1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

ĐỀ CƯƠNG môn TRIẾT học mác LÊNIN

84 138 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 497,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

bộ đề cương môn triết học máclênin. tóm tắt những kiến thức quan trọng, cần thiết của môn học chuẩn theo chương trình mới của bộ giáo dục vừa ra.. giúp sinh viên dễ dàng tiếp nhận kiến thức hơn, dễ nhớ hơn hơn trong việc học tập

Trang 1

NỘI DUNG 1 Vật chất; ý thức và mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

I Vật chất

a) Lược thảo các quan điểm tước Mác về Vật chất.

- Quan điểm của các nhà duy vật thời cổ đại

Khái niệm vật chất với tư cách là một phạm trù triết học đã có lịch sử hơn hainghìn năm, là một trong những khái niệm cơ bản của CNDV

Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại thời kỳ đầu xem vật chất như vật cụ thể, cảm tính

+ Chẳng hạn như Talét (624-547TCN) cho rằng khởi nguyên đầu tiên là nước,mọi vật sinh ra từ nước Trong khi đó, Anaximen (588- 525 TCN) cho đó là khôngkhí Nhà triết học Hêraclit cho mọi sự vật , hiện tượng đều có nguồn gốc từ lửa…+ Phủ nhận quan niệm cho khởi nguyên của thế giới là một chất cụ thể,Ămpeđốclơ cho thực thể của thế giới bao gồm đất, nước, lửa không khí

+ Bước tiến trên con đường xây dựng một học thuyết duy vật về vật chất làAnaximandrơ đã cho thực thể của thế giới là Aperon, là bản nguyên không xácđịnh về chất và vô tận về lượng

+ Có thể nói rằng thành tựu lớn nhất của triết học Hy Lạp cổ đại là học thuyếtnguyên tử của Đêmôcít Thuyết nguyên tử mới chỉ là những phỏng đoán giả định

và cũng là việc quy vật chất về các dạng cụ thể của vật chất về nguyên tử Mặc dùcòn những hạn chế, thuyết nguyên tử là một bước phát triển mới của CNDV trêncon đường hình thành phạm trù vật chất triết học

 Có thể nói rằng: Các nhà Triết học duy vật Hy Lạp cổ đại

đã đồng nhất vật chất với các dạng cụ thể của vật chất

Trong Triết học Trung Hoa cổ đại : Học thuyết Âm dương- Ngũ hành cho

rằng Vạn vật trong thế giới đều được tạo ra từ 5 nguyên tố : kim, mộc, thuỷ, hoả,thổ…Đây là những yếu tố vật chất đầu tiên, luôn ở trạng thái động, mối quan hệmật thiết, tác động lẫn nhau, tương sinh, tương khắc… tạo ra mọi sự vật, hiệntượng trên thế giới

Trang 2

=> Đồng nhất vật chất với các dạng cụ thể của vật chất

Trong Triết học Ấn Độ cổ đại : Đại diện của nó là phái Nyaya- Vaisesika coi

nguyên tử (Paramanu) là thực thể của thế giới

Hạn chế:

- Quan niệm về vật chất của các nhà Triết học duy vật cổ đại tuy có sự khác nhau

về hình hình thức biểu hiện nhưng giống nhau đều đồng nhất vật chất nói chung với cácdạng cụ thể của nó, với những vật thể hữu hình cảm tính đang tồn tại độc lập trong tựnhiên coi khởi nguyên vật chất tồn tại tách rời với các dạng cụ thể của vật chất

- Quan niệm về khởi nguyên đầu tiên chưa đặt trên cơ sở khoa học chỉ là phỏng đoán dựatrên quan sát trực tiếp, chưa có cơ sở khoa học Sau này bị các quan niệm duy tâm bác bỏ

Ưu điểm:

- Tuy quan điểm vật chất của các nhà duy vật cổ đại còn hạn chế nhưng đã lấy bản thânnhững yếu tố vật chất của thế giới để giải thích thế giới mà không lấy yếu tố tinh thần, siêu tự nhiêngiải thích thế giới Điều đó có ý nghĩa lớn trong cuộc đấu tranh chống quan điểm duy tâm và tôngiáo, tạo điều kiện phát triển khoa học thời cổ đại và khoa học sau này

- Trong triết học thời kỳ Trung cổ: Là thời kỳ thống trị của tôn giáo Triết học chỉ là công cụcủa tôn giáo, khoa học tri thức đều trở thành công cụ của tôn giáo Những quan niệm về vật chấttrong thời kỳ này cũng không có những gì đóng góp đáng kể ngoài việc 1 số các nhà triết học ởtrường phái duy danh đưa ra lý lẽ để bảo vệ sự tồn tại độc lập của cái riêng so với cái chung

_Quan điểm của các nhà duy vật thời cận đại.

Những tư tưởng về nguyên tử đã được các nhà triết học và khoa học tự nhiên thờiphục hưng và cân đại khẳng định và phát triển như Galilê, Đêcác, Bêcơn, Niutơn,…

Các nhà duy vật đã tìm thấy ở nguyên tử cơ sở nguyên thủy bất biến của thế giới

và họ đã quy vật chất về nguyên tử Theo họ, vật chất là do các nguyên tử hợp thành…

Việc đồng nhất vật chất với một dạng cụ thể của vật chất- nguyên tử đã trởthành quan điểm chủ đạo trong triết học và khoa học tự nhiên suốt thời kỳ cận đại

Trang 3

Cùng với việc đồng nhất vật chất với nguyên tử, từ cuối thế kỷ 17 trở đi doảnh hưởng của những thành tự kỳ diệu của cơ học Niutơn, người ta cũng bắt đầuđồng nhất vật chất với khối lượng VD khối lượng của một bao cát chính là lượngvật chất của bao cát Khối lượng bao cát chính là lượng vật chất chứa trong bao cát.Quan điểm đem đồng nhất vật chất với nguyên tử hay khối lượng càng về sau càngtrở thành quan điểm chính thống, phổ biến cùng với sự phát triển của các bộ mônkhoa học Quan điểm về vật chất như vậy tạm thời phù hợp với trình độ nhận thứccủa các ngành KHTN lúc đó.

B) Nguyên nhân dẫn đến sự bế tắc của những quan điểm trước Mác về vật chất.

Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong Vật lý học đã có những phát minh quan trọng: + 1895 Rơnghen phát hiện ra tia X có nguồn gốc ở nguyên tử

+ 1896 Béccơren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ Hiện tượng này chứng tỏ rằngcác nguyên tố hóa học không phải là bất biến, mà có thể chuyển hóa lẫn nhau

+ 1897 Tômxơn phát hiện ra điện tử (e) là một trong những thành phần tạo nênnguyên tử Phát minh này đã chứng tỏ nguyên tử rất phức tạp và có thể phân chia được

+ 1901 Kaufman đã chứng minh khối lượng của điện tử không phải là khốilượng tĩnh, mà nó thay đổi theo tốc độ vận động của điện tử Sự kiện này đã hoàntoàn bác bỏ quan điểm siêu hình đang thống trị thời bấy giờ xem khối lượng nhưmột cái gì bất biến

Các phát minh này đã bác bỏ quan điểm siêu hình về vật chất Nó đã làm sụp

đổ những quan niệm đương thời về giới hạn tột cùng của vật chất là nguyên tử vàkhối lượng Lợi dụng điều này, các nhà triết học duy tâm cho rằng “vật chất” củachủ nghĩa duy vật biến mất, nền tảng của chủ nghĩa duy vật sụp đổ Có sự khủnghoảng về thế giới quan trong triết học Đòi hỏi có một quan niệm, khái niệm mới vềvật chất thì mới có thể đứng vững được trước sự đấu tranh của CNDT, bảo vệ quanđiểm cho rằng vật chất có trước , ý thức có sau

C c Quan niệm của triết học Mác - Lênin về vật chất

Trang 4

C Mác và Ph Ăngghen trong khi đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, thuyếtbất khả tri và phê phán chủ nghĩa duy vật siêu hình, máy móc đã đưa ra những tưtưởng hết sức quan trọng về vật chất Theo Ph Ăngghen, để có một quan niệm

đúng đắn về vật chất, cần phải có sự phân biệt rõ ràng giữa vật chất với tính cách

là một phạm trù của triết học, một sáng tạo của tư duy con người trong quá trình

phản ánh hiện thực, tức vật chất với tính cách là vật chất, với bản thân các sự vật,hiện tượng cụ thể của thế giới vật chất Bởi vì “vật chất với tính cách là vật chất,một sáng tạo thuần tuý của tư duy, và là một trừu tượng thuần tuý Do đó, khácvới những vật chất nhất định và đang tồn tại, vật chất với tính cách là vật chấtkhông có sự tồn tại cảm tính”1.Đồng thời, Ph Ăngghen cũng chỉ ra rằng, bản thânphạm trù vật chất cũng không phải là sự sáng tạo tuỳ tiện của tư duy con người, màtrái lại, là kết quả của “con đường trừu tượng hoá” của tư duy con người về các sựvật, hiện tượng “có thể cảm biết được bằng các giác quan2 Đặc biệt, Ph.Ăngghenkhẳng định rằng, xét về thực chất, nội hàm của các phạm trù triết học nói chung,của phạm trù vật chất nói riêng chẳng qua chỉ là “sự tóm tắt trong chúng ta tập hợptheo những thuộc tính chung”3 của tính phong phú, muôn vẻ nhưng có thể cảm biếtđược bằng các giác quan của các sự vật, hiện tượng của thế giới vật chất.Ph.Ăngghen chỉ rõ, các sự vật, hiện tượng của thế giới, dù rất phong phú, muôn vẻ

nhưng chúng vẫn có một đặc tính chung, thống nhất đó là tính vật chất - tính tồn

tại, độc lập không lệ thuộc vào ý thức Để bao quát được hết thảy các sự vật, hiệntượng cụ thể, thì tư duy cần phải nắm lấy đặc tính chung này và đưa nó vào trongphạm trù vật chất Ph Ăngghen giải thích: “Ête có tính vật chất không? Dù sao nếuête tồn tại thì nó phải có tính vật chất, nó phải nằm trong khái niệm vật chất”4

Kế thừa những tư tưởng thiên tài đó, V.I.Lênin đã tiến hành tổng kết toàndiện những thành tựu mới nhất của khoa học, đấu tranh chống mọi biểu hiện của

1 C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H 1994, t 20, tr 751

2 C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H 1994, t 20, tr 751

3 C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H 1994, t 20, tr 751.

4 C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H 1994, t 20, tr 751.

Trang 5

chủ nghĩa hoài nghi, duy tâm (đang lầm lẫn hoặc xuyên tạc những thành tựu mớitrong nhận thức cụ thể của con người về vật chất, mưu toan bác bỏ chủ nghĩa duyvật), qua đó bảo vệ và phát triển quan niệm duy vật biện chứng về phạm trù nềntảng này của chủ nghĩa duy vật

Để đưa ra được một quan niệm thực sự khoa học về vật chất, V.I.Lênin đặc

biệt quan tâm đến việc tìm kiếm phương pháp định nghĩa cho phạm trù này Thông

thường, để định nghĩa một khái niệm nào đó, người ta thực hiện theo cách quy khái

niệm cần định nghĩa vào khái niệm rộng hơn nó rồi chỉ ra những dấu hiệu đặc trưng

của nó Nhưng, theo V.I.Lênin, vật chất thuộc loại khái niệm rộng nhất, rộng đếncùng cực, cho nên không thể có một khái niệm nào rộng hơn nữa Do đó, không thểđịnh nghĩa khái niệm vật chất theo phương pháp thông thường mà phải dùng mộtphương pháp đặc biệt - định nghĩa nó thông qua khái niệm đối lập với nó trên

phương diện nhận thức luận cơ bản, nghĩa là phải định nghĩa vật chất thông qua ý thức V.I.Lênin viết: “Không thể đem lại cho hai khái niệm nhận thức luận này một

định nghĩa nào khác ngoài cách chỉ rõ rằng trong hai khái niệm đó, cái nào đượccoi là có trước”5

Với phương pháp nêu trên, trong tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, V.I.Lênin đã đưa ra định nghĩa về vật chất như sau: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”6 Đây là một định nghĩa hoàn chỉnh vềvật chất mà cho đến nay vẫn được các nhà khoa học hiện đại coi là một định nghĩakinh điển

Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin bao hàm các nội dung cơ bản sau đây:

Thứ nhất, vật chất là thực tại khách quan - cái tồn tại hiện thực bên ngoài ý

5 V I Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M 1981, t 18, tr 171.

6 V I Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M 1981, t 18, tr 151.

Trang 6

thức và không lệ thuộc vào ý thức.

