1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tái cơ cấu các ngân hàng thương mại việt nam

98 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 2,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu tình hình tái cơ cấu của các NHTM VN, cụ thể là nhóm các Ngân hàng thương mại cổ phần NHTMCP và Ngân hàng thương mại nhà nước NHTMNN, trong giai đoạn 20

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

Trang 2

LÊ THỊ THANH HẰNG TÁI CƠ CẤU CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng

Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN ĐĂNG DỜN

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2015

Trang 3

Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ Kinh tế “Tái cơ cấu các ngân hàng thương mại Việt Nam” là do chính tôi nghiên cứu và thực hiện Các số liệu trong luận văn được thu thập từ thực tế có nguồn gốc rõ ràng, đáng tin cậy, được xử lý trung thực và khách quan Kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này chưa từng được công bố tại bất kỳ công trình nào khác Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan danh dự của tôi

Tp.HCM, ngày tháng năm 2015

Tác giả

Lê Thị Thanh Hằng

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1- TỔNG QUAN VỀ TÁI CƠ CẤU NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4

1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại 4

1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại 4

1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại 5

1.1.2.1 Chức năng trung gian tài chính 5

1.1.2.2 Chức năng trung gian thanh toán 6

1.1.2.3 Chức năng tạo tiền 6

1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng thương mại 7

1.1.3.1 Sự gia tăng nhanh chóng trong danh mục sản phẩm dịch vụ ngân hàng 7

1.1.3.2 Sự gia tăng cạnh tranh 7

1.1.3.3 Sự gia tăng chi phí vốn 8

1.1.3.4 Sự gia tăng các nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất 8

1.1.3.5 Cách mạng trong công nghệ ngân hàng 8

1.2 Cơ sở lý luận về tái cơ cấu ngân hàng 9

1.2.1 Khái niệm tái cơ cấu ngân hàng 9

1.2.2 Nội dung tái cơ cấu các NHTM 11

1.2.2.1 Tái cơ cấu tài chính 11

1.2.2.2 Tái cơ cấu hoạt động kinh doanh 11

1.2.2.3 Tái cơ cấu hệ thống quản trị 11

1.2.2.4 Tái cơ cấu sở hữu 12

Trang 5

1.2.5 Kinh nghiệm quốc tế về tái cơ cấu ngân hàng 13

1.2.5.1 Kinh nghiệm của Mỹ 13

1.2.5.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 15

1.2.5.3 Kinh nghiệm của Trung Quốc 17

1.2.5.4 Kinh nghiệm của Thái Lan 18

1.2.5.5 Bài học rút ra cho Việt Nam 20

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 22

CHƯƠNG 2 - THỰC TRẠNG TÁI CƠ CẤU CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2012-2015 23

2.1 Sơ lược về hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam 23

2.2 Thực trạng hoạt động của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008-2012 24

2.2.1 Thành tựu đạt được 24

2.2.2 Những thách thức đặt ra 27

2.3 Thực trạng tái cơ cấu các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2012-2015 35

2.3.1 Tái cơ cấu tài chính 35

2.3.1.1 Xử lý nợ xấu 35

2.3.1.2 Tăng vốn tự có 42

2.3.2 Tái cơ cấu hoạt động kinh doanh 47

2.3.2.1 Về sản phẩm 47

2.3.2.2 Về nhân lực 48

2.3.2.3 Tái cơ cấu về công nghệ 50

2.3.2.4 Về mô hình tổ chức hoạt động 52

2.3.3 Tái cơ cấu hệ thống quản trị 54

2.3.4 Tái cơ cấu sở hữu 56

2.4 Đánh giá kết quả tái cơ cấu các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2012-2015 60

2.4.1 Kết quả đạt được 60

Trang 6

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 71

CHƯƠNG 3- GIẢI PHÁP TÁI CƠ CẤU CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 72

3.1 Chiến lược phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020 72

3.2 Định hướng phát triển ngành ngân hàng Việt Nam đến năm 2020 73

3.3 Định hướng tái cơ các ngân hàng thương mại Viêt đến năm 2020 76

3.3.1 Kết quả dự kiến của quá trình tái cơ cấu đến cuối năm 2015 76

3.3.2 Mục tiêu tái cơ cấu các NHTM Việt Nam giai đoạn 2016-2020 76

3.3.3 Định hướng tái cơ cấu các NHTM Việt Nam đến 2020 77

3.4 Giải pháp tái cơ cấu các NHTM Việt Nam đến năm 2020 78

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 86

KẾT LUẬN 87 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

Từ viết tắt Từ tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt

nông thôn Việt Nam

Company Công ty quản lý nợ và tài sản

BAO VIET Bank

Ngân hàng thương mại cổ phần Bảo Việt

và Phát triển Việt Nam

Adequacy Ratio Hệ số/Tỷ lệ an toàn vốn

nhập khẩu Việt Nam FDIC Federal Deposit Insurance

Corporation Công ty bảo hiểm tiền gửi liên bang Mỹ FED Federal Reserve System Cục dự trữ liên bang Mỹ

Nội

triển TP HCM KAMCO Korea Asset Management

Company Công ty quản lý nợ và tài sản Hàn Quốc

Long M&A Mergers and

Acquisitions Sáp nhập và mua lại

Trang 8

Việt

NHTM

dầu Petrolimex ROA Return On Asset Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản

ROE Return On Equity Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu

Thương Tín

thương Việt Nam

thương Việt Nam

thương Việt Nam WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 9

BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Số lượng ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 1991-2012 25

Bảng 2.2: Tỷ lệ an toàn vốn của một số NHTM giai đoạn 2008-2012 32

Bảng 2.3: Thống kê tổng dư nợ và nợ xấu của các TCTD giai đoạn 2012-2015 42

Bảng 2.4: Tỷ lệ an toàn vốn theo nhóm NHTM giai đoạn 2012-2014 47

Bảng 2 5: Vốn điều lệ của hệ thống TCTD Việt Nam giai đoạn 2012-2015 61

HÌNH VẼ Hình 2 1: Danh sách các NHTM có vốn điều lệ cao nhất tính đến 31/12/2012 26

Hình 2 2: Dư nợ và tốc độ tăng trưởng dư nợ của NHTM VN giai đoạn 2008-2012 27

Hình 2 3: Tỷ lệ cho vay/huy động vốn của các NHTM giai đoạn 2008-2012 28

Hình 2 4: Các chỉ tiêu về hiệu quả sinh lời ROA, ROE của các TCTD Việt Nam 30

Hình 2 5: Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt nam giai đoạn 2008-2012 31

Hình 2 6: Hệ số an toàn vốn của một số nước châu Á tại thời điểm 30/6/2013 32

Hình 2 7: Sơ đồ sỡ hữu chéo của các NHTMNN với các NHTM khác 33

Hình 2 8: Số nợ xấu các ngân hàng bán cho VAMC trong năm 2014 38

Hình 2 9: Số nợ xấu một số ngân hàng dự kiến bán cho VAMC năm 2015 41

Hình 2 10: Biểu đồ tổng dư nợ và tỷ lệ nợ xấu của các TCTD giai đoạn 2012-2015 42

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hội nhập kinh tế giữa các khu vực và trên toàn thế giới hiện nay đã trở thành một xu thế tất yếu của thời đại và diễn ra mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực Về phương diện vĩ mô, việc mở cửa kinh tế theo hướng hội nhập quốc tế có thể đem lại cho một quốc gia nhiều lợi ích về nguồn lực, công nghệ, kinh nghiệm…Nhưng mặc khác, hội nhập cũng đặt ra yêu cầu về cạnh tranh, nâng cao quản lý nhà nước nhằm giảm thiểu, hạn chế rủi ro, tối đa hóa lợi ích của cạnh tranh và hội nhập quốc tế Tiến trình này đã tạo ra cho hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam (NHTM VN) nhiều cơ hội phát triển mới, song cũng đặt

ra cho hệ thống này nhiều thách thức

Điểm đáng chú ý, sau cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở khu vực châu Á năm 1997-1998, thì đến năm 2008 đã xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, tiếp đó là khủng hoảng nợ công vào năm 2011 đã có ảnh sâu rộng đến sự phát triển của kinh tế toàn cầu, trong đó có Việt Nam Với tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đến hệ thống ngân hàng, đã làm bộc rõ những yếu kém nội tại của hệ thống ngân hàng: nợ xấu tăng cao, khả năng thanh khoản của nhiều ngân hàng kém, năng lực quản trị ngân hàng còn nhiều bất cập so với qui mô, năng lực tài chính yếu, tồn tại quá nhiều các định chế tài chính qui mô vốn nhỏ, khả năng cạnh tranh thấp dễ bị tổn thương khi môi trường kinh doanh có biến động Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến tính ổn định và an toàn của

hệ thống

Do đó, tái cơ cấu các NHTM là việc làm cần thiết nhằm khắc phục những khó khăn, yếu kém, giúp các ngân hàng hoạt động hiệu quả hơn và chủ động đối phó với những thách thức, giúp kênh dẫn vốn quan trọng của nền kinh tế vận hành và phát triển an toàn, hiệu quả, vững chắc, đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn

hiện nay Trước tình hình đó, tác giả lựa chọn đề tài “Tái cơ cấu các Ngân hàng thương

