Hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu tại các ngân hàng thương mại quốc doanh Việt Nam
Trang 1Phần mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực tế lịch sử đã chứng minh rằng, trong thời đại ngày nay không một quốc gia nào có thể phát triển trong sự cô lập, tách biệt với thế giới bên ngoài Kinh tế đối ngoại là phơng tiện giúp cho mỗi quốc gia khai thác, phát huy những lợi thế của mình trên con đờng phát triển, hoà nhập và mở cửa
Hoạt động xuất nhập khẩu (XNK) là một trong những hình thức cơ bản nhất của kinh tế đối ngoại Ngày nay, dới tác động của các thành tựu khoa học - công nghệ cùng với chính sách mở cửa của nhiều quốc gia, hoạt động XNK ngày càng đợc mở rộng, ngày càng đa dạng, phong phú Kèm theo đó tính phức tạp và sự cạnh tranh trong lĩnh vực này ngày càng trở nên gay gắt
Ngân hàng thơng mại quốc doanh (NHTMQD) nằm trong hệ thống các ngân hàng thơng mại có vài trò quan trọng góp phần giúp các doanh nghiệp mở rộng và phát triển XNK thông qua hai hoạt động chủ yếu là tín dụng XNK và thanh toán quốc tế (TTQT) Vì vậy, hoạt động của NHTMQD cũng phải thay đổi để bắt kịp với sự phát triển không ngừng của thơng mại quốc tế
Trong thời gian qua, các NHTMQD đã có những đóng góp đáng kể trong việc thúc đẩy hoạt động XNK tuy nhiên vẫn còn bộc lộ nhiều mặt bất cập
Thực trạng này đặt ra sự cấp thiết phải nghiên cứu một cách toàn diện vấn đề các NHTMQD trong việc tài trợ hoạt dộng XNK để đa ra những giải pháp hoàn thiện và mở rộng hoạt động của hệ thống NHTMQD, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu, chiến lợc XNK của Việt Nam giai đoạn tới
2 Tình hình nghiên cứu
Trong những năm gần đây, vấn đề kinh tế đối ngoại và hoạt động ngân hàng đã đợc đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu: luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ ví dụ nh Luận án tiến sĩ kinh tế năm 2000 “Vận dụng kinh nghiệm phát triển kinh tế đối ngoại trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở các nớc ASEAN vào Việt Nam”, Luận án tiến sĩ năm 2001 “Việt Nam
Trang 2gia nhập ASEAN và ảnh hởng của nó đối với sự phát triển kinh tế ở Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ kinh tế “Giải pháp xử lý tài sản thế chấp đang tồn
đọng tại Ngân hàng công thơng Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ kinh tế năm
2001 “Giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Hải Dơng” vv
Các công trình đã nghiên cứu chủ yếu đi sâu phân tích những vấn đề liên quan đến kinh tế đối ngoại, hoặc tài chính tiền tệ ngân hàng ở tầm vĩ mô
và mang tính chất chuyên sâu ở từng lĩnh vực của kinh tế đối ngoại hoặc tài chính tiền tệ ngân hàng Tuy nhiên việc nghiên cứu về hoạt động của hệ thống NHTMQD trong lĩnh vực tài trợ XNK hầu nh còn cha đợc chú ý đúng mức
Bởi vậy, cần thiết phải có công trình nghiên cứu một cách toàn diện về NHTMQD và vai trò của nó đối với sự phát triển hoạt động XNK
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn: trên cơ sở phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động của các NHTMQD Việt Nam trong lĩnh vực tài trợ XNK, đề xuất các định hớng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn là hoạt động tài trợ XNK chủ yếu dới các hình thức tín dụng và TTQT tại các NHTMQD Việt Nam
Về thời gian : Luận văn chu yếu tập trung nghiên cứu, xem xét vấn đề trên trong thời gian từ 1995 đến nay
Trang 35 Phơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phơng pháp biện chứng duy vật với tính cách là
ph-ơng pháp tổng quát để xem xét các vấn đề có liên quan đến đối tợng nghiên cứu Trên nền tảng phơng pháp luận chung đó, luận văn chú trọng sử dụng các phơng pháp nghiên cứu cụ thể nh: sử dụng phơng pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, lựa chọn mẫu với những số liệu thực tế để luận chứng
6 Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hoá những khía cạnh lý luận cơ bản về hoạt động XNK, về tín dụng ngân hàng (TDNH), TTQT và vai trò của chúng đối với hoạt động XNK
- Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng XNK và TTQT tại các NHTMQD ở Việt Nam trong thời gian gần đây
- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTMQD trong lĩnh vực tín dụng và TTQT trong thời gian tới
7 Nội dung và kết cấu của luận văn
Tên luận văn : “Hoạt động tài trợ XNK tại các NHTMQD Việt Nam”.Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chơng:
Chơng 1 : NHTM và vai trò của nó đối với hoạt động XNK.
Chơng 2 : Thực trạng hoạt động tín dụng XNK và TTQT tại các NHTMQD Việt Nam.
Chơng 3 : Định hớng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động tín dụng XNK và TTQT của các NHTMQD Việt Nam
Chơng 1NHTM và vai trò của nó đối với hoạt động XNK
Trang 41.1 Kinh doanh XNK và các nhân tố ảnh hởng
1.1.1 Kinh doanh XNK
XNK là hoạt động kinh doanh buôn bán ở phạm vi quốc tế, là sự trao
đổi giữa một quốc gia với các quốc gia khác, dới hình thức mua bán hàng hoá
và dịch vụ, kể cả các dịch vụ kèm theo việc mua bán hàng hoá nh bảo hành, sửa chữa, lắp ráp máy móc, bảo hiểm, TTQT, vận chuyển hàng hoá v.v
Nói đến XNK là phải kể đến một hệ thống các quan hệ mua bán trong một nền thơng mại có tổ chức cả bên trong và bên ngoài nhằm mục đích phát triển sản xuất hàng hoá, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ổn định và từng bớc nâng cao mức sống của nhân dân
XNK là hoạt động kinh tế đối ngoại đợc coi là cầu nối giữa thị trờng trong nớc và thị trờng quốc tế Nó có khả năng đem lại những hiệu quả đột biến rất cao hoặc ngợc lại có thể gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế quốc gia Bởi vì, nó luôn phải đối đầu với một hệ thống kinh tế khác từ bên ngoài mà các chủ thể trong nớc tham gia XNK không dễ dàng khống chế đợc Bởi vậy, trong lĩnh vực XNK mỗi quốc gia đều phải tìm mọi biện pháp để phát huy những tác động tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực nhằm đạt đợc hiệu quả kinh tế - xã hội cao {18}
Để thực hiện mục tiêu nói trên cần phải nắm vững đặc điểm của kinh doanh XNK
Nhờ có hoạt động XNK mà các quốc gia có khả năng phát huy lợi thế
so sánh của quốc gia mình Tất cả các quốc gia khi tiến hành hoạt động XNK
đều có khả năng phát triển đợc thế mạnh của mình để sản xuất ra các hàng hoá có chi phí thấp hơn so với việc sản xuất hàng hoá đó ở các nớc khác
Hoạt động XNK thu hút nhiều thành phần và chủ thể tham gia Trong
điều kiện nền kinh tế thị trờng, với yêu cầu tồn tại và phát triển đòi hỏi các chủ thể phải năng động, sáng tạo, phát huy tinh thần tự chủ, tự chịu trách nhiệm, luôn tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả kinh tế Nhờ vậy, XNK
có tác dụng phát huy nội lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế
Trang 5XNK trong nền kinh tế thị trờng với nhiều thành phần chủ thể tham gia tất yếu sẽ dẫn đến sự hình thành các mô hình liên doanh liên kết giữa các chủ thể kinh tế trong và ngoài nớc, sự liên kết giữa khâu sản xuất với hoạt động nghiên cứu khoa học, tiêu thụ hàng hoá v.v Sự kết hợp tự giác này có tác dụng phát huy sức mạnh của các chủ thể kinh tế, tạo điều kiện chủ động trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực.
Khi tiến hành hoạt động XNK, ngoài các lợi ích nh đã nêu ở trên, các quốc gia cũng không thể tránh khỏi những tác động tiêu cực do hoạt động này gây ra Tác động tiêu cực lớn nhất mà các quốc gia phải gánh chịu đó là
sự phụ thuộc vào nền kinh tế bên ngoài
Những biến động của nền kinh tế thế giới của thị trờng XK hay thị ờng NK hoặc ít hoặc nhiều đều có ảnh hởng đến hoạt động XNK của các quốc gia Trong nhiều trờng hợp những ảnh hởng này là vô cùng sâu sắc và gây ra những tổn thất nặng nề cho nền kinh tế của các quốc gia
tr-1.1.2 Các nhân tố ảnh hởng đến hoạt động XNK
Hoạt động XNK là hoạt động phức tạp, chịu ảnh hởng của nhiều nhân
tố, trong đó có các nhân tố chủ yếu sau:
- Chế độ, chính sách, luật pháp trong và ngoài nớc :
Đây là yếu tố mà các DN kinh doanh XNK buộc phải nắm chắc và tuân thủ Bởi vì, chế độ, chính sách, luật pháp thể hiện ý chí, quan điểm, đ-ờng lối của giai cấp cầm quyền ở mỗi nớc trong mối quan hệ với sự thống nhất chung của cộng đồng quốc tế Chúng bảo vệ lợi ích chung của các tầng lớp trong xã hội cũng nh lợi ích của các nớc trên thơng trờng quốc tế
Hoạt động XNK đợc tiến hành giữa các chủ thể ở các quốc gia khác nhau, bởi vậy nó chịu tác động của chính sách, chế độ luật pháp ở các quốc gia đó, đồng thời nó cũng phải tuân theo những quy định, luật pháp quốc tế Luật pháp quốc tế buộc các nớc vì lợi ích chung phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm và nghĩa vụ của mình trong hoạt động XNK, do đó tạo nên sự tin tởng cũng nh hiệu quả cao trong hoạt động này Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay những nớc nghèo, kinh tế kém phát triển thờng bị nhiều thiệt thòi trong quan hệ kinh tế quốc tế Để hạn chế tình trạng này đòi hỏi họ phải nỗ lực rất cao về nhiều mặt
Trang 6- Sự biến động của thị trờng trong và ngoài nớc :
Hoạt động XNK thực hiện chức năng cầu nối giữa thị trờng quốc gia với thị trờng quốc tế, xét ở phạm vi hẹp đó là quan hệ giữa thị trờng của 2 n-
ớc có quan hệ trao đổi mua bán với nhau Một mặt, hoạt động XNK tạo nên
sự phù hợp gắn bó giữa 2 thị trờng, mặt khác nó phản ánh sự tác động qua lại giữa chúng và sự biến động của từng thị trờng Cụ thể, sự tồn đọng, giảm nhu cầu về hàng hoá ở thị trờng nội địa sẽ dẫn đến tình trạng suy giảm khối lợng các chủng loại hàng nhập khẩu có liên quan Cũng nh vậy, sự biến động nhu cầu của thị trờng nớc ngoài có tác động trực tiếp tới hoạt động xuất khẩu hàng hoá
- ảnh hởng của nền kinh tế, tình trạng sản xuất của các DN trong và ngoài nớc
Động thái phát triển kinh tế, trớc hết là tình hình sản xuất của các DN trong và ngoài nớc có ảnh hởng trực tiếp đến hoạt động XNK Mối quan hệ này đợc biểu hiện ở nhiều mặt khác nhau Thứ nhất, đối với các DN sản xuất sản phẩm thay thế nhập khẩu : sự phát triển các DN sản xuất trong nớc sẽ tạo
ra sự cạnh tranh mạnh mẽ với hàng nhập khẩu, do vậy làm giảm nhu cầu nhập khẩu Ngợc lại, nếu trình độ sản xuất trong nớc kém phát triển, không
đủ khả năng sản xuất những mặt hàng đòi hỏi kỹ thuật cao thì nhu cầu nhập khẩu các loại sản phẩm đó tăng lên Thứ hai : các DN sản xuất trong nớc phát triển ở trình độ cao, chúng có khả năng tạo ra sản phẩm có chất lợng và hạ giá thành thấp hơn giá quốc tế thì sản phẩm xuất khẩu của họ có u thế Nó tác động trực tiếp đến quy mô, hiệu quả xuất khẩu làm tăng nguồn thu ngoại
tệ cho đất nớc
Sự phát triển của sản xuất nớc ngoài sẽ tạo ra xu hớng làm tăng khả năng nhập khẩu Bởi lẽ, sản xuất nớc ngoài tạo ra nhiều sản phẩm mới hấp dẫn, phù hợp với nhu cầu của thị trờng trong nớc
Về cơ cấu, muốn có nhiều hàng hoá xuất khẩu đạt hiệu quả cao phải
đồng thời tác động vào nhiều yếu tố nhằm phát triển sản xuất trong nớc, nâng cao chất lợng và hạ giá thành sản phẩm
- ảnh hởng của trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng, kỹ thuật
Trang 7Hoạt động XNK luôn gắn liền và bị quy định bởi trình độ thông tin liên lạc và hệ thống giao thông vận tải - vận chuyển hàng hoá.
