấy phép; , các quy định tại Thông tư số 39/2014/TT-NHNN (đãđược sửa đổi, bổ sung) mới tập trung vào định nghĩa các dịch vụ TGTTdịch vụ
Ví điện tử, TKĐBTTtài khoản đảm bảo thanh toán cho cho dịch vụ Ví điện tử vàdịch vụ hỗ trợ thu hộ, chi hộ, quyền và trách nhiệm của các bên liên quan Dịch
vụ Ví điện tử ở Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn khởi đầu, thu hút nhiều sựquan tâm của cộng đồng công nghệ thông tin và sự tham gia của các doanhnghiệp khởi nghiệp trong nước Do đó, việc hoàn thiện hành lang pháp lý, cơchế quản lý, thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý cấp phép vẫn còn là một tháchthức, khó khăn đối với Việt Nam
Theo quy định hiện hành, tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử phải tuânthủ các quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền; tuy nhiên hiện nay đốitượng báo cáo quy định tại Luật Phòng, chống rửa tiền không bao gồm tổ chứccung ứng dịch vụ TGTT, nên các tổ chức cung ứng Ví điện tử gặp khó khăntrong quá trình triển khai, tuân thủ các quy định về phòng, chống rửa tiền
Tại Việt Nam, thuật ngữ tiền điện tử (e money) đã xuất hiện và xâm nhậpvào đời sống kinh tế - xã hội; tuy nhiên do chưa được định nghĩa, khái niệm cụthể trong các văn bản quy phạm pháp luật, dẫn đến cách hiểu chưa thống nhất;
Trang 32khuôn khổ pháp lý hiện hành chưa làm rõ bản chất của tiền điện tử để có cơ sởxác định phạm vi và đối tượng chịu sự quản lý mà chưa quy định cụ thể về cácdịch vụ TGTT; chưa quy định cụ thể về quy trình, nghiệp vụ của các dịch vụTGTT; chưa có các quy định cụ thể về dịch vụ chuyển mạch tài chính và bù trừđiện tử, nên dẫn đến khó khăn trong việc quản lý, thanh tra, kiểm tra, giám sáthoạt động cung ứng dịch vụ TGTT
Hai là, Đối với dịch vụ Ví điện tử, về bản chất có liên quan đến huy động tiền của các tổ chức, cá nhân, nên có thể phát sinh những rủi ro hoạt động, thanh khoản, dễ bị lợi dụng Tuy nhiên, quy định pháp lý hiện hành không quy định hạn mức nạp vào, rút tiền từ Ví điện tử; rủi ro rửa tiền và tài trợ khủng bố với sản phẩm Ví điện tử hiện nay tại Việt Nam được đánh giá ở mức trung bình bởi trên thực tế, dù có những quy định khá chặt chẽ nhưng quá trình tuân thủ các quy định của các tổ chức phát hành Ví điện tử còn chưa cao Do đó, có thể phát sinh rủi ro Ví điện tử bị lợi dụng để chuyển tiền phục vụ các mục đích phi pháp; các tổ chức TGTT Ví điện tử không thể kiểm tra được tính hợp pháp đối với giao dịch chuyển tiền giữa hai khách hàng
Thứ tư, chưa có quy định thống nhất giữa một số văn bản quy phạm pháp luât như: Theo quy định tại Thông tư số 39/2014/TT-NHNN, tổ chức cung ứng dịch vụ TGTT phải tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành về phòng, chống rửa tiền; tuy nhiên hiện nay đối tượng báo cáo quy định tại Luật Phòng, chống rửa tiền không bao gồm tổ chức cung ứng dịch vụ TGTT, dẫn đến khó khăn cho các tổ chức TGTT trong quá trình triển khai, tuân thủ các quy định về phòng, chống rửa tiền Liên quan đến vấn đề này, NHNN đã có văn bản số 7321/NHNN-TTGSNH ngày 27/9/2018 hướng dẫn các tổ chức TGTT thực hiện các biện pháp phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố
Thứ năm, liên quan đến dịch vụ bù trừ điện tử, chuyển mạch tài chính, mặc dù các tổ chức TGTT tại Việt Nam đang phát triển mạnh với nhiều dịch vụ phong phú, nhưng phạm vi cung ứng dịch vụ còn hạn chế ở từng đơn vị, chưa có một đơn vị trung gian thực hiện chuyển mạch, kết nối tất cả các tổ chức này để tạo thuận lợi và mang lại những tiện ích lớn hơn cho người sử dụng dịch vụ Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng (IBPS) do NHNN quản lý và vận hành đóng vai trò là hệ thống thanh toán xương sống, quan trọng nhất của nền kinh
