1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu tài nguyên địa mạo phục vụ phát triển du lịch sinh thái khu vực núi lửa chư b’luk, tỉnh đắk nông

116 75 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 5,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở đây có nhiều cảnh quan du lịch nổi tiếng và có tiềm năng mở rộng hoạt động du lịch sinh thái như thác Đray Sáp, thác Trinh Nữ, thác Diệu Thanh…Đặc biệt, mới đây Tổng cục Địa chất và Kh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Nguyễn Trọng Bách

NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN ĐỊA MẠO

PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI KHU VỰC NÚI LỬA CHƯ B’LUK, TỈNH ĐẮK NÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Nguyễn Trọng Bách

NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN ĐỊA MẠO

PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI KHU VỰC NÚI LỬA CHƯ B’LUK, TỈNH ĐẮK NÔNG

Chuyên ngành: Quản lý tài nguyên và môi trường

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Đặng Văn Bào

XÁC NHẬN HỌC VIÊN ĐÃ CHỈNH SỬA THEO GÓP Ý CỦA HỘI ĐỒNG Giáo viên hướng dẫn Chủ tịch hội đồng chấm luận văn

thạc sĩ khoa học

PGS.TS Đặng Văn Bào PGS.TS Phạm Quang Tuấn

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm sâu sắc đến các thầy, các cô trong Khoa Địa

lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội Nhờ sự quan tâm, giúp đỡ và giảng dạy tận tình của các thầy, các cô trong quá trình học tập và thực hiện luận văn, em đã hiểu, nắm rõ được nhiều kiến thức hơn về chuyên ngành Quản

lý tài nguyên và môi trường

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến PGS.TS Đặng Văn Bào, người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ và giảng dạy tận tình để em hoàn thành Luận văn thạc sĩ khoa học này Xin chân thành bày tỏ lòng biết tới thầy - người

đã hết lòng giúp đỡ, dạy bảo và tạo mọi điều kiện tốt nhất giúp em hoàn thiện luận văn này

Học viên xin được cảm ơn đề tài “Nghiên cứu đặc điểm hình thành và phân

bố hang động núi lửa ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ”; Mã số: QG.17.23, do

PGS.TS Đặng Văn Bào làm chủ nhiệm, đã hỗ trợ em trong quá trình khảo sát thực địa, thu thập tài liệu, cơ sở dữ liệu và hoàn thiện luận văn

Học viên xin được cảm ơn đề tài TN17/T05 trong chương trình “Khoa học

và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Tây Nguyên trong liên kết vùng và hội nhập quốc tế (KHCN-TN/16-20)” đã hỗ trợ một phần tư liệu để hoàn thành luận văn này”

Cuối cùng, em xin được bày tỏ lòng cảm ơn tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã không ngừng động viên, chia sẻ và hỗ trợ rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ của mình

Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng Luận văn thạc sĩ khoa học này không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Vì vậy, em kính mong nhận được sự quan tâm, góp ý của các thầy, các cô và các bạn

Em xin trân trọng cảm ơn

Hà Nội, tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Nguyễn Trọng Bách

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC HÌNH iv

DANH MỤC BẢNG vi

viiDANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5

1.1 Tổng quan về nghiên cứu tài nguyên địa mạo cho phát triển du lịch sinh thái 5

1.1.1 Tổng quan về du lịch và du lịch sinh thái 5

1.1.2 Tổng quan về tài nguyên địa mạo và địa mạo núi lửa 9

1.1.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu về địa mạo núi lửa cho phát triển du lịch sinh thái 15

1.2 Cơ sở lý luận về nghiên cứu đánh giá tài nguyên địa mạo cho phát triển

DLST 19

1.2.1 Tài nguyên địa mạo núi lửa 19

1.2.2 Đánh giá tài nguyên địa mạo cho phát triển du lịch 22

1.3 Quan điểm tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 27

1.3.1 Quan điểm tiếp cận 27

1.3.2 Phương pháp nghiên cứu 28

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA MẠO CỦA KHU VỰC NÚI LỬA

CHƯ B’LUK 32

2.1 Các nhân tố ảnh hưởng tới địa hình và tài nguyên địa mạo khu vực nghiên cứu 32

2.1.1 Vị trí địa lý 32

2.1.2 Đặc điểm địa chất 33

2.1.3 Đặc điểm khí hậu 35

2.1.4 Đặc điểm thuỷ văn 37

2.1.5 Các hoạt động nhân sinh .38

Trang 5

2.2 Đặc điểm địa mạo khu vực nghiên cứu 40

2.2.1 Đặc điểm trắc lượng hình thái địa hình khu vực nghiên cứu 40

2.2.2 Đặc điểm các kiểu nguồn gốc địa hình khu vực nghiên cứu 43

2.2.3 Khái quát lịch sử phát triển địa hình khu vực 48

CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI

KHU VỰC NÚI LỬA CHƯ B’LUK TRÊN CƠ SỞ ĐỊA MẠO 51

3.1 Tài nguyên địa mạo tại khu vực núi lửa Chư B’luk 51

3.1.1 Các miệng núi lửa 51

3.1.2 Hang động núi lửa 52

3.1.3 Bề mặt dung nham bazan nguyên sinh 60

3.1.4 Thác nước 60

3.1.5 Hồ khu vực núi lửa 67

3.1.6 Đầm lầy và lòng sông 69

3.1.7 Bề mặt cao nguyên bazan 70

3.2 Đánh giá tài nguyên địa mạo phục vụ phát triển du lịch sinh thái 70

3.2.1 Đánh giá chung tài nguyên địa mạo phục vụ phát triển du lịch sinh thái 70

3.2.2 Đánh giá tài nguyên địa mạo theo phương pháp bán định lượng 75

3.2.3 Đánh giá các yếu tố xâm hại đối với tài nguyên địa mạo 80

3.3 Định hướng phát triển du lịch sinh thái khu vực núi lửa Chư B’luk 83

3.3.1 Hiện trạng phát triển du lịch 83

3.3.2 Định hướng phát triển du lịch sinh thái tại khu vực núi lửa Chư B’luk 90

3.3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả du lịch 98

KẾT LUẬN 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Mô hình cấu trúc du lịch sinh thái (theo Phạm Trung Lương, 2001) 7

Hình 1.2: Sơ đồ mô hình hình thành của một ống dung nham 13

Hình 1.3: Mô hình hình thành hang động núi lửa dạng hố 14

Hình 2.1: Vị trí khu vực nghiên cứu 32

Hình 2.2: Bản đồ địa chất khu vực nghiên cứu 36

Hình 2.3: Bản đồ phân cấp độ dốc khu vực nghiên cứu 41

Hình 2.4: Bản đồ phân cấp độ cao khu vực nghiên cứu 41

Hình 2.5: Bản đồ phân cắt ngang khu vực nghiên cứu 42

Hình 2.6: Bản đồ phân cắt sâu khu vực nghiên cứu 43

Hình 2.7: Trên đường lên miệng núi lửa 44

Hình 2.8: Cảnh quan xung quanh miệng núi lửa 44

Hình 2.9: Miệng núi lửa Chư B’luk khi lại gần 45

Hình 2.10: Dòng sông Sêrêpốk lượn vòng theo khối dung nham bazan Chư B’luk (trái) và uốn khúc mạnh với nhiều di tích lòng sông cổ ở đoạn trước khối bazan (phải) 47

Hình 2.11: Thung lũng giữa núi tại xã Buôn Choah 47

Hình 2.12: Lòng sông và bãi bồi hiện đại 48

Hình 2.13: Bản đồ địa mạo khu vực núi lửa Chư B’luk 50

Hình 3.1: Miệng núi lửa Chư B’luk 52

Hình 3.2: Sơ đồ hang C7 55

Hình 3.3: Lối vào hang C7 55

Hình 3.4: Lòng hang C7 như bề mặt dung nham 55

Hình 3.5: Các nhánh vào hang C7 56

Hình 3.6: Sơ đồ hang C3 57

Hình 3.7: Dung nham trong lòng hang A1 57

Hình 3.8: Sơ đồ hàng A1 58

Hình 3.9: Cửa vào hang C8 59

Hình 3.10: Lối vào hang C8 59

Trang 7

Hình 3.11: Thác Gia Long 62

Hình 3.12: Chân thác Gia Long 62

Hình 3.13: Đá tại chân Thác Gia Long 64

Hình 3.14: Vết lộ địa chất tại thác Đray Nur 64

Hình 3.15: Quan hệ giữa địa hình và địa chất tại khu vực thác Đray Nur 65

Hình 3.16: Thác Đray Nur 66

Hình 3.17: Thác Đray Sáp 66

Hình 3.18: Thác Trinh Nữ 67

Hình 3.19: Hồ tự nhiên Sin Nô được hình thành do sự chặn dòng chảy của khối bazan Chư B’luk 68

Hình 3.20: Hạ lưu khu vực Hồ thủy điện Buôn Kuốp 69

Hình 3.21: Hồ và nhà máy thủy điện Buôn Kuốp 69

Hình 3.22: Cổng chào khu vực thác Đray Sáp -Gia Long 84

Hình 3.23: Sơ đồ khu du lịch thác Đray Nur 84

Hình 3.24: Poster các loại hình dịch vụ tại Khu du lịch thác Đray Nur 86

Hình 3.25: Bản đồ định hướng phát triển du lịch núi lửa Chư B’luk

(trên cơ sở nghiên cứu địa mạo) 97

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 Các tiêu chí và mức điểm đánh giá các giá trị của di chỉ địa mạo

(Theo Pralong, 2005) 23

Bảng 2 Tiêu chí và mức điểm đánh giá mức độ và phương thức khai thác di chỉ

địa mạo (Theo Pralong, 2005) 26

Bảng 3: Đánh giá giá trị du lịch của các di chỉ địa mạo tại khu vực núi lửa Chư B’luk theo phương pháp của Pralong (2005) 77

