1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp giúp học tốt môn tập làm văn cho học sinh lớp 3

42 844 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đểlàm được một bài văn, học sinh phải vận dụng cả bốn kĩ năng : nghe, nói, đọc,viết, vận dụng các kiến thức về Tiếng Việt, về cuộc sống thực tiễn.Phân môn Tập làm văn rèn cho học sinh cá

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU

I LÍ DO CHỌN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Môn Tiếng Việt cùng với các môn học khác, có nhiệm vụ cung cấp chohọc sinh 4 kĩ năng đó là : “nghe - nói - đọc - viết” Trong đó môn Tiếng Việt cócác phân môn như : Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập viết,Tập làm văn Trong đó, phân môn Tập làm văn là phân môn có tính chất tíchhợp của các môn khác Qua tiết Tập làm văn, học sinh có khả năng xây dựngmột văn bản, đó là bài nói, bài viết Nói và viết là những hình thức giao tiếp rấtquan trọng, thông qua đó con người thực hiện quá trình tư duy, chiếm lĩnh trithức, trao đổi tư tưởng, tình cảm, quan điểm, giúp mọi người hiểu nhau, cùnghợp tác trong cuộc sống lao động

Ngôn ngữ ( dưới dạng nói – ngôn bản, và dưới dạng viết – văn bản) giữvai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của xã hội Chính vì vậy , hướngdẫn cho học sinh nói đúng và viết đúng là hết sức cần thiết Nhiệm vụ đó phụthuộc vào phần lớn vào việc giảng dạy môn Tiếng Việt nói chung và môn Tậplàm văn nói riêng Vấn đề đặt ra là : người thầy phải biết vận dung linh hoạt,sáng tạo các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học sao cho phù hợp với khảnăng sử dụng ngôn ngữ và tâm lí lứa tuổi học sinh (HS) để giờ học diễn ra tựnhiên nhẹ nhàng và có hiệu quả Trong giảng dạy giáo viên phải có nghệ thuật

sư phạm, biết dẫn dắt, gợi mở đưa học sinh giải quyết các tình huống và thôngqua việc xử lí các tình huống đó học sinh lĩnh hội được kiến thức bài

Qua thực tế giảng dạy chúng tôi nhận thấy phân môn Tập làm văn là mộtmôn khó trong các phân môn của môn Tiếng Việt Do đặc trưng của phân mônTập làm văn với mục tiêu cụ thể là : hình thành và rèn luyện cho học sinh khảnăng trình bày văn bản ( nói và viết ) ở nhiều thể loại khác nhau như : miêu tả,

kể chuyện, viết thư, tập tổ chức cuộc họp, giới thiệu về mình và những ngườixung quanh…Trong quá trình tham gia vào các hoạt động học tập này, học sinhvới vốn kiến thức còn hạn chế nên thường ngại nói Nếu buộc phải nói, các emthường đọc các bài chuẩn bị trước Do đó giờ học chưa đạt hiệu quả cao

Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi tiến hành nghiên cứu và thực nghiệm đề tài:

“Một số biện pháp giúp học tốt môn Tập làm văn cho học sinh lớp 3”

- Tìm hiểu các kiểu bài tập về bài tập về nghe, bài tập nói, bài tập viếttrong chương trình tập làm văn lớp 3

Trang 2

- Thực trạng việc dạy của giáo viên và việc học của hoc sinh về phân mônTập làm văn lớp 3 ở trường tiểu học hiện nay.

- Nghiên cứu tìm ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giờ học tậplàm văn ở lớp 3

III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

- Phân môn Tập làm văn lớp 3

- Nội dung, phương pháp dạy học môn Tập làm văn lớp 3

IV ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT, THỰC NGHIỆM

Học sinh lớp 3H trường Tiểu học Cát Linh

V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Phương pháp thu thập, nghiên cứu, xử lí tài liệu

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp phân tích tổng hợp

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế

- Phương pháp tổng hợp kinh nghiệm

Trong các phương pháp trên, khi nghiên cứu tôi vận dụng hài hoà cácphương pháp để tìm ra các giải pháp của mình đạt kết quả tối ưu nhất

VI PHẠM VI VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

VI.1 Phạm vi

Học sinh lớp 3H do tôi trực tiếp giảng dạy trong năm học 2014-2015

VI.2 Nhiệm vụ

Xuất phát từ những lí do, mục đích như đã trình bày ở phần trên, tôi đã đặt

ra cho mình những nhiệm vụ cụ thể sau: Nghiên cứu các tài liệu có liên quannhư sách giáo khoa Tiếng Việt 3, Sách giáo viên Tiếng Việt 3, Chuẩn kiến thức-

kĩ năng môn Tiếng Việt 3, các tập san giáo dục, các bài viết của các nhà nghiêncứu giáo dục về các vấn đề có liên quan Trao đổi ý kiến với đồng nghiệp đặcbiệt là những người có kinh nghiệm trong giảng dạy từ đó đề ra được nhữnggiải pháp hữu ích giúp học sinh học tốt môn Tập làm văn trong chương trình lớp 3

Trang 3

Trong giáo dục phổ thông nói chung và ở trường Tiểu học nói riêng, mônhọc Tiếng Việt là một môn quan trọng, chiếm vị trí chủ yếu trong chương trình.Môn này có đặc trưng cơ bản là: Nó vừa là môn học cung cấp cho học sinh mộtkhối lượng kiến thức cơ bản nhằm đáp ứng được những mục tiêu, nhiệm vụ củatừng bài học, vừa là công cụ để học tập tất cả các môn học khác Tập làm văn làmột trong những phân môn có vị trí quan trọng của môn Tiếng Việt Phân mônnày đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức tổng hợp từ nhiều phân môn Đểlàm được một bài văn, học sinh phải vận dụng cả bốn kĩ năng : nghe, nói, đọc,viết, vận dụng các kiến thức về Tiếng Việt, về cuộc sống thực tiễn.

