1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hợp đồng bảo hiểm tài sản

128 54 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 7,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Tổ chức Lao động quốc tế ILO trong Công ước số 102 thì Báo đảm xã hội được định nghĩa là sự bảo vệ của x ã hội đối với các thành viên của mình ihỏììg quư hàng loại các hiện pháp côn

Trang 1

MỤC LỤC• ■

C h ư ơ n g l : MỘT s ố VẤN ĐỂ LÝ LUẬN CHUNG VỂ BẢO ĐẢM XÃ HỘI 1

1.1 Những quan niệm và khái niệm về Bảo đảm xã hội 1

1.3 Những đặc trim s cơ bản của Bảo đảm xã hội 11

2.1 Các bộ phận cấu thành của Bảo đảm xã hội theo quy định của 13

Tổ chức lao động quốc tế (ILO)

2.2 Các bộ phận cấu thành cùa Bảo đảm xã hội Việt Nam 20

5 Một số quy định về Bảo đảm xã hội ở một sỏ nước 30

C h ư ơ n g 2 : PHÁP LUẬT BẢO ĐẢM XÃ HỘI VIỆT NAM VÀ THỰC TIÊN 37

THỰC HIỆN

1 Sơ lược sự hình thành và phát triển của pháp luật Bảo đảm 37

xã hội Việt Nam

2.1.1 Đối tượng và phạm vi áp dụng Bảo hiểm xã hội 46

Trang 2

MỎ ĐẦU

1 Tính cáp thiết và tình hình nghiên cứu đề tài

Sau hơn 15 năm đổi mới nước ta đã thu được nhiều thành tưu trên moi

m ặt đời sống kinh tế và xã hội Quá trình đổi mới đặt ra yêu cầu gán tăng trư ởns kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội Vấn đề này cũng đã được

Đ ả n s và Nhà nước ta k h ả n ơ định rõ tại Hội nshị Thượng đỉnh Quốc tế về phát triển xã hội thánơ 3/1995 tại C openhaehen - Đan mạch Một trons những chính sách xã hội có tác độna và ảnh hườns lớn đến chính sách kinh tế là Bảo đảm xã hội Để có cân cứ cho việc hoạch định chính sách, xây dựng và hoàn thiện pháp luật Bảo đảm xã hội ở Việt Nam phù hợp với điểu kiện nén kinh tế thị trường việc nghiên cứu cơ sờ lý luận, thực tiễn pháp luật Bảo đảm xã hội trở thành một yêu cầu cấp thiết

Trên phương diện nghiên cứu nói chung và với phạm vi luận văn Thạc

sĩ Luật học nói riêng, đây là một nội dung khá mới mẻ và chưa có đề tài nghiên cứu nào đ é cập tới Chính VI vậy, chúng tôi cũng xin mạnh dạn lựa

chọn đề tài Pháp luật B ảo đảm x ã h ộ i V iệt N a m - M ộ t sô vấn đ ế /ý luận và

th ự c tiến thự c hiện." làm luận văn tốt n sh iệp Thạc sĩ luật học với mong muốn

góp phần làm sáng tỏ các vấn đề lý luận chuna và thực trạng pháp luật Bào đảm xã hội Việt Nam từ đó đề xuất một vài ý kiến nhầm hoàn thiện pháp luật

2 Mục đích, phạm vi nghiên cứu đề tài

Luận văn có mục đích làm sáng rõ những vấn đề lý luận chung về Bảo đảm xã hội với các nội dung như khái niệm , bản chất, các bộ phận cấu thành, nguvên tắc, ý nghĩa Ngoài ra, đé tài còn nghiên cứu thực trạng pháp luật Báo đảm xã hội với những đánh giá xác thực về ưu điểm và hạn chế, những luận chứng về sự cần thiết khách quan cho việc hoàn thiện pháp luật để từ đó đưa ra nhữnơ phương hướng, giải pháp cụ thể

3 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình tiếp cận và giải quyết những vấn đề mà bản luận văn đặt ra, chúne tôi dựa trên cơ sở phép biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác -

Trang 3

5 Kết cấu của luận văn

Luận vãn được bố cục gồm 3 chương, phần m ờ đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo Cụ thể:

Lời n ó i đầu.

C hư ơng /: M ột số vấn đề lý luận chuns vể Bảo đảm xã hội.

C hương II: Pháp luật Bào đảm xã hội ở Việt Nam và thực tiễn thực hiện.

C hư ơng III: M ột số đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật Bảo đảm xã hội

ở Việt Nam

K ết luận.

D anh m ụ c tài liệu tham khảo.

Trang 4

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHƯNG VỀ

BẢO Đ Ả M X Ã HỘI

1 K H Á I N I Ệ M B Ả O Đ Ả M XÃ H Ộ I.

1.1 Những quan niệm và khái niệm Bảo đám xã hội:

Bảo đám xã hội là một khái niệm có phạm vi rất rộng và tác động đến đời sống hàng ngày cúa mọi ihành viên Irong xã hội

Xét về lịch sử, Bảo đảm xã hội là kết quả của sự tìm kiếm một điều kiện an toàn hơn cho cuộc sống của con người Từ xa xưa, trước những khó khăn, rủi ro như đói nghèo, dịch bệnh, thiên tai con người đã phải tìm đến

sự trợ giúp, đùm bọc của cộng đồng, thân tộc, làng xóm Cùng với thời gian, những ai có những lo toan, rủi ro giống nhau thì hợp sức lại Ihành những nhóm xã hội khác nhau để bảo vệ mình Các phường hội theo nghề nghiệp đã dần hình thành nhằm giúp đữ những hội viên của mình trước những nguy nan của cuộc sống Lòng nhân ái, bao bọc chở che nhau đã hình thành những hoạt động cứu tế cúa các tổ chức tôn giáo, các phường hội, giúp con người giảm đi những trầm luân của cuộc sống

Trong quá Irình phát triển xã hội, nhất là sự hình thành các ngành cồnu

nghiệp đã lác động mạnh m ẽ đến đời sống xã hội tạo thành mộl đội ngũ lao động công nghiệp làm công ăn lương Trong khoảng thế kỷ 16-18, hàng loạt nghiệp đoàn thự thủ công ra đời ở châu Âu tạo ra tính cộng đồng, tính đoàn kết tương thân tương ái giữa những người làm thuê Ó một số nước, nhiều quỹ tương trợ được ihành lập nhằm giúp đỡ những người lao động khi ốm đau, tai n ạn Điểm m ốc đánh dấu sự hình thành của bảo đảm xã hội là cuộc

Cách mạng công nghiệp ở th ế kv 19 Lối sống cá thể, lao động giản đơn đã nhường hước cho cổng nghiệp hỏa Cuộc chuyển biến này khiến cuộc sông cúa người lao động gắn chặl với thu nhập do bán sức lao động đem lại Chính

vì vậy những rủi IO trong cuộc sống như ốm đau, tai nạn, mấl việc, tuổi già

đã trở thành mối đe dọa người công nhân công nghiệp Nếu gặp những rủi ro này họ không còn thu nhập từ công việc nữa, đời sống của bản thân và gia đình sẽ gặp khó khán Trước những rủi ro phái đối mặt thường xuyên của công nhân, Chính phú khuyến khích các hoạt động tương thân tương ái lẫn

Trang 5

nhau, kêu gọi người lao động tự giành dụm, tiết kiệm phòng khi có biến cố.rủi ro Thực tế, những người lao động còn mải vật lộn với miếng cơm manh áo hàng ngày nôn họ không thể tính toán trù liệu cho những biến cố trước mắt hay lâu dài sẽ xảy ra Mặt khác, nhữnỵ ngưừi lao động cũng tiến hành đáu Iranh với giới chú đòi phái có những hiện pháp cái thiện điều kiện lao động, giảm thiểu rủi ro và có những hỗ trự cần thiết cho người lao động khi ốm đau, tai nạn lao đ ộ n g V iệc giai cấp cóng nhân đã lớn mạnh, trở thành một lực lượng chính trị trong xã hội buộc các chủ sử dụng lao động không thể khống quan tâm đến người lao động Bước đầu họ đã có các chính sách cải thiện điều kiện lao động, rút ngắn thời gian làm việc, có chế độ và hình thức giúp đỡ hợp lý khi người lao động gặp rủi ro Và từ đó các chương trình hảo vệ người lao động dần hình thành và phát triển mạnh mẽ với đa dạng các hình thức và chế độ Đối tượng của sự hảo vệ không chỉ dừng lại ử ngưòri lao động khi gặp khó khăn, rủi ro, biến cố mà mớ rộng đối với đại bộ phân dân chúng.