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết

Ngày nay, cùng với sự phát triển không ngừng của kinh tế - xã hội, du lịch

đã trở thành một phần không thể thiếu đối với cuộc sống của con người Du lịch không những làm tăng nguồn thu cho các quốc gia mà còn thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển theo, mở ra một thị trường tiêu thụ hàng hóa rộng hơn, tạo công ăn việc làm cho nhân dân lao động và giúp quảng bá thương hiệu, hình ảnh cũng như tăng sự hiểu biết, giao lưu văn hóa giữa các vùng miền Chính vì vậy mà

du lịch đã nằm trong kế hoạch, chiến lược phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới và trở thành một ngành kinh tế quan trọng góp phần phát triển của nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam Nhờ việc phát triển du lịch mà Việt Nam mở ra cơ hội trong quá trình chuyển đổi từ một nền kinh tế dựa chủ yếu vào nông nghiệp chuyển sang một nền kinh tế dựa vào du lịch

Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, hỗ trợ cho các mục tiêu bảo tồn tự nhiên và phát triển cộng đồng theo hướng phát triển bền vững, bảo vệ tài nguyên môi trường đồng thời đem lại hiệu quả kinh tế cao Một trong

số các dạng tài nguyên thiên nhiên có ý nghĩa to lớn đối với việc phát triển du lịch sinh thái là tài nguyên địa mạo Địa hình ở nước ta rất đặc biệt và hình thành nên rất nhiều cảnh quan có giá trị, tạo nên những di sản thiên nhiên đẹp, đặc biệt và rất nổi tiếng như Vịnh Hạ Long, khu quần thể Phong Nha - Kẻ Bàng,…Trong đó, loại hình du lịch liên quan đến những hang động núi lửa còn khá mới mẻ, chưa được biết đến và chưa được phổ biến rộng rãi

Đắk Nông là một tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên, đây là một tỉnh có cơ cấu kinh tế chủ yếu là nông nghiệp nhưng lại có tiềm năng về khoáng sản và thiên nhiên rất to lớn Ở đây có nhiều cảnh quan du lịch nổi tiếng và có tiềm năng mở rộng hoạt động du lịch sinh thái như thác Đray Sáp, thác Trinh Nữ, thác Diệu Thanh…Đặc biệt, mới đây Tổng cục Địa chất và Khoáng sản đã công bố những phát hiện độc đáo về hệ thống hang động núi lửa trong đá bazan có quy mô lớn nhất Đông Nam Á tại đây, khiến nơi đây trở thành một khu vực có tiềm năng phát

Trang 11

triển du lịch rất lớn Một trong những điều kiện để hình thành nên một trung tâm

du lịch là việc tập trung các nguồn tài nguyên có khả năng hấp dẫn khách du lịch

và yếu tố đa dạng về mặt tài nguyên Trong đó, tài nguyên địa mạo đóng vai trò quan trọng và đặc biệt Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có những nghiên cứu cụ thể, đồng thời cũng chưa có những phương thức quản lý, đầu tư phát triển, và bảo tồn đúng cách đã dẫn đến nảy sinh những bất cập, mâu thuẫn và nhiều vấn đề phát sinh gây ảnh hưởng, tác động tiêu cực tới các di sản và hoạt động du lịch tại đây

Để có cơ sở đề xuất các giải pháp quy hoạch, quản lý di sản cho phát triển

du lịch sinh thái trên địa bàn huyện, học viên đã chọn khu vực núi lửa Chư B’luk làm địa bàn nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình với tên đề tài là

“Nghiên cứu tài nguyên địa mạo phục vụ phát triển du lịch sinh thái khu vực núi lửa Chư B’luk, tỉnh Đắk Nông”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Làm rõ được đặc điểm địa mạo, giá trị của các dạng tài nguyên địa mạo, làm cơ sở đề xuất các giải pháp phát triển du lịch sinh thái khu vực núi lửa Chư B’luk, tỉnh Đắk Nông

3 Nội dung, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Nội dung nghiên cứu

- Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu địa mạo núi lửa cho phát triển du lịch sinh thái

- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến địa hình và tài nguyên địa mạo khu vực núi lửa Chư B’luk

- Nghiên cứu đặc điểm địa mạo khu vực núi lửa Chư B’luk

- Đánh giá các dạng tài nguyên địa mạo cho phát triển du lịch sinh thái khu vực núi lửa Chư B’luk

- Định hướng phát triển du lịch sinh thái trên cơ sở nghiên cứu địa mạo

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

+ Thu thập, tổng hợp các tài liệu về tài nguyên địa mạo, di sản địa mạo, tình hình quản lý, khai thác sử dụng tài nguyên khu vực núi lửa Chư B’luk

+ Khảo sát bổ sung dữ liệu thực địa

Trang 12

+ Xây dựng và biên tập các bản đồ liên quan đến tài nguyên địa mạo phục

vụ phát triển du lịch sinh thái khu vực núi lửa Chư B’luk

+ Xây dựng báo cáo luận văn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Là các dạng địa hình và tài nguyên địa mạo có liên

quan với địa hình núi lửa và những giá trị của nó phục vụ phát triển du lịch sinh

thái khu vực núi lửa Chư B’luk

Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu là vùng núi lửa Chư B’luk, tỉnh

Đắk Nông và diện tích nhỏ phía nam thành phố Buôn Ma Thuộc, tỉnh Đắk Lắk (Hình 2.1)

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Ý nghĩa khoa học: Làm rõ được cơ sở khoa học, cơ sở lý luận về nghiên cứu, đánh giá tài nguyên địa mạo núi lửa cho phát triển du lịch sinh thái

- Ý nghĩa trong thực tiễn: Nghiên cứu góp phần phát huy tiềm năng cũng

như giá trị của các dạng tài nguyên địa mạo núi lửa cho phát triển du lịch sinh thái khu vực núi lửa Chư B’luk

6 Phư ng ph p nghi n cứu

- Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu

- Phương pháp khảo sát thực địa

- Phương pháp so sánh tổng hợp

- Phương pháp chuyên gia

- Phương pháp bản đồ, viễn thám và GIS

- Phương pháp phân tích bán định lượng

- Nhóm các phương pháp nghiên cứu địa mạo: Phương pháp trắc lượng hình thái, phương pháp kiến trúc-hình thái, phương pháp nguồn gốc hình thái và phương pháp địa mạo động lực

7 C sở tài liệu

Trong quá trình thực hiện, luận văn đã được sự hỗ trợ từ đề tài “Nghiên cứu đặc điểm hình thành và phân bố hang động núi lửa ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ”; Mã số: QG.17.23, do PGS.TS Đặng Văn Bào làm chủ nhiệm, trong đó

học viên được tham gia quá trình thực địa tại khu vực nghiên cứu và vùng lân cận

Trang 13

Ngoài ra, trong luận văn cũng sử dụng các các bản đồ chuyên đề như bản

đồ địa chất được biên tập lại theo bản đồ địa chất 1:200.000 của Tổng cục Địa chất, bản đồ địa mạo và các bản đồ phân cấp độ dốc, độ cao, phân cắt ngang, phân cắt sâu,… đã được xây dựng dựa trên mô hình số độ cao (DEM) có độ phân giải 12,5m được cung cấp bởi Cơ quan vệ tinh Alaska (Alaska Satellite Facility-ASF) thuộc Viện Địa Vật lý của Trường Đại học Alaska

Ngoài ra, luận văn còn được xây dựng trên cơ sở các tài liệu, số liệu của học viên thu thập và nghiên cứu về khu vực núi lửa Chư B’luk và phụ cận thông qua các đề tài:

- “Nghiên cứu cơ sở khoa học cho các giải pháp tăng cường liên kết vùng của Tây Nguyên với Duyên hải Nam Trung Bộ trong sử dụng tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai”; Mã số TN3/T19, do PGS.TS

Đặng Văn Bào làm chủ nhiệm, hoàn thành năm 2015

- “Nghiên cứu, đánh giá tổng hợp tài nguyên du lịch, hoạch định không gian và đề xuất các giải pháp phát triển du lịch ở Tây Nguyên”; Mã số

TN3/TN18, do GS.TS Trương Quang Hải làm chủ nhiệm, hoàn thành năm 2016

Bên cạnh đó, luận văn còn tham khảo các tài liệu đã công bố, lưu trữ trong

và ngoài nước có liên quan

8 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, khóa luận gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 Đặc điểm địa mạo của khu vực Núi lửa Chư B’luk

Chương 3 Định hướng phát triển du lịch sinh thái khu vực núi lửa Chư

B’luk trên cơ sở địa mạo

Trang 14

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan về nghi n cứu tài nguy n địa mạo cho ph t triển du lịch sinh thái

1.1.1 Tổng quan về du lịch và du lịch sinh thái

1.1.1.1 Một số khái niệm

a) Khái niệm chung về du lịch

Khái niệm du lịch của Tổ chức du lịch thế giới (WTO) như sau: “Du lịch là tập hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ cuộc hành trình và lưu trú của cá thể ở bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ với khoảng thời gian không quá một năm với mục đích hòa bình, nơi đến cư trú không phải là nơi đến làm việc”

Theo Luật Du lịch (2017), “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá

01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác” [19]

Theo Piroginoic thì “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình

độ nhận thức - văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa [10]

Như vậy, du lịch được hiểu là những hoạt động văn hóa, kinh tế và xã hội phát triển, thu hút ngoại tệ mạnh Du lịch là hoạt động văn hóa cấp cao, có mối quan hệ mật thiết với các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội Du lịch không chỉ là hoạt động giải trí thưởng ngoạn mà còn là sự tìm hiểu, nghiên cứu, trao đổi, học tập, hợp tác khi tham quan thắng cảnh, di tích văn hóa - lịch sử, nền văn hóa của từng địa phương

b) Khái niệm về du lịch sinh thái

Khái niệm du lịch sinh thái (Ecotourism) hiện nay, trên thế giới và Việt Nam có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng nhìn chung đều có những điểm giống

Trang 15

nhau trong việc làm nổi bật bản chất của loại du lịch này là: du lịch dựa vào tự nhiên, được quản lý bền vững, hỗ trợ bảo tồn và có giáo dục môi trường

Du lịch sinh thái bắt nguồn từ du lịch tự nhiên và du lịch ngoài trời Về nội dung du: lịch sinh thái là loại hình thăm quan, thám hiểm, đưa du khách đến với môi trường còn tương đối nguyên vẹn, về các vùng thiên nhiên hoang dã, đặc sắc

để tìm hiểu nghiên cứu các hệ sinh thái và các nền văn hóa bản địa độc đáo, làm cho du khách có tình yêu và trách nhiệm bảo tồn, phát triển đối với tự nhiên và cộng đồng địa phương [10]