Khi nói vật chất là một phạm trù triết học là muốn nói phạm trù này là sảnphẩm của sự trừu tượng hoá, không có sự tồn tại cảm tính Nhưng khác về nguyêntắc với mọi sự trừu tượng hoá mang tính chất duy tâm chủ nghĩa về phạm trù này,

V.I.Lênin nhấn mạnh rằng, phạm trù triết học này dùng để chỉ cái “Đặc tính duy nhất của vật chất mà chủ nghĩa duy vật triết học gắn liền với việc thừa nhận đặc tính này - là cái đặc tính tồn tại với tư cách là hiện thực khách quan, tồn tại ở ngoài

ý thức chúng ta”7 Nói cách khác, tính trừu tượng của phạm trù vật chất bắt nguồn

từ cơ sở hiện thực, do đó, không tách rời tính hiện thực cụ thể của nó Nói đến vậtchất là nói đến tất cả những gì đã và đang hiện hữu thực sự bên ngoài ý thức củacon người Vật chất là hiện thực chứ không phải là hư vô và hiện thực này mangtính khách quan chứ không phải hiện thực chủ quan Đây cũng chính là cái “phạm

vi hết sức hạn chế” mà ở đó, theo V.I.Lênin sự đối lập giữa vật chất và ý thức làtuyệt đối Tuyệt đối hoá tính trừu tượng của phạm trù này sẽ không thấy vật chất đâu

cả, sẽ rơi vào quan điểm duy tâm Ngược lại, nếu tuyệt đối hoá tính hiện thực cụ thểcủa phạm trù này sẽ đồng nhất vật chất với vật thể, và đó là thực chất quan điểm củachủ nghĩa duy vật trước Mác về vấn đề này Như vậy, mọi sự vật, hiện tượng từ vi

mô đến vĩ mô, từ những cái đã biết đến những cái chưa biết, từ những sự vật “giảnđơn nhất” đến những hiện tượng vô cùng “kỳ lạ”, dù tồn tại trong tự nhiên hay trong

xã hội cũng đều là những đối tượng tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người,nghĩa là đều thuộc phạm trù vật chất, đều là các dạng cụ thể của vật chất Cả conngười cũng là một dạng vật chất, là sản phẩm cao nhất trong thế giới tự nhiên màchúng ta đã biết Xã hội loài người cũng là một dạng tồn tại đặc biệt của vật chất.Theo V.I.Lênin, trong đời sống xã hội thì "khách quan không phải theo ý nghĩa làmột xã hội những sinh vật có ý thức, những con người, có thể tồn tại và phát triểnkhông phụ thuộc vào sự tồn tại của những sinh vật có ý thức ( ), mà khách quan

7 V I Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M 1981, t 18, tr 321

Trang 7

theo ý nghĩa là tồn tại xã hội không phụ thuộc vào ý thức xã hội của con người”8 Khẳng định trên đây có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phê phán thế giớiquan duy tâm vật lý học, giải phóng khoa học tự nhiên khỏi cuộc khủng hoảng thếgiới quan, khuyến khích các nhà khoa học đi sâu tìm hiểu thế giới vật chất, khámphá ra những thuộc tính mới, kết cấu mới của vật chất, không ngừng làm phongphú tri thức của con người về thế giới.

Thứ hai, vật chất là cái mà khi tác động vào các giác quan con người thì đem

lại cho con người cảm giác

Trái với quan niệm “khách quan” mang tính chất duy tâm về sự tồn tại của vậtchất, V.I.Lênin khẳng định rằng, vật chất luôn biểu hiện đặc tính hiện thực kháchquan của mình thông qua sự tồn tại không lệ thuộc vào ý thức của các sự vật, hiệntượng cụ thể, tức là luôn biểu hiện sự tồn tại hiện thực của mình dưới dạng các

thực thể Các thực thể này do những đặc tính bản thể luận vốn có của nó, nên khi

trực tiếp hoặc gián tiếp tác động vào các giác quan sẽ đem lại cho con người nhữngcảm giác Mặc dù, không phải mọi sự vật, hiện tượng, quá trình trong thế giới khitác động lên giác quan của con người đều được các giác quan con người nhận biết;

có cái phải qua dụng cụ khoa học, thậm chí có cái bằng dụng cụ khoa học nhưngcũng chưa biết; có cái đến nay vẫn chưa có dụng cụ khoa học để biết được; song,nếu nó tồn tại khách quan, hiện thực ở bên ngoài, độc lập, không phụ thuộc vào ýthức của con người thì nó vẫn là vật chất

Chủ nghĩa duy vật biện chứng không bàn đến vật chất một cách chung chung,

mà bàn đến nó trong mối quan hệ với ý thức của con người Trong đó, xét trênphương diện nhận thức luận thì vật chất là cái có trước, là tính thứ nhất, là cộinguồn của cảm giác (ý thức); còn cảm giác (ý thức) là cái có sau, là tính thứ hai, làcái phụ thuộc vào vật chất Đó cũng là câu trả lời theo lập trường nhất nguyên duy

8 V I Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M 1981, t 18, tr 403

Trang 8

vật của V.I.Lênin đối với mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học.

Thứ ba, vật chất là cái mà ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ánh của nó

Chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất Trong thế giới ấy, theo quyluật vốn có của nó mà đến một thời điểm nhất định sẽ cùng một lúc tồn tại hai hiệntượng - hiện tượng vật chất và hiện tượng tinh thần Các hiện tượng vật chất luôntồn tại khách quan, không lệ thuộc vào các hiện tượng tinh thần Còn các hiệntượng tinh thần (cảm giác, tư duy, ý thức ), lại luôn luôn có nguồn gốc từ các hiệntượng vật chất và những gì có được trong các hiện tượng tinh thần ấy (nội dung củachúng) chẳng qua cũng chỉ là chép lại, chụp lại, là bản sao của các sự vật, hiệntượng đang tồn tại với tính cách là hiện thực khách quan Như vậy, cảm giác là cơ

sở duy nhất của mọi sự hiểu biết, song bản thân nó lại không ngừng chép lại, chụplại, phản ánh hiện thực khách quan, nên về nguyên tắc, con người có thể nhận thứcđược thế giới vật chất Trong thế giới vật chất không có cái gì là không thể biết, chỉ

có những cái đã biết và những cái chưa biết, do hạn chế của con người trong từnggiai đoạn lịch sử nhất định Cùng với sự phát triển của khoa học, các giác quan củacon người ngày càng được “nối dài”, giới hạn nhận thức của các thời đại bị vượtqua, bị mất đi chứ không phải vật chất mất đi như những người duy tâm quan niệm.Khẳng định trên đây có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc bác bỏ thuyết

“bất khả tri”, đồng thời có tác dụng khuyến khích các nhà khoa học đi sâu tìm hiểuthế giới vật chất, góp phần làm giàu kho tàng tri thức nhân loại Ngày nay, khoahọc tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn ngày càng phát triển với những khámphá mới mẻ càng khẳng định tính đúng đắn của quan niệm duy vật biện chứng vềvật chất, chứng tỏ định nghĩa vật chất của V.I.Lênin vẫn giữ nguyên giá trị, và do

đó mà, chủ nghĩa duy vật biện chứng ngày càng khẳng định vai trò là hạt nhân thếgiới quan, phương pháp luận đúng đắn của các khoa học hiện đại

Ý nghĩa phương pháp luận của quan niệm vật chất của Triết học Mác - Lênin.

Trang 9

Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin đã giải quyết cả hai mặt vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng Nó còn cung cấp nguyên tắc

thế giới quan và phương pháp luận khoa học để đấu tranh chống chủ nghĩa duytâm, thuyết không thể biết, chủ nghĩa duy vật siêu hình và mọi biểu hiện của chúngtrong triết học tư sản hiện đại về phạm trù này Trong nhận thức và thực tiễn, đòi

hỏi con người phải quán triệt nguyên tắc khách quan – xuất phát từ hiện thực khách

quan, tôn trọng khách quan, nhận thức và vận dụng đúng đắn quy luật khách quan

Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin là cơ sở khoa học cho việc xác định vật chất trong lĩnh vực xã hội – đó là các điều kiện sinh hoạt vật chất và các quan hệ vật chất xã hội Nó còn tạo sự liên kết giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa

duy vật lịch sử thành một hệ thống lý luận thống nhất, góp phần tạo ra nền tảng lýluận khoa học cho việc phân tích một cách duy vật biện chứng các vấn đề của chủnghĩa duy vật lịch sử, trước hết là các vấn đề về sự vận động và phát triển củaphương thức sản xuất vật chất, về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội,

về mối quan hệ giữa giữa quy luật khách quan của lịch sử và hoạt động có ý thứccủa con người

1 Nguồn gốc của ý thức.

Trong lịch sử triết học có các quan điểm khác nhau về nguồn gốc của ý thức:

A) Nguồn gốc tự nhiên.

Trang 10

_ Chủ nghĩa duy tâm cho rằng, ý thức có trước, vật chất có sau, ý thức sinh ra vật

chất, chi phối sự tồn tại và vận động của thế giới vật chất Ý thức có tính năng động vàquyết định đến với sự tồn tại của vật chất Vật chất chỉ là sản phẩm của ý thức, là yếu

tố thụ động nhờ có hoạt động của ý thức vật chất mới vận động và biến đổi

VD: Platôn CR: Có 1 thế giới phi vật chất tồn tại mãi và linh hồn sống trong thế

giới ý niệm, còn thế giới vật chất chỉ là cái bóng của thế giới ý niệm Con người hoạtđộng được là nhờ có linh hồn Họ cho rằng ý thức là thực thể phi vật chất

Arixtôt phê phán quan niệm của Platon về thế giới ý niệm nhưng ông cũng cóquan niệm đồng nhất ý thức với linh hồn và nó tồn tại độc lập với ý thức Ông chorằng con người được cấu thành từ linh hồn và thể xác Ông không phân biệt được ýthức cá nhân với HTYTXH nói chung, không phân biệt TD với nhận thức nói chungcủa con người, con người cụ thể mất đi nhưng nhận thức vẫn tồn yại trong sách vở

 Như vậy họ đã thổi phồng quá trình sáng tạo , tồn tại độc lập

của ý thức thành 1 thế giới riêng

 Chỉ nhìn thấy khía cạnh năng động, sáng tạo của ý thức chưa

thấy được sự phụ thuộc ý thức vào vật chất, chưa thấy được ýthức là quá trình phản ánh HTKQ vào trong đầu óc con người

_ Các nhà duy vật trước Mác: đấu tranh phê phán lại quan điểm trên của chủ

nghĩa duy tâm, không thừa nhận tính chất siêu tự nhiên của ý thức, chỉ ra mối liên

hệ khăng khít giữa vật chất và ý thức, thừa nhận vật chất có trước ý thức, ý thứcphụ thuộc vào ý vật chất, ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất nhưng chỉ là sựphản ánh vật lý, thụ động Do khoa học chưa phát triển, do ảnh hưởng của quanđiểm siêu hình-máy móc nên họ đã không giải thích đúng nguồn gốc và bản chấtcủa ý thức

VD: Phơbách CR: ý thức là sản phẩm của nảo người, nó có nguồn gốc tự nhiên

nhưng ông chưa thấy được mặt xã hội của ý thức mà chỉ là sự phản ánh thụ động

Trang 11

VD: Gương phản chiếu lại ánh sáng…não người như một tấm bảng sạch ý thức

con người là dấu vết in trên tờ giấy trắng, tấm bảng sạch ấy Phản ánh của ý thứcđồng nhất với phản ánh tâm lý động vật

_ Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định ý thức của con người là sản phẩm

của quá trình phát triển của tự nhiên và lịch sử-xã hội

Ý thức là hình thức cao nhất của sự phản ánh thế giới hiện thực Chủ nghĩaduy vật biện chứng, dựa trên cơ sở những thành tựu của khoa học tự nhiên, nhất làsinh lý học thần kinh đã cho rằng, ý thức không phải có nguồn gốc siêu tự nhiên, ýthức là một thuộc tính của vật chất, nhưng không phải là của mọi dạng vật chất, màchỉ là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc con người Bộ ócngười là cơ quan vật chất của ý thức Ý thức là chức năng của bộ óc con người, phụthuộc vào hoạt động bộ óc con người, do đó khi bộ óc con người bị tổn thương thìhoạt động của ý thức sẽ không bình thường

- Phản ánh là thuộc tính chung của vật chất: Phản ánh là sự tái tạo những đặcđiểm của một hệ thống vật chất này ở hệ thống vật chất khác trong quá trình tácđộng qua lại của chúng

Trong quá trình tiến hoá của thế giới vật chất, các hình thức phản ánh đadạng Các vật thể càng ở bậc thang cao bao nhiêu thì hình thức phản ánh của nócàng phức tạp bấy nhiêu

+ Hình thức phản ánh đơn giản nhất, đặc trưng cho giới tự nhiên vô sinh lànhững phản ánh vật lý, hoá học Ví dụ phản ánh của giới vô cơ: Vết chân trên cát;Mặt nước phản chiếu ánh sáng mặt trời; Kim loại han gỉ do tác động của không khí,hơi nước v.v

Nhận xét: những hình thức phản ánh này có tính chất thụ động, chưa có định hướng sự lựa chọn (Nàng Bạch tuyết và bảy chú lùn: Gương kia ngự ở trên tuờng,

có ai trong nước đẹp dường như ta Gương thần: trước kia bà đẹp nhất trần, ngày nay bạch tuyết muôn phần đẹp hơn )

Trang 12

+ Phản ánh sinh học đặc trưng cho giới tự nhiên là bước phát triển mới vềchất trong sự tiến hoá của các hình thức phản ánh.

