1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại ở việt nam

65 400 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở lí thuyết, nghiên cứu đi vào phân tích thực trạng của hệ thống NHTM Việt Nam để làm rõ bốn loại rủi ro nội tại mà hệ thống đang gặp phải, đó là rủi ro thanh khoản, rủi ro nợ x

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA KINH TẾ PHÁT TRIỂN

TP Hồ Chí Minh Niên khóa 2008 - 2012

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

-   - Tôi xin cam đoan: Những nội dung trong nghiên cứu này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy Th.S Nguyễn Xuân Lâm Mọi tham khảo dùng trong nghiên cứu này đều được trích dẫn rõ ràng tên tác giả, tên công trình nghiên cứu, thời gian, địa điểm, các tác phẩm, tạp chí và các trang web một cách trung thực Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm qui chế đào tạo, hay gian trá, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Một lần nữa, tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam đoan trên

Sinh viên Huỳnh Thị Yến Nhi

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

-   -

Trong suốt quá trình học tập, thực tập và thực hiện bài nghiên cứu này, ngoài sự cố gắng của bản thân, thì em còn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là các thầy cô ở khoa Kinh tế phát triển, cùng sự hướng dẫn trực tiếp của thầy Nguyễn Xuân Lâm, cũng như các anh chị trong cơ quan thực tập

Vì vậy, trước hết, em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến quí thầy cô trường Đại học Kinh

tế Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là những thầy cô đã tận tình dạy bảo cho em trong suốt thời gian học tập

Em xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Xuân Lâm đã dành rất nhiều thời gian, tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp em hoàn thành đề tài tốt nghiệp này

Em cũng xin chân thành cảm ơn các anh chị tại Ngân hàng Á Châu, Sở Giao Dịch Nguyễn Thị Minh Khai đã tạo điều kiện thuận lợi để em có cơ hội thực tập, học hỏi và trao dồi kinh nghiệm ở môi trường làm việc thực tế

Mặc dù em đã có nhiều cố gắng hoàn thiện nghiên cứu bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi tất cả những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp quí báu của quí thầy cô và các anh chị ở đơn vị thực tập

Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn tất cả!

Huỳnh Thị Yến Nhi

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN

-   -

Trang 5

NHẬN XÉT CỦA ĐƠN VỊ THỰC TẬP

-   -

Trang 6

TÓM TẮT

Nghiên cứu này đặt trọng tâm vào quá trình tái cơ cấu hệ thống NHTM ở Việt Nam Với mục tiêu đó, nghiên cứu trước hết làm rõ một số vấn đề có tính lí luận về quá trình tái cơ cấu Trên cơ sở lí thuyết, nghiên cứu đi vào phân tích thực trạng của hệ thống NHTM Việt Nam để làm rõ bốn loại rủi ro nội tại mà hệ thống đang gặp phải, đó là rủi ro thanh khoản, rủi ro nợ xấu, rủi ro chéo với các thị trường tài sản và rủi ro đạo đức Tiếp theo, nghiên cứu cũng thảo luận về một số bài học kinh nghiệm từ quá trình tái cơ cấu hệ thống NHTM của một số quốc gia trên thế giới Sau cùng, từ thực trạng và bài học kinh nghiệm, nghiên cứu

đề xuất một gói giải pháp nhằm tái cơ cấu hệ thống NHTM Việt Nam, bao gồm: (i) các giải pháp ở cấp độ vĩ mô; (ii) các giải pháp phối hợp giữa vĩ mô với vi mô; và (iii) các giải pháp

ở cấp độ vi mô

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN iii

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN iv

NHẬN XÉT CỦA ĐƠN VỊ THỰC TẬP v

TÓM TẮT vi

MỤC LỤC vii

DANH MỤC HÌNH VẼ ix

DANH MỤC BẢNG ix

DANH MỤC BIỂU ĐỒ ix

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT x

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU i

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu, phạm vi và ý nghĩa của nghiên cứu 1

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.4 Phương pháp nghiên cứu 2

1.5 Cấu trúc của nghiên cứu 2

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ THUYẾT 3

2.1 Một số vấn đề cơ bản về mặt khái niệm 3

2.1.1 „Tái cơ cấu‟ hay „tái cấu trúc‟? 3

2.1.2 Tái cơ cấu hệ thống NHTM 5

2.2 Một số lí thuyết về rủi ro của hệ thống NHTM 6

2.3 Những rủi ro thường gặp trong hệ thống NHTM 9

2.3.1 Rủi ro thanh khoản 9

2.3.2 Rủi ro nợ xấu 10

2.3.3 Rủi ro chéo với các thị trường tài sản 10

2.3.4 Rủi ro đạo đức 11

2.4 Bài học từ cuộc khủng hoảng kép ở Thái Lan năm 1997 12

2.5 Tóm tắt chương 13

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM 15

3.1 Bối cảnh hiện tại 15

3.2 Nhận diện những rủi ro của hệ thống NHTM Việt Nam 18

3.2.1 Rủi ro thanh khoản 18

3.2.2 Rủi ro nợ xấu 21

3.2.3 Rủi ro chéo với các thị trường tài sản 23

3.2.3.1 Rủi ro chéo liên quan đến tín dụng bất động sản 23

3.2.3.2 Rủi ro chéo liên quan đến thị trường chứng khoán 25

3.2.4 Rủi ro đạo đức 26

3.3 Sự cần thiết và cấp bách phải tái cơ cấu hệ thống NHTM Việt Nam 27

3.4 Tái cơ cấu không chỉ đơn thuần là tiến hành hợp nhất các NH nhỏ 29

3.5 Tóm tắt chương 32

CHƯƠNG 4: KINH NGHIỆM TÁI CƠ CẤU HỆ THỐNG NHTM Ở MỘT SỐ NƯỚC 33 4.1 Hàn Quốc 33

4.2 Trung Quốc 34

4.3 Nhật Bản 35

4.4 Thụy Điển 36

Trang 8

4.5 Tóm tắt chương 38

CHƯƠNG 5: CÁC GIẢI PHÁP TÁI CƠ CẤU NHTM Ở VIỆT NAM 39

5.1 Các giải pháp ở cấp độ vĩ mô 39

5.1.1 Cơ cấu lại mục tiêu tăng trưởng kinh tế 39

5.1.2 Cơ cấu lại hệ thống pháp luật tài chính, ngân hàng 39

5.1.3 Các nhóm giải pháp cụ thể 40

5.1.3.1 Nhóm giải pháp tổng thể 40

5.1.3.2 Nhóm giải pháp riêng lẻ cho khối NHTM 42

5.2 Các giải pháp phối hợp giữa vĩ mô và vi mô 45

5.2.1 Về quản trị 45

5.2.2 Về quản lí 45

5.3 Các giải pháp ở cấp độ vi mô 46

5.3.1 Cơ cấu lại năng lực tài chính 46

5.3.2 Nâng cao năng lực quản trị 46

5.3.3 Nâng cao chất lượng nhân sự 46

5.3.4 Tăng cường hàm lượng công nghệ 46

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC HÌNH VẼ

2.1 Sơ đồ chu chuyển tín dụng ở NHTM 9

2.2 Tiến trình xảy ra khủng hoảng dự đoán ở Việt Nam 13

DANH MỤC BẢNG 3.1 Xếp hạng phát triển thị trường tài chính của Việt Nam và các chỉ tiêu cấu thành 16

3.2 Tín dụng NH đối với BĐS châu Á, 1996 24

3.3 Tín dụng NH đối với lĩnh vực BĐS Việt Nam, 2010 24

DANH MỤC BIỂU ĐỒ 3.1 10 quốc gia tăng trưởng ngành NH nhanh nhất 16

3.2 Hệ số CAR của một số ngân hàng, 2011 17

3.3 Cung tiền và tín dụng (% tăng so với cuối năm trước), 2005-2011 18

3.4 Tỉ lệ tín dụng/GDP, 2011 (%) 19

3.5 Tỉ lệ tín dụng/huy động và tín dụng/tài sản, 2011 (%) 19

3.6 Tỉ lệ nợ xấu của hệ thống NH Việt Nam, 2002-2011 21

3.7 Sự tăng trưởng trong chỉ số giá chứng khoán (%), 03/01/2011 - 08/07/2011 25

3.8 Thị phần huy động vốn của các NHTM, 2005-2011 31

3.9 Thị phần cho vay của các NHTM, 2005-2011 31

Trang 10

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ADB Ngân hàng Phát triển châu Á

AMC Công ty quản lí tài sản

BĐS Bất động sản

BHTG Bảo hiểm tiền gửi

CAR Tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu

Trang 11

Chương 1

GIỚI THIỆU

1.1 Đặt vấn đề

Đối với bất cứ quốc gia nào, hoạt động ngân hàng (NH) luôn là huyết mạch của nền kinh

tế Sự ổn định và lành mạnh của hệ thống NH giữ vai trò trọng yếu trong việc ổn định và phát triển kinh tế đất nước Vì vậy, nền kinh tế của quốc gia khó có thể phát triển bền vững khi hệ thống NH tiềm ẩn nhiều bất ổn và hoạt động kém hiệu quả Với thực trạng kinh tế trong nước tồn tại nhiều bất ổn như hiện nay, việc cơ cấu lại hệ thống NH càng là một vấn

đề quan trọng Cũng vì thế mà tại Hội nghị Trung Ương Đảng khóa XI, mục tiêu cơ cấu lại thị trường tài chính với trọng tâm là tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) và các tổ chức tài chính (TCTC) đã được đặt ra

Mặt khác, Việt Nam với mức độ hội nhập ngày càng cao, bên cạnh những lợi ích điều này cũng dẫn đến hậu quả là khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng tài chính thế giới ngày càng tác động mạnh đến hệ thống tài chính trong nước Mặc dù có thể nói nền kinh tế cũng như

hệ thống NH Việt Nam đã cơ bản vượt qua cơn khủng hoảng 2007-2009 Tuy nhiên, trước những biến động phức tạp của nền kinh tế toàn cầu trong khoảng thời gian gần đây, để ổn định và phát triển kinh tế trong nước hiệu quả và bền vững, hệ thống NH cũng cần cải tổ, đổi mới Một mặt, việc tái cơ cấu này là để khắc phục được những yếu kém hiện tại cho phù hợp với tình hình mới, mặt khác là để củng cố hệ thống NHTM, giúp hệ thống tiếp tục phát triển hơn nữa

Mặc dù xác định được vấn đề tái cơ cấu hệ thống NH hiện nay là một mục tiêu quan trọng, tuy nhiên để đưa ra các phương pháp tái cơ cấu nhằm ngăn ngừa một sự đổ vỡ trước mắt

và phục hồi lòng tin thì có nhiều, nhưng quan trọng hơn hết là chúng có ảnh hưởng xấu hoặc làm đảo ngược tiến trình cải cách hay không, có làm lành mạnh hóa hệ thống NH trong dài hạn được không thì vẫn chưa được xác định rõ Vì vậy, ngoài việc phân tích thực trạng khó khăn của hệ thống NH trước mắt, nghiên cứu còn được tiến hành với mong muốn đưa ra những gói giải pháp cần thiết cho quá trình tái cơ cấu trong ngắn hạn cũng như phát triển hệ thống bền vững trong dài hạn