Định nghĩa đầu tiên về du lịch sinh thái (DLST) được Hector Ceballos - Lascurain đưa ra năm 1987 “DLST là du lịch vào những khu vực tự nhiên hầu như không bị ô nhiễm hoặc ít bị xáo trộn với mục tiêu đặc biệt: nghiên cứu, thưởng ngoạn, trân trọng phong cảnh và muông thú hoang dã và các biểu thị văn hóa được khám phá trong các khu vực này”

Theo hiệp hội Du lịch sinh thái Anh thì “DLST là lữ hành có trách nhiệm tới các khu thiên nhiên, bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho

nhân dân địa phương”

Ở Việt Nam, DLST là lĩnh vực mới được nghiên cứu từ giữa những thập kỉ

90 của thế kỉ XX Trong hội thảo “Xây dựng chiến lược phát triển quốc gia về DLST ở Việt Nam” tháng 9 năm 1999 đã đi đến thống nhất về định nghĩa DLST tại Việt Nam “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”

Theo tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) khái niệm DLST có những điểm rất cơ bản như sau:

- DLST bao gồm tất cả những hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên mà ở

đó mục đích chính của khách du lịch là tham quan tìm hiểu về tự nhiên cũng như những giá trị văn hoá truyền thống ở các vùng thiên nhiên đó

- DLST phải bao gồm những hoạt động giáo dục và diễn giải về môi trường

- Thông thường DLST được các tổ chức chuyên nghiệp và doanh nghiệp có quy mô nhỏ ở nước sở tại tổ chức cho các nhóm nhỏ du khách

Trang 16

- DLST hạn chế đến mức thấp nhất các tác động đến môi trường tự nhiên và văn hoá - xã hội

- DLST có sự hỗ trợ cho hoạt động bảo tồn tự nhiên

những nét văn hóa bản địa đặc sắc

- Đảm bảo tính bền vững về sinh thái và hỗ trợ bảo tồn: Do DLST phát

triển trên môi trường phong phú về tự nhiên nên trong hoạt động DLST, hình thức, địa điểm và mức độ sử dụng cho các hoạt động du lịch phải được duy trì và quản lý cho sự bền vững của cả hệ sinh thái và bản thân ngành du lịch Đặc trưng này được thể hiện ở quy mô nhóm khách thăm quan, yêu cầu sử dụng các phương tiện dịch vụ và tiện nghi của khách thường thấp hơn các yêu cầu về việc đảm bảo kinh nghiệm du lịch có chất lượng

- Có giáo dục môi trường (GDMT): Giáo dục và thuyết minh môi

trường bằng các nguồn thông tin, truyền tải thông tin đến du khách thông qua

Hình 1.1: Mô hình cấu trúc du lịch sinh thái (theo Phạm Trung Lương, 2001) [10]

Trang 17

tài liệu, hướng dẫn viên Đặc điểm có GDMT trong DLST là một yếu tố cơ bản, có tác dụng trong việc làm thay đổi thái độ của khách, cộng đồng và chính ngành du lịch

- Khuyến khích cộng đồng địa phương tham gia và hưởng lợi ích từ hoạt động du lịch: DLST cải thiện đời sống, tăng thêm thu nhập cho cộng đồng địa

phương trên cơ sở cung cấp các kiến thức, những kinh nghiệm thực tế để đa số người dân có khả năng tham gia vào việc quản lý, vận hành dịch vụ DLST Đây cũng là cách để người dân có thể trở thành những người hỗ trợ bảo tồn tích cực

- Cung cấp các kinh nghiệm du lịch với chất lượng cao cho du khách: Thỏa

mãn những mong muốn của du khách là sự nâng cao hiểu biết và những kinh nghiệm du lịch lý thú là sự tồn tại sống còn và lâu dài của DLST Vì vậy, các dịch

vụ du lịch trong DLST tập trung vào đáp ứng nhu cầu nhận thức và kinh nghiệm

du lịch hơn là dịch vụ cho nhu cầu tiện nghi [10]

d) Những nguyên tắc cơ bản của phát triển du lịch sinh thái

DLST được phát triển trên cơ sở những nguyên tắc hướng tới phát triển bền vững Đây là nguyên tắc không chỉ sử dụng cho các nhà quy hoạch, nhà quản

lý, nhà điều hành mà còn cho cả đội ngũ nhân viên hoạt động trong DLST mà Cochrane (1996) đã tổng kết các nguyên tắc đó như sau:

- Sử dụng thận trọng các nguồn tài nguyên, hỗ trợ bảo tồn và giảm thiểu các nguồn gây ô nhiễm

- Phát triển ở mức độ nhỏ và hợp lý nhất với các ngành kinh tế khác hoặc với các chiến lược sử dụng lãnh thổ

- Tạo lợi ích kinh tế lâu dài cho cộng đồng địa phương, những người nên được quyền làm chủ trong sự phát triển và trong hoạch định

- Các chiến dịch thị trường cần tôn trọng môi trường, du lịch không nên làm tổn hại đến nền văn hóa và xã hội địa phương

- Có khả năng hấp dẫn số lượng khách du lịch ngày càng tăng và thường xuyên đáp ứng cho du khách những kinh nghiệm du lịch lý thú

- Khách du lịch cần được cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác về khu vực đến thăm, đảm bảo tính giáo dục

Trang 18

1.1.2 Tổng quan về tài nguyên địa mạo và địa mạo núi lửa

1.1.2.1 Tổng quan về tài nguyên địa mạo

Địa mạo học là một bộ môn khoa học nghiên cứu địa hình bề mặt Trái Đất

về các mặt hình thái, nguồn gốc phát sinh và lịch sử phát triển Nó không những nghiên cứu những quy luật biến đổi hiện tại mà cả quá khứ cũng như hướng phát triển tương lai của địa hình mặt đất [4]

Các yếu tố hợp thành địa mạo có thể phân chia theo cách đơn giản bao gồm: tài nguyên địa mạo và tai biến địa mạo Trong đó, tài nguyên địa mạo bao gồm các nguyên liệu thô (liên quan tới quá trình địa mạo) và địa hình - bao gồm loại có lợi ích cho con người cũng như loại có thể trở nên có lợi ích tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội và khoa học công nghệ Tai biến địa mạo có thể định nghĩa như là khả năng xảy ra các hiện tượng liên quan tới tính không ổn định của địa mạo và cường độ có thể xảy ra trong một phạm vi lãnh thổ trong một khoảng thời gian xác định [4]

Cùng với khái niệm tài nguyên địa mạo còn có khái niệm tài nguyên địa hình Về cơ bản hai khái niệm đó là tương đồng với nhau, trong đó tài nguyên địa mạo đề cập đến nội dung cụ thể hơn về nguồn gốc của địa hình (bao gồm cả vật liệu cấu tạo nên chúng) cùng quá trình phát sinh và phát triển của nó, còn khái niệm “địa hình” thường được chú trọng về mặt hình thái [1]

Địa hình là yếu tố rất quan trọng trong đánh giá địa mạo Nếu địa hình có giá trị nó có thể trở thành tài sản địa mạo và theo đó, có thể trở thành tài nguyên địa mạo nếu được sử dụng bởi con người, tùy thuộc và điều kiện kinh tế, xã hội và công nghệ

1.1.2.2 Tổng quan về địa mạo núi lửa

a) Một số khái niệm

- Núi lửa: Bao hàm tất cả những hiện tượng có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp với các quá trình và điều kiện làm xuất hiện cũng như phun trào dung nham lên các khối macma và sự xâm nhập của nó vào lớp vỏ trái đất [4]

- Macma: Là khối vật chất nóng chảy trong lòng đất có chứa khối lượng lớn các chất ở thể khí Khí trào ra ngoài mặt đất Dung dịch macma được gọi là

Trang 19

dung nham Trong thành phần macma, lượng SiO2 chiếm 40-75%, ngoài ra còn

có lượng lớn oxit của Al, Fe, Mg, Ca, Na, K, Ti, P và khối lượng nhỏ của hầu hết các nguyên tố hoá học khác Trong dung dịch macma bao giờ cũng c các chất khí với nồng độ bão hoà Chính do tính đàn hồi của những chất khí này nên dung nham có thể phun trào lên mặt đất, nhiều khi gây ra những vụ nổ mạnh [4]

- Về cơ chế phun trào dung nham: E Suess quan niệm rằng trong quá trình này dung nham giữ vai trò bị động: khi từng mảng vỏ Trái đất nguội đi, rắn lại và chìm sâu đẩy macma lên bề mặt Ngược lại, ngày nay người ta lại cho rằng trong quá trình phun trào dung nham, macma đóng vai trò chủ động, nó tự dâng trào lên

ở những nơi có áp lực yếu nhất, có thể theo vết nứt gãy sâu Trong một số trường hợp macma có thể phun trào mà không cần những tiền đề thuận lợi như vậy

b) Các kiểu phun trào núi lửa

- Phun trào khu vực: Dung nham trào lên theo một khu vực có diện tích lớn Chủ yếu xảy ra vào giai đoạn đầu lịch sử hình thành Trái đất Lớp vỏ sial còn mỏng manh, áp lực của các chất khí trong macma lớn đẩy khổi macma lên gần mặt đất [4]

- Phun trào theo tuyến: Macma phun trào theo các vết đứt gãy sâu Trên bề mặt dung nham trào ra rất nhiều theo các tuyến kéo dài

- Phun trào Trung tâm: Đây là kiểu phun trào phổ biến nhất hiện nay Dung nham từ các bồn macma trào lên mặt đất theo những ống dẫn hình tròn hoặc hình bầu dục, tạo thành những chóp núi lửa xung quanh miệng phun Cũng có trường hợp không hình thành chóp núi lửa mà hình thành địa hình âm hình phễu [4] Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này là do hiện tượng núi lửa bao gồm 2 giai đoạn: giai đoạn nổ - áp lực các chất khí trong macma quá cao đã phá vỡ vỏ Tráo Đất và gây ra vụ nổ và hình thành miệng núi lửa lõm dạng phễu

Quá trình hình thành dung nham có thể chia ra làm 2 loại chính: Phun trào với sản phẩm dung nham lỏng và phun trào với sản phẩm chủ yếu là vật chất vụn

- Hoạt động phun trào: có thể phân biệt ba trường hợp khác nhau:

