1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ĐỀ CƯƠNG MÔN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN

73 514 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 424,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chẳng hạn, vận động của vật thể có liên hệ hữu cơ với khối lượng của nó, bởi sự thay đổi vận tốc vận động tấtyếu làm khối lượng của nó thay đổi; các sinh vật đều có liên hệ với môi trườn

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG MÔN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN

1 TRIẾT HỌC VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

- Theo tiếng Hy Lạp cổ thì Triết học có nghĩa là “yêu mến sự thông thái” (philosophia)

- Theo tiếng Ấn Độ: Dar’sana, sự chiêm ngưỡng

KN: Triết học là một hệ thống những quan niệm chung nhất của con người về thế

giới (tự nhiên và xã hội), về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, và về vị trí, vai trò của con người trong thế giới đó.

Triết học bao gồm 2 yếu tố: Nhận thức và nhận định

* Nguồn gốc ra đời của triết học: 2 nguồn gốc

+ Nguồn gốc tự nhiên: Triết học ra đời khi tư duy của con người phát triển đến một

trình độ nhất định, có khả năng khái quát hoá, trừu tượng hoá những tri thức riêng rẽ,rời rạc, lẻ tẻ thành những phạm trù, những khái niệm, những quy luật, …

+ Nguồn gốc xã hội: Triết học ra đời khi xã hội đã có sự phân chia giai cấp, phân

công lao động, giữa lao động chân tay và lao động trí óc

Triết học xuất hiện đầu tiên trong xã hội chiếm hữu nô lệ vào khoảng thế kỷ thứ VIIIđến thế kỷ thứ VI trước công nguyên, ở 3 quốc gia lớn Trung Quốc, Ấn Độ và HyLạp cổ đại

b, Đối tượng nghiên cứu của triết học

- Thời Cổ đại: Triết học được coi là một bộ môn khoa học tổng hợp, triết học và

khoa học hòa vào nhau Do đó, TH không chỉ có chức năng thế giới quan, mà nó cònbao hàm các khoa học cụ thể khác như: Toán, Lý, Hoá, Sinh, Nông học, Y học,Thiên văn học,… Điều này thể hiện rõ trong triết học Hy Lạp Cổ đại Các nhà triếthọc đồng thời cũng là các nhà khoa học tự nhiên

Trang 2

- Thời kỳ Cận đại thế kỷ 17- 18, sự hiểu biết của con người về thế giới đã tăng lên rất

nhiều Các khoa học cụ thể đã dần dần tách ra khỏi triết học và trở thành những khoahọc độc lập, nhưng đối tượng của của Triết học và mối quan hệ của nó với các khoahọc khác thì vẫn chưa được xác định rõ ràng Lúc này triết học được coi là khoa họccủa mọi khoa học, đứng trên mọi khoa học

- Những năm 40 của thế kỷ 19 khi Triết học Mác - Lênin ra đời thì nhận thức sai lầm trên mới được chấm dứt Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, Triết học là một khoa học nghiên cứu những quy luật chung nhất của sự vận động và phát triển củathế giới ( tự nhiên, xã hội và tư duy).

2.Triết học - hạt nhân lý luận của thế giới quan:

- Thế giới quan là toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới, về bản thâncon người và về vị trí của con người trong thế giới đó

Trong thế giới quan có sự thống nhất giữa tri thức và niềm tin, giữa lý trí và tìnhcảm

- Hình thức của thế giới quan:

+ Thế giới quan thần thoại+ Thế giới quan tôn giáo+ Thế giới quan Triết học

* Thế giới quan thần thoại: Là hình thức thế giới quan đặc trưng cho con người nguyênthuỷ, ở đó các yếu tố hiện thực và tưởng tượng, cái thực và cái ảo, lý trí và tín ngưỡng,

tư duy và xúc cảm hoà quyện vào nhau phản ánh những kết qủa cảm nhận ban đầu củacon người nguyên thuỷ về thế giới

* Thế giới quan tôn giáo: Là thế giới quan duy tâm, phản ánh hư ảo, xuyên tạc hiệnthực khách quan Ở đó niềm tin tôn giáo đóng vai trò chủ yếu, tín ngưỡng cao hơn lýtrí, cái ảo lấn át cái thự, cái thần lấn át cái người

* Thế giới quan Triết học: Là lý luận về thế giới quan nó diễn giải các vấn đề của thếgiới quan không phải bằng thần thoại, niềm tin tôn giáo mà bằng một hệ thống cáckhái niệm, các phạm trù, các quy luật Nó không chỉ nêu ra các quan điểm của mình

Trang 3

mà còn chứng minh các quan điểm đó Chính vì vậy Triết học là cơ sở lý luận và làhạt nhân của thế giới quan.

II VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC:

- Ăngghen trong tác phẩm: “Lút Vích Phoi Ơ Bắc và sự cáo chung của Triết học cổ

điển Đức” đã định nghĩa: “Vấn đề cơ bản của mọi Triết học, nhất là Triết học hiện đại là vấn đề về mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại.” ( Tồn tại và tư duy, vật chất và

ý thức, tự nhiên và tinh thần)

Vì sao vấn đề này lại được gọi là vấn đề cơ bản của triết học?

+ Thứ nhất, hai phạm trù vật chất và ý thức (tồn tại và tư duy) tự nhiên và tinh thần

là hai phạm trù rộng lớn nhất dùng để chỉ những hiện tượng vật chất và những hiệntượng tinh thần ở xung quanh chúng ta

+ Thứ hai, vấn đề về mối quan hệ của tư duy và tồn tại là xuất phát điểm của thế giớiquan Căn cứ vào việc giải quyết vấn đề này, người ta phân chia thành các trườngphái Triết học khác nhau như: Chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy tâm (Chủ nghĩa duytâm chủ quan, chủ nghĩa duy tâm khách quan), thuyết bất khả tri, hoài nghi luận, nhấtnguyên luận, nhị nguyên luận…

+ Thứ ba, giải quyết đúng đắn vấn đề này thì nó có ảnh hưởng quyết định đến việcgiải quyết các vấn đề Triết học khác như các vấn đề về nhận thức luận, logic học, vềcon người…

- Vấn đề cơ bản của Triết học bao gồm 2 mặt:

Mặt thứ nhất: Bản thể luận

Trả lời cho câu hỏi giữa vật chất và ý thức cái gì có trước, cái gì có sau, cái nàoquyết định cái nào?

* Chủ nghĩa duy vật: tiêu biểu là Talét, Anaximen, Heraclít, Đêmôcrít,

Mác-Ăngghen, Lênin… cho rằng vật chất có trước, ý thức có sau, ý thức ra đời từ vật chất

và do vật chất quyết định ý thức chỉ là sự phản ánh vật chất vào trong đầu óc củacon người, không có vật chất thì không có ý thức

Chủ nghĩa duy vật tồn tại dưới 3 hình thức:

- Chủ nghĩa duy vật Cổ Đại : nó mang tính chất ngây thơ, chất phác

Trang 4

- CNDVSH (thế kỷ 17-18): Tính chất siêu hình thống trị trong TH

- Chủ nghĩa duy vật biện chứng do Mác và Ăngghen sáng lập vào những năm 40 củathế kỷ 19, có sự thống nhất giữa thế giới quan duy vật và phương pháp luận biệnchứng

* Chủ nghĩa duy tâm: khẳng định ý thức có trước, vật chất có sau, vật chất ra đời từ

ý thức và do ý thức quyết định (đối lập quan điểm của chủ nghĩa duy vật)

Chủ nghĩa duy tâm tồn tại dưới 2 hình thức: Chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủnghĩa duy tâm khách quan

+ Chủ nghĩa duy tâm khách quan: Đại biểu tiêu biểu là Platôn ( Triết học Hy Lạp Cổđại) và Hêghen ( Triết học Cổ điển Đức cuối thế kỷ 18- đầu thế kỷ 19) Họ cho rằng thếgiới vật chất do một lực lượng siêu nhiên( không có thực) sinh ra mà các ông gọi là “ýniệm” hay “ý niệm tuyệt đối” “Ý niệm” hay “ý niệm tuyệt đối” đều là những thực thểtinh thần có trước giới tự nhiên, xã hội và con người, nó tồn tại ở đâu đó bên ngoài rồisinh ra thế giới

+ Chủ nghĩa duy tâm chủ quan: Đại biểu tiêu biểu là Béccơli, Makhơ cho rằng ý thứccủa con người (cá nhân) sinh ra giới tự nhiên, con người và xã hội loài người

Mặt thứ hai: Nhận thức luận

Trả lời cho câu hỏi con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không?

+ Chủ nghĩa duy vật: thừa nhận khả năng nhận thức thế giới của con người, cho rằng

về nguyên tắc trong thế giới không có gì mà con người không nhận thức được cả màchỉ có cái đã nhận thức được, cái chưa nhận thức được, cái nhận thức được ở mức độnày hay mức độ kia mà thôi

+ Chủ nghĩa duy tâm: cũng thừa nhận khả năng nhận thức thế giới của con người.

Nhưng xuất phát từ chỗ, họ cho rằng ý thức có trước, vật chất có sau, vật chất ra đời

từ ý thức cho nên nhận thức không phải là quá trình phản ánh hiện thực khách quanvào trong đầu óc của con người mà là quá trình tự nhận thức của chủ thể ý thức.+ Bên cạnh đó còn có một số nhà triết học phủ nhận khả năng nhận thức của conngười, họ rơi vào thuyết bất khả tri

Trang 5

+ Các nhà triết học hoặc theo chủ nghĩa duy vật hoặc theo chủ nghĩa duy tâm đượcgọi là nhất nguyên luận Tức là chỉ có 1 khởi nguyên hoặc vật chất hoặc tinh thần tạonên thế giới.

+ Ngoài ra còn có các nhà nhị nguyên luận Đại biểu tiêu biểu nhất là Đề các tơ (Đềcác) cho rằng thế giới có 2 khởi nguyên song song cùng tồn tại và tồn tại độc lập vớinhau, đó là:

- Khởi nguyên vật chất sinh ra hiện tượng vật chất

- Khởi nguyên tinh thần sinh ra hiện tượng tinh thần

III HAI PHƯƠNG PHÁP NHẬN THỨC ĐỐI LẬP TRONG TRIẾT HỌC

Phương pháp siêu hình và phương pháp biện chứng.