1.2 Mục tiêu, phạm vi và ý nghĩa của nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đạt bốn mục tiêu cơ bản Thứ nhất, chúng tôi sẽ làm rõ một số vấn đề có tính lí luận về tái cơ cấu nói chung và tái cơ cấu hệ thống NHTM nói riêng Thứ hai, nghiên cứu sẽ chỉ rõ những rủi ro nội tại của hệ thống NHTM Việt Nam Thứ ba, mô hình tái cơ cấu NH của một số quốc gia sẽ được tìm hiểu để rút ra bài học kinh nghiệm cho chính Việt Nam Sau cùng, chúng tôi đề xuất một gói giải pháp cho quá trình tái cơ cấu hệ thống NHTM

Với những mục tiêu như thế, nội dung của nghiên cứu sẽ được tiến hành nhằm phân tích thực trạng để nhận diện những rủi ro mà các ngân hàng thương mại trong nước ở Việt Nam đang gặp phải trong những năm gần đây

Nghiên cứu này có những đóng góp cả về mặt lí thuyết và thực tiễn Thứ nhất, hiện nay vẫn chưa có một khái niệm chính thức để tiện cho việc sử dụng thuật ngữ „tái cấu trúc‟ hay

Trang 12

„tái cơ cấu‟ ngân hàng; cũng như nên sử dụng cụm từ „tái cơ cấu hệ thống ngân hàng‟ hay chỉ nói „tái cơ cấu ngân hàng‟ là đã đủ ý nghĩa Vì những thiếu khuyết đó, chúng tôi thảo luận và đưa ra một khái niệm cụ thể cùng cách sử dụng các thuật ngữ trên cho phù hợp Thứ hai, bằng cách liên hệ giữa lí thuyết và thực tiễn, nghiên cứu này là một tài liệu tham khảo cho những độc giả cần tìm hiểu những rủi ro mà hệ thống NHTM Việt Nam đang gặp phải Thứ ba, nghiên cứu này cung cấp những giải pháp thiết thực cho các nhà quản trị NH

và các nhà hoạch định chính sách – những người đang mong muốn tìm ra hướng đi thích hợp cho hệ thống NHTM Việt Nam trong thời gian tới

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu và đáp ứng được những ý nghĩa nêu trên, nghiên cứu này sẽ nỗ lực trả lời các câu hỏi sau đây Thứ nhất, hệ thống NHTM Việt Nam hiện đang gặp phải những rủi ro nội tại như thế nào? Thứ hai, quá trình tái cơ cấu hệ thống NHTM Việt Nam đang đối diện với những thách thức ra sao? Thứ ba, Việt Nam có thể học được gì từ quá trình tái cơ cấu NH của một số quốc gia trên thế giới? Và sau cùng, các giải pháp cần thiết cho quá trình tái cơ cấu hệ thống NHTM Việt Nam là gì?

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sẽ lần lượt điểm lại các lí thuyết và các nghiên cứu có liên quan để làm rõ một

số vấn đề có tính lí luận về việc tái cơ cấu hệ thống NHTM Sau đó, nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả nhằm rút ra được các kết luận hữu ích từ việc so sánh, nhận xét, đánh giá Bên cạnh đó, nghiên cứu còn sử dụng các số liệu thứ cấp từ các nguồn: NHNNVN, WEF, The Banker Database… để phục vụ cho việc phân tích

1.5 Cấu trúc của nghiên cứu

Nghiên cứu này bao gồm 5 chương và được cấu trúc như sau Tiếp theo Chương giới thiệu này, Chương 2 sẽ cung cấp cơ sở lí thuyết để thiết lập khung phân tích Chương 3 sẽ đi vào phân tích thực trạng hệ thống NHTM ở Việt Nam nhằm nhận diện các rủi ro và nêu lên những thách thức chủ yếu cho quá trình tái cơ cấu hệ thống NH hiện nay Các bài học kinh nghiệm từ quá trình tái cơ cấu NH ở một số quốc gia trên thế giới sẽ được đề cập ở Chương 4 Chương 5 sẽ khép lại nghiên cứu bằng việc đề xuất một gói giải pháp cho quá trình tái cơ cấu hệ thống NH Việt Nam và đưa ra kết luận

Trang 13

Chương 2

CƠ SỞ LÍ THUYẾT

Chương 2 sẽ cung cấp cơ sở lí thuyết nhằm thiết lập khung phân tích cho toàn bộ nghiên cứu Mục 2.1 sẽ thảo luận một số vấn đề cơ bản về những khái niệm trung tâm của nghiên cứu này Mục 2.2 điểm lại và đánh giá một số lí thuyết về rủi ro của hệ thống NHTM Những rủi ro thường gặp trong hệ thống này sẽ tiếp tục được làm rõ ở mục 2.3 Mục 2.4 sẽ nhắc lại bài học về cuộc khủng hoảng kép ở Thái Lan năm 1997 để từ đó liên hệ đến trường hợp của Việt Nam trong hiện tại

2.1 Một số vấn đề cơ bản về mặt khái niệm

2.1.1 ‘Tái cơ cấu’ hay ‘tái cấu trúc’?

Hiện nay, „tái cấu trúc NHTM‟ đã và đang là một chủ đề nóng trên các diễn đàn kinh tế cũng như trong các hội thảo khoa học Được thảo luận và nghiên cứu nhiều như vậy, nhưng cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất ý nghĩa trong việc sử dụng thuật ngữ khi bàn

về chủ đề này Một hội thảo được tổ chức với tên gọi “Tái cơ cấu NHTM Việt Nam: cơ hội

và thách thức” thì các bản tin chuyên ngành lại viết với tiêu đề “Tái cấu trúc NHTM Việt Nam sẽ đi về đâu?”, trong khi một nhà nghiên cứu trích dẫn nội dung của hội thảo này trong bài báo khoa học của mình đăng trên một tạp chí kinh tế với tên gọi: “Tái cơ cấu ngân hàng” Vậy, „tái cơ cấu‟ hay là „tái cấu trúc‟? „Tái cơ cấu‟ có giống „tái cấu trúc‟ không? Hai thuật ngữ này là một hay hai? Những câu hỏi như vậy đã được đặt ra khi chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này

Trong từ điển bách khoa Việt Nam không tìm thấy nguyên nghĩa của từ „tái cơ cấu‟ Nhưng theo Wikipedia1: “Tái cơ cấu là việc xem xét và cấu trúc lại một phần, một số phần hay toàn bộ một tổ chức, một đơn vị nào đó, mà thường là một công ty” Ở đây ta có thể xét công ty đó như một ngân hàng

Cụ thể, nhu cầu tái cơ cấu trở nên cấp bách khi hiện trạng của các tổ chức đang gặp nhiều vấn đề trong cơ cấu, hoạt động khiến tổ chức hoạt động không hiệu quả; thậm chí trì trệ, đứng trước nguy cơ tan rã, phá sản Chính vì vậy, việc tái cơ cấu được đặt ra, thậm chí là cấp bách nhất Thể hiện cụ thể khi tổ chức không xác định nổi chiến lược và kế hoạch Hoặc đội ngũ lãnh đạo của tổ chức làm việc không hiệu quả Vì các tố chất, bao gồm tính cách, hiểu biết, kinh nghiệm cá nhân… của đội ngũ lãnh đạo trong một tổ chức đóng một vai trò quan trọng Nên nếu các tố chất này bị thiếu sót, sai lệch hay kém cỏi sẽ kìm hãm nghiêm trọng đến sự phát triển của tổ chức Cơ cấu tài chính chưa phù hợp, chưa chuẩn mực và thiếu các hệ thống, công cụ kiểm soát cần thiết cũng là một trong các nguyên nhân Đây là một lí do mà nhiều tổ chức, đặc biệt là DN hiện nay cần tái cơ cấu nguồn tài chính

để đảm bảo cho DN hoạt động một cách tốt nhất Tiếp theo, tái cơ cấu xuất phát từ căn nguyên yếu kém trong quản trị nguồn nhân sự Có thể nói con người là một yếu tố có tính chất quyết định tới sự thành công của tổ chức và DN và nếu sự yếu kém nảy sinh từ vấn đề này thì cần phải được điều chỉnh kịp thời và phải có định hướng mang tính lâu dài Cuối cùng là do sự phối hợp hoạt động trong tổ chức không hiệu quả do cơ cấu chưa hợp lí Một

1

Xem tại: http://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A1i_c%C6%A1_c%E1%BA%A5u

Trang 14

cơ cấu tổ chức được thiết kế tốt sẽ có khả năng cho phép DN sử dụng các thông tin từ các

bộ phận một cách hiệu quả nhất, và từ đó giúp cho hoạt động phối hợp giữa các đơn vị được chặt chẽ và lãnh đạo điều hành tốt hơn

Vì các tình trạng cần tiến hành tái cơ cấu như đã nêu trên nên có ý kiến cho rằng tái cơ cấu

là việc sắp xếp lại, điều tra, thẩm định, đánh giá lại cơ cấu của các mô hình kinh tế-xã hội, của các tổ chức; trong đó có các doanh nghiệp, ngân hàng Nội dung của tái cơ cấu DN cũng như NH quan tâm đến tính hệ thống và chuyên nghiệp trong phương thức xác định, thành lập loại hình, qui mô, tổ chức sản xuất, kinh doanh, dịch vụ các mối liên doanh, liên kết, các phương thức và kĩ năng điều hành, các định hướng và mục tiêu phát triển Trong điều kiện hiện nay, tái cơ cấu đòi hỏi các DN phải thay đổi tư duy, mạnh dạn và chú trọng sáng tạo trong quản lí, cung cách điều hành, nghiệm thu và đúc kết Tái cấu trúc lại các quá trình tổ chức sản xuất kinh doanh, trên cơ sở đó định hình các loại hình và mô hình, cơ cấu

tổ chức phù hợp với điều kiện và định hướng kinh doanh của DN Qua đó, cần kịp thời xây dựng lại toàn bộ sơ đồ cơ cấu tổ chức, thậm chí thay đổi bề mặt và cả chiều sâu Tái cơ cấu thường quan tâm đến việc xem xét các hệ thống lập kế hoạch kinh doanh, hệ thống quản trị chuỗi cung, maketing và thẩm định chuỗi cầu (quản trị quan hệ khách hàng), hệ thống quản trị nhân lực, và hệ thống quản trị tài chính Như vậy, tuy không nói trực tiếp, nhưng

ta có thể hiểu nhóm ý kiến này xem „tái cơ cấu‟ là bao hàm cả „tái cấu trúc‟, „tái cấu trúc‟

