Để góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào việc phát triển hoạt động du lịch tỉnh Oudomxay và Lào nói chung; đồng thời qua thời gian học tập chương trình cao học chuyên ngành quản lý t
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới tập thể các thầy cô giáo, các cán bộ Khoa Địa lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, những người đã truyền đạt kiến thức và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện Luận văn
Để có được những kết quả nghiên cứu, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự hướng dẫn tận tình, chu đáo và thân thiện của
PGS.TS Đặng Văn Bào, người đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong thời gian
nghiên cứu và viết Luận văn tốt nghiệp
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu, các Phòng Ban Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN đã hỗ trợ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi học tập và thực hiện Luận văn; trân trọng cảm ơn Bộ Tài nguyên và Môi trường nước CHDCND Lào đã cung cấp tài liệu cũng như Chính quyền tỉnh Oudomxay, Lào đã trợ giúp và hợp tác trong thu thập tài liệu thực tế
Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng Luận văn tốt nghiệp khó tránh khỏi những thiếu sót do hiểu biết và kinh nghiệm còn hạn chế, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của thầy cô và các bạn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2021
Học viên
Benakhon XAYVOUT
Trang 4ii
MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN I DANH MỤC HÌNH IV DANH MỤC BẢNG IV DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT V
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
1.1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH SINH THÁI 4
1.1.1 Một số khái niệm chung 4
1.1.2 Tài nguyên và điều kiện cơ bản để phát triển du lịch sinh thái 10
1.1.3 Các đặc điểm và nguyên tắc của phát triển du lịch sinh thái 14
1.1.4 Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng 16
1.2.TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI 23
1.2.1 Lịch sử và tình hình phát triển du lịch sinh thái 23
1.2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về du lịch sinh thái 25
1.3.QUAN ĐIỂM TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
1.3.1 Quan điểm tiếp cận 26
1.3.2 Phương pháp nghiên cứu 27
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1: 29
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ TÀI NGUYÊN DU LỊCH HUYỆN XAY, TỈNH OUDOMXAY 30
2.1.KHÁI QUÁT VỀ TỈNH OUDOMXAY 30
2.1.1 Vị trí địa lý 30
2.1.2 Điều kiện tự nhiên 31
2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 38
2.2. KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ VÀ TÀI NGUYÊN DU LỊCH HUYỆN XAY 44
2.2.1 Khái quát điều kiện địa lý 44
2.2.2 Tài nguyên du lịch huyện Xay 46
Trang 5iii
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2: 51
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI HUYỆN XAY, TỈNH OUDOMXAY 52
3.1.HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI HUYỆN XAY 52
3.1.1 Hiện trạng các điểm, tuyến du lịch 52
3.1.2 Hiện trạng du lịch tại bản Fen và bản Chom Ong 56
3.1.3 Đánh giá SWOT về du lịch sinh thái của huyện Xay 66
3.2.ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI HUYỆN XAY 69
3.2.1 Phân tích chiến lược phát triển du lịch của Lào 69
3.2.2 Định hướng phát triển các tuyến du lịch sinh thái tại huyện Xay 71
3.3 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI TẠI BẢN CHOM ONG VÀ BẢN FEN 73
3.3.1 Khả năng tham gia của cộng đồng 73
3.3.2 Định hướng và giải pháp phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại bản Fen và bản Chom Ong 76
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3: 85
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC 91
Trang 6iv
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Bản đồ tỉnh Oudomxay 30
Hình 2.2: Bản đồ địa chất tỉnh Oudomxay 31
Hình 2.3: Mô hình số độ cao tỉnh Oudomxay 33
Hình 2.7: Bản đồ huyện Xay 45
Hình 2.8: Mô hình số địa hình huyện Xay 46
Hình 3.1: Vị trí địa lý bản Fen và bản Chom Ong tại huyện Xay tỉnh Oudomxay 57
Hình 3.2: Biểu đồ Khách du lịch nội địa tại bản Fen từ năm 2014 - 2019 (Đơn vị tính: lượt người) 63
Hình 3.3: Biểu đồ Khách du lịch nội địa tại bản Chom Ong từ năm 2014 – 2019 (Đơn vị tính: lượt người) 63
Hình 3.4: Sơ đồ tuyến du lịch sinh thái từ huyện Xay đến bản Cham Ong 72
Hình 3.5: Sơ đồ tuyến du lịch sinh thái từ huyện Xay đến đến bản Fen và Vườn quốc gia Phu Hi Phi 73
DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1 Các số liệu khí tượng tỉnh Oudomxay giai đoạn 2009 - 2018 35
Bảng 2.2 Lưu vực sông lớn trên địa bản tỉnh Oudomxay 36
Bảng 2.4 Diện tích các khu bảo tồn 37
Bảng 2.5 Diện tích rừng phòng hộ 37
Bảng 2.6: Cơ cấu dân số của 7 huyện năm 2016 42
Bảng 2.7: Cơ cấu dân số của tỉnh giai đoạn 2014 - 2018 42
Bảng 3.1 Dịch vụ lưu trú ở bản Chom Ong, tỉnh Oudomxay, Lào 57
Bảng 3.2 Dịch vụ lưu trú ở bản Fen, tỉnh Oudomxay, Lào 58
Bảng 3.3: Khách du lịch quốc tế từ năm 2014 - 2019 bản Fen 61
Bảng 3.4: Khách du lịch quốc tế từ năm 2014 - 2019 bản Chom Ong 61
Trang 7: Sở Công nghệ Thông tin và Truyền thông
Trang 81
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Du lịch sinh thái (DLST) là một hiện tượng và xu thế phát triển trong những năm gần đây của du lịch thế giới Nó không đơn thuần chỉ là hoạt động du lịch thông thường mà đồng thời là hoạt động giáo dục, hỗ trợ các mục tiêu bảo tồn môi trường tự nhiên, các giá trị văn hóa bản địa và phát triển cộng đồng góp phần phát triển ngành du lịch nói riêng, nền kinh tế - xã hội nói chung Chính bởi tầm quan trọng đó, năm 2002 được tổ chức du lịch thế giới lấy là năm quốc tế về DLST với chủ đề “Du lịch sinh thái - chìa khóa để phát triển bền vững” Trong xu thế phát triển kinh tế hiện nay, du lịch đang trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, mang lại lợi ích kinh tế cao
Oudomxay được coi là một tỉnh có nhiều tiềm năng về thương mại Nó tạo ra rất nhiều lợi ích cho cả các nhà đầu tư kinh doanh trong và ngoài nước Phần lớn các hoạt động kinh tế là nông nghiệp, chăn nuôi và kinh doanh, đầu tư vào các ngành công nghiệp khác nhau như thủy điện, khai thác mỏ, cao su và các ngành khác Hầu hết các nhà đầu tư kinh doanh là từ Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan và Myanmar cũng như một số nhà đầu tư trong nước từ các tỉnh khác nhau Hơn nữa, tỉnh cũng đang tập trung vào phát triển du lịch, tiếp thị và dịch vụ Tổng thu bình quân mỗi năm là khoảng 10 triệu đô la Mỹ Số lượng khách du lịch đến thăm tỉnh Oudomxay mỗi năm vào khoảng 180.000 người (tăng 22% mỗi năm) Oudomxay nằm ở vị trí trung tâm của các tỉnh phía Bắc, có vai trò kết nối các tỉnh khác Tỉnh
có tiềm năng là một trong những địa điểm hấp dẫn nhất cho người dân trong tương lai với khá nhiều điểm du lịch như hang Chom Ong - “vùng đất của hang động”, thác Tadnamkat - khu nghỉ dưỡng Namkat Yo la pa, ngôi đền thiêng Phachao singkham (phật Singkham), hồ Nam Hin, bảo tháp Phouthat 600 năm tuổi ở trung tâm thị trấn -“biểu tượng của Oudomxay” và nhiều địa điểm hấp dẫn khác
Tỉnh Oudomxay có thể tự định vị giá trị của mình bởi hệ thống các tài nguyên
tự nhiên và văn hóa, phục vụ cho nhu cầu tham quan, thưởng ngoạn cũng như các hoạt động trải nghiệm Tỉnh Oudomxay có cơ hội tận dụng các tài nguyên thiên nhiên và văn hóa phong phú của mình để thu hút đầu tư vào các sản phẩm và dịch
vụ cung cấp trải nghiệm ấn tượng cho du khách và khuyến khích phát triển kinh tế địa phương Trong phạm vi thị trấn Oudomxay (huyện Xay), là một thung lũng gồ ghề với những khu rừng hoang sơ đến bản Fen, thác Nam Kat xinh đẹp trong khu
Trang 92