Phương pháp siêu hình Phương pháp biện chứng

- Xem xét thế giới trong trạng

thái “nhất thành bất biến”, không

vận động, không biến đổi, không

tăng, không giảm

- Các sự vật, hiện tượng trong thế

giới đó tồn tại cô lập, tách rời

nhau, không có mối liên hệ nào

với nhau cả, cái này nằm bên cạnh

cái kia, hết cái này đến cái kia

- Nếu thừa nhận sự vận động thì

đó không phải là sự vận động tự

thân, mà có nguồn gốc từ bên

ngoài đưa vào giống như “cái hích

đầu tiên của thượng đế” (Tức là

ban đầu thượng đế hích vào thế

giới để cho thế giới vận động và

biến đổi)

- Sự phát triển chỉ đơn giản là sự

- Xem xét các sự vật hiện tượngtrong thế giới trong quá trình sinhthành, vận động, biến đổi và pháttriển không ngừng

- Các sự vật, hiện tượng trong thếgiới tồn tại trong những mối liên hệchằng chịt (sau này triết học kháiquát lên thành một nguyên lý cơ bảncủa PBCDV  nguyên lý về mốiliên hệ phổ biến)

- Sự vận động của các sự vật, hiệntượng trong thế giới là vận động tựthân, do chính những mâu thuẫn bêntrong của bản thân các sự vật, hiệntượng đó quy định

- Phát triển diễn ra theo chiều hướng

Trang 6

tăng lên hoặc giảm đi đơn thuần

Các hình thức của phép biện chứng (phương pháp biện chứng = phép biện chứng): 3hình thức

+Phép biện chứng Cổ đại: Phép biện chứng sơ khai, chất phác nhưng về cơ bản là

đúng

+Phép biện chứng duy tâm: đại biểu là Hêghen.

+Phép biện chứng duy vật: là sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật và

phương pháp luận biện chứng do Mác và Ăngghen sáng lập ra vào những năm 40 củathế kỷ 19

IV.VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI.

1 Chức năng thế giới quan và phương pháp luận

- Con người sống trong thế giới thì muốn hay không muốn đều có những hiểubiết nhất định về thế giới, về chính bản thân mình, và những hiểu biết này dần dầnhình thành nên thế giới quan của con người Khi đã hình thành, thế giới quan trởthành nhân tố định hướng cho con người tiếp tục nhận thức thế giới và bản thân Nhưvậy, có thể xem xét thế giới quan là lăng kính qua đó con người nhìn nhận thế giớixung quanh cũng như tự xem xét chính bản thân mình để xác định cho mình mụcđích, ý nghĩa cuộc sống và lựa chọn cách thức hoạt động để đạt được mục đích và ýnghĩa đó

- Thế giới quan đúng đắn là tiền đề để hình thành nhân sinh quan tích cực vàtrình độ phát triển của thế giới quan là tiêu chí quan trọng để xác định sự trưởngthành của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng xã hội

- Triết học với tư cách là hạt nhân, cơ sở lý luận của thế giới quan giúp cho sự pháttriển của thế giới quan như một quá trình tự giác dựa trên sự tổng kết kinh nghiệmthực tiễn và tri thức do các khoa học khác đem lại

Trang 7

Phương pháp luận là lý luận về phương pháp, là hệ thống các quan điểm chỉđạo việc tìm tòi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp.

- Phương pháp luận có nhiều loại, bao gồm:

+ Phương pháp luận bộ môn: Phương pháp luận của 1 ngành khoa học cụ thể.+ Phương pháp luận chung: là phương pháp luận của một số ngành khoa học.+ Phương pháp luận phổ biến / Phương pháp luận chung nhất – phương phápluận triết học

2.Vai trò của Triết học Mác Lênin.

- Trong Triết học Mác- Lênin có sự thống nhất giữa lý luận và phương pháp,nói đến chủ nghĩa duy vật (lý luận) là chủ nghĩa duy vật biện chứng và nói đến phépbiện chứng (phương pháp) là phép biện chứng duy vật làm cho chủ nghĩa duy vật trởnên triệt để và phép biện chứng trở thành lý luận khoa học, nhờ đó mà Triết họcMác- Lênin hoàn toàn có thể nhận thức đúng đắn giới tự nhiên cũng như đời sống xã

hội và tư duy con người Vì vậy, Triết học Mác- Lênin trở thành nhân tố định hướng cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn ở con người.

- Vai trò của Triết học Mác- Lênin đối với các khoa học khác:

+ Triết học nghiên cứu thế giới trong tính chỉnh thể, thống nhất của nó Còncác khoa học các cũng nghiên cứu thế giới nhưng không nghiên cứu thế giới trongtính chỉnh thể mà nghiên cứu những bộ phận riêng rẽ, tách rời của thế giới

- Giữa Triết học và các khoa học cụ thể có mối liên hệ chặt chẽ, khăng khít vớinhau, tác động qua lại với nhau; mà trong mối liên hệ này thì các khoa học cụ thểcung cấp những căn cứ, những cứ liệu cho những khái quát về mặt Triết học và

ngược lại Triết học đặc biệt là Triết học Mác- Lênin lại trang bị cho các khoa học cụ thể một thế giới quan và một phương pháp luận đúng đắn giúp cho các khoa học cụ thể không bị rơi vào thế giới quan duy tâm thần bí và phương pháp tư duy siêu hình.

Tuy nhiên, chúng ta không nên coi Triết học Mác- Lênin là một đơn thuốc vạnnăng chứa sẵn cách giải quyết mọi vấn đề trong cuộc sống Vì vậy trong hoạt độngnhận thức cũng như trong thực tiễn chúng ta cần tránh cả hai thái cực sai lầm:

+ Hoặc là xem thường Triết học

Trang 8

+ Hoặc là tuyệt đối hoá vai trò của Triết học

Trang 9

Câu 2: Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

a Khái niệm

Định nghĩa: Mối liên hệ là sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các sự vật, hiện

tượng hay giữa các mặt, các yếu tố trong cùng một sự vật, hiện tượng

b Tính chất của mối liên hệ

+ Tính khách quan: Bởi đây là những mối liên hệ vốn có của bản thân các sự

vật, hiện tượng không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người

+ Tính phổ biến: Mối liên hệ có ở mọi sự vật, hiện tượng trong mọi lĩnh vực

của đời sống từ tự nhiên, xã hội đến tư duy

+ Tính đa dạng, phong phú: Mỗi sự vật hiện tượng có nhiều mối liên hệ, tuỳ

theo tính chất phức tạp hay đơn giản, quy mô rộng hay hẹp, trình độ sâu hay nông,vai trò trực tiếp hay gián tiếp, cơ bản hay không cơ bản mà phân biệt thành mối liên

hệ bên trong – bên ngoài, trực tiếp – gián tiếp, tất nhiên – ngẫu nhiên.

c Ý nghĩa phương pháp luận

- Nắm vững nguyên lý này đòi hỏi trong quá trình xem xét, nhìn nhận sự vậtchúng ta phải quán triệt quan điểm toàn diện

Quan điểm toàn diện: tức là xem xét sự vật, hiện tượng trong tất cả các mối

liên hệ của nó

Lênin nói: “Làm được việc này thì không dễ, nhưng quán triệt quan điểm này sẽ giúpchúng ta có thể trách được những quan điểm sai lầm có thể có sau đây”

+ Quan điểm phiến diện: là xem xét sự vật, hiện tượng một cách cô lập, tách rời, lắp

ghép chỉ thấy một mặt chứ không thấy cái tổng thể

+Quan điểm chiết trung: Là sự nhào trộn một cách vô nguyên tắc những quan điểm

Trang 10

* Vị trí, vai trò của quy luật

Quy luật những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại

là 1 trong 3 quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật Quy luật này vạch rõ cáchthức vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng

a Nội dung cơ bản của quy luật

Để hiểu được nội dung của quy luật, trước hết chúng ta cần phải nắm đượckhái niệm chất và khái niệm lượng

* Các khái niệm

Khái niệm chất: Chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có

của các sự vật, hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ giữa những thuộc tính, yếu tố… cấuthành sự vật, nói lên nó là cái gì, phân biệt nó với cái khác

+ Chất là do những thuộc tính vốn có của sự vật kết hợp một cách hữu cơ vớinhau tạo thành Chất gắn liền với sự vật, chất là của sự vật, do những thuộc tính của

sự vật quyết định

+ Mỗi sự vật, hiện tượng có nhiều thuộc tính, trong đó những thuộc tính cơ bảngiữ vai trò quy định chất của sự vật, chỉ khi nào thuộc tính cơ bản thay đổi thì chấtcủa sự vật mới thay đổi Còn những thuộc tính không cơ bản có thể thay đổi, mất đi,hoặc sinh ra nhưng vẫn không làm cho chất của sự vật thay đổi

- Thuộc tính cơ bản: Là thuộc tính quy định sự tồn tại và phát triển của sự vật.

- Thuộc tính không cơ bản: Không quy định sự tồn tại và phát triển của sự vật.

+ Trong sự vật, mỗi một thuộc tính là một chất nên sự vật có nhiều chất chứkhông phải có một chất Ăngghen nói: Không tồn tại chất “thuần tuý” mà chỉ có sựvật có vô vàn chất là tồn tại thực sự

+ Trong các sự vật, hiện tượng chất còn được tạo nên bởi cấu trúc khác nhaucủa sự vật, có thể yếu tố cấu thành là như nhau, nhưng cấu trúc khác nhau, do đó đưađến sự vật khác nhau

Khái niệm lượng:

Trang 11

- Lượng là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật,biểu thị số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sựvật cũng như của các thuộc tính của nó.

+ Sự phân biệt giữa chất và lượng là tương đối, tuỳ thuộc vào mối liên hệ xác định

* Mối quan hệ biện chứng giữa chất và lượng

+ Lượng thay đổi dần dần dẫn đến sự thay đổi về chất: ở đây cần làm rõ một số kháiniệm: Độ, điểm nút, bước nhảy

- Độ là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất giữa lượng và chất, nó là

khoảng giới hạn, mà trong đó, sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản vềchất của sự vật

- Điểm nút: là một phạm trù triết học dùng để chỉ điểm giới hạn trong đó sự vật đã

tích luỹ đủ về lượng để chuẩn bị chuyển về chất

- Bước nhảy:

Bước nhảy là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự biến đổi về chất của sự vậtkhi đã tích luỹ đủ về lượng

+ Sự thay đổi về chất tác động trở lại đối với sự thay đổi về lượng:

Sự thay đổi về chất là kết quả của sự thay đổi về lượng khi đạt tới điểm nút.Sau khi ra đời chất mới có tác động trở lại sự thay đổi của lượng Chất mới có thểlàm thay đổi quy mô tồn tại của sự vật, làm thay đổi nhịp điệu của sự vận động vàphát triển của sự vật đó

Tóm tắt nội dung của quy luật

Quy luật lượng – chất vạch rõ cách thức biến đổi của các sự vật, hiện tượng

Trang 12

Khi sự vật mới ra đời thay thế sự vật cũ, trong sự vật mới lại có chất mới vàlượng mới, lượng lại tiếp tục biến đổi dần dần Đến độ mới lại xảy ra sự nhảy vọt vềchất Sau đó lại diễn ra sự thay đổi về lượng trong sự vật mới đó Cứ như vậy tạothành một đường nút vô tận của sự phát triển lúc thì dần dần về lượng, lúc thì độtbiến về chất.