Phơng tiện thông tin liên lạc và giao thông vận tải hiện đại, thuận tiện, nhanh chóng có tác động trực tiếp đến việc rút ngắn thời gian thực hiện các khâu nghiệp vụ của hoạt động XNK nh trao đổi, thoả thuận, ký kết hợp đồng, giao nhận hàng hoá và thanh toán Nhờ đó, các khâu công việc đợc đơn giản hoá, chi phí giao dịch giảm, hoạt động XNK đợc tiến hành kịp thời, chính xác và tiết kiệm
- ảnh hởng của hệ thống tài chính ngân hàng
Thời đại ngày nay, hoạt động của hệ thống ngân hàng, tài chính đã phát triển rất mạnh và ngày càng đợc hiện đại hóa Hoạt động này có liên quan chặt chẽ tới hoạt động của nền kinh tế thế giới nói chung, cũng nh nền kinh tế của mỗi quốc gia và từng DN nói riêng, không phân biệt trình độ và quy mô phát triển
Vai trò quan trọng của hoạt động ngân hàng, tài chính đợc thể hiện tập trung nhất trong việc cung cấp vốn, thanh toán một cách thuận tiện, nhanh chóng và chính xác
Hoạt động XNK khó có thể thực hiện đợc thuận lợi nếu không có sự
hỗ trợ của hệ thống ngân hàng, tài chính Dựa trên các mối quan hệ, uy tín và nghiệp vụ của mình, các ngân hàng đảm bảo cung ứng đầy đủ các dịch vụ ngân hàng quốc tế, giảm phí tổn giao dịch, đảm bảo đợc lợi ích của các DN tham gia hoạt động XNK, góp phần thúc đẩy việc buôn bán giữa các nớc phát triển Đồng thời, các DN XNK cũng đợc các ngân hàng đứng ra bảo lãnh hoặc cho vay với khối lợng lớn nhằm tạo điều kiện cho các DN trong việc nắm bắt thời cơ phát triển hoạt động kinh doanh của mình {24}
Nh vậy, qua đây ta thấy đợc XNK là một loạt hoạt động kinh tế phức tạp Nó có những đặc điểm riêng và chịu ảnh hởng của nhiều yếu tố Bởi vậy XNK đòi hỏi sự hỗ trợ từ nhiều lĩnh vực : Các chế độ chính sách luật pháp ở tầm vĩ mô, đầu t cho việc nâng cao trình độ kỹ thuật, công nghệ áp dụng vào sản xuất, các hoạt động nghiên cứu nắm bắt nhu cầu thị trờng, hệ thống giao thông vận tải, thông tin liên lạc Trong đó hoạt động tài trợ từ phía các NHTM chiếm một vị trí hết sức quan trọng
Trang 81.2 Đặc điểm của NHTM và vai trò của nó đối với hoạt
động XNK
1.2.1 Đặc điểm của NHTM
Ngân hàng thơng mại (NHTM) là trung gian tài chính, có giấy phép kinh doanh của chính phủ, là trung tâm nhận tiền gửi của khách hàng, cung cấp cho khách hàng dịch vụ chi trả cùng với việc tạo điều kiện thuận lợi cho việc gửi tiền tiết kiệm, cho vay và các loại hình dịch vụ khác
NHTM là một DN hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ có các chức năng chủ yếu sau :
- Chức năng huy động vốn : NHTM có chức năng nhận tiền gửi của các cá nhân, DN và các tổ chức
- Chức năng tín dụng : Đây là chức năng làm cho NHTM trở nên đặc biệt vì các NHTM là nguồn chính để tài trợ, cung cấp tín dụng cho những ng-
ời có nhu cầu về vốn ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, những nhà hoạch
định chính sách luôn phải xác định các lĩnh vực cần đợc u tiên, trợ giúp về vốn cho nhu cầu phát triển Thí dụ ở nớc ta, vốn tín dụng ngân hàng đợc tập trung cho việc thực hiện các mục tiêu, chơng trình lớn của Đảng và nhà nớc
nh : chơng trình phát triển nông nghiệp - nông thôn, chơng trình xoá đói giảm nghèo, chơng trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, chơng trình làm nhà trên cọc ở vùng đồng bằng sông Cửu Long v.v
- Chức năng “tạo tiền”: thông qua việc huy động tiền gửi và cho vay, trên cơ sở tạo ra những phơng tiện thanh toán mới nh séc, thẻ tín dụng, hệ thống NHTM có khả năng mở rộng hay thu hẹp mức cung tiền Vì vậy, hoạt
động của hệ thống NHTM là một kênh quan trọng để NHTW thực hiện chính sách tiền tệ
- Chức năng thanh toán (thanh toán trong nớc và quốc tế): Dịch vụ thanh toán là đặc thù của các NHTM, tính hiệu quả của dịch vụ này đã đem lại lợi ích trực tiếp cho nền kinh tế Trong thực tế, bất kỳ một trục trặc nào trong hệ thống thanh toán của các NHTM cũng đủ gây sự bế tắc và thiệt hại cho nền kinh tế
Trang 9Ngoài ra NHTM còn một số các chức năng khác nh cung ứng các dịch
vụ uỷ thác, bảo lãnh, bảo quản tài sản có giá vv
Thông qua các chức năng hoạt động, NHTM có vai trò hết sức quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế nói chung trong đó có hoạt động XNK
Trong các chức năng nói trên của NHTM thì hoạt động tín dụng ngân hàng và TTQT là hai chức năng có ảnh hởng trực tiếp đến hoạt động XNK Hiệu quả hoạt động của 2 chức năng này sẽ quyết định hiệu quả chức năng tài trợ XNK của NHTM {5, 8}
1.2.2 Tín dụng ngân hàng và vai trò của nó đối với hoạt
động XNK
1.2.2.1 Tín dụng và các hình thức của nó trong nền kinh tế thị trờng
Tín dụng là một phạm trù của kinh tế hàng hoá, phản ánh quan hệ kinh
tế giữa 2 chủ thể, trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia
đợc sử dụng trong một thời hạn nhất định, đồng thời bên nhận (khách nợ) hết thời hạn phải hoàn trả cho chủ nợ khoản vay và kèm theo khoản tiền lãi
Trong từng DN, có lúc vốn tạm thời để rỗi nhng có lúc lại thiếu vốn cha tích luỹ đợc Song nếu xem xét trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân thì tại bất cứ thời điểm nào thì sự vận động của vốn cũng thông qua hai nhóm quan
hệ : Nhóm DN hoặc cá nhân có vốn tạm thời nhàn rỗi cha sử dụng đến nhng với tính cách là vốn đòi hỏi phải sinh lời; Cũng trong lúc đó, một nhóm DN hoặc cá nhân khác muốn mở mang hoặc đổi mới kỹ thuật sản xuất kinh doanh có nhu cầu vốn bổ sung tạm thời nhng cha tích lũy kịp Trong điều kiện đó, đòi hỏi phải có tín dụng làm cầu nối giữa nơi tạm thời thừa vốn và nơi tạm thời thiếu vốn
Nền kinh tế thị trờng càng phát triển, sản xuất không chỉ là tái sản xuất theo quy mô cũ và dựa trên kỹ thuật thủ công mà còn thực hiện mô hình tái sản xuất mở rộng dựa trên kỹ thuật và công nghệ cơ khí hoá và hiện đại Do vậy, nhu cầu vốn đầu t có quy mô lớn hơn, thờng xuyên hơn, diễn ra không chỉ với vốn lu động mà cả nhu cầu vốn để mua sắm tài sản cố định Để thoả mãn nhu cầu này, các DN phải dựa vào nguồn vốn trong xã hội thông qua việc tiết kiệm vốn Nguồn vốn tiết kiệm trong xã hội bao gồm : Vốn tiết kiệm
Trang 10cá nhân, vốn của các DN, của nhà nớc Mỗi khoản tiết kiệm nh vậy gắn với một mục đích nhất định, nhng trong thời gian chờ đợi cha thực hiện mục đích
đã định, những ngời có vốn tiết kiệm sẽ có thể sử dụng để cho vay, mua trái phiếu hoặc gửi vào các tổ chức tín dụng để sinh lời
Nh vậy tín dụng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu t phục vụ cho các hoạt
động sản xuất kinh doanh trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Có nhiều tiêu thức để phân loại hình thức tín dụng Căn cứ vào thời hạn vay trả, các nhà kinh tế chia tín dụng thành tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung hạn và tín dụng dài hạn Căn cứ vào đối tợng tín dụng, ngời ta chia thành tín dụng vốn lu động và tín dụng vốn cố định Song với đặc điểm của tín dụng là quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng thông qua việc chuyển nh-ợng, lấy tiêu thức “chuyển nhợng” làm căn cứ để phân chia các hình thức tín dụng, ngời ta chia thành TDTM và tín dụng ngân hàng
- Tín dụng thơng mại:
Khi đa ra định nghĩa về TDTM, C.Mác viết : “TDTM cũng có nghĩa là cho vay bằng hàng hoá, mà khi cho vay bằng hàng hoá giá trị hàng hoá đó đ-
ợc hai bên đơng sự quy ra bằng tiền và việc chuyển dịch những hàng hoá đó
có nghĩa là một việc bán rồi, thì trong số tiền phải hoàn trả bao gồm một khoản thù lao về việc sử dụng t bản và về sự rủi ro có thể xảy ra trớc khi đến
kỳ hạn trả ” Có thể hiểu ý tởng về TDTM qua các khía cạnh sau: TDTM là hình thức chuyển nhợng dới hình thái hiện vật (tức là hàng hoá), là quan hệ tín dụng giữa các nhà doanh nhiệp đợc biểu hiện dới hình thức mua bán chịu hàng hoá ở đây, sự vận động của tiền tệ không đồng thời với sự vận động của hàng hoá Nói cách khác sự vận động của hàng hoá đi trớc sự vận động của tiền tệ Điều này dễ hiểu bởi lẽ có nhiều trờng hợp hàng hoá của một số
DN đã sẵn sàng bán, trong lúc đó có một số DN khác cha sẵn sàng mua, nói chính xác là muốn mua nhng cha có tiền hoặc cha đủ tiền Kết quả là lu thông hàng hoá bị tắc nghẽn Giải thoát hiện tợng này, DN bán hàng muốn thực hiện đợc việc bán sản phẩm phải bán chịu hàng hoá cho ngời mua mà thực chất nh Các Mác nói : “ cho vay bằng hàng hoá”, tức là TDTM Thực chất của việc thực hiện TDTM là tín dụng hàng hoá, mà ở đó ngời bán ứng tr-
ớc cho ngời mua một khoản tiền dới hình thức cho vay và số tiền này là giá bán chịu hàng hoá Dĩ nhiên, khi đến hạn phải trả cho ngời bán, ngời mua
Trang 11phải trả cao hơn (đắt hơn) khoản tiền hàng hoá đó nếu họ trả tiền ngay sau khi nhận hàng Số tiền chênh lệch này về thực chất là lợi tức TDTM.