Phân môn Tập làm văn rèn cho học sinh các kĩ năng tạo lập văn bản,trong quá trình lĩnh hội các kiến thức khoa học, góp phần dạy học sinh sử dụngcác kiến thức Tiếng Việt trong đời sống sinh hoạt Vì vậy, Tập làm văn được coi

là phân môn có tính tổng hợp, có liên quan mật thiết đến các môn học khác.Trên cơ sở nội dung, chương trình phân môn Tập làm văn có rất nhiều đổi mới,nên đòi hỏi tiết Tập làm văn phải đạt được mục đích cụ thể hơn, rõ nét hơn.Ngoài phương pháp của thầy, học sinh cần có vốn kiến thức, ngôn ngữ về đờisống thực tế Chính vì vậy, việc dạy tốt các phân môn Tiếng Việt khác khôngchỉ là nguồn cung cấp kiến thức mà còn là phương tiện rèn kĩ năng nói, viết,cách hành văn cho học sinh

Tóm lại: Giúp học sinh học tốt môn Tập làm văn là giúp học sinh học tíchcực, sáng tạo, chủ động trong học tập, biết diễn đạt suy nghĩ của mình thànhngôn bản, văn bản

II CƠ SỞ THỰC TIỄN

Hiện nay với sự phát triển ngày càng càng cao, đặc biệt là sự đổi mới đáng

đề cập đến đó là vấn đề đổi mới về chương trình và sách giáo khoa lớp 1, 2, 3, 4,

5 thì vấn đề giáo dục phải ngày càng được phát triển, đổi mới không ngừng Do

Trang 4

vậy, đòi hỏi người giáo viên phải không ngừng học hỏi để theo kịp sự phát triển

và đổi mới của xã hội Phần nhiều giáo viên là những người ham học hỏi, tíchcực tìm ra phương pháp dạy học mới để đạt được kết quả cao nhất Song do điềukiện, do còn hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ nên chưa tiếp cận được hếtnhững phương pháp dạy học mới Một số giáo viên còn trung thành và có thóiquen dạy theo phương pháp cũ Khi tiếp cận với phương pháp dạy học mới giáoviên thường quan niệm: trong các tiết dạy phải có hệ thống câu hỏi và buộc họcsinh trả lời các câu hỏi ấy Như vậy yêu cầu học sinh dùng một phương phápthực hành nhiều cho nhớ và giáo viên khi dạy ít quan tâm đến đặc điểm tâm lí

của các em học sinh tiểu học đó là “ Học mà chơi, chơi mà học”, các em khi

học rất dễ nhớ nhưng cũng rất nhanh quên

- Trình độ giáo viên đạt chuẩn, đây là điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cậnchương trình

- Sự chỉ đạo chuyên môn của phòng giáo dục, trường, tổ chuyên môn cóvai trò tích cực, giúp giáo viên đi đúng nội dung, chương trình phân môn Tậplàm văn

- Qua nhiều tiết dạy mẫu, các cuộc thi, hội thảo đã có nhiều giáo viên đạtthành công khi dạy Tập làm văn

- Qua các phương tiện thông tin đại chúng: ti vi, đài, sách, báo Giáo viên

tiếp cận với các phương pháp đổi mới Tập làm văn thường xuyên hơn

b Học sinh

- Học sinh lớp 3 đang ở lứa tuổi rất thích học và ham học hỏi

- Môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng có nộidung phong phú, sách giáo khoa được trình bày với kênh hình đẹp, trang thiết bịdạy học hiện đại, hấp dẫn học sinh, phù hợp với tâm sinh lý lưới tuổi các em

- Các em đã được học chương trình thay sách từ lớp 1, đặc biệt là các em

ở lớp 2 đã nắm vững kiến thức, kĩ năng của môn Tập làm văm như kĩ năng giaotiếp, kĩ năng ngôn bản, kĩ năng kể chuyện miêu tả Đây là cơ sở giúp các em họctốt môn Tập làm văn lớp 3

Trang 5

để dạy bài nào cũng giống bài nào Giáo viên chưa thực sự đầu tư vào chấtlượng bài soạn, kiền thức còn hạn hẹp

- Khả năng diễn đạt của giáo viên còn hạn chế, ngôn ngữ chưa được trauchuốt: giáo viên còn “bí từ” khi giảng Kiến thức bài còn bó hẹp hoàn toàn trongsách giáo khoa (SGK) và chỉ biết nêu lên trình tự trong sách giáo khoa chứ chưabiết khắc sâu, chốt nội dung khi dạy xong một tiết học Thậm chí có giáo viênkhi kể cho học sinh nghe nội dung câu chuyện thì vẫn chưa nắm được cốt lõi củachuyện mà còn mang tích chất “đọc chuyện”;chưa thuộc được chuyện để kể chohọc sinh trên lớp(đặc biệt là các câu chuyện vui-ngắn)

- Khi dạy cho học sinh “Kể hay nói, viết về một chủ đề” giáo viên chỉ cónêu nội dung mấy câu hỏi ở SGK cho học sinh trả lời bằng miệng sau đó yêucầu học sinh viết về chủ đề đó Do vậy mà hiệu quả giờ dạy chưa cao, học sinhthực hành viết bài chưa được đặc biệt là những học sinh yếu

b học sinh:

- Học sinh lớp 3 vốn ngôn ngữ của các em chưa nhiều: các em còn mãichơi nhiều hơn học Việc tiếp thu bài còn thụ động theo cách truyền tải của giáoviên nên nó ảnh hưởng đến chất lượng học tập của các em

- Môn tập làm văn là một môn khó, nhiều em còn ngại học văn, lười suynghĩ nên ở các giờ học các em còn ngại phát biểu, viết bài qua loa cho xongchuyện Cách dùng từ đặt câu chưa đúng, viết đoạn văn còn nghèo ý

- Học sinh sự mạnh dạn tự tin trong học tập

II Nguyên nhân của những hạn chế đó là:

* Về phía giáo viên:

- Giáo viên còn thụ động kiến thức ở SGK mà không chịu tìm tòi đọcthêm tài liệu khác liên quan đến giảng dạy đặc biệt là khi dạy Tiếng việt nênngôn ngữ của giáo viên còn hạn hẹp, bí từ

- Khi tổ chức cấc hoạt động trong giờ học, giáo viên chưa phân định đượchoạt động nào là trọng tâm Hình thức tổ chức dạy còn nghèo do giáo viên chưathực sự đầu tư vào chất lượng bài soạn

- Giáo viên chưa chịu khó suy nghĩ, tìm tòi, vận dụng các phương phápdạy học và hình thức dạy học khác nhau vào các tiết dạy mà chỉ giảng dạy theomột quy trình áp đặt rập khuôn

Trang 6

- Việc tổ chức dạy các giờ tập làm văn (được coi là dạy mẫu ) ở cáctrường tiểu học chưa nhiều nên giáo viên chưa có cơ hội để học tâp lẫn nhaunhằm nâng cao năng lực giảng dạy.