Sự thay đổi dần dần về lượng còn gọi là sự tiến hoá Sự nhảy vọt về chất cònđược gọi là cách mạng, không có tiến hoá thì không có cách mạng, và không có sựphát triển được

c Ý nghĩa phương pháp luận

- Nắm vững quy luật này giúp chúng ta tránh được 2 khuynh hướng tư tưởngsai lầm sau đây:

+ “Tả khuynh”: Là tư tưởng chủ quan, duy ý chí, nôn nóng, chưa có sự tích luỹ vềlượng đã muốn thực hiện bước nhảy về chất

+ “Hữu khuynh”: Là tư tưởng bảo thủ, trì trệ, ngại khó, không dám thực hiện bướcnhảy về chất khi dã tích luỹ đủ về mặt lượng

- Vận dụng linh hoạt các bước nhảy: Phải phân tích những yếu tố khách quan và

nhận thức chủ quan để thực hiện bước nhảy cho phù hợp

- Muốn duy trì sự vật ở một trạng thái nào đó phải nắm được giới hạn của độ, không

được để lượng thay đổi vượt quá giới hạn của độ

Câu 4: Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trỡnh độ của lực lượng sản xuất

1 Các khái niệm

a Phương thức sản xuất: là cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật

chất ở những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người

Phương thức sản xuất chính là sự thống nhất hữu cơ giữa lực lượng sản xuất vàquan hệ sản xuất

b Lực lượng sản xuất: là biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên

trong quá trình sản xuất, thể hiện trỡnh độ chinh phục tư nhiên của con người

Lực lượng sản xuất bao gồm: Tư liệu sản xuất, người lao động và ngày nay khoa học

Trang 13

- Tư liệu sản xuất: Bao gồm đối tượng lao động và tư liệu lao động.

Đối tượng lao động: Là tất cả những gì mà lao động của con người tácđộng lên Nó bao gồm thiên nhiên 1 và thiên nhiên 2

Tư liệu lao động: Là vật hay phức hợp vật đặt giữa con người lao động vớiđối tượng lao động Nó dẫn truyền sự tác động tích cực của con người lao độngvào đối tượng lao động Nó bao gồm công cụ lao động và tư liệu lao động khácnhư kho tàng, bến bãi, đường xá…

Trong tư liệu lao động thì công cụ lao động là cái dẫn truyền trực tiếp nhất

sự tác động tích cực của con người lao động vào đối tượng lao động Nó là bộxương cốt của sản xuất Nó là yếu tố động nhất, cách mạng nhất (nó luôn luônđược cải tiến, hoàn thiện, phát triển lên, và được làm giàu) Chính công cụ laođộng là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người, là cơ sở xác địnhtrình độ phát triển của sản xuất, là tiêu chuẩn để phân biệt sự khác nhau giữa cácthời đại kinh tế Mác viết: “những thời đại kinh tế khác nhau, không phải ở chỗchúng sản xuất ra cái gì, mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tưliệu lao động nào” (TB phần 1, tập 1, 1984, 232)

VD: Công cụ lao động bằng đồ đá đưa lại thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ

Công cụ lao động bằng kim loại đưa lại chế độ chiếm hữu nô lệ

Công cụ lao động bằng thủ công (cối xay gió) đưa lại chế độ phong kiến

Công cụ lao động bằng cơ khí (máy hơi nước) đưa lại chế độ TBCN

Công cụ lao động tự động hoá đưa lại chế độ cộng sản chủ nghĩa

Nhưng nếu tư liệu sản xuất không được kết hợp với lao động sống (ngườilao động) thì nó chỉ là lực lượng sản xuất chết, không phát huy được tác dụng gìbởi chính con người cùng với kinh nghiệm và trí tuệ của mình không chỉ sử dụng

tư liệu sản xuất để tạo ra của cải vật chất mà còn chế tạo ra nó

Vì thế Lênin viết: “lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại làngười công nhân, người lao động” (Toàn tập, tập 38, 430)

Trang 14

+ Ngày nay khoa học đã trở thành một lực lượng sản xuất trực tiếp vì:

Khoa học được vật chất hoá, được kết tinh vào mọi yếu tố của lực lượngsản xuất từ đối tượng lao động đến công cụ lao động đến người lao động

Tạo ra nhiều ngành sản xuất mới với công nghệ mới (bưu chính viễnthông, điều khiển học, vô tuyến điện tử, tin học, ngành kinh tế tri thức)

Rút ngắn khoảng cách giữa những phát minh khoa học với thực tiễn sản xuất Làm cho sản xuất trở thành tự động hoá

Quan hệ sản xuất bao gồm:

Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất

Quan hệ quản lý và phân công lao động

Quan hệ phân phối sản phẩm lao động

Trong đó quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết định, chi phốinhững quan hệ còn lại: ai có tư liệu sản xuất ở trong tay thì người đó có quyềnquản lý, phân công lao động xã hội và quyết định phương thức phân chia của cải

xã hội

Trong lịch sử phát triển của loài người đã có 2 hình thức sở hữu cơ bản về

tư liệu sản xuất: sở hữu tư nhân và sở hữu xã hội

Sở hữu tư nhân có 3 hình thức chủ yếu: Sở hữu chủ nô; sở hữu phong kiến;

sở hữu TBCN

Trang 15

Sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất là nguồn gốc của bất bình đẳng xã hội,của bóc lột, áp bức Tương ứng với 3 hình thức sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất

có 3 hình thức bóc lột khác nhau: Bóc lột siêu kinh tế; phát canh, thu tô; bóc lộtgiá trị thặng dư

Sở hữu xã hội có hai hình thức: Sở hữu thị tộc, bộ lạc trong xã hội cộngsản nguyên thuỷ; sở hữu XHCN về tư liệu sản xuất Đây chính là nguồn gốc của

sự công bằng, bình đẳng trong xã hội

2 Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

a Các khái niệm:

- Trình độ của lực lượng sản xuất tỉ lệ thuận với trình độ phát triển của công

cụ lao động, của kỹ thuật, của kinh nghiệm, kỹ năng lao động của con người, ởquy mô sản xuất và trình độ phân công lao động (phân công lao động càng tỉ mỉthì trình độ của lực lượng sản xuất càng cao)

- Phù hợp: Sự tác động, sự thích ứng của quan hệ sản xuất với tính chất vàtrình độ của LLSX, đó là sự thống nhất biện chứng của 2 mặt đối lập là LLSX vàquan hệ sản xuất

b Mối quan hệ biện chứng giữa LLSX và QHSX

- LLSX quyết định sự hình thành, biến đổi và phát triển của QHSX

Trong PTSX, LLSX là mặt nội dung còn QHSX là mặt hình thức Mối quan

hệ giữa LLSX và QHSX như là mối quan hệ giữa nội dung và hình thức Nộidung quyết định hình thức, hình thức phụ thuộc vào nội dung Nội dung biến đổithì hình thức sớm hoặc muộn cũng biến đổi theo cho phù hợp

- Cùng với sự hình thành và phát triển của LLSX, QHSX được hình thành

và biến đổi theo cho phù hợp Sự phù hợp này sẽ là động lực phát triển mạnh mẽcho LLSX Nhưng LLSX là yếu tố động hơn, phát triển nhanh hơn (nhất là công

cụ lao động do nhu cầu phát triển của sản xuất luôn luôn được cải tiến, hoàn thiện

Trang 16

và làm giàu), còn QHSX là yếu tố ổn định hơn Đến một lúc nào đó QHSX khôngphù hợp với LLSX nữa, nó trở thành xiềng xích kìm hãm sự phát triển của LLSXnghĩa là nảy sinh mâu thuẫn giữa LLSX và QHSX Mâu thuẫn này biểu hiện vềmặt xã hội trong xã hội có giai cấp đối kháng là mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị

và giai cấp bị trị Đây là mâu thuẫn đối kháng không thể điều hoà được, đòi hỏiphải giải quyết Việc giải quyết mâu thuẫn này là xoá bỏ QHSX cũ, thiết lậpQHSX mới, thúc đẩy LLSX phát triển Việc xoá bỏ QHSX cũ thiết lập QHSXmới có nghĩa là PTSX cũ, lỗi thưòi đã bị diệt vong, thay vào đó là một PTSX mới,cao hơn Trong PTSX mới, LLSX vẫn là yếu tố động, cách mạng hơn QHSX đếnmột lúc nào đó lại nảy sinh mâu thuẫn giữa LLSX và QHSX, mâu thuẫn này đòihỏi được giải quyết… Cứ như vậy tạo nên sự phát triển không ngừng của xã hội

từ hình thức thấp đến cao Điều này đã được chứng minh qua việc thay thế nhaucủa 5 PTSX đã biết trong lịch sử: Từ PTSX CSNT  PTSX CHNL  PTSX PK

Thúc đẩy khi QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX

Kìm hãm khi QHSX không phù hợp với trình độ phát triển của LLSX

Sở dĩ QHSX có thể tác động trở lại sự phát triển của LLSX vì QHSX quyđịnh mục đích của nền sản xuất xã hội, quy định hệ thống tổ chức, quản lý sảnxuất, quy định phương thức phân phối sản phẩm do đó nó ảnh hưởng đến thái độcủa quảng đại quần chúng nhân dân – một LLSX chủ yếu của xã hội, vì thế nókích thích hoặc hạn chế việc cải tiến công cụ lao động, việc áp dụng những thànhtựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất, sự hợp tác và phân công lao động

Trang 17

VD: Mục đích của nhà tư bản là với một tư bản ứng trước tối thiểu, tạo ra mộtgiá trị thặng dư tối đa đã kích thích nhà tư bản phát triển kỹ thuật, áp dụng nhữngthành tựu của khoa học kỹ thuật vào sản xuất, mở rộng sản xuất… Tất cả những điều

đó làm cho LLSX phát triển mạnh mẽ

Tóm lại: quy luật QHSX phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển

của LLSX là quy luật chung nhất trong sự vận động và phát triển của xã hội, là quyluật vận động nội tại của PTSX, quy luật thay thế nối tiếp nhau của các PTSX từthấp đến cao, tạo nên sự phát triển của xã hội

* Vận dụng ở nước ta hiện nay: Đảng ta đó thực hiện đường lối đổi mới toàn diện trong

đó đổi mới cả lực lượng SX và quan hệ sx:

Về quan hệ SX:

- Thực hiện nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng XHCN,lấy lợi ích làm động lực cho sự phát triển, lấy cạnh tranh lành mạnh làm phương thức vậnhành

- Đa dạng hóa các thành phần kinh tế với nhiều hỡnh thức sở hữu để phát huy tiềm năngsáng tạo của mọi người dân (cả công và tư hữu với 5 thành phần kinh tế cùng đan xen tồntại)

- Đổi mới khâu phân phối sản phẩm, từ cào bằng bỡnh quõn sang “làm theo năng lực,hưởng theo lao động và hiệu quả lao động”