Trong nền kinh tế hàng hoá, không phải mỗi nhà kinh doanh chỉ có mua chịu, trái lại họ vừa là ngời mua chịu vừa là ngời bán chịu dựa trên sự tín nhiệm lẫn nhau giữa hai bên về sự thanh toán sòng phẳng sau thời hạn thoả thuận Mặc dù vậy, sự tín nhiệm lẫn nhau không dừng lại ở ý niệm của mỗi bên mua và bán chịu mà cần đợc hợp pháp hoá trên chứng từ dới hình thức kỳ phiếu thơng mại hoặc gọi tắt là thơng phiếu Thơng phiếu là những chứng từ biểu thị một quan hệ tín dụng, một nghĩa vụ trả tiền, đợc lập ra trên cơ sở giao dịch thơng mại Công cụ thơng phiếu ra đời góp phần làm cho lu thông hàng hoá đợc tiến hành thuận lợi Thơng phiếu có thể tồn tại dới dạng : Hối phiếu (Bill of exchange), lệnh phiếu (Promissory note), séc (Check) Kỹ thuật nghiệp vụ của thơng phiếu ngày một phát triển và hoàn thiện đã tạo điều kiện cho TDTM phát triển từ quan hệ song phơng giữa bên bán và bên mua đến quan hệ nợ nần dây da trong quá trình mua bán chịu lẫn nhau giữa A, B, C, D Lối thoát khỏi sự bế tắc này tất yếu đợc giải quyết bằng cách lu thông kỳ phiếu thơng mại, thông qua chuyển nhợng, mua, bán thơng phiếu trên thị tr-ờng hoặc đem chiết khấu tại ngân hàng {13}
Tín dụng thơng mại bao gốm tín dụng thơng mại trong nớc và tín dụng thơng mại quốc tế Liên quan trực tiếp đến hoạt động XNK là tín dụng thơng mại quốc tế Tín dụng thơng mại quốc tế là quan hệ sử dụng vốn và cho vay lẫn nhau giữa các chủ thể của nớc này với các chủ thể của nớc khác theo nguyên tắc hoàn trả, có kỳ hạn và đợc đền bù TDTM quốc tế là loại hình tín dụng do các hãng kinh doanh XNK cung cấp lẫn cho nhau Thực chất đây là hình thức mua bán chịu quốc tế, cũng có thể hiểu là loại tín dụng đợc cấp bằng hàng hoá, dịch vụ, không phải trả bằng tiền Trong hình thức TDTM quốc tế, việc vay mợn luôn gắn liền với việc mua bán một loại hàng hoá dịch
vụ nào đó, sự vận động của tín dụng luôn gắn liền với sự vận động của thơng mại TDTM quốc tế có hai loại là tín dụng xuất khẩu và tín dụng nhập khẩu
+ Tín dụng xuất khẩu :
Tín dụng xuất khẩu là loại tín dụng do ngời xuất khẩu cấp cho ngời nhập khẩu để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá và duy trì mối quan hệ với khách hàng Có thể hiểu tín dụng xuất khẩu là quan hệ tín dụng mà ngời xuất khẩu
Trang 12cho phép ngời nhập khẩu mua chịu hàng hoá Trong hình thức tín dụng này, ngời xuất khẩu ở nớc ngoài sẽ xuất chuyển hàng hoá cho ngời nhập khẩu ở trong nớc đồng thời cấp tín dụng cho ngời nhập khẩu này bằng cách cho trả tiền sau một thời gian nhất định kể từ khi nhận đợc chứng từ hoặc nhận đợc hàng Tín dụng xuất khẩu đợc cấp bằng cách ký phát kỳ phiếu, chấp nhận hối phiếu và mở tài khoản Cấp tín dụng bằng cách mở tài khoản tức là thơng nhân xuất khẩu và thơng nhân nhập khẩu ký với nhau hợp đồng mua bán hàng hoá, trong đó quy định quyền của bên bán đợc mở một tài khoản để ghi
nợ sau mỗi chuyển giao hàng Sau từng thời gian nhất định đã quy định trong hợp đồng, ngời mua sẽ phải thanh toán số nợ đó cho bên bán hàng bằng cách chuyển tiền qua ngân hàng hoặc chuyển séc hoặc bằng kỳ phiếu trả tiền ngay Cấp tín dụng bằng cách chấp nhận hối phiếu tức là thơng nhân nhập khẩu ký chấp nhận trả tiền vào hối phiếu có kỳ hạn do thơng nhân xuất khẩu
ký phát để nhận toàn bộ chứng từ hàng hoá thông qua ngân hàng hoặc ngời xuất khẩu trực tiếp gửi cho họ Thời hạn của loại tín dụng này phụ thuộc vào
sự thoả thuận của hai bên mua và bán chịu Cấp tín dụng bằng cách ký phát
kỳ phiếu tức là thơng gia nhập khẩu có thể ký phát một kỳ phiếu cam kết sau một thời gian nhất định sẽ trả đủ số tiền cho ngời xuất khẩu
+ Tín dụng nhập khẩu :
Tín dụng nhập khẩu là loại tín dụng do ngời nhập khẩu cấp cho ngời xuất khẩu nhằm để nhập hàng thuận lợi Trong hình thức này, ngời mua (ngời nhập khẩu) ở nớc ngoài sẽ cấp tín dụng cho ngời bán (ngời xuất khẩu) ở trong nớc bằng cách ứng trớc tiền hàng cho ngời xuất khẩu Vì vậy, hình thức tín dụng này còn đợc gọi là tín dụng ứng trớc Tín dụng nhập khẩu có hai tác dụng :
• Đảm bảo cho ngời xuất khẩu có vốn để thực hiện các điều khoản
đã ký kết trong hợp đồng thơng mại (nh để sản xuất, chế biến, thu mua )
• Đảm bảo cho việc nhập hàng của ngời mua một cách chắc chắn và
an toàn
Tiền ứng trớc có tính chất tín dụng thờng đợc ngời nhập khẩu lớn ở các nớc phát triển cấp cho ngời xuất khẩu ở các nớc đang phát triển Lợi dụng sự
Trang 13nhập khẩu ở các nớc phát triển ký hợp đồng mua hàng với khoản tín dụng ứng trớc kèm theo những điều kiện hoàn toàn có lợi cho mình nh tính lãi suất cao, giá hàng nhập thấp, phạt vi phạm hợp đồng với mức cao vv
Có thể nói ngời xuất khẩu sử dụng tín dụng xuất khẩu nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá, còn ngời nhập khẩu sử dụng tín dụng nhập khẩu để nhập hàng đợc thuận lợi hơn
TDTM quốc tế có những tác động tích cực đối với nền kinh tế nh:Thứ nhất : TDTM quốc tế tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình lu thông hàng hoá quốc tế, kích thích sản xuất phát triển
Thứ hai : TDTM quốc tế tham gia vào việc điều tiết nhu cầu thừa, thiếu vốn giữa các nhà sản xuất kinh doanh ở các nớc khác nhau
Thứ ba : Tín dụng thơng mại quốc tế góp phần tiết kiệm tiền mặt thông qua quá trình lu thông các hối phiếu, kỳ phiếu trong thời gian nó có hiệu lực hay thông qua hình thức mở tài khoản
Tuy nhiên TDTM quốc tế cũng có những hạn chế nhất định nh :
Thứ nhất : hạn chế về quy mô tín dụng, biểu hiện ở chỗ khối lợng tín dụng phụ thuộc vào khả năng của các nhà DN, nghĩa là các nhà xuất khẩu chỉ
có thể bán chịu số lợng hàng hoá trong phạm vi số vốn tạm thời nhàn rỗi, ờng hợp ngời nhập khẩu có nhu cầu lớn hơn thì ngời xuất khẩu cũng không thể đáp ứng đợc
tr-Thứ hai : Hạn chế về thời hạn cho vay, lợng hàng hoá đem bán chịu đã nằm ở giai đoạn cuối của chu kỳ sản xuất, chuẩn bị chuyển thành tiền tệ nên TDTM quốc tế chỉ có thể là tín dụng ngắn hạn (nếu quá lâu sẽ ảnh hởng đến chu kỳ luân chuyển vốn của ngời xuất khẩu)
Thứ ba : Giới hạn về mặt phơng hớng, TDTM quốc tế chỉ có thể xảy ra
đối với các bên đã có quan hệ về cung cấp và tiêu thụ sản phẩm của nhau
Thứ t : TDTM quốc tế chỉ có thể đợc hình thành trên cơ sở tín nhiệm lẫn nhau giữa hai chủ thể mua và bán giữa hai nớc
Trang 14Tuy còn những hạn chế nhất định, song những năm gần đây với xu ớng cải tổ, chủ trơng đa dạng hoá các thành phần kinh tế, TDTM quốc tế đã bắt đầu đợc áp dụng ở nớc ta Tuy vậy, TDTM cấp cho ngời xuất khẩu và nhập khẩu vẫn còn áp dụng tơng đối ít mà hình thức phổ biến là tín dụng do ngân hàng cấp Tín dụng ngân hàng cấp chủ yếu dới các hình thức: cầm cố hàng hoá, chứng từ có giá và cho vay vv
h Tín dụng ngân hàng :
Tín dụng ngân hàng (TDNH) là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các nhà DN và cá nhân Nó là một nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ của ngân hàng, đợc thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả và có lãi
Trong lịch sử phát triển, TDTM xuất hiện sớm hơn tín dụng ngân hàng Cho đến nay cả hai loại hình tín dụng này vẫn đang phát triển song song với nhau Điều cần nhấn mạnh là cả hai loại hình tín dụng chỉ có thể phát triển thuận lợi khi chúng dựa vào nhau, cùng làm điều kiện, tiền đề cho nhau TDNH tuy khác với TDTM về hình thức, phạm vi, quy mô và thời gian hoạt động, song giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ và bổ sung cho nhau TDNH giúp khắc phục một số mặt hạn chế của TDTM về không gian
và địa lý, về quy mô tín dụng, về trờng hợp khi đến kỳ hạn trả tiền nếu vì lý
do nào đó mà ngời mua chịu không có hoặc không đủ tiền để trả Hoạt động TDTM thông qua công cụ thơng phiếu đã tạo tiền đề cho sự gắn bó giữa TDTM và tín dụng ngân hàng Sự gắn bó này nhờ thông qua việc thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và tái chiết khấu thơng phiếu tại ngân hàng, khi các đối tác có thơng phiếu và có nhu cầu về tiền
NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thờng xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng
số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phơng tiện thanh toán Các NHTM khi cần vốn cũng có thể đem thơng phiếu đã chiết khấu đến ngân hàng trung ơng để tái chiết khấu trong phạm vi quy định Nh vậy nghiệp vụ chiết khấu và tái chiết khấu về thực chất là nghiệp vụ tín dụng ngân hàng, một nghiệp vụ mà qua đó ngân hàng dành cho khách hàng đợc quyền sử dụng trớc kỳ hạn của thơng phiếu một khoản tiền của thơng phiếu sau khi đã khấu trừ khoản lãi phải thu
Trang 15Trải qua quá trình biến đổi và phát triển không ngừng, đến nay trên thế giới, các hình thức tín dụng, trớc hết là TDNH đã có sự biến đổi phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu Dới tác động nh vũ bão của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, của sự toàn cầu hoá và khu vực hoá, hoạt động TDNH đang nhanh chóng phát triển ở trình độ cao
1.2.2.2 Tín dụng ngân hàng đối với hoạt động XNK
Trong hoạt động ngoại thơng, để thực hiện thành công nghiệp vụ XNK, bên cạnh những vấn đề về chất lợng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, một vấn đề quan trọng nữa mà chúng ta phải quan tâm là vấn đề tài chính phục vụ cho hoạt động XNK Sự phát triển ngày càng tăng trong hoạt
động ngoại thơng và số thành viên tham dự hoạt động này ngày càng lớn làm cho nhu cầu về hoạt động tài chính càng trở nên cấp thiết Nhất là trong th-
ơng mại xuyên lục địa, việc tạo điều kiện thuận lợi về tài chính đã trở thành công cụ cạnh tranh bên các yếu tố cạnh tranh về giá, chất lợng sản phẩm, thời hạn cung ứng dịch vụ thơng mại
Hoạt động ngoại thơng ngày càng phát triển thì các hình thức thanh toán ngày càng đa dạng và tất yếu dẫn đến sự đa dạng hoá của các hình thức cho vay XNK Mỗi hình thức thanh toán đòi hỏi phải có một hình thức tín dụng tơng ứng phục vụ và bảo đảm cho nó Mặt khác trong quan hệ kinh tế
đối ngoại, hoạt động tín dụng càng thuận lợi bao nhiêu thì các mối quan hệ thơng mại càng đợc mở rộng bấy nhiêu Chất lợng của hoạt động tín dụng ngoại thơng là cơ sở để tạo lòng tin cho bạn hàng trong thơng mại, tạo điều kiện cho quá trình lu thông hàng hoá, tạo thêm sức mạnh cạnh tranh trên tr-ờng quốc tế Cạnh tranh về thanh toán sẽ dẫn đến thắng lợi của mọi sự cạnh tranh khác trong hoạt động ngoại thơng
Các NHTM nói chung và tín dụng ngân hàng nói riêng đóng một vai trò vô cùng quan trọng góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh XNK Ngân hàng phải nắm đợc nhu cầu của các nhà XNK, tạo điều kiện thuận lợi để giúp
đỡ họ, để họ cảm thấy thuận tiện hơn trong quan hệ tín dụng; ngợc lại đối với các nhà XNK trong quan hệ tín dụng với ngân hàng cần phải tôn trọng pháp luật, tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh các quy định và thể lệ tín dụng, để công tác tín dụng hoạt động ngày càng có hiệu quả hơn Sự hợp tác này tạo