đã nằm trong quá trình „tái cơ cấu‟

Còn về khái niệm „tái cấu trúc‟, một nhóm nghiên cứu khác mà đại diện là Bùi Thị Hồng Thu (2011) lại quan niệm rằng „tái cấu trúc‟ được hiểu là quá trình tổ chức lại DN nhằm tạo ra trạng thái tốt hơn cho DN để thực hiện những mục tiêu đề ra Một chương trình tái cấu trúc toàn diện sẽ diễn ra trên hầu hết các lĩnh vực như cơ cấu tổ chức, nguồn nhân lực,

cơ chế quản lí, điều hành; các hoạt động và các quá trình; các nguồn lực khác của DN Tái cấu trúc cũng có thể được triển khai một phần tại một hay nhiều mảng của DN (tài chính, nhân sự, bán hàng, sản xuất…) nhằm đạt mục tiêu là nâng cao thể trạng của bộ phận đó Đi vào trực tiếp, tái cấu trúc hệ thống NH tại Việt Nam được xác định là cơ cấu lại quản trị, điều hành và cấu trúc lại tình hình tài chính của các NH Đây được coi là nhiệm vụ rất cấp bách không chỉ nhằm bảo vệ và lành mạnh hoá hệ thống tài chính mà còn để củng cố uy tín

và niềm tin với người dân vào hệ thống NH nói riêng và sự điều hành của nhà nước nói chung

Từ đây, chúng tôi nhận thấy có những điểm tương đồng giữa hai thuật ngữ Càng nghiên cứu sâu, chúng tôi càng nhận ra một điều rằng, dù được diễn đạt bằng cách này hay cách khác, dù được gọi bằng tên „tái cơ cấu‟ hay „tái cấu trúc‟ thì hai thuật ngữ này đều mang những đặc điểm, những mục tiêu chung Cả hai đều là quá trình nhận diện, đánh giá, cải tổ, đổi mới, thanh trừng… toàn diện hay từng phần đối với hệ thống NHTM, nhằm làm cho hệ thống trở nên trong sạch, lành mạnh, nâng cao sức mạnh để giúp hệ thống vượt qua khó khăn và phát triển bền vững hơn Nói cách khác, hai thuật ngữ này tuy hai mà một Dù vậy,

để tiện theo dõi và thống nhất về mặt sử dụng thuật ngữ, cụm từ „tái cơ cấu‟ sẽ được sử dụng chính thức trong suốt nghiên cứu này

Bên cạnh đó, giữa hai cụm từ „tái cơ cấu hệ thống ngân hàng‟ và „tái cơ cấu ngân hàng‟ cũng mang đến nhiều tranh luận Một nhóm ý kiến cho rằng, giữa hai cụm từ này hoàn toàn không có gì khác nhau về mặt ý nghĩa, sử dụng cụm từ „tái cơ cấu ngân hàng‟ thay vì

„tái cơ cấu hệ thống ngân hàng‟ chỉ là một cách nói giản đơn Nhưng trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy rằng, cụm từ „tái cơ cấu hệ thống ngân hàng‟ chỉ dùng khi có bằng chứng mất khả năng thanh toán của một bộ phận trong hệ thống NHTM ở một qui mô

Trang 15

nhất định nào đó, mà theo như một số tác giả (Lingren và cộng sự, 1999) thì tương đương với 20% tổng lượng tiền gửi trong hệ thống NH Nếu ở qui mô nhỏ hơn thì cụm từ „tái cơ cấu ngân hàng‟ là chính xác hơn, liên quan đến việc xử lí khả năng mất thanh khoản của từng NH riêng biệt Ở Việt Nam, vì chưa/không có những số liệu đáng tin cậy về rủi ro mất thanh khoản của từng NH và cả hệ thống NH nên sự cần thiết phải tiến hành „tái cơ cấu hệ thống ngân hàng‟ đã chưa được minh chứng đầy đủ (Phan Minh Ngọc, 2011) Tuy nhiên, nếu gọi là „tái cơ cấu ngân hàng‟ thôi thì cũng không đúng Vì theo tình hình thực tế quan sát được, dù chưa có số liệu cụ thể, thì khả năng mất thanh khoản của hệ thống NHTM Việt Nam hiện nay đang diễn biến theo chiều hướng phức tạp, lan rộng và ngày càng nghiêm trọng, nên chỉ tái cơ cấu một vài hay từng NH riêng biệt là quá chủ quan Vì vậy, chúng tôi cho rằng việc sử dụng thuật ngữ „tái cơ cấu hệ thống ngân hàng‟ trong thực trạng kinh tế nước ta hiện nay thì phù hợp hơn

2.1.2 Tái cơ cấu hệ thống NHTM

Như đã thảo luận ở trên, „tái cơ cấu hệ thống NHTM‟ là một khái niệm phù hợp để sử dụng trong thực trạng nền kinh tế Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, cho đến nay, giới học thuật vẫn chưa có một khái niệm chuẩn mực, trọn vẹn ý nghĩa cho việc nghiên cứu về cái gọi là một trong “mười kiến nghị ổn định kinh tế vĩ mô” này Vì vậy, sau quá trình tổng hợp, nghiên cứu nhiều tài liệu cả trong và ngoài nước, chúng tôi tạm đưa ra khái niệm về „tái cơ cấu hệ thống NHTM‟ như sau:

Tái cơ cấu hệ thống NHTM là đưa ra các gói giải pháp và thể chế, tài chính và pháp lí nhằm cứu vãn những NH phá sản, và có nguy cơ phá sản cả về chiều rộng lẫn chiều sâu nhằm khôi phục hệ thống NH trở lại hoạt động bình thường và tiếp tục phát triển hơn.Theo Goyal (2011), thì mục tiêu của quá trình tái cơ cấu bao gồm: mục tiêu ngắn hạn (hay trung hạn) và mục tiêu dài hạn (hay mục tiêu cơ cấu) Trong đó, mục tiêu ngắn hạn gồm có: Thứ nhất, duy trì sự ổn định của hệ thống NH; đảm bảo khả năng chi trả, thanh khoản

và các trung gian tài chính không bị đình trệ Thứ hai, giải quyết các vấn đề một cách kịp thời nhằm ngăn ngừa sự lây lan hay nói cách khác là ngăn ngừa các vấn đề mang tính hệ thống Thứ ba, khôi phục niềm tin vào hệ thống NH; xây dựng mạng an toàn hoạt động Và cuối cùng là tối thiểu hóa chi phí tái cơ cấu bằng cách phối hợp giữa NH trung ương, bảo hiểm tiền gửi (BHTG) và/hoặc chính phủ Đối với mục tiêu dài hạn/cơ cấu, thứ nhất phải thành lập khuôn khổ quản trị mới Thứ hai, tính cạnh tranh và khả năng chống chịu của hệ thống NHTM phải được nâng cao Và cuối cùng là phải tăng cường cơ sở hạ tầng tổng thể của hệ thống tài chính

Ngắn gọn hơn, tái cơ cấu hệ thống NHTM bao gồm 3 mục tiêu chính (Dziobek và Pazarbasglu, 1997) Thứ nhất, khôi phục lại khả năng thanh toán và khả năng sinh lời Thứ hai, nâng cao năng lực làm vai trò trung gian tài chính của các NH Và cuối cùng, khôi phục lại niềm tin của công chúng Trong 3 mục tiêu này, mục tiêu thứ nhất và thứ ba đang

là mục tiêu trước mắt của hệ thống NH nước ta hiện nay Nhưng để phát triển bền vững dài lâu thì mục tiêu thứ hai càng cần được chú ý nhiều hơn nữa

Để phù hợp với tình hình trong nước, NHNN lại khẳng định có 3 mục tiêu chính của quá trình tái cơ cấu Mục tiêu hàng đầu là đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng và quyền lợi của người gửi tiền Thứ hai, quá trình tái cơ cấu được triển khai thận trọng trên nguyên tắc tự nguyện với lộ trình và bước đi cụ thể, thích hợp Đồng thời, chỉ đạo các đơn vị chức năng khẩn trương xây dựng đề án tái cơ cấu nhằm tạo ra một hệ thống

Trang 16

NH hoạt động lành mạnh, hiệu quả, ngày càng phù hợp hơn với các chuẩn mực, thông lệ quốc tế và có khả năng cạnh tranh tốt Song song đó, cơ sở pháp lí cũng phải được chuẩn

bị tốt cho quá trình tái cơ cấu hệ thống NH

NHNN cũng nhấn mạnh rằng, khi thực hiện 3 mục tiêu trên cần phải tránh 2 xu hướng trong quá trình tái cơ cấu hệ thống NHTM và các TCTC: Thứ nhất, cần tránh tư tưởng nóng vội dẫn đến phá bỏ tất cả những bất cập đã và đang phát sinh trong hệ thống các tổ chức tín dụng mà không có bước đi và lộ trình phù hợp; không tính đến các yếu tố chủ quan và khách quan và tính đặc thù rất Việt Nam trong hoạt động của các tổ chức tín dụng Thứ hai, áp dụng cứng nhắc quan điểm „đánh chuột không được vỡ lọ bình‟, thực hiện tái

cơ cấu hệ thống NHTM và các tổ chức tài chính một cách „qua loa, chiếu lệ…‟ dẫn đến toàn bộ hệ thống không được làm mới, không được chấn chỉnh kịp thời và sức khỏe của toàn hệ thống không được cải thiện là bao, dẫn đến không đủ sức chống đỡ các rủi ro hay khủng hoảng trong tương lai

Bên cạnh đó, tái cơ cấu hệ thống NHTM cũng gặp không ít những khó khăn và rủi ro trong quá trình thực hiện (Nguyễn Hồng Sơn, 2011) Một là, rủi ro kéo dài, không dứt điểm do thiếu cơ sở luật pháp, khoa học (cơ sở dữ liệu…) và thiếu năng lực thể chế cho việc tái cơ cấu hệ thống (ví dụ, cơ chế xử lí tài sản) Hai là, rủi ro lệ thuộc vào NH nước ngoài do tỉ lệ các NH ở trong tình trạng thiếu thanh khoản và có tài sản xấu chiếm tỉ trọng lớn; số lượng

NH hoạt động hiệu quả để có khả năng mua lại, thâu tóm ít hơn nhiều so với số lượng các

NH yếu kém Bên cạnh đó còn là vấn đề an ninh tài chính-tiền tệ quốc gia Ba là, rủi ro mất niềm tin đối với hệ thống NH do những NH thuộc sở hữu nhà nước có thể có cơ chế bảo lãnh ngầm đối với người gửi tiền Trong khi đó, các NH tư nhân không được đảm bảo

có thể khiến luồng tiền ồ ạt rút khỏi những NH này, hoặc việc chính phủ đóng cửa một số

NH có thể tạo ra nghi ngờ về sự lành mạnh của những NH khác trong hệ thống Bốn là, khó khăn do những mâu thuẫn về lợi ích phát sinh trong quá trình tái cơ cấu Đó là những mâu thuẫn có liên quan đến lợi ích của người gửi tiền, lợi ích của các nhóm cổ đông khác nhau, lợi ích của các nhóm NH khác nhau; lợi ích người vay;… Năm là, khó khăn do những chi phí phát sinh trong quá trình tái cơ cấu và khả năng chịu đựng của nền kinh tế Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, chi phí cho quá trình tái cơ cấu có thể lên đến từ 20% đến hơn 50% GDP nếu việc tái cơ cấu diễn ra sau khủng hoảng (20% GDP ở Hàn Quốc; hơn 30% GDP ở Thái Lan và hơn 50% GDP ở Indonesia) Sáu là, rủi ro „quá lớn để không thể sụp đổ‟ do một số NH sẽ trở nên „quá lớn‟ hay „quá quan trọng‟ sau khi tái cơ cấu