Hình thức phản ánh đơn giản nhất của các cơ thể sống là ở tính kích thích,tức là phản ứng trả lời tác động của mội trường bên ngoài có ảnh hưởng trực tiếpđến quá trình trao đổi chất của chúng: Tác động của ánh sáng mặt trời đối với việcquang hợp của cây xanh; Hoa hướng dương hướng về mặt trời để hấp thụ đượcnhiều ánh sáng mặt trời

Hình thức phản ánh của động vật chưa có hệ thần kinh là tính cảm ứng, tínhnhạy cảm đối với sự thay đổi của môi trường Hình thức phản ánh của các động vật

Tâm lý động vật chưa phải là ý thức, nó mới là sự phản ánh có tính chất bảnnăng do nhu cầu trực tiếp của sinh lý cơ thể và do quy luật sinh học chi phối

Ý thức là hình thức cao nhất của sự phản ánh thế giới hiện thực Chủ nghĩaduy vật biện chứng, dựa trên cơ sở những thành tựu của khoa học tự nhiên, nhất làsinh lý học thần kinh đã cho rằng, ý thức không phải có nguồn gốc siêu tự nhiên, ýthức là một thuộc tính của vật chất, nhưng không phải là của mọi dạng vật chất, màchỉ là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc con người Bộ ócngười là cơ quan vật chất của ý thức Ý thức là chức năng của bộ óc con người, phụthuộc vào hoạt động bộ óc con người, do đó khi bộ óc con người bị tổn thương thìhoạt động của ý thức sẽ không bình thường

Trang 13

=>Như vậy, bộ óc người (cơ quan phản ánh về thế giới vật chất xung quanh)cùng với thế giới bên ngoài tác động lên bộ óc- đó là nguồn gốc tự nhiên của ýthức.

ý thức chính là đặc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao

B, Nguồn gốc xã hội của ý thức:

Để cho ý thức ra đời, những tiền đề, nguồn gốc tự nhiên là rất quan trọng,không thể thiếu được, song chưa đủ; điều kiện quyết định cho sự ra đời của ý thức

là những tiền đề, nguồn gốc xã hội Ý thức ra đời cùng với quá trình hình thành bộ

óc con người nhờ lao động, ngôn ngữ và quan hệ xã hội

+) Lao động là điều kiện đầu tiên và chủ yếu để con người tồn tại Lao độngcung cấp cho con người những phương tiện cần thiết đồng thời sáng tạo ra bản thâncon người Một trong sự khác nhau căn bản giữa con người với động vật ở chỗ:động vật sử dụng các sản phẩm có sẵn trong giới tự nhiên, còn con người thì nhờlao động mà bắt tự nhiên phục vụ cho mục đích của mình, thay đổi nó, bắt nó phụctùng những nhu cầu của mình Thông qua lao động nhằm cải tạo thế giới kháchquan mà con người mới có thể phản ánh được thế giới khách quan, mới có ý thức

về thế giới đó Ý thức được hình thành chủ yếu do hoạt động cải tạo, làm biến đổithế giới khách quan Nguồn gốc cơ bản của ý thức là sự phản ánh thế giới kháchquan vào đầu óc con người trong quá trình lao động

Sự hình thành ý thức không phải là quá trình thu nhận thụ động, mà đó là kếtquả hoạt động chủ động của con người Nhờ có lao động, con người tác động vàothế giới khách quan, bắt thế giới khách quan bộc lộ thuộc tính, kết câu, quy luật vậnđộng của mình thành những hiện tượng nhất định, và các hiện tượng ấy tác độngvào bộ óc con người dần hình thành những tri htức về tự nhiên và xã hội Như vậy

ý thức được hình thành chủ yếu do hoạt động cải tạo thế giới khách quan của conngười, làm biến đổi thế giới

Trang 14

+) Lao động không xuát hiện ở trạng thái đơn nhất, ngay từ đầu nó đã mangtính tập thể xã hội Vì vậy, nhu cầu trao đổi tư tưởng cho nhau xuất hiện Chính nhucầu đó đòi hỏi xuất hiện ngôn ngữ.(tiếng nói và chữ viết).

Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung của ý thức, không cóngôn ngữ thì ý thức không thể tồn tại và thể hiện được Nó vừa là phương tiện giaotiếp trong xã hội, đồng thời là công cụ của tư duy nhằm khái quát hoá, trừu tượnghoá hiện thực Nhờ có ngon ngữ mà con người tổng kết được thực tiễn, trao đổithông tin, trao đổi tri thức từ thế hệ này sang thế hệ khác

=> Kết luận: Nguồn gốc trực tiếp quan trọng nhất quyết định sự ra đời vàphát triển của ý thức là lao động, là thực tiễn xã hội.Ý thức phản ánh hiện thực kháchquan vào bộ óc con người thông qua lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội Ý thức làsản phẩm xã hội, là một hiện tượng xã hội

2 Bản chất của ý thức.

“ý thức…từ ban đầu là sản phẩm xã hội, và nó vẫn là sản phẩm xã hội khicon người còn tồn tại”

“ ý thức không bao giờ trở thành cái gì khác được, như sự tồn tại có ý thức…

mà sự tồn tại của con người là quá trình thực tế của cuộc sống của họ”( Tập 3 Ăngghen toàn tập)

Mác-Trong lịch sử triết học, có nhiều quan điểm bàn về vấn đề bản chất của ý thức

+)Chủ nghĩa duy tâm cường điệu ý thức, coi ý thức là một thực thể độc lập,

là thực tại duy nhất và sinh ra vật chất

+)Chủ nghĩa duy vật trước Mác thừa nhận vật chất tồn tại khách quan và ý

thức là sự phản ánh tồn tại khách quan đó Tuy nhiên do quan niệm siêu hình-máymóc cho nên họ không thấy được tính năng động sáng tạo của ý thức, tính biệnchứng của quá trình phản ánh

+)Chủ nghĩa duy vật biện chứng: về bản chất, coi ý thức là sự phản ánh

hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo; ýthức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan

Trang 15

- Ý thức là sự phản ánh, là cái phản ánh; còn vật chất là cái được phản ánh.Cái được phản ánh là vật chất tồn tại khách quan, ở ngoài và độc lập với cái phảnánh tức là ý thức Cái phản ánh tức là ý thức là hiện thực chủ quan, là hình ảnh tinhthần của sự vật khách quan, lấy cái khách quan làm tiền đề, bị cái khách quan quyđịnh, không có tính vật chất Do đó, không thể đồng nhất, hoặc tách rời cái đượcphản ánh tức vật chất với cái phản ánh tức ý thức.

- Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan: Hình ảnh đó khôngphải là hình ảnh vật lý hay hình ảnh tâm lý động vật về sự vật Ý thức là của conngười, cho nên nó mang tính năng động, sáng tạo lại hiện thực theo nhu cầu thựctiễn xã hội Quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc người là quá trìnhnăng động sáng tạo thống nhất của các mặt sau:

Một là trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh Sự trao đổi này

mang tính chất hai chiều, có chọn lọc các thông tin cần thiết

Hai là, mô hình hoá đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần

(không phải chính bản thân đối tượng hay hình ảnh vật lý của đối tượng) Thựcchất đây là quá trình “sáng tạo lại” hiện thực của ý thức theo nghĩa mã hoá các đốitượng thành các ý tưởng tinh thần phi vật chất

Ba là, chuyển mô hình từ tư duy ra hiện thực khách quan, tức là quá trình hiện

thực hoá tư tưởng Thông qua hoạt động thực tiễn, biến cái quan niệm thành cái thực tại,biến các ý tưởng phi vật chất trong tư duy thành các dạng vật chất ngoài hiện thực

Sáng tạo và phản ánh là hai mặt thuộc bản chất ý thức Ý thức là một hiệntượng xã hội Sự ra đời, tồn tại của ý thức gắn liền với hoạt động thực tiễn lịch sử,chịu sự chi phối không chỉ các quy định sinh học mà chủ yếu là của quy luật xã hội,

do nhu cầu giao tiếp xã hội và các điều kiện sinh hoạt hiện thực của con người quy

định Ý thức mang bản chất xã hội (Đứa trẻ sống trong rừng từ nhỏ ở Ấn Độ).

Tính tích cực, sáng tạo của ý thức

CNDVSH CNDT

Trang 16

3 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

Mối quan hệ vật chất và ý thức là "Vấn đề cơ bản của mọi triết học, đặc biệt làcủa triết học hiện đại"9 Tuỳ theo lập trường thế giới quan khác nhau, khi giải quyếtmối quan hệ giữa vật chất và ý thức mà hình thành hai đường hướng cơ bản trongtriết học là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Khẳng định nguyên tắc tínhđảng trong triết học, V.I.Lênin đã viết: “Triết học hiện đại cũng có tính đảng nhưtriết học hai nghìn năm về trước Những đảng phái đang đấu tranh với nhau, vềthực chất, - mặc dù thực chất đó bị che giấu bằng những nhãn hiệu mới của thủđoạn lang băm hoặc tính phi đảng ngu xuẩn - là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duytâm”10

a Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật siêu hình

9 C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập., Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, t 21, tr 403

10 V I Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M 1980, t 18, tr 445.

Trang 17

Trong lịch sử triết học, khi lý giải mối quan hệ vật chất - ý thức, các nhà triếthọc đã phạm nhiều sai lầm chủ quan, phiến diện do không hiểu được bản chất thực

sự của vật chất và ý thức Khi nghiên cứu các tư tưởng triết học trong lịch sử, trong

Luận cương về L Phoiơbắc, C.Mác đã chỉ rõ hạn chế của cả chủ nghĩa duy vật trực

quan và chủ nghĩa duy tâm: "Sự vật, hiện thực cái có thể cảm giác được, chỉ đượcnhận thức dưới hình thức khách thể, hay hình thức trực quan, chứ không được nhậnthức là hoạt động cảm giác của con người, là thực tiễn - không được nhận thức vềmặt chủ quan Vì vậy, mặt năng động được chủ nghĩa duy tâm phát triển một cáchtrừu tượng, vì chủ nghĩa duy tâm dĩ nhiên là không hiểu hoạt động hiện thực, cảmgiác được"11

Đối với chủ nghĩa duy tâm, ý thức, tinh thần vốn có của con người đã bị trừu tượng hoá, tách khỏi con người hiện thực thành một lực lượng thần bí, tiên thiên.

Họ coi ý thức là tồn tại duy nhất, tuyệt đối, là tính thứ nhất từ đó sinh ra tất cả; cònthế giới vật chất chỉ là bản sao, biểu hiện khác của ý thức tinh thần, là tính thứ hai,

do ý thức tinh thần sinh ra Trên thực tế, chủ nghĩa duy tâm là cơ sở lý luận của tôngiáo, chủ nghĩa ngu dân Mọi con đường mà chủ nghĩa duy tâm mở ra đều dẫn conngười đến với thần học, với "đường sáng thế" Trong thực tiễn, người duy tâm phủnhận tính khách quan, cường điệu hóa vai trò nhân tố chủ quan, duy ý chí, hànhđộng bất chấp điều kiện, quy luật khách quan

Chủ nghĩa duy vật siêu hình, tuyệt đối hoá yếu tố vật chất, chỉ nhấn mạnh một

chiều vai trò của vật chất sinh ra ý thức, quyết định ý thức, phủ nhận tính độc lậptương đối của ý thức, không thấy được tính năng động, sáng tạo, vai trò to lớn của

ý thức trong hoạt động thực tiễn cải tạo hiện thực khách quan Do vậy, họ đã phạmnhiều sai lầm có tính nguyên tắc bởi thái độ "khách quan chủ nghĩa", thụ động, ỷlại, trông chờ không đem lại hiệu quả trong hoạt động thực tiễn

b Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng

11 C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, t 3, tr 19

Trang 18

Kiên trì đường lối duy vật, nắm vững phép biện chứng, luôn theo sát và kịpthời khái quát những thành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên, các nhà kinh điểncủa chủ nghĩa Mác - Lênin đã khắc phục được những sai lầm, hạn chế của các quanniệm duy tâm, siêu hình và nêu lên những quan điểm khoa học, khái quát đúng đắn

về mặt triết học hai lĩnh vực lớn nhất của thế giới là vật chất, ý thức và mối quan hệgiữa chúng

Theo quan điểm triết học Mác - Lênin, vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng, trong đó vật chất quyết định ý thức, còn ý thức tác động tích cực trở lại vật chất.

* Vật chất quyết định ý thức.

Vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức được thể hiện trên mấy khíacạnh sau:

Thứ nhất, vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức.