- Các điều kiện về cơ sở vật chất chưa đáp ứng đầy đủ cho việc nghiêncứu, giảng dạy, học tập của giáo viên, một số bài dạy còn thiếu tranh ảnh, nêngiáo viên dùng lời nói mô tả học sinh tiếp thu trừu tượng Kết quả giờ dạy cònhạn chế

- Học sinh chưa nắm được kiến thức và kĩ năng từ những năm học trước

III Khảo sát, điều tra

Ngay từ cuối tháng 9 năm 2014, sau khi nắm rõ thực trạng tồn tại của họcsinh về việc đọc , tôi đã tiến hành ra đề khảo sát nhằm đề ra giải pháp cụ thể cóhiệu quả

Đề bài như sau : “ Hãy kể về gia đình em với người bạn mới quen”

Kết quả khảo sát như sau: Tổng sô học sinh 54 em Nội dung khảo sát Số học sinh Tỉ lệ

1 Biết viết câu, dùng từ hợp lý 27/ 54 50%

3 Biết dùng từ ngữ, câu văn có hình ảnh 10/ 54 18,5%

Bài viết đạt trung bình trở lên 32/ 54 59,2%

Qua khảo sát cho thấy, học sinh chưa biết diễn đạt câu văn có hình ảnh,vốn từ vựng chưa nhiều, hiểu biết thực tế còn ít, do vậy chất lượng bài viết củacác em chưa cao, ý văn nghèo nàn, câu văn lủng củng Kết quả này thể hiệnphương pháp giảng dạy của giáo viên chưa phát huy được tính tích cực của họcsinh trong giờ học

Trang 7

CHƯƠNG 3:

NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH SÁCH GIÁO KHOA VÀ CÁC HÌNH THỨC LUYỆN TẬP LÀM VĂN LỚP 3

I Nội dung chương trình

Chương trình Tập làm văn lớp 3 bao gồm 35 tiết / năm ( thực học 34 tiết +

4 tiết ôn tập ):

- Kỳ 1 : 16 tiết + 2 tiết ôn tập

- Kỳ 2 : 15 tiết + 2 tiết ôn tập

Yêu cầu trang bị cho học sinh một số kiến thức và kĩ năng phục vụ chohọc tập và đời sống hàng ngày như : điền vào giấy tờ in sẵn, viết thư, làm đơn,trường, ghi chép sổ tay

Tiếp tục rèn kĩ năng đọc, nghe, nói, viết thông qua kể chuyện, miêu tả như: kể một việc đơn giản, tả sơ lược về người, vật xung quanh theo gợi ý bằngtranh hoặc câu hỏi

Rèn kĩ năng nghe thông qua các bài tập nghe

II Các hình thức luyện tập:

1 Bài tập nghe: Gồm các tiết:

- Tuần 4 : Nghe kể : Dại gì mà đổi

- Tuần 7 : Nghe kể : Không nỡ nhìn

- Tuần 11 : Nghe kể : Tôi có đọc đâu

- Tuần 14 : Nghe kể : Tôi cũng như bác

- Tuần 15: Nghe kể : Giấu cày

- Tuần 16 : Nghe kể : Kéo cây lúa lên

- Tuần 19 : Nghe kể : Chàng trai Phù Ủng

- Tuần 21 : Nghe kể : Nâng niu từng hạt giống

- Tuần 24 : Nghe kể : Người bán quạt may mắn

- Tuần 34 : Nghe kể : Vươn tới các vì sao

* Yêu cầu bài tập nghe:

- Học sinh hiểu nội dung truyện, thuật lại được một cách mạc dạn, tự tin

- Học sinh thấy được cái hay, cái đẹp, cần phê phán trong câu chuyện

C¸c h×nh thøc luyÖn tËp

Bµi tËp nghe

Bµi tËp nãi

Bµi tËp viÕt

Trang 8

- Biết diễn đạt rõ ràng thành câu, dễ hiểu.

- Giọng kể phù hợ với nội dung trong câu truyện

2 Bài tập nói: Gồm các tiết:

- Tuần 1 : Nói về Đội TNTP

- Tuần 5 : Tập tổ chức cuộc họp

- Tuần 6 : Kể lại buổi đầu em đi học

- Tuần 8 : Kể về người hàng xóm

- Tuần 11 : Nói về quê hương

- Tuần 12 : Nói về cảnh đẹp đất nước

- Tuần 15 : Giới thiệu về tổ em

- Tuần 16 : Nói về thành thị nông thôn

- Tuần 20 : Báo cáo hoạt động

- Tuần 21 : Nói về trí thức

- Tuần 22 : Nói về người lao động trí óc

- Tuần 25 : Kể về lễ hội

- Tuần 26 : Kể về một ngày hội

- Tuần 28 : Kể lại một trận thi đấu thể thao

- Tuần 32 : Nói về bảo vệ môi trường

* Yêu cầu bài tập nói:

- Học sinh nói đúng và rõ ý, diễn đạt rõ ràng dễ hiểu

- Học sinh nói theo nội dung, chủ đề cho trước

- Nói thành câu, biết cách dùng từ chân thực

- Nói thành đoạn văn

3 Bài tập viết: Gồm các tiết:

- Tuần 1: Điền vào giấy tờ in sẵn (ĐTNTP)

- Tuần 2: Viết đơn

- Tuần 3,4: Điền vào tờ giấy in sẵn

- Tuần 10: Tập viết thư và phong bì thư

- Tuần 12: Viết về cảnh đẹp đất nước

- Tuần 13: Viết thư

- Tuần 17: Viết về thành thị nông thôn

- Tuần 22: Viết về người lao động trí óc

- Tuần 28: Viết lại một tin thể thao trên báo, đài

- Tuần 29: Viết về một trận thi đấu thể thao

- Tuần 30: Viết thư

- Tuần 32: Viết về bảo vệ môi trường

* Yêu cầu các bài tập viết:

- Đủ số lượng câu

- Trình bày thành đoạn văn

- Biết cách chấm câu, viết các câu theo mẫu đã học (ai là gì, ai làm gì?, đểntn?)

- Biết cách dùng từ (biết sử dụng phép so sánh, nhân hoá)

Trang 9

III Các phương pháp dạy tập làm văn:

1 Phương pháp sử dụng trực quan

2 Phương pháp thực hành giao tiếp, rèn kỹ năng nghe - nói - đọc - viết

3 Phương pháp giảng giải

4 Phương pháp dạy học cá nhân

5 Phương pháp thảo luận nhóm

6 Phương pháp đàm thoại

7 Phương pháp trò chơi …

8 Phương pháp làm việc với SGK và các tài liệu

CHƯƠNG 4 NHỮNG GIẢI PHÁP MANG TÍNH KHẢ THI

A CÁC GIẢI PHÁP ĐÃ TIẾN HÀNH

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ VIỆC DẠY TẬP LÀM VĂN CHO HỌC SINH LỚP 3

I.1 Kế thừa và phát huy kiến thức Tập làm văn từ lớp 2:

- Phân môn Tập làm văn lớp 3 là sự kế thừa những kiến thức , chủ điểm

đã học , đã giới thiệu ở lớp 2 nhưng sâu hơn , yêu cầu cao hơn

I.2 Mức độ Yêu cầu về kiến thức Tập đọc lớp 3:

- Rèn cho học sinh các kĩ năng nói, nghe, viết, phục vụ cho việc học tập

về các nhân vật trong các câu chuyện

+ Biết viết đơn, viết tờ khai theo mẫu, viết một bức thư ngắn để báo tintức, để hỏi thăm người thân hoặc kể lại một việc đã làm, biết kể lại nội dung bứctranh đã xem, một văn bản đã học