Để thực hiện các mục tiêu và giải quyết những khó khăn đó, chúng ta cần nắm vững 3 nguyên tắc trong quá trình tái cơ cấu (Nguyễn Hồng Sơn, 2011) Trước hết và quan trọng nhất, cần đảm bảo niềm tin vào hệ thống Nguyên tắc thứ hai, đảm bảo tốc độ cải cách hợp

lí với chi phí tối thiểu Và nguyên tắc cuối cùng, cũng không kém phần quan trọng, đó là phải tôn trọng qui luật thị trường

2.2 Một số lí thuyết về rủi ro của hệ thống NHTM

Hoạt động ngân hàng thường đối diện với những rủi ro đặc thù cho nên đã có rất nhiều nỗ lực nhằm phát triển các lí thuyết về rủi ro của hệ thống ngân hàng thương mại Sau đây chúng ta sẽ điểm lại bốn trong số các lí thuyết đó, đó là: lí thuyết cho vay thương mại, lí thuyết về tính chuyển đổi, lí thuyết lợi tức định trước và lí thuyết thông tin bất cân xứng trên thị trường tín dụng

Trang 17

Theo lí thuyết cho vay thương mại (xem Lê Trung Thành, 2002), thanh khoản của một

NHTM được bảo đảm khi các tài sản của nó được biểu hiện dưới hình thức cho vay ngắn hạn và lưu hoạt trong suốt chu kì kinh doanh Như vậy, các NH chỉ cấp tín dụng cho lưu thông hàng hóa từ sản xuất đến tiêu dùng Ngày nay cho vay dạng này được gọi là cho vay vốn lưu động Thật vậy, vốn lưu động có vòng quay ngắn Do vậy, các DN có thể nhanh chóng hoàn trả nợ vay NH Với khoản trả nợ đó các NH lại thực hiện các khoản cho vay thương mại mới Như vậy, các NH dường như giải quyết được vấn đề thanh khoản Nhưng điều này dẫn tới việc thanh khoản tài sản của NH phụ thuộc vào chu kì kinh doanh của các

DN Vì thế, trong giai đoạn kinh tế suy thoái, sự chuyển đổi hàng hóa ra tiền mặt bị gián đoạn do đó các hãng kinh doanh khó có thể trả nợ vay NH đúng hạn Từ đó, khả năng thanh toán của các NH gặp vấn đề khó khăn Điều này một mặt dẫn đến rủi ro thanh khoản cho NH, một mặt lại góp phần gia tăng rủi ro nợ xấu Vòng quay vốn càng lớn, khoản vay càng chậm thu hồi, nợ nhanh chóng chuyển dần từ nhóm 1-2 sang nhóm 3-4-5 và trở thành

nợ xấu, dẫn đến rủi ro mất vốn là không thể tránh khỏi Mặt khác, việc tuân thủ cứng nhắc

lí thuyết này đã ngăn cản các NH trong việc cấp vốn cho mở rộng nhà máy, trang thiết bị, mua nhà cửa và mua đất đai… Nếu vì hạn chế rủi ro do chu kì kinh doanh mà từ bỏ loại hình tín hụng này sẽ là một thất bại lớn của NH, cũng là một thất bại của thị trường

Để khắc phục phần nào nhược điểm của lí thuyết cho vay thương mại, lí thuyết về khả

năng chuyển đổi (Moulton, 1918) đã ra đời Lí thuyết này được xây dựng trên cơ sở giả

thiết cho là thanh khoản của một NH được duy trì nếu nó giữ các tài sản có thể được chuyển đổi ra tiền mặt dưới nhiều hình thức khác nhau – ví dụ như đối với các khoản vay

có bảo đảm bằng chứng khoán dễ bán, khi nợ vay không được hoàn trả đúng hạn thì các chứng khoán này sẽ được bán trên thị trường để thanh toán nợ Hoặc khi cần thiết các khoản vay có thể được chuyển đổi ra tiền mặt tại NHNN Như vậy, một NHTM nào đó sẽ

có thể đáp ứng các nhu cầu về thanh khoản miễn là nó luôn luôn có các tài sản để bán Xét rộng ra thì toàn bộ hệ thống NH sẽ luôn luôn mang tính thánh khoản miễn là NHNN sẵn sàng mua lại các tài sản của các NHTM dưới hình thức chiết khấu Trên thực tế điều này gặp nhiều khó khăn do NHNN còn bị ràng buộc bởi mục tiêu của chính sách tài chính tiền

tệ quốc gia Cho nên việc chiết khấu hàng loạt các tài sản của NHTM sẽ làm ảnh hưởng đến các mục tiêu như: lượng tiền cung ứng, lạm phát, lãi suất… Bên cạnh đó, khả năng thanh khoản dựa vào lí thuyết này còn vấp phải vấn đề rủi ro chéo đối với các thị trường tài sản Như đã nói, khả năng thanh khoản của NH vẫn được đảm bảo nếu NH còn nắm giữ các tài sản dễ dàng chuyển đổi ra tiền, như chứng khoán, hay BĐS (thời kì khi BĐS còn được xem là tài sản đảm bảo chắc chắn nhất)… Tuy nhiên, giả sử các thị trường này đều gặp khó khăn (như hiện nay), thì tính thanh khoản của NH không những không còn được đảm bảo mà còn gia tăng thêm rủi ro lây lan từ các thị trường khác Vì vậy, khi xét đến lí thuyết này, ta không chỉ xét khả năng rủi ro thanh khoản xảy ra cho NH mà cần xét thêm rủi ro chéo có thể xảy ra cho cả hệ thống

Tiếp tục hoàn thiện cho hai lí thuyết trên, lí thuyết lợi tức định trước của Prochnov (1948,

trích Machiraju 2008) phát biểu rằng thanh khoản của một NH có thể được xác định nếu việc chi trả tiền vay theo lịch định sẵn được dựa trên cơ sở lợi tức tương lai của người vay

Lí thuyết nhấn mạnh triển vọng về việc hoàn trả nợ vay hơn là lệ thuộc vào vật kí quĩ Do

đó, lí thuyết này được áp dụng và phát triển rất nhanh trong một số loại hình cho vay của các NHTM: cho vay kinh doanh có kì hạn, cho vay tiêu dùng trả góp và cho vay BĐS Tất

cả các khoản vay này đều có đặc điểm chung là chúng được trả dần, do đó thanh khoản của

Trang 18

chúng được nâng cao Một khoản cho vay kiểu này được hoàn trả vốn gốc và lãi đều đặn theo từng tháng hay mỗi quí dựa trên cơ sở thu nhập của người đi vay Dường như lí thuyết này đã khắc phục được những điểm yếu của lí thuyết cho vay thương mại khi loại bỏ được rủi ro của chu kì kinh doanh, và nhược điểm của lí thuyết về khả năng chuyển đổi khi gạt

bỏ sự tin cậy vào vật kí quĩ Nhưng lí thuyết này vẫn không gạt được hết rủi ro về thị trường Tương tự với lí thuyết cho vay thương mại, khi thị trường biến động, nguồn thu nhập của khách hàng sẽ trở nên bất ổn, dẫn đến việc thu hồi nợ khó khăn hơn, rủi ro nợ xấu gia tăng, vì vậy rủi ro thanh khoản của NH cũng không thể thoát khỏi Tuy nhiên, lí thuyết lợi tức định trước vẫn có thể được hoàn thiện nếu loại rủi ro này có thể được giảm bớt khi công tác thẩm định khách hàng được tiến hành một cách nghiêm túc và đúng phương pháp

Bổ sung thêm cho ba lí thuyết về rủi ro thanh khoản trong nghiệp vụ của các NHTM là lí

thuyết thông tin bất cân xứng trên thị trường tín dụng của Stiglitz và Weiss (1981, 1983)

Lí thuyết này giả định rằng NH sẽ phải đối diện với rất nhiều người xin vay và họ không thể biết trong số đó ai sẽ là người vay tồi, ai là người vay tốt1

Nói cách khác, NH vấp phải những rào cản về việc thiếu hụt nguồn thông tin cần thiết Thông tin bất cân xứng thể hiện

ở chỗ người vay sẽ biết tốt hơn NH về khả năng hoàn trả Lí thuyết này cũng xảy ra khi người đi vay cố tình che đậy thông tin trong giao dịch nhằm nắm giữ phần lợi hơn trong giao dịch đối với phía ngân hàng Bởi vậy, NH rất có thể gặp phải vấn đề về lựa chọn bất lợi Trong những trường hợp như vậy, điều thường thấy là các NH sẽ „phân phối tín dụng‟

Hai ông lập luận rằng các NH không thể tăng tỉ lệ lãi suất đã tính ngay cả khi đối mặt với một nhu cầu quá mức đối với các quĩ, bởi vì, làm như vậy có thể làm giảm tỉ lệ hoàn trả dự kiến vì xác suất vỡ nợ sẽ tăng Hai lí do được trình bày cho mối quan hệ đối nghịch này là: thứ nhất, lãi suất cao hơn làm giảm tỉ lệ khách hàng vay có rủi ro thấp; thứ hai, lãi suất cao hơn khiến khách hàng vay sử dụng những kĩ thuật rủi ro cao hơn (tác dụng khuyến khích)

với mong muốn mang lại lợi nhuận cao để bù đắp cho chi phí vốn vay

Stiglitz và Weiss cho rằng tài sản thế chấp cũng không loại trừ khả năng phân phối tín dụng Mặc dù, việc tăng yêu cầu tài sản thế chấp làm cho khách hàng vay hoạt động cẩn trọng hơn, đồng thời cũng tăng khả năng hoàn trả cho NH Tuy nhiên, tăng yêu cầu tài sản thế chấp có thể ảnh hưởng bất lợi đến tất cả các loại khách hàng xin vay vốn (khách hàng

„tồi‟ lẫn khách hàng „tốt‟) Ngay cả khi tất cả các cá nhân có hàm hữu dụng như nhau và phải đối mặt với cơ hội đầu tư giống nhau, các cá nhân giàu có hơn sẽ sẵn sàng đưa tài sản thế chấp nhiều hơn và sẽ thực hiện các dự án rủi ro hơn những cá nhân ít giàu có Hơn nữa,

sự giàu có tích lũy được là kết quả của việc chấp nhận rủi ro cộng may mắn Những người thực hiện điều đó là những người đã đánh bạc và chiến thắng Tác dụng phân loại tiêu cực này có thể chi phối tác dụng khuyến khích tích cực Từ đó, NH nhận thấy rằng khi tăng yêu cầu tài sản thế chấp vượt qua điểm giới hạn thì khả năng thu hồi vốn sẽ giảm Điều này

có nghĩa là nếu chi phí đi vay (bao gồm tài sản thế chấp và lãi suất) tăng dần thì những người vay tốt sẽ dần bị buộc phải rời khỏi thị trường Stiglitz và Weiss chỉ ra rằng để giảm thiệt hại do những khoảng cho vay xấu, điều tối ưu đối với các NH là hạn chế khối lượng vay thay vì tăng lãi suất cho vay