tế Tuy nhiên, hệ thống IBPS được thiết kế để phục vụ các giao dịch thanh toán giá trị cao (HVSS), thành viên là NHNN Chi nhánh tỉnh, thành phố và các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, chưa mở rộng cho tất cả các tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán có thể tham gia Hệ thống này không xử lý chuyên biệt cho các giao dịch thanh toán bán lẻ (thường là các giao
Trang 33dịch thực hiện 24/7, có giá trị nhỏ, số lượng giao dịch trong ngày lớn, cách thức thanh quyết toán và bù trừ không giống như thanh toán bán buôn) NAPAS là đơn vị duy nhất được NHNN cho phép cung ứng dịch vụ chuyển mạch tài chính
và dịch vụ bù trừ điện tử, tuy nhiên, hiện tại đơn vị này mới chỉ thực hiện xử lý chuyển mạch, bù trừ điện tử cho các giao dịch thanh toán thẻ, với cơ chế quyết toán tiềm ẩn rủi ro cao.
Các chuyên gia của Ngân hàng Thế giới đã nhấn mạnh về tầm quan trọng của Hệ thống ACH cũng như nhận định về vai trò của NHTW các nước trong việc phát triển cơ sở hạ tầng ACH quốc gia, đặc biêt ở các nền kinh tế mới nổi
và trong giai đoạn phát triển hệ thống ban đầu, theo đó, khuyến nghị nên thúc đẩy chương trình ACH như là một cột trụ triển khai chính của chiến lược thanh toán quốc gia Tại Việt Nam, việc triển khai xây dựng Hệ thống ACH là một trong những nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ giao tại Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2011-2015 (Quyết định 2453/QĐ-TTg ngày 27/12/2011) và giai đoạn 2016-2020 (Quyết định số 2545/QĐ-TTg ngày 30/12/2016) Thống đốc NHNN đã giao NAPAS làm đầu mối, phối hợp với các đơn vị liên quan triển khai thực hiện nghiên cứu, xây dựng Hệ thống ACH tại Việt Nam Dự án ACH của NAPAS đang trong giai đoạn thực hiện và để dự án tổng thể thành công, NAPAS đã thiết lập 05 luồng công việc chính, bao gồm: (i) triển khai Hệ thống ACH (với nhà cung cấp hệ thống CMA); (ii) mở rộng sự tham gia của khách hàng/người sử dụng; (iii) xác định
mô hình quyết toán tại NHNN; (iv) xây dựng Bộ quy tắc của hệ thống; (v) nhân
sự của hệ thống Đến nay, NAPAS đang trong quá trình kiểm thử người dùng với nhà thầu để hoàn thiện hệ thống Tuy nhiên, do tại Thông tư 39/2014/TT-NHNN cũng mới chỉ đề cập đến định nghĩa dịch vụ bù trừ điện tử, chuyển mạch tài chính mà hoàn toàn chưa có quy định hướng dẫn về nghiệp vụ này, dẫn đến khó khăn, thiếu cơ sở pháp lý cho việc chính thức triển khai hệ thống này trong thực
tế
Thứ sáu, tại Việt Nam, thuật ngữ tiền điện tử (e money) đã xuất hiện và xâm nhập vào đời sống kinh tế - xã hội; tuy nhiên do chưa có định nghĩa/khái niệm cụ thể, rõ ràng trong các văn bản quy phạm pháp luật dẫn đến cách hiểu không thống nhất và dễ nhầm lẫn về mặt bản chất của tiền tiện tử với tiền ảo Mặt khác, mặc dù tiền điện tử (được thể hiện dưới dạng thẻ trả trước, ví điện tử) tại Việt Nam đã được đề cập tại một số văn bản quy phạm pháp luật như Nghị định về TTKDTM, Thông tư quy định về hoạt động thẻ ngân hàng và Thông tư hướng dẫn về dịch vụ TGTT nhưng thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn và thông lệ quốc tế Trong khi đó, hầu hết các quốc gia trên thế
Trang 34giới đã có hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tương đối hoàn chỉnh và đồng
bộ về tiền điện tử 1
Từ thực trạng khuôn khổ pháp lý về tiền điện tử tại Việt Nam và trên cơ
sở rà soát, đánh giá và nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về quản lý tiền điện tử,
có thể thấy khuôn khổ pháp lý về tiền điện tử tại Việt Nam còn tồn tại một số khoảng trống, như: Quy định về tiện điện tử hiện hành chưa theo kịp với những thay đổi của thực tiễn và thông lệ quốc tế; chưa làm rõ bản chất về tiền điện tử
để có cơ sở xác định phạm vi và đối tượng chịu sự quản lý; cũng như quy định quản lý, giám sát cụ thể đối với hoạt động cung ứng tiền điện tử còn chưa đồng bộ.
