1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUẢN LÝ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM XUÂN THÀNH

94 97 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM XUÂN THÀNH Ngành: Kinh tế Chuyên ngành: Kinh doanh

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

QUẢN LÝ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM TẠI TỔNG CÔNG TY

CỔ PHẦN BẢO HIỂM XUÂN THÀNH

Chuyên ngành: Kinh doanh thương mại

NGUYỄN THỊ BÍCH ANH

Hà Nội - 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

QUẢN LÝ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG

KINH DOANH BẢO HIỂM TẠI TỔNG CÔNG TY

CỔ PHẦN BẢO HIỂM XUÂN THÀNH

Ngành: Kinh tế Chuyên ngành: Kinh doanh thương mại

Mã số: 83.40.121

Họ và tên học viên: Nguyễn Thị Bích Anh Người hướng dẫn: TS Phan Thị Vân

Hà Nội - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn “Quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành” là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu trong luận văn đƣợc sử dụng trung thực Kết quả nghiên cứu đƣợc trình bày trong luận văn này chƣa từng đƣợc công bố tại bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2019

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Bích Anh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Được sự tạo điều kiện của Khoa Sau Đại học – Trường Đại học Ngoại thương

Hà Nội cùng với sự giúp đỡ của TS Phan Thị Vân, tôi đã hoàn thành luận văn:

“Quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Tổng công ty

Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành”

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô đã lên lớp giảng bài, các thầy cô trong Khoa Sau Đại học và đặc biệt là TS Phan Thị Vân đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn và kính chúc sức khỏe các thầy, cô

Cao học viên: Nguyễn Thị Bích Anh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG ANH v

DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN viii

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM 5

1.1 Khái quát chung về hoạt động kinh doanh bảo hiểm 5

1.1.1 Sự ra đời và phát triển của thị trường bảo hiểm 5

1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của hoạt động kinh doanh bảo hiểm 6

1.2 Lý luận chung về rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm 10

1.2.1 Khái niệm 10

1.2.2 Phân loại rủi ro 11

1.3 Lý luận chung về quản lý rủi ro 12

1.3.1 Khái niệm 12

1.3.2 Quy trình quản lý rủi ro 13

1.3.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm 16

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM XUÂN THÀNH 19

2.1 Khái quát về Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành 19

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 19

2.1.2 Cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của mỗi bộ phận 22

Trang 6

2.2 Thực trạng hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Tổng công ty Cổ phần Bảo

hiểm Xuân Thành 28

2.2.1 Các sản phẩm bảo hiểm của công ty 28

2.2.2 Tình hình kinh doanh 29

2.2.3 Tình hình bồi thường 34

2.3 Thực trạng quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành 38

2.3.1 Quy trình khai thác và giám định – bồi thường của Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành 38

2.3.2 Tình hình quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành 45

2.3.3 Đánh giá tình hình quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành 47

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM XUÂN THÀNH 55

3.1 Định hướng, phương hướng phát triển của Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành 55

3.2 Giải pháp đối với công ty 57

3.2.1 Giải pháp trong việc áp dụng quy trình quản lý rủi ro 57

3.2.2 Một số giải pháp khác 73

3.3 Kiến nghị đối với Nhà nước và Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam 74

3.3.1 Đối với Nhà nước 74

3.3.2 Đối với Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam 75

KẾT LUẬN 77

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT Chữ viết tắt Tên đầy đủ

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG ANH Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt

Trang 8

DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ

Hình 1.1 Quy trình quản lý rủi ro 14

Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành 22

Hình 2.2 Doanh thu phí bảo hiểm gốc và phí bảo hiểm nhận tái của Bảo hiểm Xuân Thành các năm 2014-2018 32

Hình 2.3 Doanh thu phí bảo hiểm gốc theo nghiệp vụ của Bảo hiểm Xuân Thành các năm 2014-2018 33

Hình 2.4 Tỷ lệ bồi thường gốc/doanh thu thực thu gốc giai đoạn 2014-2018 của Bảo hiểm Xuân Thành 35

Hình 2.5 Tỷ lệ bồi thường nhận tái/doanh thu thực thu phí nhận tái giai đoạn 2014-2018 của Bảo hiểm Xuân Thành 36

Hình 2.6 Quy trình khai thác của Bảo hiểm Xuân Thành 39

Hình 2.7 Quy trình giám định – bồi thường chung của Bảo hiểm Xuân Thành 41

Hình 3.1 Mô hình 3 vòng bảo vệ 70

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Cơ cấu góp vốn của Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành 20

Bảng 2.2 Các sản phẩm bảo hiểm chính của Bảo hiểm Xuân Thành 29

Bảng 2.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành giai đoạn 2014-2018 30

Bảng 2.4 Chi bồi thường của Bảo hiểm Xuân Thành các năm 2014-2018 34

Bảng 2.5 Tỷ lệ bồi thường gốc/doanh thu thực thu của Bảo hiểm Xuân Thành giai đoạn 2014-2018 37

Bảng 3.1 Nhận diện và đánh giá rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành 59

Bảng 3.2 Ma trận rủi ro (Risks matrix) 63

Bảng 3.3 Phân loại mức độ nghiêm trọng của rủi ro 64

Bảng 3.4 Phương án đối phó với các rủi ro của Bảo hiểm Xuân Thành 65

Trang 10

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN

Dưới đây là những kết quả mà tác giả đã đạt được sau khi nghiên cứu đề tài

“Quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành”

Thứ nhất, luận văn đã tổng hợp và khái quát được các cơ sở lý luận về hoạt động kinh doanh bảo hiểm, rủi ro và quản lý rủi ro: các khái niệm và đặc điểm của hoạt động kinh doanh bảo hiểm; định nghĩa và phân loại rủi ro; định nghĩa và quy trình quản lý rủi ro Tác giả đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm, đó là: 4 nhân tố chủ quan bao gồm: tổ chức bộ máy quản lý, trình độ chuyên môn của cán bộ nhân viên, trình độ quản lý của các cấp lãnh đạo, nhận thức của nhà quản lý và quy mô của doanh nghiệp bảo hiểm lớn hay nhỏ; 4 nhân tố khách quan bao gồm: các quy định của Nhà nước, sự phát triển của thị trường bảo hiểm, hành vi trục lợi bảo hiểm và việc lựa chọn hệ thống phân phối và

tổ chức kênh phân phối cho phù hợp với từng loại khách hàng

Thứ hai, luận văn đã đi sâu vào phân tích tình hình kinh doanh hoạt động bảo hiểm của Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành 5 năm gần đây, từ đó đưa ra những kết quả đạt được và những mặt còn hạn chế trong hoạt động quản lý rủi ro của công ty và phân tích nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan của những hạn chế đó

Thứ ba, dựa trên quy trình quản lý rủi ro nghiên cứu ở chương 1, tác giả đề xuất áp dụng quy trình quản lý rủi ro gồm 5 bước: nhận diện và phân tích rủi ro, đánh giá và đo lường rủi ro, ứng phó rủi ro, các hoạt động kiểm soát, giám sát và báo cáo nhằm thúc đẩy hoạt động quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành Trong đó, tác giả phân tích, đánh giá, đo lường các rủi ro mà công ty hay gặp phải và đưa ra các giải pháp nhằm ứng phó rủi ro cho từng rủi ro cụ thể mà tác giả đã chỉ ra Tác giả còn đưa thêm một

số giải pháp khác nhằm thúc đẩy hoạt động quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành như: xây dựng mục tiêu và chiến lược quản lý rủi ro, chú trọng vai trò của công tác định phí bằng

Trang 11

cách tuyển dụng một chuyên gia tính toán để tính phí bảo hiểm cho bảo hiểm gốc cũng như nhận tái bảo hiểm, tính dự phòng bồi thường nhằm đảm bảo khả năng thanh toán của công ty; chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ và áp dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý Ngoài ra, tác giả còn đưa ra một số kiến nghị và đề xuất cho các cơ quan quản lý Nhà nước và Hiệp hội Bảo hiểm trong việc thúc đẩy mối quan hệ giữa các công ty bảo hiểm, xây dựng thị trường bảo hiểm Việt Nam cạnh tranh lành mạnh và xây dựng hệ thống dữ liệu chung về trục lợi bảo hiểm nhằm thúc đẩy hoạt động quản lý rủi ro của thị trường bảo hiểm Việt Nam nói chung cũng như Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành nói riêng