Vật chất “sinh” ra ý thức, vì ý thức xuất hiện gắn liền với sự xuất hiện của conngười cách đây từ 3 đến 7 triệu năm, mà con người là kết quả của một quá trìnhphát triển, tiến hóa lâu dài, phức tạp của giới tự nhiên, của thế giới vật chất Conngười do giới tự nhiên, vật chất sinh ra, cho nên lẽ tất nhiên, ý thức - một thuộc tính

bộ phận của con người - cũng do giới tự nhiên, vật chất sinh ra Các thành tựu củakhoa học tự nhiên hiện đại đã chứng minh được rằng, giới tự nhiên có trước conngười; vật chất là cái có trước, còn ý thức là cái có sau; vật chất là tính thứ nhất,còn ý thức là tính thứ hai Vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức và lànguồn gốc sinh ra ý thức Bộ óc người là một dạng vật chất có tổ chức cao nhất, là

cơ quan phản ánh để hình thành ý thức Ý thức tồn tại phụ thuộc vào hoạt độngthần kinh của bộ não trong quá trình phản ánh hiện thực khách quan Sự vận độngcủa thế giới vật chất là yếu tố quyết định sự ra đời của cái vật chất có tư duy là bộ

óc người

Trang 19

Thứ hai, vật chất quyết định nội dung của ý thức.

Ý thức dưới bất kỳ hình thức nào, suy cho cùng, đều là phản ánh hiện thựckhách quan Ý thức mà trong nội dung của nó chẳng qua là kết quả của sự phản ánhhiện thực khách quan vào trong đầu óc con người Hay nói cách khác, có thế giớihiện thực vận động, phát triển theo những quy luật khách quan của nó, được phảnánh vào ý thức mới có nội dung của ý thức

Thế giới khách quan, mà trước hết và chủ yếu là hoạt động thực tiễn có tính xãhội - lịch sử của loài người là yếu tố quyết định nội dung mà ý thức phản ảnh "Ýthức không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại được ý thức" Ý thức chỉ

là hình ảnh của thế giới khách quan Sự phát triển của hoạt động thực tiễn cả về bềrộng và chiều sâu là động lực mạnh mẽ nhất quyết định tính phong phú và độ sâusắc của nội dung của tư duy, ý thức con người qua các thế hệ, qua các thời đại từmông muội tới văn minh, hiện đại

Thứ ba, vật chất quyết định bản chất của ý thức.

Phản ánh và sáng tạo là hai thuộc tính không tách rời trong bản chất của ýthức Nhưng sự phản ánh của con người không phải là "soi gương", "chụp ảnh"hoặc là "phản ánh tâm lý" như con vật mà là phản ánh tích cực, tự giác, sáng tạothông qua thực tiễn Khác với chủ nghĩa duy vật cũ, xem xét thế giới vật chất như

là những sự vật, hiện tượng cảm tính, chủ nghĩa duy vật biện chứng xem xét thếgiới vật chất là thế giới của con người hoạt động thực tiễn Chính thực tiễn là hoạtđộng vật chất có tính cải biến thế giới của con người - là cơ sở để hình thành, pháttriển ý thức, trong đó ý thức của con người vừa phản ánh, vừa sáng tạo, phản ánh

để sáng tạo và sáng tạo trong phản ánh

Thứ tư, vật chất quyết định sự vận động, phát triển của ý thức.

Mọi sự tồn tại, phát triển của ý thức đều gắn liền với quá trình biến đổi của vật

Trang 20

chất; vật chất thay đổi thì sớm hay muộn, ý thức cũng phải thay đổi theo Conngười - một sinh vật có tính xã hội ngày càng phát triển cả thể chất và tinh thần, thì

dĩ nhiên ý thức - một hình thức phản ánh của óc người cũng phát triển cả về nộidung và hình thức phản ánh của nó Đời sống xã hội ngày càng văn minh và khoahọc ngày càng phát triển đã chứng minh điều đó

Loài người nguyên thuỷ sống bầy đàn dựa vào sản vật của thiên nhiên thì tưduy của họ cũng đơn sơ, giản dị như cuộc sống của họ Cùng với mỗi bước pháttriển của sản xuất, tư duy, ý thức của con người cũng ngày càng mở rộng, đời sốngtinh thần của con người ngày càng phong phú Con người không chỉ ý thức đượchiện tại, mà còn ý thức được cả những vấn đề trong quá khứ và dự kiến được cảtrong tương lai, trên cơ sở khái quát ngày càng sâu sắc bản chất, quy luật vận động,phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy của họ Sự vận động, biến đổi khôngngừng của thế giới vật chất, của thực tiễn là yếu tố quyết định sự vận động, biếnđổi của tư duy, ý thức của con người Khi sản xuất xã hội xuất hiện chế độ tư hữu,

ý thức chính trị, pháp quyền cũng dần thay thế cho ý thức quần cư, cộng đồng thờinguyên thuỷ Trong nền sản xuất tưbản, tính chất xã hội hoá của sản xuất phát triển

là cơ sở để ý thức xã hội chủ nghĩa ra đời, mà đỉnh cao của nó là sự hình thành vàphát triển không ngừng lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin

Trong đời sống xã hội, vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức được biểuhiện ở vai trò của kinh tế đối với chính trị, đời sống vật chất đối với đời sống tinhthần, tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội Trong xã hội, sự phát triển của kinh tế xétđến cùng quy định sự phát triển của văn hóa; đời sống vật chất thay đổi thì sớmmuộn đời sống tinh thần cũng thay đổi theo

Vật chất và ý thức là hai hiện tượng đối lập nhau về bản chất, nhưng về mặtnhận thức luận, cần quán triệt sâu sắc tư tưởng biện chứng của V.I Lênin, rằng "sựđối lập giữa vật chất và ý thức chỉ có ý nghĩa tuyệt đối trong những phạm vi hết sứchạn chế: trong trường hợp này chỉ giới hạn trong vấn đề nhận thức luận cơ bản là

Trang 21

thừa nhận cái gì có trước và cái gì là cái có sau? Ngoài giới hạn đó, thì không cònnghi ngờ gì nữa rằng sự đối lập đó là tương đối"12 Ở đây, tính tương đối của sự đốilập giữa vật chất và ý thức thể hiện qua mối quan hệ giữa thực thể vật chất đặc biệt

- bộ óc người và thuộc tính của chính nó

* Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất

Điều này được thể hiện trên những khía cạnh sau:

Thứ nhất, tính độc lập tương đối của ý thức thể hiện ở chỗ, ý thức là sự phản

ánh thế giới vật chất vào trong đầu óc con người, do vật chất sinh ra, nhưng khi đã

ra đời thì ý thức có “đời sống” riêng, có quy luật vận động, phát triển riêng, không

lệ thuộc một cách máy móc vào vật chất Ý thức một khi ra đời thì có tính độc lậptương đối, tác động trở lại thế giới vật chất Ý thức có thể thay đổi nhanh, chậm, đisong hành so với hiện thực, nhưng nhìn chung nó thường thay đổi chậm so với sựbiến đổi của thế giới vật chất

Thứ hai, Sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động

thực tiễn của con người Nhờ họat đông thực tiễn, ý thức có thể làm biến đổi nhữngđiều kiện, hoàn cảnh vật chất, thậm chí còn tạo ra “thiên nhiên thứ hai” phục vụcho cuộc sống của con người Còn tự bản thân ý thức thì không thể biến đổi đượchiện thực Con người dựa trên những tri thức về thế giới khách quan, hiểu biếtnhững quy luật khách quan, từ đó đề ra mục tiêu, phương hướng, biện pháp và ýchí quyết tâm để thực hiện thắng lợi mục tiêu đã xác định Đặc biệt là ý thức tiến

bộ, cách mạng một khi thâm nhập vào quần chúng nhân dân – lực lượng vật chất xãhội, thì có vai trò rất to lớn "Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thếđược sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lựclượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâmnhập vào quần chúng"13

12 V I Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M 1980, t 18, tr 173.

13 C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, t 1, tr 580

Trang 22

Thứ ba, vai trò của ý thức thể hiện ở chỗ nó chỉ đạo hoạt động, hành động của

con người; nó có thể quyết định làm cho hoạt động của con người đúng hay sai,thành công hay thất bại Khi phản ánh đúng hiện thực, ý thức có thể dự báo, tiênđoán một cách chính xác cho hiện thực, có thể hình thành nên những lý luận địnhhướng đúng đắn và những lý luận này được đưa vào quần chúng sẽ góp phần độngviên, cổ vũ, khai thác mọi tiềm năng sáng tạo, từ đó sức mạnh vật chất được nhânlên gấp bội Ngược lại, ý thức có thể tác động tiêu cực khi nó phản ánh sai lạc,xuyên tạc hiện thực

Thứ tư, xã hội càng phát triển thì vai trò của ý thức ngày càng to lớn, nhất là

trong thời đại ngày nay, thời đại thông tin, kinh tế tri thức, thời đại của cuộc cáchmạng khoa học và công nghệ hiện đại, khi mà tri thức khoa học đã trở thành lựclượng sản xuất trực tiếp Trong bối cảnh toàn cầu hóa, vai trò của tri thức khoahọc, của tư tưởng chính trị, tư tưởng nhân văn là hết sức quan trọng

Tính năng động, sáng tạo của ý thức mặc dù rất to lớn, nhưng nó không thểvượt quá tính quy định của những tiền đề vật chất đã xác định, phải dựa vào cácđiều kiện khách quan và năng lực chủ quan của các chủ thể hoạt động Nếu quênđiều đó chúng ta sẽ lại rơi vào vũng bùn của chủ nghĩa chủ quan, duy tâm, duy ýchí, phiêu lưu và tất nhiên không tránh khỏi thất bại trong hoạt động thực tiễn

Ý nghĩa phương pháp luận

Từ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong triết học Mác - Lênin, rút ra

nguyên tắc phương pháp luận là tôn trọng tính khách quan kết hợp phát huy tính năng động chủ quan Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, mọi chủ trương,

đường lối, kế hoạch, mục tiêu, chúng ta đều phải xuất phát từ thực tế khách quan,

từ những điều kiện, tiền đề vật chất hiện có Phải tôn trọng và hành động theo quiluật khách quan, nếu không làm như vậy, chúng ta sẽ phải gánh chịu những hậu quảtai hại khôn lường Nhận thức sự vật hiện tượng phải chân thực, đúng đắn, trách tô

Trang 23

hồng hoặc bôi đen đối tượng, không được gán cho đối tượng cái mà nó không có.Văn kiện Đại hội XII chủ trương phải nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh đúng sựthật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật Nhận thức, cải tạo sự vật hiện tượng,nhìn chung, phải xuất từ chính bản thân sự vật hiện tượng đó với những thuộc tính,mối liên hệ bên trong vốn có của nó Cần phải tránh chủ nghĩa chủ quan, bệnh chủquan duy ý chí; chủ nghĩa duy vật tầm thường, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩakhách quan.

Phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố conngười, chống tư tưởng, thái độ thụ động, ỷ lại, ngồi chờ, bảo thủ, trì trệ, thiếu tínhsáng tạo; phải coi trọng vai trò của ý thức, coi trọng công tác tư tưởng và giáo dục

tư tưởng, coi trọng giáo dục lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ ChíMinh Đồng thời, phải giáo dục và nâng cao trình độ tri thức khoa học, củng cố, bồidưỡng nhiệt tình, ý chí cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nói chung,nhất là trong điều kiện nền văn minh trí tuệ, kinh tế tri thức, toàn cầu hoá hiện nay;coi trọng việc giữ gìn, rèn luyện phẩm chất đạo đức cho cán bộ, đảng viên, bảo đảm

sự thống nhất giữa nhiệt tình cách mạng và tri thức khoa học

Để thực hiện nguyên tắc tôn trọng tính khách quan kết hợp phát huy tính năngđộng chủ quan, chúng ta còn phải nhận thức và giải quyết đúng đắn các quan hệ lợiích, phải biết kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội; phải cóđộng cơ trong sáng, thái độ thật sự khách quan, khoa học, không vụ lợi trong nhậnthức và hành động của mình

NỘI DUNG 2: HAI NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

Quan điểm duy vật biện chứng không chỉ khẳng định bản chất vật chất, tính thốngnhất vật chất của thế giới mà còn khẳng định các sự vật, hiện tượng trong thế giới luôntồn tại trong sự liên hệ, trong sự vận động và phát triển không ngừng theo những quy luậtvốn có của nó Làm sáng tỏ những vấn đề đó là nội dung cơ bản của PBC

PHẦN A: NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN

Trang 24

1 Khái niệm về mối liên hệ phổ biến.

Nếu vấn đề quan hệ giữa vật chất và ý thức, tồn tại và tư duy là vấn đề cơbản chi phối đối với tất cả các hệ thống triết học thì một vấn đề khác mà triết học

quan tâm làm sáng tỏ là: vấn đề các sự vật, hiện tượng, quá trình khác nhau trong

thế giới có mối liên hệ qua lại tác động, ảnh hưởng lẫn nhau hay chúng tồn tại biệtlập, tách rời nhau? Thực chất là giải quyết câu hỏi các sự vật hiện tượng trong thếgiới tồn tại như thế nào?