Về lực lượng SX: mở cửa quan hệ với tất cả các nước nhằm thu hút vốn và công nghệ từ

nước ngoài

Coi giáo dục là quốc sách hàng đầu Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho tương lai, làđầu tư có lợi nhất

Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài

Đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa góp phần thúc đẩy lực lượng

SX phát triển

5: Mối quan hệ biện chứng giữa Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

1 Các khái niệm

Trang 18

Cơ sở hạ tầng: là toàn bộ những QHSX hợp thành cơ cấu kinh tế của một hình

thái kinh tế xã hội nhất định

CSHT của một xã hội bao gồm: QHSX thống trị, QHSX tàn dư, QHSX mầm mống

Những đặc trưng, tính chất của CSHT là do QHSX thống trị quy định

Kiến trúc thượng tầng: là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp quyền, triết

học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật … cùng với những thiét chế xã hội tương ứng nhưnhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể xã hội,… được hình thành trên cơ sở hạtầng nhất định

Mỗi yếu tố của KTTT có đặc điểm riêng, có quy luật vận động phát triển riêng, nhưngchúng liên hệ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và đều có mối quan hệ với CSHT Cónhững yếu tố như chính trị, pháp luật có quan hệ trực tiếp với CSHT; còn những yếu tốnhư triết học, tôn giáo, nghệ thuật chỉ quan hệ gián tiếp với nó

Trong xã hội có giai cấp, KTTT mang tính giai cấp

2 Mối quan hệ giữa CSHT và KTTT

a Cơ sở hạ tầng quyết định KTTT: Vai trò quyết định của CSHT đối với KTTT

thể hiện ở chỗ:

CSHT nào thì sinh ra KTTT ấy

Những biến đổi căn bản trong CSHT sớm hay muộn cũng dẫn đến sự biến đổi căn bảntrong KTTT Sự biến đổi này diễn ra ngay trong một hình thái kinh tế - xã hội và đượcbiểu hiện mạnh mẽ nhất, dễ thấy nhất khi chuyển từ hình thái kinh tế xã hội này sangHTKTXH khác thì CSHT cũ mất đi, KTTT do nó sinh ra cũng mất đi, CSHT mới ra đờithì KTTT mới tương ứng cũng ra đời

b Sự tác động trở lại của KTTT đối với CSHT

KTTT do CSHT quyết định, nhưng KTTT không phụ thuộc một chiều mà nó có

sự tồn tại độc lập tương đối của mình và tác động tích cực trở lại CSHT đã sinh ra nó

Sự tác động này thể hiện ở chỗ: Nó bảo vệ, duy trì, củng cố và phát triển CSHTsinh ra nó; KTTT tích cực đấu tranh xoá bỏ CSHT và KTTT cũ

Trang 19

Trong các yếu tố của KTTT thì Nhà nước là bộ phận quan trọng nhất Thông qua

nó giai cấp thống trị thể hiện quyền lực của mình đối với giai cấp bị trị và đối với toàn

c Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng ở nước ta hiện nay

- Về CSHT: ở nước ta, trong thời kỳ quá độ CSHT gồm các kiểu quan hệ sản xuấtgắn liền với các hình thức sở hữu khác nhau, thậm chí đối lập nhau, nhưng cùng tồn tạitrong một cơ cấu kinh tế thống nhất - đó là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần

- Về KTTT:

+ Đảng ta khẳng định lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làmnền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động Hệ thống chính trị XHCN ở nước

ta mang bản chất giai cấp công nhân, do ĐCS lãnh đạo

+ Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, của dân do dân và vỡ dõn

+ Mọi người dân sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật

+ Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

6 Mối quan hệ biện chứng giữa Tồn tại xã hội và ý thức xã hội

Trang 20

Ý thức xã hội: là mặt tinh thần của đời sống xã hội, bao gồm những quan điểm, tư

tưởng, tình cảm, truyền thống, phong tục tập quán… của cộng đồng xã hội, nảy sinh từTTXH và phản ánh TTXH trong những giai đoạn phát triển nhất định

Ý thức xã hội bao gồm tâm lý xã hội và hệ tư tưởng xã hội

2 Mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xó hội

a Tồn tại xó hội quyết định ý thức xó hội

Tính quyết định của TTXH đối với YTXH được thể hiện ở chỗ:

TTXH quy định nội dung của YTXH;

TTXH nào thì sinh ra YTXH ấy;

TTXH thay đổi, nhất là phương thức sản xuất thay đổi thì những tư tưởng và lýluận xã hội, những quan điểm về chính trị, pháp quyền, triết học, tôn giáo, đạo đức, vănhọc, nghệ thuật sớm, muộn cũng thay đổi theo cho phù hợp Mác: “Không phải ý thứccủa con người quyết định sự tồn tại của họ, trái lại, chính sự tồn tại của họ quyết định ýthức của họ”

b Tính độc lập tương đối của YTXH

Trong khi khẳng định vai trò quyết định của TTXH đối với YTXH, và YTXH là

sự phản ánh của TTXH, phụ thuộc vào TTXH, chủ nghĩa duy vật lịch sử không xemYTXH như một yếu tố thụ động, trái lại còn nhấn mạnh sự tồn tại độc lập tương đối vàtác động tích cực của YTXH đối với TTXH

Tính độc lập tương đối của YTXH biểu hiện ở 5 điểm sau đây:

- YTXH thường lạc hậu hơn so với TTXH

Đây là một khuynh hướng chung trong sự tồn tại và phát triển của YTXH Lịch

sử đã chứng minh rằng nhiều chế độ xã hội cũ bị xoá bỏ, thậm chí từ rất lâu nhưngnhững tư tưởng do chế độ xã hội ấy sinh ra vẫn còn tồn tại rất dai dẳng trong đời sốngtinh thần của nhân dân ở xã hội mới điều đó thể hiện rõ nét ở tâm lý xã hội Sự lạc hậucủa YTXH so với TTXH có những lý do sau:

+ YTXH là cái ra đời từ TTXH, phản ánh TTXH cho nên nó chỉ biến đổi khiTTXH đã biến đổi

Trang 21

+ Do tính bảo thủ của một số hình thái YTXH như tôn giáo, đạo đức.

+ Do có những lực lượng xã hội, những giai cấp và đảng phái ra sức duy trìnhững tư tưởng, quan điểm cũ, lạc hậu chống lại những tư tưởng tiến bộ, cách mạng

- Tính vượt trước của những tư tưởng khoa học tiến bộ

Ở đây YTXH đã tìm ra khuynh hướng phát triển của TTXH và ít nhiều phản ánh chínhxác các khuynh hướng đó vì vậy nó có thể dự kiến, vạch đường đi cho tương lai và chỉđạo hoạt động thực tiễn của con người, hướng những hoạt động đó vào việc giải quyếtnhững nhiệm vụ mới do sự phát triển chín muồi của đời sống vật chất xã hội đề ra

- Tính kế thừa trong sự phát triển của YTXH

Bất cứ một học thuyết, một lý luận, một tư tưởng mới nào ra đời cũng trên cơ sở

kế thừa những tư tưởng, lý luận của các thời đại trước đó để lại

Tính kế thừa của YTXH bao giờ cũng gắn liền với tính giai cấp của nó trong xãhội có giai cấp

- Sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các hình thái YTXH

YTXH là sự phản ánh TTXH, nhưng YTXH (nhất là hệ tư tưởng xã hội) phảnánh TTXH thông qua các hình thái YTXH như chính trị, pháp quyền, tôn giáo, đạo đức,nghệ thuật Các hình thái YTXH này không tồn tại cô lập, tách rời nhau mà có sự tácđộng qua lại lẫn nhau và tác động đến TTXH

Trong các hình thái YTXH thì tư tưởng chính trị có ảnh hưởng to lớn nhất vì nóbiểu hiện lợi ích giai cấp một cách trực tiếp và tập trung nhất Lênin nói: “Chính trị là

sự biểu hiện tập trung nhất của kinh tế” Thông qua hoạt động của Nhà nước và cácchính đảng, tư tưởng chính trị tác động mạnh mẽ vào cơ sở kinh tế, vào sự phát triểncủa tất cả các hình thái YTXH, mang lại cho chúng một khuynh hướng giai cấp và mộtmục đích chính trị rõ rệt

- YTXH tác động tích cực trở lại TTXH Nó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển

của TTXH Nó thúc đẩy khi đó là những ý thức, tư tưởng, lý luận khoa học tiên tiến lạinằm trong tay giai cấp tiến bộ, cách mạng, nó phản ánh đúng, chính xác nhu cầu pháttriển của xã hội, tìm ra những khuynh hướng phát triển của TTXH Nó kìm hãm khi đó

là những tư tưởng, những lý luận phản khoa học, bảo thủ, lạc hậu lại nằm trong tay giai

Trang 22

cấp thống trị khi đã trở nên lỗi thời, lạc hậu, phản ánh sai lệch xuyên tạc đời sống vậtchất của xó hội.

* Vận dụng mối quan hệ trên ở nước ta hiện nay

+ Về tồn tại xó hội: muốn thay đổi xó hội thỡ phải thay đổi tồn tại xó hội mà trước hết

là thay đổi phương thức sản xuất Để thay đổi PTSX, từ năm 1986, Đảng ta đó chủtrương thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, thực hiện nền kinh tế thị trường địnhhướng XHCN Đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa để phát triển lựclượng sản xuất Với những thay đổi đó làm cho đời sống vật chất của nhân dân đượcnâng cao, đời sống tinh thần ngày càng phong phú

+ Về ý thức xó hội: Về hệ tư tưởng: lấy chủ nghĩa Mác – Leenin và tư tưởng HCM làmkim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng

- Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

- Nâng cao dân trí, đẩy mạng giáo dục ý thức đạo đức, văn hóa cho toàn dân, đặcbiệt là tầng lớp thanh niên

- Tăng cường tính pháp chế XHCN, xử lý nghiờm minh theo phỏp luật…

Phần phụ, đọc thêm (để viết cho sâu sắc)

2 Nguyờn lý về mối liên hệ phổ biến

Trang 23

Khái niệm liên hệ Trong khi cùng tồn tại, các đối tượng luôn tương tác với nhau,

qua đó thể hiện các thuộc tính và bộc lộ bản chất bên trong, khẳng định mỡnh là nhữngđối tượng thực tồn Sự thay đổi các tương tác tất yếu làm đối tượng, các thuộc tính của

nó thay đổi, và trong có thể cũn làm nú biến mất, chuyển húa thành đối tượng khác Sựtồn tại của đối tượng, sự hiện hữu các thuộc tính của nó phụ thuộc vào các tương tácgiữa nó với các đối tượng khác, chứng tỏ rằng, đối tượng có liên hệ với các đối tượngkhác Nhưng thế nào là mối liên hệ?