- Trau dồi thái độ ứng xử có văn hóa, tinh thần trách nhiệm trong côngviệc, bồi dưỡng tình cảm lành mạnh, tốt đẹp qua nội dung bài dạy

I.3 Vai trò dạy học Tập làm văn cho học sinh lớp 3:

- Dạy Tập làm văn tốt trong trường tiểu học nói chung và ở lớp 3 nóiriêng có một vai trò rất quan trọng Giúp học sinh trau dồi vốn tiếng việt , vốnvăn học , phát triển tư duy Mở rộng sự hiểu biết của học sinh về cuộc sống , cụthể :

+ Làm giàu và tích cực hóa vốn từ ngữ , vốn diễn đạt

+ Bồi dưỡng vốn văn học ban đầu, mở rộng hiểu biết về cuộc sống, cungcấp mẫu để hình thành một số kĩ năng phục vụ cho đời sống và việc học tập của

Trang 10

bản thân (Điền vào các tờ khai đơn giản, làm đơn, viết thư, phát biểu trong cuộchọp, tổ chức và điều hành cuộc họp, giới thiệu hoạt động của nhà trường, lớp ) + Phát triển một số thao tác tư duy cơ bản ( Phân tích, tổng hợp, phánđoán).

- Bồi dưỡng tư tưởng , tình cảm và tâm hồn lành mạnh, trong sang, tìnhyêu cái đẹp, cái thiện và thái độ ứng xử đúng mực trong cuộc sống, hứng thúđọc sách và yêu thích tiếng việt

II CÁC BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT MÔN TẬP LÀM VĂN

Tùy theo nội dung, yêu cầu của mỗi đơn vị học và từng đối tượng họcsinh, giáo viên có thể áp dụng nhóm các biện pháp, hoặc một biện pháp chủ đạokết hợp với một số biện pháp bổ trợ khác Về cơ bản có những biện pháp sau:

1 Luôn chú trọng “tích hợp-lồng ghép” khi dạy phân môn tập làm văn lớp 3.

Khi dạy tập làm văn giáo viên cần hiểu rõ tính tích hợp kiến thức giữa cácphân môn trong môn Tiếng Việt như: Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ

và câu, Tập viết để giảng dạy và tạo đà cho học sinh học tập tốt phân môn Tậplàm văn Mối quan hệ này thể hiện rất rõ trong cấu trúc của sách giáo khoa: cácbài học được biên soạn theo chủ đề, chủ điểm, hai đơn vị học xoay quanh mộtchủ điểm ở tất cả các phân môn

Ví dụ: Chủ đề Cộng đồng dạy trong 2 tuần gồm các bài Tập đọc, Luyện

từ và câu…Trong quá trình rèn đọc, khai thác nội dung các bài đọc cung cấp cho

học sinh vốn từ về chủ đề Cộng đồng, những câu văn có hình ảnh về chủ đề

Cộng đồng Cụ thể khi dạy bài tập đọc: Kể chuyện: Các em nhỏ và cụ Tuần 8, giáo viên khai thác nội dung bài theo hệ thống câu hỏi sau:

già-+ Điều gì gặp bên đường khiến các bạn nhỏ phải dừng lại?

(Các bạn gặp một cụ già đứng ven đường, vẻ mặt mệt mỏi, cặp mắt lộ vẻ u sầu)

+ Các bạn quan tâm đến ông cụ như thế nào?

(Các bạn băn khoăn và trao đổi với nhau Có bạn đoán: a) Hay ông cụ bị ốm, b) Hay cụ bị mất cái gì đó Cuối cùng cả tốp đến tận nơi để hỏi thăm ông cụ)

+ Vì sao các bạn quan tâm đến ông cụ?

Với câu hỏi này có thể các em sẽ trả lời như sau:

- Vì các bạn là những trẻ ngoan.

- Vì các bạn là nhữngngười nhân hậu.

- Vì các bạn muốnquan tâm, giúp đỡ ông cụ.

+ Ông cụ gặp chuyện gì buồn?

(Cụ bà bị ốm nặng đang nằm trong bệnh viện, khó mà qua khỏi)

+ Vì sao khi trò chuyện với các bạn nhỏ ông cụ thấy lòng nhẹ hơn?

Với câu hỏi này có thể các em sẽ trả lời như sau:

- Ông cảm thấy nỗi buồn được chia sẻ.

- Ông cảm thấy đỡ cô đơn vì có người trò chuyện.

- Ông cảm thấy lòng ấm lại vì tình cảm của các bạn nhỏ dành cho mình.

Qua các câu trả lời của học sinh, giáo viên định hướng cho các em ý thứcbiết quan tâm chia sẻ với những người trong cộng đồng, giúp cho các em khi

Trang 11

viết đoạn văn kể về những người thân, hoặc người hàng xóm, đoạn văn toát lên

được nội dung: con người phải biết yêu thương nhau, sự quan tâm chia sẻ của

những người xung quanh làm cho mỗi người dịu bớt những nỗi lo lắng, buồn phiền, và cảm thấy cuộc sống tốt đẹp hơn.

Qua hệ thống câu hỏi, giáo viên giúp cho học sinh bày tỏ được thái độ,tình cảm, ý kiến nhận xét, đánh giá của mình về vấn đề nêu ra trong bài học.Song song với quá trình đó, giáo viên cần hỏi ý kiến nhận xét của học sinh vềcâu trả lời của bạn để học sinh rút ra được câu trả lời đúng, cách ứng xử hay

Như vậy, qua tiết học này, học sinh được mở rộng vốn từ, rèn lối diễn đạtmạch lạc, lôgic, câu văn có hình ảnh, cảm xúc Trên cơ sở đó, bài luyện nói củacác em sẽ trôi chảy, sinh động, giàu cảm xúc, đồng thời hình thành cho các emcách ứng xử linh hoạt trong cuộc sống; hình thành cho học sinh kiến thức vềmối quan hệ tương thân tương ái giữa mọi người trong cộng đồng; rèn cho họcsinh thói quen quan tâm, chia sẻ giúp đỡ những người trong cộng đồng

Cũng với chủ đề này thì phân môn Luyện từ và câu-Tuần 8 cũng cung cấp

cho học sinh vốn từ về chủ đề Cộng đồng thông qua hệ thống các bài tập Cụ thể:

Bài 1: Sắp xếp những từ ngữ vào ô trống trong bảng phân loại sau Các từ: Cộng đồng, cộng tác, đồng bào, đồng đội, đồng tâm, đồng

hương.