Bên cạnh đó, trong thời gian qua, có một số văn bản quy phạm pháp luật được ban hành mới hoặc được sửa đổi, bổ sung, nhất là các quy định về kỹ thuật, công nghệ Nhiều nội dung trong các văn bản này cũng đã được sửa đổi,
bổ sung để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và sự phát triển nhanh chóng của CNTT và viễn thông, tuy nhiên, các tổ chức đề nghị cấp phép chưa cập nhật, chưa biết và chưa nắm rõ quy định tại những văn bản nêu trên để thực hiện, gặp những khó khăn nhất định trong quá trình thẩm định phải cập nhật, bổ sung và hoàn thiện theo các quy định mới này.
1.3.1.2 Một số quy định pháp lý hiện hành chưa tạo điều kiện cho sự phát
triển của các một số khó khăn của hoạt động cung ứng dịch vụ Ví điện tử
Các tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử còn gặp khó khăn trong việc pháttriển dịch vụ, nhất là cho các đối tượng không có tài khoản tại ngân hàng, nhữngngười sống ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa
Đối với các dịch vụ TGTT nói chung, theo quy định tại Luật NHNN năm
2010, dịch vụ TGTT là hoạt động làm trung gian kết nối, truyển dẫn và xử lý dữliệu điện tử các giao dịch thanh toán giữa tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán
và người sử dụng dịch vụ thanh toán (khoản 10 Điều 6) Theo đó, đối tượng sửdụng các dịch vụ TGTT là đối tượng đã là khách hàng của ngân hàng (kháchhàng đã có tài khoản tại ngân hàng) Điều này tạo những bất lợi, khó khăn khicác đối tượng không có tài khoản tại ngân hàng, thường là người nghèo, sống ởkhu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa không có cơ hội tiếp cận và sử dụng các
1 Nhiều quốc gia đã quản lý tiền điện tử bằng việc ban hành văn bản Luật hoặc văn bản dưới Luật (như Chỉ thị, Hướng dẫn tương đương cấp Nghị định): Chỉ thị về Tiền điện tử (Liên minh Châu Âu), Luật
Hệ thống thanh toán (Liên bang Nga, Thổ Nhĩ Kỳ), Luật Dịch vụ Thanh toán về Tiền điện tử (Síp), Hướng dẫn nguyên tắc đối với tổ chức cung ứng tiền điện tử (Ghana, Kenya); Quy định về Tiền điện
tử (Tanzania),…
Trang 35dịch vụ TGTT Trong khi đó, những người đã có tài khoản tại ngân hàng, thườngsinh sống ở khu vực thành thị lại có nhiều dịch vụ thanh toán, TGTT để lựa chọntrong quá trình thanh toán, giao dịch
Đối với dịch vụ Ví điện tử, các quy định cụ thể về phân loại, áp dụng tàikhoản ngân hàng/tài khoản Ví điện tử theo cấp độ (với các tiêu chí phân loại cấp
độ như: tài khoản cơ bản; hạn mức giao dịch; chức năng giao dịch, mục đích sửdụng và mức độ cung cấp thông tin xác thực của khách hàng) cần được nghiêncứu, áp dụng trong thực tế, tạo thuận lợi hơn cho dịch vụ Ví điện tử pháttriển.hiện nay, Việt Nam chưa có quy định về loại tài khoản thanh toán (hoặc tàikhoản giao dịch) thiết kế riêng cho mục đích Tài chính Toàn diện; chưa có cácquy định cụ thể về phân loại, áp dụng tài khoản ngân hàng/Ví điện tử theo cấp