“Mối liên hệ” là một phạm trù triết học dùng để chỉ các mối ràng buộc tương hỗ, quy định và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các yếu tố, bộ phận trong một đối tượng hoặc giữa các đối tượng với nhau Cũng có thể dùng khái niệm “quan hệ”, nhưng khái niệm

“quan hệ” rộng hơn “liên hệ” Liên hệ chỉ là quan hệ giữa hai đối tượng nếu sự thay đổi của một trong số chúng nhất định làm đối tượng kia thay đổi Chẳng hạn, vận động của

vật thể có liên hệ hữu cơ với khối lượng của nó, bởi sự thay đổi vận tốc vận động tấtyếu làm khối lượng của nó thay đổi; các sinh vật đều có liên hệ với môi trường bênngoài: những thay đổi của môi trường tất yếu làm cơ thể có sự thay đổi tương ứng; công

cụ lao động liên hệ với đối tượng lao động: những thay đổi của công cụ luôn gây ranhững thay đổi xác định trong đối tượng lao động mà các công cụ đó tác động lên, đếnlượt mỡnh sự biến đổi của đối tượng lao động tất gây ra những biến đổi ở các công cụlao động,…

Ngược lại, cô lập (tách rời) là trạng thái của các đối tượng, khi sự thay đổi của đốitượng này không ảnh hưởng gỡ đến các đối tượng khác, không làm chúng thay đổi.Chẳng hạn, sự biến đổi các nguyên tắc đạo đức không hề làm hạt nhân nguyên tử thayđổi, và ngược lại, những thay đổi trong hạt nhân, cũng khó làm các nguyên tắc đạo đứcthay đổi

Các ví dụ về liên hệ và cô lập hoàn toàn không có nghĩa là, một số đối tượng luônliên hệ, cũn những đối tượng khác lại chỉ cô lập Trong các trường hợp liên hệ xét ở trênvẫn có sự cô lập, cũng như ở các trường hợp cô lập vẫn có mối liên hệ qua lại Trên thếgiới mọi đối tượng đều trong trạng thái liên hệ và cô lập với nhau Chúng liên hệ vớinhau ở một số khía cạnh, và không liên hệ với nhau ở những khía cạnh khác, trongchúng có cả những biến đổi khiến các đối tượng khác thay đổi, lẫn những biến đổikhông làm các đối tượng khác thay đổi Như vậy, liên hệ và cô lập thống nhất với nhau

Trang 24

mà ví dụ điển hỡnh là quan hệ giữa cơ thể sống và môi trường Cơ thể sống gắn bó vớimôi trường nhưng đồng thời cũng tách biệt với nó, có tính độc lập tương đối Một sốthay đổi của môi trường nhất định làm cơ thể sống thay đổi, những thay đổi khác lạikhông làm nó thay đổi Chỉ những biến đổi môi trường gắn với hoạt động sống của cơthể mới ảnh hưởng đến nó; cũn những thay đổi không đụng chạm gỡ đến hoạt động đóthỡ khụng gõy ra sự biến đổi nào trong nó Như vậy, liên hệ và cô lập luôn tồn tại cùngnhau, là những mặt tất yếu của mọi quan hệ cụ thể giữa các đối tượng.

Các nhà siờu hỡnh thường phủ định mối liên hệ tất yếu giữa các đối tượng, các nhà

duy tâm rút các mối liên hệ đó ra từ ý thức, tinh thần (Hê-ghen cho rằng, ý niệm tuyệt

đối là nền tảng của cỏc mối liờn hệ, cũn Bộccơly trên lập trường duy tâm chủ quan lạicho rằng, cảm giác là nền tảng của mối liên hệ giữa các đối tượng) Từ chỗ cho rằng,mọi tồn tại trong thế giới đều là những mắt khâu của một thực thể vật chất duy nhất, lànhững trạng thái và hỡnh thức tồn tại khỏc nhau của nú, phộp biện chứng duy vật thừanhận, có mối liên hệ phổ biến giữa các đối tượng Thế giới không phải là thể hỗn loạncác đối tượng, mà là hệ thống các liên hệ đối tượng Như vậy, chính tính thống nhất vậtchất của thế giới là cơ sở cho mọi liên hệ Nhờ sự thống nhất đó các đối tượng khôngthể tồn tại cô lập, mà luôn tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau

Tính khách quan của mối liên hệ

Mối liên hệ luôn vốn có ở bản thân đối tượng chứ không hề mang tính chủ quan.Trong thế giới không có đối tượng nào tồn tại cô lập, mỗi đối tượng đều tồn tại cùng cácmối liên hệ, bản tính đó là khách quan ở mọi đối tượng Các đối tượng chỉ thể hiện sựtồn tại của mỡnh thụng qua sự vận động, tác động lẫn nhau Bản chất, tính quy luật củachúng cũng chỉ bộc lộ thông qua liên hệ với các đối tượng khác Để hiểu tính kháchquan của đối tượng thỡ con người phải xuất phát từ các mối liên hệ vốn có của chính nó.Đây là yêu cầu quan trọng nhằm phân biệt phép biện chứng duy vật với phép biệnchứng duy tâm và thuật ngụy biện

Tính phổ biến của mối liên hệ

Như vậy, bất cứ đối tượng nào cũng liên hệ với các đối tượng khác, không có đốitượng nào nằm ngoài mối liên hệ Mối liên hệ cũng có ở tất cả các lĩnh vực tự nhiên, xóhội và tư duy Mối liên hệ biểu hiện dưới những hỡnh thức đặc biệt tùy thuộc những

Trang 25

phổ biến, chung nhất Ngoài ra, tính phổ biến các mối liên hệ của đối tượng, cũn gồm

hai tầng nghĩa nữa Một là, các yếu tố, các bộ phận khác nhau bên trong mọi đối tượng cũng đều luôn liên hệ tác động qua lại, tức là, chúng phải có kết cấu nội tại Hai là, thế

giới trong tính toàn bộ của nó là một chỉnh thể thống nhất của các mối liên hệ tương táclẫn nhau Từ giới tự nhiên vô cơ, hữu cơ, đến xó hội, mọi đối tượng đều liên hệ phổbiến và tác động lẫn nhau, không tồn tại đối tượng tuyệt đối cô lập Thực tiễn tạo nêncác hỡnh thức tồn tại xó hội và hoạt động sống của con người, mà thực chất là nhữngmối liên hệ riêng có của loài người, tức là phương thức và con đường cơ bản thực hiệncác mối liên hệ thực giữa xó hội và giới tự nhiờn, giữa con người với nhau trong xó hội

V.I.Lê-nin nhấn mạnh: “Những quan hệ của mỗi sự vật (hiện tượng,v.v…) không

những là muôn vẻ, mà cũn là phổ biến, toàn diện Mỗi sự vật (hiện tượng, quá

trỡnh.v.v.) đều liên hệ với mỗi sự vật khác”1 Toàn bộ sự phát triển khoa học và kinhnghiệm thực tiễn của loài người đó chứng minh điều này Thế giới là một chỉnh thểthống nhất các mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau; đối tượng nào cũng đều là sự liênkết trong mạng lưới các mối liên hệ thống nhất và thể hiện tính phổ biến của nó thôngqua mạng lưới đó

Tính đa dạng của các mối liên hệ

Vỡ cú nhiều đối tượng cùng tồn tại, vận động và phát triển thông qua liên hệ tươngtác với nhau, do vậy các mối liên hệ cũng rất đa dạng, mỗi đối tượng có nhiều mối liên

hệ, chúng được phân loại thành: liên hệ bên trong – liên hệ bên ngoài; liên hệ chủ yếu – liên hệ thứ yếu; liên hệ bản chất – liên hệ không bản chất; liên hệ tất nhiên – liên hệ ngẫu nhiên; liên hệ trực tiếp – liên hệ gián tiếp;… Các cặp mối liên hệ có quan hệ biện

chứng với nhau, sự phân chia từng cặp đó chỉ tương đối, vỡ nú chỉ là một hỡnh thức,một bộ phận, một mắt khõu của mối liờn hệ phổ biến Mỗi loại liờn hệ trong từng cặp

cú thể chuyển húa lẫn nhau tựy theo phạm vi bao quỏt của nó, hoặc do kết quả vận động

và phát triển của chính các đối tượng

Nếu mỗi đối tượng đều liên hệ hữu cơ với các đối tượng khác và sự liên hệ đó là hỡnh thức tồn tại, là điều kiện cần thiết, để bộc lộ các thuộc tính của đối tượng, thỡ để

nhận thức nó và các thuộc tính đặc trưng của nó, tất yếu phải khảo sát nó trong mối liên

hệ hữu cơ với các đối tượng khác, cần phải tính đến “tổng hũa những quan hệ muôn vẻ

1 V.I.Lờ-nin Bỳt ký triết học, in trong: Sðd, t.29, tr.239

Trang 26

của sự vật ấy với những sự vật khác”2 Chỉ có như thế mới đảm bảo kết quả nhận thứcchân thực về đối tượng “Muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhỡn bao quỏt vànghiờn cứu tất cả cỏc mặt, tất cả cỏc mối liờn hệ và “quan hệ giỏn tiếp” của sự vật đó”3.Chẳng hạn, để nhận thức bản chất con người, cần phải khảo sát nó trong các quan hệsản xuất, phân phối của cải vật chất, trong các quan hệ chính trị, tư tưởng, gia đỡnh vàcỏc quan hệ khỏc Để hiểu bản chất của tư bản, cần nghiên cứu các quan hệ tiền hàng,

sự chuyển hóa sức lao động thành hàng hóa và tương quan của nó với người chủ tư liệusản xuất

Con người phải nắm bắt đúng các mối liên hệ đó để có cách tác động phù hợp nhằmđạt hiệu quả hoạt động cao nhất Nguyên lý biện chứng duy vật về mối liờn hệ phổ biếncủa cỏc đối tượng đũi hỏi con người phải biết phân tích mối liên hệ cụ thể của đốitượng, xây dựng quan niệm về tính chỉnh thể, tính mở trong phân tích các mối liên hệcủa các đối tượng, khảo sát các liên hệ phổ biến của đối tượng từ động thái của nó Sựnghiệp xây dựng chủ nghĩa xó hội ở nước ta hiện nay đũi hỏi mọi người phải nhận thứcchớnh xỏc và xử lý đúng đắn các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, con ngườivới nhau, nhằm thúc đẩy sự phát triển nhịp nhàng bền vững toàn diện đời sống kinh tế -

xó hội Ngày nay thế giới toàn cầu húa đó trở nờn mở hơn bao giờ hết, các quốc gia, dântộc ngày càng có xu thế tồn tại trong mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau, điều đó lại càngđũi hỏi chỳng ta phải biết nắm bắt cỏc mối liờn hệ tương hỗ nhiều mặt trong tiến trỡnhphỏt triển của thế giới, thực hiện chớnh sỏch hội nhập, nắm bắt thời cơ và phát huy nội

lực của đất nước để phát triển

í nghĩa phương pháp luận (vận dụng trong hoạt động nhận thức và thực tiễn)

Nguyên tắc toàn diện

Nguyên tắc toàn diện trong nhận thức và giải quyết các vấn đề thực tiễn là một trongnhững nguyên tắc cơ bản của phép biện chứng duy vật, được xác lập trực tiếp từ nguyên

lý về mối liờn hệ phổ biến Theo nguyờn tắc này, cần phải thực hiện cỏc yờu cầu sau:Thứ nhất, phải xem xột sự tồn tại của đối tượng trong mối liên hệ giữa các bộ phận,thuộc tính khác nhau của nó và trong mối liên hệ giữa nó với các đối tượng khác, tránhcách xem xét phiến diện một chiều, có như vậy mới nhận thức được bản chất và các quyluật của đối tượng; Thứ hai, phải xem xét, đánh giá từng mặt, từng mối liên hệ, và phải

Trang 27

nắm được mối liên hệ cơ bản, bản chất quy định sự vận động, phát triển của đối tượng,tránh chiết trung - tức là kết hợp vô nguyên tắc các mối liên hệ, đồng thời phải tránhngụy biện - coi cái bản chất thành cái không bản chất, cái không cơ bản thành cơ bảnhoặc ngược lại, dẫn đến nhận thức xuyên tạc bản chất của đối tượng.