Giáo viên giúp các em hi u ngh a các t trên v s p x p v o các nhóm ểu nghĩa các từ trên và sắp xếp vào các nhóm ĩa các từ trên và sắp xếp vào các nhóm ừ trên và sắp xếp vào các nhóm à sắp xếp vào các nhóm ắp xếp vào các nhóm ếp vào các nhóm à sắp xếp vào các nhóm

t : ừ trên và sắp xếp vào các nhóm Nhóm 1: Những người trong

Từ việc hiểu nghĩa của từ ở bài tập 1, học sinh hiểu ý nghĩa các thành ngữ

ở bài tập 2 và bày tỏ thái độ tán thành hay không tán thành thái độ ứng xử trongcộng đồng thể hiện trong các thành ngữ đó:

Chung lưng đấu cật.

(Mọi người cùng chung sức chung lòng để thực hiện một công việc có nhiều khó khăn trở ngại)

Cháy nhà hàng xóm bình chân như vại.

(Phê phán thái độ thờ ơ, không quan tâm , tương trợ người khác lúc khó khăn)

Ăn ở như bát nước đầy.

(Ca ngợi con người ăn ở , cư xử với mọi người có tình có nghĩa , trước sau không thay đổi).

Như vậy học sinh biết vận dụng những câu thành ngữ về thái độ ứng xửtrong cộng đồng khi nói-viết tập làm văn giao tiếp, ứng xử trong cuộc sống

Ở phân môn Chính tả Tuần 8, các em cũng được luyện viết các bài trong

chủ đề Cộng đồng Ví dụ: Viết đoạn 4 trong bài các em nhỏ và cụ già.

Trang 12

Cụ ngừng lại và nghẹn ngào nói tiếp:

Ông đang rất buồn Bà lão nhà ông năm bệnh viện mấy tháng nay rồi Bà

ốm nặng lắm, khó mà qua khỏi Ông ngồi đây chờ xe buýt để đến bệnh viện, ông cảm ơn lòng tốt của các cháu Dẫu các cháu không giúp gì được nhưng ông cũng thấy lòng nhẹ hơn.

Khi viết đoạn văn trên, học sinh được rèn viết chính tả, cách sử dụng cácdấu câu; thấy được sự cảm thông, chia sẻ giữa con người với nhau làm dịu bớtnỗi lo lắng, buồn phiền, tăng thêm cho mỗi người niềm hy vọng, nghị lực trongcuộc sống Học sinh vận dụng cái hay , cái đẹp của ngôn từ trong đoạn văn đểthể hiện tình cảm, thái độ đánh giá trong từng bài văn cụ thể của chính các em

Tương tự, ở phân môn Tập viết-Tuần 8, các em được làm quen với các

thành ngữ, tục ngữ về chủ đề Cộng đồng như luyện viết câu ứng dụng:

“ Khôn ngoan đá đáp người ngoài

Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”.

Xuất phát từ các phân môn: Tập đọc, Luyện từ và câu, Chính tả, Tập viết

xoay quanh chủ đề Cộng đồng, học sinh biết “ Kể về người hàng xóm mà em

quý mến” ( TLV 3-Tuần 8) và viết được đoạn văn hoàn chỉnh, thể hiện tình

cảm, thái độ đánh giá đối với người hàng xóm qua việc sử dụng từ ngữ, câu văn

có hình ảnh

Cô Loan là người hàng xóm bên cạnh nhà em Cô là giáo viên tiểu học,tối tối miệt mài bên trang giáo án, và chấm bài cho học sinh Với dáng nhỏ nhắnnhng rất nhanh nhẹn, giọng cô ấm áp Em thích nghe nhất là khi cô hát Cô thậtxứng danh là cô ca sĩ của trường

Như vậy, khi dạy tất cả các phân môn của Tập làm văn đều nhằm mụcđích giúp học sinh có kỹ năng hình thành văn bản, ngôn bản Do đó, tích hợplồng ghép là phương pháp đặc trưng khi dạy phân môn Tập làm văn lớp 3

2 Dạy học theo quan điểm giao tiếp:

Dạy học theo quan điểm giao tiếp là hình thành cho học sinh kỹ năng diễnđạt thông qua các bài học, hình thành thói quen ứng xử trong giao tiếp hàngngày với thầy cô, cha mẹ, bạn bè và mọi người xung quanh

Vận dụng phương pháp dạy học theo quan điểm này, giáo viên tạo chohọc sinh nhiều cơ hội thực hành, luyện tập, không quá nặng về lý thuyết nhưphương pháp dạy học truyền thống Do vậy học sinh hào hứng tham gia vào cáchoạt động học tập, tích cực, sáng tạo trong làm văn Việc hình thành và rènluyện các kỹ năng nghe-nói-đọc-viết cho học sinh thông qua phân môn Tập làmvăn đảm bảo đạt được hiệu quả tối ưu

Bổ trợ cho việc rèn kỹ năng nghe-nói trong tiết Tập làm văn, phần kể chuyện của tiết Tập đọc kể chuyện cũng chú trọng đến rèn kỹ năng giao

tiếp Giảng dạy dạng: bài tập nghe và tập nói Giáo viên có thể tiến hành

theo các cách sau để phát huy tối đa kĩ năng nghe, nói, diễn đạt của học sinh.

*Cách 1:

Trang 13

- Cho học sinh xem tranh và đoán nội dung truyện Giáo viên ghi vài điều

cơ bản (nhân vật, một vài sự kiện) mà học sinh đoán được lên bảng (cho học sinh làm viẹc toàn lớp hay nhóm )

- Học sinh nghe giáo viên kể chuyện hai lần

- Học sinh đối chiếu giữa nội dung chuyện vừa được nghe với nội dung mình đã đoán để điều chỉnh những điều đã đươc ghi trên lớp (cho học sinh làm vào phiếu học tập)

- Học sinh trao đổi về một vài điều thú vị trong truyện hay ý nghĩa của truyện

- Học sinh kể lại chuyện theo cặp ( theo nhóm)

- Đại diện vài nhóm học sinh kể lại chuyện trước lớp (có thể nhập vai kể)

- Học sinh nhận xét, giáo viên bổ sung, nhận xét chung

Ví dụ: Nghe kể lại câu chuyện: Dại gì mà đổi (BT1-TV3 - tập 1- tr36)

a.Chuẩn bị

- Tranh vẽ ở SGK phóng to

- Phiếu bài tập: Em hãy xem tranh và đoán thử xem nội dung chuyện theo bảng sau và điều chỉnh lại khi nghe chuyện

Câu hỏi gợi ý a Thử đoán nội dung b Điều chỉnh nội dung

khi nghe kể

Câu chuyện có mấy

nhân vật

Họ đang làm gì?

Người mẹ đã nói với con điều gì? người con trả lời mẹ ra sao?