Mỏ hình đầu liên phái tính đến là sáng kiến lập quỹ ốm đau và bắt buộc công nhân đóng góp phòng khi mất thu nhập vì ốm đau, bệnh tật được

đề xuấl năm 1850 tại Đức dưới thời Thủ tướng Bismark Đến năm 1889 mô hình này mớ rộng sang cà bảo hiểm rủi ro nghề nghiệp, tuổi già, tàn tật với sự tham gia đóng góp của cả 3 bên (người lao động, người sứ dụng lao động, nhà nước) Với những ưu điểm đặc biệt cua nỏ, mô hình này dẩn dẩn lan sang châu Âu, các nước Mỹ la tinh, Bắc Mỹ, Châu á, Châu Phi Ngoài mô hình báo vệ người lao động khi gặp rủi ro, biến cố làm giảm hoặc mất thu nhập theo lao động, các hình thức hảo vệ truyền thống cùa cộng đồng dân cư vẫn tiếp tục phát triển và đa dạni; với các đối tượng như người già cồ đơn, trỏ mồ cỏi người tàn tật, người goá b ụ a v à những người không may gặp rủi ro từ thiên nhiên như thiên tai bão lụt, hoả h o ạ n Bên cạnh đó các dịch vụ xã hội như dịch vụ y tế, dự phònu tai nạn dịch vụ chăm sóc người già bảo vệ trẻ

e m từng hước được m ở rộng ư các nước theo điều kiện kinh tố chính trị,

xã hội Tất cá những hoạt động chung m ang tính xã hội vì mục đích cao cả trợ giúp cho các thành viên xã hội như vậy được hiểu là háo đám xã hội

Vế thuật ngữ, “Bảo đảm x ã hội” (socical securitv) được xuất hiện chính thức lần đầu tiên tại m ột đạo luật ở Mỹ năm 1935 - Đạo luật về Bảo

đảm xã hội Tuy nhiên đạo luậl này mới chí đề cập đốn một số rủi ro như già

yếu, chết, tàn tật và thất nghiệp Năm 1938 “tíảo dám x ã hội" lại xuất hiện ironu một đạo luật ở N iu/ilân nhưng có thêm một số khoản trợ cấp mới Năm

Trang 6

1941, tronụ thời kỳ chiến tranh “Bao đảm x ã hội” xuất hiện trong Hiến

chương Đại Tây Dương năm 1941 và sau đỏ Tổ chức lao động quốc tế ( ILO)

đã chính thức sử dụng cụm từ nàv cho đến nay trong các Cồng ước của mình Đặc hiệt, năm 1952 (nuày 28/6) Hội nghị quốc tế về lao động đã thông qua công ước số 102- Công ước quv định các quy phạm tối thiếu về Báo đảm xã hội Tố chức Lao động quốc tố (ILO) cũng đã thừa nhận Bảo đám xã hội là mội trong những nguyên vọng sâu sắc nhất, phổ hiên nhất cúa mọi dân tộc trẽn ihế giới và ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền như là một Ironu các quyền của con người

Khái niệm Bảo đảm xã hội có thể được giải thích ở nước này rộng hơn

nước khác và có thể được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) trong Công ước số 102 thì Báo đảm xã hội được định nghĩa là sự bảo vệ của x ã hội đối với các thành viên của mình ihỏììg quư hàng loại các hiện pháp công cộng nhằm chông lại lình cành khốn kliô về ki nil t ế và x ã hội gây ra bơi tình trạng bị ngừng hoặc giảm súỉ đáng kẻ

về lim nhập do ốm đ a u , thai sản, thương tật trong lao động, thất nghiệp, làn Ịậl m õi iỊÍủ, lử vong, sự cung cấp về chăm sóc V lê và cá sự cung cáp các khoun tiéìì trợ giúp cho các gia dinh đỏng COIÍ'1 Định nghía này đề cập đến

háo đảm xã hội trôn phương diện nội dung hảo vệ cụ thể, gắn liền với các chê

độ bào đảm xã hội

Ó góc độ khái quát hơn, Báo đám xã hội cũng được ILO định nghĩa:

" là sự bảo đảm thực hiện quyền con người được sổng trong hoa bình, được học lập, được làm việc và nghỉ' ngơi, được chăm sóc y t ể và bào đảm thu nhập."2

Nlur vậy, có thể thấy bảo đảm xã hội có đối tượng áp dụng rộng lớn, bao iiổm toàn hô thành viên xã hôi Nội du nu là sự háo vệ cúa xã hội đượcCT c •thực hiện thông qua một loại các biện pháp công cộng tiến hành bới nhà nước, tổ chức, cá n h ân dưới các hình thức tương trự bằng tiền, hiện vật, phương tiện nhằm m ục đích chống lại những lúng quẫn về kinh tế, những khó khăn về m ặt xã hội của người dân khi gạp phái những hiến cố, lúi ro góp

1 Nguồn: - “Social Security Programs Throughout the World” - Social Security Administration 1999;

“( am nang An sinh xà hội” tập I do To nghiên cứu soạn thảo Luật bảo hiếm xà hội VN (lịch từ nguyên hán Ticng Anh “Series of Manuals on Social Security” produced by Social Security Department of 1LO -

1998 và nhiêu lài liệu khác.

: Nguổn: Il X) “ Ịntođuction Social Security” - Giơnevơ 1992.

Trang 7

phần đám bảo cuộc sống con người và cao hơn thế, đám hảo an toàn chung cho loàn xã hội Tuy nhiên theo quan điểm của chúng tồi, định nghĩa Báo đảm xã hội do ILO đưa ra chỉ nên hiểu theo niĩhTa chung nhất bởi lò đôi với mỏi quốc gia, căn cứ vào điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị, lịch sử Báo đám

xã hội lại được cụ the hoá với các nội dune khác nhau

Ngoài định nghía về Bảo đảm xã hội của Tổ chức Lao động quốc lê (1LO) trên thố giới cũng còn một sô định nghĩa khác với các nghĩa rộng hẹp

ví dụ:

- Theo W illiam Benevidge - nhà kinh tế học và xã hội học của nước Anh ( 1879-1963) thì Bảo đảm xã hội được định nghĩa là sự bảo đảm về việc làm khi người ta còn sức làm việc và đảm bảo một lợi tức khi người la khổng còn sức làm việc nữa” Như vậy khái niệm này đã gắn chặt Bảo đảm

xã hội với việc làm và thu nhập từ việc làm Nếu chi dừng lại ở đó khái niệm này không hao quát hết nội dung rộng lớn của Bảo đảm xã hội

- Trong Đ ạo luật năm 1935 về Báo đám xã hội của Mỹ thì Báo đàm xã hội “ là sự bảo đám nhằm hảo tồn nhân cách cùng những giá trị cá nhân, đồnu thời tạo lập cho mỗi con người một đời sống sung mãn và hữu ích để phái triổn tài năng đến tột độ” Khái niệm này tưưng đối rộng về phạm vi háo

vệ và gắn Báo đám xã hội với những giá trị cá nhân

- Trong Hiến chương Đại Tày Dương, Báo đám xã hội được hiểu theo nghĩa rất rộng, đỏ là “sự háo đám thực hiện quyền con người sống trong hoà bình, được tự do làm ãn cư trú, di chuyển, phát hiểu chính kiến trong khuôn khổ của pháp luật, được hảo vệ và bình đẳng trước pháp luật, được học tập, làm việc, nghỉ ngơi, có nhà ư, được chăm sóc y tế và háo đám thu nhập đê’ cỏ thể thoả mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi bị rủi ro, thai sản, ốm đau, tuổi già Khái niệm này có nội dung rất rộng, phản ánh sự hình yên trên lất cả các khía canh, kinh tế, chính trị, xã hội cùa đời sống con người và

trợ xã hội”, “An sinh xã hội”, “ An ninh x.ã hội”, “An toàn xã hội”

Trang 8

Theo tiêng Anh - ngôn ngữ sứ dụng của Tổ chức lao động quốc tế thì

“Social Security” khi dịch sang tiếng Việt, sát nghía nhất là “An toàn xã hội” ' Tuy nhiên nếu sứ dụng thuật ngừ này ở Việt nam cũng vấp phái một sò khó khăn, hất cập Ó miền Bắc nước ta trước đây “ An toàn xã hội” được dùnu một cách phổ biến để chỉ những công việc và cơ quan làm công việc liên quan đến trật lự, an ninh Song song với nghía này An loàn xã hội còn được một số cơ quan, trong đỏ có cơ quan công an gắn thêm với các cụm từ “trật tự” thành “Trật lự an toàn xã hội” để chỉ những công việc, hoạt động thuộc lĩnh vực trật tự trị an Nghĩa này vẫn được tồn tại đến nay trong nếp nghĩ của người dân Tương tự như vậy, cụm từ “ An ninh xã hội” cũng được hiểu theo nghía này

Ớ miền Nam nước ta từ những năm 70 trở về irước lại dùng phổ hiến cụm từ “An ninh xã hội” để chí những cồng việc và những cơ quan làm công

tác xà hội Trên một số sách báo, bài viết, sách (Jịch xuất bản ờ Sài gòn xuất

hiện cụm lừ này Chẳng hạn cuốn sách “ An ninh xã hội” do Trung tâm tu thư xây dựng Transpen xuất hán năm 1968 với nội dung chí những hoạt động lao động xã hội Cuốn sách này được dịch từ nguyên tác tiếng Anil “Social Security in A m erica” của W iliam Loyd Mitchell ấn hành ở Mỹ năm 1964 Hay cuốn “Luật lao động và an ninh xã hội” - Nguyễn Quang Quýnh do Hội nghi ôn cứu hành chính xuất bản năm 19694

Từ cuối những năm 70, sau khi chính thức gia nhập khỏi SEV cụm từ

Báo trự xã hội” dịch từ cụm từ Tiếng N g a socicusttoe c'ìíc m XiỉiíLiùang được dùnu phổ hiến ờ các nước thành viên lúc đó, cũng được dùng ỏ Việt nam với

nghía tương đương “Social Security” (liếng Anh) và “Securité sociale” (tiếng Pháp) “Bảo trợ xã hội” ở Việt nam được dùng với quan niệm bao gồm các lĩnh vực như bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội và chăm sóc người có công như thương binh, liệt sỹ H iện nay, cụm từ này được sử dụng chú yếu chỉ những hoạt động cứu trợ xã hội thường xuyên, đột xuất, cứu giúp những đối tượng

lầm lỡ mắc tệ nạn xã hội, giúp đỡ những trê em có hoàn cành đặc biệt khó khăn ìmười bị di chứng do nhiễm chất độc hoá học trong chiến tra n h \

* Xem (hem Từ (liên Anh Việt - Trung tâm khoa học xã hội và nhân vail quốc gia, Viện ngôn ngữ, NXB

TP l-IỔ chí Minh.