1 Người vay tồi thường là những người rủi ro, theo nghĩa họ sẵn sàng dùng tiền đi vay để đầu tư vào những

dự án rủi ro cao với mong muốn thu được lợi ích cao hơn Ngược lại, những người vay tốt thường sẽ đầu tư vào những dự án an toàn hơn nhưng lợi ích thấp hơn

Trang 19

Khía cạnh khác của vấn đế thông tin bất cân xứng trong tín dụng NH đó là tâm lí ỷ lại Với một hệ thống tài chính dựa quá nhiều vào tín dụng NH để phát triển, các nguốn vốn khác còn hạn hẹp thì sự phát triển nóng quá mức của tín dụng NH sẽ dẫn đến một sự liều lĩnh trong hoạt động cho vay mà để lơ là các hoạt động kiểm soát, thẩm định khả năng tài chính Sự cho vay ồ ạt của NH chủ yếu diễn ra do sự dựa dẫm vào hậu thuẫn của nhà nước đối với các tổ chức NH Khi có sự hậu thuẫn của nhà nước, với tâm lí không thể sụp đổ của các NH lớn sẽ tạo nên tâm lí liều lĩnh trong hoạt động cho vay tín dụng của các NH Điều này sẽ làm tăng rủi ro của các NH về tính thanh khoản, rủi ro nợ xấu cũng tăng lên khi cơ chế sàng lọc đã bị bỏ qua Các vấn đề được đề cập của lí thuyết này sẽ trở nên rất hữu ích

để giải thích về rủi ro nợ xấu và rủi ro đạo đức đối với hệ thống NHTM hiện nay

2.3 Những rủi ro thường gặp trong hệ thống NHTM

2.3.1 Rủi ro thanh khoản

Rủi ro thanh khoản là một vấn đề luôn được quan tâm trong mọi giai đoạn phát triển của các NHTM Khái niệm về rủi ro thanh khoản được diễn giải theo một số cách khác nhau trong các tài liệu Theo Koch và MacDonald (2005), rủi ro thanh khoản là sự biến động của thu nhập ròng và thị giá của vốn sở hữu, xuất phát từ khó khăn của NH trong việc huy động ngay lập tức các khoản ngân quĩ sẵn có bằng hình thức vay mượn hoặc bán tài sản Fitch (1997) lại quan niệm rủi ro thanh khoản là rủi ro khi NH thiếu ngân quĩ hoặc tài sản ngắn hạn mang tính khả thi để đáp ứng nhu cầu của người gửi tiền và người đi vay

Trong các tài liệu của Việt Nam, khái niệm về rủi ro thanh khoản được trình bày đơn giản

và dể hiểu hơn Theo Trần Văn Hùng và Lê Văn Thịnh (2008), rủi ro thanh khoản là tình trạng NH không đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn khả dụng (nhu cầu thanh khoản) Tình trạng này nhẹ thì gây thua lỗ, hoạt động kinh doanh bị đình trệ, nặng thì làm mất khả năng thanh toán dẫn đến sự phá sản của NH Nhất quán với quan niệm của Fitch (1997), Trương Quang Thông (2010) cũng cho rằng rủi ro thanh khoản là rủi ro mà NH thiếu khả năng chi trả, không chuyển đổi kịp thời các tài sản ra tiền hoặc không có khả năng vay mượn để đáp ứng nhu cầu các hợp đồng phải thanh toán

Vì đây là loại rủi ro đặc trưng và phổ biến của NHTM, nên chúng ta cần hiểu rõ bản chất

và có thể hình dung khái niệm này bằng sơ đồ đơn giản sau:

Hình 2.1 Sơ đồ chu chuyển tín dụng ở NHTM

Trang 20

Ở giai đoạn (1), khách hàng (người có vốn nhàn rỗi) gửi tiền vào NHTM Trong giai đoạn (2), sau khi lập khoản dự trữ bắt buộc theo qui định của NHNN và các khoản dự phòng khác, NHTM đem số tiền còn lại cho khách hàng (người có nhu cầu về vốn) vay Đến kì đáo hạn, NHTM thu nợ (3) từ khách hàng đi vay rồi trả nợ (4) cho khách hàng gửi tiền1

Theo sơ đồ này, rủi ro thanh khoản xuất hiện khi (4) xảy ra trước (3) Trong trường hợp đó, NHTM bắt đầu thiếu khả năng chi trả, và rộng hơn là NH không kịp chuyển đổi các tài sản

ra tiền hoặc không có khả năng vay mượn để đáp ứng nhu cầu thanh toán

2.3.2 Rủi ro nợ xấu

Hiện nay chưa có một khái niệm chính thức về rủi ro nợ xấu Theo Qui định về Phân loại

nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lí rủi ro tín dụng trong hoạt động NH của tổ chức tín dụng2

thì „nợ xấu‟ là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 qui định tại Điều 6 hoặc Điều 7 của Qui định này (xem Phụ lục 1) Bên cạnh đó, Qui định này cũng đề cập đến khái niệm „rủi ro‟ với nội dung như sau: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động NH của tổ chức tín dụng (sau đây gọi tắt là „rủi ro‟) là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động NH của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.”

Cùng quan điểm đó, những người hoạt động chuyên ngành cho rằng rủi ro là một biến cố không mong đợi gây thiệt hại cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng Những người nghiên cứu chuyên ngành, tiêu biểu có Lê Thị Mận và Hoàng Thị Lan Phương (2010) thì quan niệm: Rủi ro tín dụng là những rủi ro do khách hàng vay không thực hiện đúng các điều khoản của hợp đồng tín dụng, với biểu hiện cụ thể là khách hàng chậm trả nợ, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoản gốc và lãi vay, gây ra những tổn thất về tài chính và khó khăn trong hoạt động kinh doanh của NHTM

Trên cơ sở kết hợp qui định về phân loại nợ và khái niệm „rủi ro‟ nêu trên, cùng với những hiểu biết tổng hợp được từ các tài liệu, tạp chí chuyên ngành, chúng tôi đưa ra khái niệm

về rủi ro nợ xấu như sau: Rủi ro nợ xấu là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động NH của

tổ chức tín dụng, do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa

vụ của mình theo cam kết Những biểu hiện cụ thể của rủi ro nợ xấu là khách hàng chậm trả nợ, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoản gốc và lãi vay, gây ra những tổn thất về tài chính và khó khăn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Và xuyên suốt nghiên cứu này, „rủi ro nợ xấu‟ sẽ được đề cập với ý nghĩa vừa nêu

2.3.3 Rủi ro chéo với các thị trường tài sản

Các NHTM thường cho vay hoặc đầu tư vào các thị trường tài sản, bao gồm thị trường BĐS và TTCK Chúng tôi cho rằng rủi ro chéo xảy ra khi một phần lớn tín dụng, thậm chí

là các khoản đầu tư của các NHTM trở thành nợ khó đòi hoặc bị „kẹt‟ trong các thị trường tài sản Khi thị trường BĐS „đóng băng‟ và TTCK thoái trào thì tình trạng khó khăn này sẽ tác động lây lan sang cả khu vực ngân hàng, làm cho loại rủi ro này tăng cao Tình trạng xấu nhất có thể làm cho toàn bộ thị trường tài chính bị lũng đoạn

Loại rủi ro này không chỉ diễn ra một chiều – từ các thị trường tài sản sang khu vực NH –

mà còn diễn ra theo chiều ngược lại Nói cách khác, rủi ro từ khu vực NH cũng có thể tác động tiêu cực đến thị trường BĐS và TTCK Khi ngân hàng gặp khó khăn, các khoản đầu

1

Có kèm thêm lợi nhuận và chi phí cho các khoản cho vay và vay của NH

2 Ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN

Trang 21

tư trực tiếp hay gián tiếp, công khai hay ngấm ngầm, cũng như các khoản tín dụng cung cấp cho các thị trường này đều bị ngắt mạch Theo kịch bản như vậy, việc các thị trường tài sản rơi vào tình trạng khó khăn là điều không thể tránh khỏi

Một đặc trưng nổi bật nhất của khu vực ngân hàng là sở hữu chồng chéo Cụ thể là, NH sở hữu tập đoàn, tập đoàn sở hữu NH, NH sở hữu công ty tài chính, rồi công ty tài chính lại sở hữu tập đoàn (bao gồm cả tập đoàn tư nhân và tập đoàn nhà nước) Hiện tượng này dẫn đến việc cho vay theo mối quan hệ, cho vay theo nhóm lợi ích và cuối cùng dẫn đến việc cho vay không đảm bảo được hiệu quả (Vũ Thành Tự Anh, 2012) Trong khi đó, mục đích quan trọng của tái cơ cấu hệ thống NHTM là tăng cường tính hiệu quả Như vậy, để thực hiện tái cơ cấu thì nhất thiết phải giải quyết vấn đề sở hữu chéo Trên lí thuyết là vậy nhưng khi bắt tay vào thực hiện lại không dễ dàng chút nào Khó khăn của việc sở hữu chồng chéo là khi động đến bất kì cái „nút‟ nào cũng đều ảnh hưởng đến cả hệ thống Đây có thể nói là loại rủi ro lớn nhất và khó giải quyết nhất đối với quá trình tái cơ cấu

Chúng ta biết rằng người đi vay bao giờ cũng hiểu rõ mục đích sử dụng thực của những khoản vay trong khi người cho vay (NHTM) thì khó hiểu rõ Để giảm thiểu vấn đề bất cân xứng thông tin này, các NHTM thường ưu tiên cho vay đối với các khách hàng có tài sản thế chấp Tuy nhiên, để đẩy nhanh con số tín dụng, nhiều NHTM chấp nhận mạo hiểm khi tham gia vào lĩnh vực cho vay tín chấp Trong trường hợp đó, rủi ro tiềm ẩn thường sẽ tăng lên khi NH khó bao quát, thẩm định việc sử dụng đồng vốn của người đi vay

Bên cạnh đó, việc cho vay theo mối quan hệ, cho vay theo nhóm lợi ích cũng góp phần gia tăng rủi ro đạo đức Vì đạo đức nghề nghiệp của người thực hiện công tác thẩm định, cho vay đã bị che mờ bởi những lợi ích trước mắt; hoặc những nhóm này cố tình lờ đi những nguy cơ tiềm tàng sau đó Một trường hợp điển hình khác là việc bảo lãnh tín dụng của chính phủ cho các DNNN, hay việc NHTM cung cấp các khoản tín dụng „mềm‟ cho các DNNN theo yêu cầu của chính phủ,… Vì được bảo đảm ngầm, cùng với mức lãi suất ưu đãi, các DNNN sử dụng vốn vay vô cùng bất cẩn Điều này đã dẫn đến việc rủi ro đạo đức tăng cao không thể khống chế

Như vậy, rủi ro đạo đức trong các hoạt động giao dịch vay nợ là quá phổ biến và tiềm ẩn nhiều nguy cơ Do đó, ngoài việc đề cao tầm quan trọng của việc quản lí rủi ro thanh khoản, rủi ro nợ xấu, rủi ro chéo với các thị trường tài sản trong quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thì việc kiểm soát rủi ro đạo đức cũng là một vấn đề nổi cộm Đây quả thật là một loại rủi ro rất đáng quan tâm Loại rủi ro này không chỉ đặt ra cho hệ thống NHTM câu hỏi về việc giám sát việc sử dụng đồng vốn của khách hàng như thế nào cho chặt chẽ, mà còn đặt ra cho các nhà nghiên cứu nhiều câu hỏi xung quanh việc ngăn chặn tận gốc loại rủi ro này