Kết quả câu chuyện như thế nào?

b.Cách tiến hành:

- Giáo viên treo tranh vẽ trên bảng, chia nhóm học sinh và phát phiếu học tập cho các nhóm, cho học sinh đọc yêu cầu của bài tập ghi trên phiếu và tiến hành làm bài tập a

- Giáo viên theo dõi và gọi đại diện các nhóm nêu một số ý và giáo viên ghi lên bảng

- Giáo viên kể chuyện 2 lần ( nội dung truyện có trong SGV như trên) học sinh đối chiếu giữa nội dung truyện vừa được nghe với nội dung mình đã đoán để điều chỉnh ở phần b của bài tập

Trang 14

Câu hỏi gợi ý a Thử đoán nội dung b Điều chỉnh nội dung khi

nghe kể

Câu chuyện có mấy

nhân vật

Chuyện có hai nhân vật Chuyện có hai nhân vật

Họ đang làm gì? Họ đang nói chuyện với

nhau

Người mẹ dọa sẽ đổi cậu bé

để lấy một đưa con ngoan vềnuôi

Người mẹ đã nói với

con điều gì? người con

mẹ chẳng bao giờ đổi đượcđâu vì không ai dại gì mà đổiđứa con ngoan lấy đưa connghịch ngợm cả

Kết quả câu chuyện như

- Giáo viên bao quát lớp, kèm cặp thêm cho học sinh trung bình và yếu

- Cho học sinh trao đổi về một điều thú vị trong truyện hay nêu ý nghĩa truyện:câu chuyện buồn cười ở chổ nào? (Truyện buồn cười vì cậu bé nghịch ngợmmới 4 tuổi cũng biết rằng không ai muốn đổi một đứa con ngoan lấy một đứacon nghịch ngợm.) Giáo viên chốt lại nội dung: Không ai dại gì mà đổi một đứacon ngoan lấy một đứa con nghịch ngợm cả

- Cho học sinh kể lại chuyện theo nhóm

- Đại diện nhóm kể lại trước lớp Cả lớp nhận xét bổ sung, giáo viên nhận xétchung

*Cách 2:

Giáo viên kể một phần đầu của câu chuyện sau đó đặt câu hỏi đề nghị học sinhđoán sự kiện gì có thể xảy ra tiếp theo Giáo viên ghi một vài ý học sinh đoánlên bảng

- Học sinh nghe giáo viên kể tiếp rồi trao đổi đối chiếu điêu được nghe với điều

đã đoán để điều chỉnh phần được ghi trên bảng

- Giáo viên kể lại chuyện 2 lần đề nghị học sinh nêu thêm một số tình tiết nữaphần đầu của truyện( ở hoạt động này giáo viên có thể dùng thẻ từ ghi các sựkiện thể hiện trong phần đầu của ttruyện và học sinh chọn đưa vào dàn ý đã cótrên bảng)

- Học sinh trao đổi về ý nghĩa hoặc một vài chi tiết thú vị trong chuyện

- Học sinh kể lại chuyện( theo nhóm hay cặp)

- Đại diện vài nhóm học sinh kể lại chuyện trước lớp

- Cả lớp nhận xét, giáo viên bổ sung và nhận xét chung

Ví dụ minh hoạ: Nghe kể lại chuyện: Dại gì mà đổi (BT1-TV3 - tập 1- tr36)

Trang 15

a.Chuẩn bị: Tranh vẽ ở SGK phóng to

b.Cách tiến hành:

- Giáo viên treo tranh vẽ lên bảng

Giáo viên kể phần đầu của chuyện kết hợp chỉ tranh: “Có một cậu bé 4 tuổinhưng rất nghịch ngợm Một hôm, mẹ cậu doạ sẻ đổi cậu để lấy một đứa trẻngoan về nuôi.”

- Giáo viên hỏi: Các em thử đoán xem cậu bé trả lời như thế nào?

- Giáo viên đưa một vài ý học sinh đoán lên bảng :

Ví dụ :

+ Cậu bé òa khóc

+ Cậu bé hét lên

+ Cậu bé mừng rỡ

+ Cậu bé không đồng ý dổi

- Giáo viên kể tiếp câu chuyện và cho học sinh đối chiếu điều được nghe vớiđiều đã đoán để điều chỉnh phần ghi ở bảng

- Giáo viên kể chuyện lần 2, đề nghị học sinh nêu lên một số tình tiết nửa phầnđầu của truyện Giáo viên có thể đưa lên một số thẻ từ ghi một số tình tiết củachuyện

Ví dụ:

+ Mẹ sẽ chẳng đổi được đâu!

+ Vì sao thế?

+ Chẳng ai muốn đổi đứa con ngoan để lấy đứa con nghịch

- Học sinh trao đổi về ý nghĩa hoặc một vài chi tiết thú vị của chuyện

- Học sinh kể lại chuyện (theo nhóm hay cặp) kết hợp câu hỏi gợi ý ở SGK

- Đại diện vài nhóm học sinh kể trước lớp

- Cả lớp nhận xét, giáo viên bổ sung, nhận xét chung

Trang 16

1 2 3

5

Sau khi hoàn thành sơ đồ trình tự câu chuỵện, học sinh trao đổi sửa chữa

- Học sinh dựa vào trình tự câu chuyện để kể lại chuyện theo nhóm (hay cặp)

- Đại diện nhóm kể lại trước lớp

- Học sinh trao đổi ý nghĩa câu chuyện, cả lớp theo dõi nhận xét, giáo viên bổsung nhận xét chung

Ví dụ minh hoạ:

Nghe - kể lại chuyện: Không nỡ nhìn.(BT1- SGK - TV3 - Tập 1 - Tr.61)

Nội dung câu chuyện trong sách giáo viên như sau: “Trên một chuyến xe buýtđông người, có anh thanh niên đang ngồi cứ lấy hai tay ôm mặt Một bà cụngồi bên thấy thế bèn hỏi:

- Cháu nhức đầu à? Có cần dầu xoa không?

Anh thanh niên nói nhỏ:

- Không ạ Cháu không nỡ nhìn các cụ già và phụ nữ phải đứng.”

a.Chuẩn bị :

- Tranh vẻ ở sách giáo khoa phóng to

- Phiếu học tập: Sơ đồ trình tự câu chuyện

b Cách tiến hành:

- Giáo viên kể chuyện lần 1 và hỏi học sinh: Câu chuyện có mấy nhân vật? ởđâu? học sinh sẽ trả lời:

+ Câu chuyện có hai nhân vật

+ Chuyện xẩy ra trên chuyến xe buýt

- Giáo viên kể chuyện lần hai, học sinh nghe rồi hoàn thành các sự kiện trongkhung còn trống của sơ đồ trình tự câu chuyện trên phiếu học tập.(Học sinhhoạt động theo nhóm 4)

Ví dụ:

4

Trang 17

- Học sinh dựa vào trình tự câu chuyện để kể lại chuyện trong nhóm.