4 Xem thỏm: “All ninh xã hội”- Trung tâm tu thư xây dựng Transpen, Sài gòn, xuấl bail nam 1968; “Luật lao (lộng và an ninh xã hội” - Nguyen Quang Quýnh, Hội nghiỏtt cứu hành chính Sài gòn, xuấl bản nam 1969.

Trang 9

Với cùng một nội dung, sự lựa chọn ihuậl ngữ phù hợp phản ánh đúng hán chất của sự vật hiện tượng là một yêu cầu khoa học6 Chúng tôi cũng đã rất cân nhắc khi lựa chọn thuật neữ “ Báo đảm xã hội” trong hán luận văn này bới lẽ khi xem xét với cùng một nội dung đó nếu sử dụng cụm từ “An toàn

xã hội” hay “ An ninh xã hội” rất dễ hị nhầm với cụm từ “Trật tự an toàn xã hội” với nghía an ninh trật tự công cộng Nếu dùng thuật ngữ “ Bảo trợ xã hội” hay “ Bảo hiểm xã hội” thì không phản ánh hết nội dung của khái niệm này Thuật ngữ “ An sinh xã hội” và “Bảo đám xã hội” là hai thuật ngữ được

đa sô các nhà khoa học hiện nay sử dụng khi đề cập đến nội dung này Trong việc cân nhắc sứ dụng hai cụm t ừ này, chúng tôi xin mạnh dạn đồng V với quan điểm của PGS.TS Đỗ Minh Cương khi sứ dụng cụm t ừ “ Bảo đám xã hội" hởi lẽ cụm từ này cũng được dịch nguyên nghĩa từ “Social Security” của Tổ chức Lao động quốc tế ILO, tránh nhầm lẫn với những khái niệm khác đã quen trong nếp nghi của người dân ngoài ra đây cũng là khái niệm

đã được nêu trong từ điển bách khoa toàn thư của Việt nam 8

Về mật khái niệm Theo ILO Báo đám xã hội có thể được giải llìích ứ

nước này rộng hay hẹp hơn nước khác Do vậy, ở Việt nam căn cứ vào điều kiện lịch sứ và kinh tế, chính trị, xã hội, khái niệm Báo đảm xã hội cũng được các nhà khoa học nghiên cứu với nhiều quan điếm khác nhau:

Theo PGS Tương Lai: “ Bảo đảm xã hội là một lình vực rộng lớn, không chí hao hàm sự bảo vệ của xã hội đối với mọi người khi gặp phải thiếu thốn vồ kinh tế mà còn đảm bảo về môi trường thuận lợi đổ giúp mọi người phái triển vồ giáo dục, vãn hoá nhằm nâng cao trình độ dân trú học vấn”

Với những nét đặc trưng của hệ thông bảo đảm xã hội Việt nam,

PGS.TS Đỗ Minh Cương lại đưa ra khái niệm: “fíảo đảm x ã hội lù sự báo vệ của xã hội đối với những thành viên của mình, trước hết lù trong những ỉvườnạ hợp túng thiếu về kinh t ế và x ã hội bị mủi hoặc giảm sút thu nhập đáng k ể do ịịặp những rủi ro như ốm đau, lai nạn lao động, bệnh nghé nghiệp, lùn tật, m ất việc làm, mứt người nuôi dưỡng, nghỉ do thai sàn, về già,

(' - Van kiện Đại hội Đảng lần thứ IX sử dụng thuật ngữ “ An sinh xă hội”

- TS Phạm Duy Nghĩa và Thạc sỹ Ngô Huv Cương dùng “An ninh xã hội”

- (ìiíto Irình Luật lao dộng Đại học Khoa học xà hội và nhân vãn dùng "An toàn xả hội'’.

- Giáo trình Luật lao động -Trường Đại học Luật Hà nội, Giáo trình Trường Cao đắng lao dộng xã hội,

í s Nị!IIVCI 1 Huy Ban, PGS.TS Đồ Minh Cưưng và nhiều lài liộu khác dùng “ Bảo đám xà hội".

7 Xem thêm: “ Bảo ciàin xà hội - một số vãn để lý luận và thực lien” - PGS.TS Đổ Minh Cương - Viện

khoa học lao dộng và xà hội - 1993

Trang 10

trom> ( tu Irường hợp th iệt hai d o thiên lai, đich hoạ, hoú hoạn Đồng lliời xã hội cũng iru đ ã i nhữìig thành viên của mình ă ă xà ỊỈicìiì vì nước, vì dán, có tihữtm, cóiìíị hiến đ ặ c b iệt cho cách m ạng, x â y diỊtiig vù báo vệ T ổ quốc Mủi

khác cũng cún vớt nỉũaig thành viên lẩm lỗi m ắc và o lệ nạn x ã liội nhằm

p h ố i hợp ch ặt c h ẽ với cú c chính sách x ã hội khác đ ạ i lới mục đích dân giàu, nước m ạnh x ã hội văn minh"9

Theo chúng tôi, khái niệm bảo đảm xã hội cúa PGS.TS Đỗ Minh Cương là phù hợp nhất với nội dung cúa bảo đảm xã hội Việt nam hiện nay, vừa tiếp cận và hoà nhập với xu thế bảo đảm xã hội hiện đại thế giới, vừa mang đậm màu sắc và đặc điểm riêng có của Việt nam Những bộ phận cấu thành chú yếu của bảo đảm xã hội Việt nam hiện nay bao gồm: bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội và ưu đãi xã hội

Tóm lại: Bảo đảm xã hội đã được tất cả các nước thừa nhận như là một ironii những quyền của con người Nội dunu về hảo đám xã hội được ghi nhận Imng Tuyên ngôn về nhàn quyền do Đại hội đồng Liên hiệp quốc thônu qua ngày 10 tháng 12 năm 194S theo đó “/£// r á m ọi người với tư cách lù

I hùn lì viên củ a x ã hội có quyền hưâniỊ bả o dám x ã hội Q uyền đó d ậ t cơ sớ irên sự llio à mân c á c quyền về kinh tế, x ã hội và văn hoa cần thiết cho sự lự

do p liá l triển r á nhân ” Ngày 25 tháng 6 năm 1952 Hội nghị toàn thể thành viên cúa ILO đã thông qua Công ước số 102 - Công ước về quy phạm tối thiếu Bảo đàm xã hội với 9 chế độ: chăm sóc y tế; trợ cấp ốm đau; thai sản; trự cấp thất nghiệp; trợ cấp tuổi già; trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; trự cấp tứ tuất; trợ cấp mấl người nuôi dưỡng; trợ cấp gia đình Các nước luỳ theo điều kiện kinh tế xã hội trong lừng giai đoạn phát triển có thể

tổ chức thực hiện khác nhau

Mỗi quốc gia, căn cứ vào điều kiện kinh tế xã hội, chính trị của mình

mà đồ ra chính sách bảo đảm xã hội thê hiện bàng các Nghị quyết, chương trinh quốc gia về hảo đảm xã hội hay chiến lược phái triển báo đám xã hội ơ nghía khái quát nhất, có thể hiểu chính sách bảo đảm xã hội là thái độ, quan điểm, hiện pháp mà nhà cầm quyền đề ra và tổ chức thực hiện Irong thực tiễn

Xem thôm: - PGS.FTS Đố Minh Cương - " Bảo (lam xã hội - Mội số vấn ilc ly luận, thực tiôn và giải pháp dổi mới" - Viộn khoa học lao động và các vấn íiề xã hội 1993.

- ĐỔ tài khoa học mã số KX.04.05 “Luận cứ khoa học cho việc (lôi mới và hoàn thiện chính

sá c h b ão (lảm xã họ c iro n g cilồu k iệ n n én k in h tế h à n g hoá n h iều th à n h phần th e o đ ịn h hướng xã hội CỈ1Ú

nghía ờ Viột nam” - Viện khoa học lao động và các vấn đề xà hội - Bộ LWTB &XII - 1993.

Trang 11

đời sông nhằm quản lý, điều tiết và giải quyết các vấn đề nội dung cúa bảo đảm xã h ộ i10.

