Hướng dẫn giúp đỡ học sinh tiếp thu môn Toán một cách tích cực và đạt kết quả cao, đây không phải là chuyện nói một sớm một chiều.Trong những năm gần đây do nhu cầu phát triển của xã hội thì nhu cầu dạy và học đòi hỏi được nâng lên. Những phương pháp dạy học cũ không còn thích hợp nữa mà thay vào đó là những phương pháp dạy học mới. Người học không còn thụ động tiếp thu nữa mà trở thành trung tâm, chủ thể của hoạt động dạy học. Người học không hoạt động bằng cách nghe thầy giảng dạy và truyền đạt kiến thức từ một phía, mà học tích cực bằng hành động của chính bản thân, tức là người học tự tìm ra “cái chưa biết”, “ cái cần khám phá”để đi đến tích lũy kiến thức và chân lí...............
Trang 1PHỤ LỤC II:
PHÒNG GD-ĐT TRI TÔN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG TH A TRI TÔN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Tri Tôn, ngày 11 tháng 11 năm 2018
BÁO CÁO Kết quả thực hiện sáng kiến, cải tiến, giải pháp kỹ
thuật, quản lý, tác nghiệp, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật hoặc nghiên cứu khoa học ứng dụng.
I/ Sơ lược lý lịch tác giả:
- Họ và tên: Lâm Thị Tuyệt Nam, nữ : nữ
- Ngày tháng năm sinh: 25/ 3/ 1985
- Nơi thường trú: Tổ 3, Khóm 3, Tri Tôn, Tri Tôn, An Giang
- Đơn vị công tác: Trường Tiểu học A Tri Tôn
- Chức vụ hiện nay: Dạy lớp 2A
- Lĩnh vực công tác: Giáo viên chủ nhiệm lớp
II/ Tên đề tài sáng kiến: Một số biện pháp giúp học tốt môn Toán lớp 2
III/ Lĩnh vực: Phân môn Toán
IV/ Mục đích yêu cầu của sáng kiến:
1 Mục đích:
-Hướng dẫn giúp đỡ học sinh tiếp thu môn Toán một cách tích cực và đạt kết quả cao, đây không phải là chuyện nói một sớm một chiều.Trong những năm gần đây do nhu cầu phát triển của xã hội thì nhu cầu dạy và học đòi hỏi được nâng lên Những phương pháp dạy học
cũ không còn thích hợp nữa mà thay vào đó là những phương pháp dạy học mới Người học không còn thụ động tiếp thu nữa mà trở thành trung tâm, chủ thể của hoạt động dạy học Người học không hoạt động bằng cách nghe thầy giảng dạy và truyền đạt kiến thức từ một
Trang 2phía, mà học tích cực bằng hành động của chính bản thân, tức là người học tự tìm ra “cái chưa biết”, “ cái cần khám phá”để đi đến tích lũy kiến thức và chân lí
2.Yêu cầu:
- Đối với bộ môn toán, việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh gắn liền với việc đổi mới cách học kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực; học sinh sẽ tự so sánh, đối chiếu và tự rút ra kiến thức mới cho bản thân cụ thể học sinh phải nắm vững kiến thức lớp 1, tất cả học sinh có sách giáo khoa đầy đủ Giáo viên nắm vững nội dung chương trình và giúp tất cả các em thực hiện tốt tiết toán luyện tập vào buổi chiều Bởi vậy việc thay đổi phương pháp và hình thức tổ chức dạy học có thể phát huy tối đa tính tích cực của học sinh khi học phân môn toán lớp 2 Do đó khi xây dựng đề tài này bản thân tôi hướng đến mục đích cụ thể như vậy nhằm nâng cao chất lượng học tập của các em
- Nội dung chương trình toán lớp 2 gồm:
- Ôn tập và bổ sung
- Phép cộng có nhớ trong phạm vi 100
- Phép trừ có nhớ trong phạm vi 100
- Ôn tập
- Phép nhân và phép chia
- Các số trong phạm vi 1000
- Ôn tập cuối năm học
1/ Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến
Về nội dung chương trình toán lớp 2: Mỗi chương là một mảng kiến thức Bên cạnh việc tìm tòi và sáng tạo phần giảng dạy phù hợp với yêu cầu bài học và đố tượng học sinh Mỗi giáo viên phải giúp học sinh có phương pháp lĩnh hội tri thức toán học Học sinh có phương pháp học phù hợp với từng dạng bài toán thì việc học mới đạt kết quả cao
Thuận lợi:
- Giáo viên được trang bị đầy đủ sách giáo khoa, sách giáo viên, sách tham khảo Cơ
sở vật chất đầy đủ như trang bị tivi để dạy giáo án điện tử
- Học sinh được học 2 buổi trên ngày, học sinh có nhiều thời gian ôn tập và thực hành
Trang 3-Bản thân nhiều năm trực tiếp giảng dạy khối 2 nên kinh nghiệm tích lũy được cũng tương đối nhiều
-Hội đồng sư phạm trường nhiều đồng chí có nhiều kinh nghiệm và có quyết tâm nhất quán trong đổi mới phương pháp nên bản thân cũng đã học hỏi được nhiều vấn đề hữu ích
-Học sinh phần lớn chăm ngoan, rất chịu khó, lại tiếp cận khá nhanh với phương pháp mới nên việc thử nghiệm đề tài luôn nhận được sự ủng hộ từ các phía các em
Khó khăn:
- Năng lực và thói quen nghiên cứu của bản thân còn nhiều hạn chế nên cho dù đã rất
cố gắng, kết quả thu được vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra
- Một bộ phận học sinh chây lười trong học tập, gia đình lại không quan tâm nên việc
tự học của các em cho dù đã được giáo viên hướng dẫn rất kĩ nhưng chưa thể đáp ứng được yêu cầu đề ra
- Đối tượng học sinh trong lớp không đồng đều còn chênh lệch nhiều em quá yếu nhiều em quá giỏi Việc chú ý đến đối tượng đã làm ảnh hưởng nhiều đến quá trình nghiên cứu
- Phụ huynh chưa thực sự quan tâm các em, hầu như giao khoán cho giáo viên
- Phương tiện dạy học vẫn chưa thể đáp ứng tốt nhất nhu cầu thực tiễn dạy học hiện đại
Kết quả khảo sát về mức độ tích cực học tập của học sinh ở tiết học toán đầu năm:
Tổng số học
Qua kết quả khảo sát này đã khiến cho bất cứ ai cũng cảm thấy lo ngại, cụ thể:
2/ Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Trang 4Ở môn Toán nói chung, môn Toán lớp 2 nói riêng là nền tảng cho nền kiến thức sau này Các em mà hỏng kiến thức ở bậc Tiểu học thì sau này các em khó có thể giải các bài toán ở bậc cao hơn Mà bất cứ một ngành nào hay một lĩnh vực nào thì Toán học cũng giúp chúng ta thành đạt, giúp mọi nhà doanh nghiệp hay các nhà khoa học thành công trong việc nghiên cứu Vậy muốn có được kết quả như mong muốn chúng ta phải gây dựng, kèm cặp ngay từ bậc Tiểu học là quan trong nhất Như chúng ta đã biết: Toán là “ sai một li đi một dặm”, có nghĩa là Toán rất cần sự tuyệt đối, chính xác
Theo quan điểm chương trình mới hiện nay là chú trọng thực hành, vận dụng, nên nói chung nội dung chương trình trường tinh giảm, tập chung vào các kiến thức kĩ năng cơ bản, bám sát thực tế, tích hợp được nhiều mặt giáo dục Chương trình toán mới đã có những đổi mới để tăng cường thực hành và ứng dụng kiến thức mới nhằm giúp học sinh học tập tích cực, linh hoạt, sáng tạo theo năng lực của học sinh Để đạt được mục tiêu chương trình đề
ra, trước hết giáo viên phải nắm vững mục tiêu, nội dung, khả năng khai thác từng bài Điều quan trọng là giáo viên phải xây dựng những phương pháp huy động tính tích cực của học sinh trong hoạt động học để các em nắm chắc và vận dụng thành thạo các nội dung trong từng bài, góp phần phát triển năng lực tư duy và năng lực thực hành của học sinh