độ (với các tiêu chí phân loại cấp độ như: tài khoản cơ bản; hạn mức giao dịch;chức năng giao dịch, mục đích sử dụng và mức độ cung cấp thông tin xác thựccủa khách hàng (KYC); tài khoản Ví điện tử) Do đó, chưa tạo điều kiện thuậnlợi cho việc phát triển dịch vụ Ví điện tử
trên thị trường
1.3.2 Các vấn đề mới phát sinh trong lĩnh vực TGTT
Hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT ở Việt Nam vẫn đang trong giai đoạnkhởi đầu, do được phát triển trên cơ sở ứng dụng các thành tựu của khoa học vàcông nghệ hiện đại nên đã và đang thu hút nhiều sự quan tâm của cộng đồngCNTT và sự tham gia của các doanh nghiệp khởi nghiệp trong nước Qua nghiêncứu cho thấy, trong các tổ chức cung ứng dịch vụ TGTT được NHNN cấp phép,hầu hết đều hoạt động trong lĩnh vực Fintech Do đó, việc hoàn thiện hành langpháp lý, cơ chế quản lý, thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý cấp phép vẫn còn làmột thách thức, khó khăn, không chỉ đối với Việt Nam mà còn cả đối với thếgiới Trong bối cảnh khoa học công nghệ ngày càng phát triển như hiện nay, thờigian qua, lĩnh vực TGTT cũng phát sinh nhiều vấn đề mới, chưa có quy định vàhướng dẫn cụ thể, đặt ra nhiều thách thức với cơ quan quản lý như:
1.3.2.1 Việc tham gia của các tổ chức nước ngoài vào hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT
Nghị định số 101/2012/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung) quy định các điều kiện cung ứng dịch vụ TGTT đối với các tổ chức không phải là ngân hàng, trong đó quy định tổ chức phải có Giấy phép thành lập hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp (tức tổ chức này phải là pháp nhân được thành lập và hoạt động hợp pháp trên lãnh thổ Việt Nam) Thị trường Việt Nam được đánh giá là có nhiều tiềm năng và hứa hẹn có
Trang 36nhiều động lực để phát triển các dịch vụ TGTT nói riêng, thanh toán điện tử nói chung, do đó Việt Nam đang là điểm đến hấp dẫn của nhiều nhà đầu tư nước ngoài Theo đó, nhiều tổ chức, cá nhân nước ngoài đang có xu hướng đầu tư, rót vốn vào các tổ chức TGTT đã được cấp Giấy phép tại Việt Nam, nhằm từng bước thâm nhập và thâu tóm các tổ chức TGTT này
Sự tham gia sâu rộng của các tổ chức nước ngoài, bên cạnh những mặt tích cực, thì cũng sẽ phát sinh những vấn đề tiêu cực từ việc các tổ chức nước ngoài có ưu thế về nguồn vốn, công nghệ hiện đại, nguồn lực sẽ chiếm lĩnh thị trường cung ứng dịch vụ TGTT tại Việt Nam, có thể hoạt động với mạng lưới
mở rộng nhanh chóng dẫn đến các doanh nghiệp Việt Nam không đủ khả năng cạnh tranh và tạo ra sự bất bình đẳng giữa tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, TGTT nội địa với tổ chức công nghệ, thanh toán nước ngoài.