V.I.Lê-nin nhấn mạnh: “Muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhỡn bao quỏt vànghiờn cứu tất cả cỏc mặt, tất cả cỏc mối liờn hệ và “quan hệ giỏn tiếp” của sự vật đó”4,phải tính đến “tổng hũa những quan hệ muụn vẻ của sự vật ấy với những sự vật khác”5.Trong thực tế, con người khó làm được điều đó hoàn toàn đầy đủ, nhưng sự cần thiếtphải xem xét tất cả mọi mặt sẽ giúp cho quá trỡnh nhận thức và giải quyết cỏc vấn đếthực tiễn không phạm phải sai lầm cứng nhắc, máy móc, một chiều, Sở dĩ khó thựchiện được đầy đủ tuyệt đối bởi vỡ trong quỏ trỡnh vận động, phát triển, đối tượng trảiqua nhiều giai đoạn khác nhau, ở mỗi giai đoạn không phải lúc nào đối tượng cũng bộc

lộ hết các mối liên hệ bên trong và bên ngoài Hơn nữa, tất cả những mối liên hệ ấy chỉđược biểu hiện ra trong những điều kiện nhất định, đồng thời, bản thân chủ thể nhậnthức với những phẩm chất và năng lực thường bị hạn chế bởi những điều kiện lịch sử xóhội xỏc định, chưa thể ngay lập tức bao quát hết những mối liên hệ trong và ngoài,…các đối tượng

Nguyờn tắc toàn diện cũn yờu cầu, để nhận thức được đúng đối tượng con người cầnxét nó trong liên hệ với nhu cầu thực tiễn của mỡnh Mối liờn hệ giữa đối tượng với nhucầu của con người rất đa dạng, trong mỗi hoàn cảnh, con người chỉ phản ánh một số mốiliên hệ nào đó của đối tượng phù hợp với nhu cầu lúc đó của mỡnh, nờn nhận thức củacon người về đối tượng mang tính tương đối, không trọn vẹn đầy đủ Nắm được điều đó

sẽ tránh coi tri thức đó cú là chõn lý bất biến, tuyệt đối, cuối cùng về đối tượng màkhông chịu bổ sung, phát triển gỡ thờm Bởi vậy, khi xem xột toàn diện tất cả cỏc mặtliờn hệ của đối tượng phải chú ý đến sự phát triển cụ thể của chúng Chỉ có như vậy mớithấy được vai trũ của cỏc mặt trong từng giai đoạn cũng như của toàn bộ quá trỡnh phỏttriển của từng mối liờn hệ cụ thể của đối tượng Xem xét toàn diện nhưng không “bỡnhquõn, dàn đều” mà có “trọng tâm, trọng điểm”, phải tỡm ra vị trớ từng mặt, từng yếu tố,từng mối liờn hệ trong tổng thể của chúng, phải từ tri thức về nhiều mặt, nhiều mối liên

4 V.I.Lờ-nin: Lại bàn về cụng ðoàn…, in trong Sðd, t 42, tr.364

5 V.I.Lờ-nin Bỳt ký triết học in trong Sðd, t 42, tr.239

Trang 28

hệ của đối tượng để khái quát, rút ra mối liên hệ cơ bản nhất, bản chất nhất, quan trọngnhất, chi phối sự tồn tại và phát triển của chúng.

Phân tích trên cho thấy, lụ-gớc việc hỡnh thành quan điểm toàn diện trong nhận thứcđối tượng phải trải qua nhiều giai đoạn, cơ bản là đi từ quan niệm ban đầu về cái toànthể đến nhận thức mỗi mặt, mỗi mối liên hệ cụ thể của đối tượng đó và cuối cùng đi tớikhái quát những tri thức phong phú đó để rút ra tri thức về bản chất của đối tượng Thựcchất, đây cũng là đi từ cụ thể cảm tính đến cụ thể trong tư duy

Cần quán triệt nguyên tắc xem xét toàn diện trong nghiên cứu khoa học Các nghiêncứu khoa học không tách rời nhau, mà luôn liên hệ với nhau, thâm nhập vào nhau.Nhiều đối tượng đũi hỏi phải cú sự nghiờn cứu liờn ngành của nhiều khoa học Conngười không thể hiểu được bản chất của một hiện tượng xó hội nếu tỏch nú ra khỏinhững mối liờn hệ, sự tỏc động qua lại với các hiện tượng xó hội khỏc, do vậy rất cầnphải xem xét toàn diện Trong thời kỳ đẩy mạnh rộng khắp công cuộc đổi mới ở ViệtNam hiện nay, nếu không phân tích toàn diện những mối liên hệ, sẽ không đánh giáđúng tỡnh hỡnh và nhiệm vụ của đất nước trong từng giai đoạn, từng lĩnh vực cụ thể và

do vậy không đánh giá hết những khó khăn, thuận lợi trong sự nghiệp xây dựng đấtnước theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Nguyên tắc xem xét toàn diện đề ra yêu cầu về tính đồng bộ trong hoạt động thựctiễn Theo đó, muốn cải tạo đối tượng phải áp dụng đồng bộ một hệ thống các biệnpháp, các phương tiện để tác động làm thay đổi các mặt, các mối liên hệ của đối tượng.Song trong từng bước, từng giai đoạn phải nắm đúng khâu trọng tâm, then chốt để tậptrung sức lực giải quyết Trước đây, trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ, trên cơ

sở phân tích toàn diện bản chất xó hội Việt Nam là thuộc địa, nửa phong kiến, ĐảngCộng sản Việt Nam đó chỉ rừ hai mõu thuẫn cơ bản của xó hội là mõu thuẫn giữa dõntộc với đế quốc xâm lược và mâu thuẫn giữa nhân dân, mà trước hết là nông dân vớigiai cấp địa chủ, phong kiến Trong đó, mâu thuẫn thứ nhất đứng ở hàng đầu, cần tậptrung lực lượng giải quyết, sau đó mới giải quyết các mâu thuẫn khác Nhờ đó, cuộccách mạng dân tộc dân chủ nhân dân dưới sự lónh đạo của Đảng đó giành thắng lợi trọnvẹn Ngày nay trong cụng cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xó hội chủ nghĩa,trờn cơ sở nhấn mạnh tính tất yếu phải đổi mới cả lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực chính trị,

Trang 29

Đảng luôn xác định phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt Thựctiễn quá trỡnh đổi mới gần 30 năm qua đó chứng minh tớnh đúng đắn của đường lối đó.

Nguyên tắc lịch sử - cụ thể

Nguyên tắc lịch sử - cụ thể là sự bổ sung quan trọng cho hai nguyên tắc toàn diện

và nguyên tắc phát triển Cơ sở của nguyên tắc này là hai nguyên lý của phộp biệnchứng duy vật vận dụng vào khảo sỏt sự tồn tại, vận động, phát triển của đối tượng diễn

ra trong không gian, thời gian cụ thể khác nhau, do đó các mối liên hệ và hỡnh thứcphỏt triển của đối tượng cũng khỏc nhau, bởi vậy khụng chỉ nghiờn cứu chỳng trongtoàn bộ quỏ trỡnh, mà cũn trong cỏc địa điểm, thời điểm, điều kiện, hoàn cảnh lịch sử -

cụ thể khác nhau

Lịch sử phản ánh tính biến đổi theo thời gian của đối tượng trong quá trỡnh phỏtsinh, phát triển, chuyển hoá của nó, biểu thị tính lịch sử - cụ thể của sự phát sinh và cácgiai đoạn phát triển của nó Mỗi đối tượng đều có quá trỡnh phỏt sinh, trưởng thành vàdiệt vong riêng khá cụ thể, bao gồm mọi sự thay đổi và vận động diễn ra trong nhữngđiều kiện, hoàn cảnh, không gian và thời gian khác nhau Bởi vậy, nguyên tắc lịch sử -

cụ thể đũi hỏi, để nhận thức đầy đủ về đối tượng, phải đặt nó trong quá trỡnh phỏt sinh,phỏt triển, chuyển hoỏ ở cỏc hỡnh thức biểu hiện, với những bước quanh co, nhữngngẫu nhiên gây tác động lên quá trỡnh tồn tại của đối tượng trong không gian và thờigian cụ thể; gắn với điều kiện, hoàn cảnh tồn tại cụ thể của nó

Trong nghiên cứu sự vận động và phát triển của đối tượng; nói rộng hơn, trong nhậnthức và hoạt động thực tiễn việc biết phõn tớch tỡnh hỡnh cụ thể là yờu cầu quan trọngnhất của nguyờn tắc lịch sử - cụ thể Yờu cầu này được V.I.Lê-nin nêu cô đọng rừ nhưsau: “Xem xét mỗi vấn đề theo quan điểm sau đây: một hiện tượng nhất định đó xuấthiện trong lịch sử như thế nào, hiện tượng đó đó trải qua những giai đoạn phát triển chủyếu nào, và đứng trên quan điểm của sự phát triển đó để xét xem hiện nay nó đó trởthành như thế nào”6 Bản chất của nguyờn tắc này là, trong quỏ trỡnh nhận thức đốitượng trong sự vận động, chuyển hoá qua lại của nó, phải tái tạo lại được sự phát triểncủa đối tượng ấy, sự vận động của chính nó, đời sống của chính nó Yêu cầu là phải táitạo được đối tượng xuyên qua lăng kính của những ngẫu nhiên lịch sử, những bướcquanh co, những gián đoạn theo trỡnh tự khụng gian và thời gian Điểm quan trọng nhất