- Gọi đại diện các nhóm kể chuyện trước lớp

- Cả lớp theo dõi nhận xét diễn biến của chuyện, giáo viên bổ sung

- Cho học sinh trao đổi về tính khôi hài của chuyện: Anh thanh niên trênchuyến xe buýt không biết nhường chổ cho người già, phụ nữ mà lại che mặt

và giải thích rất buồn cười là không nở nhìn các cụ già và phụ nữ phải đứng

- Cho học sinh liên hệ thực tế bản thân: Nếu gặp người như anh thanh niên trênchuyến xe đó thì em sẽ làm gì?

- Giáo viên nhận xét chung

*Cách 4 :

Giáo viên kể chuyện một lần và đề nghị học sinh cho biết: câu chuyện có mấynhân vật? giáo viên phác hoạ hình các nhân vật đó lên bảng (băng cách vẽ ô tròn

và trên đó ghi tên nhân vật)

Ví dụ: Nghe kể lại chuyện “Người bán quạt may mắn”

Ông Bà lão

Vương Hi Chi bán quạt

- Học sinh nghe giáo viên kể chuyện lần 2 rồi viết xung quanh nhân vật một số

từ hay cụm từ thể hiện hành động hay suy nghĩ của nhân vật (xây dựng mạngcâu chuyện) Nếu học sinh có khó khăn thì giáo viên đặt một số gợi ý

- Học sinh trao đổi điều chỉnh mạng câu chuyện (theo nhóm).Một số học sinhnhìn mạng câu chuyện rồi kể lại chuyện trước lớp

- Học sinh dựa vào mạng câu chuyện để kể lại chuyện theo cặp (hay nhóm).Học sinh thảo luận theo ý nghĩa của chuyện

Ví dụ minh hoạ : Nghe kể lại chuyện: Người bán quạt may mắn (BT1TV3

Cháu không nỡ nhìn

Bà cụ

Trang 18

Nội dung câu chuyện ở sách giáo viên như sau:

“ Vương Hi Chi nổi tiếng là người viết chữ đẹp ở Trung Quốc thời xưa.Một lần, ông đang ngồi nghỉ mát dưới gốc cây thì một bà già bán quạt cũngđến nghỉ Bà lão phàn nàn là quạt bán ế, chiều nay cả nhà bà sẽ phải nhịn cơm.Rồi bà ngồi tựa vào gốc cây, thiu thiu ngủ

Trong lúc bà lão thiếp đi, ông Vương lẳng lặng lấy bút mực ra viết chữ, đềthơ vào những chiếc quạt Bà lão tỉnh dậy thấy cả gánh quạt trắng tinh củamình đã bị ông già kia bôi đen lem luốc Bà tức giận bắt đền ông Ông giờ chỉcười, không nói rồi thu xếp bút mực ra đi

Nào ngờ, lúc quạt trắng thì không ai mua, giờ quạt bị bôi đen thì ai cũngcầm xem và mua ngay Chỉ một loáng gánh quạt đã bán hết Rồi người muamách nhau đến hỏi rất đông Nhiều người còn hỏi mua với giá ngàn vàng Bàlão nghe mà tiếc ngẩn tiếc ngơ

Trên đường về bà nghĩ bụng: có lẽ vị tiên ông nào đã cảm thương cảnhngộ nên đã giúp bà bán quạt chạy như thế”

+ Bà lão bán quạt gặp ai và phàn nàn điều gì?

+ Ông Vương Hi Chi viết chữ vào những chiếc quạt để làm gì?

+ Vì sao mọi người đua nhau đến mua quạt?

- Học sinh thảo luận rồi điều chỉnh mạng câu chuyện, có thể như sau:

Trang 19

- Gọi một vài học sinh nhìn mạng kể lại chuyện cho cả lớp nghe Học sinh nhậnxét, giáo viên bổ sung và động viên khuyến khích các em là chính.

- Học sinh dựa vào mạng câu chuyện để kể lại theo nhóm, giáo viên kèm cặpgiúp đỡ học sinh trung bình và yếu

- Đại diện nhóm kể trước lớp Học sinh nhận xét, giáo viên bổ sung, nhận xétchung

Giáo viên hỏi học sinh: Qua câu chuyện này, em biết gì về Vương Hi Chi?( Giáo viên nói thêm: Vương Hi Chi là một người có tài và nhân hậu, biết cáchgiúp đỡ người nghèo khổ)

- Cả lớp và giáo viên bình chọn bạn kể chuyện hay nhất, hiểu câu chuyện nhất

*Một số lưu ý khi dạy dạng bài trên

- Có rất nhiều cách để tiến hành giờ học dạy dạng bài “Nghe - kể lại chuyện”.Giáo viên có thể tuỳ vào tình hình của lớp, trình độ học sinh để chon cách dạyphù hợp nhất

- Cho dù dạy theo cách nào, giáo viên cũng phải có sự chuẩn bị bài trước (Tranhảnh phục vụ nội dung truyện hoặc xây dụng mạng câu chuyện: Phiếu bài tập) đểgiờ học sinh động, gây hứng thú học tập cho học sinh hơn

- Chú ý giao việc cho học sinh rõ ràng đặc biệt là khi hoạt động nhóm và nêntheo dõi kèm cặp thêm cho học sinh trung bình và yếu, tạo cho các niềm tin,mạnh dạn hơn trong học tập

Qua giao tiếp giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với nhau (kể chonhau nghe), việc kể lại nội dung câu chuyện trước lớp giúp các em thấy được sựphê phán hóm hỉnh, hài hước, và kể lại nội dung câu truyện với giọng kể, cử chỉ,điệu bộ gây cười ở người nghe, nét mặt phù hợp, nâng kịch tính câu chuyện lêncao hơn

Song song với việc rèn luyện kỹ năng nghe-nói, học sinh rèn kỹ năng viết:nắm kỹ thuật viết, luật viết câu văn, đoạn văn hoàn chỉnh, đúng về ngữ pháp, bốcục, phù hợp văn cảnh hoặc môi trường giao tiếp Mỗi bài văn của học sinh

Ông Vương Hi Chi

Bà lão bán quạt

thu xếpbút mực ra đi

phàn nàn quạt ế

bắt đền ông Vương

thiu thiu ngủ

bán quạt chạy

Trang 20

không đơn thuần là kể, tả ngắn về con người, sự vật, sự việc mà thông qua đóthể hiện suy nghĩ, cảm xúc, sự đánh giá, thái độ yêu-ghét, trân trọng hay phêphán của các em Thông qua bài viết của các em người đọc hiểu được tâm tưtình cảm của các em về một vấn đề nào đó.