Theo số liệu báo cáo của các đơn vị TGTT, đến nay đã có 20/30 đơn vị thực hiện chuyển đổi vốn chủ sở hữu sau khi được cấp Giấy phép cung ứng dịch
vụ TGTT Trong đó, 10 đơn vị cung ứng dịch vụ TGTT có vốn góp trực tiếp từ nước ngoài (tỷ lệ sở hữu trung bình là 65%), 7 đơn vị có vốn góp gián tiếp từ nước ngoài (tỷ lệ sở hữu trung bình là 34%) TGTT là một dịch vụ hỗ trợ hoạt động thanh toán đặc thù đòi hỏi vốn đầu tư lớn, ứng dụng công nghệ hiện đại, đội ngũ nhân sự có trình độ chuyên môn Do đó, với sự thay đổi mạnh mẽ của nền tảng công nghệ, thông tin, nên một số đơn vị cung ứng dịch vụ TGTT đã kêu gọi vốn đầu tư từ các đơn vị có tiềm lực về vốn, công nghệ, nhân lực để có thể đẩy mạnh việc phát triển dịch vụ TGTT đã được cấp phép (Bổ sung thêm danh sách 10 đơn vị lớn).
Do đó, việc nghiên cứu, ban hành các quy định pháp lý về đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực TGTT, cũng như các quy định cụ thể về cấp lại, sửa đổi, bổ sung giấy phép là rất cần thiết.
1.3.2.2 Việc xuất hiện những mô hình dịch vụ TGTT mới
Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, trên thị trường xuất hiệnnhiều mô hình dịch vụ thanh toán mới, đặt ra thách thức đối với các cơ quanquản lý nhà nước như:
Thứ nhất, mô hình hợp tác thanh toán giữa tổ chức TGTT Việt Nam với
các tổ chức TGTT/ngân hàng nước ngoài Trong mô hình này, tnh toán giữa tổchức TGTT Việt Nam với các tổ chức TGTT/ngân hàng nước ngoài Tuan quản
lý nhà nước như: ề cấp lại, sửa đổi, bổ sung giấy phép là rất cần thiết.p c ngoài(tỷ lệ sở hữu trung bình lp từ nước ngoài (tỷ lệ sở hữu trung bìnhền mua hànghóa, dịch vụ cho các đơn vị chấp nhận thanh toán (ĐVCNTT) tĐVCNTT) ình
Trang 37này, tnh toán giữa tổ chức TGTT Việt Nam với các tổ chức TGTT/ngân hàngnước ngoài Tuan quản lý nhà nước như: ề cấp lại, sửa đổi, bổ sung giấy phép làrất cần thiết.p c ngoài (tỷ lệ sở hữu trung bình lp từ nước ngoài (tỷ lệ sở hữutrung bìnhn của du khách tại nước ngoài, sau đó chuyển tiền về tài khoản tạingân hàng Việt Nam trước khi chuyển đến tài khoản ngân hàng của ĐVCNTT.Như vậy, các tổ chức TGTT Việt Nam tham gia vào mô hình cung ứng dịch vụnày với vai trò là trung gian kết nối, truyền dẫn và xử lý dữ liệu điện tử giaodịch thanh toán giữa các bên (người bán hàng Việt Nam, tổ chức TGTT/ ngânhàng nước ngoài, người mua hàng nước ngoài, ngân hàng Việt Nam), qua đógiúp người bán hàng Việt Nam thu tiền bán hàng hóa, dịch vụ từ du khách nướcngoài
HiVCNTT) ình này, tnh toán giv giGTT cngân hàng bán hàng Viác tổ chức TGTT/ngân hàng nước ngoài Tuan quản lý nhà nước như: ề cấp lại, sửa đổi, bổ sung giấy phép là rất cần thiết.p /2012/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung) và các văn b(đã được sửa đổi, bổ sung) gân hàng bán hàng Viác tổ chức TGTT/ngân hàng nước ngoài Tuan quản lý nhà nước như: ề cấp lại, sửa đổi, bổnhà nước như: p là rất cần thiết ứng dịà gửi lệnh thanh toán cho tổ chức n như: (i) Vnhư: (i) pb(đã được sửa đổi, bổ sung) gâ có ngưó n (i) pb(đã được sửa đổi, bổ sung) gân hàng bán hàng Viác tổ chức TGTT/ngân hàng nước ngoài; (ii)
V (ii) TT/ngân hanh toán, ngưnii) TT/ngân hanh toán ngoài nưsung) a các tg bánhàng Viác tổ chức TGTT/ngân hàng nước ngoài Tuan quản lý nhà nước như: ề cấp lại, sửa đổi, bổnhà nước như: p là rất cần thiết ứng dịà gửi lệnh thanh toán cho tổ chức nước ngoài để trừ tiền trên số 101/2012/NĐ-CP (đã được sửa đổi,
bổ sung), mô hình cung được sửa đổi, bổ sung) a các tg bán hàng Viác tổ chức TGTT/ngân hàng nưược sửài Tuan quản lý nhà nước như: ề cấp lại, sửa đổi, bổnhà nước như: p là rất cần thiết ứng dịà gửi lệnh thanh toán cho Giấy ph tại khoản 2 Điều 4 Nghị định số 101ổ chức TGTT Việt Nam và tổ chức TGTT/ngânhàng nước ngoài