Trang 16điều kiện nâng cao chất lợng tín dụng XNK, đa hoạt động tín dụng XNK thực
sự trở thành một đòn bẩy kích thích sự phát triển kinh tế quốc dân
Do tình trạng cạnh tranh ngày càng tăng trên thị trờng thế giới và do khả năng ngoại hối của các nớc XNK, tín dụng ngân hàng đã thể hiện vai trò quan trọng của mình đối với hoạt động XNK ngang hàng với các yếu tố về chấ t lợng kỹ thuật cũng nh các yếu tố về giá Trớc kia các tổ chức tín dụng chỉ sử dụng vốn một cách biệt lập có giới hạn về khả năng tài chính và bảo hiểm, chỉ chú trọng vào việc thu hồi vốn Ngày nay, tín dụng XNK đợc đa dạng hoá với sự tham gia của nhiều công cụ tài chính và nhiều ngân hàng, tổ chức tín dụng khác nhau, các điều kiện tín dụng nhờ vậy đợc thực hiện dễ dàng
Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế thế giới, hình thức tài trợ của tín dụng ngân hàng cho hoạt động XNK vẫn luôn đợc đổi mới và hoàn thiện, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế của mỗi nớc và kinh tế thế giới
Tài trợ XNK là dịch vụ của ngân hàng nhằm hỗ trợ các DN trong hoạt
động XNK Mảng dịch vụ có nét chung là ngân hàng cung ứng vốn bằng tiền hoặc bảo lãnh cho các DN, giúp DN gia tăng hiệu quả kinh doanh và thực hiện thơng vụ thành công Chính vì vậy tài trợ XNK có ý nghĩa rất quan trọng
đối với tất cả các bên tham gia vào lĩnh vực kinh doanh XNK Hoạt động tài trợ XNK của các ngân hàng không nhất thiết chỉ bó hẹp trong việc tài trợ cho các DN kinh doanh XNK trong nớc, mà có thể là cả các DN XNK nớc ngoài Trong thực tế, chính phủ các nớc khi muốn thực thi chính sách phát triển XNK thờng cấp vốn u đãi cho các ngân hàng đặc biệt (ngân hàng XNK) hoặc các quỹ phát triển xuất khẩu Nguồn vốn này là các khoản vốn khác của ngân hàng hay quỹ phát triển xuất khẩu có thể đợc dùng để tài trợ cho các DN nớc ngoài thực hiện mua bán hàng hoá với DN tại chính quốc Loại hình tài trợ gián tiếp này hiện nay rất phổ biến ở các nớc công nghiệp, đặc biệt là các nớc
có truyền thống và chiến lợc phát triển XNK mạnh mẽ nh Mỹ, Đức, Anh, Nhật v.v {1}
Các loại hình tài trợ XNK của ngân hàng trong thực tế vô cùng phong phú và đa dạng, chính vì vậy mà việc phân loại nghiệp vụ này chỉ mang tính tơng đối Có thể nêu một số loại hình tín dụng tài trợ XNK nh sau {25}:
Trang 17- Tài trợ XNK trên cơ sở phơng thức thanh toán tín dụng chứng từ
Th tín dụng (L/C) là một phơng thức đảm bảo cho việc cung cấp hàng hoá và thanh toán trong quan hệ ngoại thơng, đồng thời nó còn bao hàm cả ý nghĩa tín dụng Qua nghiệp vụ này tín dụng sẽ đợc cấp cho cả nhà xuất khẩu
và nhà nhập khẩu
Đối với nhà xuất khẩu, th tín dụng ngoài chức năng là công cụ bảo
đảm rằng nhà nhập khẩu sẽ thanh toán cho nhà xuất khẩu tức là bảo đảm khả năng thu hồi vốn từ nhà nhập khẩu, tín dụng th còn đợc dùng làm cơ sở để nhà xuất khẩu vay vốn ngân hàng Sau khi nhận đợc th tín dụng do nhà nhập khẩu mở cho mình hởng, nhà xuất khẩu có thể dùng th tín dụng này để thế chấp mở th tín dụng khác cho ngời hởng lợi khác (L/C giáp lng - Back to back) Nh vậy nhà xuất khẩu đã đợc cấp tín dụng để tiếp tục sản xuất trong khi cha phải giao hàng cho nhà nhập khẩu Ngoài ra nhà xuất khẩu cũng có thể chuyển quyền sở hữu đối với th tín dụng và tất cả các chứng từ hàng hoá
có giá trị thanh toán cho ngân hàng của mình để nhận đợc khoản tín dụng từ ngân hàng Nếu là th tín dụng trả chậm, nhà xuất khẩu cũng có thể nhận đợc tiền bất cứ lúc nào tại ngân hàng của mình Với th tín dụng trả chậm có xác nhận, nhà xuất khẩu có thể nhận đợc tiền dới dạng chuyển nhợng và chuyển toàn quyền sở hữu th tín dụng cho ngân hàng mở th tín dụng
Đối với nhà nhập khẩu, mọi L/C đều do ngân hàng mở theo đề nghị của nhà nhập khẩu nhng không phải lúc nào nhà nhập khẩu cũng đủ số d trong tài khoản của mình để làm bảo đảm cho L/C đó Vì vậy, ngân hàng mở
th tín dụng phải chịu mọi rủi ro khi nhà nhập khẩu mất khả năng thanh toán
Trang 18hay nhà nhập khẩu không muốn thanh toán th tín dụng đến hạn trả tiền Một
số NHTM quy định các khách hàng muốn mở L/C phải ký quỹ 80% giá trị L/C đó Thông thờng trong thực tế, từ khi nhà nhập khẩu xin mở th tín dụng
đến hạn phải thanh toán th tín dụng đó có một khoảng cách thời gian tơng đối lớn Chính vì vậy nếu ngân hàng khống chế số d có trên tài khoản của nhà nhập khẩu thì sẽ gây ảnh hởng tới khả năng kinh doanh của họ nhng nếu không khống chế số d có trên tài khoản của khách hàng (nhất là đối với các L/C trả ngay) thì việc xác định trớc th tín dụng này có đợc thanh toán hay không là không dễ và ngân hàng mở th tín dụng phải gánh chịu mọi rủi ro cùng với sự mất lòng tin của khách hàng hay ngân hàng nớc ngoài
Để tránh đợc những điều bất cập trên, ngân hàng cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu theo hạn mức tín dụng Trớc khi mở th tín dụng theo yêu cầu của nhà nhập khẩu, ngân hàng phải kiểm tra mục đích, đối tợng nhập khẩu, khả năng hoạt động cạnh tranh của nhà nhập khẩu hiện tại và trong tơng lai, đây chính là quá trình thẩm định tín dụng, là cơ sở để đảm bảo vốn cho vay của ngân hàng Trong quá trình cấp vốn, ngân hàng chỉ cho phép đơn vị rút vốn trong chừng mực còn đủ vốn để thanh toán cho th tín dụng mà đơn vị xin mở theo quy định của ngân hàng
- Tài trợ XNK trên cơ sở hối phiếu :
Hối phiếu là một tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện do một ngời ký phát cho ngời khác yêu cầu ngời này khi nhìn thấy hối phiếu hay đến một ngày cụ thể xác định trong tơng lai phải trả một số tiền nhất định cho ngời nào đó hoặc theo lệnh của ngời này trả cho ngời khác, hoặc trả cho ngời cầm hối phiếu Hối phiếu là một chứng từ có giá, nó đảm nhiệm ba chức năng: chức năng bảo đảm, chức năng thanh toán và chức năng tài chính Trong kinh doanh XNK hối phiếu đóng một vai trò đặc biệt quan trọng Là một phơng tiện tài chính, hối phiếu đóng vai trò nh là công cụ để cấp vốn cho nhà nhập khẩu và đóng vai trò nh là công cụ để tái cấp vốn cho nhà xuất khẩu Do hối phiếu có khả năng đợc chuyển nhợng nên nó đợc sử dụng rộng khắp trong th-
ơng mại quốc tế Các nghiệp vụ tín dụng ngân hàng đợc xây dựng trên cơ sở hối phiếu có các hình thức nh sau :
Thứ nhất : Tín dụng chiết khấu hối phiếu
Trang 19Đây là tín dụng ngân hàng cấp cho khách hàng dới hình thức mua lại hối phiếu trớc khi đến hạn thanh toán tức là ngân hàng mua các khoản nợ phải đòi Đối với nhà nhập khẩu, chiết khấu hối phiếu giúp họ có thời gian để thanh toán hối phiếu Đối với nhà xuất khẩu lại có thể tái đầu t đối với khoản tín dụng cung ứng cho nhà nhập khẩu.
Thứ hai : Tín dụng đối với hối phiếu tự nhận nợ (kỳ phiếu)
Ngợc lại với hối phiếu, kỳ phiếu do ngời trả tiền viết ra để cam kết trả tiền cho ngời hởng lợi Kỳ phiếu là một chứng từ cam kết trả tiền vô điều kiện do ngời lập phiếu ký phát, trong đó ngời lập phiếu cam kết trả một khoản tiền nhất định cho ngời hởng lợi hoặc theo lệnh của ngời này trả cho một ngời thứ ba theo quy định trong kỳ phiếu Thông qua kỳ phiếu ngân hàng cấp một khoản tín dụng đặc biệt gọi là tín dụng chiết khấu kỳ phiếu
Thứ ba : Tín dụng chấp nhận hối phiếu
Đây là khoản tín dụng đảm bảo cho việc chấp nhận hối phiếu và ngân hàng có trách nhiệm với những hối phiếu đòi nợ hộ Tuy nhiên đây chỉ là tín dụng dới hình thức một sự bảo đảm về mặt tài chính chứ thực chất ngân hàng cha thực sự phải xuất tiền cho ngời vay Nhà nhập khẩu phải vay mợn về mặt danh nghĩa để có đợc một chấp nhận trên hối phiếu của ngân hàng theo yêu cầu của nhà xuất khẩu Khi tới hạn thanh toán, nếu nhà nhập khẩu không có khả năng thanh toán thì ngân hàng phải đứng ra chấp nhận rủi ro của hối phiếu Với sự chấp nhận của ngân hàng nhà nhập khẩu trên hối phiếu đòi tiền nhà xuất khẩu có sự bảo đảm vững chắc về khả năng thanh toán và họ có thể
đem hối phiếu đi chiết khấu tại bất cứ tổ chức tài chính nào Nh vậy, cùng với
sự chấp nhận của ngân hàng thì khả năng thơng mại của hối phiếu là rất lớn,
đồng thời nó tạo điều kiện thuận lợi cho nhà xuất khẩu đợc hởng tỷ lệ chiết khấu u đãi Khi ngân hàng chấp nhận chiết khấu ngay hối phiếu và ghi có vào tài khoản nhà xuất khẩu thì tín dụng này chuyển thành tín dụng ứng trớc
- Tài trợ XNK trên cơ sở tín dụng ứng trớc :
Đối với nhà xuất khẩu, khi các nhà xuất khẩu có toàn quyền sở hữu đối với bộ chứng từ hàng xuất, bộ chứng từ này thể hiện nội dung và giá trị hàng
Trang 20hoá đã chuyển giao thì họ có thể nhận đợc khoản tín dụng bằng cách bán tại
bộ chứng từ hàng hoá cho ngân hàng Qua đó, họ đợc bù đắp nguồn vốn để tiếp tục kinh doanh trong suốt thời gian kể từ khi gửi hàng cho đến khi nhà nhập khẩu chấp nhận bộ chứng từ và đồng ý trả tiền Ngân hàng có toàn quyền sở hữu đối với bộ chứng từ hàng xuất có giá trị đòi tiền hoặc hối phiếu kèm theo Các chứng từ này nhất thiết phải là các chứng từ có giá trị để cho vay, không đợc phép chuyển nhợng cho ngời thứ ba sử dụng Các ngân hàng thờng ký với các nhà xuất khẩu một hạn mức tín dụng để sử dụng cho mức vay này Tất nhiên khoản vay này (tuỳ theo mặt hàng và khả năng thanh toán của khách hàng) chỉ đợc chấp nhận bằng từ 70 - 80% giá trị hàng hoá Theo
điều kiện của loại vay này, ngân hàng vẫn có quyền truy đòi đối với nhà xuất khẩu khi bộ chứng từ gửi đi không thu đợc tiền, thờng để chắc chắn hơn ngân hàng mua lại chứng từ trên cơ sở một th tín dụng
Đối với nhà nhập khẩu, tín dụng ứng trớc cũng đáp ứng đợc nhu cầu của nhà nhập khẩu khi họ phải thanh toán bộ chứng từ hàng hoá cha cập bến, sau đó họ phải giải phóng hàng và thu hồi vốn Đó là một quá trình dài và họ cũng cần khoản trợ cấp của ngân hàng, đó là khoản tín dụng ứng trớc {15, 17}
Trên đây là một số các hình thức tín dụng tài trợ XNK chủ yếu Các hình thức tín dụng này tạo sự hỗ trợ tích cực về tài chính cho các nhà XNK, tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh của họ đợc liên tục, có hiệu quả đồng thời thúc đẩy sự phát triển hoạt động ngoại thơng của mỗi nớc
1.2.3 TTQT và ảnh hởng của nó đối với hoạt động XNK
1.2.3.1 Nghiệp vụ TTQT trong hoạt động của các NHTM
TTQT là việc thực hiện các nghĩa vụ tiền tệ, nảy sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức hay cá nhân nớc này với tổ chức cá nhân nớc khác, hoặc giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế
Khác với thanh toán nội địa, TTQT thờng gắn liền với việc trao đổi giữa đồng tiền của quốc gia này lấy đồng tiền của quốc gia khác Khi ký hợp
đồng thơng mại quốc tế, các bên tham gia phải đàm phán và thống nhất về
Trang 21đồng tiền sử dụng trong giao dịch Đồng tiền đợc lựa chọn có thể là đồng tiền của nớc ngời mua hoặc đồng tiền của nớc ngời bán hay đồng tiền của một n-