Trang 11

mại Viêt Nam ” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình Đề tài này mang

tính thiết thực và phù hợp với yêu cầu thực tế của hệ thống NHTM Việt Nam hiện nay

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của nghiên cứu này là:

- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về tái cơ cấu NHTM và kinh nghiệm của các nước trên thế giới

- Đánh giá khái quát về thực trạng hoạt động của các NHTM VN từ 2008-2012

- Phân tích thực trạng quá trình tái cơ cấu các NHTM Việt Nam từ 2012 đến Quý 1 năm 2015 Từ đó tìm ra những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong quá trình cơ cấu hệ thống NHTM VN

- Gợi ý một số giải pháp nhằm tái cơ cấu hệ thống NHTM trong giai đoạn 2016-2020

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu: Quá trình tái cơ cấu các NHTM Việt Nam

 Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu tình hình tái cơ cấu của các NHTM VN, cụ thể

là nhóm các Ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) và Ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN), trong giai đoạn 2012-2015 dựa trên các nội dung: tái

cơ cấu tài chính, tái cơ cấu hoạt động, tái cơ cấu hệ thống quản trị, tái cơ cấu sở hữu

4 Phương pháp nghiên cứu

Quá trình thực hiện đề tài, tác giả chủ yếu dựa vào các phương pháp như phương pháp thống kê, mô tả, phân tích định tính, so sánh, và có sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, tham khảo các tài liệu có liên quan

5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu

- Hệ thống hóa được những vấn đề mang tính lý luận về tái cơ cấu NHTM

Trang 12

- Từ việc nghiên cứu hoạt động và thực trạng tái cơ cấu các NHTM Việt Nam, luận văn

đã đánh giá thực trạng cũng như những hạn chế chủ yếu trong quá trính tái cơ cấu các NHTM Việt Nam

- Xây dựng các định hướng và đề xuất các giải pháp nhằm tái cơ cấu có hiệu quả các NHTM VN đến năm 2020

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài nghiên cứu được chia thành 3 chương với nội dung cụ thể như sau:

 Chương 1: Tổng quan về tái cơ cấu Ngân hàng thương mại

 Chương 2: Thực trạng tái cơ cấu các Ngân hàng thương mại Việt Nam

 Chương 3: Giải pháp tái cơ cấu các ngân hàng thương mại Việt Nam đến năm

2020

Trang 13

CHƯƠNG 1- TỔNG QUAN VỀ TÁI CƠ CẤU NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại

1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại là định chế tài chính trung gian đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường theo xu hướng hội nhập quốc tế hiện nay, các NHTM không ngừng phát triển, hình thành mạng lưới rộng khắp toàn cầu, hoạt động ngân hàng có tính hệ thống cao, được xem như một kênh chu chuyển vốn quan trọng và cung ứng dịch vụ tài chính ngày càng đa dạng và phong phú tác động đáng kể đến sự phát triển của nền kinh tế thị trường

Cùng với sự phát triển đó có rất nhiều quan điểm và định nghĩa khác nhau về Ngân hàng thương mại, chẳng hạn:

Theo Ngân hàng thế giới: “Ngân hàng là tổ chức tài chính nhận tiền gửi chủ yếu dưới dạng không kỳ hạn hoặc tiền gửi được rút ra với một thông báo ngắn hạn (tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn và các khoản tiết kiệm) Dưới tiêu đề “các ngân hàng” gồm có: Các Ngân hàng thương mại chỉ tham gia vào các hoạt động nhận tiền gửi, cho vay ngắn hạn và trung dài hạn; Các ngân hàng đầu tư hoạt động buôn bán chứng khoán và bảo lãnh phát hành; Các Ngân hàng nhà ở cung cấp tài chính cho lĩnh vực phát triển nhà ở và nhiều loại khác nữa Tại một số nước còn có các ngân hàng tổng hợp kết hợp hoạt động ngân hàng thương mại với hoạt động ngân hàng đầu tư và đôi khi thực hiện cả dịch vụ bảo hiểm”

Còn theo một học giả khác thì, ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch

vụ thanh toán Và cũng thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế ( Peter S.Rose, 1998)

Trang 14

Theo quy định tại điều 4, Luật các Tổ chức tín dụng, ngày 16 tháng 06 năm 2010:

“Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”

Như vậy, Ngân hàng thương mại là tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi dưới nhiều hình thức khác nhau và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán cho các chủ thể trong nền kinh tế, nhằm mục tiêu lợi nhuận

1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại

Trong cơ chế kinh tế thị trường, NHTM thực hiện được 3 chức năng cơ bản sau:

1.1.2.1 Chức năng trung gian tài chính

Chức năng trung gian tài chính được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại Khi thực hiện chức năng trung gian tài chính, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay Lợi nhuận của ngân hàng là khoản chênh lệch giữa thu nhập từ hoạt động cho vay và chi phí huy động vốn, từ đó góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay, góp phần đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, điều tiết nguồn vốn cho nền kinh tế

Là trung gian tài chính nên hoạt động của hệ thống NHTM có ảnh hưởng lan tỏa đối với nền kinh tế, xã hội Một khi cấu trúc của hệ thống ngân hàng có bất ổn sẽ làm suy yếu hệ thống ngân hàng, nguy cơ mất an toàn của hệ thống ngân hàng sẽ có ảnh hưởng lan truyền, đe dọa sự ổn định của nền kinh tế

Trang 15

1.1.2.2 Chức năng trung gian thanh toán

Với chức năng này, NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ

Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn Đồng thời, ngân hàng cũng thu hút được lượng tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế, nâng cao uy tín thương hiệu ngân hàng trên thị trường Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế

1.1.2.3 Chức năng tạo tiền

Khi có sự phân hoá trong hệ thống ngân hàng, hình thành nên ngân hàng phát hành và các ngân hàng trung gian thì ngân hàng trung gian không còn thực hiện chức năng phát hành giấy bạc ngân hàng nữa Nhưng với chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán, ngân hàng thương mại có khả năng tạo ra tiền tín dụng (hay tiền ghi sổ) thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại ngân hàng thương mại Đây chính là một bộ phận của lượng tiền được sử dụng trong các giao dịch

Ban đầu từ những khoản tiền dự trữ tăng lên, ngân hàng thương mại sử dụng để cho vay bằng chuyển khoản, sau đó những khoản tiền này sẽ được quay lại ngân hàng thương mại một phần khi những người sử dụng tiền gửi vào dưới dạng tiền gửi không kỳ

Trang 16

hạn Quá trình này tiễp diễn trong hệ thống ngân hàng và tạo nên một lượng tiền gửi (tức tiền tín dụng) gấp nhiều lần số dự trữ tăng thêm ban đầu

Với chức năng "tạo tiền", hệ thống ngân hàng thương mại đã làm tăng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội Rõ ràng khái niệm về tiền hay tiền giao dịch không chỉ là tiền giấy do ngân hàng trung ương phát hành

ra mà còn bao gồm một bộ phận quan trọng là lượng tiền ghi sổ do các ngân hàng thương mại tạo ra Chức năng này cũng chỉ ra mối quan hệ giữa tín dụng ngân hàng và lưu thông tiền tệ Một khối lượng tín dụng mà ngân hàng thương mại cho vay ra làm tăng khả năng tạo tiền của ngân hàng thương mại, từ đó làm tăng lượng tiền cung ứng

