Những tồn tại này nếu không sớm được khắc phục sẽ không những ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động kinh doanh của bản thân các ngân hàng mà còn làm mất ổn định thị trường, giảm lòng tin của
Trang 1LUẬN VĂN TH Ạ C SỸ K INH TẾ CHÍNH TR Ị• • •
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS-TS Phí Mạnh Hồng
Trang 2MỞ ĐẦU
Trang 1
CHƯƠNG 1: C ơ SỞ KH ÁCH QUAN CỦA VIỆC TÁI c ơ CẤƯ HỆ THỐNG
1.3 M ụ c tiê u v à n ộ i d u n g c ơ b ả n c ủ a tiế n t r ì n h T á i cơ c ấ u c á c N g á n h à n g
T h ư ơ n g m ạ i N h à n ư ớ c V iệ t N a m 53
CHƯƠNG 2: TIẾN TRÌNH TÁI c ơ CẤU NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
N H À N Ư Ớ C Ỏ V I Ệ T N A M - T H ự C T R Ạ N G V À V Ấ N Đ Ể 57 2.1 T ì n h h ìn h th ự c tiễ n t r i ể n k h a i T á i c ơ c ấ u c á c N g â n h à n g T h ư ơ n g m ạ i
N h à n ư ớ c t r o n g th ờ i g ia n v ừ a q u a 57
2.1.2 Hoàn thiện mô hình tổ chức, xây dựng cácdịnh chế vể quản trị rủi ro, quản trị
2.1.3 Củng cố và tăng cường chất lượng hoạt động cùa công tác kiểm tra, kiểm
Trang 33.1.2 Nâng cao năng lực quản IrỊ điều hành của các Ngân hàng Thương mại 110
vận hành 6 tiểu đự án thuộc Dự án Hiện đại hoá hoạt động ngân hàng và hệ
3.1.4 Đẩy mạnh viộc phát triển các ỉoại hình dịch vụ, tiện ích ngân hàng hiện đại
3.1.6 Mở rộng phát triển mạng lưới nhằm đưa tiện ích ngân hàng tới quảng đại
PH Ụ LỤ C
T À I L IỆ U T H A M K H Ả O
Trang 41 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỂ TÀI NGHIÊN CỨU:
Ngân hàng là một tổ chức tài chính trung gian với chức nãng là cầu nối giữa những người có vốn và người cần vốn đồng thời cũng cung cấp các tiện ích thanh toán khác cho xã hội Ngày nay ta khó có thể hình đung ra được trong một nền kinh tế thị trường mà lại vắng bóng các tổ chức tài chính, ngân hàng Các tổ chức tài chính trung gian hoạt động theo nguyên tắc thu hút tiền gửi của công chứng, sau đó sừ dụng tiền gửi đó để kinh doanh bằng cách cho vay hoặc đầu tư chúng khoán Hoạt động của các tổ chức tài chính trung gian có vai trò rất quan trọng trong việc phân bổ nguồn lực một cách có hiệu quả nhất nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng của nển kinh tế Ngoài ra, thông qua những tiện ích ngân hàng của minh, các tổ chức tài chính trung gian là một bộ phận không thể tách rời của nền kinh tế thị trường thông qua việc thúc đẩy sự lựu thông tiền tộ
và thanh toán thuận lợi, nhanh chóng hỗ trợ cho việc lưu thông hàng hóa, tiền tộ trong xã hội.
Trong những nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi, khi thị trường chứng khoán chưa có hoặc chưa phát huy được vai trò của mình thì có thể nói rằng nguồn vốn chủ yếu của các doanh nghiệp vẫn chủ yếu dựa vào hệ thống ngân hàng thương mại- Do vậy, trong những nền kinh tế này vai trò của các ngân hàng thương mại lại càng có vị trí quan trọng.
Đối với Việt Nam, việc đổi mới hệ thống ngân hàng Việt Nam có vai trò và
ý nghĩa đặc biột quan trọng, tác động lớn tới sự phát triển kinh tế và ổn định xã hội Có thể nói, một hệ thống ngân hàng lành mạnh hoạt động theo cơ chế thị trường sẽ là một động lực thúc đẩy sự chuyển động của các thành phần kinh tế khác trong xã hội Tuy nhiên, do xuất phát điểm phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam rất ihấp, lại chịu hậu quả nặng nề của cơ chế kế hoạch hoá tập trung và những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực, các Ngân hàng Thương mại Viột Nam nói chung và Ngân hàng thương mại quốc
Trang 5doanh (NHTM QD) nói riêng đã gặp nhiều khó khăn và bộc lộ những yếu kém trong quá trình chuyển đổi với đặc trưng nổi bật là khả năng cạnh tranh thấp, năng lực tài chính yếu, quy mô hoạt động nhỏ, chất lượng hiệu quả kinh doanh thấp, trình độ quản trị điều hành hạn chế, công nghê lạc hậu, sản phẩm nghèo nàn Những tồn tại này nếu không sớm được khắc phục sẽ không những ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động kinh doanh của bản thân các ngân hàng mà còn làm mất ổn định thị trường, giảm lòng tin của công chúng vào hộ thống ngân hàng, tác động xấu tới an ninh tài chính quốc gia Chính vì vậy, viộc cơ cấu lại (re-structuring) cả về phương diện tài chính, mô hình tổ chức và cơ chế quản lý đến giám sát hoạt động là một yêu cầu cấp bách, có ý nghĩa sống còn đặt ra cho toàn hệ thống Ngân hàng nói chung và đặc biệt đối với các NHTM QD.
Do đặc thù của nền kinh tế đang trong thời kỳ quá độ, khối Ngân hàng Thương mại Quốc doanh (NHTM NN) bao gồm Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank- VCB), Ngân hàng Công thương Việt Nam (Incombank- ICB), Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam (BIĐV) và Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thông (Agribank- VBRD) có một vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng 4 Ngân hàng này chiếm tới gần 80% thị phần huy động vốn và cung cấp tín dụng cho toàn bộ nền kinh tế Những tồn tại và yếu kém chung cùa hệ thống Ngân hàng Việt Nam cũng hiện hữu rất rõ nét và đặc biệt trầm trọng tại 4 NHTM QD này Tổng số vốn tự có của 4 NHTM này vào năm 2000 chỉ xấp xỉ 300 triệu USD- tương đương với vốn cùa một ngân hàng loại nhỏ trong khu vực Đông Nam Á Gánh nặng nợ nần của thòi kỳ bao cấp và nợ xấu phát sinh trong những năm đầu hoạt động theo cơ chế thị trường là hết sức nặng nề Do đó, việc triển khai chương trình tái cơ cấu các NHTM QD là một nhiệm vụ trọng tâm và có ý nghĩa quyết định đến thành bại của quá trình cải cách, đổi mới hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam Triển khai định hướng ưên, từ năm 2000, một chương trình cải cách ngân hàng sâu rộng kéo dài trong nhiểu nãm với tâm điểm là các Đề án Tái cơ cấu hệ thống NHTM QD đã được
Trang 6k h ở i đ ộ n g với những m ụ c tiêu cụ thể: Tái c ơ cấu về m ặt tài ch ín h nhàm nâng
c a o năng lực tài chính ch o h ệ th ốn g ngân hàng; T ăng cư ờng tính m inh bạch và
áp đ ụ n g c á c chuẩn m ự c qu ốc t ế v à o hoạt đ ộ n g ngân hàng; Phấn đấu nâng ca o năn g lực hoạt đ ộ n g đ ể các N H T M Q D c ó thể cạnh tranh thắng lợi trong quá trình m ở cử a, h ộ i nhập - m ộ t qu á trình đan g tác đ ộ n g m ạnh m ẽ đến tình hình kin h tế- x ã h ội củ a m ọ i qu ốc g ia , đặc biệt đ ố i với những nư óc đang trong quá trình c h u y ể n đ ổ i nền kinh t ế như V iệt N am
Đ ến n a y , sau hơn 4 nãm thực hiộn , tiến trình tái c ơ cấu đã đạt được những thành tựu k h ô n g thể phủ nhận, m ộ t hệ thống ngân hàn g đang hoạt đ ộ n g n gày
m ộ t h iệu q uả hơn, từng bước hư ớn g tới chuẩn m ực q u ố c t ế đang dần h iện hữu
T uy n h iên , trong thời gian qu a, tiến trình tái c ơ cấu cũ n g b ộ c lộ n h iẻu tồn tại và hạn c h ế đang b ộ c lộ ra và n ếu k h ô n g được khắc phục sẽ ảnh hưởng đ ến k ết quả
củ a c ô n g c u ộ c cả i c á ch ngân hàn g V iệ c nhìn nhận đánh g iá tiến trình tái c ơ cấu trong thời g ia n vừa qua v à trong b ối cảnh m ới, trước những th ách thức m ớ i
c ủ a quá trình h ộ i nhập, toàn cầu h óa, nh ằm tìm ra cá c g iả i pháp th ích hợp để
c á c N H T M Q D c ó thể nâng ca o năn g lự c cạnh tranh và đ ón g g ó p n hiều hơn nữa
c h o sự n g h iệp c ô n g n g h iệp h oá- h iện đại h oá đất nước.
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN C Ú tJ:
T rên th ế g iớ i, tái cơ cấu c á c N H T M là m ột vấn đề kh ôn g m ới, đặc biệt sau k h ủ n g h oản g tài ch ín h tiền tộ châu Á T uy n h iên , đ ố i với m ỗ i q u ố c gia, trong từng giai đoạn khác nhau tiến trình tái cơ cấu củ n g d iễn ra khác nhau và
cũ n g chưa c ó lý th uyết nào c ó th ể áp đụng ch u n g ch o bất cứ tiến trình tái c ơ cấu
c á c N H T M C ó th ể n ó i, dù v ớ i cá ch tiếp cậ n nào thì tái c ơ cấu cũ n g là m ột tiến trình đư ợc phát đ ộn g với m ụ c tiêu du y nhất íà củn g c ố và nâng ca o năn g lự c cạnh tranh ch o c á c N H T M đ ể c ó thể th ích ứng với b ố i cảnh m ới Ở V iột N am , tiến trình tái c ơ cấu được triển khai từ những năm 2 0 0 0 -2 0 0 1 nhưng cách thức tiếp cận từ khi x â y dựng đ ến khi triển kh ai m ới chỉ được n g h iên cứu m ột cá ch
Trang 7riêng rẽ trong phạm v i từng n gân hàng h oặc ch ỉ được nhìn nhận th eo m ột s ố nội dung cụ th ể như xử lý nợ xấu, h iện đại h oá cô n g ngh ệ, áp dụng chuẩn m ực quốc
tế trong c á c lĩnh vực hoạt đ ộ n g n ó i chun g v.v T rong những năm gần đây,
N H N N cũ n g m ới chỉ chủ trì 0 2 H ộ i thảo vớ i chủ đ ễ tình hình x ử lý nợ và tiến trình tái c ơ cấu, n go à i ra cũ n g c ó m ộ t s ố bài viết và đ ể tài n g h iên cứu của cá c tác g iả trong ngành ngân hàng như TS L ê X uân N g h ĩa , TS Phùng K hắc K ế v.v
đề cập đ ến m ột s ố n ội dung trong tiến trình tái c ơ cấu như đa dạng h óa sản phẩm , kết quả x ử lý nợ, đ ổi m ớ i m ô hình tổ c h ứ c .T u y nh iên , h iện nay hầu như chưa c ó c ô n g trinh nào tổn g hợp đánh g iá tổng quát v ể tiến trình tái c ơ cấu cá c
N H T M Q D m ột cách toàn d iện V à o thời đ iểm hiện nay ch ú n g ta cần nhìn nhận, đánh g iá m ộ t cá ch khách quan v ề những g ì đã đạt được cũ n g như những tồn tại, bất cập đ ố i với h ệ th ốn g N H T M Q D để từ đó có sự đ iều ch ỉn h thích hợp nhằm đẩy mạnh tiến trình đ ổ i m ới cải c á ch hê th ống này B ên cạnh đ ó , v iệc xem xét những tác độn g cũng như những thách thức m ới củ a quá trình h ộ i nhập q u ố c tế trong lĩn h vực ngân hàn g và đặc b iệt đ ối với tiến trình tái c ơ cấu N H T M Q D cũn g đan g là m ột nội du ng c ó tính th òi sự cao VI những lý d o trên, tác g iả đã
n ân g ca o năng lực cạnh tranh c ủ a hộ thống N g â n hàng V iệt N a m trong
b ối cảnh h ộ i nhập.