ớc thứ ba Tiếp đến, các bên tham gia còn phải thoả thuận lựa chọn phơng tiện thanh toán phù hợp, có thể là : séc, hối phiếu, lệnh phiếu hay thẻ thanh toán v.v Lựa chọn phơng thức thanh toán cũng là vấn đề mà các bên tham gia phải bàn bạc Mỗi phơng thức thanh toán khác nhau có thể có những điều kiện và u nhợc điểm khác nhau, nó ảnh hởng trực tiếp đến quyền lợi của các bên tham gia Các phơng thức thanh toán phổ biến trong TTQT hiện nay là : chuyển tiền, nhờ thu và tín dụng chứng từ {22}
Ngày nay, quan hệ kinh tế quốc tế ngày càng mở rộng, khối lợng hàng hoá đợc giao lu trên thế giới ngày càng lớn Vì vậy, sự phát triển hoạt động TTQT là một đòi hỏi khách quan cùng với sự phát triển của thơng mại quốc tế
Yêu cầu đặt ra đối với TTQT là cần có những phơng thức thanh toán mới, hiện đại, phù hợp với xu thế phát triển chung của nền kinh tế thế giới,
đảm bảo nhanh chóng, chính xác tiện lợi, đảm bảo nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi của các bên tham gia TTQT
Cũng nh các hoạt động kinh tế khác, hoạt động TTQT cũng phải dựa trên cơ sở các văn bản pháp lý Để giải quyết những bất đồng tranh chấp giữa các bên trong quan hệ TTQT, các quốc gia cùng với các tổ chức quốc tế đã
ký kết các hiệp định, thoả ớc có liên quan Đây chính là những văn kiện mang tính pháp lý quốc tế quan trọng điều chỉnh hoạt động TTQT Có thể chia thành 2 loại văn bản pháp lý :
Thứ nhất, những văn bản pháp lý làm cơ sở cho TTQT Thí dụ : Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ - UCP 500 (Uniform Customs and Practice for Documentary Credit); Quy tắc thống nhất về nhờ thu - URC; Các nguồn luật điều chỉnh quan hệ thanh toán hối phiếu; Luật thống nhất về hối phiếu, nguồn luật điều chỉnh thanh toán séc đợc ký kết trong công ớc Geneve 1931, thoả ớc giữa các ngân hàng của các nớc
Thứ hai, những văn bản pháp lý có liên quan đến TTQT Thí dụ : các
điều kiện thơng mại quốc tế - INCOTERMS - là văn bản tập hợp tất cả những quy tắc thống nhất quốc tế dùng để giải thích những điều kiện thơng mại thông dụng nhất trong thơng mại quốc tế
Trang 22Hợp đồng thơng mại quốc tế là văn bản thoả thuận có hiệu lực pháp lý giữa các bên XNK thuộc các quốc gia khác nhau, trong đó quy định bên xuất khẩu có trách nhiệm giao hàng, chuyển quyền sở hữu đối với hàng hoá cùng với các chứng từ có liên quan và nhận tiền thanh toán, bên nhập khẩu có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng và nhận hàng Ngoài ra, các chủ thể tham gia XNK còn phải tuân thủ luật pháp chế độ quản lý trong nớc Thí dụ : chế độ quản lý ngoại thơng, chế độ quản lý ngoại hối v.v
Nhằm thực hiện mục tiêu phát triển thơng mại quốc tế dựa trên cơ sở
“bình đẳng cùng có lợi”, việc tôn trọng những quy định quốc gia và quốc tế của các chủ thể tham gia XNK có ý nghĩa to lớn trong việc xoá bỏ những trở ngại do sự khác biệt về địa lý, ngôn ngữ, chính trị thúc đẩy hoạt động XNK phát triển
Do sự cách biệt về địa lý giữa ngời xuất khẩu và ngời nhập khẩu, do sự biến động về tỷ giá tiền tệ trong điều kiện lạm phát đang trở thành hiện tợng phổ biến ở nhiều quốc gia hiện nay, do sự biến động về lãi suất cũng nh năng lực tài chính của các chủ thể, các bên tham gia hoạt động thơng mại quốc tế phải đối phó với các rủi ro ảnh hởng đến lợi ích của mình Từ đó, các chủ thể phải quan tâm đến nhiều vấn đề nh điều kiện về tiền tệ và đảm bảo hối đoái,
địa điểm thanh toán, thời gian thanh toán, hình thức thanh toán Các điều kiện này gọi chung là các điều kiện thanh toán Chúng có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi cho các bên tham gia TTQT một khi các điều kiện đó đã đợc xác định trong hợp đồng kinh tế ngoại thơng {21, 22}
Những điều kiện đó bao gồm :
Thứ nhất : Điều kiện tiền tệ, trong TTQT, điều kiện tiền tệ là việc quy
định thống nhất sử dụng một đơn vị tiền tệ nào đó để tính toán và thanh toán trong hợp đồng XNK, đồng thời quy định phơng thức xử lý khi có sự biến
động về giá trị của đồng tiền đó
Việc lựa chọn đồng tiền tính toán thanh toán do 2 bên XNK thoả thuận, trong đó đồng tiền có sức mua ổn định trên thị trờng quốc tế thờng đợc lựa chọn
Thứ hai, điều kiện đảm bảo hối đoái : Đây là điều kiện nhằm đảm bảo giá trị thực tế của các khoản thu nhập tiền tệ từ hợp đồng ngoại thơng, hạn
Trang 23chế tối đa những tổn thất gây ra do những rủi ro tiền tệ gây ra Khi có rủi ro thì điều kiện này sẽ là căn cứ để xử lý Thông thờng, trong TTQT, ngời ta th-ờng sử dụng một số hình thức đảm bảo điều kiện thanh toán nh : đảm bảo bằng vàng, đảm bảo bằng một đơn vị tiền tệ, đảm bảo theo một “rổ tiền tệ” hoặc đảm bảo bằng hợp đồng mua bán ngoại tệ có kỳ hạn (FORWARD)
Thứ ba, điều kiện về thời gian thanh toán :
Điều kiện này chỉ rõ thời hạn ngời nhập khẩu phải trả tiền cho ngời xuất khẩu theo quy định trong hợp đồng XNK
Điều kiện về thời gian thanh toán có ý nghĩa quan trọng đối với cả
ng-ời xuất khẩu và ngng-ời nhập khẩu vì nó ảnh hởng trực tiếp tới tốc độ luân chuyển vốn, tới khả năng hạn chế rủi ro về các yếu tố nh lãi suất, tỷ giá hối
đoái v.v
Thứ t : điều kiện về địa điểm thanh toán
Địa điểm thực hiện nghĩa vụ thanh toán tuỳ thuộc sự thoả thuận giữa
2 bên xuất và nhập khẩu, thông thờng địa điểm đợc chọn phụ thuộc “thế và lực” của 2 bên mua bán
Thứ năm : điều kiện về phơng thức thanh toán
Phơng thức thanh toán là cách thức thông qua đó ngời nhập khẩu trả tiền để nhận hàng và ngời xuất khẩu nhận tiền, giao hàng Phơng thức thanh toán là một trong các điều kiện vô cùng quan trọng đối với các bên tham gia XNK Trong thực tiễn TTQT, các phơng thức thanh toán chủ yếu đợc áp dụng là : phơng thức chuyển tiền, phơng thức nhờ thu, phơng thức tín dụng chứng từ Mỗi phơng thức thanh toán đều có đặc điểm, yêu cầu và u nhợc
điểm riêng của nó Do vậy, phải căn cứ vào đặc điểm điều kiện cụ thể để lựa chọn phơng thức thanh toán phù hợp, nhằm tạo điều kiện cho hoạt động TTQT diễn ra thuận tiện, có hiệu quả
Tuỳ thuộc điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mối quan hệ thơng mại, quan hệ thanh toán, hai bên tham gia XNK có thể lựa chọn và thống nhất sử dụng một trong những phơng tiện thanh toán nh : Hối phiếu, lệnh phiếu, séc
và thẻ thanh toán
Trang 241.2.3.2 Vai trò của TTQT đối với hoạt động xuất nhập khẩu
TTQT là khâu cuối cùng của quá trình trao đổi hàng hoá và dịch vụ, là cầu nối giữa ngời sản xuất và ngời tiêu thụ thông qua việc chi trả lẫn
nhau trong trao đổi quốc tế Vì vậy, có thể coi TTQT nh một mắt xích không thể thiếu trong dây chuyền hoạt động XNK Thông qua TTQT, giá trị hàng hoá XNK đợc thực hiện liên tục và nhờ có hoạt động TTQT mà các khoản tín dụng đầu t hay mọi giao dịch đối ngoại mới có thể thực hiện đợc Vì vậy, có thể nói TTQT góp phần chủ yếu giải quyết mối quan hệ hàng hoá - tiền tệ, duy trì quy trình sản xuất đợc liên tục và đẩy nhanh tốc độ lu thông hàng hoá TTQT giúp cho hoạt động XNK thực hiện tốt chức năng của mình, gián tiếp
mở rộng lu thông hàng hoá ra nớc ngoài, cải thiện cán cân thanh toán v.v
TTQT phản ánh sự vận động độc lập tơng đối của giá trị hàng hoá và tbản trong quá trình lu chuyển giữa các quốc gia Bởi vậy, nếu TTQT đợc thực hiện nhanh chóng, chính xác, đúng luật sẽ giảm đợc thời gian chu chuyển vốn, đẩy nhanh tốc độ lu chuyển hàng hoá, giảm thiểu rủi ro do sự biến động của tiền tệ, tăng khả năng thanh toán Nếu việc thanh toán đạt đợc những yêu cầu đó sẽ để lại thiện chí, sự tin cậy giữa các bên, góp phần mở rộng, củng cố mối quan hệ buôn bán giữa các nớc
Thông qua TTQT, tình hình XNK của một nớc đợc ghi chép, phản ánh lại trên cán cân thơng mại của nớc đó Dựa vào tình trạng của cán cân thơng mại, nhà nớc có thể biết đợc cơ cấu hàng hoá XNK và tình hình ngoại thơng dạng nhập siêu hay xuất siêu, trên cơ sở đó có những chính sách, biện pháp
điều hành hoạt động ngoại thơng phù hợp từng thời kỳ Đồng thời, qua việc theo dõi hoạt động TTQT, nhà nớc có cơ sở để sửa đổi, điều chỉnh những bất hợp lý trong hệ thống luật pháp hay chính sách có liên quan đến hoạt động XNK và TTQT
Nh vậy, TTQT có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển hoạt động XNK nói riêng và kinh tế đối ngoại nói chung Nhờ vậy mà nó tác động trở lại đối với kinh tế trong nớc, giúp cho kinh tế trong nớc từng bớc bắt nhịp với kinh tế thế giới, khẳng định vị trí của nền kinh tế quốc gia trên trờng quốc tế
Trang 25Đối với các DN tham gia XNK, TTQT là khâu cuối cùng của hợp đồng ngoại thơng và nó khép lại một chu trình mua bán hàng hoá và dịch vụ Thông qua thực hiện TTQT với các bạn hàng nớc ngoài, các DN kinh doanh XNK có điều kiện nắm bắt các thông tin về thị trờng trong và ngoài
nớc cũng nh hiểu biết thêm về đối tác của mình Trên cơ sở những thông tin
về thị trờng, xem xét, cân đối với tiềm lực của mình, các DN có thể đề ra các chiến lợc kinh doanh thích hợp, đồng thời có biện pháp ngăn ngừa rủi ro, nâng cao hiệu quả kinh doanh
Khi xem xét vai trò của TTQT đối với hoạt động XNK cần phải tính
đến vai trò của TTQT đối với chính các NHTM Bởi vì, sự phát triển, hiệu quả hoạt động của NHTM có mối quan hệ tác động trực tiếp đến hoạt động XNK Từ góc độ này cho thấy việc hoàn thiện và phát triển hoạt động TTQT
có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với các NHTM TTQT không chỉ là một dịch vụ thuần tuý mà còn đợc coi là một mặt không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của NHTM, nó bổ sung và hỗ trợ cho các mặt hoạt động khác của NHTM Vai trò của TTQT đối với bản thân các NHTM đợc thể hiện trên các mặt sau:
Một là: Hoạt động TTQT giúp NHTM có điều kiện thu hút thêm nhiều khách hàng có nhu cầu TTQT, từ đó làm tăng quy mô hoạt động của ngân hàng Đồng thời, TTQT còn tạo điều kiện cho Ngân hàng hoàn thiện và đa dạng hoá các dịch vụ kinh doanh nh kinh doanh ngoại tệ, nghiệp vụ bảo lãnh
và các dịch vụ khác nhằm đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu của khách hàng, trên cơ sở đó nâng cao uy tín của ngân hàng và tạo niềm tin cho khách hàng
Hai là : TTQT giúp tăng cờng khả năng cạnh tranh của ngân hàng, đặc biệt trong lĩnh vực cung ứng các dịch vụ cho hoạt động kinh doanh XNK
Ba là : Nhờ đẩy mạnh hoạt động TTQT mà Ngân hàng có điều kiện
đẩy mạnh hoạt động tín dụng quốc tế, tài trợ XNK cũng nh tăng cờng đợc nguồn vốn huy động do tạm thời tận dụng đợc nguồn vốn của khách hàng ký quỹ khi tham gia TTQT
Bốn là : Hoạt động TTQT còn giúp Ngân hàng nâng cao uy tín của mình trên trờng quốc tế Từ đó khai thác đợc nguồn vốn tài trợ của các ngân
Trang 26hàng nớc ngoài và nguồn vốn trên thị trờng tài chính quốc tế để đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng.