Trang 22

2.4 Bài học từ cuộc khủng hoảng kép ở Thái Lan năm 1997

Với bốn loại rủi ro trên cùng nhiều bất ổn trong hệ thống, một nguy cơ về khủng hoảng

NH dẫn đến khủng hoảng tiền tệ tạo thành một cuộc khủng hoảng kép là một viễn cảnh hoàn toàn có thể xảy ra Để nhận diện rõ hơn nguy cơ này, ta sẽ tìm hiểu về nguyên nhân của cuộc khủng hoảng Thái Lan năm 1997 như là một minh họa điển hình

Diễn biến của một cuộc khủng hoảng tiền tệ thường bắt nguồn từ một hệ thống tài chính bị

áp chế, lãi suất được kiểm soát ở dưới mức cân bằng để giảm chi phí cho vay Chính phủ đồng thời duy trì một mức thâm hụt ngân sách lớn, thường được tài trợ bởi vay nước ngoài Thâm hụt ngân sách cao, lạm phát gia tăng nhưng tỉ giá hối đoái lại được cố định Điều đó

có nghĩa là chính phủ phải sử dụng dự trữ ngoại tệ để bảo vệ tỉ giá hối đoái (Beim và Calomiris, 2001) Đó dường như là những điều đã diễn ra ở Thái Lan trước năm 1997 Chỉ khác là NH Thái đã bắt đầu chính sách tự do hóa tài chính từ năm 1990 Bên cạnh đó, nước này còn tiến hành một hệ thống tỉ giá cố định nhằm ổn định tâm lí và thu hút nhà đầu tư nước ngoài Vậy là Thái Lan đã thực hiện hai trong số ba điều của „bộ ba bất khả thi‟ Trong khi đó, sức ép tăng giá nội tệ lại thường trực đe dọa cán cân thương mại của Thái Lan Do đó, để bảo vệ tỉ giá cố định, các ngân hàng trung ương Thái đã thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng Kết quả là cung tiền tăng gây ra sức ép lạm phát Chính sách vô hiệu hóa đã được áp dụng để chống lạm phát, vô hình chung lại đẩy mạnh các dòng vốn nước ngoài chảy vào nền kinh tế Một vòng luẩn quẩn mà nước này không tài nào thoát ra được khi cố gắng thực hiện „ba điều không thể xảy ra đồng thời‟ Cuối cùng, khi dự trữ ngoại hối cạn kiệt, đồng thời người ta tin rằng chính phủ không còn đủ khả năng để giữ cho tỉ giá

cố định, những cuộc tấn công đầu cơ liên tiếp xảy ra và sau đó là việc rút vốn đồng loạt của các nhà đầu tư tự do Đồng baht mất giá trầm trọng Ngày 02/07/1997, chính phủ buộc phải từ bỏ tỉ giá hối đoái cố định và để đồng nội tệ phá giá Khủng hoảng tiền tệ bùng nổ Tình trạng bong bóng BĐS và chứng khoán cũng là một trong số những nguyên nhân gây

ra khủng hoảng Thái Lan Cũng trong thời gian đó, do sự tăng trưởng cao và liên tục, kết hợp với nguồn cung tín dụng mở rộng của các định chế tài chính đã dẫn đến sự đầu cơ tràn lan vào nhiều loại tài sản, mà đặc biệt là BĐS và chứng khoán Do vậy, giá của các loại tài sản này tăng rất nhanh, lên đến mức cao và không bền vững Các tổ chức tài chính có thể định giá bất cẩn và cho vay lớn hơn cả năng suất sản xuất đối với các DN Bên cạnh đó, lãi suất cao trong thời gian chính phủ bảo vệ tỉ giá buộc các tổ chức tài chính lẫn các đối tượng đi vay lâm vào tình thế khó khăn, tỉ lệ nợ xấu gia tăng đột biến, thiếu hụt thanh khoản càng thêm trầm trọng Hàng loạt công ty tài chính của Thái Lan phá sản trước cả khi phá giá đồng baht Và khi đồng baht bị phá giá, trách nhiệm nợ phải trả tính ra đồng nội tệ của các khoản nợ nước ngoài tăng vọt, kéo theo sự phá sản của nhiều DN và tổ chức tài chính Khủng hoảng tiền tệ lúc này đã kéo theo khủng hoảng ngân hàng và tạo thành một cuộc khủng hoảng kép

Như vậy, khủng hoảng kép ở Thái Lan không phải bùng nổ trong một sớm một chiều mà

nó đã âm ỉ, tích lũy dần các yếu tố hiểm nguy từ lâu Ngoài các nhân tố vĩ mô bất ổn, đó còn là sự lớn dần của các ung nhọt trong hệ thống tài chính Thứ nhất là lãi suất cao để kiềm chế lạm phát, bảo vệ tỉ giá nhưng lại dẫn đến rủi ro thanh khoản, nợ xấu gia tăng Thứ hai, bong bóng tài sản làm cho thị trường tài chính phát triển nhanh chóng giả tạo, nên đến khi đỗ vỡ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng là rủi ro chéo của NH với các thị trường BĐS

và chứng khoán gia tăng Thứ ba là rủi ro đạo đức, tâm lí „quá lớn để thất bại‟ dẫn đến cho

Trang 23

vay bất cẩn, thiếu kiểm soát, hoặc do hành vi ưa thích kinh doanh mạo hiểm dẫn đến gia tăng rủi ro cho hệ thống NH

Nếu các yếu tố trên là một trong những nguyên nhân góp phần tạo nên cuộc khủng hoảng trầm trọng ở Thái Lan năm 1997, thì xét hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn gần đây cũng đang tiềm ẩn những rủi ro tương đồng như vậy (những rủi ro này sẽ được nhận diện

và làm sáng tỏ hơn ở Chương 3) Tuy nhiên, nếu khủng hoảng ở Thái Lan bắt đầu từ khủng hoảng tiền tệ rồi dẫn đến khủng hoảng NH thì ở Việt Nam, nếu xét theo thực trạng hiện tại, khủng hoảng có thể xảy ra theo chiều hướng ngược lại Khủng hoảng NH sẽ nhanh chóng

nổ ra nếu không có tái cơ cấu hệ thống kịp thời, kéo theo đó là khủng hoảng tiền tệ, nếu không ngăn chặn đúng lúc, hậu quả khôn lường có thể xảy ra là một cuộc khủng hoảng kép (xem Hình 2.2) Một viễn cảnh không hề tốt đẹp mà bất cứ nhà nghiên cứu kinh tế nào cũng cần phải chú ý!

Hình 2.2 Tiến trình xảy ra khủng hoảng dự đoán ở Việt Nam

2.5 Tóm tắt

Với cơ sở lí thuyết mà chương 2 mang lại, khái niệm và cách thức sử dụng thuật ngữ „tái

cơ cấu hệ thống NHTM‟ đã được thống nhất và làm sáng tỏ Chương 2 cũng mang đến bộ

ba lí thuyết về rủi ro thanh khoản và lí thuyết thông tin bất cân xứng trong thị trường tín dụng, cùng việc tổng hợp, phân tích làm sáng tỏ các khái niệm về những rủi ro thường gặp trong hệ thống NHTM, điều này sẽ tạo nền tảng cho việc phân tích thực trạng hệ thống NHTM Việt Nam ở chương tiếp theo Kết hợp những rủi ro và tình trạng bất ổn hiện nay, viễn cảnh về một cuộc khủng hoảng kép đe dọa đến nền kinh tế nước ta khi liên hệ đến cuộc khủng hoảng Thái Lan năm 1997 đã đưa cho chúng ta một lời cảnh báo đáng lo lắng

KHỦNG HOẢNG TIỀN TỆ

Trang 25

Chương 3 THỰC TRẠNG HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM HIỆN NAY

Chương 3 đi vào phân tích thực trạng của hệ thống NHTM Việt Nam nhằm tìm hiểu những nguyên nhân cơ bản gây ra tình trạng bất ổn cho hệ thống hiện nay, để từ đó đưa ra các giải pháp cần thiết cho quá trình tái cơ cấu Mục 3.1 giới thiệu bối cảnh hiện tại của hệ thống NHTM, điểm lại những thành tựu và hạn chế của hệ thống NHTM trong những năm qua Mục 3.2 lần lượt nhận diện bốn loại rủi ro chính mà hệ thống NHTM đang gặp phải, đó là rủi ro thanh khoản, rủi ro nợ xấu, rủi ro chéo với các thị trường tài sản và rủi ro đạo đức Sự cần thiết và cấp bách phải tái cơ cấu hệ thống NHTM sẽ được trình bày ở Mục 3.3 Cuối cùng, Mục 3.4 thảo luận về định hướng của quá trình tái cơ cấu theo nghĩa rằng tái cơ cấu không chỉ đơn thuần là hợp nhất các NH nhỏ

3.1 Bối cảnh hiện tại

Hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam gần đây đã phát triển khá mạnh, chất lượng cũng không ngừng được nâng lên: tổng tài sản của các ngân hàng thương mại tăng rất nhanh, hiện chiếm 1,7 lần GDP cả nước, với qui mô tiền gửi vào khoảng 2.400 nghìn tỉ đồng và qui mô tín dụng khoảng 2.500 nghìn tỉ đồng Tuy vậy, với dân số gần 80 triệu người và mức thu nhập bình quân 1.152USD/người/năm, đã đạt tới mức thu nhập trung bình thấp của thế giới, thì tỉ lệ người dân sử dụng các sản phẩm NH vẫn đang còn rất hạn chế, nhất là dịch vụ NH hiện đại Bình quân cả nước mới có khoảng 50-60% dân số có tài khoản trong các NHTM, nên còn nhiều dư địa để phát triển Hơn nữa, với sự tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người và sự phát triển của các DN, điều này sẽ tạo ra thị trường đầy tiềm năng cho các NHTM, nhất là thị trường dịch vụ NH bán lẻ Bên cạnh đó, đây cũng là một thị trường đầy cơ hội cho các NH nước ngoài Trong những năm gần đây, do Việt Nam thực hiện các cam kết quốc tế về lĩnh vực tài chính-tiền tệ, như: nới lỏng các qui định đối với các tổ chức tài chính nước ngoài về việc mở chi nhánh và các điểm giao dịch;

dỡ bỏ các hạn chế về huy động tiền gửi bằng tiền đồng Việt Nam… đã tạo cho các ngân hàng nước ngoài và chi nhánh ngân hàng nước ngoài khả năng mở rộng cung cấp sản phẩm, dịch vụ tại Việt Nam

Không những thế, hệ thống NHTM Việt Nam trong thời gian qua còn đạt được những kết quả tích cực về phát triển dịch vụ NH Các NH bắt đầu quan tâm và tập trung khai thác thị trường bán lẻ như: đẩy mạnh hiện đại hóa công nghệ NH, phát triển các loại hình dịch vụ mới đa tiện ích như máy ATM, Internet banking, home banking, PC banking, mobile banking… Điều đó đã đánh dấu bước phát triển mới của thị trường dịch vụ NH tại Việt Nam, và cũng sẽ là cơ sở để phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt nhằm tăng

tỉ trọng nguồn vốn huy động từ dân cư khoảng 35-40% tổng vốn huy động hiện nay lên 60% trong những năm tới