Trong lịch sử triết học đã có nhiều quan điểm khác nhau khi giải quyết vấn

đề trên nhưng suy cho cùng đều thuộc về 2 quan điểm chính:

- Những người theo quan điểm siêu hình cho rằng các sự vật và hiện tượng

tồn tại biệt lập, tách rời nhau, cái này bên cạnh cái kia, giữa chúng không có sự phụthuộc, không có sự ràng buộc và quy định lẫn nhau

Có chăng chỉ là những liên hệ hời hợt, bề ngoài, mang tính ngẫu nhiên Trong số những quan điểm siêu hình cũng có người thừa nhận sự liên hệ vàtính đa dạng của nó nhưng lại phủ nhận khả năng chuyển hoá lẫn nhau giữa cáchình thức liên hệ khác nhau

VD: Xã hội chỉ là một sự hợp lại của những cá nhân riêng biệt, giữa các cánhân không có sự ảnh hưởng, tác động với nhau

Thế giới vô cơ và thế giới hữu cơ tồn tại độc lập Thế giới không sống và thếgiới sống không thể chuyển hóa cho nhau

Mỗi thành viên trong 1 lớp hoạt động biệt lập, không có mối liên hệ qua lạivới nhau

Quan điểm này không phản ánh đúng mối liên hệ của các sự vật, hiện tượngtrong thế giới

- Quan điểm biện chứng cho rằng:

Thế giới là một chỉnh thể thống nhất các sự vật, hiện tượng và các quá trình,các yếu tố cấu thành thế giới đó vừa tồn tại độc lập, vừa tác động qua lại,và chuyểnhoá lẫn nhau

Sơ đồ mối liên hệ qua lại quy định

Tác động qua lại

chuyển hóa lẫn nhau

Giữa các mặt đối lập của một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau

VD:- Môi trường và cuộc sống của con người tác động thườngxuyên qua lại lẫn nhau

VD: Tri thức triết học: muốn lĩnh hội được phải trải qua sự lĩnhhội tri thức của các ngành khoa học cụ thể

VD: Sự hoạt động của hệ thống thần kinh được quy định bởi quá trình hưngphấn và ức chế, khuyếch tán và tập trung

VD: Tư duy của sinh viên khác với tư duy của học sinh phổ thông

Kết luận: Như vậy, có 2 cách giải quyết khác nhau trong việc nhìn nhận vấn

đề thứ nhất (vấn đề các sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh ta tồn tại như

Trang 25

thế nào) Có sự đối lập giữa 2 quan điểm trong quá trình xem xét thế giới xungquanh mình bởi vì:

QĐSH: “ Chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối liên

hệ qua lại giữa những sự vậy ấy; chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy màkhông nhìn thấy sự phát sinh và tiêu vong của những sự vật ấy; chỉ nhìn thấy trạngthái tĩnh của những sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉnhìn thấy cây mà không nhìn thấy rừng”

QĐBC: không chỉ nhìn thấy những sự vật cá biệt mà còn thấy mối liên hệqua lại giữa chúng; không chỉ nhìn thấy sự tồn tại của sự vật mà còn thấy cả sự sinhthành và sự tiêu vong của sự vật; không chỉ thấy trạng thái tĩnh của sự vật mà cònthấy cả trạng thái động của sự vật, không chỉ thấy cây mà còn thấy cả rừng

Ăngghen nhận xét:

+ Đối với tư duy của các nhà siêu hình, một sự vật hoặc tồn tại hoặc khôngtồn tại, một hiện tượng không thể vừa là chính nó lại vừa là cái khác, cái khẳngđịnh và cái phủ định tuyệt đối bài trừ nhau

+ Theo quan điểm biện chứng, một vật hữu hình trong mỗi lúc vừa là nó vừakhông phải là nó, một cái tên đang bay trong mỗi lúc vừa ở vị trí A lại vừa không ở

vị trí A, cái khẳng định và cái phủ định vừa loại trừ nhau vừa không thể cách nhau,đòi hỏi phải có nhau

Vậy mối liên hệ theo quan điểm DVBC là gì? Mối liên hệ là phạm trù triết học dùng

để chỉ sự qui định, tác động qua lại, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, một hiện tượng trong thế giới.

VD: Môi trường có ảnh hưởng to lớn đến con người, và hoạt động của conngười cũng tác động trở lại to lớn đến sự biến đổi của môi trường

VD: Các hoạt động của lớp học như phong trào thi đua học tập, phong tràogiúp đỡ nhau trong cuộc sống ảnh hưởng đến mọi thành viên trong lớp, và hoạtđộng của mỗi thành viên cũng tác động trở lại đến sự hoạt động của lớp

- Mối liên hệ phổ biến: để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thế giới; trong đó những mối liên hệ phổ biến nhất là những mối liên hệ tồn tại ở mọi sự vật, hiện tượng của thế giới, nó thuộc đối tượng nghiêncứu của phép biện chứng, đó là mối liên hệ giữa: các mặt đối lập, lượng và chất, khẳng định và phủ định

2, Tính chất của mối liên hệ phổ biến.

Có các quan điểm khác nhau về tính chất của mối liên hệ phổ biến

- Những người theo quan điểm duy tâm thừa nhận có sự liên hệ qua lại giữa

các sự vật, hiện tượng và quá trình phân tích khác nhau

+ Nhưng họ tìm cơ sở của sự liên hệ, sự tác động qua lại giữa các sự vật vàhiện tượng ở các lực lượng siêu tự nhiên hay ở ý thức ở cảm giác của con người.Trong mối liên hệ vật chất và ý thức, quan điểm duy tâm cho rằng ý thức là tính thứnhất, giới tự nhiên là tính thứ 2

Trang 26

+ Xuất phát từ quan điểm DTCQ: Béccơli coi cơ sở của sự liên hệ đó là cảm giác.( ý thức gắn liền với chủ thể).

+ Xuất phát từ quan điểm DTKQ: Hêghen tìm cơ sở của sự liên hệ đó ở ýniệm tuyệt đối – là thế giới tinh thần, có trước, sản sinh ra thế giới vật chất, luônluôn vận động phát triển không ngừng.( ý thức nằm ngoài chủ thể)

- Đối lập với quan điểm trên Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng:

Mối liên hệ có các tính chất sau:

a, Tính khách quan

CNDVBC xác định: Các sự vật, hiện tượng, các quá trình tạo thành thế giới dùphong phú, đa dạng và khác nhau đến đâu đều là những dạng khác nhau của một thế giớiduy nhất, thống nhất- thế giới vật chất Chính tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sởcủa mối liên hệ phổ biến Và nhờ tính thống nhất đó các sự vật, hiện tượng khôngthể tồn tại biệt lập, tách rời nhau mà nó tồn tại trong sự tác động qua lại, chuyểnhóa lẫn nhau Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất

Vấn đề là các sự vật, hiện tượng trong thế giới làm như thế nào để biểu hiện

sự tồn tại của mình? Các sự vật, hiện tượng biểu hiện sự tồn tại của mình thông qua

vận động, tác động qua lại lẫn nhau.Vì vậy, bản chất, tính quy luật của sự vật cũngchỉ bộc lộ thông qua sự tác động của chúng đối với các sự vật, hiện tượng khác

VD Đánh giá bản chất của một con người chỉ có thể xem xét họ thông qua các mối liên hệ, qua sự hoạt động của người đó với người khác, với tự nhiên, xã hội, từ đó kết luận bản chất tốt hay xấu

Có thể nói rằng sự đối lập trong xác định nhân tố quy định sự liên hệ giữacác sự vật, hiện tượng trên là do có sự khác nhau trong cách giải quyết mặt thứ nhấtvấn đề cơ bản của triết học “giữa vật chất và ý thức, cái nào có trước, cái nào cósau và cái nào quyết định cái nào”

+ CNDT: cho rằng: ý thức, tinh thần có trước tự nhiên, có trước vật chất vàquy định vật chất

+ CNDV: cho rằng vật chất, giới tự nhiên là cái có trước và quyết định ý thứccủa con người, ý thức là kết quả phản ánh của các quá trình vật chất khách quan

VD: Con người dù không muốn vẫn phải chịu sự tác động của thiên tai

Do đó, con người cần tôn trọng tính khách quan của các mối liên hệ, hiểubiết các mối liên hệ, vận dụng chúng vào hoạt động của mình, giải quyết các mốiliên hệ phù hợp nhằm phục vụ nhu cầu, lợi ích của xã hội và bản thân con người

b, Tính phổ biến

Mối liên hệ không chỉ mang tính khách quan mà còn mang tính phổ biến Tínhphổ biến của mối liên hệ thể hiện:

Thứ nhất: Các sự vật, hiện tượng đều có mối liên hệ với nhau để cùng tồn tại và

phát triển Không có sự vật, hiện tượng nằm ngoài mối liên hệ Mối liên hệ cũng có ở mọilĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy

VD: Do bản chất sinh học, con người phải ăn để tồn tại

VD Trong xã hội: Trong thời đại ngày nay không một quốc gia nào không

có quan hệ, không có liên hệ với các quốc gia khác về mọi mặt của đời sống xã hội

Trang 27

chính vì vậy trên thế giới đã và đang xuất hiện xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoámọi mặt của đời sống xã hội Nhiều vấn đề đã và đang trở thành vấn đề toàn cầu;đói nghèo, bệnh tật, môi trường sinh thái, dân số, chiến tranh…

Mỗi con người trong xã hội, sự tồn tại của họ thông qua các mối liên hệ Đó

là quan hệ kinh tế, quan hệ xã hội, quan hệ đối với tự nhiên Không thể tồn tại mộtcon người chung chung, tách rời các mối liên hệ

Với lĩnh vực tư duy, ý thức Con người muốn lĩnh hội được tri thức mới phải trải qua sự đãlĩnh hội tri thức cũ Không phải con người nào đó sinh ra đã lĩnh hội được ngay những tri thức màphải trải qua một quá trình hoạt động và lao động

Thứ hai, mối liên hệ biểu hiện dưới những hình thức riêng biệt cụ thể tuỳ

theo điều kiện nhất định Song, dù dưới hình thức nào, chúng cũng chỉ là biểu hiệncủa những mối liên hệ chung nhất, phổ biến nhất Phép biện chứng duy vật nghiêncứu những mối liên hệ chung nhất, bao quát nhất của thế giới Bởi thế, Ăngghenviết:” phép biện chứng là khoa học về sự liên hệ phổ biến” Cũng với lý do trên,triết học gọi mối liên hệ đó là mối liên hệ phổ biến

c, Tính đa dạng

- Nghiên cứu mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng trong thế giới còn thấy rõtính đa dạng, nhiều vẻ của nó Tính đa dạng của sự liên hệ do tính đa dạng trong sựtồn tại, sự vận động và phát triển của chính các sự vật, hiện tượng quy định Cónhiều mối liên hệ phong phú khác nhau như:

1 Mối liên hệ bên trong – Mối liên hệ bên ngoài

- Mối liên hệ bên trong: là mối liên hệ qua lại, là sự tác động lẫn nhau giữacác bộ phận giữa các yếu tố, các thuộc tính, các mặt khác nhau của một sự vật, nógiữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật

- Mối liên hệ bên ngoài: là mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng khác nhau.VD: - Sự phát triển của một cơ thể động vật trước hết và chủ yếu là do quátrình đồng hoá và dị hoá trong cơ thể động vật quy định: môi trường (thức ăn,không khí…) dù có tốt mấy chăng nữa mà khả năng hấp thụ kém thì con vật ấycũng không lớn nhanh được

- Sự lĩnh hội tri thức của người học trước hết và chủ yếu được quyết định bởichính người đó (trình độ, năng lực, tâm lý…).Song nếu không có sự tác động từbên ngoài (nghệ thuật truyền thụ, cơ sở vật chất…) tác động bằng cách này haycách khác thì sự lĩnh hội tri thức đó không được đầy đủ

- Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại vừa tạo ra thời cơ, nhưngcũng vừa tạo ra những thách thức to lớn đối với tất cả các nước chậm phát triển.Nước ta có tranh thủ được thời cơ do cuộc cách mạng đó tạo ra hay không trước hết

và chủ yếu phụ thuộc vào năng lực của Đảng, của Nhà nước và nhân dân ta

2 Mối liên hệ chủ yếu – Mối liên hệ thứ yếu

3 Mối liên hệ bản chất – Mối liên hệ không bản chất

4 Mối liên hệ tất nhiên – Mối liên hệ ngẫu nhiên

5 Mối liên hệ trực tiếp – Mối liên hệ gián tiếp

6 Mối liên hệ giữa các sự vật – Mối liên hệ giữa các mặt trong sự vật

Trang 28

 Mối liên hệ ngẫu nhiên – khách quan, không gian – thời gian.