Với những kết quả nghiên cứu trên cùng với sự tổng hợp từ một số nguồn tài liệu tham khảo đã nghiên cứu trước, hy vọng luận văn giúp người đọc có cái nhìn chi tiết và thấu đáo hơn về hoạt động quản lý rủi ro tại Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành và mong rằng luận văn đóng góp một phần vào việc thúc đẩy hoạt động quản lý rủi ro của công ty

Trang 12

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong sản xuất, con người luôn có nguy

cơ đối mặt với những rủi ro như: hạn hán, bão lụt, tai nạn, ốm đau, bệnh tật … do nhiều nguyên nhân khác nhau Mỗi khi rủi ro xảy ra thường gây ra những hậu quả khó lường, không chỉ là những thiệt hại về tài sản, vật chất, mà còn thiệt hại về tính mạng và sức khỏe con người Ngày nay, nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật, hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng được mở rộng và làm gia tăng giá trị của cải xã hội Tuy nhiên, điều đó cũng đồng nghĩa với nguy cơ gặp phải rủi ro của con người cũng ngày càng nghiêm trọng hơn, đòi hỏi con người phải có những biện pháp thích hợp để đối phó với các rủi ro Do đó, con người luôn tìm cách bảo vệ bản thân và tài sản của họ trước những biến cố bất ngờ có thể xảy ra

Hình thái bảo vệ đầu tiên là tích lũy, dự trữ để bù đắp khi có tổn thất Tuy nhiên, việc dự trữ trên thực tế đã không đáp ứng được yêu cầu bù đắp đối với những tổn thất quá lớn mang tính chất thảm họa Điều này đòi hỏi sự ra đời của các tổ chức bảo hiểm nhằm xây dựng quỹ bồi thường đủ lớn Từ đó, ngành bảo hiểm đã ra đời

và bảo hiểm hàng hải là hình thái bảo hiểm đầu tiên được ghi nhận xuất hiện đầu tiên tại Anh Quốc khi đội tàu buôn chở hàng thường xuyên gặp rủi ro trên biển Sau

đó là sự ra đời của bảo hiểm tài sản, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm xã hội, … Bảo hiểm ngày càng phát triển và đóng vai trò không thể thiếu trong cuộc sống của con người

Thị trường bảo hiểm thế giới được hình thành rất sớm và diễn ra vô cùng sôi nổi nhưng đến năm 1965 thị trường bảo hiểm Việt Nam mới chỉ có sự hiện diện của Bảo Việt Theo Bản tin Thị trường bảo hiểm toàn cầu của Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm – Bộ Tài chính, tính đến nay, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có 64 doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm (trong đó có 30 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, 18 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, 02 doanh nghiệp tái bảo hiểm và 14 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm) và 01 chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài Khó khăn của nền kinh tế trong nước những năm gần đây đòi hỏi các

Trang 13

doanh nghiệp phải thiết lập và vận hành hệ thống quản lý rủi ro một cách hiệu quả

Do đó, quản lý rủi ro là nội dung cốt lõi trong quản trị doanh nghiệp và là xu hướng phát triển trong nền kinh tế biến động hiện nay Các công ty bảo hiểm phi nhân thọ cũng không nằm ngoài xu thế đó và đang trải qua thời kỳ khó khăn do sự cạnh tranh khốc liệt của các doanh nghiệp bảo hiểm về phí bảo hiểm, chi phí tái bảo hiểm ngày càng tăng sau những thiên tai xảy ra vào năm ngoái tại châu Á

Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành được thành lập từ năm 2009, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công ty vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế và khó khăn trong công tác quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm thể hiện qua tỷ lệ chị bồi thường xe cơ giới vẫn còn cao, chưa chú trọng đến khai thác các nghiệp vụ có tỷ lệ bồi thường thấp như bảo hiểm hàng hóa, bảo hiểm tài sản, bảo hiểm kỹ thuật, tỷ lệ bồi thường nhận tái vẫn còn rất cao Công tác quản lý rủi ro của công ty vẫn chưa được chú trọng, chưa xây dựng được một quy trình quản lý rủi

ro cụ thể cho công ty Chính vì vậy, là một cán bộ đang công tác tại Bảo hiểm Xuân

Thành và mong muốn đóng góp vào phát triển công ty, tác giả đã chọn “Quản lý

rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành” làm đề tài nghiên cứu cho Luận văn Thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Đã có một số luận văn cử nhân và thạc sĩ nghiên cứu hoạt động quản lý rủi ro cho một loại hình bảo hiểm cụ thể và toàn bộ hoạt động kinh doanh của một số

doanh nghiệp bảo hiểm cụ thể Luận văn “Quản trị rủi ro trong hoạt động kinh

doanh bảo hiểm xe cơ giới tại Công ty Bảo hiểm PJICO Gia Lai” của Th.S Tô

Thanh Liêm nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh quản trị rủi ro cho một loại hình bảo hiểm cụ thể của công ty Bảo hiểm PJICO Gia lai là bảo hiểm xe

cơ giới Luận văn “Quản trị rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm của Công ty Bảo

hiểm Viễn Đông đến năm 2020” nghiên cứu và đưa ra một số giải pháp quản trị rủi

ro cho toàn bộ hoạt động kinh doanh bảo hiểm của Công ty Bảo hiểm Viễn Đông

Luận văn “Quản trị rủi ro trong kinh doanh tái bảo hiểm tại Việt Nam” của Th.S

Nguyễn Tuấn Hoàng nghiên cứu công tác quản lý rủi ro trong hoạt động tái bảo

Trang 14

hiểm tại một số doanh nghiệp bảo hiểm lớn như PJICO, PVI và đề xuất các giải

pháp nhằm đẩy mạnh quản lý rủi ro cho thị trường Việt Nam Tuy nhiên, các luận

văn chỉ mới đưa ra một số giải pháp chung, chưa có mô hình hay quy trình quản lý rủi ro cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành vẫn chưa xây dựng được một quy trình quản lý rủi ro cụ thể nên qua luận văn này tác giả muốn đưa ra một quy trình

cụ thể cho hoạt động quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành dựa trên tình trạng kinh doanh và tình hình thực tế của công ty

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm

- Nghiên cứu cụ thể thực trạng quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành

- Đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về hoạt động quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành

Trang 15

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu hoạt động quản lý rủi ro của Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành, đưa ra quy trình quản lý rủi ro cụ thể dựa trên thực trạng kinh doanh và quản lý rủi ro của công ty và đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, các phương pháp khoa học thống kê, so sánh, đối chiếu, diễn giải trên tinh thần lý luận kết hợp với thực tiễn Chương 1 luận văn sử dụng phương pháp tổng hợp các lý luận về hoạt động kinh doanh bảo hiểm, rủi ro và quy trình quản lý rủi ro Chương 2 luận văn sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, đối chiếu, diễn giải các số liệu kinh doanh, số liệu bồi thường phản ánh tình hình kinh doanh bảo hiểm của Bảo hiểm Xuân Thành Dựa trên tình hình thực tế triển khai công tác quản lý rủi ro của công

ty đưa ra thực trạng quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại công ty Đưa ra những mặt đã đạt được, các mặt còn hạn chế và phân tích nguyên nhân của những hạn chế đó Chương 3 luận văn sử dụng quy trình quản lý rủi ro đã nêu trong chương 1 kết hợp với thực tiễn hoạt động quản lý rủi ro của Bảo hiểm Xuân Thành nhằm xây dựng một quy trình quản lý rủi ro cụ thể cho công ty bằng cách tổng hợp

và hệ thống hóa các rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm mà công ty đã gặp phải và có thể xảy ra với hoạt động kinh doanh và đưa ra các giải pháp cho từng loại rủi ro

6 Kết cấu của luận văn

Luận văn kết cấu gồm 3 chương:

- Chương 1: Lý luận chung về quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm

- Chương 2: Thực trạng quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành

- Chương 3: Giải pháp nhằm tăng cường quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành

Trang 16

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM

1.1 Khái quát chung về hoạt động kinh doanh bảo hiểm

1.1.1 Sự ra đời và phát triển của thị trường bảo hiểm

Ngày nay, bảo hiểm đã trở thành một khái niệm phổ biến đối với chúng ta Ngành bảo hiểm đã phát triển và trở thành một trong những ngành dịch vụ có bước tiến đáng kể cả về quy mô, tốc độ và phạm vi hoạt động Đặc biệt, ở một số nước như Mỹ, các nước EU, bảo hiểm đã trở thành một phần không thể thiếu trong kinh doanh cũng như trong cuộc sống nói chung Vậy bảo hiểm có nguồn gốc từ đâu? Bảo hiểm có nguồn gốc từ rất xa xưa và gắn liền với lịch sử phát triển của loài người Tuy nhiên, bảo hiểm xuất hiện từ bao giờ thì vẫn chưa có câu trả lời chính xác Ban đầu, con người cầu xin chúa trời và các đấng thần linh phù hộ cho họ có được cuộc sống yên ổn và an toàn, tuy nhiên phương pháp bảo vệ này còn mang đậm màu sắc tín ngưỡng Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những vết tích chứng minh sự tồn tại của các tổ chức cứu hộ tương hỗ đối với các thợ tạc đá Ai Cập cổ đại từ 4.500 năm trước công nguyên Hay người Ba-Bi-Lon đã đưa ra những quy tắc trong việc tổ chức các phương tiện vận tải bằng xe kéo và đặc biệt đã quy định phân chia các thiệt hại do mất cắp và bị cướp cho các thương gia cùng gánh chịu

Lợi nhuận hấp dẫn từ đại dương đã thúc đẩy các đội tàu buôn ra đi, tìm đến những vùng đất mới và trở về với nguồn hàng dồi dào và giá cả hấp dẫn Những chuyến đi ấy mang lại sự giàu có cho các thương nhân nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi

ro khi đại dương nổi giận Vào thế kỷ XIV, tại Genoa và Venice tỉnh Lombary nước Italia, người ta đã tìm thấy các hợp đồng bảo hiểm hàng hải đầu tiên ký kết giữa các thương gia, các chủ tàu với các nhà bảo hiểm mà theo đó người bảo hiểm cam kết với người được bảo hiểm sẽ bồi thường những thiệt hại về tài sản mà người được bảo hiểm phải gánh chịu khi có tổn thất xảy ra trên biển, đồng thời người bảo hiểm

sẽ nhận được một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm Vào khoảng thế kỷ XV, khi Châu

Âu mở các cuộc thám hiểm, khai phá những miền đất mới ở Châu Á và cùng với việc phát hiện ra Ấn Độ Dương và Châu Mỹ, ngành hàng hải nói chung và bảo hiểm

Trang 17

hàng hải nói riêng đã phát triển rất nhanh Sau bảo hiểm hàng hải là sự xuất hiện của bảo hiểm hỏa hoạn, đánh dấu bằng vụ cháy thảm khốc ở Luân Đôn nước Anh ngày 02/09/1666 hủy diệt 13.000 căn nhà trong đó có hơn 100 nhà thờ đã để lại thiệt hại quá lớn Sau đó, những nhà kinh doanh ở nước Anh đã nghĩ ra cộng đồng chia sẻ rủi ro hỏa hoạn bằng cách đứng ra thành lập những Công ty bảo hiểm hỏa hoạn như: Fire Office, Friendly Society, Hand and Hand, Lom Bard House…

Bảo hiểm hình thành do sự tồn tại khách quan của các loại rủi ro và nhu cầu an toàn của con người là vĩnh cửu, đòi hỏi con người phải luôn có những biện pháp đề phòng, ngăn chặn rủi ro xảy ra, đồng thời hạn chế, khắc phục những hậu quả do rủi

ro gây ra Bắt đầu từ bảo hiểm hàng hải, rồi tới bảo hiểm hỏa hoạn và sau đó là các loại hình bảo hiểm khác như: bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm tai nạn Bảo hiểm ngày càng phát triển trên nhiều mặt và dần dần đóng vai trò không thể thiếu trong cuộc sống của con người

1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của hoạt động kinh doanh bảo hiểm

1.1.2.1 Khái niệm

Mặc dù bảo hiểm có nguồn gốc và lịch sử phát triển khá lâu đời, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất nào về bảo hiểm Có rất nhiều khái niệm khác nhau về bảo hiểm

“Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít” (Dennis Kessler, Risque No 17, Jan-Mars 1994)

“Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc để cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp thống kê” (Monique Gaultier, Généralité sur l’assurance, Projet d’assur, L’école supérieur des Finances et la Comptabilité de Hanoi – FFSA, Hanoi – 1994)

Trang 18

“Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này, một người, một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho công ty bảo hiểm, công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm” (Tập đoàn bảo hiểm AIG của Mỹ)

“Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm” (Luật Kinh doanh bảo hiểm Việt Nam 2000)

Dựa trên các định nghĩa trên, chúng ta có thể đưa ra định nghĩa: Bảo hiểm là một sự cam kết bồi thường của người bảo hiểm đối với người được bảo hiểm về những thiệt hại, mất mát xảy ra với đối tượng bảo hiểm do rủi ro được bảo hiểm gây

ra, với điều kiện người được bảo hiểm đã mua bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm đó

và nộp một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm

1.1.2.2 Đặc điểm của hoạt động kinh doanh bảo hiểm

Các doanh nghiệp bảo hiểm là chủ thể thực hiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm Doanh nghiệp bảo hiểm lập ra các quỹ bảo hiểm từ nguồn thu phí bảo hiểm của người mua bảo hiểm, quản lý và sử dụng quỹ bảo hiểm để chi trả hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra Kinh doanh bảo hiểm được thiếp lập trên cơ sở ký kết hợp đồng giữa doanh nghiệp bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm Các bên có thể trực tiếp thiết lập quan hệ với nhau hoặc thông qua các chủ thể khác như đại lý bảo hiểm và các doanh nghiệp môi giới bảo hiểm để giúp cho các bên thiết lập mối quan hệ

Kinh doanh bảo hiểm thường gắn liền với hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm Kinh doanh tái bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lời, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm nhận một khoản phí bảo hiểm khác để cam kết bồi thường cho các trách nhiệm đã nhận bảo hiểm Hai loại hình kinh doanh này tồn tại song song trong một doanh nghiệp bảo hiểm Ngoài mục đích sinh lời, kinh

Trang 19

doanh tái bảo hiểm còn giúp doanh nghiệp bảo hiểm mở rộng quan hệ với các doanh nghiệp bảo hiểm khác, tranh thủ nguồn vốn, học hỏi kinh nghiệm, nắm thêm thông tin, hỗ trợ đào tạo cán bộ Hơn thế nữa, chính các doanh nghiệp bảo hiểm còn phải thực hiện tái bảo hiểm để đảm bảo ổn định kinh doanh, tránh phá sản khi xảy

ra các tổn thất quá lớn Hoạt động tái bảo hiểm tồn tại song song và có vai trò vô cùng lớn đối với các doanh nghiệp bảo hiểm

Mục đích kinh tế cũng như mục đích chính mà các doanh nghiệp bảo hiểm hướng tới là lợi nhuận Lợi nhuận của doanh nghiệp bảo hiểm được tạo ra từ phần chênh lệch giữa số phí bảo hiểm thu được từ người mua bảo hiểm với số tiền bảo hiểm trả cho người thụ hưởng hoặc số tiền bồi thường mà doanh nghiệp bảo hiểm phải trả cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm thuộc phạm vi bảo hiểm và số lãi thu được từ hoạt động đầu tư tài chính bằng nguồn phí thu được còn nhàn rỗi

Đối tượng kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm là sản phẩm đặc biệt gắn liền với yếu tố rủi ro, hay nói một cách khác kinh doanh bảo hiểm chính là kinh doanh rủi ro Sản phẩm bảo hiểm bao gồm bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm

và bảo hiểm con người Xét về tính chất kinh doanh thì kinh doanh bảo hiểm thuộc loại hình kinh doanh dịch vụ, cụ thể là dịch vụ tài chính Sản phẩm kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm là sản phẩm vô hình, là sự bảo đảm về mặt tài chính cho người được bảo hiểm trước rủi ro Người tham gia bảo hiểm nộp phí cho công ty bảo hiểm để đổi lấy cam kết hay lời hứa sẽ trả tiền bảo hiểm khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra

Chu trình kinh doanh bảo hiểm là một chu trình đảo ngược, sản phẩm bảo hiểm được bán ra trước, phát sinh doanh thu sau đó mới phát sinh chi phí Chính đặc điểm này đã tạo ra nguồn vốn bảo hiểm nhàn rỗi trong những thời gian nhất định Ngoài ra, theo quy định của pháp luật, để thành lập một công ty bảo hiểm, yêu cầu phải có vốn pháp định rất lớn để đảm bảo khả năng chi trả bồi thường, theo pháp luật Việt Nam vốn pháp định đối với doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tối thiểu là 300 tỷ đồng, đối với doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ là 600 tỷ đồng Các

Trang 20

doanh nghiệp bảo hiểm có thể sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi này để đầu tư sinh lời nhằm tăng khả năng tài chính cho chi trả bồi thường và tăng thu nhập cho doanh nghiệp Do đó, hoạt động đầu tư tài chính là một hoạt động không thể tách rời đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm

Bảo hiểm vừa mang tính bồi hoàn vừa không mang tính bồi hoàn Nghĩa là trong thời gian bảo hiểm, nếu có các sự kiện bảo hiểm xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường, còn nếu không có sự kiện bảo hiểm xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm không phải trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường Kinh doanh bảo hiểm là kinh doanh rủi ro, mà rủi ro thì mang tính bất ngờ và không lường trước được cả về không gian, thời gian và quy mô nên các doanh nghiệp bảo hiểm phải xây dựng các quỹ dự phòng để đảm bảo khả năng tài chính của công ty và thực hiện cạm kết của mình đối với người tham gia bảo hiểm Quỹ

dự phòng này có thể sử dụng để tham gia đầu tư nhưng phải đảm bảo tính thanh khoản cao

Số tiền bảo hiểm của một hợp đồng bảo hiểm thường rất lớn, lớn hơn rất nhiều lần số phí mà người tham gia bảo hiểm phải trả cho doanh nghiệp bảo hiểm Do đó,

để đảm bảo và ổn định nguồn tài chính cho việc bù đắp tổn thất thì các doanh nghiệp bảo hiểm cần phải thực hiện tốt nguyên tắc lấy số đông bù cho số ít Đối với các trường hợp có giá trị bảo hiểm lớn hoặc đối tượng bảo hiểm có nguy cơ xảy ra tổn thất cao thì các doanh nghiệp bảo hiểm cần thực hiện các biện pháp phân tán rủi

ro như đồng bảo hiểm (ĐBH), tái bảo hiểm (TBH) Ngoài ra, để giảm bớt chi phí bồi thường, các doanh nghiệp bảo hiểm phải tăng cường các biện pháp đề phòng, ngăn ngừa và hạn chế tổn thất

Vấn đề an toàn tài chính cho người tham gia bảo hiểm luôn được đặt lên hàng đầu nên hoạt động kinh doanh bảo hiểm chịu sự quản lý chặt chẽ của nhà nước, cụ thể là Bộ Tài chính và được điều chỉnh bằng luật kinh doanh bảo hiểm và các văn bản pháp luật khác có liên quan

Trang 21

1.2 Lý luận chung về rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm

1.2.1 Khái niệm

 Có khá nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro:

˗ Rủi ro là khả năng xảy ra sự cố không may

˗ Theo từ điển Oxford, rủi ro là khả năng của một tình huống hoặc một điều gì

đó, có thể trở thành nguy hiểm hay có hậu quả tồi tệ ở một thời điểm nào đó trong tương lai

˗ Theo từ điển Tiếng Việt, rủi ro là sự việc hay tình huống có thể phát sinh tai họa trong thời gian gần nhất

˗ Theo toán học, rủi ro là sự kết hợp giữa mức độ nguy hiểm và tần suất xảy ra hoặc có thể xảy ra

˗ Theo kinh tế học, rủi ro là toàn bộ biến cố ngẫu nhiên tiêu cực tác động lên quá trình đầu tư hoặc kinh doanh làm thay đổi kết quả theo chiều hướng bất lợi

Tóm lại, rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm là những sự kiện bất ngờ xảy ra

trong tương lai và không được như mong muốn, khi các sự kiện này xảy ra sẽ gây nên mất mát hoặc thiệt hại cho một chủ thể nào đó

 Các khái niệm liên quan tới rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm:

˗ Nguy cơ rủi ro: là những đe dọa nguy hiểm có thể xảy ra những tình huống tạo nên rủi ro bất kỳ lúc nào Như vậy, nguy cơ rủi ro là những biến cố chưa xảy ra

˗ Tổn thất: là những thiệt hại, mất mát về con người hay tài sản do nguyên nhân

từ rủi ro gây ra Mối quan hệ giữa rủi ro và tổn thất là mối quan hệ nhân quả, rủi ro

là những sự kiện bất ngờ xảy ra còn tổn thất là hậu quả, mất mát, thiệt hại do rủi ro gây ra

˗ Chi phí rủi ro: là toàn bộ những thiệt hại, mất mát về con người và tài sản trong việc phòng ngừa, hạn chế rủi ro, bồi thường tổn thất được quy thành tiền Chi phí rủi ro được chia thành chi phí hữu hình và chi phí vô hình Chi phí hữu hình là chi phí phải trả cho việc phòng ngừa, khoanh lại, bồi thường tổn thất và phục hồi

Trang 22

sản xuất, thị trường Chi phí vô hình là lợi nhuận mất hưởng, mất thời cơ, mất uy tín, mất khách hàng, mất thị trường, … Những chi phí này có khi lớn gấp nhiều lần chi phí hữu hình

˗ Mức độ rủi ro: rủi ro xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau và mức độ tổn thất cũng khác nhau Khi nói đến mức độ rủi ro là nói đến hai khái niệm liên quan tới tần suất và mức độ nghiêm trọng

1.2.2 Phân loại rủi ro

 Căn cứ vào tính chất của rủi ro, có thể chia thành:

˗ Rủi ro thuần túy: là rủi ro chỉ mang lại hậu quả xấu, mất mát, thiệt hại Ví dụ: Bão lụt, mưa đá, động đất, sóng thần, …

˗ Rủi ro đầu cơ: là rủi ro có thể mang lại hậu quả xấu hoặc có thể mang lại khả năng tăng lợi ích Ví dụ: Sự biến động giá cổ phiếu, giá vàng, …

 Căn cứ vào phạm vi tác động, có thể chia thành:

˗ Rủi ro cơ bản: là những rủi ro phát sinh từ nguyên nhân ngoài tầm kiểm soát của con người Hậu quả của rủi ro cơ bản thường rất nghiêm trọng, khó lường, có ảnh hưởng tới cộng đồng và toàn xã hội Ví dụ: Thiên tai, động đất, sóng thần ở Nhật Bản

˗ Rủi ro riêng biệt: là loại rủi ro xuất phát từ các biến cố chủ quan và khách quan của từng cá nhân, tổ chức Loại rủi ro này chỉ ảnh hưởng đến lợi ích của từng

cá nhân hoặc tổ chức Ví dụ: Kho hàng của một doanh nghiệp bị cháy

 Căn cứ về mặt giá trị, rủi ro được chia thành:

˗ Rủi ro tài chính: là rủi ro mà hậu quả của nó có thể tính được bằng tiền Ví dụ: Một căn nhà bị cháy, cả căn nhà cháy hết, rủi ro tài chính là giá trị căn nhà và giá trị tài sản trong nhà bị cháy

˗ Rủi ro phi tài chính: là rủi ro gây ảnh hưởng chủ yếu về mặt tinh thần, không tính được bằng tiền Ví dụ: Một căn nhà bị cháy, rủi ro phi tài chính là sự chán chường, buồn bã của những người trong ngôi nhà đó

Trang 23

 Căn cứ theo bảo hiểm, có thể chia thành:

˗ Rủi ro được bảo hiểm: là những rủi ro về thiên tai, tai nạn, sự cố bất ngờ được doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm Nếu những rủi ro này xảy ra sẽ gây thiệt hại cho đối tượng được bảo hiểm và làm phát sinh trách nhiệm bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm Rủi ro được bảo hiểm có thể bao gồm: rủi ro tài chính, rủi ro thuần tuý, rủi ro riêng Rủi ro được bảo hiểm thường được nêu trong quy tắc bảo hiểm hoặc điều khoản bảo hiểm hoặc hợp đồng bảo hiểm Nhưng trong nhiều trường hợp, đơn bảo hiểm chỉ liệt kê những rủi ro bị loại trừ, những rủi ro không bị loại trừ mặc nhiên là những rủi ro được bảo hiểm

˗ Rủi ro không được bảo hiểm: là những rủi ro công ty bảo hiểm không chấp nhận bảo hiểm

1.3 Lý luận chung về quản lý rủi ro

1.3.1 Khái niệm

Rủi ro luôn tồn tại khách quan và song hành cùng với quá trình kinh doanh của doanh nghiệp nên quản lý rủi ro là một nội dung có vai trò vô cùng quan trọng

và không thể thiếu đối với một doanh nghiệp

Theo Enterprise risk managament – Integrated framework – Executive summary (tháng 9/2004), quản lý rủi ro doanh nghiệp được định nghĩa là:

- Một quá trình diễn ra liên tục trong một doanh nghiệp

- Được thực hiện bởi những người ở mọi cấp bậc của một tổ chức

- Được áp dụng trong thiết lập chiến lược của doanh nghiệp

- Được áp dụng trên toàn doanh nghiệp, ở mọi cấp độ và đơn vị

- Được xây dựng để xác định các vấn đề tiềm tàng, nếu xảy ra có thể ảnh hưởng đến doanh nghiệp

- Có khả năng cung cấp sự đảm bảo hợp lý nhằm quản lý doanh nghiệp cho một

tổ chức

Trang 24

- Nhằm đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp trong một hoặc nhiều mục riêng mà không bị chồng chéo lên nhau

Như vậy, quản lý rủi ro là quá trình bao gồm các hoạt động nhằm hạn chế,

loại bỏ các rủi ro hoặc khắc phục các hậu quả do rủi ro gây ra đối với hoạt động kinh doanh, từ đó tạo điều kiện cho việc sử dụng tối ưu các nguồn lực của doanh nghiệp, giảm đến mức thấp nhất các thiệt hại về người và tài sản Trong kinh doanh

bảo hiểm, quản lý rủi ro được hiểu là quá trình xác định các nguy cơ tiềm ẩn và khả năng xảy ra các nguy cơ đó, từ đó có sự chuẩn bị các phương án thích hợp để hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất

Để loại trừ hoặc giảm thiểu mức độ rủi ro, có thể sử dụng các phương án ứng phó rủi ro như: né tránh rủi ro, ngăn ngừa và hạn chế rủi ro, tự khắc phục rủi ro và chuyển giao rủi ro

Quản lý rủi ro đảm bảo thực hiện được mục tiêu của doanh nghiệp trong kinh doanh là có lợi nhuận, đảm bảo an toàn tài chính và tăng trưởng trong kinh doanh Quản lý rủi ro tốt giúp doanh nghiệp hạn chế các nguy cơ rủi ro xảy ra trong hoạt động kinh doanh, từ đó hạn chế rủi ro trong kinh doanh, giúp giảm bớt các chi phí liên quan đến rủi ro, giảm chi phí kinh doanh, ổn định tài chính, đảm bảo thu nhập của cán bộ nhân viên Quản lý rủi ro tốt giúp doanh nghiệp thực hiện nghiêm chỉnh các cam kết với khách hàng, tạo được uy tín đối với khách hàng, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường

1.3.2 Quy trình quản lý rủi ro

Quản lý rủi ro nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra Quy trình quản lý rủi ro là một quy trình tuần hoàn, được bắt đầu từ nhận diện rủi ro và có thể dẫn đến nhận diện ra một rủi ro mới Doanh nghiệp cần một quy trình thích hợp nhằm quản lý rủi

ro một cách hiệu quả Quy trình quản lý rủi ro gồm 5 bước và có tính liên tục

Trang 25

Nguồn: George E Rejda: Principles of Risk Management and Insurance

Hình 1.1 Quy trình quản lý rủi ro Bước 1: Nhận diện và phân tích rủi ro

Phát hiện các sự kiện có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp, phân chia cấp độ rủi ro và phân nhóm rủi ro để quản lý

Bước 2: Đánh giá và đo lường rủi ro

Đánh giá khả năng xảy ra và mức độ ảnh hưởng của các rủi ro, xem xét các biện pháp kiểm soát rủi ro Xếp hạng các rủi ro để xác định mức độ ưu tiên quản lý dựa trên bộ tiêu chí đo lường được lượng hóa gắn với giá trị cụ thể cho khả năng xảy ra của rủi ro và mức độn ảnh hưởng của rủi ro Từ đó xác định mức độ chấp nhận rủi ro của doanh nghiệp cho từng loại rủi ro

Bước 3: Ứng phó rủi ro

Xác định các biện pháp, xây dựng các kế hoạch hành động và giám sát cụ thể nhằm giảm rủi ro xuống mức có thể chấp nhận được Các phương án ứng phó rủi ro

Trang 26

tương ứng với mức độ rủi ro và chi phí của từng phương án ứng phó Có 4 phương

án ứng phó rủi ro:

- Né tránh rủi ro là việc quyết định không làm một việc gì đó quá mạo hiểm, không chắc chắn Né tránh rủi ro là loại bỏ khả năng bị thiệt hại, là việc không chấp nhận dự án có độ rủi ro quá lớn Biện pháp này được áp dụng trong trường hợp khả năng bị thiệt hại cao và mức độ thiệt hại lớn Né tránh rủi ro có thể được thực hiện ngay từ giai đoạn đầu của chu kỳ dự án Nếu rủi ro dự án cao thì loại bỏ ngay từ đầu

- Ngăn ngừa, hạn chế khả năng xảy ra rủi ro và/hoặc giảm mức độ tác động của rủi ro và hậu quả của nó Ví dụ như sử dụng các thiết bị an toàn và đào tạo về an toàn cháy nổ, sử dụng hệ thống bảo vệ chống trộm cắp, …

- Tự khắc phục rủi ro, nghĩa là các công ty, cá nhân dự trữ một khoản tiền nhất định để khi có rủi ro xảy ra thì dùng khoản tiền đó để bù đắp, khắc phục hậu quả

- Chuyển giao rủi ro nghĩa là một công ty, cá nhân sẽ tìm cách chuyển giao rủi

ro cho các công ty khác

Lựa chọn các phương án ứng phó rủi ro linh hoạt, trong một số trường hợp có thể sử dụng kết hợp nhiều phương án ứng phó rủi ro để đạt được hiệu quả cao nhất

Bước 4: Các hoạt động kiểm soát

Thực hiện các quy trình, biện pháp để kiểm soát và ứng phó với rủi ro:

- Kiểm soát phòng ngừa: các biện pháp xử lý để ngăn chặn các lỗi, sự cố, từ đó

có các biện pháp ứng phó phù hợp

- Kiểm soát phát hiện: giám sát hoạt động/quy trình để xác định các biện pháp kiểm soát phòng ngừa còn thiếu sót và lỗi, sự cố hay hành động/giao dịch, từ đó có biện pháp đối phó phù hợp

- Kiểm soát khắc phục: các biện pháp xử lý để khôi phục về trạng thái ban đầu hoặc giảm hậu quả, thiệt hại của các lỗi, sự cố đã xảy ra

Trang 27

Bước 5: Giám sát và báo cáo – giám sát và báo cáo hoạt động quản lý rủi

ro và những thay đổi có thể ảnh hưởng đến hệ thống quản lý rủi ro doanh nghiệp

Quy trình giám sát và báo cáo được thực hiện nhằm đánh giá tính hiệu quả và

sự phù hợp của khung quản lý rủi ro doanh nghiệp Bằng cách thường xuyên giám sát rủi ro và đánh giá hiệu quả việc xử lý rủi ro, doanh nghiệp có thể điều chỉnh chương trình quản lý rủi ro phù hợp với tình hình cụ thể Giám sát các rủi ro hiện tại, các rủi ro mới xuất hiện thông qua các chỉ số rủi ro chính KRI (Key Risk Indicator, là một chỉ số dự báo về các rủi ro hiện tại hoặc tương lai có thể quan sát hay đo lường được) Báo cáo các bên liên quan về quy trình quản lý rủi ro, gồm:

- Đánh giá hiệu quả hoạt động kiểm soát (có thực hiện đúng không);

- Đánh giá hiệu quả của khung quản lý rủi ro doanh nghiệp;

- Các rủi ro còn lại sau khi đã áp dụng các giải pháp ứng phó

1.3.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý rủi ro trong kinh doanh bảo hiểm

1.3.3.1 Nhân tố chủ quan

- Tổ chức bộ máy không hoặc chưa hợp lý, năng lực quản lý yếu kém, khả năng thích ứng với sự thay đổi còn hạn chế, … làm cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm không được hiệu quả Những doanh nghiệp này sẽ gặp nhiều khó khăn trong cạnh tranh, thị phần thấp, khả năng thanh toán yếu, …

- Trình độ chuyên môn của cán bộ nhân viên, trình độ quản lý của các cấp lãnh đạo: Cán bộ khai thác hay đại lý bảo hiểm có trình độ chuyên môn tốt có thể đánh giá và lựa chọn những đối tượng bảo hiểm có rủi ro tốt, khả năng xảy ra tổn thất thấp, từ đó sẽ giảm được chi phí bồi thường Các chuyên viên giám định có trình độ chuyên môn cao giải quyết khiếu nại một cách kịp thời, nhanh chóng, chính xác, tạo được lòng tin đối với khách hàng và giảm thiểu chi phí giám định…

- Nhận thức của nhà quản lý: Doanh nghiệp bảo hiểm thành công hay thất bại phụ thuộc rất nhiều vào người đứng đầu doanh nghiệp cũng như người đứng đầu các đơn vị thành viên, họ chính là những nhà quản lý của doanh nghiệp Nếu mỗi

Trang 28

đơn vị quản lý rủi ro tốt thì toàn tổng công ty sẽ tốt Một nhà quản lý tốt phải đảm bảo các kỹ năng về kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ và về quan hệ Nhà quản lý phải phân tích và chuẩn đoán được nguyên nhân gây ra nguy cơ rủi ro để đưa ra những quyết định đúng đắn trước khi chấp nhận bảo hiểm cho một đối tượng nào

đó Kiến thức chuyên môn giúp họ đánh giá mức độ rủi ro một cách chính xác và toàn diện hơn

- Quy mô của doanh nghiệp bảo hiểm lớn hay nhỏ, có phù hợp với trình độ quản

lý hay không cũng ảnh hưởng rất lớn đến kết quả kinh doanh Các doanh nghiệp bảo hiểm nhỏ thường có mức vốn thấp và không được nhiều khách hàng biết đến nên sẽ

bị hạn chế hơn so với các doanh nghiệp bảo hiểm lớn trong việc cạnh tranh, lôi kéo khách hàng Khi các doanh nghiệp bảo hiểm lớn đã tạo được tên tuổi và uy tín trên thị trường thì sẽ có xu hướng chuyển sang kinh doanh có lãi, họ sẽ hạn chế nhận bảo hiểm cho các loại rủi ro cao như bảo hiểm vật chất xe khách, xe taxi, bảo hiểm tài sản cho kho hàng của doanh nghiệp Đài Loan (do trên thị trường đã có rất nhiều

vụ cháy kho, nhà xưởng của các doanh nghiệp Đài Loan do chính họ đốt xưởng nhằm trục lợi bảo hiểm)… Để có doanh thu, tăng thị phần, các doanh nghiệp bảo hiểm nhỏ phải chấp nhận bảo hiểm cho các rủi ro cao này Ngoài ra, các doanh nghiệp nhỏ thì khả năng tài chính yếu kém sẽ bị hạn chế trong hoạt động nhận và nhượng tái bảo hiểm

1.3.3.2 Nhân tố khách quan

- Các quy định của Nhà nước mang tính pháp lý trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm Có rất nhiều các quy định từ khi doanh nghiệp bảo hiểm được thành lập cho đến khi thanh lý, phá sản Cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động này luôn kiểm tra, giám sát khả năng thanh toán, tỷ lệ phí, các mẫu đơn và các sản phẩm bảo hiểm trước khi doanh nghiệp bảo hiểm đưa ra thị trường Những quy định này đôi khi cũng gây nên những khó khăn nhất định cho doanh nghiệp nếu công tác kiểm tra và giám sát bị lạm dụng Ngoài ra, những quy định mới được ban hành nếu không được hướng dẫn, chỉ dẫn cụ thể, thống nhất sẽ khiến các doanh nghiệp khó khăn trong việc thực hiện vì không biết thực hiện như thế nào là đúng

Trang 29

- Sự phát triển của thị trường bảo hiểm: Từ sau năm 1965 khi Bảo hiểm Bảo Việt được thành lập tới nay, thị trường bảo hiểm Việt Nam đang hoạt động rất sôi động với sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp Điều này khiến cho các doanh nghiệp bảo hiểm bất chấp mọi hình thức để giành giật thị phần, tăng doanh thu bằng cách giảm tỷ lệ phí Các doanh nghiệp bảo hiểm lớn với tiềm lực tài chính lớn và đã có uy tín trên thị trường sẵn sàng giảm phí để giữ chân cũng như lôi kéo thêm khách hàng, để cạnh tranh các doanh nghiệp bảo hiểm nhỏ đành phải chấp nhận giảm phí để cạnh tranh Điều này sẽ gây khó khăn trong quá trình kiểm soát và phòng ngừa rủi ro

- Thị trường bảo hiểm ngày càng phát triển thì nhận thức của người tham gia bảo hiểm cũng ngày càng cao, kiến thức về bảo hiểm của họ ngày càng sâu nên hành vi trục lợi bảo hiểm ngày càng tinh vi hơn khiến các doanh nghiệp bảo hiểm khó nhận biết được Không chỉ khách hàng trục lợi bảo hiểm mà còn cả những cán

bộ nhân viên bảo hiểm bắt tay với khách hàng nhằm trục lợi bảo hiểm của công ty

- Mỗi nhóm khách hàng khác nhau sẽ cần một hệ thống phân phối sản phẩm khác nhau để đáp ứng được nhu cầu của khách hàng Cho nên, việc lựa chọn hệ thống phân phối và tổ chức kênh phân phối như thế nào cho hợp lý là vấn đề không đơn giản

Trang 30

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM XUÂN THÀNH

2.1 Khái quát về Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành

Nhận thức từ thực tế và định hướng phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam, Ban Trù bị thành lập Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành (Bảo hiểm Xuân Thành) đã vận động các cổ đông và huy động nguồn vốn trình Bộ Tài chính (Cục Bảo hiểm) xem xét cho phép thành lập một Công ty cổ phần Bảo hiểm hoàn toàn có nguồn vốn huy động rộng rãi từ các pháp nhân, thể nhân trong nước nhằm huy động tối đa sức mạnh để hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ

Ngày 21/12/2009, Bộ Tài chính đã ký cấp Giấy phép thành lập công ty số 57/GP/KDBH cho Công ty Cổ phần Bảo hiểm Thái Sơn với số vốn điều lệ là 300 tỷ đồng, trong đó số vốn góp của các cổ đông sáng lập là 156 tỷ đồng Ngày 11/07/2011, Bộ Tài chính đã ký Giấy phép điều chỉnh số 57/GPDDC7/KDBH cho phép Công ty cổ phần bảo hiểm Thái Sơn đổi tên thành Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành Năm 2015, vốn điều lệ của công ty tăng lên 376,2 tỷ đồng Đến năm 2017, vốn điều lệ của công ty đã tăng lên 680 tỷ đồng với cơ cấu góp vốn như sau:

Trang 31

Bảng 2.1 Cơ cấu góp vốn của Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành

TT Cổ đông Vốn góp tính bằng

tiền (tỷ đồng)

Tỷ lệ vốn góp

2.1.1.1 Mục tiêu và tầm nhìn chiến lược

a Tầm nhìn chiến lược của công ty

“Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành cam kết đem lại niềm tin và mọi giá trị đích thực cho khách hàng, tạo dựng một môi trường làm việc năng động, hiệu quả, tin cậy và hợp tác để người lao động phát huy khả năng sáng tạo và cống hiến Chúng tôi phấn đấu trở thành một trong những Tổng công ty bảo hiểm Phi nhân thọ hàng đầu Việt Nam.”