+ Phun trào ở đỉnh: Dung nham trào ra ở miệng phun chính hoặc ngay gần miệng phun Các chất khi thoát ra dễ dàng, không xảy ra hiện tượng nổ, không tung sản phẩm vào không trung, dung nham chảy thành dòng rất xa miệng phun

Trang 20

+ Phun trào bên sườn: dầu tiên cột dung nham dâng lên trong họng núi lửa hầu như lên đến miệng núi lửa rồi sau đó bên thành họng xuất hiện một lối thoát phụ để dung nham trào ra

+ Phun trào ngoại tâm: Dung nham chọc thủng sườn, tạo ra đường dẫn mới thấp hơn miệng khá nhiều và trào ra ở phần dưới của sườn hầu như độc lập với họng chính [4]

c) Vật liệu núi lửa

Sản phẩm do núi lửa phun ra có thể có nhiều loại khác nhau và tuỳ thuộc vào đặc tính của chúng mà các dạng địa hình núi lửa mang những nét hình thái khác nhau

- Dung nham: Là sản phẩm chính của quá trình phun trào Tuỳ thuộc vào thành phần hoá học có thể thuộc loại bazơ, axit, hoặc trung tính Dung nham axit thường tạo nên những chóp núi lửa, dung nham bazơ dễ chảy nên thường có xu hướng san phẳng bề mặt địa hình, tạo ra những dòng hoặc bề mặt đồng bằng và cao nguyên dung nham

- Các sản phẩm vụn: Trong dung nham bao giờ cũng có một khối lượng khí rất lớn Chúng có khả năng đàn hồi, tạo ra áp lực rất lớn, gây ra những vụ nổ và phun trào dung nham làm cho dung nham và các sản phẩm vụn khác bị toé ra thành những tảng, mảnh vụ có kích thước khác nhau Những sản phẩm này được gọi là những sản phẩm nhiệt vụn Theo kích thước mảnh vụ có thể phân biệt ra các loại sau: loại kích thước lớn - đá tảng, bom, xỉ núi lửa; loại kích thước trung bình - lapili (các mảnh đá vụn) và những mảnh loại kích thước nhỏ, cát và tro núi lửa [4]

d) Các dạng địa hình núi lửa

- Các dòng dung nham

+ Các dòng dung nham dạng tuyến kèo dài: Chúng được tạo thành từ loại dung nham lỏng, dễ chảy, màu sẫm, như bazan, labradorit,… Chúng có thể chảy trên khoảng cách dài nếu vận động dọc theo các thung lũng

+ Lớp dung nham được thành tạo khi dung nham lỏng và cơ động chảy ra trên bề mặt địa hình san bằng, đây là trường hợp các cao nguyên dung nham, VD như ở Tây Nguyên, đặc trưng loại phun trào khe nứt

Trang 21

+ Các dòng dung nham ngắn, dạng khối xuất hiện khi có phun trào dung nham axit đặc quánh bị nguội đi và cứng rắn hoá ngay gần miệng phun

- Các dạng địa hình trũng:

+ Miệng núi lửa kiểu maare thường thể hiện như những hồ nhỏ và được coi như những “núi lửa khí” với một lần phun nổ duy nhất tạo ra một hố lõm hình tròn đều đặn Điều đặc biệt trong dạng địa hình này không hề gặp đá núi lửa [22]

+ Miệng núi lửa candeira thường là những hồ lớn là dạng thường gặp Chúng được thành tạo bằng hiện tượng sụt lún Do phun ra một lượng dung nham khổng lồ mà bên họng núi lửa xuất hiện những dạng rỗng lớn, dẫn đến hiện tượng sụt lún xung quanh miệng phun [22]

+ Sụt lún trên diện rộng: Trên nhưng núi lửa đã tắt từ lâu, nay bị sụt lún làm cho các lớp bazan nghiêng hướng về phía miệng phun ở Trung tâm [22]

- Các dạng địa hình dương:

+ Chóp xỉ: là những cấu trúc nhỏ và đơn giản, có đường kính 1-2km, khi còn mới thì sờn dốc, trên đỉnh có miệng phun Miệng núi lửa có thể vỡ và mở về một phía Sườn các chóp nủi lửa lớn thường bị nước mưa cắt xẻ, tạo ra vô số khe mưa và rãnh xói mòn sắp xếp dạng toả tia [22]

+ Núi lửa hình khiên kiểu Hawai: là những chóp núi lửa rất thoải (5-6 độ) kích thước rất lớn trên đỉnh có miệng phun chứa đầy dung nham lỏng Đặc trưng cho loại phun trào dung nham bazơ [22]

+ Chóp núi lửa phân tầng: thông thường là những núi lửa cổ, hoạt động trong thời gian dài và có lịch sử phức tạp Những đợt sụt lún ở miệng phun đã làm đảo lộn những gì được tạo ra từ những lần phun trước Những đợt phun trào sau lại phủ lên chúng, do đó hình thành loại cấu trúc phân tầng [22]

+ Chóp núi lửa tích tụ: Dung nham axit vì rất quánh nên tích tụ ngay bên trên miệng phun tạo ra chóp núi lửa bề thế cứng nhắc, chỉ bị phân cắt bởi những

kẽ nứt hình thành khi nguội đi Khi bị các quá trình ngoại sinh tác động, vách núi lửa loại này tạo ra vô số vật liệu vụn cung cấp cho những vạt đá lở vây quanh chân núi [22]

Trang 22

e) Hang động núi lửa

Hang động núi lửa được hiểu là là khoảng trống tự nhiên đủ lớn trong lòng đất được hình thành do hoạt động của các dòng dung nham núi lửa gây nên

Hang động núi lửa nguyên sinh (ở mức độ lớn - Pyroducts): loại hang

động này có thể chia thành 2 loại chính là các ống dung nham (lava tubes) và hố núi lửa (volcanic pits)

Quá trình hình thành của hang động ống dung nham có thể giải thích đơn giản theo cách sau: ban đầu dòng dung nham di chuyển theo sườn dốc và dần được nguội lạnh ở các phần bên ngoài (phần tiếp xúc với không khí và với các đá bao quanh) tạo thành một lớp vỏ, tuy nhiên phần ngay bên dưới nó, dòng dung nham nóng vẫn tiếp tục chảy Sau đó, do sự sụt giảm về tốc độ phun trào của núi lửa, lượng dung nham trong ống dẫn giảm dần và hình thành lớp vỏ ngoài cấu kết Theo đó, khi núi lửa phun trào kết thúc, một ống dung nham được hình thành, sau

đó một số vị trí có thể bị sụp đổ trần tạo thành các “cửa sổ” Qua thời gian thì thực vật sẽ dần phát triển trên đó, đặc biệt là ở cửa các lối vào của hang động (xem mô hình dưới đây)

Hình 1.2: Sơ đồ mô hình hình thành của một ống dung nham [22]

Hố núi lửa hầu hết là những ống dẫn tới miệng núi lửa cổ theo chiều thẳng

đứng, được hình thành như một hệ quả sau những sự kiện hay những đợt phun trào của núi lửa Nó có thể là một lỗ thông khí-hơi hay một trung tâm phun trào mới ở mức độ thấp hơn hoặc là sự suy giảm phát thải của dung nham từ phần dưới sâu dẫn đến một bên và dòng chảy sâu của macma và sự trống rỗng cục bộ của

Trang 23

các đường ống dẫn nuôi dưỡng Khi sự phun trào kết thúc, khu vực đó dần nguội lạnh, các đường ống được cố kết và có thể có một vài sự sụp đổ từ phía thành ống làm tăng kích thước của hố, tạo thành lớp trầm tích bên dưới của hố

Hình 1.3: Mô hình hình thành hang động núi lửa dạng hố [22]

Người đầu tiên có mô tả về đường hầm dung nham (ở Iceland) thông qua các khảo sát thực tế trong những năm từ 1752 đến 1757 có thể là Eggert Olafsen (1774, 1775, trích lại theo Stephan Kempe, 2012); tiếp đến là các mô tả của Uno von Troil (1779) trong chuyến thăm Iceland cùng với Joseph Banks and Daniel Solander năm 1772 [22]

Còn người đầu tiên đã ghi nhận thấy một đường hầm hoạt động ở Mauna Loa năm 1843 là Coan Mặc dù Coan sử dụng thuật ngữ đường hầm (tunnel) một cách tổng quát hơn và đưa ra mô hình mới “pyroduct-hang động dung nham” Thuật ngữ này có tính cụ thể cao nên nó được ưu tiên hơn trong mô tả các hiện tượng tương tự Các nhà địa chất đầu tiên như James Dana tiếp tục sử dụng từ "đường hầm- tunnel", J.W Powell đã giới thiệu thuật ngữ ống núi lửa

và Tom Jaggar sử dụng "đường hầm - tunnel" cũng như "ống - tube"; chỉ sau năm 1940 thì thuật ngữ ống dung nham (lava tube) mới được sử dụng như thuật ngữ chính thống [22]

Việc phát hiện những dòng dung nham rộng lớn trên sao Kim, sao Hỏa và Mặt Trăng và thậm chí cả những ngọn núi lửa đang hoạt động trên Io (một mặt trăng của sao Mộc) đã thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học về các hang động núi lửa dạng pyroduct trong vài thập kỷ qua

Trang 24

Trên Trái đất, hang động dung nham được khảo sát dài nhất là Kazumura Cave (chiều dài nhánh chính là 41km) (Hawaii, Kilauea Volcano) (Allred et al., 1997), và dòng chảy dung nham sinh ra trong Đệ tứ dài nhất trên Trái đất là ở Undara / Australia (Atkinson và Atkinson, 1995) Nhóm tác giả khám phá và khảo sát nhiều hang động khác ở Hawaii (ví dụ, Kempe, 2002) và ở Jordan mang lại các cơ hội để nghiên cứu sự hình thành và tiến hóa của các hang động dung nham (pyroducts) từ bên trong [22]

Hang động núi lửa thứ sinh: Các hang động thứ sinh trong các đá núi lửa

có nghĩa là chúng được tạo ra rất lâu sau khi dung nham đã nguội lạnh; chúng được hình thành có thể do hoạt động kiến tạo, do quá trình sập lở, hay do bị xói mòn,

Hang động kiến tạo vẫn còn ít được quan tâm đến Dọc vùng Great Crack,

một số hang động khe nứt kiến tạo về cơ bản đã được khám phá, bao gồm Pit H (sâu 183 m) và Wood Valley Pit Crater (sâu 90 m) [22]