Khi xem xét quan điểm DVBC về sự liên hệ đòi hỏi phải chú ý:

- Thừa nhận tính tương đối trong sự phân chia các mối liên hệ Bởi mỗi loại mối

liên hệ có vị trí, vai trò xác định trong sự vận động và phát triển của sự vật, mỗi loại liên

hệ chỉ là một hình thức, một bộ phận, một mắt xích của mối liên hệ phổ biến

- Mỗi loại liên hệ trong từng cặp có thể chuyển hóa lẫn nhau Sự chuyển hoá

có thể diễn ra theo 2 khả năng:

+ Tùy theo phạm vi bao quát của từng mối liên hệ VD: Khi xem xét lĩnh vực

kinh tế, chính trị, xã hội, tư tưởng tinh thần như là những thực thể khác biệt thì sự

sự liên hệ qua lại giữa chúng là liên hệ bề ngoài Nhưng khi xem xét đó là bốn lĩnhvực cơ bản nhất cấu thành 1 chỉnh thể xã hội thì lien hệ đó là liên hệ bên trong

+ Tùy theo kết quả vận động và phát triển của chính sự vật VD: Các doanh

nghiệp A, B, C trong những năm trước đây tồn tại với tư cách là các đơn vị độc lậpthì liên hệ là liên hệ bên ngoài Nhưng giờ đây các doanh nghiệp đó được kết hợplại thành công ty, tổng công ty thì liên hệ giữa chúng là liên hệ bên trong

Chúng ta cần phân chia, nắm bắt đúng mối liên hệ để có tác động phù hợp, đưa lạihiệu quả trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn Đôi khi mối liên hệ bênngoài, mối liên hệ thứ yếu… có thể giữ vai trò quyết định

VD: Sinh viên A ngoài mối liên hệ với các bạn trong lớp học, còn phải cómối liên hệ với các bạn ở bên ngoài, phải có mối quan hệ với môi trường sống, vớicác thành viên trong xã hội

VD: Ngày nay, xu thế toàn cầu hoá đang phát triển Các quốc gia phải liênkết với nhau để cùng tồn tại, giải quyết các vấn đề: kinh tế, chính trị, môi trường

a Như vậy, quan điểm biện chứng không chỉ khẳng đinh tính khách

quan, tính phổ biến của sự liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng,các quá trình mà nêu rõ tính đa dạng, phong phú của sự liên hệqua lại đó

: B: NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN

Sự liên hệ và tác động qua lại giữa các yếu tố trong một sự vật hay giữa các

sự vật làm cho sự vật vận động và phát triển Sự tác động đó diễn ra trong hiện thựcquyết định mối liên hệ hữu cơ giữa nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý

về sự phát triển

1 KHÁI NIỆM VỀ SỰ PHÁT TRIỂN

a, Xem xét về sự phát triển cũng xuất hiện sự đối lập về thế giới quan,

phương pháp luận giữa quan điểm siêu hình và quan điểm biện chứng xung quanh vấn đề: Sự phát triển diễn ra như thế nào, bằng cách nào?

QĐSH:

+> Sự phát triển chỉ là sự tăng lên hay giảm đi đơn thuần về mặt lượng,không có sự thay đổi về mặt chất của sự vật

Trang 29

Họ cho rằng sự vật với những chất như thế nào thì toàn bộ quá trình tồn tạicủa chúng vẫn giữ nguyên như thế và nếu có sự thay đổi về chất thì sự thay đổi ấycũng chỉ diễn ra theo một vòng tròn khép kín

+> Họ cũng coi sự phát triển chỉ là sự thay đổi về mặt lượng của từng loại

mà sự vật đang có, chứ không có sự sinh thành ra cái mới với những chất mới.+> Xem sự phát triển như là một quá trình tiến lên liên tục, không có nhữngbước quanh co, thăng trầm, phức tạp

VD: Hạt thóc gieo xuống đất sau một thời gian trở thành cây lúa, rồi cây lúatrổ bông, chín tạo thành hạt thóc Như vậy, quan điểm SH cho rằng bắt đầu từ hạtthóc và cuối cùng lại vẫn trở về hạt thóc Ở đây, không có sự thay đổi về chất,không có sự ra đời của chất mới

QĐBC:

Đối lập với quan điểm siêu hình, QĐBC cho rằng:

- Sự phát triển bao hàm tất cả các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy

- Sự phát triển là một quá trình tiến lên từ thấp đến cao Quá trình đó vừa diễn

ra dần dần, vừa nhảy vọt, đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ

Câu hỏi: Sự hình thành cái mới có diễn ra trong quá trình vận động không? (Quy luật lượng- chất).

- Dù trong hiện thực khách quan hay trong tư duy, sự phát triển diễn ra khôngphải lúc nào cũng theo đường thẳng, mà rất quanh co, phức tạp, thậm chí có thể cóbước lùi tạm thời

Lênin viết: “Nếu hình dung sự phát triển lịch sử toàn thế giới như con đườngthẳng tắp, không có những bước quanh co, những bước thụt lùi đôi khi rất xa sovới xu hướng chủ đạo là không biện chứng”

- Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần dần về lượng dẫn đến sựthay đổi về chất, là quá trình diễn ra theo con đường xoáy ốc Điều đó có nghĩa làquá trình phát triển dường như sự vật ấy quay trở về điểm khởi đầu, song trên cơ

sở mới cao hơn.( phủ định dẫn tới cái gì?- Trong sự phát triển của mình, sự vật,hiện tượng được nâng lên một trình cao mới và phủ định chỉ xảy ra khi các mâu

thuẫn đã chín muồi, khi sự thay đổi về số lượng tiến tới giới hạn của độ)

Câu hỏi: Sự vận động và phát triển có tính khuynh hướng không?(Quy luật

phủ định của phủ định)

VD: Con người tách khỏi thế giới động vật 1-2 triệu năm về trước Từ nguyênsinh vật (1 tỷ năm TCN); Loài có xương sống (600 triệu năm TCN); Loại bò xát(300 triệu năm TCN); Động vật có vú (180 tr năm TCN); Con người (1 tr nămTCN) -> Tính phức tạp của cơ thể “ Hình thức càng cao thì sự tiến hoá càngnhanh” – Ph.Ăngghen: Biện chứng của tự nhiên, NXB, HN, 1971, tr496

VD: Việc học ngoại ngữ, phải học vốn từ vựng Đến một lúc sự tích lũy củavốn từ vựng sẽ đưa lại một kết quả, một bước nhảy vọt cho việc học

VD: Để lấy được kiến thức với tấm bằng đại học, mỗi sinh viên phải trải quamột thời gian rèn luyện học tập qua 4 năm tại trường đại học Không thể chỉ học có

1 hoặc 2 năm đã có thể lấy bằng đại học

Trang 30

b, Quan điểm DVBC đối lập với QĐ DT về nguồn gốc của sự phát triển.

- QĐ DT hay quan điểm tôn giáo lại thường tìm nguồn gốc của sự phát triển

ở thần linh, thượng đế, ở các lực lượng siêu tự nhiên hay ở ý thức của con người

VD Hêghen cho rằng sự phát triển của tự nhiên và xã hội do ý niệm tuyệt đối quyđịnh Nguồn gốc của sự phát triển là nằm ngoài sự vật

- QĐBC:+> Nguồn gốc của sự phát triển nằm trong bản thân sự vật.

+> Đó là quá trình giải quyết liên tục những mâu thuẫn nằm trong

bản thân sự vật, là quá trình tự thân của mọi sự vật

VD: Vận động của các hành tinh được quy định bởi sự tác động qua lại của cáclực hút và lực đẩy

KHoa học: Toán học có vi phân và phân tích; VLH có điện dương và điệnâm; Hoá học có kết hợp và phân giải các nhân tố

Do vậy, sự phát triển là một quá trình khách quan, tồn tại độc lập với ý thức con người

Trên cơ sở khái quát sự phát triển của mọi sự vật, hiện tượng tồn tại trong

hiện thực, QĐDVBC khẳng định: Sự phát triển là một phạm trù triết học chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.

Chú ý: _ Theo quan điểm này, sự phát triển không bao quát sự vận động nóichung Nó chỉ khái quát xu hướng chung của sự vận động- xu hướng vận động đilên của sự vật, sự vật mới ra đời thay thế cho sự vật cũ

_ Sự phát triển chỉ là một trường hợp đặc biệt của sự vận động

_ Trong quá trình phát triển của mình trong sự vật sẽ hình thành dầndần những quy định mới cao hơn về chất, sẽ làm thay đổi mối liên hệ, cơ cấu,phương thức tồn tại và vận động, chức năng vốn có theo chiều hướng ngày cànghoàn thiện hơn

2 TÍNH CHẤT CỦA SỰ PHÁT TRIỂN

Quan điểm DVBC cho rằng: Sự phát triển trong đó sự vật mới ra đời thay thế

sự vật cũ là hiện tượng diễn ra không ngừng trong tự nhiên, trong xã hội và trong tưduy Sự phát triển đó có những tính chất cơ bản như sau:

+ Tính khách quan Sự phát triển bao giờ cũng mang tính khách quan

- Bởi vì, như trên đã phân tích theo quan điểm biện chứng nguồn gốc của sựphát triển nằm ngay trong bản thân sự vật

- Đó là quá trình giải quyết liên tục những mâu thuẫn nảy sinh trong sự tồn tại

và vận động của sự vật Nhờ đó sự vật luôn vận động và phát triển

- Vì thế sự phát triển là tiến trình khách quan, không phụ thuộc vào ý muốnchủ quan của con người Dù con người muốn hay không muốn, sự vật vẫn luônphát triển theo khuynh hướng chung của thế giới vật chất

+ Tính phổ biến.

Tính phổ biến của sự phát triển được hiểu là nó diễn ra ở mọi lĩnh vực tự nhiên

xã hội và tư duy, ở bất cứ sự vật, hiện tượng nào của thế giới khách quan

Trang 31

Trong giới vô cơ, sự phát triển biểu hiện dưới hình thức biến đổi của các yếu tố,

hệ thống vật chất, sự tác động lẫn nhau giữa chúng trong những điều kiện nhấtđịnh làm xuất hiện các hợp chất phức tạp

VD: - Nguyên tử được cấu thành từ hạt nhân nguyên tử và điện tử

Trong giới hữu cơ, sự phát triển thể hiện ở khả năng thích nghi của sinh vật

với sự biến đổi phức tạp của môi trường, ở sự hoàn thiện thường xuyên quá trìnhtrao đổi chất giữa cơ thể và môi trường, ở khả năng tự sản sinh ra chính mình vớitrình độ ngày càng cao hơn

VD: Sự hoạt động của hệ thống thần kinh được quy định bởi quá trình hưng phấn

và ức chế, khuyếch tán và tập trung

Sự phát triển của xã hội biểu hiện ở năng lực chinh phục tự nhiên và cải biến

xã hội cũng như bản thân con người Sự phát triển của xã hội biểu hiện ở sự thaythế lẫn nhau của các hình thái kinh tế- xã hội, mà hình thái kinh tế- xã hội sau baogiờ cũng cao hơn hình thái kinh- tế xã hội trước

VD: Sự phát triển của CNXH được thực hiện trong cuộc đấu tranh (trong toàn bộphạm vi của đời sống, kinh tế, chính trị, xã hội và tư tưởng) cái mới và cái cũ, đangsinh ra và đang tiêu vong

Trong tư duy, sự phát triển biểu hiện ở chỗ những giới hạn nhận thức của

các thế hệ trước luôn luôn bị các thế hệ sau vượt qua, thể hiện ở khả năng nhậnthức ngày càng sâu sắc, đầy đủ hơn, chính xác hơn hiện thực

VD: Tư duy của sinh viên khác với tư duy của học sinh phổ thông

Một vài thủ pháp của tư duy Lôgic: Phân tích và tổng hợp, trừu tượng hoá vàkhái quát hoá

-> Như vậy, sự phát triển, trong đó sự vật mới ra đời thay thế sự vật cũ, là

hiện tượng diễn ra không ngừng trong tự nhiên, xã hội, tư duy Chỉ trên cơ sở của

sự phát triển, mọi hình thức của tư duy, nhất là các khái niệm và các phạm trù, mới

có thể phản ánh đúng đắn hiện thực luôn vận động và phát triển

+ Tính kế thừa.

Trong quá trình phát triển, sự vật, hiện tượng không xuất hiện từ hư vô Sự pháttriển trên cơ sở kế thừa những yếu tố tích cực, tiên tiến của cái cũ, cải biến thành yếu tốcủa cái mới VD: Triết học Mác ra đời trên cơ sở kế thừa những giá trị tư tưởng tiên tiếncủa các bậc tiền bối mà trực tiếp là các giá trị của nền triết học cổ điển Đức

+ Tính đa dạng.