1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng thương mại

1.1.3.1 Sự gia tăng nhanh chóng trong danh mục sản phẩm dịch vụ ngân hàng

Cùng với những cơ hội từ việc toàn cầu hóa và mở cửa thị trường ngân hàng, tài chính, việc gia tăng áp lực cạnh tranh từ các tổ chức tín dụng trong nước, nước ngoài và nhu cầu ngày càng phát triển của khách hàng đã đặt các NHTM trong tình trạng không ngừng nghiên cứu để mở rộng danh mục sản phẩm dịch vụ tài chính mà họ cung cấp cho khách hàng Các NHTM đã phải phát huy tối đa những lợi thế của mình, liên tục nâng cấp công nghệ để có thể đưa ra những sản phẩm dịch vụ tốt nhất đáp ứng nhu cầu của khách hàng mới có thể tồn tại và phát triển

1.1.3.2 Sự gia tăng cạnh tranh

Sự cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ tài chính đang ngày càng trở nên quyết liệt không chỉ giữa các NHTM trong nước với nhau mà còn giữa NHTM trong nước với NHTM nước ngoài và các tổ chức được cung cấp các dịch vụ tài chính ngân hàng Sự cạnh tranh này được thể hiện rất rõ qua việc cạnh tranh về danh mục sản phẩm dịch vụ cung cấp, cụ thể là các sản phẩm: tín dụng, tiết kiệm, kế hoạch hưu trí, dịch vụ tư vấn tài

Trang 17

chính cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng Áp lực cạnh tranh đóng vai trò như một lực đẩy tạo ra sự phát triển dịch vụ cho tương lai

1.1.3.3 Sự gia tăng chi phí vốn

Sự nới lỏng các quy định kết hợp với sự gia tăng cạnh tranh làm tăng chi phí trung bình thực tế của tài khoản tiền gửi – nguồn vốn cơ bản của ngân hàng buộc các NHTM phải trả lãi do thị trường cạnh tranh quyết định Đồng thời, việc chính phủ nhiều quốc gia yêu cầu các ngân hàng phải sử dụng vốn sở hữu nhiều hơn – một nguồn vốn đắt đỏ - để tài trợ cho các tài sản của mình buộc NHTM phải tìm cách cắt giảm các chi phí hoạt động khác như giảm số nhân viên, thay thế các thiết bị lỗi thời bằng hệ thống xử lý điện tử hiện đại đã tạo ra một khoản chi phí không nhỏ cho ngân hàng, lớn hơn so với các nguồn vốn truyền thống (như tiền gửi)

1.1.3.4 Sự gia tăng các nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất

Các qui định của Chính phủ đối với công nghiệp ngân hàng tạo cho khách hàng khả năng nhận được mức thu nhập cao hơn từ việc chuyển những khoản tiền gửi trong các tài khoản tiết kiệm với lãi suất thấp và các tài khoản giao dịch không sinh lợi sang các tài khoản có mức lãi suất cao hơn, những tài khoản có tỷ lệ lãi suất thay đổi theo điều kiện thị trường Vì vậy, ngân hàng phải đối mặt với những khách hàng nhạy cảm với lãi suất hơn

1.1.3.5 Cách mạng trong công nghệ ngân hàng

Đối mặt với sự canh tranh ngày càng gay gắt hơn, từ nhiều năm gần đây các ngân hàng đã và đang chuyển sang sử dụng hệ thống hoạt động tự động và điện tử thay thế cho

hệ thống dựa trên lao động thủ công, đặc biệt là trong công việc nhận tiền gửi, thanh toán

bù trừ và cấp tín dụng để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng Những sản phẩm điển hình của cách mạng trong công nghệ ngân hàng có thể kể đến là: máy rút tiền tự động, cho phép khách hàng truy nhập tài khoản tiền gửi của họ 24/24 giờ; máy thanh toán tiền

Trang 18

được lắp đặt ở các bách hóa và trung tâm bán hàng thay thế cho các phương tiện thanh toán hàng hóa dịch vụ bằng giấy; hệ thống máy vi tính hiện đại xử lý hàng ngần giao dịch một cách nhanh chóng trên toàn thế giới

1.2 Cơ sở lý luận về tái cơ cấu ngân hàng

1.2.1 Khái niệm tái cơ cấu ngân hàng

Theo Ngân hàng Thế giới (1998), tái cơ cấu ngân hàng bao gồm một loạt các biện pháp được phối hợp chặt chẽ nhằm duy trì hệ thống thanh toán quốc gia và khả năng tiếp cận các dịch vụ tín dụng, đồng thời xử lý các vấn đề còn tồn tại trong hệ thống tài chính

là nguyên nhân gây ra khủng hoảng

Theo Claudia Dziobek và Ceyla Pazarbasioglu (1997), tái cơ cấu ngân hàng là biện pháp hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu suất hoạt động của ngân hàng, bao gồm phục hồi khả năng thanh toán và khả năng sinh lời, cải thiện năng lực hoạt động của toàn hệ thống ngân hàng để làm tròn trách nhiệm của một trung gian tài chính và khôi phục lòng tin của công chúng Theo quan điểm này thì tái cơ cấu ngân hàng bao gồm tái cơ cấu tài chính, tái cơ cấu hoạt động và giám sát an toàn Trong đó, tái cơ cấu tài chính hướng đến việc phục hồi khả năng thanh khoản bằng cách cải thiện bảng cân đối của các ngân hàng thông qua các biện pháp như tăng vốn, giảm nợ, hoặc nâng giá trị tài sản Tái cơ cấu hoạt động hướng đến mục tiêu nâng mức lợi nhuận bằng cách chú trọng hơn đến chiến lược hoạt động, cải thiện hiệu quả và năng lực quản lý và hệ thống kế toán, nâng cao năng lực thẩm định tín dụng Việc giám sát và các quy tắc an toàn được đặt ra nhằm mục tiêu cải thiện năng lực hoạt động của toàn bộ hệ thống ngân hàng dưới vai trò là trung gian tài chính

Tái cơ cấu các ngân hàng đã được đặt ra đối với Việt Nam từ những năm cuối thập niên 1990 và đầu những năm 2000 khi hệ thống ngân hàng trong nước đã bộc lộ rõ những yếu điểm và rủi ro mang tính hệ thống dưới tác động của khủng hoảng tài chính châu Á Theo Ngô Thị Bích Ngọc (2007) thì: “Tất cả những biện pháp liên quan đến các mặt như:

Trang 19

tái cơ cấu tài chính, tái cơ cấu tổ chức, tái cơ cấu hoạt động, đa dạng hóa nghiệp vụ ngân hàng, sáp nhập, giải thể ngân hàng, cổ phần hóa NHTM NN nhằm mục đích nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng nói chung đều thuộc về lĩnh vực tái cơ cấu ngân hàng

Và do đó, tái cơ cấu ngân hàng có thể được hiểu theo nghĩa rộng nội dung của nó gần như sẽ bao hàm tất cả các biện pháp tái cơ cấu liên quan đến từng ngân hàng và liên quan đến toàn bộ hệ thống ngân hàng Nó có thể bao gồm cả biện pháp liên quan đến NHTM riêng lẻ, như cổ phần hóa NHTMNN, sáp nhập, mua lại các NHTM, hoặc các biện pháp mang tính hệ thống khác”

Tái cơ cấu các ngân hàng không phải là một hoạt động mang tính định kỳ Các quốc gia chỉ tiến hành tái cơ cấu khi có những vấn đề điển hình nổi lên trong nền kinh tế nói chung và trong hoạt động của các ngân hàng thương mại nói riêng Một số động cơ của việc tái cơ cấu các ngân hàng như:

- Khủng hoảng kinh tế;

- Nợ xấu gia tăng;

- Tỷ lệ an toàn vốn thấp;

- Thực hiện chức năng trung gian không hiệu quả;

- Khuôn khổ giám sát và quản lý yếu;

- Thiếu niềm tin vào hệ thống ngân hàng (Sameer Goyal, 2011)

Từ những khái niệm trên, có thể khái quát, tái cơ cấu các ngân hàng thương mại là thực hiện các biện pháp nhằm khắc phục các khiếm khuyết của hệ thống ngân hàng thương mại nhằm mục đích duy trì sự phát triển ổn định (bền vững, an toàn) và hiệu quả chức năng trung gian tài chính của hệ thống ngân hàng thương mại trong nền kinh tế, đặc biệt là chức năng thanh toán và trung gian tín dụng, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTM

Trang 20

1.2.2 Nội dung tái cơ cấu các NHTM

1.2.2.1 Tái cơ cấu tài chính

Tái cơ cấu tài chính của NHTM là tăng quy mô, chất lượng vốn tự có của các NHTM và xử lý nợ xấu Do đặc điểm của loại hình kinh doanh ngân hàng vốn tự có chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong nguồn vốn kinh doanh, nhưng vốn tự có ý nghĩa rất lớn đối với sự tồn tại và phát triển của NHTM Quy mô và chất lượng vốn tự có của NHTM tạo nền tảng cho hoạt động, đảm bảo sự an toàn, duy trì niềm tin và điều chỉnh hoạt động của NHTM Trong quá trình tái cơ cấu tài chính NHTM, một nội dung hết sức quan trọng là phải biết chính xác số nợ xấu để có các bước xử lý có hiệu quả Xử lý nợ xấu có thể cấu trúc lại nợ, xử ký tài sản đảm bảo, bán cho công ty mua bán nợ, chuyển nợ thành vốn góp…

1.2.2.2 Tái cơ cấu hoạt động kinh doanh

Tái cơ cấu hoạt động kinh doanh NHTM là củng cố, chấn chỉnh lại hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của NHTM và đáp ứng các chuẩn mực và thông lệ quốc tế Tái cơ cấu hoạt động kinh doanh của các NHTM bao gồm các nội dung: tái cơ cấu về dịch vụ; tái cơ cấu về nhân sự; tái cơ cấu về công nghệ; tái cơ cấu về mô hình tổ chức hoạt động

1.2.2.3 Tái cơ cấu hệ thống quản trị

Tái cơ cấu hệ thống quản trị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với NHTM, bởi tính đặc thù là doanh nghiệp kinh doanh tiền, nên có độ rủi ro cao và mức độ ảnh hưởng lớn đối với hệ thống tài chính và toàn bộ nền kinh tế quốc dân Tái cơ cấu hệ thống quản trị của NHTM cần tuân thủ 14 nguyên tắc cơ bản của Ủy ban Basel ban hành năm 1999, sửa đổi năm 2006 Trong bối cảnh kinh tế có nhiều biến động khó lường, thì quản trị các NHTM có ý nghĩa vô cùng quan trọng

Trang 21

1.2.2.4 Tái cơ cấu sở hữu

Tái cơ cấu sở hữu NHTM có ý nghĩa quyết định tới chức năng, nhiệm vụ, phạm vi hoạt động và việc tuân thủ quy định pháp luật của từng loại hình NHTM Theo hình thức

sở hữu có thể phân chia thành các loại hình NHTM: ngân hàng thuộc về sở hữu tư nhân; ngân hàng thuộc về sở hữu của các cổ đông (NHTM cổ phần); ngân hàng thuộc sở hữu Nhà nước; ngân hàng liên doanh Theo xu hướng chung tại các nước, việc tái cơ cấu sở hữu là giảm dần tỷ lệ sở hữu nhà nước, tăng dần tỷ lệ sở hữu trong lĩnh vực sở hữu cho các thành phần kinh tế khác Hầu hết các quốc gia đều chú trọng thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực ngân hàng

1.2.3 Vai trò của NHNN trong quá trình tái cơ cấu

NHNN với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng, có trách nhiệm đảm bảo an toàn cho toàn bộ hệ thông NHTM và có vai trò rất lớn trong quá trình tái cơ cấu NHTM; Tổ chức quá trình tái cơ cấu hệ thống NHTM (rà soát đánh giá tình hình hoạt động của toàn hệ thống; lập phương án tái cơ cấu hệ thống NHTM trình Chính phủ phê duyệt); Điều phối, hỗ trợ thực hiện tái cơ cấu (hỗ trợ giải quyết vấn đề thanh khoản, làm trung gian giữa các NHTM, thực hiện và làm đầu mối hoàn chỉnh các quy đinh pháp luật có liên quan đến hoạt động NHTM, kiểm soát môi trường vĩ mô, cải thiện lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài ); Đánh giá về tái cơ cấu hệ thống NHTM

1.2.4 Quy trình tái cơ cấu các NHTM

Quy trình cơ cấu lại đối với một Ngân hàng về cơ bản sẽ bao gồm một hệ thống các bước khác nhau:

Bước 1: Xác định rõ mục tiêu cơ cấu lại

Bước 2:Phân tích đánh giá hoạt động, tìm ra các điểm mạnh yếu cần được điều

chỉnh

Trang 22

Bước 3:Xây dựng kế hoạch cơ cấu lại Đề ra cụ thể các nhiệm vụ giải pháp, biện

pháp, lộ trình thực hiện bao gồm cả các vấn đề về tài chính

Bước 4: Triển khai thực hiện Kiểm tra, giám sát và đánh giá rút kinh nghiệm và

xử lý các phát sinh kịp thời đảm bảo bám sát mục tiêu đã đề ra

1.2.5 Kinh nghiệm quốc tế về tái cơ cấu ngân hàng

1.2.5.1 Kinh nghiệm của Mỹ

Cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế 2008 tại Mỹ có nguyên nhân chính là việc

Mỹ áp dụng chính sách lãi suất thấp trong một thời gian khá dài, việc giảm bớt các qui định trong các chuẩn mực tín dụng và an toàn hoạt động ngân hàng, và việc chứng khoán hóa các tài sản thế chấp Những nguyên nhân này đã đặt hệ thống tài chính Mỹ vào một trạng thái rủi ro trầm trọng gây ra bởi cho vay dưới chuẩn lan tràn Do đó, hệ thống ngân hàng là nơi chịu ảnh hưởng nặng nề nhất đồng thời cũng là nơi bắt đầu để khắc phục những hậu quả của cuộc khủng hoảng này

Quá trình tái cơ cấu các ngân hàng ở Mỹ bao gồm quá trình tự tái cơ cấu của các

tổ chức tài chính và quá trình hỗ trợ từ Chính phủ Những cơ quan tham gia vào quá trình tái cơ cấu gồm: Cục dự trữ liên bang (FED), Bộ Tài chính và Cơ quản bảo hiểm tiền gửi (FDIC) trong đó:

FED có nhiệm vụ chủ yếu là duy trì thanh khoản trên hệ thống nhằm đảm bảo dòng vốn vẫn được lưu thông một cách trôi chảy;

Bộ Tài chính tham gia chủ yếu vào quá trình xử lý các tài sản tài chính có vấn đề giúp các ngân hàng cơ cấu lại bảng cân đối tài sản thông qua chương trình cứu trợ tài sản có vấn đề;

FDIC chủ yếu là xử lý các ngân hàng phá sản và có nguy cơ phá sản

Chương trình cứu trợ tài sản có vấn đề (Troubled Assets Relief Program –TARP) là một trong những điểm nhấn quan trọng trong tổng thể các giải pháp vượt qua khủng

Trang 23

hoảng và tái cơ cấu thống ngân hàng Mỹ sau khủng hoảng 2008 Đây là chương trình mua lại các tài sản tài chính có mức độ rủi ro cao từ các định chế tài chính do Bộ Tài chính đảm nhiệm

Bộ Tài chính sử dụng ngân sách liên bang mua hoặc bảo lãnh tối đa tới 700 tỷ USD các tài sản có vấn đề ở mức giá thấp nhất và đảm bảo giá mua là hợp lý, phản ánh giá trị

cơ bản của tài sản đồng thời cũng có quyền bán hoặc tham gia vào các giao dịch chứng khoán, cho vay, mua bán lại, hoặc các giao dịch tài chính khác đối với mọi tài sản có vấn

đề được mua mà được xác định là phù hợp với mục đích của Đạo luật Số tiền thu về từ các hoạt động trên sẽ được đưa vào quỹ của Bộ Tài chính để giảm nợ công

Bên cạnh chương trình mua lại các tài sản tài chính có vấn đề, Mỹ cũng đã sử dụng một cách khéo léo tổ chức bảo hiểm tiền gửi để giải quyết các ngân hàng đổ vỡ, bảo vệ người gửi tiền, ngăn chặn sự lây lan của khủng hoảng Khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bị phá sản, FDIC được chỉ định là tổ chức tiếp nhận và chịu trách nhiệm xử lý tài sản nhằm thu hồi một cách nhanh nhất với giá trị tối đa các tài sản còn lại của tổ chức đó Thẩm quyền của FDIC về xử lý đổ vỡ ngân hàng được nâng lên rõ rệt sau khi Đạo luật Dodd-Frank được ban hành: đảm bảo tiền gửi ngân hàng; bảo vệ người gửi tiền; kiểm tra

và giám sát hoạt động của các tổ chức tài chính; trực tiếp xử lý đổ vỡ ngân hàng và sắp xếp các đợt mua bán sáp nhập, chức năng quản lý và giải cứu khủng hoảng… Để thực hiện được vai trò trên, Bộ Tài chính đã quyết định cho phép FDIC vay tối đa tới 500 tỷ USD Điều này cũng giúp cho FDIC dễ dàng hơn trong việc xử lý các ngân hàng quan trọng trong hệ thống mà không cần đến sự cho phép của Quốc hội