Trang 84 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Để hoàn thành được mục đích và nhiộm vụ nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu của luận văn sẽ là tiến trình tái cơ cấu các NHTM QD trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay.
Do những giới hạn về thời gian và nguồn tư liệu, số ỉiệu để nghiên cứu, phân tích, luận vãn sẽ tập trung vào việc đánh giá những thành tựu và tồn tại của quá trình tái cơ cấu trong thời gian qua tại 4 NHTM QD hàng đầu (NHNT VN, NHCT VN, NHNNo&PTNT, NHĐT&PT) Kể từ nẫm 2000, các NHTM QD được gọi là Ngân hàng Thương mại Nhà nước theo Nghị định 49/2000/NĐ ngày 12/9/2000 về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Thương mại.
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u
Phương pháp luận nghiên cứu là phương pháp đuy vật biộn chứng và lịch
sử Cấc phương pháp cụ thể được sử dụng trong luận văn bao gồm: Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, thống kê kinh tế lấy chuỗi số liệu theo thời gian, phương pháp tổng hợp, phân tich
6 ĐÓNG GÓP M ỚI CỦA LUẬN VĂN:
Thông qua việc xem xét, nghiên cứu quá trình thực hiện Đê án Tái cơ cấu NHTM QD một cách toàn diện và phân tích đánh giá những thách thức của việc hội nhập kinh tế quốc tế đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam, iuận vãn có một
số đóng góp cụ thể như sau:
- Làm rõ những thành công cũng như những tồn tại, bất cập của các NHTM
NN trong tỉến trình tái cơ cấu.
- Đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm thúc đẩy tiến trinh tái cơ cấu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống NHTM NN trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu hơn vào nền kinh
tế thế giới.
Trang 9N g ò a i phần m ở đầu, phụ lục và danh m ục tài liệu tham khảo, luận vân được
k ết cấu thành 0 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khách quan của việc Tái cơ cấu hệ thống NHTM NN Việt Nam Chươne 2: Tiến trình tái cơ cẩu NHTM NN ỏ Việt Nam - Thực trạng và vấn đề Chươn« 3: Một số định hướng & giãi pháp nhằm nâng cao nâng lực cạnh tranh cùa
hệ thống Ngân hàng Việt Nam thông qua việc đẩy nhanh tiến trình tái
cơ cấu các NHTM NN
7 KẾT CẨU CỦA ĐỂ TÀI:
Trang 101.1.1.1 Bối cảnh kinh tế- xã hội.
Sau một thời gian đài vận hành theo cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung, nền kinh tế nước ta đã rơi vào một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng Nhận thức được nguy cơ, Đảng Cộng sản Việt Nam đã phát động công cuộc Đổi mới một cách toàn diện bắt đầu từ Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 Nghị quyết của Đại hội đã kêu gọi toàn Đảng, toàn dân phải triệt để "Đổi mới vế tư duy, phong cách, tổ chức và cán bộ" và khẳng định rằng "Chỉ có đổi mới thì mới thấy đúng và thấy hết sự thật, thấy những nhân tố mới để phát huy, những sai lầm để sửa chữa" Đại hội VI cũng đã khẳng định tính tất yếu của kinh tế thị trường và xác định :”Chúng ta đang quàn lý có kế hoạch một nền kinh tế sản xuất hàng hóa vói những đặc điểm của thời kỳ quá độ Việc sử dụng đầy đủ và đúng đắn quan hệ hàng hóa, tiền tộ trong kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân là một tất yếu khách quan” và “Tiếp tục xây đụng đổng bô thể chế kinh tế mới, kiên trì quá trình chuyển đổi sang cơ chế thị trưòng đi đổi với viộc tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Sau một thập kỷ kiên trì vận dụng và phát triển tư đuy kinh tế mới, nền kinh tế hàng hoá đã thực sự được hình thành và ngày càng mở rộng, từng bước phát triển hoàn thiện theo chiều sâu trên mọi lĩnh vực của quá trình sản xuất xã
Trang 11ihực hiện tốt các chính sách và giải pháp phù hợp, phát huy nội lực kết hợp với
sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế, nền kinh tế Việt nam đã có nhiều đấu hiộu khởi sấc và có xu thế phát triển khá: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trong
10 năm (1991-2000) đạt 7,5%/năm; Tỷ lệ tiết kiệm trong nước so với GDP của năm 2000 gấp 2,5 lần so với năm 1990; Kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2000 đạt gần 30 tỷ USD, gấp 6 lần so với năm 1990; Nông nghiệp phát triển liên tục, góp phần quan trọng vào mức tăng trưởng chung và giữ vững ổn định kinh tế- xã hội, Sản xuất nông nghiệp tăng trưởng khá với mức tăng bình quân 5,6%/năm, nâng mức lương thực đầu người từ 303 kg vào năm 1990 lên 444 kg vào năm
2000 Không những đảm bảo đủ lương thực, Việt Nam đã trở thành một cường quốc xuất khẩu gạo thứ 3 trên thế giới ; Công nghiệp và xây dựng đã vượt qua khó khăn thách thức và đạt được nhiều tiến bộ với mức tăng giá trị sản xuất bình quân trong 10 năm đạt 13,5%: Cơ cấu các ngành kinh tế cũng như cơ cấu phát triển vùng đã thay đổi theo hướng tích cực Khu vực địch vụ đã phục hồi và phát íriển mạnh với mức tăng bình quân 6,8%/nãm, các khu vực trọng điểm kinh tế được hình thành đóng góp tới 50% giá trị GDP; Các cân đối vĩ mô chủ yếu trong nền kinh tế trong đó có các cân đối tài chính- tién tệ đã được duy trì ở một trạng thái tương đối lành mạnh, góp phần ổn định môi trường kinh tế để tạo điều kiện khai thác tốt các nguồn lực Cùng với việc đổi mới theo hướng thị trường của nền kinh tế nói chung, những đổi mới trong cơ chế điều hành chính sách tiền tộ, hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại đã đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế nước nhà.
Về mạt đối ngoại, với viôc mở cửa nén kinh tế, quan hộ kinh tế quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn này ngày càng mở rộng Chỉ trong 5 năm 1996-
2000 tổng vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) mà Việt Nam thu hút được
đã đạt khoảng 10 tỷ USD và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cũng ngày càng chiếm vị trí quan trọng hơn trong nền kinh tế Việt Nam.
Trang 12Bênh cạnh nhũng thành tựu đã đạt được sau hơn 10 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam cũng đang bộc lộ những bất cập và tồn tại như Nghị quyết Đại hội V in đã vạch rõ: “Chất lượng và hiệu quả phát triển kinh tế còn thấp, nhiều lĩnh vực sản xuất và kinh doanh chưa đủ sức cạnh tranh, xuất khẩu đựa chủ yếu vào sản phẩm thô nên hiệu quả không cao v.v.”
Cơ chế chính sách về thị trường nhất là thị trường tài chính tiền tệ chưa đổng bộ: chính sách thuế còn bất hợp lý, tài chính doanh nghiệp nhà nưóc còn yếu kém, hiệu quả sử dụng ngân sách chưa cao, hệ thống ngân hàng thương mại còn yếu kém, hậu quả nợ quá hạn cao, tình hình tài chính khó khăn; Thị trường vốn phát triển chậm chạp.
Công tác phát triển nguổn nhân lực và khoa học công nghệ cũng như những vấn đề về phát triển bền vững , bảo vệ mồi trường và các vấn đề về xã hôi cũng đang là những bất cập đòi hỏi phải sớm được quan tâm khắc phục.
1.1.1.2 Quá trình dổi mới hoạt động hệ thống ngán hàng - tài chính
1.1.1.2.1 Đổi mới mô hình tổ chức của hộ thống ngân hàng
Trước đổi mới, thị trường tài chính Việt Nam còn rất sơ khai và có thể nói là thị trường tài chính là chưa hình thành Tuy có tồn tại, các ngân hàng trong thời kỳ đó hoạt động không dựa theo các nguyên tắc thị trưdng, và việc sử dụng các ngân hàng như là những công cụ cung cấp tín dụng cho Chính phủ vào giữa những năm 1980 đã đẩy nền kinh tế vào những mất cân đối nghiêm trọng
Để lấy lại những cân bằng vĩ mô, trên cơ sở định hướng đổi mới chung của cả nền kinh tế, vào cuối những năm 1980, việc đổi mới hoạt động tài chinh tiền tệ
và thúc đẩy hình thành thị trường tiền tệ được xem là vấn đề cốt lõi của quá trình phát triển của đất nước Trong cơ chế quản lý cũ, hệ thống ngân hàng Việt Nam là hệ thống ngân hàng 1 cấp, trong đó Ngân hàng Nhà nước là tổ chức ngân hàng duy nhất vừa làm chức năng quản iý như một Ngân hàng Trung ương, vừa trực tiếp kinh doanh tiền tệ tín dụng như một ngân hàng thương mại Khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, đổi mới ngân
Trang 13hàng được coi là khâu đột phá vì ngân hàng là huyết mạch của nền kinh tế Tháng 3/1988, Chính phủ ban hành Nghị định 53 với định hướng cơ bản
“Chuyển hẳn hệ thống Ngân hàng sang hoạt động kinh doanh” Với việc ra đời Nghị định này với hệ thống ngân hàng 2 cấp ở dạng sơ khai đã được hình thành, theo đó NHNN là cơ quan phát hành giấy bạc, chủ yếu thực hiện chức năng điều hành lưu thông tiền tộ và thực sự trở thành cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ, tín đụng và thanh toán Các Ngân hàng chuyên doanh làm nhiệm vụ kinh doanh trực tiếp đối với nền kinh tế và thực hiện các dịch vụ ngân hàng Đây là sự thay đổi lớn trong cơ chế hoạt động tiền tê tín dụng, góp phần khắc phục tình trạng lạm phát trầm trọng kéo dài, giải quyết được tình trạng các xí nghiệp quốc doanh ỷ lại vào vốn bao cấp của nhà nước Tuy nhiên, trong bối cảnh ảnh hưởng của cơ chế cũ còn nặng nề, các Ngân hàng chuyên doanh chưa thực sự mang tính độc ỉập mà mới chỉ hoạt động như các Vụ, Cục chức năng của NHNN.