6 V.I.Lờ-nin:???? in trong Sðd, t.39, tr.78

Trang 30

của nguyên tắc này là mô tả sự kiện cụ thể theo trỡnh tự hỡnh thành nghiờm ngặt củađối tượng Giá trị của nguyên tắc này ở chỗ, nhờ nó có thể phản ánh được sự vận độnglịch sử phong phú và đa dạng của cỏc hỡnh thức biểu hiện cụ thể của đối tượng, để qua

đó nhận thức được bản chất của nó

Nguyên tắc lịch sử - cụ thể yêu cầu phải nhận thức được vận động có tính phổ biến,

là phương thức tồn tại của vật chất, nghĩa là phải nhận thức được sự vận động làm chođối tượng xuất hiện, phát triển theo những quy luật nhất định; phải chỉ rừ được nhữnggiai đoạn cụ thể mà nó đó trải qua trong quỏ trỡnh phỏt triển; phải biết phõn tớch mỗitỡnh hỡnh cụ thể trong nhận thức và hoạt động thực tiễn thỡ mới cú thể hiểu, giải thíchđược những thuộc tính, những mối liên hệ tất yếu, những đặc trưng chất và lượng vốn

có của đối tượng

Nguyờn tắc lịch sử - cụ thể cũn yờu cầu chỉ ra được các quy luật khách quan quyđịnh sự vận động, phát triển của đối tượng, quy định sự tồn tại hiện thời và khả năngchuyển hoá thành đối tượng mới nhờ phủ định; chỉ ra rằng, đối tượng mới là sự kế tụcđối tượng cũ thông qua phủ định của phủ định; là sự bảo tồn đối tượng cũ dưới dạngvượt bỏ, cải tạo cho phù hợp với đối tượng mới Như vậy, chỉ khi đó tỡm được mối liên

hệ khách quan, tất yếu giữa các trạng thái chất - lượng, tạo nên lịch sử hỡnh thành vàphỏt triển của đối tượng; tạo nên các quy luật quy định sự tồn tại và chuyển hoá của nó,quy định giai đoạn phát triển này sang giai đoạn phát triển khác cho tới trạng thái chínmuồi và chuyển hoá thành trạng thái khác, hay thành các mặt đối lập của nó, thỡ mới cúthể giải thớch cỏc đặc trưng chất và lượng đặc thù của nó, nhận thức được bản chất củanó

Nguyên tắc lịch sử - cụ thể đũi hỏi xem xét đối tượng trong các mối liên hệ cụ thểcủa chúng Việc xem xét các mặt, các mối liên hệ cụ thể của đối tượng trong quá trỡnhhỡnh thành, phỏt triển cũng như diệt vong của nó cho phép nhận thức đúng đắn bản chấtđối tượng và từ đó mới có định hướng đúng cho hoạt động thực tiễn Trong nghiên cứuquá trỡnh nhận thức, nguyờn tắc lịch sử - cụ thể cũng yờu cầu phải tớnh đến sự phụthuộc của quá trỡnh đó vào trỡnh độ phát triển của xó hội, trỡnh độ phát triển của sảnxuất và các thành tựu khoa học trước đó

Trang 31

Nguyờn tắc lịch sử - cụ thể khụng yờu cầu kết hợp cỏc sự kiện riờng lẻ, mụ tả cỏc sựkiện, mà tỏi hiện cỏc sự kiện, chỉ ra mối liờn hệ nhõn quả giữa chỳng, khỏm phỏ quyluật và phõn tớch ý nghĩa, vai trũ của chỳng để tái hiện quá trỡnh lịch sử.

Nhận thức đối tượng theo nguyên tắc lịch sử - cụ thể là làm rừ mối liờn hệ, sự biếnđổi của chúng theo thời gian, cũng như trong những địa điểm tồn tại khác nhau của mỗimặt, mỗi thuộc tính, đặc trưng của đối tượng; tránh tệ giáo điều chung chung Mặt khác,cũng cần đề phũng thúi tuyệt đối hoá tính cụ thể, không thấy đối tượng trong cả quátrỡnh vận động, biến đổi Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn tất yếu phải vừa thấytính cụ thể, vừa thấy cả quá trỡnh phỏt triển của đối tượng

2 Quy luật những thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại

Các khái niệm chất, lượng và độ

Mỗi đối tượng đều có nhiều mối liên hệ với các đối tượng khác Các thuộc tính cốhữu của chúng đều biểu hiện ra trong các liên hệ đó Một số thuộc tính giúp phân biệtđối tượng cần quan tâm với những đối tượng khác Tổng thể các thuộc tính cho biết đối

tượng là gỡ, chớnh là chất của nó Tổng thể các thuộc tính chỉ ra kích cỡ của đối tượng, quy mô, độ lớn của nó, chính là lượng Như vậy, có thuộc tính đặc trưng cho đối tượng

về chất, số khác - về lượng

Những mối liên hệ và tương tác của các đối tượng với nhau đều làm bộc lộ ra cácthuộc tính khác nhau của chúng, thể hiện những chất khác nhau Như vậy, mỗi đốitượng có thể có nhiều chất Nhưng trong từng trường hợp cụ thể ở hàng đầu sẽ là mộtchất xác định, tức là tổng thể các thuộc tính biểu hiện ở đối tượng trong quan hệ đó Không chỉ bản thân đối tượng mà ngay từng thuộc tính của nó cũng có tính xác định

về chất và lượng, điều này cũng làm cho đối tượng có thể có nhiều chất Các chất liên

hệ với nhau và chịu sự quy định của một chất cơ bản của đối tượng Chất cơ bản là tổngthể các thuộc tính đặc trưng cho đối tượng ở tất cả các mối liên hệ, ở mọi giai đoạn tồntại của nó Ở từng giai đoạn phát triển hay ở từng quan hệ thỡ chất cơ bản lại thể hiện làchất chủ yếu, chuyển sang giai đoạn phát triển hay quan hệ khác thỡ chất chủ yếu sẽthay đổi, nhưng vẫn là biểu hiện cụ thể của chất cơ bản

Chất và lượng liên hệ không tách rời với nhau và tạo thành độ Độ là giới hạn về

lượng, mà trong phạm vi của nó chất đó xỏc định vẫn giữ nguyên Độ cũng như chất vàlượng, vốn có không chỉ ở các đối tượng, mà cũn ở cỏc thuộc tớnh của chỳng

Trang 32

Mối quan hệ chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại

Chất và lượng của các đối tượng phụ thuộc lẫn nhau, thống nhất không tách rời.Những thay đổi lượng từ từ, liên tục, tưởng như không đụng chạm gỡ đến chất, khi đạtgiới hạn nhất định, sẽ phá vỡ chất cũ, chất mới ra đời thay thế nó Đây là cơ chế quyđịnh sự thay đổi về chất của đối tượng, sự chuyển hóa về chất của một đối tượng thànhđối tượng khác

Quy luật này và các quy luật khác của phép biện chứng, như C.Mác và Ph.Ăng-ghen

đó xỏc nhận, lần đầu tiên do Hê-ghen phát minh ra, và được trỡnh bày dưới lớp vỏ duytâm Ph.Ăng-ghen viết, sai lầm của Hê-ghen “là ở chỗ ông không rút ra những quy luật

ấy từ trong giới tự nhiên và lịch sử mà lại đem gán những quy luật với tư cách là nhữngquy luật của tư duy ấy từ trên xuống cho giới tự nhiên và lịch sử Kết quả của việc làm

đó là toàn bộ một cấu tạo gũ ộp,… dự muốn hay khụng, thế giới cũng phải phự hợp vớimột hệ thống lụ-gớc, mà bản thõn hệ thống này chẳng qua chỉ là sản phẩm của một giaiđoạn phát triển nhất định của tư duy loài người”7

Thay vào đó, Ph.Ăng-ghen đó phỏt biểu quy luật này như sau: “… trong giới tựnhiên, thỡ những sự biến đổi về chất - xảy ra một cách xác định chặt chẽ đối với từngtrường hợp cá biệt - chỉ có thể có được do thêm vào hay bớt đi một số lượng vật chấthay vận động (hay là năng lượng như người ta thường nói)”8

Những thay đổi về chất không thể diễn ra thiếu sự thay đổi về lượng Nhưng cả chất,đến lượt mỡnh, cũng ảnh hưởng đến lượng, đến sự thay đổi của lượng Giữa những biếnđổi về lượng và chất luôn có sự tương tác, và phát triển chính là sự liên hệ và quy địnhlẫn nhau của những biến đổi chất lẫn những biến đổi lượng, như là những chuyển hóathường xuyên của cái này thành cái kia và ngược lại Những chuyển hóa đó diễn ra ởnhững điểm cao trào xác định, với sự phá vỡ độ Thay thế cho độ này sẽ là độ khácthông qua “bước nhảy”

Bước nhảy là hỡnh thức chuyển húa phổ biến từ một chất này thành chất khỏc

Khác với những thay đổi liên tục về lượng, những thay đổi về chất luôn diễn ra dướidạng ngắt quóng tớnh liờn tục Bước nhảy là điểm chuyển tiếp, mà ở đó sự thay đổi dầndần về lượng bị đứt quóng hẳn để diễn ra sự chuyển hoá những thay đổi về lượng thành

Trang 33

những thay đổi về chất, tức là chuyển từ chất này sang chất khác Thiếu bước nhảy, thỡkhụng thể cú phỏt triển V.I.Lờ-nin nhấn mạnh: “Tớnh tiệm tiến mà khụng có bướcnhảy vọt, thỡ khụng giải thớch được gỡ cả”9 “Phân biệt bằng cách nào một sự chuyểnhóa biện chứng với một sự chuyển hóa không biện chứng? Bằng bước nhảy vọt Bằngtính mâu thuẫn Bằng sự gián đoạn của tính tiệm tiến Bằng tính thống nhất (đồng nhất)của tồn tại và không tồn tại”10.