- Khuynh hướng phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự vật, hiện tượng.Song mỗi sự vật, hiện tượng lại có quá trình phát triển không giống nhau Tồn tại ở khônggian khác nhau, ở thời gian khác nhau, sự vật phát triển sẽ khác nhau

- Đồng thời trong quá trình phát triển của mình, sự vật còn chịu sự tác độngcủa các sự vật, hiện tượng khác, của rất nhiều yếu tố, điều kiện khác nhau…Tất cảtạo nên sự đa dạng, phong phú của sự phát triển của thế giới hiện thực.VD : Cùngnhững thách thức và thời cơ mới trong thời đại ngày nay, sự phát triển của mỗiquốc gia, dân tộc lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố như các nguồn lực, cơ chế, chínhsách…làm cho sự phát triển của thế giới trở nên phong phú, đa dạng

Trang 32

3 Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN

(Phương pháp luận là một hệ thống lý luận có vai trò chỉ đạo việc lựa chọn phương

pháp, làm rõ phạm vi ứng dụng một cách đúng đắn, nhờ vậy mang lại hiệu quảcao)

a, Quan điểm toàn diện.

Cơ sở của nguyên tắc toàn diện là gì ?

+ Bất cứ một sự vật, hiện tượng nào trong thế giới đều tồn tại ở trong mối liên

hệ với các sự vật, hiện tượng khác Không thể tìm ra sự vật nằm ngoài mối liên hệ.+ Các mối liên hệ rất phong phú và đa dạng

Do đó muốn nhận thức đúng đắn về sự vật, chúng ta phải có quan điểm toàn diện

Yêu cầu: + Phải nhận thức sự vật trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, yếu tố,

các mặt của chính sự vật hay trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với sự vật khác

+ Phải biết phân biệt từng mối liên hệ để thấy rõ vai trò khác nhaucủa từng mối liên hệ với sự vật Trên cơ sở đó có phương pháp, cách thức tác độngphù hợp nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong hoạt động thực tiễn của con người

Chú ý: Khi nhận thức mối liên hệ cần chú ý sự chuyển hóa lẫn nhau của các

mối liên hệ trong những điều kiện xác định V.I Lênin viết “Muốn thực sự hiểuđược sự vật, cần phải nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và “quan hệgián tiếp” của sự vật đó”

Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện Quan điểm toàn diệnchú ý đi từ tri thức nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật đến chỗ khái quát để rút

ra cái bản chát chi phối sự tồn tại và phát triển của sự vật Đồng thời đòi hỏi phảilàm nổi bật cái cơ bản, cái quan trọng nhất Nó không đồng nhất với cách xem xétdàn trải liệt kê rồi đưa ra kết luận về bản chất sự vật

Quan điểm toàn diện khác với chủ nghĩa chiết trung, với thuật ngụy biện VD: Chính sách đổi mới của Đảng ta xác định là phải đổi mới toàn diện mọimặt về tư duy, kinh tế, chính trị, xã hội Phải chú ý rằng nếu chỉ nêu các nội dungđổi mới sẽ thành dàn trải (phiến diện) mà phải thấy rõ hơn là đổi mới tư duy lý luận

về chủ nghĩa xã hội là khâu đột phá

(Mỗi sự vật, hiện tượng tồn tại trong nhiều mối liên hệ, tác động qua lại với

nhau; do vậy, khi nghiên cứu đối tượng cụ thể cần tuân thủ nguyên tắc toàn diện

Từ nội dung của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, phép biện chứng khái quát

thành nguyên tắc toàn diện với những yêu cầu đối với chủ thể hoạt động nhận thức

và thực tiễn như sau Thứ nhất, khi nghiên cứu, xem xét đối tượng cụ thể, cần đặt

nó trong chỉnh thể thống nhất của tất cả các mặt, các bộ phận, các yếu tố, các thuộctính, các mối liên hệ của chỉnh thể đó; “cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cảcác mặt, tất cả các mối liên hệ và “quan hệ gián tiếp” của sự vật đó”, tức trongchỉnh thể thống nhất của “mối tổng hoà những quan hệ muôn vẻ của sự vật ấy với

các sự vật khác” (V.I.Lênin) Thứ hai, chủ thể phải rút ra được các mặt, các mối

liên hệ tất yếu của đối tượng đó và nhận thức chúng trong sự thống nhất hữu cơ nội

Trang 33

tại, bởi chỉ có như vậy, nhận thức mới có thể phản ánh được đầy đủ sự tồn tạikhách quan với nhiều thuộc tính, nhiều mối liên hệ, quan hệ và tác động qua lại của

đối tượng Thứ ba, cần xem xét đối tượng này trong mối liên hệ với đối tượng khác

và với môi trường xung quanh, kể cả các mặt của các mối liên hệ trung gian, giántiếp; trong không gian, thời gian nhất định, tức cần nghiên cứu cả những mối liên

hệ của đối tượng trong quá khứ, hiện tại và phán đoán cả tương lai của nó Thứ tư,

quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện, một chiều, chỉ thấy mặt này

mà không thấy mặt khác; hoặc chú ý đến nhiều mặt nhưng lại xem xét dàn trải,không thấy mặt bản chất của đối tượng nên dễ rơi vào thuật nguỵ biện (đánh tráocác mối liên hệ cơ bản thành không cơ bản hoặc ngược lại) và chủ nghĩa chiết trung(lắp ghép vô nguyên tắc các mối liên hệ trái ngược nhau vào một mối liên hệ phổbiến)

B, Quan điểm phát triển.

- Mọi sự vật, hiện tượng đều nằm trong quá trình vận động và phát triển, nêntrong nhận thức và hoạt động của con người, con người phải có quan điểm pháttriển Điều đó có nghĩa là khi xem xét bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng phải đặtchúng trong sự vận động, sự phát triển, vạch ra xu hướng biến đổi, chuyển hóa củachúng.VI Lênin viết: “Lôgic biện chứng đòi hỏi phải xem xét sự vật trong sự pháttriển, trong sự tự vận động… trong sự biến đổi của nó”

- Quan điểm phát triển đòi hỏi: +> không chỉ nắm bắt những cái hiện đangtồn tại ở sự vật, mà còn thấy rõ khuynh hướng phát triển trong tương lai của chúng,+> phải thấy được những biến đổi đi lên cũng như những biến đổi có tính chất thụtlùi Song điều cơ bản là phải khái quát những biến đổi để vạch ra khuynh hướngbiến đổi chính của sự vật

- Xem xét sự vật theo quan điểm phát triển còn phải biết phân chia quá trìnhphát triển của sự vật ấy thành những giai đoạn Trên cơ sở ấy để tìm ra phươngpháp nhận thức và cách tác động phù hợp VD: Sinh viên là những người đangtrong quá trình phát triển về mọi mặt, cả thể lực, trí thức và trí tuệ…cho nên thời kỳnày phải tranh thủ điều kiện để hoàn thiện bản thân, làm nền tảng cho sự phát triểntiếp tục trong tương lai

- Để có sự phát triển của sự vật phải tác động vào nhiều khâu, bằng nhiềubiện pháp, nhiều phương tiện khác nhau tạo nên sự đồng bộ Phải thấy đâu là khâutrọng yếu nhất trong sự phát triển của sự vật

_ Quan điểm phát triển đối lập với quan điểm bảo thủ, trì trệ, định kiến Việctuyệt đối hóa một kết quả nhận thức nào đó về sự vật có được trong hoàn cảnh lịch

sử phát triển nhất định, ứng với giai đoạn phát triển nhất định của nó và xem đó lànhận thức duy nhất đúng về toàn bộ sự vật trong quá trình phát triển tiếp theo của

nó sẽ đưa chúng ta đến sai lầm nghiêm trọng

VD: Đảng ta vận dụng quan điểm phát triển như thế nào

Trang 34

C, Quan điểm lịch sử-cụ thể:

Từ hai nguyên lý nói trên, đòi hỏi con người khi nhận thức về sự vật và tácđộng vào sự vật phải chú ý đến điều kiện, hoàn cảnh lịch sử—cụ thể, môi trường cụthể trong đó sự vật sinh ra, tồn tại và phát triển Một luận điểm nào đó là khoa họctrong điều kiện này, nhưng có thể không phải là luận điểm khoa học trong điều kiện khác

- Mối liên hệ có bất biến không ? chúng ta thấy rằng nó không bất biến mà

nó chỉ tồn tại trong sự chuyển hóa trong không gian và thời gian xác định

- Với tư cách là những nguyên tắc phương pháp luận, quan điểm toàn diện, quan điểmlịch sử -cụ thể, quan điểm phát triển góp phần định hướng, chỉ đạo hoạt động nhận thức vàhoạt động thực tiễn cải tạo hiện thực, cải tạo chính bản thân chúng ta

VD: Để xác định đường lối, chủ trương của từng giai đoạn cách mạng, củatừng thời kỳ xây dựng đất nước, bao giờ Đảng ta cũng phân tích tình hình cụ thểcủa đất nước ta cũng như bối cảnh lịch sử quốc tế diến ra trong từng giai đoạn vàthời kỳ đó Dĩ nhiên, trong khi thực hiện đường lối, chủ trương, Đảng ta cũng bổsung và điều chỉnh cho phù hợp với diễn biến của hoàn cảnh cụ thể

Nội dung 3: Các cặp phạm trù cơ bản

Trong chương trước chúng ta đã nghiên cứu một số cặp phạm trù triết học nhưphạm trù “vật chất”, “ý thức”, “phản ánh” Chương VI chúng ta tiếp tục nghiên cứu

một số cặp phạm trù cơ bản sau:

1 Cái riêng, cái chung và cái đơn nhất.

Trong thực tế quan hệ giữa cái riêng và cái chung là mối quan hệ phổ biến nhất

VD: Đến lớp học sinh viên A thuộc sinh viên của QTKD.

A, Khái niệm cái riêng, cái chung và cái đơn nhất.

- Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình riêng lẻ nhất định Ví dụ cái bàn, cái cây, con người cụ thể v.v

Cái chung là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính

chung không những có ở một kết cấu vật chất nhất định, mà còn được lặp lại trongnhiều sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác

VD: Mặt giống nhau của những cái bàn là chất liệu gỗ, hình dạng v.v VD khái

niệm “cái cây” – Cái riêng gắn liền với khái niệm - phải có rễ, thân, lá (cáichung).Hay con người cụ thể là cái riêng nhưng con người là cái chung

Trang 35

Cái đơn nhất là phạm trù chỉ những thuộc tính, những mặt chỉ có ở một

sự vật, một kết cấu vật chất, mà không lặp lại ở sự vật, hiện tượng, kết cấu vật chất

khác VD: thủ đô Hà Nội là một “cái riêng”, ngoài đặc điểm chung giống các thành

phố khác, còn có nét riêng mà chỉ Hà Nội mới có như có Hồ Gươm, Chùa một cộtv.v đó là cái đơn nhất

- VD: Trước Cách mạng tháng 8/1945, bên cạnh những nét chung với giai

cấp công nhân ở các nước, giai cấp công nhân Việt Nam còn có những đặc điểm: rađời trước khi có giai cấp tư sản Việt Nam, trong nội bộ không có tầng lớp côngnhân quý tộc (CĐN)

B, Mối quan hệ giữa cái riêng, cái chung và cái đơn nhất

Phái duy thực cho rằng, cái riêng chỉ tồn tại tạm thời, thoáng qua, không phải là

cái tồn tại vĩnh viễn, chỉ có cái chung mới tồn tại vĩnh viễn, thật sự độc lập với ý thứccon người Cái chung không phụ thuộc vào cái riêng, mà còn sinh ra cái riêng

Phái duy danh cho rằng, chỉ có cái riêng tồn tại thực sự, còn cái chung chỉ là

những tên gọi trống rỗng, do tư tưởng của con người bịa đặt ra, chúng không phảnánh cái gì trong hiện thực Những người duy thực không thừa nhận nội dung kháchquan của các khái niệm Sai lầm của họ là ở chỗ đã tách rời cái riêng khỏi cáichung và tuyệt đối hoá cái riêng, phủ nhận cái chung

VD: Theo phái duy danh: những khái niệm như “CNTB”, “CNĐQ”… là những khái niệm

trống rỗng do đó, cuộc đấu tranh chống lại chúng là một công việc hoàn toàn vô ích

Vấn đề mối quan hệ CR và CC là những vấn đề gắn bó hết sức chặt chẽ với cuộc sống,với việc tìm tòi những giải pháp , những vấn đề do chính cuộc sống con người đặt ra

-> Nếu xuất phát từ các quan điểm của phái duy thực và phái duy danh về CR, CCthì cúng ta không thể nào tìm được những phương pháp khoa học để giải quyết nhữngvấn đề của thực tiễn Thực vậy, nếu theo quan điểm của phái duy thực, thì ta phải kết luậnrằng các khái niệm tồn tại trước và đối lập với cái mà nó phản ánh Đó là quan điểm duytâm Ngược lại, nếu theo quan điểm của phái duy danh thì ta phải kết luận rằng mọi kháiniệm, kể cả khái niệm vật chất cũng không biểu thị 1 cái gì

Trang 36

=> Như vậy, thì cả CNDV cũng sẽ là giả dối vì toàn bộ lý luận của nó được xâydựng trên quan điểm xem vật chất là cái tồn tại thực sự và khách quan.