Một mốc quan trọng của cồng cuộc cải cách hệ thống ngân hàng Việt Nam chính là sự ra đời của Pháp lệnh ngân hàng vào tháng 5/1990 Đây là bước
đi quan trọng nhất nhằm tạo ra một khung thể chế của thị trường tài chính và quản lý tiền tệ cùa đất nước với việc hình thành hệ thống ngân hàng hai cấp: Ngân hàng Nhà nước chịu trách nhiệm quản lý hoạt động kinh doanh tiền tộ và duy trì những cân bằng vĩ mô của nền kinh tế; và hộ thống những ngân hàng thương mại trực tiếp kinh doanh tiền tệ và các loại giấy tờ có giá trị tài chính Với việc hình thành hệ thống ngân hàng 2 cấp riêng biệt: Hệ thống Ngân hàng Nhà nước từ TW đến địa phương và hệ thống Ngân hàng Thương mại và các tổ chức tín đụng khác, hệ thống Ngân hàng Việt Nam đã có tiền đề quan trọng để phát triển Bên cạnh hệ thống NHTM QD còn có sự tham gia của các công ty tư nhân vào khu vực tài chính tiền tệ Các ngân hàng nước ngoài cũng dần đần tiếp cận với thị trường tiền tệ Việt Nam cũng như các ngân hàng Việt nam được mở rộng hoạt động ra thị trường nước ngoài Hiện nay kết cấu của khu vực tài chính
Trang 14ngân hàng Việt Nam bao gổm: Ngân hàng Nhà nước, 6 ngân hàng thương mại thuộc sở hữu Nhà nước, 47 ngân hàng thương mại cổ phần và 6 công ty tài chính, 9 công ty cho thuê tài chính, 4 ngân hàng liên doanh, 26 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, và 970 quỹ tín đụng nhân dân nông thôn.
Trong giai đoạn 1990-1997, hoạt động ngân hàng đã có những thành tựu đáng kể Hệ thống ngân hàng 2 cấp đã bước đầu thích ứng được với cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, đảm bảo được ổn định tiền tệ, kiểm soát lạm phát và an toàn hộ thống, các Tổ chức Tín dụng phát triển ngày một đa dạng
và lớn mạnh, từng bước đáp ứng được nhu cầu của xã hội đối với dịch vụ ngân hàng Tuy nhiên, trong giai đoạn này, sự buông lỏng quản lý tín dụng ở một số NHTM QD và hoạt động kém hiệu qủa của NHTM c ổ phần cùng với những tác động của cuộc khủng hỏang tài chính-tiền tệ châu Á đã làm cho nền kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của hệ thống ngân hàng.
Để hộ thống ngân hàng phát triển ổn định và bền vững, ngày 12/12/1997, Luật Ngân hàng Nhà nước và luật các TCTD đã được Quốc hội khóa X kỳ họp thứ 2 thông qua Đây ỉà khuôn khổ pháp lý tạo nền tảng để hộ thống Ngân hàng Việt Nam tiếp tục phát triển với những cải cách triệt để và toàn diộn hơn
ỉ í 1.2 Đổi mói hoạt động của NHNN trong Unh vực quản lý và điều hành
hệ thống tài chính- tiển tệ
Quá trình đổi mới hoạt động tiền tộ gắn liên với viộc đổi mới và nâng cao vai trò của NHNN trong việc hoạch định, thực thi chính sách tiền tệ quốc gia theo hướng nhằm mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mổ Đổi mới chính sách tiền tộ bắt đầu từ việc từng bước thay đổi các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ từ trực tiếp sang gián tiếp và sừ dụng các nghiệp vụ của Ngân hàng Trung ương vào việc can thiệp gián tiếp tới thị trường tiền tệ, từng bước tăng quyền tự chủ cho các TCTD Qua quá trình này, NHNN cũng đã từng bước thực hiện đúng chức
Trang 15Ị ỉ 1.2.1 Q uá trình ỉự d o hóa lãi suất
Trong quá trình cải cách hoạt động kinh doanh tiền tộ, về phía NHNN việc đổi mới cách thức sử dụng các công cụ truyển thống như lãi suất, dự trữ bắt buộc, tỷ giá, cho vay tái cấp vốn là những nội dung quan trọng nhất Trước tiên phải kể đến cuộc cải cách lãi suất ngân hàng - một cồng cụ có ảnh hưởng nhanh chóng và sâu rộng tới quá trình lành mạnh hóa nền kinh tế tạo điều kiện cho thị trường tiển tệ hoạt động theo những nguyên tắc của nó nhằm giúp các hoạt động kinh tế trở nên dễ dàng hơn và cũng là để huy động được nhiều hơn những nguồn vốn cho đầu tư phát triển Để lãi suất trở thành công cụ điều hành chính sách tiền tệ, Ngân hàng đã thực hiện một sự thay đổi quan trọng đó là chuyẻn từ lãi suất thực âm sang Lãi suất thực đương bắt đầu từ năm 1992 Tiếp theo đó, đến năm 1996, NHNN đã tự do hóa lãi suất tiền gửi và quy định trần lãi suất cho vay đồng nội tệ ~ nghĩa là đối với đổng nội tộ, NHNN chỉ còn khống chế duy nhất mức lãi suất cho vay tối đa của các NHTM, còn các NHTM được hoàn toàn tự
do quyết định mức lãi suất huy động nên có thể chủ đông hơn trong kinh doanh.
Tuy nhiên, việc NHNN quy định trần lãi suất cho vay có một số hạn chế nhất định do lãi suất nhiéu khi không phản ánh đúng cung - cầu vốn trên thị trường, không gắn với mức độ rủi ro của vốn vay Do vây, tháng 8/2000, NHNN
đã thực hiện đổi mới cơ bản về lãi suất cho vay bằng cơ chế điều hành lãi suất
cơ bản đối với cho vay bằng đồng Việt Nam và thực hiện cơ chế lãi suất thị trường có sự quản lý đối với cho vay bằng ngoại tệ thay vì NHNN tự quyết định các mức cụ thể của lãi suất cho vay ngoại tộ của các NHNTM Cơ chế điẻu hành lãi suất cơ bản đối với đối với cho vay bằng VND hiôn nay vẫn đang được duy trì, theo đó, NHNN công bố lãi suất cơ bản trên cơ sở tham khảo lãi suất cho vay thương mại vói khách hàng tốt nhất của nhóm các TCTD được lựa chọn theo Quyết định của Thống đốc NHNN trong từng thời kỳ Trên cơ sở lãi suất
năng, nhiệm vụ của Ngân hàng Trung ương.
Trang 16cơ bản đo NHNN công bố, TCTD ấn định lãi suất cho vay đối với khách hàng theo nguyên tắc không vượt quá lãi suất cơ bản và biên độ do NHNN quy định cho từng thời kỳ Riêng iãi suất cho vay đối bằng đồng Đô la Mỹ kể từ ngày 29/05/2001, các TCTD tự ấn định trên cơ sở lãi suất thị trường quốc tế và tương quan cung cầu vốn trong nước Như vậy đến thời điểm đó, NHNN chỉ quản lý mức trần lãi suất cho vay bằng VND và mức lãi suất tiền gửi bằng USD đối với pháp nhân tại TCTD Việc xác định lãi suất cơ bản đựa trên lãi suất cho vay VND tốt nhất của các NHTM cộng với biên độ nhất định cũng như việc thả nổi lãi suất cho vay bằng USD theo thị trường quốc tế cho thấy giá cả của đồng vốn tín đụng trên thị trường Việt Nam đã gắn nhiểu hơn cung cầu vốn trên thị trường
và chú trọng hơn tới mức độ rủi ro của các món vay Bên cạnh đó, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu do NHNN công bố các mức cụ thể từ tháng 5/1997 - thay vì tỷ lệ % trên mức lãi suất ghi trong khế ước cho vay của TCTD
- cũng được điều chỉnh linh hoạt, phù hợp với mục tiêu điều hành chính sách tiền tộ trong từng thời kỳ.
Song song với việc tự do hóa lãi suất NHNN cũng đồng thời thu hẹp dần khỏang cách giữa lãi suất ngoại tệ với nội tệ, giữa lãi suất ngán hạn với lãi suất trung dài hạn theo nguyên tắc kỳ hạn dài, lãi suất cao Tiếp đó, NHNN đã chuyển từ cơ chế điều hành lãi suất trần sang cơ chế điều hành lãi suất cơ bản đối với cho vay bằng VNĐ và cơ chế lãi suất thị trường có quản lý đối với cho vay bằng ngoại tệ phù hợp với quy định của Luật NHNN Lãi suất cơ bản được công bố hàng tháng dựa theo lãi suất cho vay thương mại đối với nhóm khách hàng tốt nhất của các TCTD theo quyết định của Thống đốc NHNN theo từng thời kỳ Điều này cho thấy việc điều hành lãi suất của NHNN đang dần bám theo tín hiệu của thị trường và thực sự là một bước tiến trẽn tiến trình tự do hóa lãi suất.
Tiếp tục theo định hướng trên, tháng 6/2001, NHNN đã thay đổi cơ chế điều hành lãi suất cho vay USD từ cơ chế thị trường có quản lý sang cơ chế lãi
Trang 17suất thị trường (như quy định tại QĐ số 718/2001/QĐ-NHNN ngày 29/5/2001
Cơ chế này cho phép các TCTD được tự ấn định lãi suất cho vay bằng USD trên
cơ sở lãi suất thị trường quốc tế và cung-cầu ngoại tệ trong nước Việc tự do hóa lãi suất cho vay ngoại tệ đã kịp thời tạo điều kiộn cho các TCTD và khách hàng chủ động thỏa thuận và quyết định lãi suất cho vay theo cơ chế thị trường, phù hợp với thông lộ quốc tế và góp phần để thị trường tiền tệ phát triển.
Bên cạnh quá trình tự do hóa lãi suất cho vay ngoại tộ, việc điểu hành lãi suất VNĐ cũng được áp dụng theo cơ chế lãi suất thoả thuận Nhờ đó, sự vận động của lãi suất đã dần đi vào quỹ đạo, lãi suất nội tệ và ngoại tệ vân động theo cùng hướng và có thể nói mục tiêu ổn định tiền tệ và mở rộng tín dụng đầu tư đã được thực hiện thành công, đóng góp vào việc ổn định và tăng trưởng kinh tế Với hộ thống lãi suất mới, lưu thồng tiền tệ đã đần đi vào ổn định, hộ thống ngân hàng còn mở ra nhiều hình thứ huy động vốn với những kỳ hạn khác nhau
và những hình thức huy động khác nhau như huy động bằng đồng Việt nam và ngoại tệ, tiết kiệm có giá trị bảo đảm bằng vàng, kỳ phiếu ngân hàng bằng đồng Việt nam và ngoại tệ, trái phiếu ngân hàng thương mại, tiết kiệm xây dựng nhà Ờ.Trên cơ sở đó Ngân hàng đã huy động được những khối lượng tiền gửi lớn bao gồm cả tiền đổng lẫn ngoại tệ tạo điều kiện cho ngân hàng Trung ương có khả năng kiểm soát mạnh mẽ hơn lưa thông tiền tệ Có thể nói rằng, với những bước đi thận trọng, hệ thống NH VN đang từng bước tiến tới mục tiêu tự đo hóa lãi suất.
