Với sự phát triển của công nghệ 4.0 hiện nay, tài chính điện tử trở thành xu hướng phát triển và thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Do đó, nhóm nghiên cứu đã đưa ra hướng đi để nâng cao tác động của việc sử dụng ngân hàng điện tử (NHĐT) ở vùng nông thôn. Trên cơ sở phát triển mô hình lý thuyết hành vi chấp nhận công nghệ (TAM), nhóm tác giả tiến hành đo lường các nhân tố tác động đến tiếp cận dịch vụ tài chính (DVTC) thông qua NHĐT tại các hộ gia đình ở vùng nông thôn Việt Nam. Sử dụng cả phương pháp định tính và định lượng, mô hình được kiểm định gồm 333 mẫu quan sát, kết quả cho thấy có 3 biến chính tác động thuận chiều đến việc tiếp cận DVTC gồm tính thuận tiện, tính tiết kiệm, cập nhật thông tin. Trong đó, cập nhật thông tin là nhân tố tác động mạnh nhất, tuy nhiên, rủi ro bảo mật không tác động tới việc tiếp cận DVTC. Dựa vào kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đã đưa ra một số hàm ý chính sách cho các tổ chức tài chính trong việc nâng cấp các dịch vụ, cân nhắc mức phí và đưa ra nhiều ưu đãi để khuyến khích người dân sử dụng NHĐT nhiều hơn.
Trang 1TÁC ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ
ĐẾN TIẾP CẬN DỊCH VỤ TÀI CHÍNH
CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH VÙNG NÔNG THÔN VIỆT NAM
Tóm tắt
Với sự phát triển của công nghệ 4.0 hiện nay, tài chính điện tử trở thành xu hướng phát triển và thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Do đó, nhóm nghiên cứu đã đưa ra hướng đi để nâng cao tác động của việc sử dụng ngân hàng điện tử (NHĐT) ở vùng nông thôn Trên cơ sở phát triển mô hình lý thuyết hành vi chấp nhận công nghệ (TAM), nhóm tác giả tiến hành đo lường các nhân tố tác động đến tiếp cận dịch vụ tài chính (DVTC) thông qua NHĐT tại các hộ gia đình ở vùng nông thôn Việt Nam Sử dụng cả phương pháp định tính và định lượng, mô hình được kiểm định gồm 333 mẫu quan sát, kết quả cho thấy có 3 biến chính tác động thuận chiều đến việc tiếp cận DVTC gồm tính thuận tiện, tính tiết kiệm, cập nhật thông tin Trong đó, cập nhật thông tin là nhân tố tác động mạnh nhất, tuy nhiên, rủi ro bảo mật không tác động tới việc tiếp cận DVTC Dựa vào kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đã đưa ra một số hàm ý chính sách cho các tổ chức tài chính trong việc nâng cấp các dịch vụ, cân nhắc mức phí và đưa ra nhiều ưu đãi để khuyến khích người dân sử dụng NHĐT nhiều hơn.
1 Giới thiệu
Các DVTC của ngân hàng theo thời gian ngày càng phát triển phong phú và tối
ưu hơn, đem lại nhiều tiện ích cho các khách hàng ở mọi nơi, đặc biệt ở vùng nông thôn bởi được sử dụng nguồn vốn an toàn với đa dạng hình thức và giá hấp dẫn hơn Bên cạnh đó, DVTC mà ngân hàng đem lại đã góp phần giảm thiểu đáng kể hiện tượng tín dụng đen
Bằng những phát triển vượt bậc từ khi ra đời cho tới nay, NHĐT đã khẳng định được vai trò tất yếu của nó đối với hệ thống ngân hàng, với khách hàng sử dụng dịch
vụ và với cả xã hội Các giao dịch truyền thống khó có thể đạt được với tốc độ nhanh, chính xác, đảm bảo an toàn cao và đáp ứng tiện ích đầy đủ như NHĐT
Các nghiên cứu về tiếp cận DVTC qua NHĐT đã được thực hiện bởi Tero et al, (2004); Francisco et al (2013); Nguyễn Duy Thanh, Cao Hào Thi (2011); Nguyễn Thị Thu Ba (2019)…, nhưng đa phần đều tiến hành ở các khu vực như ở các nước phát triển - có hệ thống NHĐT từ lâu đời, hay ở cả một quốc gia, hoặc ở các thành thị, mà không tập trung vào khu vực nông thôn - vốn được cho là có thói quen sử dụng tiền mặt, hoặc các hộ gia đình tại các nước Đông Á và Đông Nam Á, bị chi phối bởi thói quen của người lớn tuổi Đối với những chủ thể này, việc tiếp cận tín dụng qua NHĐT còn là một khía cạnh rất mới, chưa phát triển mạnh mẽ bởi trình độ công nghệ còn thấp, việc đầu tư phát triển công nghệ tốn nhiều chi phí, danh mục sản phẩm còn nghèo nàn và đặc biệt là việc thay đổi thói quen sử dụng vốn của khách hàng qua NHĐT cần một khoảng thời gian nhất định