Để cho mỗi chủ trương, chính sách hay các chương trình Bảo đảm xã hội cúa mỗi quốc gia đi vào đời sống, đảm bảo thực hiện trên thực tiễn cần phái có pháp luật Thông qua pháp luật, các chính sách chủ trương được thể chế hoá thành các quy định pháp lý có tính bắt buộc đối với mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội và đồng thời thông qua thưc hiên, pháp luật quay lai bổ sung hoàn thiện các chủ tiirơng chính sách cho phù hợp thực tiễn nhằm đạt được mục tiêu đề ra Nói cách khác, chính sách Bảo đảm xã hội được xác lập

về mặt pháp lý khi những nội dung của nó được chuyển tái qua “ngôn ngữ pháp luật” với những quy định về chế độ bảo đảm xã hội, cơ chế tổ chức thực hiện, quản lý C h ế độ Bảo đảm xã hội là một nội dung của pháp luật Bảo đảm xã hội, biểu hiện rõ nhấl của pháp 1 uât Bảo đảm xã hội với các quy định đối lương hưởng, điều kiên hưởng, mức hương, mức đóng, quyền và nghĩa vu

cụ thế cúa các bên trong quan h ệ Việc nắm vững các khái niệm như Bảođám xã hội, Chính sách Báo đảm xã hội, Pháp luật Báo đảm xã hội, Chế độ Bảo đàm xã hội sẽ giúp chúng ta hiểu rõ và khoa học hơn về vấn đề này Trong bản luận văn, với cách hiểu các khái niệm như trên, tuỳ từng nội dung

và hoàn cảnh cụ Ihể chúng tôi sứ dụng thuật ngữ cho phù hợp

1.2 Bản chất của Bảo đảm xã hội.

Như đã phân tích ở trên về lịch sử ra đời và phát triển của bảo đảm xã hội, có ihể nhận ihấy bảo đảm xã hội ra đời như một nhu cầu tất yếu tự nhiên của con người, là biện pháp hữu hiệu nhất con người tự tìm ra để bảo vệ chính mình K hông chỉ m ang trong mình nội dung xã hội với tính nhân vãn sâu sắc, bảo đảm xã hội còn bao hàm cả nội dung kinh tế biểu hiện hằng việc

là công cụ góp phần thực hiện phân phối lại thu nhập xã hội Chính vì vậy khi nghiên cứu về bản chất bảo đảm xã hội chúng ta phải đề cập đến cả hai góc độ: xã hội và kinh tế

Dưới góc độ xã hội, bảo đảm xã hội là m ột bộ phận quan Irọng cúa chính sách xã hội mỗi quốc gia nhàm đáp ứng một trong những quyền đương nhiên của con người - quyền được sống trong m ột xã hội an loàn đầy tình

10 Xem thỏm: - ‘T ừ điểu chủ nghía cộng sản khoa học'1 trang 44,45,46 - NXBTiến bộ 1986;

- “Chính sách xã hội - Những vấn (ié pháp ÍV hiến định”- NXB Khoa học 1990,

Trang 12

nhân đạo với những đảm bảo nhu cầu sống tối thiểu như ăn, mặc, ở, học hành

Xét về bản chất xã hội, Bảo đảm xã hội là sự lập hựp cá tổ chức cua các thành viên xã hội nhằm chống lại những hiến cố rủi ro bất hạnh của mồi

cá nhàn Nhờ sự hợp sức, đoàn kết trên tinh thần tương trợ này mà những rủi

ro, biến cố, khó khăn của các cá nhân sẽ được dàn trải trên phạm vi rộng, giúp họ nhanh chóng khắc phục khó khăn, hoà nhập cộng đồng Mặt khác, Bảo đám xã hội chính là công cụ để cải thiện điều kiện sống cúa của mọi lầng lớp dân cư, đặc biệt là những người nghèo khó, những nhóm dân cư

“yếu thế” trong xã hội Thực tế cho thấy, ở mỗi xã hội, trợ cấp Báo đảm xã hội đã trở thành nguồn lực cứu cánh cho cuộc sống của những đối tượng nghèo đỏi bất h ạn h N h ờ nguồn lực này mà họ có điểm tựa vươn lên, cải thiện dần cuộc sống, cùng nhau phái triển, cùng nhau tiến bộ

Bản chất xã hội của Bảo đảm xã hội thể hiện rất rõ nét khi xem xét về đôi lượng áp dụng Theo đó, Báo đảm xã hội áp dụng với mọi thành viên tronu xã hội kể cả những người không quốc tịch, quốc tịch nước ngoài (theo quy định pháp luật m ột số nước), ơ đây không có sự phân hiệi giới tính, chính kiến, tồn giáo, chúng tộc, vị trí xã h ộ i bởi lẽ xél cho cùng, bất kê’ cá nhân nào cũng đều không thể trù liệu nổi cho những biến cố sẽ hoặc sắp xảy

ra với mình Ý iưởng mõi người vì m ột người, một người vì mỗi người là nền tảng căn bản đổ quy định các chế độ hảo đảm xã hội Bảo đảm xã hội thể hiện trách nhiệm của mỗi thành viên kết hựp với sự chăm lo chung của cả cộng đồng, vừa thể hiện trình độ văn minh và tính lổ chức xã hội vừa thế hiện bản ehấl nhàn văn, tinh người của mỗi cá nhân

Mang trong mình bản chất xã hội sâu sắc nhưng cũng cẩn hiểu rõ rằng Bảo đảm xã hội không phải là sự han ơn, sự chiếu cố của xã hội đối với những thân phận thấp hèn, những người cùng cực mà đó là trách nhiệm cúa

xã hội, của cộng đồng đối với thành viên của mình Điều này phải được mọi người dân Irong xã hội nhận thức đúng đắn nếu không Bảo đảm xã hội với các khoản trợ cấp sẽ chí đơn thuần là khoản tiền tiết kiệm- dưới góc độ kinh

tế và hán chất xã hội, ý nghĩa nhân văn cao đẹp cúa Bảo đảm xã hội sẽ kliông còn

Về bản chất kinh tế có thể khẳng định ngay Báo đảm xã hội khồng nhàm mục đích kinh doanh, lợi nhuận nhưng lại là công cụ thực hiện phàn phối lại thu nhập xã hội Khi gặp khó khăn, lúi ro, biến cố dẫn đến ihu nhập

Trang 13

hi giám hoặc mất, thậm chí còn táng chi tiêu ngân sách gia đinh các đối tirợnu cần đến một lượng tiền hoặc phương tiện nhằm trang trải và bù đắp cho các tổn iluít Trong n ường hợp này, Báo đảm xã hội với các khoản trợ cấp của mình sẽ là khoản thay thế thu nhập, giúp đối tượng vượt qua khỏ khăn Trên phạm vi loàn xã hội, bản chất kinh tế của Bảo đảm xã hội thể hiện bằng việc thực hiện chức năng phân phối lại thu nhập xã hội Sự phàn phối này tiến hành theo hai cách phân phối “theo chiều ngang” và phân phối “theo chiều

dọc" Phân phối theo “ chiều ngang" là sự phân phối giữa người khoẻ mạnh và

người ốm đau, người đang làm việc và người đã nghỉ, người trẻ luổi và người lớn tuổi, người có việc và người không có việc làm nam và nữ, người đã được hưởng trự cấp và người chưa hưởng Phân phối theo “chiều d ọ c ” sự

phân phối giữa người có thu nhập thấp và người có thu nhập cao, người giàu

và nu ười nghèo Đây là sự “chuyển giao" một phần thu nhập của nhóm

người có thu nhập cao, đời sống đú đầy hơn cho nhóm người “yếu thê”, có khó khăn trong cuộc sống Sự phán phối này thực hiện bằng nhiều hiện pháp

kỹ thuật khác nhau dưới hình thức trực tiếp và gián tiếp Hình thức trực tiếp như thu thuế trực Ihu, thuế thu nhập, kiểm soái giá ca bù giá, phụ cấp Hình thức gián liếp như trự cấp thực phẩm, cung cấp dịch vụ công cộng về

giáo dục, y tế, nhà ở, giúp đỡ bà mẹ và tre e m Phân phối “theo chiều dọc”

như vậy có ý nghĩa xã hội rất lớn, tạo ra nguồn lực Irong hoại động Bảo đảm

xã hội Tuy nhiên cũng phải lưu ý rằng sự phân phối này không có nghĩa là lấy cú a người giàu chia cho người nghèo một cách cực đoan hay phân phối manu tính hình quân Sự phân phối này còn dựa trên nguyên tắc phân phối theo lao động, đám bảo công bằng mà ở đó có ngưừi được trợ giúp nhiều, nuười được trợ giúp ít Phần hưởng của người thụ hưởng còn phải được tính toán trên cơ sớ đóng góp và mức độ của các rủi ro, biến cố