Ị.L1.2.2.Tựdo hóa cơ chế tín dụng.
Kể từ khi ngừng sử dụng công cụ hạn mức tín dụng từ quý n/1998 do NHNN chuyển sang điều hành chính sách tiền tê bằng công cụ gián tiếp, nhìn chung, cơ chế tín đụng ở Việt Nam đã có những bước đổi mới đáng kể theo hướng tiến dần tới mục tiêu tự do hóa tín dụng Các cơ chế tín dụng được ban hành khá đổng bộ tạo khuôn khổ hành lang pháp lý ngày càng có tính hệ thống phù hợp với cơ chế thị trường, hạn chế tới mức thấp nhất bao cấp qua tín dụng
Trang 18và cơ chế “xin - cho”, từng bước tách tín dụng theo chính sách ra khỏi hoạt động tín đụng của các NHTM Các cơ chế tín dụng mới ngày càng được hoàn thiện theo hướng chỉ đưa ra các quy định mang tính nguyên tắc Các TCTD được chủ động tìm kiếm các dự án khả thi, có hiộu quả và có khả năng trả nợ để quyết định cho vay và tự chịu trách nhiệm về việc cho vay Phạm vi điều chỉnh của cơ chế túi dụng ngày càng được mở rộng, tạo lập sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, giữa các TCTD và khách hàng Cho đến nay, cơ chế bảo đảm tiền vay cũng đã được ban hành khá hệ thống và đổng bộ Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 về bảo đảm tiền vay của các TCTD đã tạo môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng dược an toàn và hiệu quả, tháo gỡ các vướng mắc trong quá trình thực hiên đảm bảo cấp túi dụng, nâng cao quyền
tự chủ và trách nhiệm của các TCTD trong việc quyết định cho vay, đồng thời tạo lập sự bình đẳng giữa tất cả các khách hàng và tất cả TCTD.
Bên cạnh đó, Chính phủ, NHNN và các Bộ, Ngành khác cũng đã ban hành một số văn bản liên quan đến bảo đảm tiền vay như Nghị định số 17/1999/NĐ-CP ngày 26/03/1999 “Về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử đụng đất, góp vốn bằng giá trị quyềri sử dụng đất’” Nghị định số 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 “Vẻ giao dịch bảo đảm” và Nghị định số 08/2000/NĐ-CP ngày 10/03/2000 “Về đăng ký giao dịch bảo đảm” cùng với các Thông tư huớng dẫn các Nghị định này Quy chế cho vay mới theo Quyết định số 284/2000/QĐ-NHNN1 ngày 25/08/2000 của Thống đốc NHNN đã chỉnh sửa quy chế tín dụng theo hướng thông thoáng về ìhủ tục nhưng vẫn đảm bảo an toàn, hiệu quả hoạt động tín dụng, nâng cao năng lực kinh doanh của các TCTD So với các thể lệ túi dụng trước đây, Quy chế cho vay mới này đã đưa ra những quy định mở rộng hơn, đa dạng hơn về đối tượng cho vay, thời hạn cho vay, phương thức cho vay, phù hợp với thông ỉệ quốc tế.
Ngoài ra, để đáp ứng nhu cầu phát triển của nển kinh tế trong tiến trình hội nhập quốc tế, Chính phủ và NHNN đã ban hành một số vãn bản quy định vé
Trang 19một số hình thức cấp túi dụng khác như cho thuê tài chính, bảo lãnh, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá ngắn hạn.
l.Ị 1.2.3 Vận hành cơ chế tỷ giá hối đoái linh hoạt, í hận trọng theo cơ chế thị
trường
Từ khi thực hiện chính sách mở cưả đến nay, Việt Nam đã duy trì một chính sách tỷ giá hối đoái linh hoạt, thận trọng Tỷ giá được điều chỉnh dần từng bước phù hợp với cung cầu ngoại tộ trong nền kinh tế và trên thị trường liên ngân hàng Sau 15 năm đổi mói, chính sách tỷ giá hối đoái này đã thực sự góp phần khuyến khích xuất khẩu đổng thời cũng duy trì được sự ổn định giá trị đổng nội tệ khi Việt Nam đang từng bước mở cửa hội nhập và chịu đựng những biến động rất phức tạp của tình hình kinh tế khu vực và thế giới.
Nếu như trước năm 1989, hệ thống tỷ giá của Việt Nam gồm nhiều loại:
Tỷ giá chính thức cho hoạt động thương mại quốc tế, tỷ giá hối đoái không chính thức dành cho giao dịch và tỷ giá giao dịch trong nước Trong đó, tỷ giá giao dịch trong nước được áp dụng cho việc kinh doanh giữa các ngân hàng và
xí nghiệp trong nước, những đơn vụ sử dụng ngân sách liên quan đến viện trợ kinh tế từ các nước thuộc khối SEV Theo hê thống này, tỷ giá được giữ cố định trên cơ sở những Hiộp định giữa Chính phủ các nước thuộc hệ thống XHCN Đến 3/1989, hộ thống tỷ giá nhiều tầng nói trôn được hợp nhất lại thành một loại
tỷ giá chính thức duy nhất do NHNN điều hành Và quan trọng hơn cả là tỷ giá chính thức này được điều hành theo nguyên tấc căn cứ vào lãi suất thị trường, tỷ
lệ lạm phát, cân bằng cán cân thanh tóan và tỷ giá trẽn thị trường tự do.
Đến năm 1991, trong khi tỷ lệ lạm phát trong nước đang cao, Nhà nước
đã có Quyết định 337/QĐ-HĐBT ngày 25/10/1991 nhằm quản lý chặt hơn các hoạt động ngoại hối, theo đó việc thiết lập các quỹ chính thức của NHNN nhằm thực hiện việc ổn định tỷ giá hối đoái Cùng với QĐ này ỉà sự hình thành 2 sàn giao dịch ngoại tệ tại Hà Nội và Tp.HỒ Chí Minh Căn cứ theo tỷ giá tại 2 sàn
Trang 20này NHNN đã bước đầu triển khai việc quy định biên độ giao dịch trên thị trường thông qua hành vi mua bán trên 2 sàn giao dịch này của NHNN.
Trong giai đoạn 1994-1996, Chính phủ đã tiếp tục cải tiến cơ chế quản lý ngoại hối theo hướng thông thóang hơn với việc điều chỉnh tỷ lộ kết hối của các doanh nghiệp có thu nhập ngoại tệ nhằm tập trung dần ngoại tệ về hê thống ngân hàng, hạn chế dần tình trạng đô la hóa nền kinh tế Tiếp theo đó là việc thành lập thị trường ngoại tô Liên ngân hàng (thay thế cho 2 sàn giao dịch ngoại tệ) và tỷ giá ấn định của các TCTD sẽ căn cứ theo tỷ giá hình thành tại Thị trường Liên ngân hàng với biên độ dao động được nới rộng.
Bên cạnh việc áp đụng chính sách điều hành tỷ giá linh hoạt, cơ chế quản
lý ngoại hối cũng được đổi mới theo hướng phù hợp với quan hệ cung cầu trên thị trường hơn và tạo thuận lợi cho ngân hàng và khách hàng trong việc cân đối ngoại tệ phục vụ cho nhu cẩu sản xuất kinh doanh Trong giai đoạn từ 1995 - dến nay tỷ lệ kết hối giảm mạnh từ 100% đến nay đã xuống bằng 0 (theo Quyết định số 46/QĐ-TTg ngày 2/4/2003) Việc thực hiện chế độ kết hối đã góp phần tích cực vào việc xóa bỏ tình trạng găm giữ ngoại tệ, tập trung được nguồn ngoại tê quan trọng vào hệ thống ngân hàng để sử dụng có hiộu quả, đáp ứng được nhu cầu ngoại tệ cho nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên nhiên liệu cho sản xuất và tiêu dùng, giảm sức ép lên tỷ giá hối đoái.
Cùng với chính sách kết hối, NHNN cũng đã áp dụng các biộn pháp nhằm tăng cường thu hút nguồn ngoại tộ nhàn rỗi trong dân cư vào hệ thống tổ chức tín dụng bằng các giải pháp thông thóang như nới rộng biên độ giao dịch, mở rộng đối tượng được làm dịch vụ chi trả kiều hối, điều chỉnh giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với vốn huy động ngoại tệ, mở rộng trạng thái ngoại hối của các Ngân hàng thương mại, tăng lãi suất tiền gửi của các TCTD tại NHNN v.v.
Những cải cách trong việc điều hành chính sách tỷ giá hối đoái đã mang lại những tác động rất tích cực đối với hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu.
Tỷ giá trong giai đoạn này đã được điều hành tương đối sát với thị trường Nếu
;Ai HOC QUỔC GIA HA NỘi
Trang 21trong tháng 1/1999 chênh lộch giữa giá VND/USD trên thị trường tư nhân TP.HỔ Chí Minh với giá giao dịch bình quân là 896 đồng/USD thì mức chênh lệch này đã giảm xuống chỉ còn 50 VND/USD.1 Tóm lại, có thể coi việc duy trì được một tỷ giá linh hoạt, đổng thời với tiến trình đổi mới cơ chế điều hành tỷ giá dần theo cơ chế thị trừong đã góp phần quan trọng vào việc duy trì sự ổn định ưên thị trường tiền tộ, gia tâng dự trữ quốc gia, tạo điểu kiện cho các hoạt động kinh tế phát triển và mở rộng, khuyên khích xuất khẩu.
Ị 1.1.2.4.Hình thành và từng bước phát triển hoạt động của thị trường thanh
tóan liên ngân hàng, thị trường mở.
Với việc cải cách thể chế và mở cửa khu vực tài chính ngân hàng, những hoạt động tài chính theo nguyên tắc thị trường cũng bắt đẩu được hình thành với những hình thức cơ bản nhất của nó Kể từ năm 1994, Chính phủ đã hợp pháp hóa việc mua bán các trái phiếu kho bạc ngắn hạn, và cho phép các ngân hàng thương mại được lưu giữ các loại trái phiếu này Thị trường cho các loại trái phiếu chính phủ cũng đã được hình thành và các phiên giao dịch thứ cấp cũng
đã được mở tuy với một mức độ còn hạn chế Những hoạt động giao địch, thanh toán liên ngân hàng đã được mở thông qua tài khoản của các ngân hàng thương mại mở tại ngân hàng Nhà nước tạo điều kiện cho những chuyển khoản tiền lộ được thực hiện nhanh chóng ví dụ như những chuyển khoản trong phạm vi bô ngành được thực hiện không quá hai ngày Các phiên trao đổi ngoại tệ đã được ngân hàng Nhà nước tổ chức hàng tuần, các công cụ tài chính khác như séc, thẻ tín dụng ngân hàng, và thậm chí các tài khoản cá nhân bằng ngoại tệ đã được áp dụng.