Kết quả là, từ khi khủng hoảng xuất hiện đến 30/06/2011, 373 ngân hàng quy mô lớn nhỏ đổ vỡ đã được FDIC xử lý thành công Như vậy, trong giai đoạn khủng hoảng, FDIC

đã chứng minh được vai trò thực tiễn trong xử lý ngân hàng đổ vỡ một cách nhanh, êm thấm mà không gây ra các hiện tượng hoảng loạn Việc chính phủ Mỹ gia tăng thêm thẩm quyền cho FDIC sau giai đoạn khủng hoảng đã khẳng định vai trò chủ động của FDIC trong hệ thống an toàn tài chính và là thành phần không thể thiếu trong việc thực hiện các

Trang 24

biện pháp của Chính phủ Mỹ để quản lý và ngăn ngừa khủng hoảng trong hệ thống tài chính

1.2.5.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc

Cuộc khủng hoàng tài chính – ngân hàng Hàn Quốc có nguyên nhân chủ yếu bắt nguồn từ việc đầu tư tràn lan và vay nợ quá mức của các tập đoàn kinh tế cũng như quy định an toàn hoạt động ngân hàng lỏng lẻo, quản trị rủi ro yếu kém và thiếu sự minh bạch trong công tác tài chính của hệ thống các tổ chức tín dụng và bùng phát từ cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 Vì vậy, để ngăn chặn khủng hoảng, Chính phủ Hàn Quốc

đã thực hiện một kế hoạch kinh tế tổng thể: tập trung ổn định kinh tế vĩ mô và tái cơ cấu các ngân hàng, doanh nghiệp và thị trường lao động trong đó tái cơ cấu các ngân hàng là một trong những mục tiêu ưu tiên hàng đầu của Hàn Quốc ở giai đoạn này Chính phủ Hàn Quốc đã xây dựng một lộ trình thứ tự các bước thực hiện tái cơ cấu các ngân hàng như sau:

 Tiến hành rà soát và phân loại ngân hàng

Một trong những việc làm đầu tiên của Chính phủ Hàn Quốc là tiến hành áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế để đánh giá tình hình tài chính, các khoản nợ xấu và tiến hành phân loại các ngân hàng thành 3 nhóm làm cơ sở cho quá trình hợp nhất và sáp nhập, bao gồm: Nhóm các ngân hàng dẫn đầu (nhóm các ngân hàng lớn);

Nhóm các ngân hàng trung bình (chủ yếu tập trung vào hoạt động bán lẻ;

Nhóm các ngân hàng nhỏ phục vụ cho các vùng địa phương đặc biệt

Mục tiêu chính của việc phân loại này là nhằm: Thứ nhất, tạo ra các ngân hàng lớn sau khi hợp nhất và sáp nhập có đủ năng lực về tài chính để có thể cạnh tranh hiệu quả đối với các ngân hàng nước ngoài cũng như nâng cao hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng này; Thứ hai, thu hẹp phạm vi hoạt động của các ngân hàng có quy mô vừa, tập trung vào phát triển các hoạt động kinh doanh chính; Thứ ba, các ngân hàng nhỏ nhưng hoạt động an toàn và hiệu quả, chỉ để phục vụ cho các vùng địa phương đặc biệt

Trang 25

 Giải quyết nợ xấu của ngân hàng

Sau khi tiến hành đánh giá và phân loại nợ xấu, để có thể giải quyết được các khoản

nợ xấu của các ngân hàng, Chính phủ Hàn Quốc đã thành lập các Công ty quản lý nợ xấu Hàn Quốc (viết tắt là KAMCO) để mua lại các khoản nợ xấu từ các NHTM có kế hoạch sáp nhập và hợp nhất Trong năm 1997, Chính phủ Hàn Quốc đã cấp 64 nghìn tỷ won, tương đương 15% GDP, để thực hiện tái cơ cấu các ngân hàng, trong đó 31,5 nghìn tỷ won (chiếm 49,2%) được dành cho mua các khoản nợ xấu của hệ thống ngân hàng Tính đến cuối tháng 3/1999, KAMCO đã bỏ ra 20 nghìn tỷ won để mua các khoản nợ xấu trị giá 44 nghìn tỷ won của các ngân hàng

 Hợp nhất, sáp nhập và mở rộng hình thức sở hữu

Sau khi đánh giá được mức vốn thực có của các NHTM (sau khi tiến hành bù đắp các khoản thiệt hại về nợ xấu và dự phòng), Chính phủ Hàn Quốc đã tiến hành các bước đi mạnh mẽ để khuyến khích trên cơ sở tự nguyện hoặc buộc các NHTM phải sáp nhập lại với nhau, hoặc tăng vốn để đảm bảo mức vốn tối thiểu an toàn cho hoạt động kinh doanh ngân hàng, thậm chí rút giấy phép cũng như buộc phải tuyên bố phá sản

 Nâng cao chất lượng thanh tra, giám sát và an toàn hoạt động ngân hàng

Song song với hoạt động mua bán, sáp nhập các NHTM, Chính phủ Hàn Quốc còn tập trung vào nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng cũng như ban hành các quy định về an toàn hoạt động ngân hàng phù hợp với thông

lệ quốc tế Nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan an toàn hoạt động ngân hàng cũng được điều chỉnh, sửa đổi để đảm bảo hệ thống ngân hàng hoạt động ổn định và an toàn trong tương lai

 Tăng cường sự tham gia của tổ chức bảo hiểm tiền gửi vào tái cơ cấu các ngân

hàng thông qua một nền tảng pháp lý minh bạch

Luật Bảo vệ người gửi tiền ban hành năm 1995 là tiền đề cho việc thành lập Công ty Bảo hiểm tiền gửi (KDIC), và quy định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, cơ chế hoạt động

Trang 26

của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi tại Hàn Quốc Luật Bảo vệ người gửi tiền quy định rõ mục tiêu hoạt động của KDIC là bảo vệ tiền gửi của người gửi tiền và duy trì ổn định tài chính tại Hàn Quốc, với các chức năng chính gồm: quản lý quỹ Bảo hiểm tiền gửi; giám sát rủi ro; xử lý đổ vỡ; thu hồi nợ; và điều tra Cơ sở pháp lý đầy đủ và ổn định đã giúp cho KDIC có vị thế độc lập tương đối và chủ động trong phối hợp với các cơ quan khác trong mạng an toàn tài chính để xử lý đổ vỡ ngân hàng và khủng hoảng tài chính một cách hiệu quả, góp phần khôi phục ổn định hệ thống tài chính ngân hàng và ổn định kinh tế vĩ mô tại Hàn Quốc

1.2.5.3 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Mặc dù không chịu nhiều ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997 nhưng khủng hoảng này như một cơ hội để tạo ra sự đồng thuận về chính trị đối với việc cải cách hệ thống ngân hàng Vì vậy, tháng 11 năm 1997, Trung Quốc đã triệu tập hội nghị tài chính quốc gia đầu tiên với chủ đề trọng tâm là làm thế nào để tránh khỏi một cuộc khủng hoảng tài chính Trước khi tiến hành tái cơ cấu, hệ thống ngân hàng Trung Quốc rất tập trung và phân khúc rất rõ ràng giữa các nhóm ngân hàng có chế độ sở hữu khác nhau Bốn NHTM Nhà nước và ba ngân hàng Chính sách đóng vai trò chủ đạo Bảy ngân hàng này chiếm tới 2/3 tổng tiền gửi và 3/4 tổng dư nợ của hệ thống Tỷ lệ lợi nhuận thực tế của các NHTM Nhà nước thấp hơn nhiều so với tỷ lệ lợi nhuận chung Hoạt động của các ngân hàng kém hiệu quả chủ yếu là do việc cấp tín dụng lỏng lẻo dẫn đến chất lượng tín dụng rất thấp, nợ xấu cao và số liệu công bố được đánh giá là thấp hơn nhiều so với thực tế Vốn tự có nhỏ hơn nhiều so với những tài liệu công bố chính thức

và giảm trong nhiều năm Tất cả những hạn chế trên đòi hỏi phải tái cơ cấu các ngân hàng để củng cố và đưa các tổ chức tài chính yếu kém nhất thoát khỏi thị trường