Trang 2Tính đến thời điểm hiện tại, đây là nghiên cứu đầu tiên đề cập đến tác động của NHĐT đến tiếp cận DVTC của hộ gia đình nông thôn Việt Nam Khác với các nghiên cứu trước đa phần đều tập trung đến các cá nhân ở vùng nông thôn, nhóm nghiên cứu lại chú trọng đến hộ gia đình nông thôn bởi có điểm khác biệt lớn giữa hộ gia đình và
cá nhân là việc chia sẻ thông tin, kinh nghiệm, thói quen và lợi ích lẫn nhau giữa các thành viên trong cùng một hộ hay giữa các hộ có liên quan
Theo kết quả đánh giá của Tổng cục Thống kê, sơ bộ tính đến quý I năm 2019, Việt Nam hiện có hơn 96,2 triệu dân, trong đó, dân số khu vực nông thôn là 63,1 triệu người, chiếm 65,6% tổng số dân cả nước Với dân số khu vực nông thôn gần gấp đôi thành thị này thì thị trường cho NHĐT nơi đây quả thực rất tiềm năng Do đó, việc đi theo hướng nghiên cứu này là cần thiết và mục tiêu chính của nghiên cứu là tìm hiểu, xác định và đánh giá các yếu tố có thể tác động đến ý định và khả năng tiếp cận DVTC của người dân vùng nông thôn sử dụng NHĐT trong bối cảnh hiện đại hóa ngày nay Kết quả từ nghiên cứu này sẽ cho phép các nhà quản trị ra quyết định nếu muốn tăng việc áp dụng NHĐT tại nông thôn Việt Nam
2 Tổng quan nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
2.1 Ngân hàng điện tử và tiếp cận DVTC
Hiện nay có khá nhiều các quan niệm khác nhau về Ngân hàng điện tử:
Yang (1997) định nghĩa, NHĐT là việc sử dụng máy tính để truy xuất, xử lý dữ liệu ngân hàng (báo cáo, chi tiết giao dịch, ) và thực hiện trực tiếp các giao dịch tài chính (thanh toán, chuyển khoản, yêu cầu dịch vụ, ) từ xa thông qua mạng viễn thông
Phát triển khái niệm trên, Daniel (1999) chỉ ra NHĐT là dịch vụ mà các ngân hàng cung cấp cho khách hàng thông qua internet để thực hiện việc truy vấn thông tin
về tài khoản, chuyển tiền, đăng ký vay trực tuyến, trên website mọi lúc mọi nơi mà không cần phải đến các quầy giao dịch của ngân hàng Như vậy, Daniel (1999) đã bổ sung tính tiện ích 24/7 của NHĐT, giúp khách hàng thực hiện các giao dịch một cách nhanh chóng, thuận tiên
Phản biện cho các quan niệm trên, Malak (2007) đã đưa ra khái niệm NHĐT còn được gọi là chuyển tiền điện tử (EFT) để chuyển tiền trực tiếp từ tài khoản này sang tài khoản khác, thay vì viết séc hoặc tiền mặt Đây là cách hiểu trực quan và khá hạn chế về tính năng tiện ích của dịch vụ này Bởi ngoài chức năng chuyển tiền, NHĐT còn cung cấp cho khách hàng nhiều dịch vụ khác như: tiết kiệm, thanh toán hóa đơn,
Như vậy có khá nhiều định nghĩa khác nhau về NHĐT, nhưng một khái niệm đầy đủ theo nhóm tác giả: NHĐT (E-banking) là việc ngân hàng sử dụng các mạng điện tử và viễn thông để cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng NHĐT đã cải thiện hiệu quả làm việc của ngân hàng, thay đổi đáng kể hoạt động của các ngân hàng bán lẻ, đồng thời tăng lợi ích cho khách hàng (Kolodinsky, 2000) Người tiêu dùng nhận được lợi ích nhiều hơn so với dịch vụ truyền thống trước đây bao gồm chi phí thấp hơn, chất lượng dịch vụ cải thiện, có sẵn dịch vụ 24h, tiết kiệm thời gian, truy cập miễn phí các dịch vụ, dễ sử dụng, tốc độ cung cấp dịch vụ nhanh hơn, khả năng tương thích phù hợp với điều kiện sống và an ninh (Nimako, 2013) và nhờ những tiện
Trang 3ích đó mà NHĐT sẽ giúp cho khách hàng tăng cường khả năng tiếp cận DVTC, đặc biệt là tài chính vi mô (Zeller & Meyer, 2002)
Bên cạnh đó, các dịch vụ NHĐT hiện đại có thể là các dịch vụ hoàn toàn mới hoặc cũng có thể là những dịch vụ truyền thống nay được nâng cấp trên nền tảng công nghệ hiện đại Siyanbola (2013); Ayana (2014); Okibo (2014); Sharma (2017) Một số dịch vụ NHĐT hiện đại đang được ứng dụng hiện nay: (i) Dịch vụ cung cấp qua ATM, (ii) Thanh toán qua POS (Point of sale), (iii) Phone Banking, (iv) Mobile Banking, (v) Internet Banking