Nghiệp vụ thị trường mở dù mới được triển khai từ 12/7/2000 đã được coi
là một bước tiến quan trọng trong nỗ lực của NHNN nhằm đổi mới điều hành chính sách theo hướng chuyển từ các công cụ trực tiếp sang gián tiếp, phù hợp với thông lệ quốc tế Hàng hóa giao địch cũng ngày một đa dạng hơn từ Tín
Trang 22phiếu kho bạc đến chứng chỉ tiền gửi trái phiếu, công trái Thông qua hoạt động của thị trường mở, NHNN đã thực hiện việc bơm tiền ra lưu thông hoặc thu hút tiền mặt từ lưu thông về trên cơ sở cung cầu vốn của thị trường Lãi suất trên thị trường mở cũng đã phần nào phản ánh được diễn biến của lãi suất trên thị trường tiền tệ nhất là lãi suất ngắn hạn trong nền kinh tế Các NHTM cũng
đã sự dụng linh hoạt hơn vốn khả dụng của mình khi tham gia giao dịch trên thị trường mở.
ỉ 1.1.2.5.Đổi mới công cụ tái cấp vốn.
Trước đây, khi hệ thống ngân hàng Việt Nam chưa hình thành hộ thống ngân hàng 2 cấp, công cụ này không được triển khai Bước vào thời kỳ mới, ngay từ những năm 1990, sau khi có Luật Ngân hàng, tái cấp vốn đã được coi là một trong những kênh quan trọng để NHNN can thiệp vào thị trường tiền tệ cũng như thực hiện chức năng của Ngân hàng Trung ương: “Ngân hàng của các ngân hàng“ Trong giai đoạn đầu, NHNN chỉ áp dụng tái cấp vốn ngắn hạn nhằm bù đắp khó khăn tạm thời về thanh khoản cho các NHTM theo hình thức: Cho vay theo hồ sơ tín dụng, chiết khấu và tái chiết khấu thương phiếu cũng như các giấy tờ có giá Lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu được hình thành cũng đã bước đầu bám sát được lãi suất thị trường, phần nào phản ánh được cung cầu vốn Tuy nhiên, từ tháng 8/2000 khi NHNN chuyển sang thực hiện cơ chế lãi suất cơ bản, việc ấn định lãi suất tái cấp vốn và chiết khấu đường như không mang nhiều ý nghĩa thực tế, do ít có tác động tói thị trường Xét về tổng thể, qua một thời gian sử dụng cổng cụ này, nghiệp vụ tái cấp vốn và chiết khấu
đã góp phần đảm bảo an toàn hệ thống Ngân hàng cũng như giúp cho hệ thống thị trường tiền tệ liên ngân hàng hoạt động thống suốt, phát huy được hiệu quả trong suốt những năm qua Đặc biột trong giai đoạn1998-2000, thực hiộn chủ trương kích cầu của Chính phủ, tái cấp vốn đã trở thành một kênh dẫn vốn quan trọng để NHNN bơm tiền vào lưu thông, thông qua việc cung ứng vốn cho các TCTD mở rộng tín dụng, đầu tư cho nền kinh tế.
Trang 23ỉ L I 2.6 H oàn thiện công cụ dự trữ bắt buộc.
Dự trữ bắt buộc là công cụ truyền thống trong việc điều hành chính sách tiền tệ của NHNN nhằm tác động tới mức cung tién từ đó ảnh hưởng tới tốc độ tãng trưởng tín dụng theo mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ trong từng thòi
kỳ Cố thể nói dự trữ bắt buộc là một trong những công cụ điều tiết có hiệu qủa nhất đối với lãi suất thị trường, từ thị trường liên ngân hàng đến thị trường tín dụng do công cụ này có thể tác động trực tiếp tới giá vốn đầu vào của các TCTD Trong giai đoạn 1991-1996, Pháp lênh Ngân hàng quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 10%- 35% tổng nguồn vốn huy động của NHTM Tuy nhiên để giảm tải sức ép đối với các TCTD, NHNN đã cho phép áp đụng tỷ lệ dự trữ ở mức thấp nhất (đao động xung quanh 10%) và coi phẩn vốn mua Trái phiếu Kho bạc và tiền mặt tại quỹ cũng là thành phần của đự trữ bắt buộc và phân biệt tỷ lệ
dự trữ khác nhau đối với tiền gửi có kỳ hạn và không có kỳ hạn, tạm thời chưa
áp dụng dự trữ bắt buộc đối với các Hợp tác xã Tín đụng và Quỹ tín đụng nhân dân.
Trước tình hình lạm phát được kim chế, NHNN đã từng bước hòan thiện
và nâng cao hiệu lực của cồng cụ này theo hướng linh hoạt điều chỉnh tỷ lộ dự trữ bắt buộc trong khuôn khổ cho phép, thống nhất 1 tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với cả tiền gửi không kỳ hạn cũng như kỳ hạn, tăng kỳ điẻu chỉnh tỷ lệ lên 2 ỉần/tháng Trong thời kỳ lãi suất huy động USD tăng cao, nguồn tiển gửi USD của các TCTD tăng mạnh, nhằm tránh tình trạng đổ la hóa tài sản nợ của TCTD cũng như của nền kinh tế, tỷ lệ dự trữ bắt buộc đã điều chỉnh tăng lên (cao nhất tới 15%) Khi „cơn sốt“ lãi suất qua đi, tỷ lộ này đã được giảm xuống (4%)
ỉ 1.1.2.7 Từng bước m ở rộng điều kiện hoạt động cho các ngán hàng có yểu ỉ ố
nước ngoài ở V iệt Nam
ĐỔ từng bước tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các ngân
Trang 24hàng ở Việt Nam, NHNN đã đưa ra một số quy định về cơ bản áp dụng chung đối với các TCTD như quy định về cơ chế lãi suất, tín dụng, bảo đảm tiền vay,
tỷ iệ bảo đảm an toàn vốn, về việc hổ ượ vốn của NHNN đối với TCTD (thông qua tái cấp vốn, tái chiết khấu, thị trường mở, S w a p s , vể bảo hiểm tiền gử i Đồng thời, NHNN đã từng bước thực hiện nới lỏng các hạn chế đối với các ngân hàng liên doanh với nước ngoài về huy động tiền gửi không kỳ hạn bằng VNĐ
từ các khách hàng không có quan hệ tín dụng từ 10% vốn điều lệ vào năm 1992 lên đến 20%, 25% vào các nãm 1994,1996 và 100% vào năm 1998 Đặc biột, từ cuối năm 1999, các hạn chế đối với ngân hàng liên doanh vế nghiệp vụ nhận tiền gửi bằng VNĐ đã được xóa bỏ hoàn toàn Ngoài ra, từ 01/1998, quy định về trạng thái VNĐ đối cới các chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam cũng đã được điéu chỉnh từ mức 10% trước đây lên 15% so với vốn của ngân hàng nguyên xứ cấp và quỹ dự trữ.
Tuy nhiên, cho đến nay, các ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam phải chịu một số hạn chế nhất định trong hoạt động như chưa được nhận thế chấp bằng giá trị quyền sử dụng đất; các ngân hàng liên doanh chưa được nhận tiền gửi ngoại tệ của cá nhân người Việt Nam dưới bất kỳ hình thức nào; tỷ lộ góp vốn điều lộ của bên nước ngoài không được vượt quá 50% vốn điều lệ của ngân hàng liên doanh Riêng các chi nhánh ngân hàng nước ngoài vẫn chưa được nhiộn tiền gửi tiết kiệm dưới bất kỳ hình thức nào, tiền gửi có kỳ hạn bằng VND và tiền gửi ngoại tệ của các cá nhân, pháp nhân Việt Nam không có quan hệ tín dụng chỉ được nhận tiền gửi không kỳ hạn bằng VND từ khách hàng không có quan hệ tín dụng tối đa bằng 25% vốn điểu
lệ Đồng thời, giới hạn đối với chi nhánh ngân hàng nước ngoài về việc gửi tiền
ra nước ngoài theo quy định không vượt quá 30% vốn được cấp, thời hạn hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài là không quá 20 năm,
Các quy định mang tính chất hành chính như vậy sẽ dần dần được nới lỏng hoặc bãi bỏ trong quá trình cải thiện, mở cửa hoạt động ngân hàng ở Việt
Trang 25N am để phù hợp vớ i x u th ế toàn cầu h óa tài chính - tiền tệ Trong m ột vài năm tới, khi đưa vào thực h iện c á c quy định cam kết với c á c tổ chức quốc t ế trong khuồn k hổ A F T A , A P E C , đặc biột ià H iệp định thương mại V iột - M ỹ và tiến tới g ia nhập W T O , hộ thống ngân hàng V iệt N am sẽ n gày càng được phát triển, nâng cao tính cạnh tranh trong m ô i trường tự do h óa hoạt động ngân hàng ở
V iệt N am
1.1.2 Hoạt động của các NHTM NN trong giai đoạn 1995 - 2000
1.1.2.1 Vị trí, vai trò và đặc điểm của khối NHTM NN trong hệ thống Ngán
hàng Việt Nam.
Cùng với quá trình đổi m ới c ơ c h ế quản lý kinh t ế từ nền kinh tế k ế hoạch hóa tập trung sa n g kinh tế thị trường có sự điểu tiết của N hà nước, hệ thống ngân hàng V iệt N am cũ ng đã c ó những chuyển biến c ơ bản H ệ thống ngân hàng 2 cấp ra đời từ khi có Pháp lệnh N gân hàng và n gày càng phát triển đặc biệt từ khi c ó Luật N gân hàng N h à nước và Luật các tổ chức tín dụng -1 9 9 7 Thực hiộn chủ trương phát triển kinh tế đa thành phần, kể từ khi Luật Các
tổ chức tín đụng ra đ ờ i, trong lĩnh vực kinh doanh tiển tệ đă c ó sự tham gia của
cá c N gân hàng T hương m ại c ổ phần, ngân hàng liên doanh và Chi nhánh N gân hàng nước n g ò a i Bên cạnh k h ối ngân hàn g, còn c ó cá c định c h ế tài chính phi ngân hàng như: C ông ty Tài chính, cá c C ông ty Cho thuê Tài chính, C ông ty quản lý n ợ và khai thác tài sản x iế t nợ, C ông ty Chứng khóan v.v M ặc dù có
sự tham g ia rất đa dạng của các lo ạ i hình doanh n gh iệp son g do đạc thù có tính chất lịch sử, khu vực kinh tế N h à nước vẫn chiếm tỷ trọng lớn k ể cả trong lĩnh vực tài chính ngân hàng V ới lợi th ế về quy m ô , m ạng lưới hoạt độn g rộng khắp
và cơ sở khách hàng vững chắc, c á c N g â n hàng Thương m ại N h à nước tiếp tục
là những ngân hàng chủ lực hoạt đ ộn g trên thị trường tiển tệ.