Như vậy, mặc dù không vì mục đích kinh doanh, lợi nhuận nhưng bảo đảm xã hội vẫn thể hiện bản chất kinh tế qua chức năng phân phối lại thu nhập của các thành viên trong xã hội và cơ chế đóng - hưởng ở phần lớn các chê độ Báo đám xã hội Song, bản chất kinh tế của Báo đàm xã hội sẽ được nhìn nhận thấu suốt hưn khi đặt bên cạnh bản chất xã hội cúa Bảo đảm xã hội hói lè Báo đảm xã hội mặc dù là một phạm trù kinh tế - xã hội tổng hợp nlurntí lại mang trong mình tính xã hội sâu sắc

Trang 14

Thứ nhất, về đối tượng, Báo đám xã hội cỏ phạm vi đối tượng rất rộng lớn đó là mọi thành viên trong xã hội không có sự phân hiệt theo thành phẩn

kinh tế, giới tính, tôn giáo, chủng tộc, đảng phái Những thành viên khigặp phải những biến cố, rủi ro, bất hạnh làm cho cuộc sống trư nên khó khăn đều nhận được sự giúp đỡ tương trợ của cộng đồng thông qua hệ thống các chế độ Bảo đảm xã hội Có thể dễ dàng nhận thấy rõ phạm vi đối tượng Báo đảm xã hội qua hệ thống đối tượng hưửng trong các hộ phận cấu thành cúa Bảo đảm xã hội Ví dụ, nếu Bảo hiểm xã hội có đối tượng hưởng là toàn

hộ những người lao động và thậm chí cả thành viên gia đình họ trong một số Irường hợp thì ớ hộ thống Trợ giúp xã hội (Cứu trợ xã hội) hay chăm sóc y tế, dịch vụ c ô n g đối lượng lại là toàn bộ dân chúng Các đối tượng hưởng này không phân biệt, loại trừ nhau ở mỗi bộ phận mà trái lại, thậm chí còn trime nhau nhàm mục đích đem lai sư háo vê toàn diện cho các thành viên.c • . . . .

Xu thố chung của Báo đảm xã hội hiện đại là mỗi quốc gia đều cố gắng hết sức đô mớ rộng phạm vi đôi tượng áp dụng trong mỗi chế độ nhằm cung cấp khả năng bảo vệ cao nhất cuộc sống của mỗi thành viên

Về nội dung, Báo đám xã hội có nội dung chính là sự bảo vệ của xã

hội đối với thành viên của mình Sự bảo vệ này dưực thực hiện ihông qua một

loạt các hiện pháp còng cộng khác nhau Ớ đây có thổ hiểu ‘'biện pháp công cộng" là những cách thức tổ chức và thực hiện từ cộng đồng, xã hội, nhà

nước, lổ chức, cá nhàn Hình thức biểu hiện cúa các biôn pháp này có thểbang tiền, hiện vật, phương tiện hay sự động viên khuyến khích về tinh thần Trên thế giới, mỗi Nhà nước đều thiết lập cho mình mộl hệ thống các chế độ Báo đám xã hội từ đơn giản đến ngày càng đa dạng, phong phú hơn Các chế

độ được thiết kế với phạm vi đối tưựng hưởng, điều kiện hưởng, mức hưởng,quyền và nghĩa vụ của các chú th ể Tổ chức Lao động quốc tế sứ dụng

cụm từ "lưới an toàn xã hội" để chi hệ thống các chế độ Bảo đảm xã hội ở mỗi quốc gia mà theo đó ngày càng dày đặc hơn các “tầng tầng, lớp lớp lưới bào vệ” nhằm nâng đỡ cuộc sống của các thành viên, đặc hiệt là nhỏm người

“yếu th ể '.

Khi xem xét về đặc trưng này, một điểm cần lưu ý đó là vai trò của Nhà nước trong việc quy định, tổ chức và thực hiện bảo đảm xã hội Khác với các hình thức hảo vệ khác, sự bảo vệ của Báo đảm xã hội mang tính cộng đồnti liên phạm vi rộng trong đó Nhà nước giữ vai trò quyết định hằng việc1.3 Những dạc trưng cơ bán của Bào đảm xã hội

Trang 15

quv định các hình thức, hiện pháp háo vệ Nuoài ra, Nhà nước giữ vai trò trung lâm trong việc tạo lập và điều tiết tài chính của Bảo đám xã hội Ví dụ, tron 11 báo hiểm xã hội, ngoài việc quy định các chế độ hảo hiểm, tổ chức thực hiện hầu hếl ở các quốc gia Nhà nước còn bảo hộ cho quỹ thậm chí còn hỗ trợ dóng góp đảm bảo chi trá cho quỹ (Việt nam) Trong chế độ cứu trự xã hội hay các dịch vụ công Nhà nước bảo đảm các khoản trự cấp, đám báo kinh phí xây dựng, phục vụ M ột quốc gia chỉ được coi là vãn minh, phát trien khi sự can thiệp của Nhà nước vào các nội dung Báo đảm xã hội là rộng lớn, có tính quyết định Ngoài vai trò của Nhà nước, nét đặc biệt của Bảo đảm xã hội còn thể hiện ở sự iham gia của toàn bộ cộng đồng dàn chúng Mỗi cá nhân sống trong cộng đồng cứa mình đều có trách nhiệm với những Ihành viên khác và với chính mình Irên cơ sở sự thương yêu, đùm bọc, che chỏ' lẫn nhau Chính vì vậy, Báo đảm xã hội còn là một trong các hoạt động

có lính xã hội cao nhất

Về mục đích, mục đích cùa háo đảm xã hội không gì khác ngoài việc

chónu lại những túng quẫn về kinh tê những khó khăn về mặt xã hội cúa người dân khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập, mất nguồn sinh sống vì gặp rủi

ro, hiến cố như ỏm đau, thương tật, tuổi già, đói nghèo hay những biến cố

lừ lliiên nhiên như thiên tai, hoa h o ạn Là một sự bảo vệ phổ cập và đồng nhất đối với mọi thành viên của tập thể sao cho toàn hộ tập thể (toàn xã hội) đoàn kếl lại hảo đảm sự bảo vệ đó vì vấn đề công bàng xã hội, hạnh phúc, ấm

no cúa mỗi thành viên, Bảo đám xã hội góp phần đảm bảo trật tự an toàn và thúc đáy phái triển, tiến bộ xã hội Để đạt được mục đích đó, mỗi quốc gia đều xây dựng cho mình các chương trình hành động với mục liêu cụ thể cho từng giai đoạn để phấn đấu thực hiện

Trên đây là một vài đặc trưng cơ bản cúa Bảo đám xã hội Vì là một phạm trù kinh tế - xã hội tổng hợp có tính xã hội sâu sắc nên Bảo đảm xã hội cúa mỗi quốc gia khác nhau có những đặc điểm riêng với phạm vi áp dụng, chế độ trợ cấp, phương thức quán lý khác nhau Các yếu tố kinh tế, xã hội chính trị, phong tục tập quán, truyền thống dân tộc .cũng ảnh hưởng sâu sắc tạo nên những đặc điểm liêng của Báo đám xã hội ớ mỏi quốc gia Việt nam cũng là một điển hình khi thiết lập hệ thống Bảo đảm xã hội có nét đặc thù riêng hằng việc quy định chế độ trợ cấp ưu đãi xã hội đối với những người có công với đất nước Điều này thể hiện truyền thống cao đẹp của dân tộc, gấn với lịch sử đấu tranh giải phỏng đất nước của nhân dân ta Do vậy khi xem

Trang 16

xét đến Bảo đám xã hội ở mỗi quốc gia cẩn nhìn nhận một cách toàn diện với các đặc trưng chung và riêng của từng nước.

2 CÁC B ộ PHẬN CẨU THÀNH CÚA BẢO ĐẢM XÃ HỘI

2.1 Các bộ phận cấu thành của Bảo đảrn xà hội theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO).

Như đã đề cập trong phần khái niệm, tổ chức lao động quốc tế ILO đã nêu

"Bao dúm xã hội là sự bảo vệ của x ã hội đồi với các thành viên của mình thống qua một loạt các biện pháp công cộng nhằm chống lại các khó khăn về kinh tế, xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập gây ra bởi ốm đau, thai sả n , lai nạn lao động, thất nghiệp, {hương tật, tuổi già và chết đồng thời đảm bảo chăm sóc V lẻ và trợ cấp cho các gia đình đông c o n ' Qua khái niệm này có

thổ hình dung về các nội dung cơ bán của Báo đảm xã hội với m ột loạt các chế độ Ngày 28 tháng 6 năm 1952, Hội nghị toàn thể của Tổ chức lao động quốc tố ILO đã nhất trí thông qua Công ước số 102- Công ước về Bảo đảm xã hội quy định những quv phạm lôi thiểu, tập hợp các chế độ hiện có cua các nước ti ên thế giới vào một hệ thống gồm 9 chế độ trợ c ấ p “ :

1 Chăm sóc y tế 6 Trợ cấp thai sản

3 Trợ cấp thất nghiêp 8 Trợ cấp tiền tuất

4 Trợ cấp tuổi già (hưu bổng) 9 Trự cấp gia đình

5 Trự cấp tai nạn lao động- bệnh

nụlìề nghiệp

Trong số 9 chế độ này trừ Chăm sóc y tế và Trợ cấp gia đình, 7 chế độ còn lại đều dùng trợ cấp bằng tiền mặt Bảo đảm xã hội hiện nay đã được áp dụng ở hầu hết các nuớc Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế xã hội của mỗi nước khác nhau nên sự đáp ứng các chế độ của hệ thống Bảo đảm xã hội cũnẹ, có phạm vi rộng hẹp khác nhau Vì điều đó mà Công ước 102 cũng chỉ

11 Xem thỏm: Công ước số 102 ngày 28/6/1952 của Tổ chức lao động Quốc tế; “Cẩin nang An sinh xã hội" tập 1 (lịch từ cuốn “Serie o f Manuals on Social Securvii” - i 998 Seid.