Các hố miệng núi lửa được hình thành bởi sự sụp đổ nguội lạnh một phần nhỏ ở trần các buồng macma Ví dụ như hang Devil’s Hole trên đảo Hawaii (Vườn Quốc gia Hawaii, Chains of Craters Road), chúng bắt đầu như là một lỗ nhỏ trên mặt đất dẫn vào một “căn phòng” hình nón sâu khoảng 50m Sự sụp đổ thêm của trần và tường dẫn đến một hầm lộ thiên trong suốt một vài thập kỷ Nhiều hố khác cổ hơn xảy ra ở các vùng lân cận Các miệng hố núi lửa gần đây đã thu được sự chú ý nhiều hơn bởi vì chúng có thể là đối tượng hang động giống như phát hiện đầu tiên trên sao Hỏa

Hang động xói mòn trong vùng đá dung nham có thể được hình thành bởi

hoạt động của sóng dọc theo bờ biển hoặc bởi hoạt động của dòng chảy Các hang động do hoạt động của sóng trong vùng các đá núi lửa là khá phổ biến và có thể

có kích thước đáng kể Nổi tiếng nhất là hang động Fingal Cave ở đảo Staffa, Scotland [22]

1.1.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu về địa mạo núi lửa cho phát triển du lịch sinh thái

1.1.3.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới

Vào năm 1998, sự ra đời cuốn sách “DLST: hướng dẫn cho các nhà lập kế hoạch và quản lý” (Hiệp hội DLST, Kreg Lindberg, Megan Epler Wood, David

Trang 25

Engeldrum) đã có những cung cấp khá đầy đủ các mặt kiến thức về DLST, đây

được coi là một tài liệu rất hữu ích đối với các nhà quy hoạch, nhà quản lý, các

học sinh, sinh viên và những người hoạt động trong lĩnh vực du lịch

Đến đầu thế kỷ 21, DLST đã nhận được sự quan tâm nhiều hơn từ các tổ chức quan trọng trên thế giới như Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO), Quỹ bảo tồn động vật hoang dã thế giới (WWF), Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN), Đặc biệt, Đại hội đồng Liên Hợp quốc đã chọn năm 2002 là “Năm quốc tế DLST” Năm 2007, Hội nghị DLST quốc tế được tổ chức tại Oslo đã đưa ra rất nhiều nững nội dung quan trọng, đặc biệt trong đó có khuyến nghị về 4 lĩnh vực: PTBV, bảo tồn, giáo dục, truyền thông và những vấn đề nhạy cảm của DLST

Cho tới nay đã có rất nhiều tác phẩm, các công trình nghiên cứu về DLST

được áp dụng cho nhiều khu vực trên thế giới như: “Nghiên cứu về DLST tại Amazon” của G.N Wallace và S.M Piercem (1996), “Đánh giá DLST ở phía Bắc Sulawesi, Indonesia” của Sheryl Ross và Geoffrey Wall (1999), “Định giá tài nguyên DLST bằng phương pháp định giá ngẫu nhiên tại các khu phi quân sự của Hàn Quốc (DMZ)” của của Choong-Ki Lee, James W Mjelde (2007),“Mở rộng lợi ích của DLST đối với cộng đồng nông thôn tại Ấn Độ” của Dhan B

Gurung và Klaus Seeland (2008)

Thuật ngữ về hang động núi lửa (Vulcanospeleology) đã được sử dụng lần đầu tiên bởi nhà khoa học William R Halliday trong việc khám phá các hang

động được cấu tạo bởi đá núi lửa

Năm 1970, các nghiên cứu sâu hơn về hang động dung nham đã được bắt

đầu quan tâm nghiên cứu, tập trung chủ yếu ở khu vực Hawaii

Tháng 8 năm 1972, Hội nghị chuyên đề về hang động núi lửa được tổ chức lần đầu tiên tại Washington, Mỹ do William R Halliday khởi xướng Từ đó đến nay, Hội nghị được duy trì và tổ chức tại các quốc gia khác nhau, Hội nghị lần thứ

14 được tổ chức vào tháng 8 năm 2010 ở Australia; lần thứ 15 vào tháng 3 năm

2012 tại Jordan; lần thứ 16 vào tháng 3 năm 2014 tại Ecuado và lần thứ 17 được

tổ chức mới đây vào tháng 2 năm 2016 tại Hawaii, Mỹ đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà hang động học và các nhà khoa học khác trên khắp trên thế giới

Trang 26

1.1.3.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

Trong thời gian gần đây tại Việt Nam, do tình hình kinh tế xã hội ngày càng phát triển kéo theo nhu cầu du lịch bắt đầu tăng theo

Từ những năm 1980, nước ta đã có một số đề tài khoa học đề cập tới vấn

đề này như: “Sơ đồ phát triển và phân bố ngành du lịch Việt Nam” năm 1986; “Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam” (Vũ Tuấn Cảnh & nnk, 1991); “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam” (Tổng cục du lịch, 1995); “Đặc trưng các hệ sinh thái, cơ sở của phát triển du lịch sinh thái Việt Nam” (Nguyễn Ngọc Khánh, 1999) Nhằm mục đích quy hoạch, tổ chức phân vùng lãnh thổ và phân vùng du lịch, các công trình nghiên cứu này đều đã được tiến hành đánh giá tiềm năng hoặc được đánh giá tài nguyên du lịch theo từng thành phần, hoặc được đánh giá tổng hợp trên phạm vi cả nước (ở tỷ lệ nhỏ) Do vậy, các công trình kể trên mới chỉ dừng lại ở mức độ khái quát và cũng chưa tiến hành xây dựng được các hệ thống chỉ tiêu đánh giá, cho điểm cụ thể

Năm 2002 và 2003, hai cuốn sách “DLST, những vấn đề về lý luận và thực tiễn ở Việt Nam” của Phạm Trung Lương và Nguyễn Ngọc Khánh, Nguyễn Văn Lanh, Hoàng Hoa Quán và “Du lịch và DLST” của tác giả Thế Đạt đã hệ thống lại

cơ sở lý luận về DLST

Năm 2004, Bộ NN&PTNT cùng với Tổ chức PTBV Fundeso và Cơ quan

hợp tác quốc tế Tây Ban Nha đã cho xuất bản cuốn “Cẩm nang quản lý phát triển DLST ở các khu bảo tồn Việt Nam” Đây được ví như nền tảng cho công

tác tổ chức, quản lý hoạt động DLST tại Việt Nam Đến năm 2006, tác giả Lê

Huy Bá đã xuất bản cuốn sách “DLST”, cuốn sách vừa mang tính lý thuyết, vừa

có tính ứng dụng trong thực tiễn cao nhằm phục vụ cho việc quy hoạch DLST tại Việt Nam

Công tác nghiên cứu địa mạo trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam đã được bắt đầu ngay từ những năm đầu của công cuộc đổi mới xây dựng đất nước Cho tới ngày nay, công tác hiệu chỉnh bản đồ địa mạo tỷ lệ 1:500.000 và việc thành lập các bản đồ địa mạo ở tỷ lệ 1:200.000 do Cục địa chất Việt Nam chủ trì đã được hoàn thành Nhiều vùng lãnh thổ đã được đo vẽ bản đồ địa mạo chi tiết đến tỷ lệ

Trang 27

1:50.000 Cùng với đó là rất nhiều các công trình nghiên cứu về địa mạo với nhiều hướng khác nhau

Tại Việt Nam các nghiên cứu cùng hệ thống tài liệu về hang động núi lửa chỉ mới bắt đầu được quan tâm sau khi phát hiện các hang động núi lửa tại Đắk Nông và Đồng Nai trong khoảng 10 năm trở lại đây, mặc dù trước đó các hang động núi lửa ở Việt Nam đã được người dân và các nhà nghiên cứu ở các lĩnh vực khác phát hiện từ lâu, song ít được quan tâm tìm hiểu

1.1.3.3 Tổng quan nghiên cứu tại tỉnh Đắk Nông

Từ năm 2008, bắt đầu khi Bảo Tàng Địa chất Việt Nam triển khai đề tài

“Điều tra nghiên cứu di sản địa chất để xây dựng công viên địa chất và bảo vệ môi trường khu vực thác Trinh Nữ, huyện Cư Jut, tỉnh Đắk Nông, Việt Nam” do

La Thế Phúc là chủ trì, các hang động trong đá bazan mới lần đầu tiên được công

bố tại Việt Nam

Tại hội nghị Khoa học Toàn quốc lần thứ nhất Hệ thống Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam năm 2010, Hội nghị Công viên Địa chất Toàn cầu năm 2012 tại Unzen, Nhật Bản; Tạp chí Địa chất loạt A số 320, 9 - 10/2010, số đặc biệt kỷ niệm 65 năm ngày truyền thống ngành Địa chất Việt Nam năm 2010, Journal of Geology, series B số 35-36/2010 đã có hàng chục ngàn tờ rơi nhằm mục đích quảng bá tuyên truyền về di sản địa chất khu vực cụm thác Trinh Nữ - Gia Long, trong đó có hang động trong đá bazan

Từ năm 2012 đến năm 2014, Bảo tàng Địa chất Việt Nam đã phối hợp với Hội hang động núi lửa Nhật Bản điều tra hệ thống hang động trong đá bazan ở khu vực Đray Sáp - Buôn Choah thuộc huyện Krông Nô và đã xác lập độ dài kỷ lục về hang động núi lửa ở Đông Nam Á

Đến năm 2015, trong đề tài “Nghiên cứu, đánh giá tổng hợp tài nguyên du lịch, hoạch định không gian và đề xuất các giải pháp phát triển du lịch ở Tây Nguyên” của GS.TS Trương Quang Hải đã đánh giá một cách tổng hợp các di sản

thiên nhiên, các dạng tài nguyên du lịch hiện hữu ở Tây Nguyên Đồng thời đề tài

đã nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn về phương án tổ chức không gian để phát triển du lịch khu vực Tây Nguyên với 04 khu vực trọng điểm và 03 tiểu vùng

Trang 28

du lịch.Ngoài ra, đề tài cũng đã đề xuất 06 tuyến DLST chuyên đề rất tiêu biểu, có khả năng kết nối các di sản thiên nhiên mang tính đặc thù và 04 mô hình DLST, du lịch dựa vào cộng đồng mang tính điển hình cho toàn vùng Tây nguyên