50-Một mặt khả quan khác cần được nhắc đến là tổng tài sản của ngành NH Việt Nam đã tăng gấp 2 lần trong giai đoạn 2007-2010 (từ 1.097 nghìn tỉ đồng (tương đương 52,7 tỉ USD) lên 2.690 nghìn tỉ đồng (128,7 tỉ USD) ) và dự báo sẽ tăng lên 3.667 nghìn tỉ đồng (175,4 tỉ USD) vào năm 2012 (IMF, 2011) Còn theo đánh giá của The Banke (2011), Việt Nam đang nằm trong top 10 quốc gia có tốc độ tăng tài sản ngành NH nhanh nhất thế giới (xem Biểu đồ 3.1)

Trang 26

Biểu đồ 3.1 10 quốc gia tăng trưởng ngành NH nhanh nhất

Nguồn: The Banker Database (2011) Tuy vậy, tính hiệu quả hoạt động của ngành NH vẫn chưa tương xứng với qui mô của nó Hiện nay, hệ thống NH Việt Nam có khoảng 80 NH lớn, nhỏ Tuy số NH nhiều như vậy, nhưng các chỉ tiêu về phát triển NH lại chưa cao (xem Bảng 3.1) Hệ số sử dụng tiền mặt trong nền kinh tế còn rất lớn Tỉ lệ người dân có tài khoản NH và hệ số giao dịch qua NH còn thấp Quan trọng hơn nữa, chất lượng và công nghệ của NH Việt Nam hiện nay vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của quốc tế Việt Nam vẫn còn áp dụng những chuẩn mức NH riêng biệt, chưa phù hợp với các tiêu chuẩn toàn cầu

Bảng 3.1 Xếp hạng phát triển thị trường tài chính của Việt Nam

và các chỉ tiêu cấu thành Thứ hạng tổng thể trên tổng số 139 quốc gia 65

Khả năng đáp ứng của dịch vụ tài chính 72

Tài chính thông qua thị trường vốn địa phương 35

Trang 27

Chất lượng tài sản được tính bằng tỉ lệ nợ xấu khoảng 2,16% năm 2010 và tăng lên 3,1% trong năm 2011 (NHNN, 2012) Nhưng, trong đó có nhiều khoản nợ xấu là nợ thuộc nhóm

5 – nợ mất vốn (chiếm tới 47%), điều này phản ánh chất lượng tài sản của các NHTM Việt Nam hiện nay là đáng lo ngại Từ đó, yêu cầu tái cơ cấu tài chính để lành mạnh hóa chất lượng tài sản của các NHTM là vấn đề cấp thiết cần đặt ra trong thời gian tới

Ngoài ra, việc chạy đua tăng vốn điều lệ theo Quyết định 141 của chính phủ gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng quản trị của các NHTM Với qui mô vốn tăng rất nhanh (300-400% trong vòng 3-4 năm), buộc các NHTM phải tăng tổng tài sản lên tương ứng, trong khi năng lực quản lí ở cấp cao cũng như chất lượng nguồn nhân lực không được cải tiến đáng kể, hệ thống kế toán không minh bạch, nền tảng công nghệ còn hạn chế Tất cả những điều đó ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng quản lí và chất lượng tài sản của các NH Bên cạnh đó, xoay quanh tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) cũng có nhiều phức tạp Theo

số liệu tổng hợp của Bloomberg và VCBS (2011), tỉ lệ CAR của các NHTM trong nước ở mức khá ổn, trên 9% (xem Biểu đồ 3.2) Tuy nhiên, mức độ cụ thể lại rất khác nhau giữa các NH Một nghịch lí là các NH có qui mô vốn điều lệ càng lớn thì lại có CAR càng nhỏ CAR của nhóm các NHTM nhà nước chỉ ở mức 6,9% trong khi CAR của nhóm các NHTM cổ phần qui mô nhỏ (3.000 tỉ đồng) lại ở mức 26,5% Thêm vào đó, nếu phân loại

nợ xấu theo đúng chuẩn quốc tế và thực hiện trích lập dự phòng đầy đủ trên số nợ xấu này,

có các biến động vĩ mô từ sự tác động của các chính sách kinh tế trong nước lẫn những biến động đến từ bên ngoài Với thực trạng như vậy của các NHTM Việt Nam, vấn đề tái

cơ cấu hệ thống NH được đặt ra với sức nóng đang thật sự ngày càng tăng

1

Do CAR = Vốn tự có/Tổng tài sản có rủi ro, nên dự phòng tăng sẽ làm giảm lợi nhuận luỹ kế, dẫn tới giảm vốn tự có, từ đó làm giảm CAR

Trang 28

3.2 Nhận diện những rủi ro của hệ thống NHTM Việt Nam

3.2.1 Rủi ro thanh khoản

Năm 2011, hệ thống NH Việt Nam phải đối mặt với rủi ro thanh khoản nghiêm trọng và kéo dài nhất trong thời gian qua, khiến các mức lãi suất luôn ở mức cao nhất trong khu vực Cho đến cuối tháng 08/2011, lãi suất cho vay trung bình kì hạn 1 năm của Việt Nam cao gấp 3 lần mức lãi suất tương ứng của Trung Quốc và các nước ASEAN (ngoại trừ Indonesia)

Biểu đồ 3.3 Cung tiền và tín dụng (% tăng so với cuối năm trước), 2005-2011

tư cho nền kinh tế vẫn chủ yếu dựa vào tín dụng NH Để tăng vốn đầu tư dưới áp lực của chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế, Việt Nam đã thực thi nhiều chính sách kích thích tăng trưởng kinh tế thông qua nới lỏng tiền tệ và tài khóa trong thời gian dài, theo đó, cung tiền và tín dụng luôn tăng trưởng ở mức cao (xem Biểu đồ 3.3) Hệ thống NH luôn ở trạng thái tối đa công suất và tăng trưởng quá nóng với tỉ lệ tín dụng/GDP của nền kinh tế đang ở mức cao

so với khu vực (xem Biểu đồ 3.4)

1

Năm 2007, tỉ lệ vốn đầu tư/GDP của Việt Nam chỉ thấp hơn so với Trung Quốc (44,2%), nhưng cao hơn nhiều so với Hàn Quốc (29,4%), Thái Lan (26,8%), Indonesia (24,9%), Malaysia (21,9%), và Philippines (15,3%) Qua các năm, tỉ trọng này đều có xu hướng giảm ở hầu hết các nước, trong khi ở Việt Nam lại tăng mạnh và luôn duy trì ở mức cao Về số tuyệt đối, nếu tính theo giá so sánh 1994, tổng vốn đầu tư xã hội đã tăng từ 115 nghìn tỉ đồng (năm 2000) lên 371 nghìn tỉ đồng (năm 2009), bình quân mỗi năm tăng 13,9% Riêng năm 2010, vốn đầu tư xã hội đã tăng 17,1% so với năm 2009 (Tô Trung Thành, 2011)

Trang 29

Biểu đồ 3.4 Tỉ lệ tín dụng/GDP, 2011 (%)

117.7 42.6

27.5

114.3 31.4

106.3 69

đã giảm mạnh, từ 36,3% GDP năm 2006 xuống còn 27,0% năm 2011 trong khi vốn đầu tư gia tăng ở mức cao (chiếm 39-44% GDP) Chênh lệch tiết kiệm-đầu tư của nền kinh tế còn thể hiện ở chênh lệch lớn giữa huy động-tín dụng của hệ thống NH Tỉ lệ tín dụng/huy động của Việt Nam ở mức rẩt cao (130,7%) so với các nước trong khu vực (trung bình khoảng 70-80%) (xem Biểu đồ 3.5) Tỉ lệ tín dụng/tài sản của Việt Nam (76,6%) hiện cũng đứng ở mức cao nhất so với các nước Đông Nam Á, Trung Quốc và Ấn Độ Rõ ràng là tình trạng hệ thống NH căng mình để cung cấp tín dụng qui mô lớn cho nền kinh tế trong khi tiết kiệm và huy động lại ở mức thấp trong thời gian dài đã đặt hệ thống NHTM vào rủi ro lớn về thanh khoản

Biểu đồ 3.5 Tỉ lệ tín dụng/huy động và tín dụng/tài sản, 2011 (%)

Nguồn: BMI (2011) Thêm vào đó là sự hiện diện của rất nhiều NHTM cổ phần qui mô nhỏ, quản trị rủi ro kém

và ít theo thông lệ quốc tế khiến thanh khoản hệ thống càng khó khăn hơn Trong số gần

50 NHTM trong nước thì riêng 12 ngân hàng lớn nhất đã chiếm đến hơn 80% thị phần, còn lại khoảng gần 40 NH (80% số NH) chia nhau gần 20% thị trường nhỏ bé còn lại Tổng tài

Trang 30

sản của cả hệ thống NH đạt khoảng 3,5 triệu tỉ đồng và vốn điều lệ đạt trên 250 nghìn tỉ đồng, thì riêng NH qui mô lớn nhất đã có tổng tài sản lên tới hơn 500 nghìn tỉ đồng (chiếm 14,3%), với vốn điều lệ hơn 20 nghìn tỉ đồng (chiếm 8%), trong khi rất nhiều NHTM nhỏ chỉ có vốn điều lệ từ 2-4 nghìn tỉ đồng Trong khi các NHTM lớn (phần lớn của nhà nước)

có nhiều ưu thế để tiếp cận vốn rẻ như: (i) sở hữu số lượng lớn trái phiếu chính phủ để tái chiết khấu tại NHNN; (ii) được Kho bạc nhà nước và các Tổng công ty nhà nước mở tài khoản tiền gửi không kì hạn với khối lượng lớn; (iii) làm dịch vụ giải ngân vốn ODA cho chính phủ… thì khả năng các NH nhỏ có thể tiếp cận được vốn giá rẻ từ NHNN hay từ các doanh nghiệp và tập đoàn, tổng công ty lớn rất hạn chế, theo đó, các NH này chỉ có thể trông chờ vào huy động tiền gửi tiết kiệm từ người dân và các DN vừa và nhỏ