Trang 17

đưa ra những quy phạm lối thiểu về Báo đảm xã hội, hơn th ế nữa, Cồng ước cũng quy định rõ các nước phê chuẩn Cồng ước này phải thiết lập ít nhất 3 chế độ trơng 9 c h ế độ và phải đảm hảo bao gồm hoặc chế độ trợ cấp thất nghiệp, hoặc trợ cấp tuổi già, hoặc trợ cấp tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, hoặc trợ cấp tàn tật, hoặc trợ cấp tiền tuất, tuỳ theo sự lựa chọn của mỗi quốc g ia 12

Như vậy nếu xem xét nội dung của Bảo đảm xã hội dưới góc độ các chế

độ thì Bảo đảm xã hội được cấu thành cơ bản bởi 9 chế độ Song, qua các tài liệu nghiên cứu của ILO thì Bảo đảm xã hội được biết đến với những bộ phậnsau 1':

* B ảo hiểm x ã hội (Social insurance).

Đây là bộ phận chủ yếu, trụ cột đóng vai trò quyết định của hệ thống Bảo đảm xã hội Bảo hiểm xã hội là sự bảo vệ mang tính chất xã hội đối với người lao đông và gia đình họ thông qua việc đóng góp vào Quỳ bảo hiểm xã hội để trợ cấp cho người lao động Irong các trường hợp bị giảm hoặc mất ihu nhập gây ra hởi các biến cố như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, tuổi già, Ihất nghiệp Đổng thời Bảo hiểm xã hội cũng đảm bảo sự chăm sóc y tế và trợ cấp cho các thân nhân trong gia đình người lao động, góp phần khắc phục khó khăn ổn định duộc SỊỐng, đảm háo an toàn xã hội

Cho đến nay hầu hết các nước đều có pháp luậl về Báo hiểm xã hội với số lượng các chế độ khác nhau Xu hướng cúa Bảo hiểm xã hội trên thế giới là ngày càng m ở rộng phạm vi đối tưựng áp dụng và số lượng các chế độ, tiệm cận dần với Bảo đảm xã hội14 Chính điều này đã khiến nhiều người nhầm lẫn khi đồng nhất khái niệm Bảo hiểm xã hội và Bảo đảm xã hội

Với vai trò quan trọng và phạm vi áp dụng của Bảo hiểm xã hội, đã có thời kỳ người ta từng, hy vọng sự chu cấp của Bảo hiểm xã hội sẽ đú để Ihoả mãn các nhu cầu của người tham gia hoặc chí ít nó sẽ làm giảm bớt sự cần lliiếl phải sứ dụng các biện pháp trợ giúp khác Song điều đó ỉà quá lạc quan hởi lẽ thực tế còn có nhiều người có những yêu cầu giúp đỡ đặc biệt hoặc bị

' Điều 2 Công ước 102 - Công ước về quv phạm tối thiểu về bảo dảin xã hội của Tổ chức lao dộng quốc tếthỔQg qua ngày 28/6/1952.

1 Xem ilicni: - “Social Security Programs Throughout the World” - Social Security Administration

-1999 và “Cẩm nang An silih xã hội” tập 1 / Sđd và tài liệu phục vụ chương irình lập huấn phát triển chế (lộ bảo hiểm xã hội - Bộ LĐTB&XH và ILO - ỉ 2/1998.

14 Xem thồin: Nguyên văn Phần - ” Một số ý kiến về bảo đảm xã hội”- tài liệu phục vụ nghiên cứu đề tài

Trang 18

rớt ra niỊơài phạm vi của các chế độ Bảo hiểm xã hội Do vậy, Báo đám xã hội còn cần đến nhiều chế độ khác để chăm lo cho đời sống của thành viên cộng đồng Trên thế giới, ngay cà những nước có chương trình Báo đảm xã hội tiên tiến nhất thì bảo hiểm xã hội cũng chí là một bộ phận trong hệ thông các chế độ báo vệ xã hội mà thôi.

Bảo hiểm xã hội có thể được nhìn nhạn qua một vài nét chính như sau:

- Là sư liên kết của những nu ười lao độnu trên cơ sỏ san xẻ trách nhiệm cúa tất cá mọi người lao động Ihông qua sự đóng góp Bảo hiểm xã hội Bảo hiểm xã hội là một phương thức phàn phối thu nhập của người lao độnụ nhưng mang tính xã hội rộng rãi, thực hiện trên nguyên tắc lấy “số đông hù

số ít”, lương trự lẫn nhau

- Nguồn Ihu của Báo hiểm xã hội chủ yếu từ sự đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và một phần tham gia của Nhà nước Sô tiền này hình thành một quỹ tiền tệ tập trung- Quỹ Bảo hiểm xã hội để chi trả trợ cấp theo từng nhánh chế độ Phần quỹ nhàn rỗi được đẩu tư sinh lời để bảo đảm cho nguồn tài chính cúa quỷ Đây là một quỹ an toàn về tài chính đật dưới sự hảo trợ của Nhà nước

- Quyền được hưởng trợ cấp Báo hiểm xã hội phụ thuộc vào s ự đóng góp của người Iham gia bảo hiểm, sự kiện hiến cố, rủi ro và độ suy giảm khả năng lao động, không gắn với hất kỳ điều kiện nào về nhu cầu và tài sàn (không phái tham tra tài sán) Các chế độ trợ cấp Báo hiểm xã hội được chi trả như một quyền hợp pháp của người thụ hưởng nếu Ihoả mãn các điều kiện quy định

- Mức đóng và mức hưởng trự cấp Bảo hiểm xã hội gắn liền với thu nhập (tỷ lộ với thu nhập) của người lao động Các chế độ trợ cấp của Bảo hiểm xã hội được thực hiện trong các trường hợp người lao động phải nghỉ việc nên khôn y có tiền lương, tiền công Trợ cấp háo hiểm xã hội là khoản hù đắp cho thu nhập hị giảm hoặc mất trong các trường hợp này Tuy nhiên, những trường hợp nghi' việc được hưởng trợ cấp phải là những trường hựp rủi ro xảy

ra nuoài ý muốn eúa người lao động

* Cứu tr ợ x ã h ội (T r ợ g iú p x ã hội).

Cứu Irự xà hội được hình thành lừ rất xa xưa trong xã hội loài người gắn với những truyền thống cao đẹp đầy tính nhân vãn của con người Hiểu một cách lổng quát nhất Cứu u*ự xã hội “là sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội về

Trang 19

thu nhập và các điều kiện sinh sống thiết yếu khác đối với mọi thành viên cúa

xã hội trong nhuững trường hợp bất hạnh, rủi ro, nghèo đói không đú khá năng đố’ lự lo cho cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình” 15

Có thể nói trong hệ thống Bảo đảm xã hội, Cứu trợ xã hội được hình thành sớm nhất Từ khi Bảo hiểm xã hội ra đời, vai trò cần thiết cúa Cứu trợ xã hội khổng vì thế mà bị suy giảm, trái lại, ở hầu hết các nước trên thế giới Cứu trợ

xã hôi vẫn là chỗ dựa không thể thiếu đối với một bộ phân tầng lớp dân cư Trong xã hội hiện đại, hình thức Cứu trợ xã hội được mở rộng và có sự điều tiết cúa Nhà nước Cùng với Báo hiểm xã hội và một số chế độ khác, Cứu trợ

xã hội trở thành bộ phận trọng yếu của hệ thống Bảo đảm xã hội

- Đối tượng của Cứu trợ xã hội là mọi thành viên trong xã hội khi rơivào các hoàn cảnh khó khăn, bất hạnh, nghèo đói, tật bệnh không phân biệt về địa vị, thành phần kinh tế, tôn giáo, giới tín h

- Người được hưởng Cứu trợ xã hội không phải trực tiếp đóng góp mà Loàn hộ chi phí do ngân sách Nhà nước đài thọ và sự đỏng góp tự nguyện của các tổ chức xã hội, cá nhân trong và ngoài nước Hình thức Cứu irợ xã hội

có thể hàng tiền hoặc hiện vật, phương tiện hoặc cũng có thể là sự động viên tinh thần, tư vấn giúp đỡ

- Các mức hưởng Cứu irự xã hội dựa trên nhu cầu thực sự ihiêt yếu cúa người thụ hưởng có xem xót đến các yếu tố tài sản và thu nhập của họ (việc thám ira tài sản, ihu nhập thường dùng để xác định mức trợ cấp) Các mức trọ' cấp có tính toán cân đối giữa nhu cầu cứu irợ thực tế và khả năng đáp ứng phù hợp với điều kiện kinh tê' xã hội Mức hương Cứu trợ xã hội mang tính hỗ trọ' chứ không phải là hù đáp cho bằng thu nhập hoặc mức sống trước khi phát sinh nhu cầu cứu trợ

Ngoài ra, cũng cần nhìn nhận Cứu trợ xã hội trong điều kiện hiện đại, Cứu trợ xà hội không còn bó hẹp trong phạm vi quốc gia mà là vấn đề quốc

lố, vượt qua mọi biên giới, rào cản chính trị Mỗi quốc gia đều thừa nhận

" Xem chêm: - Đạị từ điển Tiếng Việt - NXB Van hoá thông tin 1998;

- Từ dien Tiếng Việt - Viện ngôn ngừ học 1992;

- Mạc Van Tiến “Luận án PTS khoa học kinh tế" - Đại học Kinh tê quốc dân;

- PGS PTS Đồ Minh Cương và ITS Mạc Van Tiến Góp phấn íỉổi mới và hoàn thiện chính

sách Bảo đảm xà hội ở nước ta hiện nay” NXBCTQG - 1996.