Nhằm phát huy những ưu điểm, kịp thời khắc phục những hạn chế, để giúp học sinh lĩnh hội được đầy đủ các kiến thức từ những phương pháp dạy học Là một giáo viên dạy lớp 2 qua tìm hiểu thực tiễn tại Trường Tiểu học “A” Tri Tôn Bản thân tôi luôn trăn trở phải làm gì, làm như thế nào để các em có hứng thú trong học tập, nhất là đối với môn toán lớp 2 kiến thức còn nặng so với các em, lượng kiến thức trong giờ học còn nhiều mà lại khô khan, không hấp dẫn Chính vì vậy đã làm cho giờ học toán trở nên nặng nề, không khí của lớp học căng thẳng Điều này đã làm thúc đẩy tôi chọn và nghiên cứu sáng kiến kinh
nghiệm “Một số biện pháp giúp học tốt môn Toán lớp 2 tại Trường tiểu học “A” Tri Tôn”
Ý kiến phụ huynh về việc biện pháp giúp học tốt môn Toán lớp 2
Trang 52017- 2018 30 phụ huynh 30 phụ huynh
3 Nội dung sáng kiến ( Tiến trình thực hiện, thời gian thực hiện, biện pháp tổ chức ) 3.1 Tiến trình thực hiện
Hàng tuần, lớp 2 có5 tiết toán học chính thức, 3 tiết rèn toán vào buổi chiều, các em còn được thực hiện toán trong vở bài tập được chỉnh sửa ở mỗi buổi học
tài nghiên cứu
trong lớp
tra khảo sát lần 1
06/10/ 2017
Trường TH “A” Tri Tôn
Thời gian thực hiện: Đối với học sinh lớp 2A ở trường tiểu học TH “ A” Tri Tôn,
thời gian thực hiện trong bốn năm học 2014-2015 ; 2015-2016; 2016- 2017; 2017- 2018 trong công tác giảng dạy cho học sinh ở lĩnh vực Toán học
3.2 Biện pháp tổ chức:
3.2.1 Thực trạng học toán của học sinh:
- Đơn vị cơ bản của quá trình dạy học là các tiết dạy vì vậy trong quá trình dạy học giáo viên phải nghĩ đến từng tiết học Bất cứ tiết học nào cũng có một số bài tập để củng cố, thực hành trực tiếp các kiến thức mới, giáo viên vừa giúp học sinh nắm chắc kiến thức kĩ năng cơ bản nhất vừa hình thành được phương pháp học tập cho các em
- Học sinh lớp 1 mới vừa lên lớp 2 thì việc đổi mới về cấu trúc, nội dung sách giáo khoa, trong mỗi tiết học giáo viên tổ chức hướng dẫn học sinh hoạt động học tập giúp các
em nắm được kiến thức cơ bản về phép cộng trừ có nhớ trong phạm vi 100 là khá mới mẻ, các em cảm thấy rất khó để hoàn thành tốt môn học này Bản thân giáo viên khuyến khích
Trang 6học sinh tìm ra kết quả bằng nhiều cách, đồng thời hình thành và rèn cho học sinh các kĩ năng thực hành về cộng trừ, đặc biệt là kĩ năng tính và giải quyết vấn đề thông qua cách cộng trừ nhẩm Với cách cộng trừ nhẩm giúp học sinh khắc sâu kiến thức thấy được sự đa dạng và phong phú của các bài tập, từ đó tập cho học sinh thói quen khai thác nội dung tiềm
ẩn trong từng bài tập, lựa chọn cách giải tốt nhất cho bài làm của mình, vận dụng ngay cách cộng trừ nhẩm của tiết học trước trong các tiết dạy tiếp liền, vận dụng trong đời sống một cách chủ động, linh hoạt và sáng tạo
-Khi dạy toán cộng trừ có nhớ trong phạm vi 100 cho học sinh lớp 2 tôi luôn yêu cầu học sinh tính bằng nhiều cách trong đó có vận dụng tính nhẩm để tìm nhanh kết quả
3.2.2 Phát huy tính tích cực hóa của học sinh trong phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ và kết hợp với phương pháp dạy học khác để tổ chức hoạt động dạy học nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo, hợp tác của học sinh.