bảo tồn Hi Phi, đã có một số địa điểm tự nhiên như hang Chom Ong ở bản Chom Ong đang thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài muốn phát triển các điểm du lịch mới Đưa du lịch Oudomxay tạo thành một thương hiệu tại miền Bắc Lào sẽ là một cách tiếp cận hiệu quả hơn và theo hướng nâng cao nhận thức về du lịch trong tỉnh, đặc biệt là phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
Để góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào việc phát triển hoạt động du lịch tỉnh Oudomxay và Lào nói chung; đồng thời qua thời gian học tập chương trình cao học chuyên ngành quản lý tài nguyên và môi trường, với kiến thức tiếp nhận được từ các Thầy, Cô giáo kết hợp với quá trình công tác thực tế, tôi đã đăng ký
luận văn tốt nghiệp với đề tài: “Nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái tại tỉnh
Nội dung, nhiệm vụ:
Để đạt được các mục đích trên, luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ là:
- Nghiên cứu tổng quan cơ sở lý luận có liên quan;
- Nghiên cứu điều kiện địa lý tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Xay, tỉnh Oudomxay;
- Nghiên cứu tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch sinh thái huyện Xay, tỉnh Oudomxay;
- Đề xuất một số định hướng, giải pháp phát triển du lịch sinh thái huyện Xay, tỉnh Oudomxay;
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tài nguyên du lịch, cả TNDL tự nhiên và nhân văn với các điều kiện cho phát triển du lịch sinh thái của địa bàn nghiên cứu
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 103
Về phạm vi không gian: gồm 2 cấp:
- Nghiên cứu tổng thể: huyện Xay, tỉnh Oudomxay;
- Nghiên cứu chi tiết hơn cho 2 bản: bản Fen và bản Chom Ong tại huyện Xay tỉnh Oudomxay
5 Cấu trúc của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn được cấu trúc thành 3 chương chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Chương 2: Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và tài nguyên du lịch huyện
Xay, tỉnh Oudomxay
Chương 3: Định hướng phát triển du lịch sinh thái khu vực huyện Xay, tỉnh
Oudomxay
Trang 11Theo Liên hiệp quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức (International Union
of Official Travel Oragnization: IUOTO): “Du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống…”
Theo Tổ chức du lịch thế giới (World Tourism Organization, 1993): “Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành tạm trú với mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm ở bên ngoài môi trường sống định cư nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền”
Theo Điều 3, Chương I, Luật Du lịch Việt Nam năm 2017, ban hành ngày 14/06/2017, “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”
Theo Điều 2, Chương I, Luật Du lịch của Lào (sửa đổi năm 2013), số 32/QH, ban hành ngày 24 tháng 07 năm 2013, “du lịch là một hành trình từ nơi mình đang sinh sống sang nơi khác hoặc quốc gia khác để thăm hỏi, tham quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, giao lưu văn hóa, thể thao, chăm sóc sức khoẻ, nghiên cứu, triển lãm, hội nghị v.v Mà không nhằm mục đích tìm việc làm, tạo sự nghiệp dưới dạng thu nhập”
Trang 12- Du lịch là một ngành kinh tế: Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác
- Du lịch là để thỏa mãn nhu cầu về thăm hỏi, tham quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, giao lưu văn hóa, thể thao, chăm sóc sức khoẻ, nghiên cứu, triển lãm, hội nghị ở địa điểm khác với không gian sinh sống thường xuyên của chủ thể
Du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, vừa mang đặc điểm của ngành kinh tế vừa có đặc điểm của ngành văn hóa - xã hội: Du lịch mang lại thu nhập, Du lịch bao gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp
Du lịch quốc tế: là loại hình du lịch mà ở đó khách du lịch xuất phát từ một
quốc gia và đi du lịch đến một quốc gia khác Khách du lịch phải đi qua biên giới, thủ tục xin thị thực xuất nhập cảnh, chi dùng ngoại tệ và sử dụng ngoại ngữ… Du
lịch quốc tế được chia thành hai loại hình: Du lịch quốc tế đến (inbound tourism) là
hình thức mà ở đó khách du lịch là người đang sinh sống tại nước ngoài đến nước
sở tại du lịch; Du lịch quốc tế ra nước ngoài (outbound tourism) là hình thức du lịch
mà ở đó khách du lịch là công dân hoặc người đang sinh sống ở nước sở tại đi sang một nước khác du lịch
Du lịch nội địa: (domestic tourism) là loại hình du lịch mà ở đó công dân
hoặc người đang sinh sống tại một quốc gia đi du lịch trong lãnh thổ quốc gia đó
b Căn cứ vào mục đích chuyến đi:
Trang 136
Du lịch tham quan: là loại hình du lịch mà khách du lịch chủ yếu đến những
nơi có danh lam, thắng cảnh để thưởng ngoạn vẻ đẹp của tự nhiên hoặc các công trình nhân tạo có sức hấp dẫn
Du lịch giải trí: là loại hình du lịch mà khách du lịch chủ yếu đến những nơi
có thể nghỉ ngơi, tham gia các hoạt động giải trí, đem lại sự thoải mái, thư thái cho tâm hồn, giảm bớt những áp lực của công việc và cuộc sống thường ngày
Du lịch nghỉ dưỡng: là loại hình du lịch mà khách du lịch tìm đến những nơi
khí hậu dễ chịu, không khí trong lành, cảnh quan đẹp và yên bình…để thư giãn, nghỉ ngơi, phục hồi sức khỏe sau một khoảng thời gian làm việc mệt mỏi
Du lịch mua sắm: là loại hình du lịch mà khách du lịch tìm kiếm đến những địa điểm có nhiều loại hàng hóa để mua sẳm cho các mục đích tiêu dùng khác nhau
Du lịch mạo hiểm: là loại hình du lịch mà ở khách du lịch có thể thử sức với
những trò chơi, thử thách nhằm thỏa mãn nhu cầu khám phá, rèn luyện và tự hoàn thiện bản thân
Du lịch công vụ: là loại hình du lịch mà ở đó khách du lịch đi với mục đích
chính là để thực hiện một nhiệm vụ công tác hoặc nghề nghiệp nào đó, có kết hợp mục đích đi du lịch Như: đi công tác, tham dự hội thảo, hội nghị, tham gia các khóa đào tạo chuyên môn, tham dự hội chợ, triển lãm
Du lịch chữa bệnh: là loại hình du lịch mà ở đó khách du lịch đi du lịch với
mục đích chính là để điều trị bệnh Thường các du khách sẽ đến những nơi có suối khoáng, suối nước nóng, bùn khoáng, biển, hồ rộng hoặc nơi có khí hậu trong lành,
dễ chịu để điều trị bệnh
Du lịch thăm thân: là loại hình du lịch phát sinh chủ yếu từ mục đích về
thăm quê hương của những người xa quê, hoặc đi thăm hỏi họ hàng, dự lễ cưới, lễ tang hay dự các ngày lễ đặc biệt khác của người thân quen ở xa
Du lịch thể thao: là loại hình du lịch mà ở đó khách du lịch đi với mục đích
chính là để tham gia hoặc xem các hoạt động thể thao, các cuộc thi thể thao thế giới, khu vực
Du lịch MICE: là loại hình du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ
chức sự kiện, du lịch khen thưởng của các công ty cho nhân viên, đối tác MICE - viết tắt của Meeting (hội họp), Incentive (khen thưởng), Convention (hội nghị, hội
Trang 147
thảo) và Exhibition (triển lãm) hoặc sự kiện (Event) Tên đầy đủ tiếng Anh là Meeting Incentive Convention Event
c Căn cứ vào thời gian chuyến đi:
Du lịch ngắn ngày: là loại hình du lịch mà ở đó khách du lịch đi du lịch trong
khoảng thời gian tương đối ngắn (thường là dưới 2 tuần), chẳng hạn như khách tham gia các chương trình du lịch nửa ngày, hay một ngày (thường dành cho khách
du lịch công vụ hoặc những điểm du lịch nhỏ), các chương trình du lịch cuối tuần (weekend holiday)
Du lịch dài ngày: là loại hình du lịch mà ở đó khách du lịch có thể tham gia
những chuyến du lịch tương đối dài ngày (thường là trên 2 tuần), có thể lên tới một tháng, với lịch trình có nhiều điểm du lịch trên một phạm vi rộng
d Căn cứ vào nguồn lực chính cho hoạt động du lịch:
Du lịch sinh thái: là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa
có tính giáo dục môi trường và đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương
Du lịch cộng đồng: là một loại hình du lịch do chính cộng đồng người dân