Tiếp cận các DVTC có thể coi là một hàng hóa công cộng rất cần thiết cho phép người tiêu dùng tham gia vào các lợi ích của nền kinh tế hiện đại dựa trên thị trường, theo cách tương tự như tiếp cận với dịch vụ y tế cơ bản và giáo dục tiểu học (Peachey et al, 2004) Hiện nay, có khá nhiều tác giả đưa ra quan niệm tiếp cận DVTC:
Klapper et al (2012) cho rằng, tiếp cận tài chính là tỷ lệ các cá nhân và doanh nghiệp đang sở hữu tài khoản tại một tổ chức tài chính, sử dụng các DVTC cho các mục đích đầu tư, kinh doanh hay bảo hiểm các rủi ro tài chính để gia tăng khối tài sản
và quản lý rủi ro tài chính tốt hơn Các DVTC này phải được cung cấp bởi các tổ chức tài chính chính thức, là các công cụ tài chính an toàn và hiệu quả trong một môi trường pháp lý minh bạch
Mặt khác, Beck (2005) chỉ ra: “Tiếp cận các DVTC không đồng nghĩa với việc
sử dụng các dịch vụ đó bởi tác nhân kinh tế có thể tiếp cận bằng cách tìm hiểu, nghiên cứu các DVTC, nhưng có thể quyết định không sử dụng chúng do sự khác biệt về văn hóa - xã hội, hoặc bởi vì chi phí là quá cao” Có thể thấy rằng, so với Klapper et al (2012), Beck et al (2005) đã phân biệt giữa tiếp cận và sử dụng DVTC Tuy nhiên quan niệm trên chưa hoàn chỉnh bởi dù hiểu về các dịch vụ đó, nhưng không có khả năng sử dụng thì không thể tiếp cận được
Phát triển khái niệm trên, Honohan (2006) đưa ra định nghĩa, tiếp cận tài chính
là khả năng của mỗi cá nhân hoặc doanh nghiệp có thể truy cập các DVTC, bao gồm tín dụng, tiền gửi, thanh toán, bảo hiểm và các dịch vụ quản lý rủi ro khác Khái niệm này nên được phân biệt với việc sử dụng DVTC thực tế, bởi vì, việc sử dụng có thể là
tự nguyện hoặc không Những người có khả năng truy cập, nhưng không tự nguyện sử dụng DVTC bởi họ không có nhu cầu hoặc vì lý do văn hóa, tôn giáo hay bất kỳ nguyên nhân nào khác Có thể thấy rằng Honohan (2008) đã đưa ra quan niệm hợp lý, hoàn thiện hơn so với Beck (2005), khi tác giả đã bổ sung về khả năng truy cập, sử dụng trong tiếp cận DVTC
Tóm lại, có thể hiểu đơn giản, sau khi khách hàng đã nghiên cứu, tìm hiểu, và
có khả năng truy cập sử dụng DVTC, dù họ quyết định sử dụng các dịch vụ đó hay không cũng đều được coi là tiếp cận DVTC
2.2 Tổng quan nghiên cứu
2.2.1 Chi phí dịch vụ của NHĐT
Đối với các nước phát triển, điển hình là cuộc khảo sát thực nghiệm về Internet Banking tại Úc, Sathye (1999) chỉ ra rằng, Internet Banking cung cấp rất nhiều lợi ích với chi phí rẻ hơn, thậm chí có thể miễn phí cho khách hàng Cụ thể, khi nghiên cứu
Trang 4về NHĐT tại Thổ Nhĩ Kỳ, Ekin et al (2001) đã chỉ ra, chi phí trung bình của các giao dịch trực tuyến là 0,10 đô la và 2,1 đô la cho một giao dịch truyền thống Tương tự, dựa trên một mẫu của các ngân hàng Ba Lan, Polasik (2006) ước tính rằng, chi phí chuyển khoản qua Internet và chi nhánh ngân hàng trực tiếp tương ứng là 0,08 € và 0,46 €
Tuy nhiên, ở các nước đang và kém phát triển thì giá dịch vụ “Ngân hàng điện tử” được đánh giá là đắt so với thu nhập bình quân của người tiêu dùng Nguyên nhân
là do vốn đầu tư vào trang thiết bị và công nghệ thông tin tại các quốc gia này khá lớn, trong khi đó mức sống người dân tại đây lại rất thấp (Poon, 2008; Đỗ Thị Như Ngân, 2015) Tương tự, Aladwani (2001) cũng cho thấy, chi phí là một trong những vấn đề quan trọng nhất ảnh hưởng đến các hoạt động điện tử Tuy nhiên, trong các trường hợp khác nhau những yếu tố này có thể là động lực hoặc rào cản Chẳng hạn, nếu một quốc gia đạt được mức giảm chi phí ít hơn khoản đầu tư để áp dụng công nghệ mới, thì yếu tố chi phí có thể được coi là một rào cản thay vì là động lực Và đó cũng là nguyên nhân khiến nhiều khách hàng không muốn sử dụng DVTC thông qua NHĐT
2.2.2 Rủi ro bảo mật khi sử dụng NHĐT:
Qureshi et al (2008) và Aderonke et al (2010), tuyên bố rằng, bảo mật và quyền riêng tư là những yếu tố chính gây nên sự không hài lòng khi chấp nhận sử dụng dịch