b Mục tiêu hoạt động: “Kinh doanh hiệu quả, Phát triển an toàn và Hội nhập

quốc tế”

Trang 32

c Triết lý kinh doanh: “Ý chí quyết tâm, Trung thực và Công bằng mở đường

cho mọi thành công trong kinh doanh”

d Thông điệp

- Thông điệp gửi khách hàng và các đối tác: “Niềm tin dẫn tới thành công”

- Thông điệp gửi tới nhân viên: “Khởi đầu chuẩn mực – Bền vững tương lai” Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành cam kết không chỉ đem lại đầy

đủ các quyền lợi bảo hiểm cho khách hàng theo các điều khoản của hợp đồng bảo hiểm mà còn “hơn cả sự cam kết” đó là sự tư vấn chuyên nghiệp cho khách hàng các biện pháp nhằm ngăn ngừa những thiệt hại lớn có thể xảy ra trong tương lai, đó

là sự tận tâm, sẻ chia, giúp đỡ khách hàng kịp thời khi xảy ra tổn thất Bảo hiểm Xuân Thành tin rằng sẽ là chỗ dựa tin cậy của khách hàng khi tham gia bảo hiểm

2.1.1.2 Phạm vi hoạt động

- Kinh doanh bảo hiểm gốc: Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành được phép hoạt động kinh doanh các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ Với phạm vi rộng, cung cấp đầy đủ các dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ cho các công ty, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đang sinh sống, kinh doanh, làm việc, học tập trên toàn lãnh thổ Việt Nam

- Kinh doanh Tái bảo hiểm và các hoạt động bảo hiểm khác:

Tổng công ty chủ động đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng mà vẫn đảm bảo được an toàn tài chính, Bảo hiểm Xuân Thành đã ký hợp đồng tái bảo hiểm với các nhà tái bảo hiểm cho 4 nhóm nghiệp vụ: kỹ thuật, tài sản, hàng hải và xe cơ giới Ngoài ra, Tổng công ty còn tiến hành kinh doanh nhận tái đối với tất cả các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ với các công ty bảo hiểm khác trên thị trường bảo hiểm

thất, đại lý giám định, xem xét giải quyết bồi thường và thu đòi người thứ ba

Trang 33

- Tiến hành hoạt động đầu tư: Hiện tại Tổng công ty chủ yếu tiến hành hoạt động đầu tư tài chính thông qua tiền gửi ngân hàng

2.1.2 Cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của mỗi bộ phận

Nguồn: Hồ sơ năng lực của Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành

Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành

Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành được xây dựng theo mô hình

- Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của công ty Đại hội đồng cổ đông thường niên thảo luận và thông qua các vấn đề: báo cáo tài chính hàng năm; báo cáo của Hội đồng quản trị

ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG

TRUNG TÂM KINH DOANH

Mạng lưới đại lý, môi giới bảo hiểm

PHÓ TỒNG GIÁM ĐỐC

Ban Điều hành

CÁC BAN NGHIỆP VỤ

- Ban Quản lý nghiệp vụ

- Ban Tái bảo hiểm

- Ban Giám định bồi thường

CÁC BAN HỖ TRỢ

- Ban Tổ chức hành chính

- Ban Tài chính kế toán

- Ban Công nghệ thông tin

- Ban Kế hoạch chiến lược

- Ban Kiểm soát nội bộ PHÓ TỒNG GIÁM ĐỐC

Trang 34

đánh giá thực trạng công tác quản lý kinh doanh của công ty; báo cáo của Ban kiểm soát về quản lý công ty của Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc; mức

cổ tức đối với mỗi cổ phần của từng loại; các vấn đề khác thuộc thẩm quyền

- Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công

ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty không thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông

- Ban kiểm soát có chức năng giám sát Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc trong việc quản lý và điều hành công ty

- Tổng giám đốc là người điều hành công việc kinh doanh hàng ngày và người đại diện theo pháp luật của Tổng công ty; chịu sự giám sát của Hội đồng quản trị và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và trước pháp luật về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao Trực tiếp quản lý và chỉ đạo mọi hoạt động của các ban thuộc Trụ sở chính và mọi hoạt động kinh doanh của các công ty thành viên

- Phó Tổng Giám đốc là người tham mưu giúp việc cho Tổng Giám đốc, thay mặt Tổng Giám đốc giải quyết công việc liên quan đến các công việc của công ty,

ký thay Tổng Giám đốc khi được ủy quyền, chỉ đạo các vấn đề cụ thể đã được Tổng Giám đốc thông qua, quyết định một số vấn đề đã được Tổng Giám đốc giao phó

- Các công ty thành viên và trung tâm kinh doanh: tổ chức kinh doanh các sản phẩm bảo hiểm của công ty, xây dựng và phát triển quan hệ khách hàng, thực hiện các công tác giám định - bồi thường theo phân cấp Lên kế hoạch bán sản phẩm và

đề xuất những biện pháp nhằm tăng cường, thúc đẩy khả năng bán sản phẩm

- Ban Quản lý nghiệp vụ:

các vấn đề liên quan đến nghiệp vụ Quản lý và định hướng phát triển nghiệp

vụ bảo hiểm, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát và hướng dẫn kinh doanh các loại hình bảo hiểm phi nhân thọ cho toàn bộ hệ thống XTI Tham gia xây dựng kế hoạch kinh doanh của Tổng công ty và các đơn vị trực thuộc Nghiên cứu,

Trang 35

triển khai và phát triển sản phẩm mới Đề xuất các biện pháp, cơ chế chính sách kinh doanh thúc đẩy nghiệp vụ phát triển

 Xây dựng, soạn thảo, đề xuất chỉnh sửa và bổ sung các quy tắc, điều khoản, điều kiện bảo hiểm, biểu phí của các loại hình bảo hiểm, các quy trình, các văn bản hướng dẫn, văn bản triển khai liên quan đến nghiệp vụ bảo hiểm

vị thành viên, kể cả yêu cầu thu xếp tái bảo hiểm tạm thời và trình Lãnh đạo Tổng công ty nếu trên phân cấp

- Ban Tái bảo hiểm:

vụ Tái bảo hiểm nhằm đảm bảo an toàn tài chính trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm Giúp Ban điều hành định hướng phát triển và quản lý nghiệp vụ tái bảo hiểm cho toàn bộ hệ thống Nghiên cứu, xây dựng chiến lược phát triển kinh doanh nhận và nhượng tái bảo hiểm phù hợp với chiến lược phát triển chung của Tổng công ty Tham mưu và đề xuất cấp có thẩm quyền phê duyệt các phương án nhượng tái bảo hiểm theo quy định

nghiệp vụ (nhận và nhượng tái bảo hiểm), chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, quản

lý và giám sát đôn đốc việc thực hiện tái bảo hiểm trong toàn hệ thống

 Đề xuất các biện pháp nhằm phát triển kênh nhận và nhượng tái bảo hiểm, đẩy mạnh quan hệ hợp tác và tìm kiếm đối tác trong và ngoài nước Trên cơ sở yêu cầu và thông tin từ các công ty thành viên, các hợp đồng có liên quan đến tái bảo hiểm, tham mưu đề xuất phương án nhượng tái bảo hiểm với điều kiện bảo hiểm cạnh tranh và hiệu quả nhất

- Ban Giám định – bồi thường:

 Tham mưu giúp việc cho Ban điều hành Tổng công ty trong việc xây dựng, sửa đổi bổ sung các quy trình, quy định về giám định bồi thường (GĐBT), các chính sách bồi thường và các hoạt động khác có liên quan đến

Trang 36

công tác GĐBT nhằm không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ, hỗ trợ tốt cho phát triển kinh doanh

đó trọng tâm là giám định tổn thất, xét bồi thường và trả tiền bảo hiểm) Phối hợp với các đơn vị thành viên, các bộ phận liên quan thực hiện thu đòi người thứ ba và công tác phòng chống trục lợi bảo hiểm Tham gia giải quyết các khiếu nại tranh chấp liên quan đến công tác GĐBT

 Tổ chức thực hiện công tác GĐBT theo đúng các quy trình, quy định, phù hợp với thực tế và chiến lược phát triển của Tổng công ty Đảm bảo tuân thủ đầy đủ các nội dung về quản lý chất lượng của XTI Thực hiện kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của công tác GĐBT toàn hệ thống

các công ty thành viên và tham mưu cho Lãnh đạo Tổng công ty trong các vụ việc trên phân cấp của Ban