Cũng trong năm 2015, PGS.TS Tạ Hòa Phương, GS.TS Trương Quang Hải

và PGS.TS Đặng Văn Bào cũng đã cho công bố bài báo “Một số di sản thiên nhiên

có giá trị nổi bật cho phát triển du lịch vùng Tây Nguyên”, trong đó đã đề cập tới

những loại di sản thiên nhiên có liên quan tới núi lửa như cụm thác nước, cảnh quan núi lửa hay hệ thống hang động núi lửa tại khu vực Krông Nô, Đắk Nông

Năm 2016, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đắk Nông đã phối hợp với Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam thực hiện đề tài “Nghiên cứu, điều tra đánh giá di sản địa chất, xây dựng Công viên địa chất Krông Nô, tỉnh Đắk Nông” với mục đích bảo vệ bảo tồn, quản lý và khai thác phát huy các giá trị di sản khu vực Krông Nô một cách hợp lý, thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế xã hội

Theo kế hoạch dự kiến, tháng 7 năm 2019, Đoàn chuyên gia của UNESCO

sẽ thăm và thẩm định chính thức công nhận danh hiệu “Công viên địa chất toàn cầu” cho CVĐC Đắk Nông Sau chuyến thẩm định chính thức, UNESCO sẽ tiến hành Hội nghị CVĐC châu Á Thái Bình Dương tại Indonesia vào tháng 9/2019 Tại hội nghị, các chuyên gia thẩm định sẽ báo cáo tổng kết chuyến khảo sát Tiếp đến, Hội đồng UNESCO tổ chức họp rồi mới quyết định (chấp nhận, trì hoãn, từ chối/ thẻ xanh hoặc thẻ vàng) công nhận danh hiệu “CVĐC toàn cầu” vào tháng 4/2020

1.2 C sở lý luận về nghi n cứu đ nh gi tài nguy n địa mạo cho ph t triển DLST

1.2.1 Tài nguyên địa mạo núi lửa

1.2.1.1 Khái niệm chung

- Tài nguyên địa mạo có một vai trò quan trọng trong phát triển du lịch, thể hiện ở những điểm sau:

+ Bề mặt địa hình là nơi diễn ra các hoạt động du lịch của con người, đồng thời cũng là nơi xây dựng các công trình, cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho các hoạt động du lịch Địa hình còn là yếu tố tác động tới sự phân hóa khí hậu cũng là một yếu tố quan trọng tác động tới các địa điểm du lịch Ngoài ra, địa hình còn có ảnh hưởng tới sự phân hóa lãnh thổ tác động sâu sắc tới đời sống xã hội,

Trang 29

nền văn minh và sự đa dạng văn hóa của con người, là một trong những yếu tố của tài nguyên du lịch nhân văn

+ Địa hình là thành phần chính của tự nhiên tạo nên cảnh quan du lịch Đặc điểm của địa hình góp phần quyết định đến các loại hình du lịch Các quá trình địa mạo cũng có vai trò quan trọng trong việc tạo lập nên các dạng địa hình để được khai thác, sử dụng cho mục đích du lịch [1]

Hai vai trò trên của địa hình tương ứng với hình thức sử dụng gián tiếp và trực tiếp chúng cho mục đích du lịch

Di sản địa mạo đã được nghiên cứu và sử dụng trong hệ thống khái niệm

về địa di sản

Thuật ngữ địa di sản (geoheritage) đầu tiên được sử dụng để chỉ các di sản địa chất (geological heritage), bao gồm những yếu tố về địa chất, địa mạo Địa di sản là dạng di sản quan trọng trong các loại di sản thiên nhiên Được hiểu là phần tài nguyên có giá trị nổi bật về các mặt như khoa học, giáo dục, thẩm mỹ và kinh

tế Tại đây địa di sản bao gồm các cảnh quan địa mạo, các miệng núi lửa đang hoặc đã ngừng hoạt động, các hang động, lưu vực sông, các hồ tự nhiên, thác nước, các hình thái của đá… từ đó giúp chúng ta có thể quan sát được các quá trình địa chất-địa mạo đã và đang diễn ra hàng ngày Những đối tượng địa mạo để

có thể trở thành di sản cần có những giá trị nổi bật hơn so với những dạng địa hình thông thường khác thông qua việc đánh giá giá trị của chúng

- Về phân loại di sản địa mạo, cũng có nhiều tiêu chí phân loại khác nhau: + Theo giá trị của di sản, các di sản địa mạo có thể được công nhận ở các cấp độ khác nhau: địa phương, quốc gia, quốc tế

+ Theo quy mô, di sản địa mạo có thể được chia thành:

Điểm di sản địa mạo: những dạng địa hình độc lập hoặc một nhóm nhỏ địa hình, có thể quan sát chi tiết từ một điểm hay một không gian hẹp;

Cụm di sản: được tạo thành bởi một hoặc nhiều nhóm địa hình mà chỉ có thể quan sát được bởi việc di chuyển bên trong khu vực;

Vùng di sản: những khu vực cho thấy những dạng địa hình rộng lớn, trong

đó bao gồm cả điểm và cụm di sản

Trang 30

+ Phân loại theo nguồn gốc: Việc phân loại di sản địa mạo theo nguồn gốc đối với các dạng tài nguyên địa mạo/di sản địa mạo vẫn là phương pháp phân loại khoa học và đầy đủ nhất Việc phân loại các di sản địa mạo dựa theo nguồn gốc tùy thuộc vào bối cảnh địa mạo của mỗi quốc gia

1.2.1.2 Phân loại tài nguyên địa mạo

- Phân loại theo nguồn gốc phát sinh: tài nguyên địa mạo được phân thành

hai nhóm lớn là tài nguyên địa mạo được thành tạo do quá trình nội sinh và tài nguyên địa mạo được thành tạo do quá trình ngoại sinh:

+ Tài nguyên địa mạo thành tạo do quá trình nội sinh gồm các dạng địa hình và vật liệu được hình thành do các hoạt động núi lửa, phun trào bazan, hoạt động của các đứt gãy kiến tạo, hoạt động nâng khối tảng, uốn nếp,…

+ Tài nguyên địa mạo thành tạo do quá trình ngoại sinh gồm các dạng địa hình và vật liệu được hình thành do quá trình bóc mòn, hoạt động xâm thực sâu của sông, quá trình karst, băng hà, biển, gió,…

- Phân loại theo đặc điểm sử dụng: tài nguyên địa mạo được phân chia

thành tài nguyên tiêu thụ được và tài nguyên không tiêu thụ được:

+ Tài nguyên tiêu thụ được là những vật liệu thành tạo do quá trình địa mạo, bao gồm các trầm tích như cát, sạn, sỏi, sét, bột… Con người có thể dễ dàng khai thác, sử dụng một cách rộng rãi

+ Tài nguyên không tiêu thụ được là các dạng địa hình, ví dụ như những địa điểm kỳ thú đối với khoa học địa mạo, những đơn vị địa hình có giá trị cao về mặt tự nhiên hoặc sản xuất, những cảnh quan để chiêm ngưỡng, v.v… Chúng có vai trò hỗ trợ các hoạt động hay là cơ sở hạ tầng cho phát triển các dịch vụ của con người Đối với loại tài nguyên này, con người chỉ quan sát, tiếp xúc và có thể gây hại đến chúng Một trong các dạng tài nguyên này là di sản địa mạo [11]

1.2.1.3 Tài nguyên địa mạo cho phát triển du lịch sinh thái

Tài nguyên địa hình - địa mạo có vai trò rất quan trọng trong phát triển du lịch và đặc biệt với DLST

Các quá trình địa mạo tạo ra các dạng, các kiểu địa hình đặc trưng cho mỗi khu vực, tạo nên cảnh quan có giá trị thu hút khách du lịch tới tham quan, chiêm

Trang 31

ngưỡng Đối với địa hình đồng bằng dù có phần đơn điệu về ngoại cảnh nhưng là những nơi tập trung cao mật độ dân cư, hội tụ nhiều nền văn minh với các dạng tài nguyên du lịch nhân văn, trong đó đặc biệt là các di tích lịch sử, văn hóa Địa hình đồi, trung du thường tạo ra không gian thoáng đãng, yên tĩnh là nơi dân cư tập trung tương đối đông đúc, lại thường tập trung di tích khảo cổ, tài nguyên văn hóa, lịch sử độc đáo, đồng thời thuận tiện cho giao thông, đi lại tạo khả năng phát triển nhiều loại hình du lịch khác nhau Địa hình núi có ý nghĩa lớn với phát triển ngành du lịch, với nhiều cảnh quan hùng vĩ, rộng lớn, thuận lợi cho DLST hay các loại hình du lịch mạo hiểm như thể thao, leo núi,… Địa hình bờ biển có thể tạo ra nhiều bãi tắm đẹp, thích hợp với du lịch nghỉ dưỡng

- Đồng thời, địa hình cũng cung cấp các cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng phục

vụ cho hoạt động du lịch Hầu như các hoạt động du lịch đều phụ thuộc vào địa hình (tiến hành diễn ra trên bề mặt địa hình) Tuy nhiên, địa hình cũng có thể trở thành một nhân tố hạn chế sự phát triển của du lịch (các điều kiện bất lợi về bề mặt như dễ xảy ra xói mòn, trượt lở,…)

Từ đó, ta nhận thấy các dạng tài nguyên địa hình, địa mạo và du lịch có mối quan hệ chặt chẽ với nhau; vừa có thể tương tác lẫn nhau, vừa có thể thúc đẩy

sự phát triển nhưng cũng có thể kìm hãm nhau Địa hình góp phần tạo nên loại hình du lịch phù hợp, là một phần cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch nhưng cũng có thể hạn chế du lịch thông qua các loại hình tai biến thiên nhiên liên quan tới địa hình (trượt lở, xụt lún,…) Ngược lại, du lịch cũng tạo cơ sở cho việc bảo vệ, tôn tạo địa hình, phòng chống các tai biến liên quan tới địa hình thông qua giá trị kinh

tế đem lại nhưng cũng chính sự phát triển của du lịch cũng có thể làm thay đổi hình thái địa hình (như làm đường giao thông phục vụ du lịch,…)