Tóm lại, học sinh rèn luyện khả năng quan sát, nói-viết, rút ra những nétđiển hình, đặc trưng của từng vùng miền, thấy được vẻ đẹp đáng yêu, đáng tựhào của mỗi vùng miền, từ đó hình thành nuôi dưỡng tình cảm gắn bó, yêuthương, ý thức giữ gìn, xây dựng quê hương đất nước

Ngoài ra, mỗi giáo viên cần cần chú trọng vận dung phương pháp dạy họctheo quan điểm giao tiếp, khơi dậy ở các em những cảm xúc, đánh thức tiềmnăng cảm thụ văn học và có nhu cầu thể hiện, bày tỏ sự cảm thụ đó với ngườikhác Như vậy, mỗi bài nói, bài viết sẽ chính là tâm hồn tình cảm của các em,các em sẽ thêm yêu văn-yêu cái hay, cái đep, yêu tiếng Việt-giữ gìn sự trongsáng của tiếng Việt

3 Tổ chức tốt việc quan sát tranh, hướng dẫn học sinh cách dùng từ, giọng

kể, điệu bộ khi làm bài nghe, nói, viết.

Với đặc điểm vốn từ còn hạn chế, nên học sinh lớp 3 gặp nhiều khó khăntrong việc nghe-nói-viết-kể lại câu chuyện bằng lời văn của mình Do vậy, giáoviên cần tổ chức tốt hoạt động quan sát tranh: quan sát từng đường nét, màu sắc,hình ảnh, nội dung thể hiện của tranh Học sinh cảm nhân được được những nétđẹp của cảnh vật, con người và muốn bày tỏ trao đổi với bạn, với thầy cô

Để các em làm tốt hoạt động này, trước hết giáo viên chú ý cho học sinh

sử dụng gợi ý trong sách giáo khoa, lắng nghe cô kể, bạn kể để nhớ được các ýchính của nội dung câu chuyện

Giáo viên chú trọng về lời văn kể và nghệ thuật sử dụng ngôn từ Giáoviên cần hướng dẫn các em cách chọn lựa, sử dụng từ ngữ, hình ảnh để điễn đạtsao cho dễ hiểu, sinh động Có như vậy người nghe-đọc sẽ dễ dàng hình dung,tưởng tượng, nắm bắt được sự việc, suy nghĩ tình cảm mà các em muốn thể hiệnqua bài nói, bài viết Người nghe, người đọc tuy không trực tiếp nhìn diện mạocủa nhân vật, xem bối cảnh của sự việc như xem phim, xem kịch nhưng vẫnthấy được thế giới nội tâm của nhân vật, quá trình diễn biến của sự việc quanhững hình ảnh miêu tả, so sánh cùng với những tình cảm, thái độ, sự đánh giácủa các em Đó chính là điểm mạnh của nghệ thuật sử dụng ngôn từ

Trang 21

Bài tập 2 tuần 12: Học sinh quan sát ảnh chụp cảnh biển Phan Thiết HSquan sát tổng thể bức ảnh, sau đó quan sát từng hình ảnh cụ thể, màu sắc củabức ảnh, thấy vẻ đẹp bức ảnh mình vừa quan sát ngoài ra các em biết cách quansát một số bức tranh ảnh mà mình sưu tầm được.

Bài Tập làm văn tuần 25: Đề bài: “Quan sát một ảnh lễ hội dưới đây(SGK) tả lại quang cảnh và hoạt động của những người tham gia lễ hội” Khiquan sát học sinh nhận đâu là hoạt động chính của lễ hội Đó là hoạt động gì?Màu sắc trong tranh thể hiện không khí, quang cảnh lễ hội từ đó các em bộ lộtình cảm của mình đối với các hoạt động mang đậm nét phong tục tập quán củađịa phương

Thêm vào đó, những yếu tố phi ngôn ngữ như điệu bộ, cử chỉ, ánh mắt,nét mặt, giọng điệu của các em khi nói sẽ làm tăng tính hấp dẫn, tính thuyếtphục đối với người nghe Do đó, giáo viên cũng cần khuyến khích các em rènluyện khả năng sử dụng những yếu tố phi ngôn ngữ này

4 Hướng dẫn học sinh các kĩ năng : tìm hiểu nội dung đề, tìm ý, cách diễn đạt và sửa lỗi sai

a Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu kĩ nội dung đề bài:

- Xác định rõ yêu cầu các bài tập: Ở mỗi đề tài của loại bài Tập làm văn giáo

viên cần cho học sinh tự xác định rõ yêu cầu các bài tập Giúp học sinh tự xácđịnh đúng yêu cầu bài tập để khi thực hành các em sẽ không chệch hướng, đảmbảo đúng nội dung đề tài cần luyện tập

Nắm vững hệ thống câu hỏi gợi ý: Sách giáo khoa lớp 3, bài Tập làm văn nói

-viết thường có câu hỏi gợi ý, các câu hỏi này sắp xếp hợp lí như một dàn bài củamột bài Tập làm văn Học sinh dựa vào gợi ý để luyện nói, sau đó viết thànhmột đoạn văn ngắn Giáo viên cần cho học sinh đọc toàn bộ các câu gợi ý đểhiểu rõ và nắm vững nội dung từng câu; từ đó giúp các em trình bày đoạn văn rõràng, mạch lạc đủ ý, đúng từ, đúng ngữ pháp Giúp học sinh nắm vững nội dungtừng câu hỏi gợi ý sẽ hạn chế được việc trình bày ý trùng lặp, chồng chéo, không

có sự liên kết giữa các ý với nhau trong đoạn văn

- Tìm hiểu các câu gợi ý: Trước khi học sinh thực hành bài tập luyện nói, giáo

viên cần giúp các em hiểu nghĩa của các từ ngữ có trong câu hỏi để học sinhhiểu và trình bày đúng yêu cầu, các từ ngữ này có thể là các từ khó hoặc từ địaphương Nếu là từ địa phương, giáo viên có thể cho học sinh sử dụng từ địaphương mình để học sinh làm bài dễ dàng hơn

- Chia thành nhiều câu gợi ý nhỏ: Trong các câu gợi ý có một số câu dài hoặc

quá ngắn gọn khiến học sinh lúng túng khi diễn đạt ý, do đó ý không trọn vẹn,bài văn thiếu sinh động sáng tạo Giáo viên cần chia thành nhiều câu gợi ý nhỏ

để giúp các em có những ý tưởng phong phú, hồn nhiên Việc chia thành nhiềucâu gợi ý nhỏ sẽ có nhiều học sinh được rèn kĩ năng nói, giúp các em thêm tự tin

và giáo viên dễ dàng sửa chữa sai sót cho học sinh

Như vậy qua hệ thống câu hỏi, giúp học sinh bày tỏ được thái độ, tình cảm, ýkiến nhận xét đánh giá của mình về vấn đề nêu ra trong bài học Song song với

Ngày đăng: 01/07/2016, 12:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh vừa quan sát, em hãy kể - Một số biện pháp giúp học tốt môn tập làm văn cho học sinh lớp 3
nh ảnh vừa quan sát, em hãy kể (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w