Năm là : Nhờ hoạt độngTTQT mà ngân hàng nâng cao hiệu quả hoạt
động kinh doanh , tăng thu các loại phí : phí chuyển tiền, phí thanh toán, phí bảo lãnh vv , góp phần không nhỏ vào doanh thu và lợi nhuận của ngân hàng TTQT cũng có vai trò bổ sung và hỗ trợ các hoạt động khác của ngân hàng nên nó gián tiếp tạo ra lợi nhuận từ những mặt hoạt động này {11}
Trang 27Chơng 2Thực trạng hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu và thanh toán quốc tế tại các ngân hàng thơng mại
quốc doanh việt nam
2.1 Vị trí của các ngân hàng Thơng mại quốc doanh trong hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay
2.1.1 Khái quát về quá trình đổi mới của hệ thống ngân hàng Việt Nam
Đối với ngành ngân hàng, quá trình thực hiện công cuộc đổi mới đợc
đánh dấu bằng sự ra đời Quyết định số 218/QĐ của Chủ tịch Hội đồng Bộ ởng (nay là Thủ tớng Chính phủ) cho làm thử, chuyển hoạt động ngân hàng sang kinh doanh XHCN, sau đó là Nghị định 53/HĐBT của Hội đồng Bộ tr-ởng ngày 26/3/1988 Nội dung cơ bản của nghị quyết là “chuyển hẳn hệ thống ngân hàng sang hoạt động kinh doanh” có nghĩa là kể từ thời gian này
tr-sẽ đoạn tuyệt với cơ chế hành chính quan liêu bao cấp
Đặc biệt, tiếp đó là sự ra đời của Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nớc và Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng, công ty tài chính có hiệu lực thi hành từ tháng 10 năm 1990, Luật Ngân hàng Nhà nớc và Luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực thi hành từ tháng 10 năm 1998 đã chuyển hệ thống ngân hàng một cấp sang hệ thống ngân hàng hai cấp
Hơn 10 năm qua hoạt động của hệ thống ngân hàng đã không ngừng
đổi mới và ngày càng phát triển Có thể nêu tóm tắt những nội dung đổi mới chủ yếu của hệ thống ngân hàng nói chung trong đó có ngân hàng thơng mại quốc doanh
- Thứ nhất, đổi mới về cơ cấu tổ chức, tách chức năng kinh doanh của các ngân hàng thơng mại với chức năng quản lý của ngân hàng nhà nớc (NHNN)
Trớc đổi mới, cũng nh các nớc XHCN khác toàn bộ hệ thống ngân hàng nớc ta đều thuộc sở hữu nhà nớc, bao gồm ngân hàng Trung ơng (NHTW) và các ngân hàng chuyên ngành, đó là ngân hàng đầu t, ngân hàng
Trang 28ngoại thơng và ngân hàng tiết kiệm để phục vụ rộng rãi công chúng Về danh nghĩa, các ngân hàng chuyên ngành là những đơn vị hoạt động độc lập Nhng trên thực tế chúng đợc quản lý bằng những chỉ thị, quyết định của NHTW đa xuống Thực sự chúng chỉ là những "cánh tay" của NHTW.
NHTW với t cách là cơ quan quản lý về hoạt động ngân hàng, thực hiện chức năng phát hành tiền đồng thời còn giải quyết cả khâu cung ứng tín dụng ngắn hạn cho khu vực nhà nớc Song, chính bản thân ngân hàng Trung -
ơng cũng không có cả quyền tự chủ trên danh nghĩa Bởi vì, chính ngân hàng Trung ơng cũng là cơ quan cấp dới của các nhà lãnh đạo kinh tế, chính trị (trên danh nghĩa là chính phủ), ngân hàng Trung ơng phải tuân thủ các chỉ thị, mệnh lệnh từ cấp trên Tóm lại, hệ thống các ngân hàng đã "cùng nhau" thiết lập một bộ máy cơ cấu tổ chức theo thứ bậc, tập trung hoá một cách cứng nhắc và có quyền hạn của một cơ quan hành chính Rốt cuộc, ngân hàng không khác gì hơn một chi nhánh của bộ máy quan liêu thâm nhập khắp nơi {4}
Đặc điểm nói trên là biểu hiện chủ yếu của mô hình hệ thống ngân hàng một cấp
Thực hiện đổi mới, kể từ khi thực hiện pháp lệnh Ngân hàng nhà nớc pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng, công ty tài chính, Luật Ngân hàng nhà nớc và Luật các tổ chức tín dụng, hệ thống ngân hàng ở nớc ta đợc tổ chức theo mô hình ngân hàng 2 cấp :
1- Ngân hàng nhà nớc Việt Nam là cơ quan quản lý nhà nớc về tiền tệ, tín dụng, là ngân hàng phát hành, đồng thời là ngân hàng của các ngân hàng trên lãnh thổ Việt Nam - là ngân hàng Trung ơng
2- Các ngân hàng thơng mại và tổ chức tín dụng (TCTD) hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng bao gồm các NHTMQD (trong luận văn không đề cập đến Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long và Ngân hàng chính sách xã hội), 37 ngân hàng thơng mại cổ phần, 28 chi nhánh ngân hàng nớc ngoài, 4 ngân hàng liên doanh, 40 văn phòng đại diện chi nhánh ngân hàng nớc ngoài, 2 công ty cho thuê tài chính 100% vốn nớc ngoài, 2 công ty liên doanh cho thuê tài chính và các quỹ tín dụng nhân dân {40}
Trang 29Tính riêng trên địa bàn Thủ đô Hà Nội, ngoài chi nhánh NHNN Hà Nội thực hiện chức năng quản lý nhà nớc còn có 86 tổ chức tín dụng thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ, tín dụng, ngoại hối và cung ứng dịch vụ ngân hàng (5 sở giao dịch và 23 chi nhánh NHTMQD, 5 NHTM cổ phần và 9 chi nhánh NHTM cổ phần, 11 chi nhánh ngân hàng ngời nghèo, các ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng 100% vốn nớc ngoài; 9 quỹ tín dụng nhân dân v.v ) và 2 công ty vàng bạc đá quý thuộc Tổng công ty vàng bạc đá quý Việt Nam {40}.