vụ NHĐT của người dùng (Poon, 2008) Kết luận trên phù hợp với nghiên cứu của Khalfan et al (2006) về “Các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng NHĐT tại Ô-man” Tác giả chỉ ra rằng, rủi ro bảo mật và quyền riêng tư là một rào cản lớn Khách hàng thường ngần ngại sử dụng các ứng dụng thương mại điện tử vì họ cảm thấy những giao dịch được thực hiện qua internet dễ bị đánh cắp thông tin bởi tin tặc và vi rút
Tiếp đó, trong nghiên cứu về cảm nhận của khách hàng khi sử dụng dịch vụ Internet Banking tại Ấn Độ, Safeena et al(2011) đã đưa ra kết quả: Người dùng vẫn còn đối mặt với tình trạng thiếu bảo mật thông tin từ phía ngân hàng, điều này khiến khách hàng thường có tâm lý e ngại tài khoản của mình bị đánh cắp
Nhìn chung, bảo mật, quyền riêng tư có tác động tiêu cực đến hành vi người tiêu dùng và cũng là thách thức trong tương lai của ngành công nghệ điện tử, bởi khách hàng luôn e ngại về những vấn đề rủi ro khi sử dụng trang web để thực hiện giao dịch tài chính (Pikkarainen et al, 2004)
Ngoài ra, cũng có nhiều nghiên cứu cho rằng, tại mỗi thị trường khác nhau với nền văn hóa khác nhau, tác động của rủi ro bảo mật lên ý định sử dụng dịch vụ của NHĐT cũng có sự khác biệt Chẳng hạn, tại Australia tác động của rủi ro bảo mật lên
dự định sử dụng NHĐT lớn hơn tại Thailand, mặc dù cả hai đều đưa đến kết luận rủi
ro bảo mật có tác động tiêu cực lên ý định sử dụng NHĐT (Mortimer, 2015)
Tuy nhiên, có sự khác biệt trong nghiên cứu Tero et al (2004) khi nhóm tác giả
đã cho rằng, bảo mật và quyền riêng tư không ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng NHĐT Điều này được lý giải bởi bản chất nhạy cảm của dịch vụ ngân hàng nói chung
và công nghệ NHĐT nói riêng
2.2.3 Sự hỗ trợ dịch vụ NHĐT:
Mattila et al (2003) cho rằng, việc khách hàng phải tự thực hiện mọi thao tác ở lần đầu sử dụng NHĐT mà không được phục vụ và hướng dẫn trực tiếp, gây khó khăn
Trang 5trong quá trình cài đặt và giải quyết các sự cố liên quan đến đường truyền, là một trong những tác động tiêu cực đến việc chấp nhận sử dụng dịch vụ của người dùng Tương tự, trong nghiên cứu về so sánh NHĐT với ngân hàng truyền thống, Sonia Sharma (2016) đã chỉ ra việc gặp mặt trực tiếp là tốt hơn trong quá trình quản lý các vấn đề giao dịch phức tạp, bởi tính bất ổn, tính vô hình, thiếu vắng tương tác với nhân viên khi giao dịch bằng các kênh điện tử sẽ mang lại tâm lý sợ rủi ro cho khách hàng,
và qua đó tác động tiêu cực lên ý định sử dụng dịch vụ này
Mặt khác, theo Pikkarainen et al (2004) và Eriksson et al (2005), họ nhận thấy rằng việc sử dụng dễ dàng không ảnh hưởng đến thái độ khách hàng đối với NHĐT (Mortimer, 2015) Điều này được lý giải bởi tại thị trường Australia, hầu hết khách hàng đã quen thuộc với việc sử dụng E – banking, do vậy, người dùng không cần đến một hệ thống đơn giản, họ có nhu cầu được sử dụng hệ thống phức tạp hơn
2.3 Giả thuyết nghiên cứu
2.3.1 Tính thuận tiện
Theo Pew (2003), tính thuận tiện là mức độ tiện lợi mà dịch vụ NHĐT cung cấp cho khách hàng trong việc sử dụng công nghệ mới, giúp khách hàng thực hiện đa dạng các DVTC mọi lúc, mọi nơi một cách nhanh chóng, thuận tiện, các giao dịch được xác nhận ngay lập tức mà không cần phải đến các chi nhánh ngân hàng (Liao and Cheung, 2002) Đối với hộ gia đình, tính thuận tiện càng được thể hiện rõ hơn khi các thành viên trong hộ có thể liên kết với nhau trong việc sử dụng NHĐT, từ đó tăng khả năng tiếp cận dịch vụ tín dụng và chia sẻ thông tin Tương tự, Beck (2005) cũng chỉ ra NHĐT mang lại những lợi ích và trải nghiệm chưa từng có so với ngân hàng truyền thống Thông qua mạng internet, nó giúp người dùng làm chủ nguồn tài chính mọi lúc, mọi nơi
Thêm nữa, theo Burke (1998), tính thuận tiện là một bộ phận của tính hữu ích, người sử dụng sẽ đánh giá cao khả năng truy cập vào các ngân hàng tại bất cứ thời điểm nào thuận tiện và ở mọi nơi mà họ muốn Khi người dùng NHĐT cảm nhận được sự hữu ích đối với dịch vụ mang tính công nghệ mới thì ý định sử dụng tiếp cận
DVTC qua kênh NHĐT của họ lớn hơn và ngược lại.