phối hợp tổ chức, quản lý và làm chủ để đem lại lợi ích kinh tế và bảo vệ được môi trường chung thông qua việc giới thiệu với du khách các nét đặc trưng của địa phương (phong cảnh, văn hóa…)
Du lịch văn hóa: là loại hình du lịch mà khách du lịch đi đến những vùng có
nét văn hóa đặc trưng độc đáo, phong tục tập quán khác lạ, di tích lịch sử hoặc di sản văn hóa hấp dẫn… Để tham quan và tìm hiểu văn hóa truyền thống địa phương
Du lịch lễ hội: là loại hình du lịch mà ở đó khách đi du lịch chủ yếu tìm hiểu
các lễ hội đặc trưng của địa phương
1.1.1.2 Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch, hay hiểu đúng là tài nguyên cho phát triển du lịch, là một dạng trong toàn bộ tài nguyên được con người sử dụng Đã có nhiều tác giả đưa ra định nghĩa về tài nguyên du lịch Đã có nhiều tác giả đưa ra định nghĩa về tài nguyên du lịch Theo Pirôginoic (1985): "Tài nguyên du lịch là các thành phần và thể cảnh quan tự nhiên và nhân sinh có thể dùng để tạo ra sản phẩm du lịch, thoả mãn nhu cầu về chữa bệnh, thể thao, nghỉ ngơi hay tham quan, du lịch" Theo
Trang 158
Bonface, B và Cooper, C (Geograph of Travel and Tourism, 1993)” khái niệm tài nguyên du lịch dùng để chỉ những đối tượng cụ thể, có giá trị kinh tế đối với ngành công nghiệp du lịch”
Theo Luật du lịch Việt Nam, tài nguyên du lịch được định nghĩa là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch
Tài nguyên du lịch vốn rất phong phú và đa dạng song có thể phân chia thành hai loại là tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn
1.1.1.3 Du lịch sinh thái
Định nghĩa tương đối hoàn chỉnh đầu tiên về DLST do Hector Ceballos - Lascurain đưa ra năm 1987: DLST là du lịch đến những khu vực tự nhiên còn ít bị tác động và không bị ô nhiễm, với những mục đích đặc biệt là nghiên cứu, tham quan, thưởng thức phong cảnh thiên nhiên, động vật và thực vật hoang dã, cũng như bất kỳ khía cạnh văn hóa hiện có được khám phá trong khu vực này Trong định nghĩa này, trọng tâm mối quan tâm của Hector Ceballos - Lascurain là vấn đề bảo
vệ môi trường
Năm 1991, Hiệp hội DLST Quốc tế đã đưa ra định nghĩa: DLST là du lịch có trách nhiệm đến các khu vực tự nhiên mà có bảo vệ môi trường và đảm bảo phúc lợi cho người dân địa phương Định nghĩa này được chấp nhận rộng rãi, tuy nhiên, nó lại không đóng vai trò như một định nghĩa chức năng để thu thập thống kê về thị trường DLST
Từ thực tiễn phát triển của DLST, Martha Honey đã đưa ra định nghĩa: DLST là du lịch đến các khu vực nhạy cảm, nguyên sinh và khu vực được bảo vệ nghiêm ngặt, mà những nỗ lực để đạt được tác động thấp ở quy mô nhỏ Nó giúp cho việc giáo dục du khách, lập quỹ cho công tác bảo tồn, lợi ích trực tiếp cho phát triển kinh tế, trao quyền quản lý cho cộng đồng địa phương, khuyến khích tôn trọng các nền văn hóa khác nhau và quyền con người Tác giả đã nêu lên những đặc trưng chặt chẽ, đa chiều của DLST, đánh giá việc đảm bảo được những đặc trưng này là thách thức lâu dài Định nghĩa này đã được sử dụng trong nhiều nghiên cứu của các học giả và tổ chức quốc tế
Trang 169
Theo Tổ chức Du lịch thế giới: DLST là loại hình du lịch được thực hiện tại những khu vực tự nhiên còn ít bị can thiệp bởi con người, với mục đích chính là để chiêm ngưỡng, học hỏi về các loại động vật cư ngụ trong khu vực, giúp giảm thiểu
và tránh được tác động tiêu cực tới khu vực mà khách đến thăm Ngoài ra, DLST phải đóng góp vào công tác bảo tồn những khu vực tự nhiên và phát triển khu vực cộng đồng lân cận một cách bền vững, đồng thời phải nâng cao được khả năng nhận thức về môi trường và công tác bảo tồn đối với người dân bản địa, du khách đến thăm
Mặc dù có nhiều quan niệm chung về DLST, song căn cứ vào đặc thù và mục tiêu, các quốc gia đều phát triển những định nghĩa riêng về DLST Trong chiến lược quốc gia về DLST của Australia năm 1994 đã nêu: DLST là một hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên mà bao gồm cả việc giáo dục, sự hiểu biết về môi trường tự nhiên và nhân văn, nhằm phát triển bền vững, bảo tồn môi trường Năm 1998, Hiệp hội DLST của Hoa Kỳ định nghĩa: DLST là loại hình du lịch có trách nhiệm tới những khu vực tự nhiên, hiểu biết về lịch sử văn hóa, lịch sử tự nhiên của môi trường, được sử dụng để bảo vệ môi trường, cải thiện phúc lợi xã hội và kinh tế cho người dân địa phương
Từ định nghĩa đầu tiên được đưa ra năm 1987 cho đến nay, nội dung của DLST đã có những thay đổi, từ chỗ đơn thuần là loại hình du lịch hoạt động ít tác động đến môi trường tự nhiên sang cách nhìn tích cực, nhấn mạnh vào việc bảo tồn
di sản thiên nhiên và văn hóa, trong việc kết hợp với phát triển cộng đồng địa phương, cung cấp các vấn đề giáo dục du khách Năm 1991, đã xuất hiện khái niệm
về Du lịch sinh thái: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch diễn ra trong các vùng có
hệ sinh thái tự nhiên còn bảo tồn khá tốt nhằm mục tiêu nghiên cứu, chiêm ngưỡng, thưởng thức phong cảnh, động thực vật cũng như các giá trị văn hoá hiện hữu”
Nhưng gần đây, người ta cho rằng nội dung căn bản của Du lịch sinh thái là tập trung vào mức độ trách nhiệm của con người đối với môi trường Quan điểm thụ động cho rằng Du lịch sinh thái là du lịch hạn chế tối đa các suy thoái môi trường
do du lịch tạo ra, là sự ngăn ngừa các tác động tiêu cực lên sinh thái, văn hoá và thẩm mỹ Quan điểm chủ động cho rằng Du lịch sinh thái còn phải đóng góp vào quản lý bền vững môi trường lãnh thổ du lịch và phải quan tâm đến quyền lợi của nhân dân địa phương Do đó, người ta đã đưa ra một khái niệm mới tương đối đầy
đủ hơn: “Du lịch sinh thái là du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên là nơi bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương”
Trang 1710
1.1.2 Tài nguyên và điều kiện cơ bản để phát triển du lịch sinh thái
Sinh thái tự nhiên (nature ecology) và sinh thái nhân văn (human ecology) được xem như là điều kiện quan trọng nhất để phát triển DLST Các yếu tố này, chính là các “tài nguyên DLST” Như vậy, có thể cho rằng điều kiện tự nhiên chính
là tài nguyên DLST đóng vai trò chủ đạo Yếu tố về sinh thái nhân văn trong tài nguyên DLST là một bộ phận có vai trò gắn kết các đặc điểm/điều kiện được khai thác để phục vụ phát triển DLST
Tài nguyên du lịch tự nhiên là các thành phần và các thể tổng hợp tự nhiên trực tiếp hoặc gián tiếp được khai thác sử dụng để tạo ra các sản phẩm du lịch Du lịch phát triển dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, vì vậy, tài nguyên DLST tự nhiên là một bộ phận quan trọng trong tài nguyên du lịch bao gồm các giá trị tự nhiên thể hiện trong một hệ sinh thái cụ thể và các giá trị văn hóa bản địa tồn tại và phát triển không tách rời hệ sinh thái tự nhiên đó Tuy nhiên, không phải mọi giá trị
tự nhiên và văn hóa bản địa đều được coi là tài nguyên DLST mà chỉ có các thành phần và các thể tổng hợp tự nhiên, các giá trị văn hóa bản địa gắn với một hệ sinh thái cụ thể được khai thác và sử dụng để tạo ra các sản phẩm DLST nói riêng, phục
vụ cho mục đích phát triển du lịch nói chung mới được xem là tài nguyên DLST Tài nguyên DLST bao gồm các tài nguyên đang khai thác và các tài nguyên chưa khai thác Mức độ khai thác tiềm năng tài nguyên DLST phụ thuộc vào:
- Khả năng nghiên cứu phát hiện và đánh giá các tiềm năng tài nguyên vốn đang tiềm ẩn;
- Yêu cầu phát triển các sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao và
Trang 18xử, tính giản dị trong lối sống…
1.1.2.1 Tài nguyên DLST tự nhiên
- Địa hình:
Đối với du lịch, địa hình tạo nên phong cảnh… Địa hình miền núi có không khí trong lành, có nhiều đối tượng hoạt động du lịch như suối, thác, hang động, sinh vật và các dân tộc ít người
- Khí hậu:
+ Tài nguyên khí hậu thích hợp với sức khoẻ con người Khí hậu là sự thay đổi thao chu kỳ của thời tiết Tài nguyên khí hậu phục vụ du lịch là tổng hợp các yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm, áp suất không khí, gió, ánh nắng mặt trời thích hợp nhất đối với sức khoẻ con người Ảnh hưởng của khí hậu đối với du lịch được thể hiện: người sống ở nơi khi hậu khắc nghiệt thường thích đi du lịch ở nơi có khí hậu thích
Trang 1912
hợp hơn; các nước phương bắc thường thích đi du lịch xuống phương nam; khách ở các đới xứ nóng muốn đi nghỉ biển hoặc ở nơi núi cao
+ Tài nguyên khí hậu phục vụ cho việc chữa bệnh, an dưỡng
+ Tài nguyên khí hậu phục vụ cho việc triển khai các loại hình du lịch thể thao, giải trí Các loại hình du lịch thể thao vui chơi giải trí như nhảy dù, tàu lượn, khinh khí cầu, thả diều, thuyền buồn… rất cần có các điều kiện khí hậu thích hợp như hướng gió, tốc độ gió, quang mây, không có sương mù
+ Tài nguyên khí hậu phục vụ cho việc triển khai các hoạt động du lịch: mùa
du lịch cả năm đối với loại hình du lịch chữa bệnh suối khoáng; mùa du lịch vào mùa đông như du lịch trượt tuyết trên núi, du lịch tham quan các tài nguyên du lịch nhân văn; mùa du lịch vào mùa hè nhƣ du lịch leo núi, du lịch tắm biển và các loại hình du lịch ngoài trời
Tóm lại, tài nguyên khí hậu tác động lớn đến sức khoẻ con người, đến loại hình du lịch phục vụ chữa bệnh an dưỡng và việc triển khai các loại hình du lịch
+ Thác nước là nét đặc sắc thuộc tài nguyên du lịch thủy văn
- Các hệ sinh thái tự nhiên điển hình và đa dạng sinh học:
Trong các kiểu hệ sinh thái trên cạn thì rừng có sự đa dạng về thành phần loài cao nhất, đồng thời đây cũng là nơi cư trú của nhiều loài động, thực vật hoang
dã và vi sinh vật có giá trị kinh tế và khoa học Các kiểu hệ sinh thái tự nhiên khác
có thành phần loài nghèo hơn Kiểu hệ sinh thái nông nghiệp và khu đô thị là những kiểu hệ sinh thái nhân tạo, thành phần loài sinh vật nghèo nàn
1.1.2.2 Tài nguyên DLST nhân văn
- Kiến thức canh tác, khai thác, bảo tồn và sử dụng các loài sinh vật phục vụ cuộc sống cộng đồng;
Trang 2013
- Đặc điểm sinh hoạt văn hóa với các lễ hội truyền thống gắn với tự nhiên
Lễ hội là một hình thức văn hoá đặc sắc phản ánh đời sống tâm linh của một dân tộc Lễ hội là một hình thức sinh hoạt tập thể của nhân dân sau những ngày lao động vất vả, hoặc là một dịp mọi người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước hoặc liên quan đến những sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân Do vậy, lễ hội
có tính hấp dẫn cao đối với du khách;
- Kiến trúc dân gian, công trình gắn với truyền thuyết, đặc điểm tự nhiên của khu vực;
- Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống được sản xuất từ các nguyên liệu tự nhiên gắn với đời sống cộng đồng tại địa bàn cư trú thể hiện tài khéo léo của nhân dân lao động và những tư duy triết học, những tâm tư tình cảm của con người;
- Các di tích lịch sử - văn hóa, khảo cổ gắn liền với lịch sử phát triển, tín ngưỡng của cộng đồng
1.1.2.3 Điều kiện cơ bản để phát triển du lịch sinh thái
Yêu cầu đầu tiên để có thể phát triển được du lịch sinh thái là sự tồn tại của các hệ sinh thái tự nhiên
Với tính đa dạng sinh thái cao, sinh thái tự nhiên được hiểu là sự cộng sinh của các điều kiện địa lý, khí hậu và động thực vật, bao gồm: Sinh thái tự nhiên (natural ecology), sinh thái động vật (animal ecology), sinh thái thực vật (plant ecology), sinh thái nông nghiệp (agri-cultural ecology), sinh thái khí hậu (ecoclimate) và sinh thái nhân văn (human ecology)
Như vậy có thể nói du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên (natural - based tourism) (gọi tắt là du lịch thiên nhiên), chỉ có thể tồn tại và phát triển ở những nơi có các hệ sinh thái điển hình với tính đa dạng sinh thái cao nói riêng và tính đa dạng sinh học cao nói chung Điều này giải thích tại sao hoạt động du lịch sinh thái thường chỉ phát triển ở các khu bảo tồn thiên nhiên (natural reserve), đặc biệt ở các vườn quốc gia (national park), nơi còn tồn tại những khu rừng với tính đa dạng sinh học cao và cuộc sống hoang dã Tuy nhiên điều này không phủ nhận sự tồn tại của một số loại hình du lịch sinh thái phát triển ở những vùng nông thôn (rural tourism) hoặc các trang trại (farm tuorism) điển hình
Trang 2114
Để đảm bảo tính giáo dục, nâng cao được sự hiểu biết cho khách du lịch sinh thái, người hướng dẫn ngoài kiến thức ngoại ngữ tốt còn phải là người am hiểu các đặc điểm sinh thái tự nhiên và văn hoá cộng đồng địa phương Điều này rất quan trọng và có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của hoạt động du lịch sinh thái, khác với những loại hình du lịch tự nhiên khác khi du khách có thể tự mình tìm hiểu hoặc yêu cầu không cao về sự hiểu biết này ở người hướng dẫn viên Trong nhiều trường hợp, cần thiết phải công tác với người dân địa phương để có được những hiểu biết tốt nhất, lúc đó người hướng dẫn viên chỉ đóng vai trò là một người phiên dịch giỏi
Nhằm hạn chế tới mức tối đa các tác động có thể của hoạt động du lịch sinh thái đến tự nhiên và môi trường, theo đó du lịch sinh thái cần được tổ chức với sự tuân thủ chặt chẽ các quy định về “sức chứa” Khái niệm “ sức chứa” được hiểu từ bốn khía cạnh: vật lý, sinh học, tâm lý và xã hội Tất cả những khía cạnh này có liên quan tới lượng khách đến một địa điểm vào cùng một thời điểm
1.1.3 Các đặc điểm và nguyên tắc của phát triển du lịch sinh thái
1.1.2.3 Đặc điểm của du lịch sinh thái
Matha Honey đã đưa ra 7 đặc điểm cơ bản của DLST: Du lịch đến các khu vực thiên nhiên, có tác động nhỏ nhất đến môi trường tự nhiên và nhân văn, xây dựng những nhận thức về môi trường, cung cấp nguồn tài chính trực tiếp cho việc bảo tồn, cung cấp lợi ích tài chính và vị thế xã hội cho người dân địa phương, tôn trọng văn hóa bản địa, ủng hộ quyền con người, phong trào dân chủ
- Thỏa mãn nhu cầu trải nghiệm thiên nhiên cho du khách: Du khách du lịch sinh thái thường có mong muốn trải nghiệm thiên nhiên hoang sơ, hệ sinh thái phong phú và nét văn hoá bản địa Du khách có thể hoà nhập vào môi trường tự nhiên tại khu du lịch và nền văn hoá ở đó
- Nhiều trò chơi dân gian thư giãn, hấp dẫn: Du lịch sinh thái thường với lợi thế là điểm đến thoáng mát, gần gũi với thiên nhiên nên các đơn vị lữ hành thường thiết kế nhiều trò chơi dân gian thú vị và hấp dẫn du khách
- Thân thiện và gần gũi hơn với thiên nhiên: du lịch sinh thái thì thiên nhiên đóng vai trò rất quan trọng trong loại hình du lịch này Những ai tham gia loại hình Tour du lịch sinh thái sẽ có nhiều cơ hội hơn khi tìm về với thiên nhiên, đồng xanh, cây cỏ, bờ lau, con nước…
Trang 22- Dựa trên sự hấp dẫn về tự nhiên: Đối tượng của du lịch sinh thái là những khu vực hấp dẫn về môi trường tự nhiên, đa dạng về sinh học và những nét văn hóa bản địa đặc trưng
- Đặc biệt những khu tự nhiên còn tương đối hoang sơ, ít bị tác động bởi các hoạt động của con người
- Hoạt động du lịch sinh thái thường được diễn ra và thích hợp với các vườn Quốc Gia và các khu bảo tồn thiên nhiên
- Hỗ trợ bảo tồn hệ sinh thái: Đây là một đặc điểm khác biệt nổi bật của du lịch sinh thái so với các loại hình du lịch khác
- Trong du lịch sinh thái: hình thức, địa điểm và mức độ sử dụng cho các hoạt động du lịch được quản lí cho sự bền vững của cả hệ sinh thái
- Hỗ trợ phát triển cộng đồng địa phương: Du lịch sinh thái giúp cải thiện đời sống, tăng thêm lợi ích cho cộng đồng địa phương và môi trường của khu vực
Trên cơ sở đó, phát triển DLST cần theo các nguyên tắc sau:
- Có hoạt động giáo dục và diễn giải về môi trường;
- Bảo vệ môi trường, duy trì hệ sinh thái và đa dạng sinh học;
- Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng;
- Tạo cơ hội việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương
Những nguyên tắc trên đây cũng phù hợp với quan điểm phát triển bền vững
Trang 2316
1.1.4 Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
1.1.4.1 Khái niệm cộng đồng, sinh học, tâm lý
Thuật ngữ du lịch cộng đồng (gọi tắt là DLCĐ), xuất phát từ hình thức du lịch làng bản từ năm 1970 và khách du lịch thăm quan các làng/bản, tìm hiểu phong tục, tập quán, cuộc sống nơi hoang sơ, lễ hội, khám phá hệ sinh thái.v.v…
Hiện nay, có nhiều tên gọi khác nhau có liên quan đến việc phát triển du lịch
và phát triển du lịch có sự tham gia của cộng đồng như:
- Community - Based Tourism (Du lịch dựa vào cộng đồng)
- Community - Development in Tourism (Phát triển cộng đồng dựa vào du lịch)
- Community - Based Ecotourism (Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng)
- Community - Participation in Tourism (Phát triển du lịch có sự tham gia của cộng đồng)
- Community - Based Mountain Tourism (Phát triển du lịch núi dựa vào cộng đồng) v.v
Mặc dù có nhiều tên gọi khác nhau, nhưng có một số điểm cơ bản giống hoặc tương đồng về phương pháp tổ chức, địa điểm, mục tiêu, vị trí tổ chức phát triển của du lịch và cộng đồng cụ thể như:
- Loại hình du lịch được tạo bởi khách du lịch đều tham gia các khu vực có nhiều tài nguyên thiên nhiên
- Địa điểm tổ chức phát triển du lịch dựa vào cộng đồng là những khu vực/điểm có tài nguyên thiên nhân và nhân văn phong phú, có sức hấp dẫn và thu hút du khách
- Cộng đồng dân cư sống trong khu vực, hoặc các vùng lân cận khu vực có tài nguyên thiên nhiên như các khu bảo tồn quốc gia, các vùng núi rừng có tiềm năng thu hút khách du lịch
“Du lịch dựa vào cộng đồng” hay còn được gọi là “du lịch cộng đồng” được biết đến như một nguyên tắc mà cộng đồng địa phương là những người quản lý hợp pháp đối với những nguồn tài nguyên đó Hiện nay, có nhiều khái niệm về du lịch cộng đồng như:
Trang 2417
Khái niệm du lịch cộng đồng (Community - based tourism, DLCĐ) bắt nguồn từ đầu TK XX ở phương Tây, được nhiều tác giả khác nhau căn cứ vào nhiều góc nhìn khác nhau đưa ra các định nghĩa Chung quy, DLCĐ là loại hình du lịch mang lại cho du khách những trải nghiệm về cuộc sống địa phương, trong đó các cộng đồng địa phương tham gia trực tiếp vào hoạt động du lịch và thu được các lợi ích kinh tế - xã hội, chịu trách nhiệm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường và văn hóa địa phương
Trên thực tế, nhiều tài nguyên sinh thái và văn hóa quý báu của thế giới tồn tại trong trạng thái bị đe dọa, các cộng đồng cư dân bản địa đang rất dễ bị tổn thương Du lịch cộng đồng là một hình thức du lịch sinh thái - văn hóa trong đó nhấn mạnh sự phát triển của cộng đồng địa phương và cho phép người dân có quyền tham gia và kiểm soát lớn hơn đối với sự vận hành và phát triển du lịch tại địa phương, đồng thời họ cũng là lực lượng chia sẻ nhiều lợi ích hơn từ hoạt động du lịch Du lịch cộng đồng nên tăng cường sử dụng bền vững và trách nhiệm tập thể, nhưng nó cũng bao gồm các sáng kiến cá nhân trong cộng đồng
DLCĐ được phân biệt với loại hình du lịch có tổ chức khác chủ yếu qua hai phương diện quy mô và thành phần kinh tế Trong du lịch đại trà, các công ty du lịch lợi nhuận, thiết kế, tài chính, xây dựng, vận hành khách sạn, nhà hàng, công viên chủ đề, giao thông vận tải và dịch vụ du lịch khác trong khi ở du lịch cộng đồng thì chính các gia đình, nghệ nhân và thợ thủ công mới chính là những người cung cấp dịch vụ chính yếu
Trong DLCĐ, khách du lịch ghé thăm địa phương, trực tiếp gặp gỡ giao lưu
và chia sẻ kiến thức văn hóa bản địa Người dân địa phương sẽ có cơ hội đóng góp nhiều hơn trong phát triển địa phương mình, họ sẽ cảm thấy tự hào khi họ được góp phần tham gia vận hành kinh tế - xã hội
Ở Thái Lan khái niệm Community - Based Tourism - Du lịch dựa vào cộng đồng được định nghĩa: “DLCĐ là loại hình du lịch được quản lý và có bởi chính cộng đồng địa phương, hướng đến mục tiêu bền vững về mặt môi trường, văn hóa
và xã hội Thông qua DLCĐ du khách có cơ hội tìm hiểu và nâng cao nhận thức về lối sống của cộng đồng địa phương” (REST, 1997)
Khái niệm này cũng được nhắc đến trong chương trình nghiên cứu của nhiều
tổ chức xã hội trên thế giới Pachamama (Tổ chức hướng đến việc giới thiệu và bảo tồn văn hóa bản địa khu vực Châu Mỹ) đã đưa ra quan điểm của mình về
Trang 2518
Community - Based Tourism như sau: “DLCĐ là loại hình du lịch mà du khách từ bên ngoài đến với cộng đồng địa phương để tìm hiểu về phong tục, lối sống, niềm tin và được thưởng thức ẩm thực địa phương Cộng đồng địa phương kiểm soát cả những tác động và những lợi ích thông qua quá trình tham gia vào hình thức du lịch này, từ đó tăng cường khả năng tự quản, tăng cường phương thức sinh kế và phát huy giá trị truyền thống của địa phương” Còn Istituto Oikos (Tổ chức hướng đến việc hỗ trợ các nghiên cứu, huy động nguồn lực tài chính trong công tác bảo tồn về mặt sinh thái tự nhiên và nhân văn cho các quốc gia đang phát triển trên thế giới, ra đời tại Ý, 1996) lại đề cập đến nội dung của DLCĐ theo hướng: “Du lịch cộng đồng
là loại hình du lịch mà du khách từ bên ngoài đến và có lưu trú qua đêm tại không gian sinh sống của cộng đồng địa phương (thường là các cộng đồng ở nông thôn hoặc các cộng đồng nghèo hoặc sinh sống ở những vùng có điều kiện kinh tế khó khăn) Thông qua đó du khách có cơ hội khám phá môi trường thiên nhiên hoang dã hoặc tìm hiểu các giá trị về văn hóa truyền thống, tôn trọng tư duy văn hóa bản địa Cộng đồng địa phương có cơ hội thụ hưởng các lợi ích kinh tế từ việc tham gia vào các hoạt động khám phá dựa trên các giá trị về tự nhiên và văn hóa xã hội tại khu vực cộng đồng địa phương sinh sống” Trong khi Tổ chức mạng lưới du lịch cộng đồng vì người nghèo đã nêu: “DLCĐ là một loại hình du lịch bền vững thúc đẩy các chiến lược vì người nghèo trong môi trường cộng đồng Các sáng kiến của DLCĐ nhằm vào mục tiêu thu hút sự tham gia của người dân địa phương vào việc vận hành và quản lý các dự án du lịch nhỏ như một phương tiện giảm nghèo và mang lại thu nhập thay thế cho cộng đồng Các sáng kiến của DLCĐ còn khuyến khích tôn trọng các truyền thống và văn hóa địa phương cũng như các di sản thiên nhiên”
Tựu chung lại, khái niệm DLCĐ chứa đựng các nội dung chủ yếu như sau:
- Du khách là tác nhân bên ngoài, là tiền đề mang lại lợi ích kinh tế và sẽ có những tác động nhất định kèm theo việc thụ hưởng các giá trị về môi trường sinh thái tự nhiên và nhân văn khi đến với một cộng đồng địa phương cụ thể
- Cộng đồng địa phương là người kiểm soát các giá trị về mặt tài nguyên du lịch để hỗ trợ du khách có cơ hội tìm hiểu và nâng cao nhận thức của mình khi có
cơ hội tiếp cận hệ thống tài nguyên du lịch tại không gian sinh sống của cộng đồng địa phương
- Cộng đồng địa phương sẽ nhận được lợi ích về mặt kinh tế, mở rộng tầm hiểu biết về đặc điểm tính cách của du khách cũng như có cơ hội nắm bắt các thông tin bên ngoài từ du khách
Trang 2619
- Cộng đồng địa phương ngày càng được tăng cường về khả năng tổ chức, vận hành và thực hiện các hoạt động, xây dựng các sản phẩm du lịch phục vụ cho
du khách Từ đó, cộng đồng ngày càng phát huy vai trò làm chủ của mình
Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng là loại hình du lịch sinh thái giúp cho du khách, người dân địa phương thấu hiểu, tận hưởng và bảo vệ môi trường thiên nhiên
và di sản văn hóa tồn tại chung quanh cộng đồng, đồng thời tạo ra lợi ích kinh tế cho người dân địa phương
Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng (CBET) tuân theo nguyên tắc và nhấn mạnh hơn nữa về mặt xã hội WWF xác định CBET là “Hình thức du lịch sinh thái nơi cộng đồng địa phương có sự kiểm soát chặt chẽ, tham gia, vào phát triển và quản lý, và phần lớn nguồn thu lợi còn lại trong cộng đồng”