Quá trình tái cơ cấu các ngân hàng ở Trung Quốc đã tập trung chủ yếu vào việc cải thiện và nâng cao chất lượng hoạt động của các NHTMNN, trong đó đặc biệt đáng chú ý là việc thành lập các Công ty mua bán nợ nhằm xử lý số nợ xấu từ các ngân hàng

Trang 27

này Năm 1999, bốn công ty quản lý tài sản (AMC) đã được thành lập AMC chuyên mua

và xử lý các khoản nợ xấu của các NHTM Nhà nước

Tuy nhiên, hoạt động điều tiết và giám sát đối với các AMC đã tỏ ra không hiệu quả và nhất quán vì có quá nhiều cơ quan được chỉ định điều tiết, giám sát AMC dẫn tới một số chức năng điều tiết là chồng chéo nhau Các kết quả kiểm toán cho thấy sự thiếu chặt chẽ và bất cập trong điều tiết các AMC, nhiều vấn đề, bao gồm gian lận, vi phạm các quy định, và các hoạt động không thích hợp có liên quan đến 71,5 tỷ NDT giá trị tài sản khó đòi Việc điều tiết chồng chéo và kém hiệu quả đối với các AMC cũng khiến cho chi phí cải tổ không được hạn chế ở mức thấp nhất có thể

Như vậy có thể thấy rằng, quá trình tái cơ cấu tự nguyện của hệ thống ngân hàng Trung Quốc là thiếu quyết liệt và do đó hiệu quả mang lại ở mức thấp hơn Quá trình tái

cơ cấu tập trung nhiều hơn vào việc cải tổ và sửa chữa những sai lầm bên trong các NHTM Nhà nước và do đó, đã chuyển hầu hết các gánh nặng từ các ngân hàng này sang gánh nặng tài khóa (khi các AMC chấm dứt hoạt động, Bộ Tài chính sẽ thiết lập một Uỷ ban kiểm toán để kiểm toán giá trị tài sản các AMC và Bộ Tài chính về cơ bản sẽ là đơn

vị chịu trách nhiệm cuối cùng giải quyết những thua lỗ của các AMC) Trong khi các khoản nợ xấu được các AMC mua lại với nguyên giá trị, các ngân hàng hầu như không chịu một khoản mất mát nào về tài sản, và điều đó đã không tạo ra được những động cơ cho các ngân hàng này thay đổi phương thức quản trị tài sản, cải thiện chất lượng tín dụng, và do đó, tài sản xấu vẫn tiếp tục phát sinh

1.2.5.4 Kinh nghiệm của Thái Lan

Khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 đã khiến hệ thống ngân hàng của Thái Lan chao đảo nghiêm trọng, bắt buộc phải tái cơ cấu khắc nghiệt để vượt qua khủng hoảng và hoạt động ổn định hơn Nhằm chống đỡ với sự yếu kém của ngành ngân hàng, Chính phủ Thái Lan đã áp dụng một số biện pháp cải cách, bao gồm:

Trang 28

Thứ nhất, chiến lược của Thái Lan là đóng cửa một số định chế tài chính không còn khả năng tiếp tục hoạt động Tại thời điểm này Thái Lan đã tổ chức bán đấu giá tài sản của 58 công ty tài chính bị đóng cửa và thu được gần 200 tỷ Bath Toàn bộ việc đấu giá này do Uỷ ban cơ cấu lại tài chính của Thái Lan đảm nhiệm

Song song đó, chiến lược sáp nhập, hợp nhất các định chế tài chính cũng được tiến hành và kết quả là Bank Thai ra đời (do sự hợp nhất của 13 công ty tài chính và Unionbank), Ngân hàng First Bangkok city hợp nhất với Krung Thaibank và được tái cấp vốn 200 tỷ Bath Còn lại Bangkokbank được bán lại hoàn toàn cho công ty quản lý tài sản

Thứ hai, để tái cấp vốn cho các định chế tài chính có thể duy trì hoạt động, Thái Lan đã lên một chương trình hỗ trợ vốn do Bộ tài chính Thái Lan đảm trách:

 Thành lập các công ty quản lý tài sản

 Đóng cửa các định chế tài chính quá yếu kém

 Củng cố và tái cấp vốn những tổ chức tài chính có khả năng duy trì hoạt động, Thái Lan đã có một chương trình tái cấp vốn cho các định chế tài chính này Thứ ba, đối với việc xử lý các khoản nợ xấu, chiến lược của Thái Lan là phân loại các khoản nợ không hoạt động (chiếm khoảng 47,7% tổng số các khoản cho vay) và tách chúng ra khỏi bảng cân đối tài sản của các NTHM Sau đó được mang ra bán đấu giá Để làm được điều này, Thái Lan đã thành lập Uỷ ban tái cơ cấu khu vực tài chính và Công ty quản lý tài sản vào tháng 10/1997

Thứ tư, bên cạnh đó Thái Lan cũng đã đưa ra một khung pháp lý thuận lợi cho công cuộc tái cơ cấu nợ này như Luật phá sản được thông qua, thành lập toà án chuyên giải quyết các vụ phá sản

Kết quả là hệ thống ngân hàng của Thái Lan đã được tái cơ cấu mặc dù chỉ có hai NHTM đóng cửa, sáp nhập; 56 công ty tài chính bị đóng cửa, 13 công ty khác và 5 ngân hàng được sáp nhập Các ngân hàng còn lại đều đã tăng được đủ số vốn quy định sau 12

Trang 29

tháng, tuy nhiên, quá trình tăng vốn vẫn tiếp tục sau đó để đạt được tiêu chuẩn về phân loại nợ và trích lập dự phòng theo chuẩn quốc tế vào năm 2000 Các ngân hàng quốc doanh sau đó được cổ phần hóa với sự hỗ trợ của các ngân hàng đầu tư của nước ngoài Chính phủ đã tập trung đảm bảo quá trình chuyển đổi này được diễn ra minh bạch Tại một số ngân hàng thương mại cổ phần trong nước, tỷ lệ sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài đã vượt quá 50%

1.2.5.5 Bài học rút ra cho Việt Nam

Từ những lý luận chung về tái cơ cấu các ngân hàng và kinh nghiệm thực tiễn của một số nước có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam như sau:

Một là, quá trình tái cơ cấu cần diễn ra trong một thời gian ngắn với tính quyết liệt

và sự kiên quyết cao trong cả hệ thống Trong quá trình tái cơ cấu, sự xáo trộn và những

đổ vỡ trên thị trường có thể tăng lên cao hơn mức trầm trọng thực tế xuất phát từ những yếu tố tâm lý và sự thiếu hụt thông tin Do đó, thời gian tái cơ cấu càng kéo dài thì những biến động trên thị trường càng trở nên khó dự đoán và có thể vượt ra ngoài khả năng kiểm soát Tuy nhiên để có thể rút ngắn thời gian tái cơ cấu thì đồng thời đòi hỏi sự kiên quyết trong cả hệ thống, đặc biệt là từ những cơ quan điều hành cấp cao nhất

Hai là, các giải pháp tái cơ cấu cần được tiến hành đồng bộ với sự tham gia của nhiều cơ quan quản lý khác nhau, trong đó đặc biệt quan trọng là vai trò của Ngân hàng Trung ương, Bộ tài chính, Cơ quan bảo hiểm tiền gửi và do đó việc thành lập một Ủy ban tái cơ cấu để có thể điều tiết một cách thống nhất các hoạt động của các cơ quan trên trong suốt quá trình tái cơ cấu là cần thiết nhằm tăng cường hiệu quả và tránh chồng chéo Hệ thống ngân hàng không phải là một hệ thống độc lập mà ngược lại có sự liên kết chặt chẽ với hầu hết các khu vực của nền kinh tế Mô hình ngân hàng đa năng cũng cho thấy sự gắn kết rất chặt giữa ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm Và bởi vậy, tái cơ cấu các ngân hàng cũng cần tính tới những tác động từ các cấu phần của thị trường tài chính

và nền kinh tế đối với hệ thống ngân hàng cũng như tác động từquá trình tái cơ cấu ngân

Trang 30

hàng đối với các thực thể kinh tế đó Vai trò của NHTW là không đủ, thậm chí như một

số nghiên cứu đã chỉ ra cần hạn chế vai trò của NHTW ở một mức độ nhất định trong quá trình tái cơ cấu