Do đó, nhóm nghiên cứu đưa ra giả thuyết sau:
H1: Tính thuận tiện có tác động tích cực đến tiếp cận các DVTC của hộ gia đình nông thôn Việt Nam thông qua NHĐT
2.3.2 Tính tiết kiệm
Tính tiết kiệm được định nghĩa là mức độ mà người dùng tin rằng NHĐT sẽ giúp họ tiếp cận với các sản phẩm DVTC với nhiều ưu đãi, khuyến mãi, phí giao dịch thấp, ngoài ra còn tiết kiệm chi phí, thời gian đi lại, chờ đợi (Beck, 2005) Theo Ayana (2014), việc sử dụng dịch vụ NHĐT như Internet Banking, Mobile Banking… đều không tốn kém bằng việc sử dụng ngân hàng truyền thống, bởi phí giao dịch của NHĐT được đánh giá ở mức thấp so với việc thực hiện giao dịch tại các chi nhánh Không chỉ vậy, NHĐT cũng giảm thời gian xử lý các khoản vay, vì đơn xin vay chỉ cần thực hiện đăng ký online ngay trên website của ngân hàng và được gọi điện xác nhận đăng ký thành công trong 24 giờ, sau đó khách hàng sẽ tới chi nhánh để thẩm định tài sản (Riyadh et al, 2009)
Trang 6Tương tự, theo Qureshi et al (2008), NHĐT đã góp phần đơn giản hóa các thủ tục hành chính trong hoạt động cấp tín dụng nhờ việc rút ngắn chi phí di chuyển và thời gian chờ đợi xét duyệt hồ sơ vay vốn, các rào cản về khoảng cách hay quy trình thủ tục vay vốn sẽ dần dần được xóa bỏ, từ đó tăng khả năng tiếp cận tín dụng của các
hộ gia đình
Dựa trên cơ sở lý thuyết đã nêu trên, nhóm tác giả đưa ra giả thuyết :
H2: Tính tiết kiệm có tác động tích cực đến tiếp cận DVTC của hộ gia đình nông thôn Việt Nam thông qua NHĐT.
2.3.3 Cập nhật thông tin
Cập nhật thông tin được định nghĩa là việc NHĐT luôn cung cấp các thông tin, sản phẩm dịch vụ mới nhất (bao gồm các dịch vụ mở rộng, không có ở ngân hàng truyền thống) cho khách hàng, giúp họ có thể nắm bắt tin tức một cách kịp thời và dễ dàng tiếp cận với các DVTC không thường xuyên Centeno (2003) đã chỉ ra sự phát triển của công nghệ không chỉ cho phép các NHĐT cung cấp các dịch vụ trực tuyến dựa trên ngân hàng truyền thống, mà nó còn mang đến cho khách hàng các dịch vụ
mở rộng khác như thương mại điện tử, môi giới chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư, Bên cạnh đó, khả năng liên kết, chia sẻ thông tin của các thành viên trong hộ gia đình khi sử dụng dịch vụ NHĐT đã góp phần giúp các chủ hộ tiếp cận thông tin về những gói tín dụng của NHTM nhanh chóng hơn, các sản phẩm tín dụng đều có thể tìm hiểu dễ dàng qua các ứng dụng NHĐT Ngoài ra, NHĐT cũng thường xuyên cập nhật các tính năng, tiện ích khác như quản lý hóa đơn tiền điện, nước, internet, hay mua vé máy bay, đặt phòng khách sạn thông qua trang web của các doanh nghiệp (Siyanbola, 2013)
Dựa trên cơ sở lý thuyết đã nêu trên, nhóm tác giả đưa ra giả thuyết :
H3: Cập nhật thông tin có tác động tích cực đến tiếp cận các DVTC của hộ gia đình nông thôn Việt Nam thông qua NHĐT
2.3.4 Rủi ro bảo mật
Việc sử dụng NHĐT thường gặp một vài vấn đề liên quan đến tính bảo mật của các khách hàng liên quan Theo Sathye (1999), Pew (2003), rủi ro bảo mật là cảm nhận của khách hàng về những mối đe dọa an ninh và kiểm soát thông tin cá nhân trong môi trường trực tuyến Đặc biệt, đối với các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam thì việc bảo mật các thông tin của khách hàng về các giao dịch trực tuyến là một vấn đề quan trọng trong việc chấp nhận sử dụng các dịch vụ điện tử (Lưu Thanh Thảo, 2008) Do đó, an ninh điện tử phải được thực hiện rất nghiêm túc để tránh gây ra những rủi ro tài chính không đáng có trong quá trình sử dụng, ảnh hưởng xấu đến hiệu quả của NHĐT trong việc tiếp cận DVTC của khách hàng (Thomas et al, 2002; Speece et al, 2003)