Sự đổi mới về cơ cấu tổ chức của hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng đã đạt đợc mục tiêu tách biệt rõ chức năng giữa NHNN và các NHTM, xoá bỏ tình trạng độc quyền của các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nớc trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng và cung cấp dịch vụ ngân hàng, tạo điều kiện pháp lý cho các ngân hàng, tổ chức tín dụng thuộc nhiều thành phần kinh tế, hình thức sở hữu khác nhau cùng tham gia hoạt
động trong điều kiện cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc
- Thứ hai, đổi mới về nội dung, phơng thức hoạt động
Cùng với đổi mới về cơ cấu tổ chức, hệ thống ngân hàng đã từng bớc thực hiện quá trình đổi mới về nội dung và phơng thức hoạt động Quá trình
đổi mới đợc biểu hiện trên các mặt sau:
+ Xoá bỏ tình trạng độc quyền Toàn bộ hệ thống các ngân hàng, tổ chức tín dụng đều phải hoạt động trong điều kiện cạnh tranh, bao gồm cả các NHTMQD
+ Hạn chế sự can thiệp quá sâu và mang tính hành chính mệnh lệnh của các cơ quan nhà nớc đối với hoạt động của các NHTM và TCTD
+ Tạo môi trờng pháp lý cần thiết để các NHTM, Quỹ tín dụng gọi chung là các tổ chức tín dụng (TCTD) phát huy quyền tự chủ, năng động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm trớc kết quả hoạt động kinh doanh cũng nh về nhân sự, quy định mức lãi suất v.v từ đó đã tạo nên sự gắn kết giữa lợi ích của ngời lao động với kết quả hoạt động kinh doanh, tạo động lực cho sự phát triển Nhờ đó, các NHTM, TCTD đã có sự phát triển không ngừng, trình độ cán bộ ngân hàng đợc nâng lên, các loại hình dịch vụ ngân hàng ngày càng
Trang 30phát triển đa dạng, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
+ Các NHTMQD đều cố gắng thực hiện hầu hết các nghiệp vụ theo quy định của luật các tổ chức tín dụng với phơng châm "Kinh doanh đa năng", đồng thời biết tận dụng lợi thế của mình để tập trung kinh doanh ở thị trờng truyền thống có hiệu quả hơn, ít rủi ro hơn Các ngân hàng đã từng bớc
đa dạng hoá hoạt động của mình nh : đa dạng hoá các hình thức huy động vốn, cho vay, các hình thức thanh toán và các loại hình dịch vụ ngân hàng, h-ớng tới mục tiêu nâng cao chất lợng, hiệu quả, mở rộng, phát huy vai trò của các NHTMQD đối với nền kinh tế
Cùng với hai nội dung nêu trên là quá trình xây dựng hệ thống luật pháp, cơ chế chính sách, công cụ quản lý v.v , đáp ứng nhu cầu phát triển của hệ thống ngân hàng, các tổ chức tín dụng
2.1.2 Đặc điểm của hệ thống ngân hàng thơng mại quốc doanh Việt Nam hiện nay
Hiện nay ở Việt Nam đang có 4 NHTMQD tham gia hoạt động kinh doanh tiền tệ, cung ứng các dịch vụ ngân hàng, đó là : Ngân hàng Ngoại th-
ơng Việt Nam, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, Ngân hàng công thơng Việt Nam, Ngân hàng đầu t và phát triển Việt Nam ngoài ra các ngân hàng khác hoạt động gần nh các ngân hàng chính sách, vì vậy trong luận văn chủ yếu minh hoạ bằng số liệu của 4 ngân hàng nêu trên
Sau đây xin nêu một số nét khái quát về 4 NHTMQD
Vài nét về Ngân hàng ngoại thơng Việt Nam (NHNT) {30}
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 15/SL ngày 6/5/1951 thành lập ngân hàng Quốc gia Việt Nam, theo đó chính phủ nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà có nghị định số 94/TTg ngày 27/5/1951 quy định hệ thống tổ chức của ngân hàng Quốc gia, trong đó có Ngân hàng xuất nhập khẩu đặt tại các vùng giáp danh giữa vùng tự do và vùng địch tạm chiếm Đây là tổ chức tiền thân của ngân hàng Ngoại thơng Việt Nam
Sau khi miền Bắc đợc giải phóng (1954) các ngân hàng xuất nhập khẩu chấm dứt hoạt động Tháng 9/1960 Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III quyết định miền Bắc bắt tay vào sự nghiệp xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật
Trang 31của CNXH, mở rộng quan hệ kinh tế Việt Nam với bên ngoài Theo hớng đó, ngày 26/10/1961, Hội đồng Chính phủ ra nghị định 115/CP thành lập NHNTVN trên cơ sở bộ máy của Cục ngoại hối trực thuộc Ngân hàng quốc gia Việt Nam Ngày1/4/1963 NHNTVN chính thức ra mắt trên thị trờng quốc
tế NHNT trở thành một ngân hàng chuyên đối ngoại Mặt khác, NHNT còn
đảm nhiệm chức năng của Cục Ngoại hối, làm tham mu cho Ban lãnh đạo NHNN về chính sách quản lý ngoại tệ, vàng bạc, chính sách phục vụ các quan hệ kinh tế đối ngoại, tham mu về quan hệ với các ngân hàng Trung ơng của các quốc gia, các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế Chức năng này chấm dứt vào năm 1977 khi NHNN thành lập vụ kinh tế ngoại tệ và từ đây NHNTVN chỉ đảm nhiệm chức năng của một ngân hàng chuyên doanh các nghiệp vụ ngân hàng đối ngoại (trong mô hình hệ thống ngân hàng 1 cấp) cho đến khi nhà nớc công bố 2 pháp lệnh ngân hàng (1990)
Hơn 10 năm đổi mới theo mô hình ngân hàng 2 cấp, NHNTVN đổi mới tổ chức theo mô hình Tổng công ty nhà nớc - tập đoàn tài chính mạnh Hiện tại NHNT có 23 chi nhánh cấp I, 6 chi nhánh cấp II ở trong nớc, 1 công
ty tài chính, 3 văn phòng đại diện ở nớc ngoài với 3.100 cán bộ công nhân viên, đầu t cổ phần vào 5 doanh nghiệp, 3 liên doanh, 7 ngân hàng cổ phần
Là một ngân hàng thơng mại quốc doanh, hơn nữa là ngân hàng đối ngoại hàng đầu trong hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam, NHNT còn có mặt tại nhiều thị trờng nớc ngoài nh Singapore, Hồng Kông, Nga, Pháp thông qua việc thiết lập văn phòng đại diện và công ty tài chính Từ năm 1995, NHNT
đã tham gia vào hệ thống thanh toán toàn cầu SWIFT là thành viên Hiệp hội ngân hàng Châu á, và là thành viên của tổ chức thẻ tín dụng hàng đầu thế giới, NHNT Việt Nam có quan hệ đại lý với 1200 ngân hàng ở 85 nớc trên thế giới NHNTVN có nguồn vốn lớn nhất Việt Nam, với tổng tài sản vào cuối năm 2001 là 76.681 tỷ VNĐ gấp 7 lần năm 1991 Là Ngân hàng đứng hàng đầu về nghiệp vụ thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại tệ, hiện đang mạnh dạn đổi mới từng bớc, có chơng trình ngân hàng bán lẻ với mạng trực tuyến trong toàn bộ hệ thống để cung ứng các dịch vụ ngân hàng và quản lý ngân hàng tập trung, đang tạo tiền đề mới cho quá trình hội nhập quốc tế
Vài nét về ngân hàng công thơng Việt Nam (NHCTVN) {30}
Trang 32NHCTVN là một ngân hàng thơng mại quốc doanh lớn trong hệ thống ngân hàng Việt Nam Thực hiện Nghị định 53/HĐBT từ ngày 1/7/1988 NHCTVN chính thức ra đời và đi vào hoạt động, trên cơ sở Vụ tín dụng công nghiệp và Vụ tín dụng thơng nghiệp của NHNNTW, cùng với các phòng tín dụng công nghiệp, thơng nghiệp của 17 chi nhánh NHNN địa phơng, đánh dấu một bớc ngoặt lớn trong sự nghiệp đổi mới và phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam
Theo uỷ quyền của Thủ tớng chính phủ, Thống đốc NHNNVN đã ký quyết định số 285/QĐ-NH5 ngày 21/9/1996, thành lập lại NHCTVN theo mô hình tổng công ty nhà nớc quy định tại Quyết định 90/TTg ngày 7/3/1994 của Thủ tớng Chính phủ
Đến nay NHCTVN là NHTMQD lớn thứ 2 về mặt nhân lực, với trên 12.000 ngời, với mạng lới kinh doanh rộng lớn: 2 sở giao dịch, 104 chi nhánh, 143 phòng giao dịch và 358 quỹ tiết kiệm đợc bố trí ở hầu hết các tỉnh, thành phố, trung tâm thơng mại trong cả nớc
Vài nét về ngân hàng đầu t và phát triển Việt Nam (NHĐT&PTVN) {30}
Tiền thân của NHĐT&PTVN là ngân hàng kiến thiết Việt Nam trực thuộc Bộ Tài chính đợc thành lập ngày 26/4/1957 theo nghị định số 177/TTg
do Phó Thủ tớng Phan Kế Toại ký Hơn 45 năm hoạt động với nhiều bớc thăng trầm, nhiều lần đổi tên cũng nh nhiệm vụ, chức năng hoạt động, đến nay NHĐT&PTVN đã trở thành một trong bốn NHTMQD lớn nhất của nớc ta
Thời kỳ đầu mới thành lập, hoạt động của ngân hàng còn hạn chế, nhỏ hẹp, chủ yếu đợc giới hạn trong nhiệm vụ cấp phát vốn đầu t và cho vay vốn
lu động đối với các xí nghiệp xây lắp, thiết kế, sản xuất, cung ứng vật liệu xây dựng
Trớc kia Ngân hàng chỉ có 8 chi nhánh với hơn 200 lao động, đến nay NHĐT&PTVN đang tiến tới mô hình tập đoàn tài chính kinh doanh đa năng tổng hợp trên mọi lĩnh vực với mạng lới 163 chi nhánh tỉnh, thành phố, chi nhánh trực thuộc, 195 bàn tiết kiệm, 3 sở giao dịch, 3 đơn vị liên doanh, 3
Trang 33công ty với đội ngũ lao động gần 6000 ngời Hiện nay NHĐT&PTVN đã có quan hệ đại lý với hơn 600 ngân hàng lớn trên thế giới.
Vài nét về Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (NHNo&PTNTVN) {30}
Theo Nghị định 53/HĐBT của Hội đồng Bộ trởng 26/3/1988 Ngân hàng phát triển nông nghiệp Việt Nam đợc thành lập Đến tháng 11/1990 đợc
đổi tên là Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam, đến tháng 10/1996 đợc đổi tên
là NHNo&PTNTVN Nó đợc tổ chức theo mô hình DNNN hạng đặc biệt, có
t cách pháp nhân, hạch toán kinh tế độc lập, tự chịu trách nhiệm về tài chính
và là ngời cung cấp tín dụng chủ yếu ở thị trờng tiền tệ nông thôn Việt Nam
Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới NHNo&PTNTVN đã không ngừng đổi mới về nhiều mặt, đã liên tục phát triển và trở thành NHTM kinh doanh đa năng lớn nhất ở việt Nam, là ngời cung cấp vốn chủ yếu cho thị trờng tiền tệ ở nông thôn Việt Nam, phục vụ có hiệu quả chiến lợc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn Đến nay toàn hệ thống có 1.568 chi nhánh bao gồm 90 đơn vị thành viên, 560 chi nhánh huyện, thị xã,
850 chi nhánh khu vực liên xã và ngân hàng lu động rộng khắp trong phạm vi cả nớc
NHNo&PTNTVN có 24.000 cán bộ công nhân viên với số vốn điều lệ
đợc cấp là 2.275 tỷ VNĐ (gấp 2 lần các NHTM khác)
So với thời kỳ mới thành lập, tính đến nay tổng nguồn vốn kinh doanh tăng hơn 32 lần, tổng d nợ tăng hơn 31 lần, nguồn vốn hơn 70 ngàn tỷ, d nợ cho vay nền kinh tế hơn 64 ngàn tỷ, tỷ lệ nợ quá hạn nhỏ hơn 1%, có quan hệ với 8 triệu hộ nông dân, hàng chục ngàn doanh nghiệp và có quan hệ đại lý với hơn 700 ngân hàng và tổ chức tài chính quốc tế ở gần 90 nớc trên thế giới
Mặc dù còn một số nét đặc trng riêng, song các NHTMQD đều có những đặc điểm chung là :
Thứ nhất : NHTMQD là doanh nghiệp nhà nớc, do ngân sách cấp 100% vốn điều lệ (thuộc sở hữu nhà nớc) Từ năm 1996 các NHTMQD đợc
tổ chức theo mô hình Tổng công ty Nhà nớc hạng đặc biệt : bỏ cấp trung gian
Trang 34gắn với địa giới hành chính tỉnh, thành phố, thực hiện mô hình quản lý tập trung, nhng vẫn phát huy đợc tính sáng tạo và độc lập tơng đối của các chi nhánh cơ sở; thành lập các công ty con để mở rộng các dịch vụ ngân hàng mới Hội sở chính của các NHTMQD là trung tâm điều hành với 2 chức năng : vừa quản lý và chỉ đạo điều hành hoạt động của toàn hệ thống, vừa trực tiếp thực hiện hoạt động nghiệp vụ kinh doanh Các chi nhánh của NHTMQD đợc
mở theo địa giới hành chính ở những trung tâm dân c có môi trờng kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng
Theo quy chế Tổng công ty nhà nớc, các NHTMQD đợc quản lý bởi Hội đồng quản trị, đứng đầu là chủ tịch Hội đồng quản trị Ban th ký và ban kiểm soát là hai ban do Hội đồng quản trị trực tiếp lập ra để giúp Hội đồng quản trị theo dõi và kiểm soát tình hình trong ngân hàng
Trực tiếp điều hành hoạt động của ngân hàng là Ban Tổng giám đốc
mà ngời đứng đầu chịu trách nhiệm chung là Tổng giám đốc - chức danh này
do Thống đốc Ngân hàng nhà nớc bổ nhiệm Tổng giám đốc là đại diện pháp nhân của ngân hàng, chịu trách nhiệm trớc Hội đồng quản trị, Thống đốc Ngân hàng nhà nớc và trớc pháp luật về việc điều hành hoạt động của ngân hàng Giúp việc Tổng giám đốc là các phó Tổng giám đốc, mỗi ngời phụ trách điều hành một hoặc một số lĩnh vực hoạt động của ngân hàng theo sự phân công của Tổng giám đốc, chịu trách nhiệm trớc Tổng giám đốc và pháp luật về nhiệm vụ đợc giao
Ban Tổng giám đốc có trách nhiệm điều hành chung hoạt động của toàn hệ thống thông qua chỉ đạo, điều hành hoạt động của các phòng ban chức năng tại ngân hàng Trung ơng (Hội sở chính) và Giám đốc các chi nhánh
Giám đốc chi nhánh trực tiếp điều hành các mặt hoạt động tại chi nhánh và chịu trách nhiệm trớc Tổng giám đốc trong phạm vi đợc uỷ quyền
Thứ hai : Giữ vai trò chủ đạo trong các hoạt động ngân hàng, góp phần thực hiện các mục tiêu chơng trình lớn của Đảng và Nhà nớc nh : chơng trình phát triển nông nghiệp - nông thôn, chơng trình xoá đói, giảm nghèo, chơng trình phòng chống khắc phục thiên tai v.v
Trang 35Thứ ba : các NHTMQD đã và đang thực hiện quá trình chuyển đổi mạnh mẽ từ cơ chế hành chính quan liêu bao cấp sang hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trờng định hớng XHCN.