Ba là, chi phí cho tái cơ cấu cần được hạn chế ở mức thấp nhất, đặc biệt là gánh nặng đối với tài khóa Để thực hiện được việc đó thì quá trình tái cơ cấu cũng cần được tiến hành theo “cơ chế thị trường” nhiều hơn và hạn chế ở mức thấp các biện pháp quản

lý mệnh lệnh hành chính Việc định giá và mua bán các tài sản tài chính có vấn đề từ các ngân hàng cần được thực hiện theo mức giá thị trường Khuyến khích khu vực tư nhân mua lại các khoản nợ xấu từ hệ thống ngân hàng cũng là một giải pháp để giảm gánh nặng cho tài khóa và tăng hiệu quả trong việc xử lý nợ

Bốn là, quá trình tái cơ cấu cần có sự can thiệp trên cả hệ thống bao gồm tất cả các

tổ chức tài chính có vấn đề bất kể hình thức sở hữu và mô hình hoạt động Như đã phân tích ở trên, mối liên thông trong hệ thống ngân hàng là khá chặt chẽ Việc chỉ tập trung vào cải thiện chất lượng của một nhóm ngân hàng như là NHTMNN trong trường hợp của Trung Quốc sẽ không thể giải quyết được các vấn đề của cả hệ thống

Trang 31

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương 1 của luận văn, tác giả đã hệ thống hoá lý thuyết cơ bản về ngân hàng thương mại và hoạt động tái cơ cấu ngân hàng Từ đó, cho thấy chức năng và tầm quan trọng to lớn của hệ thống ngân hàng đối với nền kinh tế Do vậy một khi hệ thống ngân hàng yếu kém sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng tới toàn bộ nền kinh tế, xã hội

Và tái cơ cấu các ngân hàng là điều tất yếu khi mà những yếu kém trong hệ thống ngân hàng ngày càng trở nên trầm trọng hơn Lịch sử thế giới cũng chứng kiến nhiều cuộc tái

cơ cấu hệ thống tài chính nói chung và tái cơ cấu các ngân hàng nói riêng ở rất nhiều nước trên thế giới Đề tài đã dẫn chứng một vài công cuộc tái cơ cấu ngân hàng ở một số nước như: Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan; từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam

Trang 32

CHƯƠNG 2 - THỰC TRẠNG TÁI CƠ CẤU CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2012-2015

2.1 Sơ lược về hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam

Ngày 6/5/1951 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, chính thức khai sinh một ngành kinh tế rất trọng yếu của Việt Nam - ngành Ngân hàng Ngân hàng Quốc gia Việt Nam ra đời là kết quả nối tiếp của quá trình đấu tranh xây dựng hệ thống tiền tệ, tín dụng độc lập, tự chủ, đánh dấu bước phát triển mới, thay đổi về chất trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng ở nước ta Từ khi Ngân hàng Quốc gia Việt Nam ra đời đến nay, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam không ngừng được củng cố, xây dựng và từng bước lớn mạnh để phục vụ cho công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước Trải qua nhiều thời kỳ với nhiều sự kiện quan trọng, hệ thống Ngân hàng Việt Nam có nhiều biến chuyển sâu sắc

Đến nay, Ngân hàng thương mại Việt Nam bao gồm: Ngân hàng thương mại Nhà nước; Ngân hàng thương mại cổ phần; Ngân hàng thương mại liên doanh; Chi nhánh ngân hàng nước ngoài (NHNNg), Ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài

Ngân hàng thương mại Nhà nước: là ngân hàng thương mại trong đó Nhà nước

sở hữu trên 50% vốn điều lệ Ngân hàng thương mại Nhà nước bao gồm ngân hàng thương mại do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ và ngân hàng thương mại cổ phần do Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ, có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam NHTM nhà nước hoạt động theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

Ngân hàng thương mại cổ phần là ngân hàng được thành lập và hoạt động bằng nguồn vố góp của các cổ đông dưới hình thức mua cổ phần, có tư cách pháp nhân theo pháp luật Viêt Nam, tổ chức hoạt động theo mô hình công ty cổ phần Ngân hàng liên doanh là ngân hàng thương mại được thành lập tại Việt Nam, bằng vốn góp của Bên Việt Nam (gồm một hoặc nhiều ngân hàng Việt Nam) và

Trang 33

Bên nước ngoài (gồm một hoặc nhiều ngân hàng nước ngoài) trên cơ sở hợp đồng liên doanh Ngân hàng thương mại liên doanh được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn từ hai thành viên trở lên, là pháp nhân Việt Nam, có trụ sở chính tại Việt Nam

Chi nhánh ngân hàng nước ngoài là đơn vị phụ thuộc của các tổ chức tài chính nước ngoài (ngân hàng mẹ), hoạt động theo giấy phép kinh doanh do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp và tuân thủ quy định pháp luật Việt Nam; được ngân hàng mẹ bảo đảm bằng văn bản về việc chịu trách nhiệm đối với mọi nghĩa vụ của chi nhánh tại Việt Nam

Ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài là ngân hàng thương mại được thành lập tại Việt Nam với 100% vốn điều lệ thuộc sở hữu nước ngoài; trong đó phải có một ngân hàng nước ngoài sở hữu trên 50% vốn điều lệ (ngân hàng mẹ) Ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc từ hai thành viên trở lên, là pháp nhân Việt Nam, có trụ sở chính tại Việt Nam

Tính đến thời điểm ngày 31/12/2014, hệ thống ngân hàng Việt Nam bao gồm: 1 NHTMNN (là Agribank) , 37 NHTMCP (trong đó 4 ngân hàng có vốn nhà nước giữ cổ phần chi phối là Vietcombank, Vietinbank, BIDV, MHB), 46 chi nhánh NHNNg, 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 4 ngân hàng liên doanh

2.2 Thực trạng hoạt động của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008-2012

2.2.1 Thành tựu đạt được

Phát triển nhanh về số lượng và nguồn vốn sở hữu: sau khi đổi mới, nhất là từ khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), hệ thống các NHTM VN đã có bước phát triển nhanh về mặt số lượng Tính đến 31/12/2012, hệ thống các NHTM VN có 34 NHTM cổ phần, 5 NHTM nhà nước (trong đó có 4 ngân hàng đã cổ phần hoá thành công,

có vốn nhà nước chiếm trên 50%), 50 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 5 ngân hàng

Trang 34

100% vốn nước ngoài, 4 ngân hàng liên doanh Chính sự phát triển nhanh về mặt số lượng, cho đến nay hệ thống các NHTM đã có mạng lưới bao phủ đến tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước, đặc biệt có NHTM đã xây dựng hệ thống các chi nhánh bao phủ đến tận huyện, thậm chí là tới các xã, liên xã; mạng lưới của hệ thống NHTM trải rộng khắp đến các vùng, miền của đất nước, qua đó ngày càng đáp ứng nhu cầu sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước

Bảng 2.1: Số lượng ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 1991-2012

Loại hình ngân hàng 1991 1997 2008 2010 2012

(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)

Bên cạnh đó, dưới áp lực tăng vốn điều lệ nhằm đáp ứng yêu cầu cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế, cũng như đáp ứng yêu cầu theo quy định tại Nghị định số 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006 của Chính phủ thì đến năm 2010, vốn điều lệ tối thiểu của các ngân hàng thương mại phải đạt 3.000 tỷ VND Đến cuối năm 2012, các ngân hàng đã thực hiện xong quy định vốn pháp định tối thiểu, trong đó một số ngân hàng còn

có số vốn điều lệ khá cao, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài cũng dần tăng quy mô vốn điều lệ để đảm bảo hoạt động từ trên 15 triệu USD Hầu hết các NHTMNN thuộc nhóm có vốn điều lệ cao nhất: đứng đầu là Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank): 29.154 tỷ đồng, NHTM cổ phần Công thương Việt Nam (Vietinbank): 26.218 tỷ đồng, NHTM cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank): 23.174 tỷ đồng, NHTM cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV): 23.011 tỷ đồng

Trang 35

Nhóm NHTMCP đứng đầu là: Eximbank với 12.355 tỷ đồng, Sacombank: 10.740 tỷ đồng, SCB: 10.592 tỷ đồng, MB: 10.000 tỷ đồng, ACB: 9.377 tỷ đồng

(Nguồn: Báo cáo tài chính của các NHTM năm 2012, đơn vị tính: tỷ đồng)