Xác định phương pháp dạy học từng dạng bài
- Đối với "tiết học bài mới" chúng tôi yêu cầu giáo viên nghiên cứu kĩ để xác định: Khác với chương trình cũ, phần bài mới trong các tiết dạy bài mới thường không nêu kiến thức có sẵn mà thường chỉ nêu các tình huống có vấn đề để học sinh hoạt động và tự phát hiện ra kiến thức mới theo sự hướng dẫn của giáo viên, với sự trợ giúp của các đồ dùng học tập, Thời lượng thực hành chiếm khoảng 50% - 60% thời lượng của tiết học Vì vậy tuỳ theo khả năng của từng học sinh mà tổ chức cho các em thực hiện một số hoặc toàn bộ bài tập thực hành, trong đó không được bỏ qua các dạng bài tập cơ bản nhất Đồng thời, trong "Tiết học bài mới" giáo viên tổ chức hướng dẫn học sinh hoạt động học tập để giúp học sinh:
Học sinh tự phát hiện và tự giải quyết nhiệm vụ bài học
Ví dụ: Dạy bài "11 trừ đi một số "
Giáo viên hướng dẫn học sinh sử dụng các bó que tính và que tính rời để học sinh tự nêu được: Có một bó một chục que tính và một que tính, tức là có 11 que tính, lấy bớt đi 5 que tính thì còn lại mấy que tính?( 11- 5 = ?) Tiếp tục hướng dẫn thực hiện các thao tác trên que tính để học sinh nêu và làm được, để bớt đi 5 que tính lúc đầu ta bớt đi 1que tính rời
(11-1 = (11-10 ).Sau đó phải tháo bó que tính ra, lấy bớt tiếp 4 que tính nữa còn lại 6 que tính ( (11-10 - 4
= 6 ) Như vậy: 11 - 5 = 6
Tương tự như trên cho học sinh tự tìm kết quả của các phép tính trừ :
Trang 711 - 2 ; 11 -3 ; 11- 4 ; 11- 6 ; 11- 7 ; 11- 8 ; 11- 9 Học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức mới
Sau khi học sinh tìm được kết quả các phép trừ nêu trên, giáo viên cần tổ chức cho học sinh ghi nhớ các công thức trong bảng trừ của bài : " 11 trừ đi một số " bằng cách tái hiện các công thức vừa hấp dẫn vừa khích lệ học sinh thi đua học tập như che lấp hoặc xoá từng phần rồi toàn bộ công thức và tổ chức cho học sinh thi đua lập lại ( nói, viết ) các công thức đã học Để khẳng định học sinh đã tự chiếm lĩnh kiến thức mới như thế nào thì sau khi học sinh tiếp thu bài mới, học sinh phải làm được các bài tập trong SGK
Quá trình dạy học Toán như vậy sẽ dần dần giúp học sinh biết cách phát hiện, chiếm lĩnh kiến thức mới và cách giải quyết các vấn đề gần gũi với đời sống
Học sinh thiết lập được mối quan hệ giữa kiến thức mới với kiến thức đã học
Ví dụ: Khi dạy học phép cộng có nhớ trong phạm vi 100 Ở mỗi tiết học này, giáo viên phải yêu cầu học sinh huy động các kiến thức ở lớp 1 để tự phát hiện ra nội dùng mới Chẳng hạn : 9 + 5 = ?
Học sinh phải huy động kiến thức đã học như: 9 + 1 = 10 ; 10 + 4 = 14 Cách viết theo hàng ngang: 9 + 5 = 14, theo cột dọc +
9 5
14
- Đặt kiến thức mới trong mối quan hệ với kiến thức đã học Nếu thực hiện phương pháp dạy học bài mới như vậy không những tạo điều kiện ôn tập, cũng cố kiến thức đã học, giúp học sinh huy động để phát hiện, chiếm lĩnh, vận dụng kiến thức mới, tìm ra những nội dung còn tiềm ẩn trong từng bài học mà còn góp phần rèn luyện cách diễn đạt thông tin bằng lời, bằng kí hiệu, phát triển các năng lực tư duy của học sinh
Đối với tiết "Luyện tập thực hành"
- Nội dung luyện tập, thực hành không chỉ có trong các tiết luyện tập, luyện tập chung, chiếm tỉ lệ khá lớn trong các tiết dạy học bài mới Học không chỉ để biết mà học còn để làm, để vận dụng Vì thế chúng tôi chỉ đạo giáo viên dạy lớp 2 khi dạy dạng bài này cần:
Các bài dạng trừ 11-5 ; 31- 5 ;51-15
+ Bài 11trừ đi một số 11-5
Trang 8-Học sinh thực hiện tính 11-5 bằng các thao tác trên que tính, có thể trả lời bằng nhiều cách để tìm ra kết quả 11-5
đặt tính rồi tính
-5 6
- Dựa vào hình vẽ SGK trang 48 học sinh tìm ra cách tính nhẩm: 11-5 =11-1-4=10-4=6
-Hướng dãn thực hiện các thao tác
11-5 =(11+5)-(5+5)
= 16 - 10 = 6
- Phát hiện cách trừ nhẩm : muốn trừ nhẩm ta làm tròn chục số trừ: khi thêm vào số trừ bao nhiêu đơn vị để số đó tròn chục thì phải thêm vào số bị trừ bấy nhiêu đơn vị
+ Bài tập 1: Tính nhẩm trang 48
9+2= 8+3= 7+4= 6+5= 2+9= 3+8= 4+7= 5+6=
11-9= 11-2= 11-8= 11-3= 11-7= 11-4= 11-5= 11-6=
- Cách 1 : trên cơ sở thuộc bảng cộng trừ học sinh tự tìm ra kết quả mỗi phép tính
- Cách 2: Dựa vào kiến thức đã học học sinh có thể điền ngay 9 +2 = 11 ; 2 +9 =11 Còn 11-9 ; 11-2, cần được đặt trong mối quan hệ với phép cộng 9 +2=11; 2+9 =11 và cách tìm một số hạng khi biết số hạng kia và tổng Các cột còn lại thực hiện tương tự
Dựa vào cách tính nhẩm bài 11-5, học sinh vận dụng tính nhẩm trong các bài tiếp theo + Bài 31-5
Trang 9- Cách 1 Đặt tính 31-5 =?