Các hoạt động phổ biến của hoạt động CBET như sau:
- Có sự tham gia của cộng đồng trong việc lập kế hoạch du lịch, thường xuyên ra quyết định, phát triển và hoạt động;
- Quyền sở hữu và trách nhiệm của cộng đồng đối với các sản phẩm du lịch
và các hoạt động;
- Tạo quyền cho cộng đồng địa phương;
- Quy mô nhỏ, tốc độ chậm;
- Xây dựng kỹ năng, kiến thức và sự tự tin của người dân địa phương;
- Sự công bằng trong xã hội, tính toàn vẹn văn hóa, môi trường bền vững;
- Đời sống sung túc của người dân cộng đồng và xóa đói giảm nghèo
Nói cách khác, CBET nhằm tăng cường tính ổn định của môi trường, xã hội, văn hoá thông qua việc tạo quyền cho cộng đồng địa phương để họ quản lý nguồn tài nguyên của chính mình và để tham họ tham gia trong việc xây dựng và thực hiện các kế hoạch hợp lý
1.1.4.2 Ý nghĩa phát triển du lịch dựa vào cộng đồng
Đối với du lịch, DLCĐ góp phần đa dạng hóa sản phẩm du lịch, thu hút khách du lịch và bảo vệ tài nguyên du lịch
Đối với cộng đồng, DLCĐ phân chia một cách công bằng lợi ích từ hoạt động du lịch cho các chủ thể tham gia, trong đó có cộng đồng địa phương, DLCĐ mang lại lợi ích kinh tế cho các thành viên của cộng đồng tham gia trực tiếp cung
Trang 2720
cấp các dịch vụ du lịch, đồng thời cả cộng đồng cũng được hưởng lợi từ sự đóng góp của hoạt động du lịch vào môi trường, kinh tế, văn hóa xã hội
1.1.4.3 Nguyên tắc phát triển du lịch dựa vào cộng đồng
Việc phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng thường tuân theo các nguyên tắc cơ bản sau:
1) Cộng đồng được quyền tham gia thảo luận các kế hoạch, quy hoạch, thực hiện và quản lý, đầu tư để phát triển du lịch
2) Mọi sự phát triển phải phù hợp với khả năng của cộng đồng Khả năng
đó bao gồm: nhận thức về vai trò và vị trí của cộng đồng trong việc sử dụng nguồn tài nguyên du lịch; nhận thức được tiềm năng to lớn của du lịch trong sự phát triển của cộng đồng cũng như nhận biết được bất lợi từ hoạt động du lịch đối với tài nguyên du lịch và chính cộng đồng của mình
3) Cộng đồng được chia sẻ lợi ích thu được từ hoạt động du lịch Các hoạt động du lịch phải đảm bảo lợi ích cho cộng đồng địa phương trong tất cả các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội như: Tái đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch, đầu tư cho chăm sóc sức khỏe, giáo dục…
4) Xác lập quyền sở hữu và tham dự của cộng đồng đối với các nguồn tài nguyên du lịch nhằm hướng tới phát triển du lịch một cách bền vững
1.1.4.4 Điều kiện phát triển du lịch dựa vào cộng đồng
Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng chỉ có thể phát triển khi đáp ứng điều kiện về nguồn tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng, độc đáo… Đồng thời, cộng đồng địa phương đó đang sở hửu phong tục, tín ngưỡng văn hóa độc đáo, đặc trưng của nhóm cộng đồng đó mà nơi khác không có Quan trọng hơn, cộng đồng phải nhận thức được trách nhiệm của mình về việc phát triển du lịch và bảo vệ nguồn tài nguyên phục vụ du lịch
Bên cạnh đó, việc xây dựng và duy trì thị trường khách du lịch nội địa và quốc tế cũng là một trong những điều kiện cần có để phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
Một điều kiện quan trọng mang tính tiên quyết để phát triển du lịch chính là
sự quan tâm, hỗ trợ về tài chính và kinh nghiệm của chính phủ, chính quyền địa phương, các tổ chức khác
Trang 2821
Thực hiện chiến lược quảng bá nhằm thu hút khách du lịch cũng là một trong các điều kiện cần để phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
1.1.4.5 Đặc điểm của du lịch dựa vào cộng đồng
- Đây là một phương thức hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ
du lịch mà nguồn cung cấp chính các sản phẩm du lịch cho du khách là cộng đồng dân cư; đồng thời cộng đồng dân cư giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển và duy trì các hoạt động, dịch vụ du lịch này
- Những điểm đến tổ chức hoạt động du lịch dựa vào cộng đồng là những khu vực có tài nguyên hoang dã còn nguyên sơ hoặc đang có nguy cơ bị tác động bởi biến đổi môi trường, do con người… Cần được bảo tồn
- Phát triển du lịch cộng đồng tại điểm đến đang có sức thu hút đối với khách
du lịch
- Cộng đồng tham gia các hoạt động du lịch này phải là người dân địa phương đang sinh sống tại điểm đến du lịch hoặc vùng liền kề các tài nguyên du lịch
- Cộng đồng dân cư là người có trách nhiệm tham gia trực tiếp vào việc bảo
vệ tài nguyên du lịch và môi trường nhằm hạn chế, giảm thiểu tác động bởi khách
du lịch và quá trình khai thác tài nguyên du lịch của chính cộng đồng dân cư địa phương
- Giao quyền cho cộng đồng, khuyến khích cộng đồng tham gia và đảm nhận các hoạt động du lịch và bảo tồn tài nguyên môi trường
- Đảm bảo sự công bằng trong việc chia sẻ nguồn thu nhập du lịch cho cộng đồng và các bên tham gia là một trong những điều kiện để phát triển du lịch cộng đồng
- Do đặc điểm tài nguyên, điều kiện cộng đồng nên cần xét đến các yếu tố giúp đỡ, tạo điều kiện của các bên tham gia trong đó có vai trò của các tổ chức chính phủ, NGOs trong và ngoài nước không phải làm thay cộng đồng
1.1.4.6 Mục đích của du lịch dựa vào cộng đồng
Mục đích của du lịch dựa vào cộng đồng là khai thác hợp lý, tiết kiệm tại nguyên thiên nhiên, bảo tồn các di sản, văn hóa, nâng cao đời sống của cộng đồng
Trang 29du lịch để từ đó đem lại lợi ích trực tiếp cho cộng đồng
Một số mục đích chính trong hoạt động du lịch dựa vào cộng đồng bao gồm:
- Du lịch dựa vào cộng đồng phải góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và văn hóa như: Sự đa dạng sinh học, tài nguyên nước, rừng, bản sắc văn hóa…
- Du lịch dựa vào cộng đồng phải có đóng góp vào sự phát triển kinh tế địa phương thông qua việc tăng doanh thu về du lịch và những lợi ích khách cho cộng đồng địa phương
- Du lịch dựa vào cộng đồng phải có sự tham gia ngày càng tăng của cộng đồng địa phương
- Du lịch dựa vào cộng đồng phải mang đến cho khách một sản phẩm du lịch
có trách nhiệm đối với môi trường và xã hội
1.1.4.7 Mối quan hệ giữa cộng đồng địa phương và hoạt động du lịch
Mối quan hệ giữa nguồn tài nguyên du lịch và cộng đồng có ý nghĩa rất lớn trong phát triển du lịch dựa vào cộng đồng Điều đó có nghĩa là: tài nguyên du lịch
là đối tượng phục vụ cho việc thu hút khách du lịch nhằm tạo ra thu nhập cho cộng đồng và khuyến khích họ tham gia các hoạt động cung cấp dịch vụ cho du khách, đồng thời, cộng đồng tham gia tích cực vào các hoạt động bảo tồn văn hóa, bảo vệ tài nguyên, môi trường…
Cộng đồng địa phương tham gia hoạt động du lịch có quan hệ thân thiết với nhau, thông thường họ là những người cùng sinh sống trong một khu vực nhất định, lâu dài Khu vực đó, có nguồn tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng có sức hấp dẫn, thu hút được khách du lịch tới tham quan Những nguồn tài nguyên du lịch này thường là đất đai, sản vật rừng, thủy hải sản, sản vật đặc trưng của địa phương, ẩm thực, phong tục tín ngưỡng, di sản văn hóa…
Trang 3023
Môi trường và hoạt động du lịch có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.Thậm chí
đó là mối quan hệ có sự tác động qua lại lẫn nhau.Môi trường nhắc đến ở đây chính
là nguồn tài nguyên từng là nguồn sống của cộng đồng địa phương mà nay đã bị chia sẻ cho các du khách Nghĩa là: Các điểm du lịch được hình thành từ những vị trí có tiềm năng du lịch trong không gian kinh tế, văn hóa và sinh thái gắn với hoạt động du lịch, hoạt động sản xuất, sinh hoạt hàng ngày của người dân địa phương Một trong những đặc trưng nổi bật của lãnh thổ du lịch là có tính đan xen giữa các điểm du lịch và khu vực dân cư, hoặc gần khu vực dân cư đang có hoạt động kinh tế diễn ra Với đặc trưng này khó có thể phân biệt rạch ròi giữa không gian du lịch và không gian kinh tế, xã hội của cộng đồng địa phương Ngoài ra, đặc trưng này cũng gây ra những phức tạp và không đem lại hiệu quả trong việc quản lý môi trường, kinh tế, xã hội tại điểm du lịch Điều này không phù hợp với nguyên tắc phát triển