Ngoài ra, tác động của rủi ro bảo mật đến tiếp cận tài chính qua kênh điện tử của khách hàng hộ gia đình thường mạnh hơn các đối tượng khác bởi tính liên kết, ảnh hưởng giữa các thành viên trong hộ Việc bất kỳ thành viên trong hộ cảm thấy thực hiện giao dịch tài chính qua NHĐT không an toàn và rủi ro, họ sẽ truyền các thông tin tiêu cực đến các thành viên còn lại, khiến họ mất niềm tin vào hệ thống và trực tiếp
Trang 7gây ra những hạn chế trong tiếp cận, sử dụng DVTC qua NHĐT Do đó, giả thuyết này có thể phát biểu như sau:
H4: Rủi ro bảo mật có tác động tiêu cực đến tiếp cận các DVTC của hộ gia đình nông thôn Việt Nam thông qua NHĐT.
Từ tất cả các giả thuyết nêu trên, nhóm tác giả đã đưa ra mô hình về việc tác động đến tiếp cận DVTC ở nông thôn Việt Nam thông qua NHĐT như sau:
Hình 1: Mô hình NHĐT tác động đến tiếp cận DVTC ở nông thôn Việt
Nam
(Nguồn: Đề xuất của nhóm nghiên cứu)
3 Phương pháp nghiên cứu và kết quả phân tích dữ liệu
3.1 Nghiên cứu định tính
Nghiên cứu định tính được thực hiện qua phỏng vấn sâu các chuyên gia trong lĩnh vực ngân hàng và các chuyên gia thực tiễn nhằm kiểm tra và sàng lọc các nhân tố tác động đến tiếp cận DVTC tại vùng nông thôn Việt Nam trong mô hình tiếp cận, cũng như điều chỉnh cần thiết với phiếu khảo sát khách hàng Phỏng vấn sâu được tiến hành với 10 người, trong đó, có 3 người nghiên cứu lý thuyết về tiếp cận tín dụng và 7 người đã sử dụng dịch vụ NHĐT đang sinh sống tại khu vực nông thôn Việt Nam Các cuộc phỏng vấn được tiến hành trực tiếp tại phòng làm việc, tại nhà riêng… để đảm bảo tính riêng tư và thoải mái Sau khi phỏng vấn, nhóm tác giả tiến hành dỡ băng và ghi lại thông tin trong vòng 1 ngày
Kết quả định tính nói chung ủng hộ mô hình đề xuất của nhóm tác giả Yếu tố tính cập nhật thông tin được các chuyên gia đánh giá có sức ảnh hưởng khá lớn đến tác động của NHĐT trong việc tiếp cận DVTC tại vùng nông thôn ở giai đoạn này do đặc thù giao thông ở nông thôn tại Việt Nam, việc đi lại còn có nhiều khó khăn, người dân tốn nhiều thời gian để di chuyển đến các chi nhánh ngân hàng, kèm theo nữa là
Trang 8các điều kiện thuận lợi như mạng Internet, các thiết bị điện tử, ngày càng phổ biến giúp cho tác động của NHĐT đến việc tiếp cận các DVTC ngày càng trở nên tốt hơn tại các vùng mà nghiên cứu đang hướng đến
3.2 Khảo sát và phân tích dữ liệu
3.2.1 Xây dựng phiếu hỏi và thang đo
Tất cả các thang đo trong nghiên cứu này đều được nhóm tác giả tự phát triển
từ việc kế thừa các kết quả của những nghiên cứu trước và điều chỉnh cho phù hợp dựa trên gợi ý của nghiên cứu định tính Các thang đo sử dụng dạng Likert 5 cấp độ, trong đó, 1 là hoàn toàn không đồng ý, 5 là hoàn toàn đồng ý
Thang đo mức độ Tiếp cận DVTC gồm có 3 biến quan sát do nhóm tác giả tự phát triển sau khi nhận các ý kiến đóng góp từ các chuyên gia Tính thuận tiện gồm có
4 biến quan sát được nhóm tác giả tự phát triển dựa trên cơ sở tham khảo từ các nghiên cứu của Pew (2003); Liao et al (2002) và Alam et al(2006) Thang đo Tính tiết kiệm được sử dụng dựa trên sự phát triển của nhóm tác giả sau khi tham khảo ý kiến