 Tham gia thực hiện việc trích lập dự phòng bồi thường của toàn Tổng công ty Hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc trích lập dự phòng bồi thường của các đơn vị thành viên

GĐBT của cơ quan quản lý Nhà nước (Cục quản lý Giám sát bảo hiểm, Bộ Tài chính), hoặc Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam tổ chức… Tham gia giao lưu, chia

sẻ với các doanh nghiệp bảo hiểm khác nhằm học hỏi kinh nghiệm, chia sẻ thông tin về GĐBT, đặc biệt là các thông tin liên quan đến trục lợi bảo hiểm

- Ban Tổ chức hành chính:

thống thực hiện chương trình, kế hoạch công tác, quy chế làm việc Xây dựng

tổ chức bộ máy, xây dựng hệ thống chức năng, nhiệm vụ các phòng ban, các đơn vị trực thuộc Xác định hệ thống chức danh, tiêu chuẩn cán bộ các cấp, lập các quy trình tuyển chọn cán bộ, bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ

Trang 37

luật… Thực hiện chức năng quản lý, công tác tổ chức viên chức – lao động, tiền lương

sơ, tài liệu, quản lý sử dụng con dấu theo quy định Đón tiếp, hướng dẫn khách hàng đến thăm và làm việc với Tổng công ty

chính Quản lý cơ sở vật chất, tài sản chung của Tổng công ty, mua, cấp phát văn phòng phẩm, …

năng lực của hệ thống đội ngũ cán bộ, đại lý bảo hiểm Xây dựng kế hoạch phát triển hệ thống mạng lưới đại lý bảo hiểm, kiểm tra, giám sát toàn bộ hoạt động của đại lý bảo hiểm trong toàn hệ thống nhằm đảm bảo tuân thủ đúng các quy định của Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm

- Ban Tài chính kế toán:

cáo tài chính kế toán, báo cáo quản trị định kỳ, đột xuất theo yêu cầu của Ban điều hành và Hội đồng quản trị, Bộ tài chính, cơ quan thuế, …

các cấp và công tác hạch toán kế toán phù hợp với tính chất, quy mô hoạt động của toàn hệ thống XTI

 Trực tiếp tổ chức công tác hạch toán kế toán kịp thời, đầy đủ và chính xác các hoạt động kinh doanh của toàn Tổng công ty theo đúng Luật Kế toán, Luật Thống kê và các quy định hiện hành của Nhà nước về công tác kế toán, thống kê, tài chính Kiểm tra việc chấp hành chế độ kế toán tài chính trong toàn hệ thống theo đúng quy định của Nhà nước và Tổng công ty tại các đơn

vị trực thuộc để có biện pháp giúp Kế toán trưởng và Tổng giám đốc xử lý kịp thời các sai phạm

Trang 38

 Kiểm tra xét duyệt báo cáo quyết toán của các đơn vị trực thuộc, lập báo cáo quyết toán của văn phòng Tổng công ty, đảm bảo quyết toán tổng hợp của toàn Tổng công ty theo quy định Nhà nước trình Hội đồng quản trị thông qua

và gửi các cơ quan Nhà nước theo quy định Hướng dẫn các đơn vị lập kế hoạch tài chính hàng năm và trên cơ sở đó lập kế hoạch tài chính hàng năm của Tổng công ty

duyệt và tổ chức triển khai đầu tư theo kế hoạch đã được phê duyệt

- Ban Công nghệ thông tin:

ứng dụng công nghệ thông tin để xây dựng kế hoạch chiến lược về công nghệ thông tin trong toàn hệ thống phù hợp với chiến lược phát triển chung của Tổng công ty trong từng thời kỳ

lý, vận hành, hướng dẫn, đào tạo và hỗ trợ người dùng hệ thống công nghệ thông tin của trụ sở chính và các đơn vị thành viên

- Ban Kiểm soát nội bộ:

 Tham mưu cho Ban điều hành xây dựng và hoàn thiện hệ thống kiểm soát, quy trình kiểm soát và kiểm toán nội bộ Kiểm tra, giám sát công tác tổ chức, nhân sự, công việc của các ban và đơn vị thành viên, quản lý đại lý Hướng dẫn các thủ tục pháp lý liên quan đến công nợ, theo dõi và kiểm tra việc quản lý và thực hiện thu đòi công nợ của toàn hệ thống XTI

động kiểm toán nội bộ theo kế hoạch hoặc kiểm toán đột xuất theo yêu cầu của Ban lãnh đạo, thực hiện các chính sách, quy trình và thủ tục kiểm toán nội bộ

đã được phê duyệt, đảm bảo chất lượng và hiệu quả

xây dựng, áp dụng mới hay sửa đổi bổ sung những quy trình nghiệp vụ quan

Trang 39

trọng, cơ chế quản trị, điều hành, quy trình nhận dạng, đo lường, đánh giá rủi

ro, quản lý rủi ro, phương pháp đánh giá vốn, hệ thống thông tin, hạch toán, kế toán, thực hiện các nghiệp vụ, sản phẩm mới với điều kiện không ảnh hưởng tới tính độc lập của kiểm toán nội bộ

- Ban Kế hoạch – Chiến lược:

phát triển của Tổng công ty trong từng giai đoạn (từ 3-5 năm): các giá trị cốt lõi, doanh thu, thị phần, mạng lưới, kết quả kinh doanh… Xây dựng các giải pháp để thực hiện mục tiêu phát triển của Tổng công ty trong từng thời kỳ Theo dõi việc thực hiện chiến lược và đề xuất điều chỉnh chiến lược (nếu cần thiết) nhằm đảm bảo phù hợp với tình hình thị trường và khả năng triển khai thực tế của đơn vị

 Xây dựng kế hoạch kinh doanh hàng năm của Tổng công ty, theo dõi, đôn đốc, báo cáo Ban điều hành việc thực hiện kế hoạch kinh doanh của toàn

hệ thống Xây dựng kế hoạch và cơ sở dữ liệu bảo hiểm trên toàn thị trường nhằm phục vụ cho công tác phát triển mạng lưới, thành lập đơn vị/phòng kinh doanh mới trên toàn hệ thống

- Mạng lưới đại lý, môi giới bảo hiểm: kinh doanh các sản phẩm bảo hiểm của công ty và chịu sự quản lý trực tiếp của các công ty thành viên và trung tâm kinh doanh

2.2 Thực trạng hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành

2.2.1 Các sản phẩm bảo hiểm của công ty

Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành được phép hoạt động kinh doanh các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ, và đến nay các sản phẩm bảo hiểm kinh doanh bảo hiểm gốc bao gồm các sản phẩm sau:

Trang 40

Bảng 2.2 Các sản phẩm bảo hiểm chính của Bảo hiểm Xuân Thành

TT Nhóm nghiệp vụ Sản phẩm bảo hiểm

1 Bảo hiểm tài sản – kỹ

thuật

- Bảo hiểm xây dựng/lắp đặt

- Bảo hiểm thiết bị điện tử

- Bảo hiểm công trình dân dụng đã hoàn thành

- Bảo hiểm đổ vỡ máy móc

- Bảo hiểm máy móc thiết bị chủ thầu

- Bảo hiểm mọi rủi ro tài sản

- Bảo hiểm mọi rủi ro công nghiệp

- Bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc

- Bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt

- Bảo hiểm trộm cắp, tiền

- Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh

- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới

- Bảo hiểm trách nhiệm hàng hóa trên xe

- Bảo hiểm trách nhiệm pháp lý/nghề nghiệp

- Bảo hiểm trách nhiệm người sử dụng lao động

- Bảo hiểm trách nhiệm chung

và hàng hóa

- Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đường biển

- Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển nội địa

- Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự chủ tàu

- Bảo hiểm kết hợp học sinh, sinh viên

- Bảo hiểm con người, du lịch …

Nguồn: Hồ sơ năng lực của Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành

2.2.2 Tình hình kinh doanh

Tình hình kinh doanh hoạt động bảo hiểm của Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Xuân Thành được thể hiện qua bảng dưới đây:

Ngày đăng: 24/02/2020, 21:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w