Trái với phái duy thực và phái duy danh, phép biện chứng duy vật cho rằng,cái riêng, cái chung và cái đơn nhất đều tồn tại khách quan, giữa chúng có mối liên

hệ hữu cơ với nhau Cụ thể:

_ Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồn tại của mình

Nghĩa là không có cái chung thuần tuý tồn tại bên ngoài cái riêng Ví dụkhông có cái cây nói chung tồn tại bên ngoài cây cam, cây đào cụ thể Nhưngbản thân cây cam, cây đào cụ thể đều có nét chung như có rễ, thân, lá, quá trìnhđồng hoá, dị hoá Đó là cái chung của những cái cây cụ thể, nó tồn tại thực sự,nhưng không ở ngoài cái riêng mà phải thông qua cái riêng VD: không có sinhviên XHH thuần tuý bên ngoài sinh viên cụ thể của khoa XHH

VD: Nền kinh tế của mỗi quốc gia, dân tộc với tất cả những đặc điểm, phạm

vi của nó là 1 cái riêng( bản sắc văn hoá…) nhưng nền kinh tế nào cũng bị chi phốibởi quy luật cung cầu, quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độphát triển của LLSX- là CC

Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung.

Nghĩa là không có cái riêng nào tồn tại độc lập tuyệt đối, không có liên hệ vớicái chung Ví dụ mỗi con người là một cái riêng, nhưng mỗi con người lại không thểtồn tại ngoài mối liên hệ với cái chung Đó là mối liên hệ với với tự nhiên, xã hội, chịu

sự tác động của các quy luật sinh học và quy luật xã hội VD: Một người được gọi làsinh viên phải có quan hệ với tập thể lớp mà sinh viên đó theo học

VD: Mỗi con cá cụ thể mà ta bắt gặp có thể có nhiều thuộc tính cụ thể khác

nhau, nhưng dù có khác nhau đến đâu đi nữa, bất kỳ con cá nào cũng đều là 1 động vật

có xương sống, ở dưới nước, thở bằng mang và bởi vậy các thuộc tính đó lặp đi lặp lại

ở mọi con cá Nó tạo nên CC và CC này được phản ánh trong khái niệm “cá” Đó là

CC thực sự tồn tại nhưng chỉ tồn tại trong từng con cá cụ thể

Trang 37

_ Cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung= CC+CĐN

Cái chung là cái bộ phận, nhưng sâu sắc hơn cái riêng Cái riêng phong phúhơn vì ngoài cái chung, cái riêng còn có cái đơn nhất

Ví dụ người nông dân Việt Nam bên cạnh cái chung giống với nông dân các nướctrên thế giới (famer) như tư hữu nhỏ, sản xuất ra các sản phẩm nông nghiệp, sống ởnông thôn còn có đặc điểm riêng như chịu ảnh hưởng lâu đời của văn hoá làng

xã, các phong tục tập quán truyền thống của người Việt Cái chung sâu sắc hơncái riêng, vì cái chung phản ánh những thuộc tính, những mối liên hệ ổn định, tấtnhiên, lặp lại ở nhiều cái riêng cùng loại Do đó, cái chung gắn liền với cái bảnchất, quy định phương hướng tồn tại và phát triển của cái riêng

- Cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hoá lẫn nhau trong quá trình phát triển của sự vật

Trong hiện thực, cái mới không bao giờ xuất hiện đầy đủ ngay, mà lúc đầuxuất hiện dưới dạng cái đơn nhất Sau đó, theo quy luật, cái mới hoàn thiện dần vàthay thế cái cũ trở thành cái chung, cái phổ biến Ngược lại cái cũ lúc đầu là cáichung, cái phổ biến nhưng về sau do không phù hợp với điều kiện mới, nên dầnmất đi và trở thành cái đơn nhất Như vậy, sự chuyển hoá từ CĐN thành CC làbiểu hiện trong quá trình cái mới ra đời thay thế cái cũ Ngược lại, sự chuyển hoá

từ CC thành CĐN la biểu hiện của quá trình cái cũ , cái lỗi thời bị phủ định

- VD: Mùi hoa sữa xưa kia là đặc thù của Hà Nội nhưng hiện nay có ở nhiều nơi.

Hay là đầu tư của người Việt kiều những năm 80 là đặc thù nhưng hiện nay có rấtnhiều người Việt kiều ở nhiều nước đầu tư

C, Ý nghĩa phương pháp luận.

- Chỉ có thể tìm cái chung trong cái riêng, xuất phát từ cái riêng, từ những sự vật

hiện tượng riêng lẻ, không được xuất phát từ ý muốn chủ quan bên ngoài cái riêng

- Cái chung sâu sắc, cái bản chất chi phối cái riêng, nên nhận thức phải nhằm tìm ra cái

chung và trong hoạt động thực tiễn phải dựa vào cái chung để cải tạo cái riêng Do đó, trong hoạtđộng thực tiễn nếu không hiểu biết những nguyên lý chung (được phản ánh bằng lý luận) thì sẽ

Trang 38

không tránh khỏi việc rơi vào tình trạng hoạt động một cách mò mẫm, mù quáng Do cái chungbiểu hiện thông qua cái riêng, nên khi áp dụng cái chung phải tuỳ theo từng cái riêng cụ thể để

vận dụng cho thích hợp Ví dụ cái chung: Đảng cộng sản ra đời là sản phẩm kết hợp của chủ nghĩa Mác-Lênin và phong trào công nhân (Đảng Bônsơvích Nga, Đảng Cộng sản Trung Quốc ) Nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước VD: áp dụng mô hình sản xuất của Liên Xô,

Trung Quốc mà không tính đến đặc điểm riêng của nền sản xuất Việt Nam, điều kiện kinh tế- xãhội Việt Nam thì kết quả sẽ sụp đổ

- Trong quá trình phát triển của sự vật, trong những điều kiện nhất định cáiđơn nhất có thể biến thành cái chung và ngược lại, cho nên trong hoạt động thựctiễn có thể và cần phải tạo điều kiện thuận lợi để cái đơn nhất có lợi cho con ngườitrở thành cái chung, còn cái chung bất lợi trở thành cái đơn nhất Ví dụ: đầu tư củaNgười Việt ở nước ngoài lúc đầu là cái đơn nhất, dần dần chúng ta đã thu hút đượcrất nhiều người về nước bỏ vốn làm ăn Theo Nghị quyết Đại hội IX, nhiều điềukiện ưu đãi mới được đề ra như việc xác định thành phần kinh tế có vốn đầu tưnước ngoài để thích hợp với nhiều người có vốn nhưng không phải là tư bản (dothừa kế, tích luỹ, giải thưởng )

2 Nguyên nhân và kết quả.

( Phản ánh mối quan hệ sản sinh ra nhau giữa các sự vật, hiện tượng trong HTKQ)

“ Muốn hiểu được những hiện tượng riêng biệt, chúng ta phải tách chúng ra khỏimối liên hệ phổ biến và nghiên cứu một cách riêng biệt và như thế thì những vậnđộng nối tiếp nhau sẽ biểu hiện ra, cái là nguyên nhân, cái là kết quả”(Ăngghen

“Biện chứng của tự nhiên”, NXB Sự Thật, Hn, 1971, tr359)

A, Khái niệm nguyên nhân và kết quả Là mối quan hệ phổ biến trong hiện thực.

Nguyên nhân là phạm trù chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một

sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau, gây ra một biến đổi nhất định nào đó

Trang 39

Kết quả là phạm trù chỉ sự biến đổi xuất hiện do tác động lẫn nhau giữa các

mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau

VD: tương tác giữa dòng điện với dây tóc bóng đèn là nguyên nhân làm bóng

đèn phát sáng Cuộc đấu tranh giai cấp là nguyên nhân dẫn đến cách mạng xãhội, CM nổ ra là kết quả

Không nên hiểu nguyên nhân và kết quả nằm ở hai sự vật hoàn toàn khác nhau.Nguyên cớ và điều kiện khác với nguyên nhân, mặc dù chúng xuất hiện cùng với nguyênnhân, nhưng chúng không sinh ra kết quả Ví dụ sự kiện Vịnh Bắc Bộ năm 1964

Nguyên nhân bao giờ cũng tham gia vào kết quả

Điều kiện là môi trường cho sự tác động xảy ra; nguyên cớ là nguyên nhân giả

- Mối liên hệ nhân quả có tính khách quan, phổ biến và tất yếu.

+> Tính khách quan: mối liên hệ nhân quả là cái vốn có của bản thân sự vật, khôngphụ thuộc vào ý thức của con người Con người chỉ phản ánh vào trong đầu ócmình những tác động và những biến đổi, tức là mối liên hệ nhân quả của hiện thực,chứ không sáng tạo ra mối liên hệ nhân quả của hiện thực từ trong đầu mình Quanđiểm duy tâm không thừa nhận mối liên hệ nhân quả tồn tại khách quan trong bảnthân sự vật mà đó là do thượng đế sinh ra hay do cảm giác con người quy định.+>Tính phổ biến: mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội đều cónguyên nhân nhất định gây ra Không có hiện tượng nào không có nguyên nhân,chỉ có điều là nguyên nhân đó đã được nhận thức hay chưa mà thôi Không nênđồng nhất vấn đề nhận thức của con người về mối quan hệ nhân quả với vấn đề tồntại của mối liên hệ đó trong hiện thực

+> Tính tất yếu: một nguyên nhân nhất định, trong những điều kiện nhất định chỉ

có thể gây ra kết quả nhất định Chứng tỏ mối quan hệ nhân quả trong những điềukiện nhất định có tính tất yếu VD: Nước ở áp suất 1 atmôtphe luôn sôi ở 100 độ C

B, Mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả.

- Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả, nên nguyên nhân có trước kết quả, còn kết quả bao giờ cũng xuất hiện sau khi nguyên nhân đã xuất hiện

Trang 40

+> Tuy nhiên, không phải bất cứ hai hiện tượng nào nối tiếp nhau về mặtthời gian cũng là quan hệ nhân quả VD: Ngày đến sau đêm nhưng ngày khôngphải là nguyên nhân của đêm Chớp không phải là nguyên nhân của sấm Nhữnghiện tượng này nằm ở trong quan hệ nối tiếp nhau về mặt thời gian Vì vậy, căn cứ

để xác định mối quan hệ nhân quả là quan hệ sản sinh ra nhau VD Nguyên nhâncủa ngày và đêm là do sự quay của trái đất quanh trục Bắc- Nam của nó, nên as mặttrời chỉ chiếu sáng được bề mặt trái đất hướng về phía mặt trời

+> Nguyên nhân sinh ra kết quả rất phức tạp bởi vì nó còn phụ thuộc nhiều điều kiện

và hoàn cảnh khác nhau Một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân Mặt khác, một nguyênnhân trong những điều kiện khác nhau cũng có thể gây ra nhiều kết quả khác nhau

VD: Dòng điện qua dây tóc bóng đèn vừa làm đỏ dây tóc và phát sáng, vừa làm

giãn nở bóng đèn, vừa làm thay đổi nhiệt độ xung quanh bóng đèn Do đó, trong hoạtđộng thực tiễn, chúng ta cần phải phân tích vai trò của từng loại nguyên nhân, để có thểchủ động tạo ra điều kiện thuận lợi cho những nguyên nhân quy định sự xuất hiện củakết quả mà con người mong muốn phát huy tác dụng

- Sau khi xuất hiện, kết quả có ảnh hưởng trở lại đối với nguyên nhân

theo hai hướng: tích cực thì sẽ thúc đẩy sự hoạt động của nguyên nhân, hoặc tiêucực thì sẽ cản trở sự hoạt động của nguyên nhân

VD: Trong nền kinh tế nhiều thành phần, muốn phát triển lành mạnh đúng

hướng, thì phải tìm những nguyên nhân tiêu cực để có biện pháp khắc phục, hạn chế,đồng thời phải thấy rõ nguyên nhân tích cực thúc đẩy để có biện pháp tạo điều kiện

Nhúng 1 thanh sắt đã nung đỏ vào chậu nước lạnh thì hiệt độ của nước trongchậu tăng lên song sự tăng nhiệt độ của nước ở trong chậu, đến lượt mình lại kìm hãmtốc độ toả nhiệt của thanh sắt

Trình độ dân trí thấp do kinh tế kém phát triển ít đầu tư cho giáo dục Điều đókìm hãm sản xuất phát triển vì cản trở việc áp dụng tiến bộ KHKT vào sản xuất Ngượclại, trình độ dân trí cao là kết quả của chính sách phát triển kinh tế và giáo dục đúng đắnđiều đó tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế và giáo dục

Ngày đăng: 24/02/2020, 10:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w