H ộ thống N H T M N N trong g ia i đoạn này bao g ồ m 4 N gân hàng: N gân hàng N ô n g n g h iệp và Phát triển n ôn g thôn, N gân hàng C ông thương, N gân hàng
Trang 26Đầu tư và Phát triển và Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam Là 4 Ngân hàng được thành ỉập từ thời kỳ bao cấp, bước vào giai đoạn mới các Ngân hàng này
đã có bể dầy lịch sử và mạng lưới rộng khắp tại 54 tỉnh thành trong toàn quốc
Ưu thế của hộ thống NHTM QD thể hiện trên các mặt nghiệp vụ sau:
CÓ thể nói, các NHTM VN chiếm lĩnh hầu hết thị phần tiền gửi của toàn
hệ thống Đặc biệt, ưu thế của khối các NHTM QD với lợi thế về quy mồ và mạng lưới chi nhánh rộng khắp đã chiếm tới gần 90% thị phần, trong khi gần 30 NHTM CP và hơn 20 NHLD và Chi nhánh NHNNgoài chỉ chiếm 10%.
Bảng 1.2: Thị phần cho vay của các NHTM VN giai đoạn trước năm 2000
Trang 27của khu vự c này ch iếm phần lớn trong tổng đầu tư của nền kinh tế v ề hoạt
đ ộ n g tín dụ ng, c á c N H T M Q D ch iếm trên 70% tổng đầu tư tín dụng cho nền kinh tế
Trong hoạt đ ộ n g thanh toán đối n g o ạ i, với doanh s ố thanh toán qu ốc tế,
m u a bán ngoại tệ được thực h iện qua khối các ngân hàng thương m ại qu ốc doanh cũng ch iếm tỷ trọng lớn Trong hoạt độn g trên thị trường tiền tệ liên ngân
h àn g, các N H T M Q D cũ n g là những ngân hàng có doanh s ố giai dịch lớn và
q u y ết định lã i suất trên thị trường này.
Bên cạnh v iê c g iữ vị trí chủ đạo trong hoạt động kinh doanh tiền tê, các
N H T M Q D còn là c ô n g cụ đặc biệt quan trọng để N H N N thực hiện tốt các
ch ín h sách tiền tệ nhằm giữ vững sự ổn định và lành mạnh của thị trường tài
ch ín h , tiền tệ C hịu ảnh hưởng của khủng hỏang tài chính tiền tộ châu Á , khu vực N gân hàng c ổ phần của V iệ t N am cũ ng lâm vào tình trạng khó khản Trong bối cảnh đ ó , ch ín h hệ thống N H T M N N đã khẳng định được vai trò trụ cộ t và vị
th ế trên thị trường tiển tệ, cù n g vớ i N H N N thực thi tốt chính sách tiền tệ thận trọng và linh hoạt, g ó p phần g iả m thiểu được những ảnh hưởng tiêu cự c, giúp nền kinh t ế V iệ t N am đứng vững và tiếp tục phát triển Bên cạnh đó, các ngân
h àn g thương m ại N hà nước cò n là ch ỗ dựa vững chắc, đ ón g góp vai trò quan trọng trong v iệc x ử lý những ngân hàng phá sản và củng c ố các ngân hàng đang
g ặ p khó khăn.
T óm lại, trong n ề n kin h tế ch u yển đổi như V iệt N am , khi khu vực tư nhân chư a đủ lớn m ạn h, v iệ c cá c N H T M Q D tiếp tục giữ vai trò chủ đạo là rất cần
th iết và cũ n g hoàn toàn phù hợp với q u y luật cũng như những kinh nghiộm của
cá c quốc g ia đi trước.
1.1.2.2 Đặc trưng của các NHTM NN Việt Nam trong nền kình tế chuyển đổi.
Trang 28Vé năng lực tài chính:
Mục đích chủ yếu của cạnh tranh doanh nghiệp trong cơ chế thị trường là
để tồn tại, phát triển và tìm kiếm lại nhuận trên cơ sở cạnh tranh quốc tế hay cạnh tranh quốc gia Cạnh tranh nói chung có thể được định nghĩa như là khả năng của một công ty nhằm đáp ứng và chống lại các đối thủ cạnh tranh trong cung cấp sản phẩm một cách lâu dài và có lợi nhuận.
Vốn tự có tuy không tham gia vào hoạt động kinh doanh của ngân hàng, nhưng nó có vai trò hết sức quan trọng, quyết định tầm vóc, qui mô của một ngân hàng và trong quá trình hoạt động, nó còn liên quan đến nhiều chỉ tiêu về
an toàn hoạt động ngân hàng, qua đó khống chế sự mở rộng hoạt động của ngân hàng và ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của một ngân hàng Trong hoạt động kinh doanh, các NHTM thường sử dụng khối lượng vốn tiền tộ cao hơn nhiều so với các công ty kinh doanh ở các lĩnh vực khác và so với số vốn tự
có của chúng (bao gồm vốn tự có cơ bản và vốn tự có bổ sung) Theo qui định của u ỷ ban Basel, tỉ iộ vốn tự có trên tổng tài sản Có điều chỉnh theo rủi ro của NHTM phải đạt tối thiểu 8%.
Năng ỉực cạnh tranh của một NHTM phụ thuộc đồng thời vào nhiều nhân
tố khác nhau (các nguồn lực khác nhau) từ chính bản thân các NHTM và các yếu tố bên ngoài Sự thiếu hoặc suy kém bất cứ một nhân tố nào sẽ làm yếu đi sức mạnh cạnh tranh, nâng lực cạnh tranh của ngân hàng đó Vốn tự có là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sức mạnh cạnh tranh của ngân hàng NHTM là doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Sản phẩm dịch vụ của NHTM ỉà những dịch vụ về tiển tệ, thanh toán, tài khoản cá nhân, các loại thẻ, , và nhiểu loại sản phẩm "vô hình" khác như các dịch vụ về an toàn, dịch vụ tư vấn tài chính, bảo lãnh, Chất lượng của sản phẩm này thể hiện ở mức độ đáp ứng nhu cầu của người sử dụng, tiện ích mà dịch vụ đem lại như sự an toàn, thời gian thanh toán, sự thuận tiộn của giao dịch (thời gian giao dịch, địa điểm giao dịch, chi phí giao dịch, bao gồm cả chi phí về thời gian và chi phí bằng tiền, ) Một
Trang 29ngân hàng không thể có những sản phẩm dịch vụ chất lượng cao nếu không có
cơ sở hạ tầng với thiết bị công nghộ tiên tiến và đội ngũ nhân lực có trình độ để vận hành những thiết bị này Muốn vậy, ngân hàng phải có vốn để đầu tư đổi mới trang thiết bị, đào tạo nhân lực Thông thường, những trang thiết bị hiện đại
có thể cung cấp các dịch vụ chính xác, tiện ích thường đòi hỏi những khoản đầu
tư lớn từ nguồn vốn của chính bản thân doanh nghiệp Một ngân hàng ít vốn thì không thể có đủ khả năng để đầu tư cho lĩnh vực này và như vây, nó đã mất đi lợi thế cạnh tranh của mình.
Mặc dù là lực lượng chiếm vị trí chủ đạo trong thị trường tiền tệ, nhưng đến trưóc năm 2000, năng lực tài chính của 4 NHTM NN hàng đầu của Việt Nam còn hết sức nhỏ bé và yếu kém Ở đây tồn tại một nghịch lý trong giai đoạn này là tiềm lực tài chính của khu vực tài chính lại thua xa khu vực công nghiệp Theo quy luật phát triển và theo kinh nghiệm của các quốc gia đi trước, (đặc biệt là các quốc gia công nghiệp), trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa, tư bản tài chính phải có mức tích lũy cao hơn tư bản cồng nghiệp thì mới có thể tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện cách mạng công nghiệp và tiến trình công nghiộp hóa Trong khi đó, tại Viẹt Nam, vốn tự có của 4 NHTM NN lớn nhất Việt nam chỉ vào khỏang 3.500 tỷ đồng (tương đương với khỏang trên
300 triệu USD) Quy mô vốn của cả 4 NHTM NN mới chỉ bằng vốn của một ngân hàng loại nhỏ trong khu vực (tham khảo phụ lục ỉ: xếp hạng các ngân hàng khu vực châu Á, Thái Bình Dương của Tạp chí The Banker- 2000) Vốn tự
có của các NHTM NN còn rất nhỏ bé, đẫn tới hộ số an toàn thấp, hạn chế khả năng cạnh tranh của bản thân các ngân hàng Với điều kiện cho vay 1 khách hàng không quá 15% vốn tự có, nếu cả 4 Ngân hàng cùng hợp vốn cho vay 1 doanh nghiệp cũng chỉ đuợc tối đa 525 tỷ đổng (tương đương với khỏang 45 triệu USD) Đây thực sự là một hạn chế lớn nhất là khi Việt Nam đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, các dự án đầu tư cho các ngành trọng điểm của quốc gia như điện lực, dầu khí, bưu chính viễn thông, hạ tầng cơ sở đường
Trang 30SÉ.V V cần rất nhiều vốn Nếu so sánh với chuẩn mực quốc tế BIS thì các NHTM
NN đều không đạt các tiêu chuẩn an toàn hoạt động tối thiểu Hệ số an toàn vốn tối thiểu (CAR - Capital Adequacy Ratio) của các NHTM NN VN mới chỉ đạt 3% trong khi theo chuẩn mực quốc tế tỷ lệ này tối thiểu phải đạt 8% thì ngân hàng đó mới được coi là bình thường và tương đối an toàn.
Tỷ lộ nợ quá hạn trong tổng dư nợ của toàn bộ các NHTMQD là khá cao, dao động từ 2,5 - 5% ở các NHTMQD hàng đầu (BIDV, Vietcombank) và từ 19-23% đối với những NHTMQD kém hiệu quả hơn (Incombank, Agribank) Dựa trên các số liệu kiểm toán quốc tế, trong thời kỳ này, tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ thực tế còn cao hơn rất nhiều, ước lượng đạt đến 30-35%, trong đó số liệu tương ứng cho 2 NHTMQĐ hàng đầu là 17-25% và 2 ngân hàng kém hơn là 40-45%.
Sự mất cân đối trong thành phần của tài sản nợ và tài sản có cũng là một vân đề hết sức nghiêm trọng tác động đến tính thanh khoản của các NHTMQD nói chung và Vietcombank nói riêng Trong cơ cấu tài sản của của hệ thống NHTMQD thì trên 90% tổng tiền gửi có thời hạn dưới 1 năm, trong khi đó 20% danh mục các khoản vay lại có thời gian đáo hạn trên 1 năm.
Thiếu vôh hoạt động:
Cơ sở vốn cho hoạt động của các NHTMQD là hết sức yếu Trong toàn bô các NHTMQD thì ngân hàng có mức vốn hoá cao nhất thì tỷ lộ vốn trên tỏng tích sản cũng chỉ đạt 5,57% Trong khi đó các NHTM phi quốc doanh lại có cơ
sở vốn lớn hơn, với tỷ lệ trung bình vốn/tổng tích sản đạt 18.5%, và tỷ lệ trung bình vốn/dư nợ vay đạt 30% Xem xét trong toàn bô hệ thống ngân hàng thương mại thấy rõ vốn hoạt động của các NHTM N N còn rất nhỏ bé Vì vậy, khả nảng
và tốc độ huy động vốn của các ngân hàng ngoài quốc doanh trong tương lai rất
có thể sẽ tăng lên vượt các NHTMQD.