1.2.2 Đánh giá tài nguyên địa mạo cho phát triển du lịch

Việc đánh giá các di chỉ địa mạo có thể dựa trên nhiều phương pháp khác nhau như phương pháp định tính hoặc định lượng, phương pháp đánh giá trực tiếp và gián tiếp

Phương pháp đánh giá định tính thường được tiến hành bởi các chuyên gia Kết quả đánh giá có thể mang nhiều tính chủ quan hơn do những tiêu chí lựa

Trang 32

chọn thường không được giải thích một cách rõ ràng, tỉ mỉ và chủ yếu dựa trên chuyên môn của những người thực hiện Phương pháp này có thể cho phép xác định và lựa chọn các di sản địa mạo trong phạm vi của một danh sách đề xuất cụ thể trước đó

Phương pháp đánh giá định lượng là phương pháp đánh giá mang tính khách quan hơn vì sử dụng theo một số tiêu chí dùng để đánh giá, làm cho kết quả đánh giá được rõ ràng và có thể áp dụng một cách rộng rãi hơn Mục đích chính của phương pháp này là định lượng hóa giá trị của các di sản địa mạo, cho phép so sánh giá trị của các di sản địa mạo với nhau và xếp hạng chúng dựa trên các tiêu chí nêu trêu

Những tiêu chí có thể dùng để đánh giá cho vấn đề đưa ra so sánh là khả năng tổn thương, khả năng tiếp cận, mức độ khai thác, khả năng nhìn thấy được, phương thức khai thác (Pralong, 2005), vị trí phân bố trong quy hoạch hiện tại (Bruschi and Cendrero, 2005, 2009), vị trí với các thiết bị và dịch vụ, giới hạn của

sự thay đổi cho phép của di sản (Serrano và Gonzalez, Treba, 2005), luật pháp (Zouros N.C, 2007),

Theo Pralong đã đưa ra bảng đánh giá bán định lượng tương đối chi tiết cho các di chỉ địa mạo với hệ thống các tiêu chí cho bốn giá trị về văn hóa, kinh

tế, khoa học và thẩm mỹ, đồng thời đánh giá phương thức và mức độ khai thác được thể hiện theo bảng đánh giá các yếu tố chi tiết sau [24]:

Trang 33

Bảng 1: Các tiêu chí và mức đánh giá (theo tháng điểm) các giá trị của di chỉ địa mạo (Theo Pralong, 2005) [24]

Gi trị Tiêu chí Điểm

Khoa

học

Tầm quan trọng cổ địa lý (Giá trị tái hiện lại sự tiến hóa địa mạo

của một lãnh thổ) Không có Thấp Trung bình Cao Rất cao Tính đại diện (Tính hình mẫu có ý nghĩa giáo dục cho những người

không có chuyên môn về địa mạo) Không có Thấp Trung bình Cao Rất cao Diện tích (%) (Diện tích của di chỉ trên tổng diện tích các di chỉ

cùng loại) - <25 25-50 50-90 >90 Tính hiếm có (Số lượng các di chỉ giống hệt nhau của khu vực

nghiên cứu) >7 5 - 7 3 - 4 1 - 2 Duy nhất Tính toàn vẹn (Mức độ bảo tồn trước các tác động của tự nhiên và

nhân sinh) Bị phá hủy Bị hư hỏng

nặng

Hư hỏng trung bình Ít bị hư hỏng Còn nguyên vẹn Tầm quan trọng sinh thái

(Phụ thuộc vào tầm quan trọng, tính đa dạng và động lực biến đổi

tự nhiên của các loài sinh vật tại di chỉ) -

Thấp Trung bình Cao Rất cao

Thẩm

mỹ/

Phong

cảnh

Số lượng điểm quan sát

(Mỗi điểm thể hiện một góc nhìn đặc trưng, khoảng cách không

quá 1km, có thể đi bộ tới)

- 1 2-3 4-6 >6

Khoảng cách trung bình tới các điểm quan sát - <50m 50 - 200m 200 - 500m >500m Diện tích của di chỉ so với các di chỉ cùng loại khác - Nhỏ Trung bình Lớn Rất lớn

Độ cao (Độ cao so với các di chỉ cùng loại) - Thấp Trung bình Cao Rất cao

Mức độ tương phản về màu sắc Đồng nhất Màu sắc khác

nhau

Màu sắc tương phản

Trang 34

Gi trị Tiêu chí Điểm

Văn hóa -

lịch sử

Mức độ liên quan tới văn hóa - lịch sử

Không liên quan Ít liên quan Trung bình Liên quan nhiều Liên quan

phức tạp Hình tượng đại diện

(Tính bằng số lượng các tác phẩm hội họa, ảnh, về di chỉ)

- 1-5 6-20 20-50 >50

Mức độ liên quan đến lich sử, khảo cổ Không có di tích,

công trình

Thấp Trung bình Cao Rất cao

Mức độ liên quan tới tôn giáo, tín ngưỡng - Thấp Trung bình Cao Rất cao Diễn ra các sự kiện văn hóa, lịch sử Không bao giờ - Thỉnh thoảng - Hàng năm

Kinh tế

Khả năng tiếp cận > 1km đường

mòn

< 1km đường mòn

Đường địa phương

Đường khu vực

Đường quốc gia

Rủi ro tự nhiên Không kiếm soát

được

Không được kiểm soát

Kiểm soát một phần Kiểm soát tốt

Không có rủi ro

Số lượng khách du lịch địa phương mỗi năm <10.000 10.000 -

100.000 500.000 1.000.000 >1.000.000 Mức độ bảo vệ

(Mức độ vảo vệ càng cao, khả năng khai thác cho kinh tế càng

hạn chế)

Hoàn toàn Bị hạn chế Hạn chế trung

bình Không hạn chế Không có sự

bảo vệ Tính hấp dẫn - Địa phương Vùng Quốc gia Quốc tế

Trang 35

Bảng 2: Tiêu chí và mức điểm đánh giá mức độ và phương thức khai thác di chỉ địa mạo (Theo Pralong, 2005) [24]

(2 mùa)

181 - 270 (3 mùa)

271 - 360 (4 mùa) Thời gian khai thác trong ngày (giờ) - <3 3 - 6 6 - 9 >9

Phương thức

khai thác

Khai thác giá trị khoa học (Mức độ khai thác giá trị khoa học thông qua hình thức triển lãm, tour du lịch hướng dẫn, giáo dục và các sản phẩm)

Không tối ưu hóa quảng bá

1 vài phương thức & sản phẩm Khai thác giá trị thẩm mỹ

(Mức độ khai thác các giá trị thẩm mỹ bằng việc quảng bá thông qua biển, bảng quảng cáo, trang web, phương tiện truyền thông và các sản phẩm)

Không tối ưu hóa quảng bá

1 vài phương thức & sản phẩm

Khai thác giá trị văn hóa (Mức độ sử dụng các giá trị văn hóa bằng việc quảng bá thông qua biển, bảng quảng cáo, trang web, phương tiện truyền thông và các sản phẩm)

Không tối ưu hóa quảng bá

1 vài phương thức & sản phẩm

Khai thác giá trị kinh tế (Tính bằng số lượng khách tham quan mỗi năm) - <5.000 5.000 - 20.000 20.000 - 100.000 > 100.000

Trang 36

1.3 Quan điểm tiếp cận và phư ng ph p nghi n cứu

Quan điểm tiếp cận hệ thống: là quan điểm khoa học chung, cơ bản của địa

lý học Cơ sở của quan điểm: các yếu tố tự nhiên trên cùng một đơn vị lãnh thổ luôn tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh Trong hệ thống, các yếu tố thuộc về tự nhiên luôn tác động qua lại, tương hỗ với nhau Bất kì sự thay đổi nào xảy ra của yếu tố này cũng sẽ có tác động quay lại các yếu tố khác và ngược lại Tiếp cận hệ thống phải dựa trên tính thống nhất và hoàn chỉnh của các yếu tố tự nhiên, nhưng đồng thời cũng thể hiện rất rõ thứ bậc, mối quan hệ chặt chẽ của một hệ thống từ cấp cao hơn xuống cấp thấp hơn Quan điểm này giúp những người làm công tác nghiên cứu có cái nhìn một cách toàn diện, đồng thời có thể xác định được vị trí, vai trò của các yếu tố trong hệ thống tổng thể và đánh giá được đầy đủ các thành phần cũng như mối quan hệ của các yếu tố trong hệ thống tự nhiên

Quan điểm PTBV: hiện nay trên thế giới quan điểm PTBV trở nên phổ biến

và được áp dụng khá rộng rãi cho tất cả hoạt động Việc khai thác, sử dụng tài nguyên ngoài việc đem lại hiệu quả kinh tế thì phải đi liền với bảo vệ môi trường, tạo ra sự cân bằng cho toàn xã hội Vấn đề khai thác và sử dụng tài nguyên phải đáp ứng được nhu cầu hiện tại và không làm ảnh hưởng tới tương lai Đối với quan điểm PTBV, việc duy trì các hoạt động khai thác, sử dụng hợp lý các dạng tài nguyên liên quan đến núi lửa phù hợp cho mục đích phát triển DLST song hành với việc vẫn đảm bảo một cách đầy đủ chức năng của vùng lãnh thổ sẽ giúp cho khu vực nghiên cứu sẽ có quá trình phát triển một cách phù hợp và hiệu quả

Quan điểm lịch sử: mỗi một loại tài nguyên khác nhau phải trải qua một quá trình hình thành, phát triển lâu dài khác nhau theo thời gian, đặc biệt là các dạng tài nguyên địa hình - địa mạo Vì vậy, việc nghiên cứu các dạng tài nguyên địa mạo theo quan điểm lịch sử sẽ góp phần giúp chúng ta tiếp cận một cách đầy