Trang 20

quyền được cứu trợ thuộc phạm trù quyền con người và hoạt động cứu trợ xã

hội niiày nay nhận được sự quan tâm, thực hiện của nhân dân toàn thế giới

Ngoài hai bộ phận chính như trên, Bảo đảm xã hội còn hao gồm một

sô nội dung khác, việc vận dune như thế nào phụ thuộc vào điều kiện kinh tế,

chính trị, xã hội của mỗi quốc gia khác nhau16:

* T rợ c á p từ q u ỹ c ô n g cộng.

Đây là hệ thống công của Nhà nước Nguyên lấc của hệ thống này cho

phép tất cả công dân và cả những người đã định cư dài hạn trong khu vực

(pháp luật một số nước còn quy định bao gồm cả người nước ngoài sinh sống,

làm việc lại nước sở lại) được hương các trự cấp, không phụ thuộc vào vị thế

xã hội hoặc thu nhập của họ mà tuỳ thuộc vào từng loại khó khăn để hưởng

trự cấp Mức trự cấp thường là đồng nhất không phân hiệt theo tiêu chí tài

sản Đặc trưng của hệ thông nàv là Nhà nước đám hảo cho các khoản trợ cấp,

nguồn tài chính hoặc đại bộ phận tài chính lấy từ quỹ công cộng, người thụ

hướng không phái đóng góp Quvền hưởng trợ cấp thuộc về mọi đối tượng

khổ khăn, trước hết là người già cỏ đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, góa

bụa Ngoài ra, ở một số nước còn thiết lập các dịch vụ y tế, chăm sóc sức

khoe miễn phí cho toàn dàn

* T rợ c ấ p g ia đình

Khác với các bộ phận khác của hệ thống Bảo đám xã hội, nếu các bộ

phận khác nhằm đám bảo sinh kế trong các trường hợp bị ngừng hoặc mấi

thu nhập thì Trự cấp gia đình đáp ứng nhu cẩu khác - nhu cầu phát trien xã

hội Mục đích của Trợ cấp gia đình là nhằm giảm bớt s ự phân biệt mức sống

giữa các gia đình đông con, ít con và các gia đình khác, tạo sự hình đẳng, cơ

may trong đời sông cho mọi tre em Sở <JÌ có trự cấp này xuất phái từ thực tê

là mức thu nhập, tiền lương thường không xét đến quy mô, khuôn khổ gia

đình Mặt khác, các chú gia đình đông con thường gặp khó khăn khi tìm việc

16 Xem ihêm: - cẩiiì nang “All sinh xã hội” Sdcl.

- PGS.TS Đỗ Minh Cươũg 44 Bảo đảm xã hôi - mội số vấn đổ ly luận và thực tièn ” và

Nguyên Van Phần “Một sổ ý kiến vé bảo đảm xã hội ” bài viết phục vụ (lổ tài khoa hex: “Luận cứ khoa

học cho việc dổi mới và hoàn thiện các chính sách Bảo đảm xã hội troag (lieu kiện nền kinh tế hàng hoá

nhiều (lùtnh phần theo (lịnh hướng XHCH ở Việt nam” KX.04.05 - Viện nghiôn cứu khoa học lao động và

các vấn cié xà hội- Bộ LĐTB&XH.

- Tạp chí khoa học kinh tê - luật số 1/2002 Đại học quổc gia Hà nội

Trang 21

làm và phát triển đời sống gia đình Cũng vì vậy mà trong chế độ này nguồn đảm háo thường do chủ sứ dụng lao động đóng góp.

Trợ cấp gia đình thường căn cứ vào số con, tuỳ theo chính sách dân số

và kẽ hoạch hoá gia đình ở các nước khác nhau mà luỹ tiến hay luỹ thoai mức trợ cấp lừ đứa con thứ nhất đến hai, b a Hình thức trự cấp gia đình không chỉ hằng tiền mà còn cả hiện vật, ví dụ như thiết lập giáo dục miễn phí miễn thuế với danh nghĩa gánh nặng gia đình, xây nhà hán giá rẻ cho gia đình đỏng c o n hay bằng hiện vật như chăm sóc trẻ cm trước khi đi học, chăm sóc y tế trước và sau khi đẻ, cung cấp thực phẩm không mất tiền như đường, sữa, thức ă n Mức trợ cấp gia đình ở phần lớn các nước là thấp

Ngoài ra, một số nước còn có hệ thống Trợ cấp gia đình (J() Nhà nước thiết lập và thực hiện dựa trên nguyên lắc dịch vụ công cộng, chi phí trích từ ngàn sách Nhà nước nhằm đàm háo trự cấp cho mọi người làm mẹ làm cha với danh nghĩa chi tiêu gia đình và không liên quan đến việc làm

* C hẻ độ bảo vệ của ch ủ s ử d ụ n g lao động.

Chê độ bảo vệ của chủ sử du nu được hình thành trên cư sở Irách nhiệm cứa chú sứ dụng lao động đối với các tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp xảy ra với người lao động irong quá trình lao động Pháp luật nhiều nước đều quy định người sử dụng lao động phải trả một khoản trự cấp và cung cấp sự chăm sóc y tế cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Người sử dụng lao động có thể tự chi trả trợ cấp và chăm sóc V tế trực tiếp theo luật định (thông qua quỹ cứa doanh nghiệp, quỹ này nằm ngoài quỹ Bảo hiếm xã hội hoặc do doanh nghiệp tự thanh toán) hoặc cũng có thể mua trước háo hiểm cho người lao động tại các cơ quan hảo hiểm và sẽ do các cơ quan này trả ihay

* Các dịch vụ x ã hội.

Các dịch vụ xã hội được coi là biện pháp song hành với Bảo đảm xã hội Dịch vụ xã hội ở đây hao gồm dịch vụ y tế, dự phòng y tế, dự phòng tai nạn dịch vụ đặc biệt đối với người tàn tật, người già yếu hảo vệ trẻ em kế hoạch hoá gia đình Việc đưa những loại dịch vụ này vào hộ ihống Bảo đám

xã hội là luỳ thuộc theo lịch sứ phát trien Bảo đảm xã hội, tổ chức chính trị

Trang 22

-xã hội ỏ mỗi nước, tuỳ theo thứ tự ưu tiên trong cơ cấu và phạm vi của các dịch vụ.

* Q uỹ d ự phòng.

Mô hình quỹ dự phòng chú yếu được hình thành ư các nước đanii phái trien, dụng lao động đóng góp đều đặn vào một quỹ 1'iêng, có ý nghía như một khoán tiền tiết kiệm bắt buộc Khi gặp rủi 1*, già yếu, tàn tật hoặc chết

nu ười lao động hoặc người thừa kế được quyền rút loàn bộ số tiền này cả vốn lẫn lãi, cũng có trường hợp quỹ cho người lao động rút trước một phần khi gặp ốm (Jau, tai nạn hoặc cần mua nhà, xc cộ

Quỹ dự phòng này không manu ý nghĩa thông thườnu của Bảo đám xã hội không dựa trên cơ sở lấy số đông hù số ít, san xẻ cộng đồng Quỹ này cùng không dùng chi cho các trợ cấp định kỳ thay thu nhập khi nghỉ hưu, làn tật, chết và cũng không dùng để tương trợ cho những người khác khi gặp rủi ro Ọuỹ này đơn thuần chí là hình thức tiết kiệm có tính bắt buộc cúa người lao động và người sử dụng lao động, do vậy nó không có lợi cho người lao động khi gặp hiến cố rủi ro cần sự sail xe gánh vác cua cộng đồng Chính

vì vậy mò hình quỹ dự phòng chí lổn lại như một hước quá độ để tiến tới thiết lập quỹ Bảo hiểm xã hội mà thôi

Tóm lại, theo các tài liệu của Tổ chức lao động quốc tế và một sô công

trình nghiên cứu trong nuớc thì Báo đảm xã hội hao gồm: Báo hiểm xã hội: Trợ giúp xã hội (cứu trợ xã hội); Trợ cấp gia đình; Trợ cấp lừ quỷ công cộng;