Thứ hai, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của CNTT và viễn thông; xu
hướng tự do hóa, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng như hiện nay, các giao dịch thanh toán, TGTT xuyên biên giới đang được đánh giá là xu hướng tất yếu Tuy nhiên, hoạt động này hiện còn những bất cập, khó khăn, vướng mắc sau:
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hoạt động thanh toán, chuyển tiền xuyênbiên giới chưa có quy định cụ thể, đầy đủ Theo quy định pháp lý hiện hành, thanh toán quốc tế phải tuân theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối hoặc các thỏa thuận quốc tế về thanh toán mà Việt Nam tham gia; khoản 2 Điều
Trang 384 Nghị định 101 (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 80) hiện chỉ đưa ra quy định: Thanh toán quốc tế là hoạt động thanh toán trong đó có ít nhất một bên liên quan là tổ chức hoặc cá nhân có tài khoản thanh toán ở ngoài lãnh thổ Việt Nam Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của công nghệ, phát sinh nhu cầu của các mô hình dịch vụ thanh toán, TGTT mới cung cấp xuyên biên giới song pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể để quản lý hiệu quả các hoạt động thanh toán xuyên biên giới tại Việt Nam.
Hoạt động thanh toán, TGTT xuyên biên giới đang đặt ra thách thức lớn cho các nhà quản lý tại Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới Hoạt động thanh toán này có thể dẫn đến những khó khăn, thách thức cho cơ quan quản lý các nước trong việc quản lý thuế, thương mại điện tử, mạng xã hội ; các vấn đề an ninh an toàn thông tin, hoạt động thanh toán trong nước
Việc không kiểm soát được hiệu quả các luồng giao dịch thanh toán xuyênbiên giới, nên các cơ quan nhà nước không thể nắm bắt đầy đủ thông tin nhằm phục vụ các mục tiêu phòng, chống rửa tiền, quản lý hoạt động ngoại hối, quản
lý lĩnh vực thuế, dịch vụ thương mại điện tử, các trang mạng xã hội, các ứng dụng mua bán trên các trang web,
Tạo ra sự cạnh tranh và bất bình đẳng giữa tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, TGTT trong nước với tổ chức công nghệ, thanh toán nước ngoài; không kiến tạo môi trường đầu tư kinh doanh lành mạnh, bình đẳng giúp các doanh nghiệp phát triển và hoạt động hiệu quả
• Hiện nay các tổ chức công nghệ nước ngoài hoặc của tổ chức thanh toán quốc tế(như Google, Facebook, Apple, Paypal, Alibaba, Wechat đang cung cấp dịch
vụ thanh toán xuyên biên giới trên lãnh thổ Việt Nam mà chưa chịu sự ràng buộccủa pháp luật Việt Nam, trong khi các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán,TGTT nội địa thực hiện cung ứng dịch vụ theo khuôn khổ pháp luật Việt Nam,tuân thủ các quy định, ràng buộc của pháp luật hiện hành cả về điều kiện cấpphép và trong quá trình cung ứng dịch vụ
• Các tổ chức quốc tế cung ứng dịch vụ thanh toán trên lãnh thổ Việt Nam hầu hếtkhông đăng ký kinh doanh và không hiện diện thương mại tại Việt Nam Việcquản lý không hiệu quả hoạt động thanh toán, chuyển tiền quốc tế trên lãnh thổViệt Nam gây khó khăn cho ngành thuế trong việc quản lý thuế, khi một loạt cácdoanh nghiệp nước ngoài hoạt động thu lợi nhuận tại Việt Nam, nhưng không cókhả năng kiểm soát doanh thu, lợi nhuận thực tế; dẫn tới sự bất bình đẳng tronghoạt động kinh doanh giữa các tổ chức cung cấp dịch vụ trong nước và các tổchức nước ngoài Tạo ra sự cạnh tranh và bất bình đẳng giữa tổ chức cung ứng
Trang 39dịch vụ thanh toán, TGTT trong nước với tổ chức công nghệ, thanh toán nướcngoài; không kiến tạo môi trường đầu tư kinh doanh lành mạnh, bình đẳng giúpcác doanh nghiệp phát triển và hoạt động hiệu quả.