- 5
- Cách 2 tính nhẩm
31-5 =(31+5) -(5+5)=
+ Bài 51-15
-Cách 1 (SGK) 51 -15=?
36
- Cách 2 tính nhẩm:
51-15 =(51+5) -(15+5)=
56 - 20 = 36
* Các bài dạng 12-8;32-8; 52-28;13-5;33-5;53-15;14-8;34-8;54-18
Thực hiện tương tự như trên
Các bài dạng cộng 9 +5; 29+5;49+25
* Bài 9 cộng với một số : 9+5
Trang 10- Học sinh thực hiện tính 9+5 bằng các thao tác trên que tính, có thể trả lời theo nhiều cách
để tìm ra kết quả 9+5 = 14
- Đặt tính rồi tính
9
+5
14
- Học sinh nắm được thuật tính
- Dựa vào hình vẽ sgk (trang 15) khuyến khích học sinh tìm ra cách làm nhanh nhất : “tách 1
ở số sau để có 9 cộng với 1 bằng10 , lấy 10 cộng với số còn lại của số sau” Cách thực hiện này yêu cầu học sinh phải huy động các kiến thức đã học ở lớp 1 (9+1=10, 5 gồm 1 và 4) để
tự phát hiện nội dung mới và chuẩn bị cơ sở cho việc lập bảng cộng có nhớ
- Lập bảng cộng dạng 9 cộng với một số và học thuộc chẳng hạn
9+2=
9+3=
9+4=
9+9=
+ Cách 1”
Học sinh tự tìm ra kết quả bằng các thao tác trên que tính
+ Cách 2:
Trang 11Cho học sinh nhận xét về các phép tính ? ( số hạng thứ nhất của các phép tính đều là 9) khi cộng 9 với một số tách 1 ở số sau để có 9 +1 = 10 cộng với số còn lại của số sau rồi tính nhẩm Với cách này học sinh khắc sâu kiến thức, tránh lạm dụng đồ dùng trực quan
Học thuộc công thức cũng chỉ là bước đầu chiếm lĩnh kiến thức, giáo viên giúp học sinh nhận ra: học không phải chỉ để biết mà học còn để làm, để vận dụng Thông qua hệ thống bài tập học sinh biết cách vận dụng những kiến thức cơ bản đã học để làm bài, giáo viên khuyến khích học sinh tìm kết quả bằng nhiều cách , nhận xét đưa ra cách giải nhanh nhất
+ Chẳng hạn:
Bài tập 1: Tính nhẩm trang 15
9+3= 9+6= 9+8 = 9+7= 9+4= 3+9= 6+9= 8+9= 7+9= 4+9=
+ Cách 1: Trên cơ sở học thuộc bảng cộng học sinh tự tìm ra kết quả ở mỗi phép tính
+ Cách 2: Dựa vào cách tính nhẩm học sinh tự nêu kết quả rồi đọc (chẳng hạn : 9+1 =10, 10 +2 =12)
-Điền ngay 9+3=12 (vì khi đổi chỗ các số hạng trong một tổng thì tổng không thay đổi) -Bài tập: Tính
9+6+3= 9+9+1= 9+4+2= 9+5+3=
- Giáo viên yêu cầu học sinh chọn phương pháp giải, chẳng hạn : 9+9 +1 =18 +1 =19
- Hay 9+9+1=9+10=19
- Bài 29 +5
+ Cách 1 (SGK) 29 +5 =?
34