Vấn đề của các NH nhỏ không chỉ là tiếp cận vốn giá rẻ khó, vấn đề còn là nguồn vốn huy động từ thị trường 1 (từ tổ chức kinh tế và cá nhân) chủ yếu lại là ngắn hạn (do người dân vẫn chưa có niềm tin vào giá trị tiền đồng), khả năng quản trị rủi ro của các NH này còn yếu kém, nhưng lại theo đuổi mục tiêu tăng trưởng nhanh bằng việc mở rộng qui mô tín dụng ở mức rất cao, và tập trung vào những ngành có rủi ro lớn như cho vay dài hạn khu vực BĐS Rủi ro về kì hạn khiến các NH này luôn gặp vấn đề về thanh khoản, sẵn sàng chấp nhận huy động mức lãi suất cao bằng bất kì giá nào, và từ đó luôn kích hoạt các cuộc đua lãi suất liên miên làm méo mó thị trường và lôi kéo cả những NH lớn vào cuộc trong

nỗ lực giành giật khách hàng ở thị trường qui mô còn nhỏ bé

Khó khăn về thanh khoản thật sự đã khiến nhiều NH điêu đứng Những khó khăn này thể hiện rõ ở những cuộc đua lãi suất không chỉ ở thị trường 1 mà còn ở thị trường liên ngân hàng (LNH) Huy động thị trường 1 trở nên rất khó khăn, đến mức người gửi tiết kiệm có thể mặc cả lãi suất với NH Trong năm 2011, có những lúc, lãi suất huy động từ dân cư lên tới 20%, áp dụng cho khoản tiết kiệm tối thiểu 100 triệu đồng trong thời hạn 1 tháng Chỉ cho đến khi NHNN có biện pháp cứng rắn, việc huy động vượt trần lãi suất mới tạm dừng và lắng xuống Ngoài ra, sự thiếu thanh khoản trầm trọng đã buộc một số NH phụ thuộc cao vào thị trường LNH, đến mức lãi suất LNH qua đêm đã bị đẩy lên tới hơn 20% trong khoảng thời gian đầu tháng 10/2011 Một số NH cá biệt gặp vấn đề nghiêm trọng về thanh khoản đã chấp nhận trả lãi suất ngắn hạn cao hơn lãi suất dài hạn nhằm huy động vốn bằng mọi giá

Tuy nhiên, việc ngân hàng nhà nước sử dụng quá nhiều các biện pháp hành chính phi kinh

tế can thiệp trực tiếp vào thị trường (như qui định trần lãi suất huy động 14% vào ngày 07/09/2011); cùng một số qui định không theo thông lệ quốc tế (như qui định hạn chế tín dụng từ thị trường 2, qui định hạn chế cấp tín dụng cho vay1) hay qui định cứng nhắc về hạn chế cho vay trung và dài hạn,… lại khiến thị trường trở nên méo mó không bình thường Theo đó, các mức lãi suất các kì hạn hầu như ngang nhau, lãi suất dài hạn bằng ngắn hạn, không có đường cong lãi suất chuẩn, đồng thời hiện tượng lách luật hay khuyến mãi kích hoạt cho những cuộc đua lãi suất làm biến dạng các quan hệ huy động, đạo đức kinh doanh của các ngân hàng thương mại suy giảm trầm trọng… Các biện pháp này trong ngắn hạn có thể áp chế được tình hình bất ổn của hệ thống NH nhưng xét về dài hạn, đây không phải là các biện pháp khôn ngoan

1 NHNN đã tạm thời dừng thực hiện qui định này trong TT 13 và TT 19 vào tháng 8/2011

Trang 31

3.2.2 Rủi ro nợ xấu

Nợ xấu chung của hệ thống NH năm 2011 vào khoảng 75 nghìn tỉ đồng, ở mức 3,3% tổng

dư nợ, cao hơn so với mức 2,16% vào cuối năm 2010 (Biểu đồ 3.6) Nợ xấu của các NHTM nhà nước tăng đến 66,18% so với cuối năm 2010, cao hơn mức tăng nợ xấu của các NHTM cổ phần (44,29%) và nhóm NH liên doanh, 100% vốn nước ngoài (59,23%) (Tổng cục Thống kê, 2011) Trong đó, đáng chú ý là nợ xấu của Vietcombank chiếm đến 3,47% tổng dư nợ, của NH Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) là 6,67% Đó là chưa tính đến một lượng lớn vốn của tổ chức tín dụng đầu tư vào trái phiếu

DN nhưng chưa được đánh giá và trích lập dự phòng đầy đủ đang tiềm ẩn rủi ro đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng

Biểu đồ 3.6 Tỉ lệ nợ xấu của hệ thống NH Việt Nam, 2002-2011

Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của VCBS và số liệu của NHNN (2012)

Cũng cần phải nói rằng, các mức nợ xấu này được tính theo chuẩn mực phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro của Việt Nam, còn theo chuẩn mực quốc tế, nợ xấu đang ở mức cao hơn nhiều do những khác biệt về qui định chất lượng tài sản giữa Chuẩn mực Kế toán Việt Nam (VAS) và Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) cũng như sự thiếu minh bạch trong thông tin Theo cảnh báo của tổ chức đánh giá tín nhiệm có uy tín Fitch Rating, đến hết năm 2011, tỉ lệ nợ xấu của hệ thống NH Việt Nam đã lên tới hơn 13% Tất nhiên, xung quanh các ý kiến này còn có sự khác nhau về các tiêu chí phân loại nợ và đánh giá nợ xấu của NHTM Trên thực tế, NHNN đã ban hành Quyết định 493/2005 qui định về việc phân loại nợ, trong đó bao gồm phân loại theo định lượng (Điều 6) và định tính (Điều 7) (xem Phụ lục 1) nhưng chỉ có một vài NH lớn như Agribank, Vietcombank, BIDV thực hiện việc phân loại nợ theo định tính Một số NHTM chưa xây dựng được hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ thực sự tiên tiến để áp dụng phương pháp phân loại này Có thể vì áp dụng cách thức phân loại nợ định tính mà tỉ lệ nợ xấu của các NH như Vietcombank, Agribank… trở nên cao hơn hẳn so với các NHTM còn lại Tuy vậy, bản thân Quyết định

493 cũng cần được sửa đổi, hoàn chỉnh để áp dụng tốt hơn trong thực tế

Ngoài ra, các NHTM Việt Nam chỉ xếp phần nợ đến hạn không trả được vào nợ xấu, trong khi phần còn lại vẫn là nợ đủ tiêu chuẩn Trong khi đó, theo chuẩn quốc tế, nếu phần nợ đến hạn không trả được thì toàn bộ khoản nợ phải được xếp vào nợ xấu Ví dụ, theo chuẩn mực quốc tế, NH có 100 đồng, cho vay 10 đồng nhưng không thu hồi được thì toàn bộ số tiền này được xem là nợ xấu và phải trích lập dự phòng rủi ro 100 đồng Nhưng, nhiều

Trang 32

NHTM trong nước chỉ xem 10 đồng chưa thu hồi được là nợ xấu và trích lập dự phòng con

số này Hiện nay, chỉ có một vài NHTM phân loại nợ xấu theo đúng chuẩn quốc tế

Thêm vào đó, một số NHTM Việt Nam còn sử dụng nghiệp vụ gia hạn nợ để giảm tỉ lệ nợ xấu của mình (do qui định nợ gia hạn không được tính vào nợ xấu) Nhiều NH hạn chế phân loại nợ xuống nhóm 3-5 để tránh trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, nhằm tăng lợi nhuận Từ các lí do trên dẫn đến có sự chênh lệch lớn giữa phân loại nợ xấu theo chuẩn trong nước và chuẩn quốc tế Nếu không xử lí được vấn đề này thì đây sẽ là một rào cản không thể vượt qua đối với quá trình tái cơ cấu hệ thống NH

Sự thiếu vắng các chuẩn mực kế toán còn dẫn đến các khoản vay xấu tiếp tục được gia hạn Một phần là bởi người ta e ngại rủi ro chính trị khi phải tuyên bố dùng tiền thuế của dân để cứu vớt NH phá sản Và phần nữa là do các ông chủ NH cũng như chính phủ muốn duy trì một NH nào đó để cấp vốn cho một nhóm lợi ích hoặc một bộ phận kinh tế nào đó bằng mọi giá cho đến lúc nào có thể Điều không may là, cùng với việc chuẩn mực kế toán không rõ ràng, thống nhất là việc khó nhận ra và có hành động kịp thời đối với một NH có vấn đề Điều này thường dẫn tới sự tích tụ các tài sản xấu trong các NH, làm tăng khả năng

đổ vỡ cho toàn hệ thống, để rồi người ta lại càng tìm cách che đậy và từ đó vòng xoáy che giấu-tích tụ tài sản xấu-che giấu càng ngày càng tăng mãnh liệt cho đến lúc sụp đổ cả hệ thống Mặt khác, nguyên nhân khách quan của tình trạnh nợ xấu gia tăng là khó khăn kinh tế cùng chính sách tiền tệ thắt chặt từ tháng 02 theo tinh thần của Nghị quyết 11 Trong năm 2011, phần lớn các DN đều đối mặt với giá các yếu tố đầu vào tăng cao, lãi suất NH vượt ngưỡng chịu đựng, thị trường đầu ra khó khăn do kinh tế suy thoái… nên đã phải cắt giảm sản xuất, sa thải lao động và chấp nhận thua lỗ Theo Bộ KHĐT (2011), đã có khoảng 4,7 nghìn DN phải giải thể với tổng số vốn đăng kí kinh doanh khoảng 34 nghìn tỉ đồng

Tuy nhiên, nguyên nhân cơ bản vẫn xuất phát từ điều hành chính sách vĩ mô và cách hành

xử của các NHTM Bản thân của việc tăng tín dụng quá nhanh trong thời gian ngắn (xem Biểu đồ 3.3) đi kèm với sự tăng trưởng quá nóng (đặc biệt là cơn sốt cho vay BĐS và chứng khoán giai đoạn 2006-2007) của các NH nhằm đảm bảo mục tiêu lợi nhuận trong khi quản trị rủi ro và năng lực giám sát yếu kém và chưa phát triển kịp đã là một nguy cơ rất lớn đối với rủi ro nợ xấu

Trong khi đó, việc giám sát của NHNN còn bất cập, thiếu các công cụ phục vụ cho giám sát an toàn vĩ mô và giám sát an toàn vi mô, nhất là đối với giám sát dựa trên rủi ro, NHNN vẫn chưa có qui định về hoạt động quản trị rủi ro trong nội bộ các NH cũng như việc đánh giá chiến lược quản trị rủi ro của các NH Hệ quả là chất lượng tài sản của hệ thống nói chung giảm xuống nhanh chóng, và rất dễ chuyển thành nợ xấu khi điều kiện kinh tế gặp khó khăn bất lợi

Hiển nhiên, nợ xấu luôn chiếm vị trí trọng tâm trong kế hoạch „Tái cơ cấu hệ thống NH‟ của chính phủ Tuy nhiên, muốn minh bạch hóa tình hình tài chính của các NHTM, muốn

xử lí nợ xấu một cách triệt để, lại cần có tiền Số tiền này có phải đến từ chính ngân sách nhà nước? Ta có thể nhắc lại kinh nghiệm xử lí NH trong giai đoạn 1999-2007 Vào giai đoạn đó, có 17 NH cổ phần bị sáp nhập và giải thể Để xử lí 17 ngân hàng này, NHNN đã phải chi 1.500 tỉ đồng từ nguồn tiền cung ứng đóng cửa một số NH và tái cấp vốn cho những NH thực hiện cơ cấu lại Nhưng hiện nay, số lượng NHTM đã tăng vọt so với năm

2007 và số tiền để tái cơ cấu cũng sẽ lớn hơn rất nhiều Nếu dùng tiền ngân sách chắc chắn

sẽ không khả thi vì ngân sách đã thâm thủng quá lớn (tính đến hết năm 2011, thâm hụt

Ngày đăng: 01/04/2017, 22:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w