du lịch là phải đảm bảo tính chỉnh thể, thống nhất với chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội của mỗi địa phương Hoạt động du lịch phải có sự tương trợ với hoạt động kinh tế, xã hội của cộng đồng địa phương Việc khuyến khích cộng đồng địa phương tham gia vào các hoạt động du lịch sẽ tạo hiệu quả kinh tế, góp phần xóa đói giảm nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân địa phương Như vậy, đối tượng mà du lịch cộng đồng hướng tới chính là cộng đồng địa phương tại điểm du lịch
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu và phát triển du lịch sinh thái
1.2.1 Lịch sử và tình hình phát triển du lịch sinh thái
Du lịch sinh thái (DLST) khởi đầu ở các nước đang phát triển vào cuối những năm 60 TK XX Quần đảo Galapagos là nơi bắt đầu tổ chức DLST và ở khu vực Đông Phi, mặc dù nhiều lĩnh vực của du lịch thám hiểm như săn bắn không đủ tiêu chuẩn là DLST Trong những năm 60 và 70 TK XX, DLST phân bố hạn chế, chiếm tỷ lệ rất nhỏ của thị trường du lịch quốc tế Ở các nước phát triển, DLST là trò giải trí phổ biến mang tính nội địa được tổ chức trong những nhóm nhỏ, đặc biệt
là nhóm người quan sát động vật hoặc du khách đến vui chơi ở công viên
Đến cuối những năm 80 TK XX, DLST còn là hiện tượng xa lạ, chỉ mới bắt đầu xuất hiện là từ vựng phổ thông Từ sau năm 1990, trên thế giới loại hình DLST dần phát triển ở một số quốc gia như Australia, Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc, Pháp, Thụy Điển, Đan Mạch… Đến cuối những năm 90 TK XX, DLST phát triển mạnh và nổi bật ở các khu vực châu Phi, châu Mỹ, Nam Mỹ, châu Mỹ La Tinh
Trang 3124
Trong nghiên cứu của Lew năm 1997, DLST ở châu Á - Thái Bình Dương được chia theo 3 khu vực: Nam và Đông Nam Á, bao gồm các khu vực kết hợp với nhau là điểm đến quốc tế lớn; Australia và New Zealand, có các ngành kinh doanh DLST nội địa quan trọng, được xem là thị trường quốc tế thứ hai; khu vực sinh thái ngoại vi, bao gồm Trung Quốc và Nhật Bản, các đảo Thái Bình Dương
Cho đến nay, đã có nhiều cuộc tranh luận về quy mô và tốc độ tăng trưởng của DLST Việc đánh giá quy mô thị trường DLST phụ thuộc vào định nghĩa được
sử dụng để mô tả thị trường đó Việc thiếu một định nghĩa thống nhất, được sử dụng rộng rãi về DLST làm cản trở việc đánh giá, đo lường thị trường DLST và hạn chế
so sánh kết quả giữa các khu vực Mặc dù những ước tính về tăng trưởng DLST là hiếm hoi, song hầu hết các nhà quan sát đều cho rằng DLST đã phát triển nhanh hơn
so với du lịch nói chung trong suốt nhiều năm qua Theo đánh giá của WTO, năm
1989 trên phạm vi toàn thế giới DLST mới chỉ chiếm 7 - 10% tổng số khách du lịch quốc tế (45 triệu khách), đến năm 1996 chiếm gần 1/3 tổng số khách du lịch quốc tế (190 triệu khách) Đến nay, DLST là lĩnh vực tăng trưởng nổi bật nhất trong thị trường du lịch, thậm chí còn chiếm ưu thế ở một số nơi như Kenya, Costa Rica…
Dựa trên dữ liệu thu thập từ khảo sát do HLA và ARA các công ty tư vấn khách hàng du lịch Bắc Mỹ (1994), đã mô tả thị trường khách DLST: tuổi từ 35 -
54, có sự khác biệt ở các hoạt động và chi phí; giới tính là 50% nữ và 50% nam, có
sự khác biệt trong các hoạt động; học vấn có 82% trình độ cao đẳng, một sự thay đổi trong mối quan tâm đến DLST từ những người có trình độ giáo dục cao; thành phần gia đình không có sự khác biệt lớn giữa khách du lịch nói chung và khách DLST đã trải nghiệm; thành phần đoàn đa số khách DLST đã trải nghiệm (60%) được hỏi cho rằng thích đi du lịch một cặp vợ chồng, 15% đi du lịch với gia đình và 13% đi du lịch một mình; thời gian chuyến đi có thể kéo dài 8 - 14 ngày; chi phí, khách DLST đã trải nghiệm chi tiêu nhiều hơn; yếu tố quan trọng của chuyến đi có
3 lựa chọn hàng đầu của khách DLST đã trải nghiệm là thiết lập vùng hoang dã, xem động vật hoang dã, đi bộ đường dài
Theo dự báo của UNWTO, du lịch kinh nghiệm trong đó bao gồm DLST, du lịch thiên nhiên, di sản, văn hóa và mạo hiểm… là một trong những lĩnh vực được
dự đoán sẽ tăng trưởng nhanh nhất trong hai thập kỷ tiếp theo
Trang 32Một số công trình nghiên cứu về phát triển du lịch sinh thái như:
- “Nghiên cứu sức chứa và sự ổn định của các điểm du lịch” (Kadaxki, 1972;
Sepfer, 1973), đưa ra khung đánh giá quy chuẩn về tiêu chí cho sức chứa của một điểm du lịch;
- “Nghiên cứu xác định các tuyến điểm du lịch giữa biên giới Ba Lan và Đức” (Tổ chức IUCRP, 1994), đã phân tích các nhân tố tác động đến du lịch, xác
định các tuyến, điểm du lịch trên quan điểm phát triển du lịch bền vững
Các công trình về cơ sở lý luận về du lịch sinh thái như “Du lịch sinh thái” (Lê Huy Bá, 2006), “Du lịch sinh thái - Những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam” (Phạm Trung Lương, 2002)
Các hướng dẫn cho phát triển du lịch sinh thái như: “Du lịch sinh thái - Hướng dẫn cho các nhà lập kế hoạch và quản lý” (Hiệp hội DLST, 1999); “Sổ tay Hướng dẫn phát triển du lịch sinh thái tại Việt Nam”, được đưa ra trong khuôn khổ
dự án Tăng cường năng lực cho ngành du lịch Việt Nam do Cơ quan Hợp tác Phát triển quốc tế Tây Ban Nha (AECID) tài trợ và nhiệm vụ Định hướng quản lý và phát triển du lịch sinh thái tại Việt Nam Đây là tài liệu thiết thực dành cho các nhà quản lý, điều hành du lịch sinh thái để hướng dẫn về phương pháp xây dựng, công nhận điểm du lịch sinh thái ở Việt Nam cũng như nâng cao kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho công việc chuyên môn
Các đề tài nghiên cứu khoa học các cấp về phát triển du lịch sinh thái: đề tài
cấp Bộ “Cơ sở khoa học phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam” (Phạm Trung Lương, 1996); đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu đề xuất tiêu chí khu du lịch sinh thái ở
Trang 3326
Việt Nam” (Đỗ Thị Thanh Hoa, 2007) Ngoài ra còn nhiều luận án tiến sĩ, luận văn
thạc sĩ nghiên cứu về vấn đề này
1.2.2.2 Tại khu vực nghiên cứu
Hiện nay, các nghiên cứu về phát triển du lịch, phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại các tỉnh, thành phố của Lào chủ yếu là các luận văn thạc sĩ, ví dụ như:
- "Phát triển du lịch tỉnh Luang Pra Bang, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trong xu thế hội nhập quốc tế” (Perng LORKAMANN, 2016 Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên)
- “Phát triển du lịch tỉnh Champasak đến năm 2025” (KhamSon Som Let,
2018 Trường Đại học Kinh tế - Luật TP.HCM)
- “Phát triển du lịch tại tỉnh Se Kong, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào” (Kheua Kham Sing Sack Sith, 2017 Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng)
- “Sự tham gia của cộng đồng địa phương trong phát triển du lịch sinh thái tại khu bảo tồn quốc gia Namha tỉnh Luong Namtha, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào” (Athonesinh Oulovanhdine Trường Đại học Kinh tế quốc dân)
Hiện chưa có nghiên cứu nào thực hiện tại tỉnh Oudomxay, Lào
1.3 Quan điểm tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
1.3.1 Quan điểm tiếp cận
Luận văn sử dụng các quan điểm và tiếp cận sau:
- Quan điểm hệ thống và tổng hợp: nghiên cứu cần phải xác định DLST là một bộ phận không thể tách rời của ngành du lịch nói chung Các yếu tố tự nhiên, văn hóa cấu thành hệ thống tài nguyên DLST cho khu vực là một bộ phận của hệ thống tự nhiên, văn hóa chung của khu vực Sự biến đổi của một yếu tố tự nhiên, văn hóa nào đó trong quá trình khai thác du lịch có thể làm thay đổi toàn bộ cảnh quan trong khu vực
- Tiếp cận địa lý: thường được hiểu là tiếp cận không gian Theo tiếp cận địa