Trang 31Bảng 1.3: Tỷ lệ vốn/tổng tích sản & vốn/dư nợ của hệ thống NHTM VN
Để cải thiện tình trạng thiếu vốn trầm trọng này tháng 11/1998, NHNN
đã cho 4 NHTMQD vay 2.400 tỷ VND Kết quả của biện pháp này là đã làm cho các NHTMQD đủ mức vốn theo nhu cầu về vốn pháp định Tuy nhiên đánh giá theo tiêu chuẩn quốc tế thì tỷ lệ vốn/tổng tích sản của các NHTMQD còn rất thấp, dự tính vào thời điểm năm 2005 để các NHTMQD đạt chỉ số CAR là 8% thì cần thêm khoảng 35.608 tỷ VND để tái vốn hoá cho các NHTMQD (xem bảng) Kết quả này được tính trên cơ sở tổng nguồn vốn trong vòng 5 năm tới của các NHTMQD vẫn tăng trưởng như trong 5 năm qua.
Bảng 1.4: Nhu cầu nâng vốn pháp định cho các NHTM NN Đưn vị: Nghin lý
Trang 32(Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo năm của các NHTM NN) Bên cạnh việc vốn tự có thấp, năng lực tài chính yếu kém của các NHTM
NN còn thể hiện ở một số đặc điểm sau:
Nợ tồn đọng của khối NHTM NN cao: Đến 31/12/2000 tổng số nợ tồn đọng lên đến 23.000 tỷ đổng, gấp 2 lần tổng vô'n tự có, chiếm tới gần 5% GDP
và 13% tổng dư nợ của các Ngân hàng này Trong số nợ tổn đọng, 50% không
có tài sản đảm bảo, dẫn đến khả năng mất vốn của các NHTM NN là rất cao Nguyên nhân của nợ tồn đọng có thể do thiên tai, bão lụt, các doanh nghiộp nhà nước làm ăn thua iỗ, dự án không có hiộu quả hoặc do thay đổi cơ chế chính sách của Nhà nước nhất là khi nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đ ổi
Cùng với việc vốn tự có nhỏ bé, hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM NN cũng là một bất cập khi tỷ lộ lợi nhuận trên tài sản (ROA) bình quân của NHTM NN mới chỉ là 0,38% còn tỷ lệ ỉợi nhuận trên vốn (ROE) bình quân mới đạt 9,27% Nếu hạch toán đầy đủ theo chuẩn mực quốc tế hầu hết các NHTM NN trong giai đoạn này đéu lỗ và dẫn tới hệ quả vốn chủ sở hữu của nhà nước tại Ngân hàng có thể bị âm.
So sánh một số chỉ tiêu trung bình năm 2003 của 4 NHTMNN VN với chì tiêu trung bình cùa một ngân hàng tốt theo thông lệ quốc tế:
Bảng 1.5: So sánh hiệu quả kinh doanh của NHTM VN
quốc tế
Ngân hàng TMNN Việt Nam
tài sản có - ROA:
tài sàn cỏ - ROE :
Trang 33Lợi nhuận thấp, nợ quá hạn cao, dẫn tới việc các ngân hàng này không có nguồn trích để có thể tăng đựoc vốn điều lệ và vốn tự có ngoài việc trông chờ vào ngân sách nhà nước vốn dĩ đang rất eo hẹp vì phải tập trung cho các mục tiêu khác Đây chính là một nghịch lý và một bất cập đòi hỏi phải có những biện pháp cải tổ mạnh mẽ theo hướng phát huy cả ngoại lực (Ngân sách Nhà nước hỗ trợ) và nội ỉực của ngân hàng (lợi nhuận tăng, có điều kiện bổ sung, nâng cao năng lực tài chính).
Tình hình sử dụng vốn:
Đến thời điểm 31/12/2000 hầu hết các NHTM NN chỉ mới thực hiên những nghiệp vụ truyền thống (huy động và cho vay trực tiếp), các dịch vụ ngân hàng khác chưa phát triển và chất lượng hoạt động rất yếu kém Nhiều trường hợp cho vay sai nguyên tắc, thiếu kiểm tra giám sát trước trong và sau khi cho vay, đã dẫn tới khả năng thất thoát vốn.
Bảng 1.6: Cho vay nền kinh tế của các NHTM NN
11.715 26%
15.945 24%
Ngân hàng Công thương
Tỷ lệ trẽn tài sản có
24.199 72%
27.646 61%
34.951 61%
Ngân hàng Đầu tư & Phát triển
Tỷ lệ trên tài sản có
21.912 76%
28.201 72%
35.714 74%
Ngân hàng Nông nghiệp & PTNT
Tỷ lệ trên tài sản có
25.453 71%
28.736 78%
39.393 76%
Tổng cộng 4 NHTM NN
Tỷ lệ trên Tài sản có
82.126 61%
96.298 58%
126.003 57%
(Nguồn: Báo cáo thường niên các NHTM NN 1997-2000)
Trang 34Theo bảng số liệu trên, trong cơ cấu tài sản có của các NHTM NN, dư nợ cho vay nển kinh tế chiếm tỷ trọng chi phối, trong đó NHNN & PTNT có tỷ lệ cao nhất Điều này cho thấy các hoạt động sinh lời của các ngân hàng vẫn còn đơn điệu, chủ yếu vẫn dựa vào nghiệp vụ truyền thống là tín dụng, đầu tư Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam mới bước vào quá trình đổi mới cơ chế quản lý
và bắt đầu mở rộng đầu tư , hiộn đại hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, việc tín dụng ngân hàng trở thành một nguồn vốn đầu tư quan trọng cũng ià hợp với quy luật, Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, việc độc canh túi dụng đầu tư cũng sẽ đặt ngân hàng vào trạng thái rủi ro, đặc biệt khi nền kinh té
có những biến động bất thường.
Cùng với việc lập trung hoạt động sinh lời vào tín đụng, đầu tư, hầu hết các NHTM NN đều tập trung vào đối tượng khách hàng là các DNNN (bình quân chiếm tới trên 70% tổng dư nợ cho vay khách hàng) và một tỷ trọng lớn trong dư nợ là cho vay trung - dài hạn Việc tập trung cho 1 đối tượng và với kỳ hạn dài sẽ dẫn tới những rủi ro, nhất là khi bản thân các DNNN cũng đang còn nhiều vấn đề cần giải quyết để có thể hoạt động có hiệu quả và cạnh tranh thắng lợi trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Trang 35Nợ xấu trong hộ thống ngân hàng Viột nam bao gồm ba loại chính: Nợ tín dụng quá hạn, nợ được khoanh lại chờ xử lý và nợ đã được khoanh Mặc dù, so với các nuớc trong khu vực và trên thế giới, tổng số nợ xấu của Việt nam không cao về giá trị, nhưng lại rất nguy hiểm vì sô' nợ quá hạn, nợ khó đòi chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số dư nợ tín dụng, và chiếm tỷ lệ không nhỏ so với vốn điều lệ và vốn hoạt động của các ngân hàng Các khoản nợ xấu đã và đang gây ách tắc nhiều hoạt động ngân hàng, làm cho vốn ngân hàng không luân chuyển được, cản trở thực hiện mục tiêu mở rộng tín dụng cùa các NHTM và mục tiêu tín dụng của ngân hàng trung ương.
Có thể điểm lại một số nét có tính lịch sử của nợ xấu trong thời gian vừa qua Vào nhừng năm 1990, tỷ lệ nợ quá hạn quá cao (trên 20% so với tổng dư nợ), đã gây đổ bể nhiều tổ chức tín dụng và gây ra khủng hoảng toàn diện hệ thống NHTM cổ phần và hợp tác xã tín dụng ở nước ta, gây nên sự bất bình, thiếu tin tưởng vào hệ thống Ngân hàng trong suốt thập kỷ 90 Tiếp theo đó, nhờ
có nhiều biện pháp xử lý kiên quyết tình hình đã được cải thiệnu Tuy nhiên tỷ
lộ nợ xấu vản còn cao Tình trạng nợ xấu của hộ ihống ngân hàng được thể hiện qua các số liệu sau: năm 1991 tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của nền kinh tế là 19,7%; năm 1992: 13,7%; năm 1993: 11,1%; nãm 1994: 6,0%; năm 1995: 7,8%; năm 1996: 9,3%, năm 1997: 12,3%; năm 1998: 13,1%, năm 1999: 13,7%, năm 2000: 12,7%.
Qua các số liệu ưên cho thấy giai đoạn 1991 đến 1994 tình hình nợ xấu được cải thiện rõ rột từ 19,7% xuống còn 6%. Đó là do vào thời điểm này Nhà nước đang xúc tiến xoá bao cấp trong đầu tư và sau khủng hoảng tín đụng, hệ thống ngân hàng và quỹ tín dụng được sắp xếp lại, vì thế tình hình tài chính của
hộ thống ngân hàng đẫ trở nên lành mạnh hơn.
Từ năm 1995, tỷ lệ nợ xấu so vói tổng dư nợ túi đụng lại tăng trở lại Tỷ
lệ nợ xấu của cả khu vực doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) và khu vực tư nhân đều liên tục tăng (năm 1996, tỷ lệ nợ xấu của khu vực DNNN là 11% trên tổng
Trang 36dư nợ cho vay khu vực DNNN và tỷ lệ nợ xấu của khu vực kinh tế tư nhân là 4,2%; năm 1997 tỷ lệ này là 11,9% và 13,5%; năm 1998: 12,4% và 14,2%) Cho đến năm 2000 khi Chính phủ tiến hành tái cơ cấu tài chính các NHTM thì tỷ lệ này mới giảm dẩn, Vào thời điểm cuối nãm 2000, tổng số nợ có vấn đề của khu vực NHTM QD đã lớn gấp 3 lần vốn tự có, trong đó nợ có Tài sản đảm bảo chỉ chiếm 30%.
Trong năm 1995, để xử lý các khoản nợ cùa các doanh nghiệp mà xét thấy không thể thu hồi được, Chính phủ đã phải tính đến giải pháp khoanh nợ
và xoá nợ Tổng số nợ quá hạn của các doanh nghiệp tại các Ngân hàng quốc doanh được Chính phủ cho phép khoanh lại từ năm 1995 trở về trước để xử lý trong đợt tổng thanh toán nợ giai đoạn 2 là 2233,2 tỷ đổng, trong đó: N ợ xấu tại Ngân hàng Ngoại thương lên lưới thanh toán là 1606 tỷ đổng, bằng 18,2% so với tổng số vốn huy động, bao gồm: 570 tỷ đổng đủ điều kiện được xoá, chiếm 35,5% tổng số nợ lên lưới thanh toán; Nợ xấu tại Ngân hàng Công thương là
472 tỷ đồng, bằng 3,6% tổng sô' vốn huy động, bao gồm: 421 tỷ đồng đủ điều kiện được xoá, chiếm 89,2% tổng số nợ lên lưới thanh toán; Nợ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển là 117 tỷ đồng, bằng 7,1% tổng số vốn huy động, bao gổm: 87,5 tỷ đồng đủ điều kiện được xoá, chiếm 74,8% tổng số nợ lên lưới thanh toán; Nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nồng thôn là 38,2 tỷ đồng, bằng 0,2% tổng số vốn huy động, bao gồm: 38,2 tỷ đồng đủ điều kiện được xoá, chiếm 100% tổng số nợ lên lưới thanh toán.