2.1.3 Các hoạt động nghiệp vụ của NHTMQD hiện nay
Huy động vốn:
- Nhận tiền gửi của cá nhân, tổ chức và các tổ chức tín dụng khác
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu và giấy tờ có giá khác để huy
động vốn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nớc khi đợc Thống đốc ngân hàng nhà nớc chấp thuận
- Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của các tổ chức tín dụng nớc ngoài
- Cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn
- Chiết khấu thơng phiếu và các giấy tờ có giá khác
- Cho vay theo quyết định của Thủ tớng Chính phủ trong trờng hợp cần thiết
- Bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh dự thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác
- Thực hiện hoạt động cho thuê tài chính thông qua các công ty cho thuê tài chính trực thuộc
- Các hình thức cho vay khác
Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ :
NHTMQD thực hiện các dịch vụ thanh toán và ngân quỹ sau :
Trang 36- Cung ứng các phơng tiện thanh toán.
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nớc cho khách hàng
- Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế
- Thực hiện dịch vụ thu phát tiền mặt cho khách hàng
- Kinh doanh trên thị trờng tiền tệ
- Uỷ thác, nhận uỷ thác, làm đại lý trong các lĩnh vực có liên quan đến hoạt động ngân hàng
- Cung ứng dịch vụ bảo hiểm, thành lập công ty trực thuộc hoặc liên doanh để kinh doanh bảo hiểm
- T vấn tài chính, tiền tệ cho khách hàng dới hình thức trực tiếp t vấn cho khách hàng hoặc thành lập công ty trực thuộc
- Bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ
Trong các hoạt động nói trên thì hoạt động tín dụng và thanh toán quốc tế có vai trò rất quan trọng đối với việc thực hiện mục tiêu hỗ trợ hoạt
- Tài trợ xuất nhập khẩu và thanh toán quốc tế
- Mua bán ngoại tệ trên thị trờng ngoại hối nớc ngoài
- Vay và cho vay bằng ngoại tệ trên thị trờng vốn và tiền tệ quốc tế
Trang 37- Tổ chức và tham gia các tổ chức cho vay quốc tế
- Mua bán các loại trái phiếu trên thị trờng quốc tế và quản lý tài sản
- Tài trợ dự án có tính quốc tế
- Cung cấp các dịch vụ quản lý tài sản có tính quốc tế
- Thu hút các khoản tiền gửi và vay với mục đích cung cấp đầy đủ các dịch vụ nh một ngân hàng tại nớc sở tại, bằng ngoại tệ hoặc bản tệ của nớc sở tại
- Cung cấp thông tin, t vấn, môi giới và bảo lãnh cho khách hàng về các lĩnh vực chuyên môn ngân hàng, tài chính và chứng khoán {11}
Thực tiễn cho thấy rằng chỉ những ngân hàng lớn trên thế giới mới có
đủ khả năng, điều kiện cung cấp tất cả các hình thức dịch vụ nêu trên
Xuất phát từ đặc điểm và điều kiện cụ thể, hiện nay các NHTMQD Việt Nam cha đủ khả năng thực hiện các nghiệp vụ nói trên Mỗi ngân hàng thơng mại quốc doanh thờng chú trọng đến các lĩnh vực chuyên biệt trong những dịch vụ mà họ có lợi thế so sánh nhất định trên cơ sở nhu cầu của khách hàng
Hiện nay hoạt động đối ngoại của các NHTMQD thờng tập trung chủ yếu ở các nghiệp vụ : huy động vốn, cho vay, tài trợ đối với các chủ thể kinh
tế hoạt động có liên quan đến xuất nhập khẩu; tham gia vào các hoạt động của các tổ chức tài chính, tín dụng quốc tế, thiết lập quan hệ đại lý với NHTM các nớc để tổ chức thực hiện các dự án nớc ngoài dành cho Việt Nam, thanh toán quốc tế phục vụ cho hoạt động ngoại thơng của đất nớc; kinh doanh ngoại hối, đầu t tài chính góp phần nâng cao và mở rộng các hoạt động kinh tế đối ngoại của đất nớc
Từ thực tế nêu trên cho thấy tín dụng XNK và TTQT là lĩnh vực hoạt
động chủ yếu và quan trọng nhất trong các nghiệp vụ hoạt động kinh tế đối ngoại (KTĐN) của các NHTMQD Việt Nam hiện nay
Do đặc điểm hoạt động của các NHTM, hoạt động tín dụng XNK và TTQT có mối quan hệ tác động phụ thuộc lẫn nhau với các lĩnh vực của nền kinh tế, trớc hết là hoạt động XNK, các hoạt động khác của ngân hàng cũng
nh các hoạt động nghiệp vụ kinh tế đối ngoại của NHTM Thí dụ : Việc mở
Trang 38rộng quy mô tín dụng tài trợ XNK và TTQT trớc hết và trực tiếp phụ thuộc vào quy mô XNK, tài sản của ngân hàng, kết quả hoạt động huy động vốn bằng cả VNĐ và ngoại tệ, phụ thuộc vào quy mô hiệu quả kinh doanh ngoại
tệ, cũng nh tài sản bằng ngoại tệ của ngân hàng tại các ngân hàng nớc ngoài v.v Ngoài ra, hoạt động của NHTM nớc ta còn chịu ảnh hởng của nền kinh
tế thế giới và những biến động trên thị trờng tài chính tiền tệ quốc tế
2.2.1 Hoạt động huy động vốn của các NHTMQD
Cơ sở của hoạt động cho vay là phải có vốn Bởi vậy, trớc khi nghiên cứu hoạt động cho vay phải nghiên cứu hoạt động huy động vốn của các NHTMQD
Từ khi chuyển sang hoạt động theo mô hình ngân hàng 2 cấp các NHTMQD đều coi trọng mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động, thực hiện phơng châm “đẩy mạnh đi vay để cho vay” Do vậy hoạt động huy động vốn
đã không ngừng phát triển
Phơng châm huy động vốn là đẩy mạnh huy động vốn trong nớc, phát huy nội lực nhằm phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời phải thực hiện đa dạng hoá các hình thức huy động vốn Quán triệt phơng châm đó các NHTMQD
đẩy mạnh huy động vốn bằng nhiều biện pháp linh hoạt với chính sách lãi suất phù hợp, đặc biệt coi trọng vốn trung và dài hạn với thời gian từ 1- 5 năm Nhờ vậy, các NHTMQD đã thu hút đợc lợng vốn khá lớn, tốc độ tăng mức huy động vốn hàng năm cao, hạn chế ảnh hởng của khủng hoảng tài chính tiền tệ ở khu vực Châu á thời kỳ cuối của thập kỷ 90, góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nớc
Trong giai đoạn 1995 - 2000 cả 4 ngân hàng thơng mại quốc doanh
đều đạt tốc độ tăng trởng cao về vốn huy động NHNo&PTNT đạt tốc độ tăng mức huy động vốn hàng năm bình quân là hơn 27%/năm, riêng năm 2000 so với năm 1999 đạt mức tăng 46% Tơng tự, với NHNT đạt mức 28,4%/năm và 48% Ngân hàng đầu t và phát triển Việt Nam (NHĐT&PT) đạt mức 27,44%/năm và 34% Ngân hàng công thơng Việt Nam (NHCT) đạt mức 25%/năm và 19% {30,40}
Năm 2001 mặc dù chịu ảnh hởng của tình trạng suy thoái nền kinh tế thế giới, nền kinh tế Việt Nam vẫn tiếp tục tăng trởng Thị trờng tiền tệ Việt Nam khá ổn định Tốc độ tăng huy động vốn của toàn ngành ngân hàng trong
Trang 39năm 2001 đạt mức 20,1% so với năm 2000 Tốc độ tăng huy động vốn của đa
số các NHTMQD luôn đạt ở mức cao hơn tốc độ tăng của toàn ngành Nhờ vậy, tổng nguồn vốn của các NHTMQD tăng lên nhanh chóng Thí dụ ở NHNo&PTNT, năm 1996 tổng nguồn vốn của ngân hàng đạt 18.909 tỷ đổng, năm 1997 - 24.305 tỷ đổng, năm 1998 - 31.787 tỷ đồng, năm 1999 - 35.629
động vốn đạt 30.760 tỷ đồng, tăng 36%, năm 2001 tổng nguồn vốn đạt 59.949 tỷ đồng, trong đó tổng huy động vốn đạt 39.051 tỷ đồng, tăng 27% Tổng vốn huy động của ngân hàng năm 2001 tăng gấp hơn 5 lần so với năm
1995 và 129 lần so với năm 1990 {30,40}
Xét theo cơ cấu nguồn vốn huy động : các NHTMQD đã hết sức coi trọng việc huy động vốn trong nớc Nhờ vậy, tỷ lệ huy động vốn nớc ngoài của các NHTMQD chỉ chiếm một phần rất nhỏ Giai đoạn 1995 - 2001 huy
động vốn trong nớc của các NHTMQD luôn chiếm tỷ lệ trên 70% tổng nguồn vốn huy động của toàn hệ thống các tổ chức tín dụng ở Việt Nam
Trong cơ cấu nguồn vốn, tỷ trọng vốn vay ngân hàng nhà nớc của các NHTMQD có xu hớng giảm Đây là xu hớng tích cực, điều này phản ánh khả năng huy động vốn của các NHTMQD đã đợc cải thiện theo chiều hớng tốt Tính đến 31/12/2001 tỷ trọng vốn vay NHNN trên tổng số nguồn vốn của từng ngân hàng là: NH NNo&PTNT - 6,6% so với 7% năm 2000 và 7,5% năm 1999, tơng tự, NHNT - 1,9% so với 3% và 4,3%, NHĐT&PT - 3,2% so với 13% và 17%, NHCT - 5,2% so với 6% và 6,6% {30,40}
Vốn huy động luôn chiếm tỷ lệ cao so với tổng nguồn vốn huy động và
đi vay của các NHTMQD Tính đến 31/12/2001 tổng nguồn vốn huy động và
Trang 40đi vay của các NHTMQD đạt 265.797 tỷ đồng (tăng ≈ 130 lần so với năm 1988) trong đó vốn huy động đạt 203.077 tỷ đồng chiếm 76,4%.
Cụ thể đối với từng ngân hàng, tỷ trọng nguồn vốn huy động trong tổng nguồn vốn huy động và đi vay tính đến 31/12/2001 của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn - 79% so với mức 78% trong năm 2000, tơng
tự, Ngân hàng ngoại thơng Việt Nam - 76% và 73%, Ngân hàng đầu t và phát triển Việt Nam - 65% và 65%, Ngân hàng công thơng Việt Nam - 85% và 83%
Vốn tự có của các NHTMQD (gồm vốn điều lệ và quỹ bổ sung vốn
điều lệ) tính đến cuối năm 2001 đạt mức 5.558 tỷ đồng chiếm 2,1% tổng tài sản, trong đó NH NNo&PTNT là 3,2%, NHNT đạt 1,4%, NH ĐT&PT đạt 1,8%, NHCT đạt 1,9% Chỉ số vốn tự có nêu trên thấp nhiều so với các ngân hàng khác trên thế giới (Thí dụ các ngân hàng thơng mại trong khối ASEAN
tỷ lệ này là 8%, các ngân hàng tiên tiến tỷ lệ đó còn cao hơn) Vốn tự có thấp
đã hạn chế khả năng kinh doanh, khả năng thanh toán, ảnh hởng xấu đến mức độ rủi ro của các NHTMQD Đặc biệt trong điều kiện mở cửa hội nhập, vốn tự có ít sẽ khó khăn trong cạnh tranh trên thị trờng tài chính trong nớc và quốc tế
Ngoài nguồn vốn huy động và đi vay các tổ chức tín dụng, một số NHTMQD đã nhận làm uỷ thác đầu t chính phủ và các tổ chức quốc tế Tính
đến cuối tháng 12/2000, tỷ trọng cho vay bằng vốn tài trợ, uỷ thác đầu t so với tổng nguồn vốn của các NHTMQD nh sau : NHNo&PTNT là 5% so với 7% năm 1999, tơng tự, NHNT là 0,45% và 0,8%, NHĐT&PT là 5% và 6,5%, NHCT là 1% và 1% (không thay đổi so với năm 1999)
Đa dạng hoá các hình thức huy động vốn đã đợc các NHTMQD coi trọng, kể cả huy động vốn nội tệ và ngoại tệ, các phơng thức huy động vốn truyền thống đối với doanh nghiệp, đặc biệt huy động vốn trong dân c với các hình thức tiền gửi tiết kiệm
Tóm lại, từ kết quả của quá trình đổi mới nội dung và phơng thức hoạt
động thời gian qua, hoạt động huy động vốn của các NHTMQD đã có tốc độ tăng trởng hàng năm cao và ổn định Hoạt động trong điều kiện cạnh tranh, từng NHTMQD đều chủ động sáng tạo tìm mọi biện pháp, tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục, điều chỉnh mức lãi suất vv để thu hút thêm nhiều