Có hai kiểu bước nhảy chính: 1) bước nhảy diễn ra dưới dạng bùng nổ khi chất củađối tượng bị thay thế lập tức, hoàn toàn; và 2) bước nhảy diễn ra bằng cách tích lũy dầndần các yếu tố của chất mới và suy thoái dần dần các yếu tố của chất cũ

Khi xem xét bước nhảy dần dần cần chú ý hai điểm quan trọng Thứ nhất, nó không

là sự biến đổi chậm chạp, ở đây không nói về tốc độ của bước nhảy, mà về cơ chế của

nó: chất không bị thay thế ngay lập tức, mà theo từng phần Thứ hai, tính tiệm tiến của

những thay đổi về chất khác với tính tiệm tiến về lượng Những thay đổi dần dần vềlượng diễn ra liên tục, đều đặn trong khuôn khổ chất cũ Bước nhảy dần dần vẫn là sựchuyển hóa chất này thành chất khác, là sự gián đoạn của tính liên tục, là sự chuyểnhướng quyết định, là bước ngoặt trong sự phát triển

Quỏ trỡnh biến đổi lượng và chất ở các đối tượng có độ sâu và ý nghĩa khỏc nhau.Trờn cơ sở đó có thể chia những quá trỡnh đó ra thành cách mạng và tiến hóa

Cách mạng là sự phá bỏ chất cơ bản, là sự cải biến chất đến tận gốc rễ (bao gồm cả

sự cải biến tức thời, mang tính bùng nổ, lẫn sự cải biến dần dần) Tiến hóa là sự biến đổi

chưa dẫn đến phá bỏ chất cơ bản của đối tượng Tiến hóa bao gồm cả những thay đổi vềlượng lẫn những chất không cơ bản

Như vậy, cách mạng là khái niệm có ngoại diên hẹp hơn so với bước nhảy Bướcnhảy là mọi sự biến đổi của đối tượng về chất, cách mạng là sự thay đổi hẳn chất cơbản Nhưng chỉ những biến đổi chất cơ bản quy định sự vận động tiến bộ, chuyển từnhững nấc thang phát triển thấp lên cao hơn mới là cách mạng Cũn nếu kết quả củanhững thay đổi cơ bản về chất mà lại gây ra bước nhảy thụt lùi, tức là vận động từ caoxuống thấp thỡ đó không phải là cách mạng mà là phản cách mạng Các khái niệm nàythường chỉ được áp dụng vào xó hội

9 V.I.Lờ-nin Bỳt ký triết học, in trong Sðd, t.29, tr.133

10 V.I.Lờ-nin Bỳt ký triết học, in trong Sðd, t.29, tr.303

Trang 34

Biện chứng giữa chất và lượng đũi hỏi hoạt động thực tiễn cần dựa trên tri thức vềmối liên hệ lượng - chất, dựa trên hiểu biết về vị trí, vai trũ và ý nghĩa của từng hỡnhthức biến đổi trong sự phát triển của xó hội, để kịp thời chuyển từ biến đổi này sangbiến đổi khác, xuất phát từ những đặc điểm của các quá trỡnh tiến húa và cỏch mạng ởcỏc hỡnh thỏi kinh tế - xó hội khỏc nhau Xem xét mối liên hệ biện chứng giữa tiến hóa

và cách mạng là một trong những nguyên tắc phương pháp luận của việc xây dựngchiến lược và sách lược của các đảng cộng sản nhằm cách mạng hoá xó hội, trong cuộcđấu tranh chống chủ nghĩa cải lương, chủ nghĩa xét lại cánh hữu và chủ nghĩa phiêu lưu

“tả khuynh”

Vỡ cả thay đổi về chất cũng dẫn đến thay đổi về lượng, nên để đạt được những chỉ

số cần thiết về lượng, thỡ cần làm thay đổi không chỉ những đặc trưng về lượng của đốitượng, mà cũn phải cải biến chất của chỳng Mỗi đối tượng đều có nhiều chất, và ở từngmối liên hệ lại nổi lên hàng đầu những chất khác nhau, nờn trong nhận thức cần làm rừmọi chất của đối tượng, khảo sát nó trong mọi mối liên hệ Đồng thời phải xác địnhtrong các chất đó, đâu là chất cơ bảnchúng chất cơ bản, phõn biệt rạch rũi nú với nhữngchất khỏc Đây cũng là một yêu cầu của nguyên tắc toàn diện – nguyên tắc quan trọng

nhất của phép biện chứng duy vật

4 Mối quan hệ biện chứng giữa LLSX và QHSX

Sản xuất vật chất - nền tảng của sự vận động, phát triển xó hội

Biện chứng của sự phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất - quy luật cơ bản của sự vận động, phát triển các phương thức sản xuất trong lịch sử

Bất cứ một quỏ trỡnh sản xuất vật chất nào cũng diễn ra với sự tồn tại “song trựng”của hai mối quan hệ cơ bản, đó là: mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên và mối

quan hệ giữa con người với nhau Khái niệm lực lượng sản xuất và khái niệm quan hệ

sản xuất phản ánh hai mối quan hệ song trùng ấy, trong đó khái niệm lực lượng sản xuất

phản ánh trỡnh độ con người chinh phục giới tự nhiên trong quá trỡnh sản xuất, cũnkhái niệm quan hệ sản xuất phản ánh sự liên kết giữa những con người theo yêu cầukhách quan của sự chinh phục giới tự nhiên ở một trỡnh độ phát triển nhất định

- Khái niệm “lực lượng sản xuất” phản ánh mối quan hệ giữa con người với giới tự

nhiên, biểu hiện trỡnh độ con người chinh phục tự nhiên trong quá trỡnh sản xuất vật

Trang 35

mối quan hệ vật chất giữa con người với giới tự nhiên, cải biến giới tự nhiên bằng sức mạnh thực tiễn Mối quan hệ đó được thực hiện thụng qua quỏ trỡnh lao động sản xuất

vật chất Vỡ vậy xột về thực chất, khỏi niệm “lực lượng sản xuất” dùng để chỉ năng lực thực tiễn cải biến giới tự nhiên của con người Năng lực đó được tạo ra trong đời sống

hiện thực bằng sự kết hợp giữa sức lao động (sức lực vật chất và tinh thần - đặc biệt là yếu tố tri thức) của con người với những tư liệu sản xuất trong quỏ trỡnh lao động của

họ

Do đó, có thể định nghĩa vắn tắt: Lực lượng sản xuất là toàn bộ các yếu tố vật chất

và tinh thần của con người, tạo thành năng lực thực tiễn cải biến giới tự nhiên theo mục đích của quá trỡnh sản xuất vật chất.

Trỡnh độ phát triển của năng lực thực tiễn cải biến giới tự nhiên của con người, tức trỡnh độ phát triển của lực lượng sản xuất, phụ thuộc vào các yếu tố cơ bản sau đây: Một là, trỡnh độ phát triển của các tư liệu sản xuất; trong đó, trỡnh độ phát triển của công cụ lao động thể hiện tập trung trỡnh độ phát triển của các tư liệu sản xuất.

Hai là, trỡnh độ phát triển của năng lực lao động thực tế của con người, tức của sức

lao động, bao gồm trong đó toàn bộ sức lực vật chất và sức lực tinh thần (kỹ năng, kinhnghiệm,…) của người lao động

Ba là, phương thức kết hợp các yếu tố trong quá trỡnh sản xuất Cựng một trỡnh độ

phát triển của tư liệu sản xuất và sức lao động của con người nhưng phương thức phâncông hợp tác phối kết hợp khác nhau có thể tạo ra chất lượng, trỡnh độ phát triển khácnhau của lực lượng sản xuất, do đó trong thực tế chúng cũng có giá trị hiện thực khácnhau, thể hiện trỡnh độ năng lực thực tiễn khác nhau trong quá trỡnh sản xuất

Trong các yếu tố tư liệu sản xuất và người lao động (tức con người có khả năng laođộng được tạo nên bởi các yếu tố vật chất và tinh thần của chính bản thân họ) thỡ nhõn

tố người lao động là yếu tố cơ bản nhất Bởi vỡ, suy đến cùng thỡ trỡnh độ phát triển

của tư liệu sản xuất chỉ là kết tinh giá trị lao động của con người, là sản phẩm lao động

của con người, phản ánh trỡnh độ lao động của con người; đồng thời, giá trị thực tế tạo

nên năng lực thực tiễn trong quỏ trỡnh sản xuất phụ thuộc vào trỡnh độ lao động thực tếcủa người lao động khi họ sử dụng những tư liệu đó

Nếu xem xột quỏ trỡnh lao động sản xuất là quá trỡnh sản xuất khụng phải với tưcách trực quan là quá trỡnh lao động sản xuất đơn lẻ, riêng biệt của mỗi cá nhân độc lập

Trang 36

mà là tổng thể quỏ trỡnh lao động của một xó hội thỡ cỏc yếu tố tư liệu sản xuất và

người lao động cần phải được phân tích là tổng thể phối kết hợp giữa các loại và trỡnh

độ phát triển của tư liệu sản xuất cũng như giữa cỏc loại và trỡnh độ phát triển củangười lao động trong tính toàn thể xó hội của nú Trong đó, có sự phối kết hợp giữa cácloại lao động phát triển ở những trỡnh độ khác nhau (lao động trí óc và lao động chântay, lao động trực tiếp và gián tiếp,…) Cách hiểu đó mới có thể cho thấy sự phát triểncủa lực lượng sản xuất của thời đại ngày nay

Một trong những đặc điểm lớn của thời đại ngày nay là có sự phát triển hết sứcnhanh chóng của các ngành khoa học tự nhiên gắn kết với các quá trỡnh phỏt minh sỏngchế kỹ thuật mới, từ đó làm xuất hiện và phát triển rất nhanh chóng của các ngành côngnghệ cao như: công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học, côngnghệ vũ trụ,… Các ngành công nghệ đó ngày càng đóng vai trũ then chốt, trụ cột trong

sự phát triển của lực lượng sản xuất ở các nước có nền công nghiệp hiện đại Với sựphát triển đó, tất yếu đũi hỏi quỏ trỡnh phỏt triển trỡnh độ ngày càng cao của người laođộng trong xó hội cụng nghiệp hiện đại Xu hướng sử dụng trỡnh độ lao động có đàotạo và được đào tạo ở trỡnh độ chuyên môn cao và theo chiều sâu của sự chuyên mônhóa để có thể thích ứng với việc sử dụng sản phẩm kỹ thuật mới ngày càng được coitrọng, thay thế dần cho trỡnh độ lao động căn bản dựa trên những kỹ năng kinh nghiệmlao động thông thường không cần trải qua quá trỡnh đào tạo chuyên sâu Những sự pháttriển đó của lực lượng sản xuất trong xó hội cụng nghiệp hiện đại đó thể hiện khuynhhướng gắn kết ngày càng chặt chẽ giữa hai quá trỡnh sản xuất vật chất và tinh thần của

xó hội, thể hiện khuynh hướng khoa học kỹ thuật ngày càng trở thành lực lượng sản

xuất trực tiếp mà C.Mác đó dự bỏo từ thế kỷ XIX Biểu hiện cao nhất của quỏ trỡnh đó

là sự ra đời và phát triển của các khu công nghệ cao, trong đó có sự liên kết chặt chẽgiữa những nhà sản xuất và những nhà khoa học, các tổ chức nghiên cứu khoa học, cáctrường đại học đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao phù hợp với nhu cầu phát triểncủa nền công nghiệp hiện đại

Khuynh hướng phát triển của lực lượng sản xuất trong các xó hội cụng nghiệp hiệnđại cũng tất yếu thúc đẩy tiến trỡnh “xó hội húa” của lực lượng sản xuất mà biểu hiện

tiờu biểu cho tiến trỡnh đó là sự phụ thuộc tất yếu ngày càng tăng về mặt trỡnh độ phát

Ngày đăng: 06/05/2017, 17:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w