•
• Phát sinh những rủi ro tiềm ẩn trong phát triển các thị trường thanh toán, chuyểntiền quốc tế ngầm, thanh toán quốc tế trái phép tại Việt Nam Việc chưa có quyđịnh pháp lý cụ thể khiến các tổ chức cung ứng dịch vụ gặp khó khăn khi muốntriển khai cung ứng dịch vụ; tiềm ẩn rủi ro cho khách hàng khi phải sử dụng dịch
vụ của các tổ chức nước ngoài (không chịu sự kiểm soát, quản lý của cơ quanquản lý Việt Nam)
• Khi chưa có các quy định pháp lý cụ thể cho các tổ chức trong nước triển khaicung ứng dịch vụ thanh toán, chuyển tiền quốc tế tại Việt Nam, các khách hàng
có nhu cầu thanh toán, chuyển tiền quốc tế phải sử dụng dịch vụ của các tổ chứcnước ngoài (thông tin của khách hàng, dữ liệu giao dịch được chuyển toàn bộ ranước ngoài để xử lý, cơ quan quản lý Việt Nam không thể kiểm soát được giaodịch thanh toán; không đảm bảo an ninh, an toàn đối với các giao dịch thanhtoán diễn ra trong lãnh thổ Việt Nam do bị phụ thuộc vào đối tác nước ngoài)
Thứ ba, cùng với trào lưu phát triển của khoa học công nghệ là sự xuất
hiện của nhiều loại hình thanh toán mới do các tổ chức không phải là ngân hàngcung cấp, có đặc điểm gần tương tự như các dịch vụ TGTT đang được quy địnhhiện nay tại Việt Nam, nhưng chưa có các quy định pháp lý điều chỉnh như: Thẻcào điện thoại do các công ty viễn thông phát hành đang được sử dụng để thanhtoán cho các hàng hóa, dịch vụ khác dịch vụ viễn thông (trở thành phương tiệnthanh toán) như thu phí gửi xe (i-parking), thanh toán mua sách, mua các phầnmềm, nghe nhạc,… và trở thành phương tiện TTKDTM
Thứ tư, trên thị trường hiện nay, có nhiều loại ví nhưng không đúng bản
chất dịch vụ và không được NHNN cấp phép, nhưng vẫn cung ứng trên thịtrường, như ví không được liên kết với tài khoản thanh toán của khách hàng tạingân hàng, không chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước.Các loại ví này không được sử dụng như một phương tiện thanh toán tại ViệtNam; thường được nạp với nhiều hình thức khác nhau như qua tài khoản, thẻngân hàng, qua các hình thức thẻ cào, thẻ nạp của các nhà cung cấp dịch vụ viễnthông Hoạt động này sẽ dẫn đến những rủi ro trong hoạt động, rủi ro thanhkhoản, dễ bị lợi dụng vào các hoạt động bất hợp pháp, cạnh tranh không bìnhđẳng với các tổ chức được cấp phép, gây khó khăn trong công tác quản lý thuế,thanh, kiểm tra thuế, các rủi ro, các tác động tiêu cực ảnh hưởng đến an ninhquốc gia, an toàn xã hội
Trang 40Ba là, một số rủi ro liên quan đến Ví điện tử cần phòng ngừa:
Hoạt động cung ứng dịch vụ Ví điện tử hiện nay tại Việt Nam là lĩnh vựcmới, còn khá phức tạp và thách thức trong việc kiểm tra, giám sát Do được pháttriển, ứng dụng trong môi trường công nghệ thông tin, viễn thông, trong khi tộiphạm sử dụng công nghệ cao ngày càng tinh vi, do đó dịch vụ Ví điện tử có thểphát sinh những rủi ro hoạt động, thanh khoản, hay bị lợi dụng vào các mục đíchphi pháp