đủ trên mọi phương diện của loại tài nguyên đó trong quá khứ Đồng thời, việc nghiên cứu lịch sử phát triển tạo cơ sở vững chắc cho việc đánh giá thực trạng, những biến động của tài nguyên địa hình - địa mạo phục vụ việc khai thác, sử

dụng hợp lý cho mục đích du lịch sinh thái

Trang 37

1.3.2 Phương pháp nghiên cứu

1.3.2.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu địa mạo

Nghiên cứu về đặc điểm địa mạo của khu vực nghiên cứu cần sử dụng các phương pháp sau:

a) Phương pháp trắc lượng hình thái

Phương pháp này cho phép phân tích định lượng của các bề mặt địa hình khu vực, bao gồm cả việc nghiên cứu những đặc điểm hình thái địa hình cũng như việc giúp biểu hiện chúng trên các bản đồ địa hình, trên ảnh viễn thám Qua thực địa, ảnh viễn thám, bản đồ địa hình…, chúng ta có thể nhận diện được các đơn vị địa hình nói chung và địa hình núi lửa nói riêng qua việc xem xét những đặc trưng

về hình thái địa hình, độ cao tuyệt đối, độ cao tương đối, độ dốc,

b) Phương pháp kiến trúc - hình thái

Phân tích được mối quan hệ tương hỗ giữa cấu trúc địa chất và địa hình là nội dung cơ bản của phương pháp này, dựa trên cơ sở thực hiện là các dạng địa hình thường có những liên quan với cấu trúc địa chất và các hoạt động kiến tạo

do chúng có ảnh hưởng trực tiếp đến cường độ hoạt động của các quá trình ngoại sinh, ảnh hưởng tới cách sắp xếp và đường nét của các dạng địa hình Phương pháp này có thể giúp chúng ta giải thích một số xu hướng biến đổi của địa hình liên quan tới các hoạt động kiến tạo như những vận động nâng hạ và đứt gãy kiến tạo

c) Phương pháp nguồn gốc hình thái

Một số quá trình địa mạo sẽ có lịch sử hình thành và phát triển theo chu kỳ

ví dụ như hoạt động phun trào núi lửa cũng có tính chu kì Phương pháp này được ứng dụng để có thể làm sáng tỏ được các hiện tượng mang tính chu kỳ biểu lộ qua các đặc điểm địa chất, sự phân tầng, phân cắt địa hình của khu vực nghiên cứu

d Phương pháp địa mạo động lực

Được ứng dụng để có thể đánh giá được về sự biến đổi của địa hình núi lửa trong khu vực, tìm ra động lực và quá trình tác động lên địa hình trong mối liên hệ với cấu trúc địa chất, vận động kiến tạo và các điều kiện khí hậu hiện đại Phương pháp giúp dự báo xu hướng phát triển của địa hình trong thời gian tương lai

Trang 38

1.3.2.2 Phương pháp phân tích bán định lượng đánh giá tài nguyên địa mạo phục

vụ phát triển du lịch

Nếu phương pháp định tính mang tính chất chủ quan, chỉ có thể xác định được các đối tượng địa mạo có giá trị thì khi dùng phương pháp đánh giá bán định lượng

sẽ cho ta phép so sánh giá trị giữa các dạng tài nguyên, các di sản địa mạo với nhau,

từ đó có thể đưa ra những chiến lược bảo tồn, đồng thời có thể khai thác giá trị của chúng một cách phù hợp Những đối tượng cụ thể trong nghiên cứu này đó là giá trị của các dạng tài nguyên địa mạo, lại không thể định lượng bằng các thuật toán, do vậy sử dụng phương pháp bán định lượng được lựa chọn để thực hiện

Phương pháp bán định lượng này là rất hữu ích trong nghiên cứu bởi các tiêu chí để đánh giá cho các di sản địa hình, địa mạo núi lửa cụ thể như tính hiếm

có, tính đa dạng, tính nguyên vẹn,… và đặc biệt là những tiêu chí như giá trị văn hóa hay thẩm mỹ đều là những giá trị rất khó có thể tính toán bằng những con số

cụ thể Phương pháp này trước đây đã được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng như Reynard (2007), Pralong (2005)… và hiện nay tại nước ta cũng đã tiến hành áp dụng cho việc đánh giá di sản Cao nguyên đá Đồng Văn tỉnh Hà Giang

Hệ thống các tiêu chí được lựa chọn trong đề tài này sử dụng để đánh giá

về tài nguyên địa mạo núi lửa khu vực núi lửa Chư B’luk và các vùng phụ cận sẽ dựa trên cơ sở tham khảo những nghiên cứu đã được thực hiện và tương đối phù hợp với điều kiện thực tế của khu vực

1.3.2.3 Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu

Nội dung của phương pháp là quá trình tìm kiếm, tổng hợp và xử lý những tài liệu thu thập được trước khi bắt đầu nghiên cứu Mục tiêu là hệ thống hóa các tài liệu, số liệu rời rạc sẵn có theo định hướng nghiên cứu, phân tích và đánh giá chúng Các tài liệu được quan tâm và tiến hành thu thập, đó là: lý luận về tài nguyên địa mạo; đặc điểm địa mạo, tài nguyên địa mạo của khu vực núi lửa Chư B’luk, các vùng phụ cận và tuyến kết nối; thực trạng khai thác, phát triển du lịch tại khu vực nghiên cứu, Các tài liệu được phân tích để hướng tới mục tiêu là xây dựng được cơ sở lý luận và thực tiễn cho phát triển du lịch bền vững Do đề tài được định hướng sử dụng những nguồn tài liệu đã có về đặc điểm, tài nguyên địa

Trang 39

mạo của khu vực nghiên cứu để phân tích và tìm ra tính đặc thù nên đây là một phương pháp quan trọng trong quá trình thực hiện đề tài

Đồng thời, kế thừa những kết quả nghiên cứu khoa học của những công trình khoa học trước đây để nghiên cứu chuyên sâu hơn về vấn đề quan tâm

1.3.2.4 Phương pháp khảo sát thực địa

Đây là phương pháp truyền thống để khảo sát thực tế, áp dụng nghiên cứu gắn liền với thực tiễn, bổ sung cho cơ sở lý luận hoàn thiện hơn Việc khảo sát thực địa là rất cần thiết, giúp cho tài liệu thu thập phong phú hơn, giúp cho việc học tập nghiên cứu đạt hiệu quả cao hơn Phương pháp này giúp cho người nghiên cứu có cái nhìn khách quan hơn và có thể đánh giá chính xác hơn vấn đề nghiên cứu Công tác thực địa được thực hiện để điều tra, thu thập thông tin, tài liệu liên quan tới khu vực nghiên cứu tại các cơ quan, ban ngành của các địa phương và trong thực tế, bổ sung những số liệu còn thiếu, đồng thời trực tiếp tìm hiểu về đặc điểm địa mạo khu vực nghiên cứu và nhận biết được sự phân hóa lãnh thổ về địa hình và cảnh quan

Trong quá trình thực hiện, được sự hỗ trợ từ đề tài “Nghiên cứu đặc điểm hình thành và phân bố hang động núi lửa ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ”; Mã

số: QG.17.23, do PGS.TS Đặng Văn Bào làm chủ nhiệm, học viên đã đi thực địa tại khu vực núi lửa Chư B’luk và khu vực lân cận

Phương pháp này bao gồm các bước:

+ Tìm hiểu về khu vực ngiên cứu: thực hiện thông qua việc tìm hiểu trước các thông tin, tài liệu, bản đồ về khu vực nghiên cứu nhằm có được cái nhìn tổng quan về khu vực trước khi tiến hành quá trình thực địa

+ Xây dựng lộ trình thực địa: thông qua việc tìm hiểu khu vực nghiên cứu, xây dựng lộ trình thực địa, lựa chọn các điểm cần khảo sát, nghiên cứu

+ Trong quá trình thưc địa tiến hành lấy tọa độ điểm khảo sát, quan sát trực tiếp, ghi chép, chụp ảnh và mô tả các yếu tố có thể quan sát được

+ Báo cáo thực địa: sau khi tiến hành quá trình thực địa, làm báo cáo tóm tắt quá trình thực địa, các kết quả đã đạt được và các vấn đề chưa đạt được và hoàn thiện, bổ sung

Trang 40

1.3.2.5 Phương pháp so sánh tổng hợp

Phương pháp này giúp người làm thấy được điểm tương quan giữa hiện trạng và sự tác động của các yếu tố tới hoạt động du lịch của khu vực nghiên cứu Ngoài ra phương pháp này còn giúp người làm hệ thống được những thông tin, số liệu và các vấn đề cần nghiên cứu Và nó cũng được sử dụng để so sánh đánh giá giữa các phương án xử lý đối với từng loại hình phát sinh Để đưa ra được phương

án xử lý tối ưu đem lại hiệu quả cao nhất

1.3.2.6 Phương pháp chuyên gia

Mục đích cơ bản của phương pháp này là tiến hành thu thập, tổng hợp được nhiều thông tin khoa học chuyên ngành có liên quan đến đề tài nghiên cứu Đồng thời lấy ý kiến trao đổi, đóng góp của các chuyên gia trong lĩnh vực địa mạo, du lịch, tài nguyên và môi trường trong đề xuất giải pháp nhằm phát triển du lịch sinh thái theo hướng bền vững

1.3.2.7 Phương pháp bản đồ, viễn thám và GIS

Mục đích của phương pháp này là tiến hành ứng dụng công nghệ thông tin

để số hóa toàn bộ tài liệu có liên quan đến kết quả nghiên cứu, sử dụng cơ sở dữ liệu của đề tài để xây dựng bộ cơ sở dữ liệu phục vụ cho công tác quản lý, khai thác thông tin liên quan đến đối tượng nghiên cứu Phương pháp Bản đồ, Viễn thám và GIS được sử dụng, cho phép nghiên cứu sự phân bố không gian các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng tới khu vực nghiên cứu Bản đồ có khả năng thể hiện rõ và trực quan nhất những đặc trưng không gian của các đối tượng nghiên cứu, ở nghiên cứu này là sự phân bố không gian của các dạng địa hình/tài nguyên địa hình núi lửa trong khu vực Trong nghiên cứu, ngoài việc sử dụng phương pháp bản đồ truyền thống, đề tài còn sử dụng phương pháp Hệ thông tin địa lý (GIS), đặc biệt trong phân tích thông tin và mô hình hoá không gian nhằm trả lời nhanh các bài toán phân tích, đánh giá tổng hợp Để đánh giá hiện trạng và

sự phân bố của các dạng tài nguyên địa mạo, khu vực nghiên cứu còn sử dụng các ảnh viễn thám được cập nhật, có độ phân giải cao như Landsat ETM+, Landsat 8, ảnh Google Earth, Các phần mềm GIS và Viễn thám sẽ được sử dụng để thực hiện gồm ArcGIS, Mapinfo,

Ngày đăng: 16/02/2020, 14:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w