Bất chấp những biện pháp xử lý kiên quyết, tình hình nợ xấu của các ngân hàng vẫn tiếp tục nghiêm trọng Đến cuối năm 1997, tỷ lệ nợ xấu so với tổng dư
nợ tín dụng của hệ thống NHTM NN đã ỉên tới 12,3%, 13,1% vào cuối năm
1998 và 13,7% vào cuối năm 1999 Như vậy, đo tình ừạng tài chính của các doanh nghiệp xấu đi, tỷ lệ nợ xấu đã tăng cao, ảnh hưởng trực tiếp tới tình trạng tài chính của các ngân hàng.
Trang 37So sánh với mức nợ xấu của các nước Đông Á trước khủng hoảng vào khoảng 10-20% tổng dư nợ tín dụng, thì tỷ lệ này của nước ta đã nằm trong khoảng báo động Cơ cấu nợ cũng có xu hướng xấu đi vì tỷ lệ nợ ngắn hạn và nợ bằng n g o ạ i tệ tăng lên Ví dụ, năm 1997, ưong tổng số nợ quá hạn, nợ ngắn hạn chiếm tới 51,8%, nợ ngoại tệ chiếm tới 40,7% trong khi nợ quá hạn dài hạn chi chiếm 6,5% Có thể thấy nợ xấu của NHTMNN và NHTM CP qua các số liệu năm 1998 như sau: Nợ xấu của NHTMNN chiếm 9,4% tổng dư nợ; nợ xấu của NHTMCP là 16,6% và nợ xấu của Công ty Tài chính c ổ phần là 7,7% và Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài là 0,78% Trong khi tỷ lệ nợ quá hạn tại các Ngân hàng Việt Nam khá cao, tại các ngân hàng nước ngoài tỷ lệ này lại thấp, cho thây khả năng quản trị rủi ro của các NH nước ngoài tốt hơn hẳn Tuy nhiên, có một sự thật là các ngân hàng này được hoạt động hoàn toàn theo cơ chế kinh tế thị trường, không chịu sức ép về chính trị trong hoạt động kinh doanh và chỉ cho các công ty nước ngoài và doanh nghiệp liên doanh vay nên độ an toàn cao hơn
Hạ tầng công nghệ lạc hậu & sản phẩm dịch vụ đữn điệu:
Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, thông tin là yếu tố quyết định dẫn đến sự thành công Công nghê thông tin đã đem lại những chuyển biến sâu sắc trong đòi sống kinh tế xã hội và đã thực sự trở thành một công cụ kinh doanh không thể thiếu nếu muốn hội nhập và phát triển Trong bối cảnh đó, bước vào
sự nghiệp Đổi mới, hộ thống ngân hàng Việt Nam phải đối mặt ngay với thực trạng hạ tầng công nghê lạc hậu, hạn chế khả nãng cạnh tranh và kìm hãm việc
mở rộng, phát triển của bản thân ngân hàng Có thể thấy rõ những đặc thù ở cả
4 NHTM NN đó là:
- Nền tảng cống nghệ thấp kém, khả năng ứng dụng công nghệ còn rất hạn chế nếu so sánh vói các nước trong khu vực.
- Công tác triển khai các dự án công nghệ còn yếu và chưa có kinh nghiệm,
Trang 38- Chưa có đủ trình độ để thiết kế hạ tầng tổng thể, nhiều hệ thống ứng dụng tự phát triển và mang tính tạm thời nhằm phục vụ cho yêu cầu kinh doanh trước mắt Vì vậy, viêc kiểm soát gặp nhiều khó khăn và đặt hệ thống trước nhiều rủi ro Do thiếu một hạ tầng kỹ thuật toàn điộn đủ mạnh nên hầu hết các NH Việt Nam nói chung mà tiêu biểu là các NHTM N N không có đủ điều kiện để phát triển hoặc mở rộng các ứng dụng mới.
- Thiếu sự cập nhật thường xuyên các thông tin về công nghê ngân hàng đặc biệt trong bối cảnh công nghệ và dịch vụ ngân hàng liên tục được đổi mới và thay đổi.
- Thiếu vốn đầu tư cho công nghê Mặc dù các ngân hàng đều đã nhận thức được vai trò của công nghệ trong quá trình phát triển ngân hàng song do nguồn vốn còn hạn hẹp khồng thể triểu khai các dự án hiện đại hóa công nghệ trên điộn rộng được.
Ở Việt Nam, do những hạn chế của cơ chế cũ, cùng với việc Hoa Kỳ duy trì cấm vận, các NHTM VN gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với các công nghệ ngân hàng tiên tiến Viộc ứng dụng công nghệ thông tin vào việc việc
xử lý các nghiệp vụ ngân hàng mới chỉ thực sự được bắt đầu vào thập niên 90 của thế kỷ trước Các quy định vé việc tạo lập và sử dụng các dịch vụ ngân hàng đều chỉ được xây dựng dựa trên các giao dịch trực tiếp (face to face) và diễn ra tại các Chi nhánh và Phòng giao dịch Thực trạng công nghệ này dẫn tới việc tổ chức xử lý nghiệp vụ không định hướng theo nhu cầu của khách hàng mà mới chỉ đơn thuần buộc khách hàng phải chấp nhận những gì ngân hàng có.
Một hạn chế nữa của hệ thống NHTM VN nói chung và các NHTM NN nói riêng là đo hạ tâng kỹ thuật chưa cho phép nên toàn bộ dữ liệu về khách hàng mới chỉ được quản lý phân tán, chưa có cơ sở dữ ỉiệu chung Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong các nghiộp vụ mang tính chất nền tảng, có thứ bậc ưu tiên cao nhất vẫn chưa được chú ý đúng mức, ví dụ như hệ thống giao
Trang 39dịch trực t u y ế n x ử lý tức thời ( m ạ n g O n lin e real time), hệ thống q u ả n lý d ữ liệu khách hàng tập trung, hệ thống kế toán chuẩn
Ngoài ra, bên cạnh việc thiếu một chiến lược phát triển công nghệ dài hạn,
hạ tầng kỹ thuật từ máy chủ, mạng nội bộ, đường truyền còn lạc hậu và thiếu thì đội ngũ cán bộ làm công nghệ ngân hàng còn nhiều bất cập cả về số lượng
và chất lượng Đây cũng là mộl trong những ngyuyên nhân hạn chế việc ứng dụng công nghệ mới vào các lĩnh vực hoạt động ngân hàng.
v ề sàn phẩm, dịch vụ ngân hàng:
Mặc dù đã có nhiều chuyển biến, nhưng đến năm 2000 hoạt động của các NHTM Việt Nam vẫn rất đơn điêu, các sản phẩm dịch vụ có thể đếm được trên đầu ngón tay Dịch vụ ngân hàng đơn điộu đi kèm với công nghệ lạc hậu có mối quan hệ nhân quả với nhau: công nghệ lạc hậu vừa là nguyên nhân, vừa là kết quả tất yếu của dịch vụ ngân hàng đơn điệu, kém phát triển Nhưng viêc đổi mới công nghê ngân hàng và phát triển dịch vụ n g â n hàng mới lại phụ thuộc vào nhiều yếu tô' như vốn tự có, trình độ dân trí, mức sống chung của toàn xã hội, thói quen của người dân, cơ sở hạ tầng nói chung, trong đó, yếu tố vốn tự có của bản thân NHTM có ý nghĩa quyết định Để có thể triển khai dịch vụ ngân hàng mới bán lẻ đòi hỏi ngân hàng phải có đầu tư lớn về công nghệ, đặc biệt là
về hệ thống thông tin quản lí và công nghê thanh toán cùng với năng lực quản lí của các nhà quản trị điẻu hành ngân hàng Đây quả là một thách thức lớn đối với hệ thống NHTM NN Việt Nam trong quá trình hội nhập Công nghệ và số lượng sản phẩm dịch vụ, chất lượng nguồn nhân lực có quan hệ chặt chẽ và biện chứng với nhau Bỏ qua yếu tố nguồn nhân lực, thì yếu tố cổng nghệ, số lượng
và chất lượng sản phẩm dịch vụ ngân hàng phụ thuộc chặt chẽ vào nhau Một ngân hàng không thể cung cấp các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại, đa dạng trên một nền lảng công nghộ lạc hậu Công nghệ ngân hàng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất ỉao động và giảm chi phí trong hoạt động ngân hàng Theo tính toán và kinh nghiệm của các ngân hàng nước
Trang 40ngoài, công nghệ thông tin có thể làm giảm tới 76% chi phí hoạt động ngân hàng Nhưng đây là một lĩnh vực đòi hỏi sự đầu tư rất lớn, ví đụ như để xây dựng hệ thống thông tin quản lí cho một NHTM Nhà nước cần phải chi phí tới 500- 600 tỉ VNĐ Ngoài ra, việc ứng dụng công nghệ thổng tin không phải phát huy hiệu quả làm tăng năng suất lao động và giảm chi phí ngay lập tức mà cần phải có một khoảng thời gian nhất định mới phát huy tác dụng Trước đây, khoảng thời gian này tương đối dài, tới 80 năm Ngày nay, nhờ sự phát triển như
vũ bão của công nghệ thông tin và sự ứng dụng công nghệ này một cách đồng
bộ vào nhiều ngành kinh tế, khoảng thời gian này đã được thu hẹp, theo ước đoán của các chuyên gia kinh tế là còn vào khoảng 20 năm Ngành Ngân hàng Việt Nam mới ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động được 10 năm, thêm vào đó là việc đầu tư vào lĩnh vực này còn nhiều hạn chế nên việc phát huy tác dụng của cồng nghệ thồng tin trong các hoạt động ngân hàng chắc chắn ỉà chưa thể có ngay được, trừ một vài hoạt động có thể thấy ngay hiệu quả như công nghệ thanh toán Thêm vào đó, việc đầu tư công nghệ và phát triển dịch vụ đòi hỏi có sự thay đổi về quản lí, cả về cách thức quản ií và trình độ của người quản
lí thì công nghệ mới mới phát huy hiệu qủa
Năng lực quản trị, kỹ năng điều hành, mô hình hoạt động và chất lượng nguồn nhân lực.
* Về cồng tác quản trị và điều hành: Công tác quản trị và điều hành của các NHTM Việt Nam do Hội đồng quản trị và Tổng Giám đốc thực hiện Chức năng, nhiệm vụ cùa Hội đồng quản tn và Tổng Giám đốc NHTM được qui định
rõ trong Luật các Tổ chức tín dụng Việt Nam ban hành ngày 26/12/1997 và có hiệu lực kể từ tháng 10/1998 (Chương 2, Mục 2: Cơ cấu tổ chức của TCTD; Mục 3: Quản trị, điều hành và kiểm soát).
Mô hình quản lý ngân hàng còn nhiều bất cập Hoạt động ngân hàng diễn
ra trong bối cảnh thị trường đầy biến động và rủi ro tiềm ẩn, song ỏ hầu hết các ngân hàng, công tác quản trị rủi ro hiện chưa được quan tâm đúng mức Mô