Mặc dù đã có những quy định quản lý khá chặt chẽ, qua công tác giám sát,kiểm tra, thanh tra vừa qua cho thấy, sự tuân thủ các quy định của một số tổchức cung ứng dịch vụ Ví điện tử còn chưa cao; còn tình trạng cho phép mở vàkích hoạt các Ví điện tử không gắn với tài khoản thanh toán của khách hàng tạingân hàng, cho phép Ví điện tử được gắn và nạp tiền từ thẻ tín dụng của khách
hàng hoặc bằng các hình thức khác v.v 1.3.3 Các vth choặc bằng các hình thức khác :
Các tổ chức đề nghị cấp phép phần lớn là công ty nhỏ, mang tính khởi nghiệp, cơ cấu tổ chức đơn giản, không có cán bộ chuyên môn về pháp luật, một số tổ chức thuê ngoài để tư vấn khi xây dựng Đề án và Hồ sơ đề nghị cấp phép, nên chưa đầu tư nhiều cho việc nghiên cứu quy định của pháp luật để hiểu đúng và đầy đủ về bản chất, nội dung của các dịch vụ TGTT xin cấp phép, dẫn đến, việc xây dựng và hoàn thiện Hồ sơ đề nghị cấp phép còn thiếu sót, chưa đủ thành phần (như: Thiếu Biên bản nghiệm thu thử nghiệm kỹ thuật với một tổ chức hợp tác, thiếu Hồ sơ nhân sự, thiếu Điều lệ ) và chưa hợp lệ (như: Các tài liệu đính kèm Hồ sơ đề sai ngày tháng hoặc không ghi ngày tháng cụ thể, thiếu chữ ký hoặc người ký tên không đủ thẩm quyền, các nội dung tại Hồ sơ không thống nhất với nhau ) Do đó, Hồ sơ phải bổ sung và hoàn thiện nhiều lần; đặc biệt là vấn đề về công nghệ thông tin
1.3.4 Các vấn đề liên quan đến việc thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT:
Về cơ bản, những vi phạm của tổ chức trong quá trình cung ứng dịch vụ TGTT nếu được NHNN phát hiện khi thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT đều được NHNN
xử lý kịp thời theo quy định thông qua việc có văn bản chấn chỉnh, trao đổi và làm việc trực tiếp, xử phạt hành chính; cũng như phối hợp cung cấp thông tin cho các đơn vị liên quan để nghiên cứu, tìm giải pháp xử lý phù hợp Tuy nhiên, việc thanh tra, kiểm tra, giám sát còn phù thuộc nhiều vào cán bộ giám sát (đơn vị nào bị phát hiện thì mới bị xử phạt, chưa có quy định hướng dẫn cụ thể về tiêu chuẩn của công cụ giám sát các dịch vụ TGTT) Tuy nhiên, việc thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT cũng đang còn một số khó khăn, vướng mắc như:
Thứ nhất, cơ sở pháp lý hiện hành về thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động cung ứng dịch
vụ TGTT có nhiều nội dung chưa rõ ràng, cụ thể như:
Công cõ ràng, cụ thể như: sát hoạt động ccác tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử tự xây dựng và cung cấp cho NHNN dựa theo theo quy đquy cõ ràng, cụ thể như: sát hoạt động ccác tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử tự xây dựng và cung cấp cho NHNN dựa hông tin cho các đơn vị liên quan để nghiên cứu, tìm giải pháp xử lý phù hợp Tuy nhiên, ề nghị cấp ó các số liệu cơ bản như: số