Hình 2 1: Danh sách các NHTM có vốn điều lệ cao nhất tính đến 31/12/2012

Dư nợ cho vay tăng nhanh trong những năm vừa qua Tính đến 31/12/2012, dư nợ cho vay toàn ngành kinh tế đạt 2.745.640 tỷ đồng , đây là nguồn vốn đáng kể góp phần cho việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của đất nước, cũng như góp phần xóa đói, giảm nghèo và ổn định trật tự xã hội Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng cũng tăng trong 2 năm

2009 và 20120, tuy nhiên năm 2011, với những biện pháp thắt chặt tín dụng từ phía NHNN, tăng trưởng tín dụng giảm dần và năm 2012 đạt 8,91% nhưng tăng trưởng kinh

tế năm 2012 vẫn đạt 5,03% cho thấy đầu tư có hiệu quả hơn

Trang 36

(Nguồn: Báo cáo thường niên Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)

Hình 2 2: Dư nợ và tốc độ tăng trưởng dư nợ của NHTM VN giai đoạn 2008-2012

Hệ thống công nghệ ngành ngân hàng đã có sự tiến bộ rõ rệt: Điều này được thể hiện rất rõ là nếu như trước đây, trong khâu thanh toán phải mất thời gian từ 1 ngày đến hàng tuần mới thực hiện hoàn chỉnh một giao dịch thanh toán, thì ngày nay nhờ có đổi mới công nghệ, thời gian thanh toán đã được rút ngắn chỉ được tính bằng phút, thậm chí bằng giây Hơn thế nữa, nhờ có đổi mới công nghệ mà hệ thống ngân hàng thương mại

đã đưa ra được rất nhiều các sản phẩm dịch vụ giá trị gia tăng dựa trên nền tảng công nghệ thông tin, chẳng hạn như: dịch vụ như ATM, POS, EDC, Internet Banking, Telephone Banking, ngân hàng trực tuyến từ đó đã góp phần không nhỏ trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng, cũng như góp phần thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển

2.2.2 Những thách thức đặt ra

Vấn đề đầu tiên chính là tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng luôn căng thẳng Tính thanh khoản của các NHTM ngày càng giảm sút thể hiện tỷ lệ tổng tín

Trang 37

dụng/tổng vốn huy động tăng liên tục nhưng nguồn vốn huy động vào lại có biểu hiện giảm Tỷ lệ cho vay/vốn huy động lại có xu hướng tăng lên, năm 2008 là 95%, năm 2009

là 105%, năm 2010 là 130,7% và năm 2011 là 128,96% và năm 2012 là 121,07% Đây là điều không tốt để tăng tính thanh khoản trong hoạt động cho vay của ngân hàng Tỷ lệ này ở hầu hết các quốc gia châu Á đều thấp hơn 80% trong khi VN có thời điểm lên đến hơn 130%, vì vậy NHNN đã ban hành Thông tư 13/2010/TT-NHNN có hiệu lực vào tháng 10/2010 quy định tỷ lệ này ở mức tối đa 80% cho các ngân hàng và 85% cho các tổ chức tín dụng khác nhưng cho đến cuối năm 2012 tỷ lệ này vẫn chưa giảm và vấn đề vẫn chưa được giải quyết triệt để

(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)

Hình 2 3: Tỷ lệ cho vay/huy động vốn của các NHTM giai đoạn 2008-2012

Hệ quả là, để đáp ứng nhu cầu thanh khoản, các NHTM đã cạnh tranh gay gắt trong việc huy động vốn, đẩy lãi suất huy động lên cao Lãi suất huy động VND năm

2011 có lúc bị đẩy lên tới 18-19% để hấp dẫn người gửi tiền Lãi suất huy động lên cao kéo theo hệ lụy là lãi suất cho vay tăng cao, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ít rủi

ro nhưng lợi nhuận thấp không thể vay được vốn dẫn đến thiếu vốn cho hoạt động của

Trang 38

mình Thậm chí lần đầu tiên, các ngân hàng thương mại lớn khi cho các ngân hàng thương mại nhỏ khó khăn về thanh khoản vay đều yêu cầu phải có tài sản đảm bảo Đồng thời, một số khoản cho vay liên ngân hàng đã quá hạn khiến ngân hàng thương mại cho vay phải trích lập dự phòng Tuy giá trị trích lập dự phòng chưa lớn nhưng điều này cho thấy những khó khăn và những yếu kém trong việc quản lý rủi ro thanh khoản của một số ngân hàng thương mại

Hai là, các TCTD trong nước nhìn chung có năng lực tài chính còn hạn chế và hiệu quả kinh doanh thấp Theo quy định của Nghị định của Chính phủ số 141/2006/NĐ-

CP các NHTM phải đáp ứng mức vốn điều lệ tối thiểu là 3.000 tỷ đồng đến cuối năm

2010 Tuy nhiên, Chính phủ đã gia hạn thời gian này đến cuối năm 2011 do còn khá nhiều ngân hàng chưa đáp ứng được Tính đến 31/12/2012 tất cả các NHTM đều đáp ứng được Theo thống kê của NHNN có đến 20 NHTM mức vốn điều lệ dưới 5.000 tỷ đồng (tương đương 240 triệu USD) NHTM có mức vốn điều lệ lớn nhất hiện nay là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (29.154 tỷ đồng tương đương 1,4 tỷ USD) thấp xa so với những ngân hàng lớn của một số quốc gia trong khu vực như Ngân hàng Bangkok Thái Lan: hơn 3tỷ USD, Ngân hàng DBS của Singapore: hơn 9 tỷ USD, Ngân hàng Mandiri của Indonesia hơn 2 tỷ USD, Ngân hàng Maybank của Malaysia: hơn

4 tỷ USD và Ngân hàng Philippines: hơn 9 tỷ USD)

Khả năng sinh lời của các hệ thống TCTD ở mức khá thấp so với mức độ rủi ro cũng như so với các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới Theo hình 2.4 cả ROA và ROE đều có xu hướng giảm nhẹ từ năm 2009-2011, nhưng giảm mạnh từ 2011-2012 do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu và suy thoái kinh tế đã tác động đến hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam

Trang 39

(Nguồn: Uỷ ban Giám sát Tài chính Quốc gia)

Hình 2 4: Các chỉ tiêu về hiệu quả sinh lời ROA, ROE của các TCTD Việt Nam

Ba là, nợ xấu ngân hàng đang đứng ở mức cao Hình 2.6 cho thấy tỷ lệ nợ xấu có

xu hướng tăng trong giai đoạn 2008-2012 Cụ thể: năm 2008 là 2,17%; năm 2009 là 2,05%; năm 2010 là 2,16%; năm 2011 là 3,3% và năm 2012 tăng vọt lên 8,6%.Tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng Việt Nam có chiều hướng tăng mạnh trong 2011 và 2012 là hệ quả của việc tăng trưởng tín dụng nóng bất chấp những quy định an toàn trong cho vay của hệ thống ngân hàng Tình trạng trên cho thấy những bất ổn trong hoạt động của ngân hàng và vấn đề này cần phải được giải quyết triệt để và quyết liệt

Tuy nhiên, những con số mà các ngân hàng đã công bố được rất nhiều chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước đánh giá là chưa đáng tin cậy, con số thực có thể cao hơn nhiều Theo đánh giá của hãng xếp hạng tín nhiệm Fitch Ratings năm 2011 tỷ lệ này không thể thấp hơn hai con số (vào khoảng 13%) Lý do khiến cho có sự sai lệch so với con số do NHNN Việt Nam công bố chính là cách phân loại nợ Các NHTM Việt Nam vẫn phân loại nợ chủ yếu dựa vào thời hạn mà không đánh giá được một cách chính xác tình hình tài chính, kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Điều này dẫn đến việc phân loại nợ vào nhóm không phản ánh đúng thực chất khoản nợ Ngoài ra, việc sắp xếp

Trang 40

lại các khoản nợ, đƣa nợ ra ngoại bảng và gia hạn nợ đã làm cho tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng giảm đáng kể

(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)

Hình 2 5: Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt nam giai đoạn 2008-2012

Bốn là, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu có thể giảm sụt nếu các NHTM trích lập quĩ dự phòng đúng, đủ theo đúng quy định của NHNN do tỷ lệ nợ xấu tăng cao, trong khi các nguồn thu khác giảm xống, điều tất nhiên tỷ lệ này sẽ bị sụt giảm rất nhanh nếu nhƣ các NHTM tuân thủ đúng theo quy định của NHNN, hạch toán đúng, đủ dự phòng cho các

Ngày đăng: 17/09/2020, 12:30

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w