từ các chuyên gia, gồm có 4 quan sát Thang đo Rủi ro bảo mật gồm 3 quan sát đều được sử dụng dựa trên kết quả nghiên cứu của Sathye (1999), Pew (2003) và Wadie
et al (2014) Thang đo Cập nhật thông tin gồm có 4 biến quan sát được nhóm tác giả
tự phát triển dựa trên việc thảo luận, trao đổi với các chuyên gia thực tế và lý thuyết
về NHĐT
Công cụ khảo sát được xây dựng dựa trên các biến quan sát đo lường khái niệm trong mô hình Ngoài ra, phiếu khảo sát còn có các câu hỏi về nhân khẩu học như tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng quan hệ và thu nhập Các câu hỏi trong phiếu được nhóm tác giả đối chiếu lại nhằm kiểm tra ngữ nghĩa giữa bản gốc tiếng Anh và bản dịch tiếng Việt
3.2.2 Mẫu nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu được lấy một cách ngẫu nhiên từ nhiều tỉnh thành trong cả nước trên đối tượng khách hàng là hộ gia đình Tổng số quan sát phân tích là 333 quan sát Độ tuổi của những người sử dụng chủ yếu nằm trong khoảng từ 16 đến 50 (85%),
sử dụng NHĐT nhiều nhất là lứa tuổi từ 16 - 35 Yếu tố thu nhập cũng ảnh hưởng đến
ý định sử dụng NHĐT, tập trung chủ yếu ở nhóm khách hàng có thu nhập từ 5 - 10 triệu đồng chiếm 33,6% Thêm nữa, nghề nghiệp của khách hàng cũng ảnh hưởng đến
ý định sử dụng NHĐT, công nhân viên chức có 19,8% lượng người khảo sát, các ngành nghề khác chỉ chiếm 31,8%
3.3 Kết quả nghiên cứu
Phân tích độ tin cậy (Cronbach Alpha) của tất cả các biến của các thành phần trong thang đo chính thức đều đạt yêu cầu và đều là thang đo tốt với tất cả các biến đều có hệ số Cronbach Alpha khá cao > 0,80, trừ nhân tố tiếp cận DVTC là 0,717 (Mức Cronbach Alpha có thể chấp nhận được thể hiện thang đo khá tốt)
Tiếp theo, sau khi phân tích nhân tố khám phá, kết quả phân tích nhân tố theo
mô hình nghiên cứu đề xuất cho hệ số KMO = 0,905 > 0,6 với giá trị Sig = 0,000 (thỏa mãn yêu cầu phải < 0,05) và tổng phương sai trích/ biến thiên là 74,536% đạt
Trang 9yêu cầu, chứng tỏ phân tích nhân tố cho việc nhóm các biến này lại với nhau là thích hợp Kết quả phân tích nhân tố cho thấy 4 nhân tố thành phần được xác định theo lý thuyết với phép quay Varimax đều cho ta kết quả đạt yêu cầu Các chỉ báo đo lường của các nhân tố đều tụ lại tại các cụm nhân tố tổng khác nhau và có hệ số tải > 0,35, thỏa mãn thang đo đưa ra Tổng phương sai trích (Total varicance explained) đạt giá trị giải thích bằng 64,924%, điều này cho ta kết luận 64,924% sự thay đổi của các biến thành phần (của các nhân tố) được giải thích bởi các biến quan sát (các chỉ báo)
Từ phân tích trên, kết quả cho thấy thang đo trong mô hình khá phù hợp cho phân tích, các chỉ số sau khi phân tích nhân tố khẳng định CFA bậc 1 thỏa mãn các điều kiện trong lý thuyết (CMIN/DF < 3, GFI > 0,9; RMSEA < 0,08 và PCCLOSE > 0,01…)
Phân tích nhân tố khẳng định CFA bậc 2, các chỉ số được rút ra từ kết quả được tổng hợp ở bảng trên, CMIN/DF < 3, CFI = 0,953 > 0,95, GFI > 0,9; RMSEA < 0,08; PCLOSE > = 0,05 Tất cả các chỉ số đều thỏa mãn các điều kiện trong lý thuyết đã đưa ra Từ phân tích đó cho thấy bốn biến độc lập mới có thể cùng thể hiện cho một biến lớn là biến Ngân hàng điện tử (Ebanking)
Sau khi phân tích hồi quy đa biến với biến phụ thuộc “tiepcan” nghiên cứu thu được kết quả R2 tổng thể của mô hình là 0,889, tức là các biến độc lập của mô hình giải thích được 88,9% sự biến động của biến phụ thuộc R2 hiệu chỉnh = 0,887 > 0,5