lý thì các không gian phát triển du lịch và các tuyến, điểm của khu vực nghiên cứu được xác định bằng các tọa độ địa lý và thể hiện trên ảnh vệ tinh
- Tiếp cận phát triển bền vững: Phát triển bền vững là "sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả
Trang 3427
năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai…” Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ
- Tiếp cận dựa vào cộng đồng: bao gồm việc tham gia của cộng đồng và hướng tới lợi ích của cộng đồng
1.3.2 Phương pháp nghiên cứu
1.3.2.1 Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu
Thu thập các thông tin, dữ liệu cơ bản từ các tài liệu, kết quả nghiên cứu trước đó về loại hình du lịch sinh thái hay các loại hình liên quan tới du lịch sinh thái, các tài liệu về du lich sinh thái tại tỉnh và các hoạt động du lịch phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng trên địa bản Fen và bản Chom Ong tại huyện Xay tỉnh Oudomxay, Lào
1.3.2.2 Phương pháp phân tích và tổng hợp
Phân tích và tổng hợp là việc lựa chọn, sắp xếp các dữ liệu, thông tin từcác nguần thứ cấp và sở cấp nhằm định lượng chính xác và đầy đủ phục vục cho mục đích điều tra và nghiên cứu từ đó tổng hợp thành các nhận định, báo cáo hoàn chỉnh nhằm đưa ra một cái nhìn tổng thể về phát triển sinh thái dựavào cộng đồng phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng trên địa bản Fen và bản Chom Ong tại huyện Xay tỉnh Oudomxay
1.3.2.3 Phương pháp khảo sát thực địa
Khảo sát thực tế được tiến hành phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng trên địa bản Fen và bản Chom Ong tại huyện Xay tỉnh Oudomxay Trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2020, học viên đã tiến hành 2 đợt khảo sát thực địa:
- Đợt 1: Mục đích nhằm tìm hiểu giá trị các tài nguyên du lịch, các dịch vụ ,
cơ sở vật chất kỹ thuật sẵn có và đời sống, trình độ nhận thức về du lịch sinh thái của cư dân địa phương đối với phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại khu vực bản Fen và bản Chom Ong, huyện Xay, tỉnh Oudomxay
- Đợt 2: Tìm hiểu thực trạng khai thác các điều kiện cho phát triển du lịch sinh thái tại khu vực, đánh giá và tìm thêm các yếu tố có thể tạo nên các sản phẩm cho loại hình du lịch sinh thái
Trang 3528
1.3.2.4 Phương pháp điều tra xã hội học
Phương pháp điều tra xã hội học được sử dụng hiệu quả trong đánh giá nhu cầu của du khách, tìm hiểu những tác động của du lịch tới đời sống của cộng đồng địa phương Các phiếu điều tra cho biết những thông tin chi tiết mang tính thực tiễn cao Các thông tin thực tế qua quan sát, nghe, trao đổi với khách du lịch, cộng đồng địa phương làm phong phú hơn, góp phần đánh giá một cách khách quan hơn cho
đề tài
Kết quả của phương pháp này là thu thập số liệu sơ cấp từ 50 phiếu điều tra khảo sát cho đối tượng bao gồm khách du lịch và cộng đồng dân cư địa phương (gồm cả những hộ có và không tham gia hoạt động du lịch)
1.3.2.5 Phương pháp SWOT
Mô hình SWOT là một mô hình bao gồm 4 chữ viết tắt của Strengths (điểm mạnh), Weaknesses (điểm yếu), Opportunities (cơ hội) và Threats (thách thức)
Mô hình phân tích SWOT được Albert Humphrey phát triển vào những năm
1960 - 1970 Đây là kết quả của một dự án nghiên cứu do đại học Standford, Mỹ thực hiện Dự án này sử dụng dữ liệu từ 500 công ty có doanh thu lớn nhất nước Mỹ (Fortune 500) nhằm tìm ra nguyên nhân thất bại trong việc lập kế hoạch của các doanh nghiệp này Ban đầu mô hình phân tích này có tên gọi SOFT, là viết tắt của: Thỏa mãn (Satisfactory) – Điều tốt trong hiện tại, Cơ hội (Opportunity) – Điều tốt trong tương lai, Lỗi (Fault) – Điều xấu trong hiện tại; Nguy cơ (Threat) – Điều xấu trong tương lai
Riêng trong vấn đề phát triển du lịch sinh thái, mô hình SWOT được tác giả
sử dụng để phân tích được những điểm mạnh, điểm yếu để đánh giá hoạt động DLST dựa vào cộng đồng trên địa bản Fen và bản Chom Ong tại huyện Xay tỉnh Oudomxay, nhìn nhận được những điểm tốt để phát huy và những hạn chế cần khắc phục, phân tích được nguyên nhân từ của những hạn chế này để từ đó có giải pháp
cụ thể nhất Mô hình SWOT còn giúp nghiên cứu xác định được cơ hội và thách thức trong tương lai đối với hoạt động DLST dựa vào cộng đồng trên địa bản Fen
và bản Chom Ong tại huyện Xay tỉnh Oudomxay
1.3.2.6 Phương pháp khác
Trang 36Đã đề cập đến bài học kinh nghiệm về việc phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng của một số nước trong khu vực ASEAN như Thái Lan, Indonesia, Malaysia… Đó chính là tiền đề để luận văn trình bày, phân tích về tiềm năng và thực trạng DLST trên địa bản Fen và bản Chom Ong tại huyện Xay tỉnh Oudomxay, CHDCND Lào và dề xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lich sinh thái trên địa bản Fen và bản Chom Ong tại huyện Xay tỉnh Oudomxay Lào ở chương 3
Trang 37(Nguồn: Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Oudomxay, 2019) Hình 2.1: Bản đồ tỉnh Oudomxay
Trang 3831
2.1.2 Điều kiện tự nhiên
2.1.2.1 Khái quát điều kiện về địa chất
Tỉnh Oudomxay được cấu tạo bởi các đá trầm tích và biến chất tuổi từ Paleozoi đến Mesozoi (Hình 2.2) Các thành tạo đá vôi chiếm diện tích lớn, đã tạo nên cảnh quan đặc sắc cho tỉnh
(Nguồn: Phan Cự Tiến, 2009) Hình 2.2: Bản đồ địa chất tỉnh Oudomxay
Trang 39Nằm trên thành tạo Carbon là các trầm tích tuổi Carbon – Permi, tương ứng
hệ tầng Bắc Sơn (C- P bs) Hệ tầng hầu như chỉ gồm đá vôi
Trầm tích tuổi Triat thượng tương ứng hệ tầng Nậm Mu (T3 nm) hoặc hệ
tầng Suối Bàng (T3 sb): gồm bột kết, đá phiến sét, có nơi là đá vôi sét và đá vôi ở
phần dưới; cát kết, bột kết, có nơi có cuội kết, sỏi kết ở phần giữa; chủ yếu cát kết với ít bột kết, sét than và than ở phần trên
Các thành tạo Jura tương ứng hệ tầng Hà Cối (J1- 2 hc) khá phổ biển, trầm
tích tương tự cũng được mô tả ở vùng Tú Lệ thuộc Tây Bắc Bộ và ở vùng Mường
Tè thuộc cực tây Bắc Bộ Hệ tầng gồm cuội thạch anh, cát kết thạch anh, bột kết màu đỏ nâu hoặc màu trắng với các thấu kính than ở phần thấp
Trầm tích Jura hạ - Kreta tương ứng hệ tầng Tú Lệ: gồm cuội- sạn kết, bột kết, cát kết, đá phiến sét tufogen và đá vôi ở phần dưới; orthophyr, ryolit và tuf của chúng ở phần trên Trên cùng là phun trào ryolit porphyr với các thể á núi lửa granit porphyr Đá rắn chắc, tạo các khối núi chính,
Thành tạo Kreta tương hệ tầng Mụ Giạ (K mg) hoặc hệ tầng Yên Châu (K2
yc): gồm các trầm tích lục địa màu đỏ: cuội kết, sạn kết, bột kết, sét kết
Trầm tích Neogen tương ứng hệ tầng Hang Mon (N hm): gồm cuội kết, cát
kết, bột kết, sét kết với các vỉa than nâu ở phần giữa Dày 120 - 250m
Trong phạm vi nghiên cứu còn phân bố các thành tạo magma xâm nhập tuổi Permi và Triat, tương ứng phức hệ Điện Biên (d4 - g4 đb) và phức hệ Yê Yên Sun
(g5 ys) ở Tây Bắc Việt Nam
- Phức hệ Điện Biên (P-T d4 - g4 đb): Thành phần thạch học chủ yếu là
granodiorit, điorit, điorit thạch anh, granođiorit, granit và đá mạch granit aplit và lamprophyr Thành phần khoáng vật đặc trưng là plagioclas, felspat kali (orthoclas, microclin), horblen, biotit, thạch anh Các khoáng vật phụ tiêu biểu là sfen, apatit, zircon, manhetit, rutil, ortit
Trang 4033
- Phức hệ Yê Yên Sun (Tg5 ys) Thành phần thạch học chủ yếu là
granosyenit, granit, granit sáng màu Ở đới nội tiếp xúc có điorit thạch anh, monzodiorit, granodiorit Đá mạch phổ biến là pegmatit aplit, granit aplit Thành phần khoáng vật chủ yếu là plagioclas (albit- oligoclas), felspat (ortoclas, microclin), thạch anh, biotit, horblen, pyroxen Các khoáng vật phụ phổ biến là zircon, thorit, ortit, monazit, cyrtolit, molibdenit, galenit, fluorit
2.1.2.2 Khái quát điều kiện về địa hình
Địa hình của Oudomxay chủ yếu là núi non hiểm trở Độ cao dao động từ
227 m đến 1896 m so với mực nước biển (Hình 2.3)
Hình 2.3: Mô hình số độ cao tỉnh Oudomxay