và kiểm định F với mức ý nghĩa thống kê là 0,000 nên mô hình hồi quy phù hợp với tập dữ liệu và có thể sử dụng được
Bảng 1: Kết quả phân tích hồi quy
Mô hình B Beta Mức ý nghĩa
Capnhat (CN) 0,360 0,414 0,000
Ruiro (RR) -0,023 -0,033 0,152
Thtien (TT) 0,239 0,298 0,000
Tietkiem (TK) 0,290 0,381 0,000
Từ Bảng 1, kết quả hồi quy cho thấy có 3 nhân tố của NHĐT tác động đến việc tiếp cận DVTC của các gia đình gồm: CN, TT và TK Phương trình hồi quy của nghiên cứu được trình bày như sau:
tiepcan = β0 + 0,360CN+ 0,239TT + 0,290TK + e
Tóm lại, kết quả của nghiên cứu này là các giả thuyết H1, H2, H3 đều được chấp nhận Các đặc tính tính thuận tiện, tính tiết kiệm và cập nhật thông tin của
Trang 10NHĐT đều có tác động đến việc tiếp cận DVTC ở vùng nông thôn Giả thuyết H4 bị bác bỏ, kết quả cho thấy rằng, nhân tố rủi ro bảo mật không có tác động đến tiếp cận DVTC
4 Thảo luận kết quả và hàm ý chính sách
4.1 Tính thuận tiện
Kết quả kiểm định cho thấy, tính thuận tiện có mức ý nghĩa Sig = 0,000 < 0,05, VIF = 2,665 Do đó, có cơ sở để chấp nhận giả thuyết H1 Hệ số chuẩn hóa Beta = 0,298 thấp nhất trong 3 nhân tố chấp nhận, bởi vậy mức độ ảnh hưởng của nó là ít nhất
Như vậy, tính thuận tiện của NHĐT càng tăng thì khả năng tiếp cận DVTC của
hộ gia đình đó càng lớn Kết quả này phù hợp với nghiên cứu trước đây của Kuo et al (2007), John Vong et al (2012)
Kết quả định lượng của nghiên cứu này được giải thích là do tại Việt Nam, số lượng chi nhánh các ngân hàng tại các vùng nông thôn còn thấp, mà thế giới ngày càng tiến tới chiếm lĩnh công nghệ số, vì vậy NHĐT đã mang đến nhiều tiện ích vượt trội cho người dùng Tuy nhiên, cũng chính vì đặc điểm của cách thức này là phải vận dụng thành thạo Internet cho nên nhân tố này chưa ảnh hưởng nhiều đến các hộ gia đình nông thôn Việt Nam, mức độ ảnh hưởng của nó là thấp nhất trong ba nhân tố ảnh hưởng
Nghiên cứu này cho thấy, nếu như các tổ chức tài chính muốn thúc đẩy việc sử dụng NHĐT thì cần thiết lập các trang web giáo dục kiến thức tài chính miễn phí, phủ sóng các quảng cáo về lợi ích của NHĐT Cùng với đó, ngân hàng thương mại nên đổi mới, nâng cấp dịch vụ của mình, từ đó mới có thể nâng cao việc tiếp cận DVTC thông qua NHĐT của các hộ gia đình ở vùng nông thôn
4.2 Tính tiết kiệm
Kiểm định mô hình cho thấy, tính tiết kiệm có mối quan hệ theo chiều dương với Khả năng tiếp cận DVTC của hộ gia đình với mức ý nghĩa Sig = 0,000 < 0,05 Kết quả này cũng thống nhất với kết quả của đa số các nghiên cứu trước đó như: Polatoglu
và Ekin (2001); Hogarth et al (2004); Pikkarainen et al (2004); Sathye (1999); Ayana (2014)
Kết quả nghiên cứu này được giải thích bằng thực tế thu nhập của đa số người dân nông thôn Việt Nam còn khá thấp, họ rất quan tâm đến những dịch vụ tiện ích mà
có mức phí rẻ, đồng thời tiết kiệm cả thời gian cho họ Vì vậy, hoàn toàn có cơ sở để khẳng định tính tiết kiệm của NHĐT càng tăng thì khả năng tiếp cận DVTC của người dân nông thôn Việt Nam càng tăng
Do đó, để tăng “tính tiết kiệm” của khách hàng về tiếp cận DVTC thông qua NHĐT thì các tổ chức tài chính cần chú ý cân nhắc đến mức phí của các DVTC Ngoài ra, ngân hàng cũng có thể áp dụng các chương trình khuyến mãi và ưu đãi cho các khách hàng giới thiệu những người khác sử dụng để thu hút nhiều khách hàng sử dụng dịch vụ
4.3 Tính cập nhật