Sự bảo vệ của người sử dụng lao động; Các dịch vụ xã hội và Quỹ dự phòng Một số tài liệu cũng nhóm những nội dung của Báo đám xã hội thành ba cơ chế ch ín h 1 đó là cơ chế Bảo hiểm xã hội, cơ chế Trự giúp xã hội (cứu trự xã hội) và cơ chế tuỳ nghi Cơ chế tuỳ nghi hao gồm các nội dung còn lại như trợ cấp lừ quỹ công cộng, trợ cấp gia đình, sự bảo vệ của người sử dụng lao động Trên thưc tế chưa có nước nào lư cho ràng hê thống Bảo đảm xã hội cúa mình là đầy đủ và hoàn thiện Hơn thế nữa, các bộ phận của Bảo đảm xã hội không chí dừng lại ở những nội dung vừa nêu mà với ý nghĩa cao đẹp của

nỏ, Báo đám xã hội còn mở rộng các chế độ bảo vệ khác nhàm hướng tới sự háo vệ toàn diện đầy đủ hơn cho các thành viên eúa mình

17 Xem them: KỈS.PTS Đỗ Minh Cương- PTS Mạc Van Tiến “ Góp phần (lồi mới Bảo đảm xã hội - Một

Trang 23

2.2 Các bộ phận cấu thành Bảo đảm xã hội ở Việt nam.

ơ Việt nam, có rất nhiều ý kiến khác nhau xoay xung quanh vấn đề

các nội dung (hộ phận cấu thành) cúa Bảo đảm xã hội Song, theo quan điểm

của đa sô các nhà khoa học thì Báo đảm xã hội được cấu thành bởi 3 bộ phận

chính: Báo hiểm xã hội, Cứu trợ xã hội, Ưu đãi xã hội Tuy nhiên, nếu xem

xét ở phạm vi rộng thì Báo đảm xã hội Việt nam còn hao gồm cả các nội

dung khác như chương trình chăm sóc y tế, xoá đói giảm nghèo, cứu uiúp

người lẩm lỡ mắc tệ nạn xã hội, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc hiệt khó

khăn và cá các loại quỹ tiết kiệm, các loại bảo hiểm khác18 bởi lẽ tất cả các

nội dung này đều nhằm mục đích chung là hảo vệ mọi thành viên xã hội, xây

dựniĩ một xã hội an toàn và mang đậm nét nhân đạo Song, trong phạm vi

luận văn này chúng tôi chỉ xin đề cập chú yếu 3 bộ phận chính cấu thành hệ

thốn li Bao đám xã hội Việt nam là Báo hiểm xã hội, Cứu trự xã hội và Uu đãi

xã hội

Thứ nhất, Bảo hiếm x ã hội Cũng như các quốc gia khác, Bão hiểm xã

hội là hộ phận cơ bản và quan trọng nhất giữ vai trò chú đạo trong hệ thông

Bảo đám xã hội Việt nam Một thời gian dài trước đây Bảo hiểm xã hội Việt

nam bó hẹp vổ phạm vi đối tượng, tài chính phụ thuộc vào ngân sách Nhà

nước, quản lý phân tán, chế độ Bảo hiểm xã hội còn đan xen nhiều với các

chính sách chế độ khác như ưu đãi xã hội, kế hoạch hoá dân số Chuyển

sang nền kinh tế thị trường, Báo hiểm xã hội Việt nam đã được cái cách, sửa

đổi cho phù hợp và hơn bao giờ hết ngày càng phát huy vai trò của mình đối

với đời sống người lao động, củng cố vị trí trụ cột eúa mình trong hệ thống

Báo đám xã hội Đôi lượng Bảo hiểm xã hội được mở rộng tới mọi người lao

động với hai hình thức tham gia bắt buộc và tự nguyộn Chế độ Bảo hiểm xã

hội hao gồm 5 chế độ được thiết k ế lương đối phù hợp với điều kiện kinh tế,

xã hội của đất nước Quản lý và thực hiện Báo hiổm xã hội được tập trung

ihống nhất, quỹ Bảo hiểm xã hội hạch toán độc lập với Ngân sách Nhà nước,

được Nhà nước hảo trợ

Thứ hai, C ứu trợ x ã hội Cứu trự xã hội là một công tác trọng tâm

Ironu chính sách xã hội ở nước la Do điều kiện lịch sứ, đặc điểm kinh tế xã

|s Xom them: - Đổ lài khoa học "Luận cứ khoa học cho việc (lổi mới và hoàn thiện các ch ín h sách Bào

(lúm xã hội trong diổu kiên nén kinh tế hàng hoá nhiểu ihành phẩn theo (lịnh hương XHCH ở Việt nam”

KX.04.05, Viện nghiên cứu khoa học lao dộng và các vấn đề xà hội- Bộ LĐTỈ3&XH.

- Đặng Đức Sail - “ vể thuật ngừ An sinh xã hội” - Tạp chí khoa học Kinh tế - Luật số 1

2002 Đại hộc quốc gia Hà nội.

Trang 24

hội và điều kiện tự nhiốn nên đối tượng cứu trợ xã hội ở nước ta rất lớn Hàng

năm trung hình nước ta phải hứng chịu từ 7 đến 10 cơn bão để lại hậu quá nghiêm trọng về người và tài sản Ngoài ra, là một nước nông nghiệp số hộ đói nghèo ở Việt nam chiếm một tỷ lệ lớn (khoảng 14% số hộ cả nước), sự phân hiệt giàu nghèo diễn ra ở khấp nơi, lối sống chạy theo đồng tiền đã làm náy sinh nhiều vấn đề xã hội như: người già cô đơn, người tàn tật, người lang thang cơ nhỡ, trẻ em bị bỏ rơi, người mắc tệ nạn xã hội Những vấn đề này khiến cho công tác cứu trợ ở Việt nam trở nên phức tạp

Pháp luật Cứu trọ' xã hội Việt nam được thực hiện theo hai chế độ Cứu trợ xã hội thường xuyên và Cứu trợ xã hội đột xuất Cứu trự xã hội thường xuyên áp dụng với các đối tượng người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tậl nặng với các hình thức bằng tiền, hiện vật (thuốc men, phuơng tiện trợ giúp .) đổ đối tượng cải thiện cuộc sống, phái huy khả năng tự lo liệu vươn lèn hoà nhập cộng đồng Cứu trự thường xuyên vừa có tính tức thời, vừa có tính ổn định lâu dài Cứu trự xã hội đột xuất áp dụng với các đối tượng gặp

l úi ro, hoạn nạn cuộc sống bị de đoạ nghiêm trọng do các nguyên nhân thiên tai, hoa hoạn C hế độ cứu trợ này có tính “tức thời”, “cấp cứu”, nếu không có cứu trự có thể nguy hại đến cuộc sống của đối tượng Ngoài hai chế độ cứu Irự này, hoạt động cứu trự xã hội cũng được thực hiện với các chương trình xoá đói giảm nghèo, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khỏ khăn, nâng

đỡ người lẫm lỡ mắc tệ nạn xã hội

Với ý nghĩa và mục đích cao đẹp, cùng với Bảo hiểm xã hội, Cứu trợ

xã hội là một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống Bảo đảm xã hội Việt nam Đ ặt trong điều kiện kinh tế - xã hội Việt nam hiện nay thì Cứu trự xã hội càng đặc biệt có ý nghía khi xã hội còn một bộ phận ỉớn những đối tượng cần cứu trợ, giúp đỡ

Til ứ ha, ư u đ ã i x ã hội Ưu đãi xã hội là một bộ phận đặc thù trong hệ thống Bảo đảm xã hội Việt nam Nếu xem xét hệ thống Bảo đảm xã hội của ILO thì không thấy có nội dung này Song, xét về mục đích, đối tượng thì

Ưu đãi xã hội thực chất là một nội dung của Bảo đảm xã hội xuất phát từ

truyền thống “uếng nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng c â y ’ Chính vì

vậy, Ưu đãi xã hội không phải là vấn đề mới mẻ, nó gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta

Một điểm lưu ý, là không chí có Việt nam mới có bộ phận này trong

hệ ihống Bảo đảm xã hội Mộl số nước khác cũng thể hiện nội duntỉ này

Trang 25

tronu hệ ihống Bảo đảm xã hội cúa mình Ví dụ: ớ Trung quốc, trong pháp luật Bảo hiểm xã hội cũng có quy định chế độ ưu đãi đối với những người “rớ

íhătìh lích dặc biệt” - đó là những người có công trong cách mạng XHCN và

xây dựng CNXH Còn ở Pháp, trong Bộ luật lao động, chương Việc làm cũng

có điều khoản ghi rõ ưu đãi đối với lhương hinh và vợ con liệt sì Hay ớ Liên xỏ cũ, những thương binh trong chiến tranh vệ quốc được trự cấp cao hơn 10% so với quân nhân bị tai nạn khi phục vụ quân đội cỏ cùng thương lật, các thương binh được giảm 50% tiền nhà ờ, !ò sưởi, chất đốt, phí giaothông cổng cộng Tuy nhiên các quốc gia thường quy định nội dung ưuđãi lổng ghép trong các chế độ Bảo hiểm xã hội hay Cứu trợ xã hội Việc đặt

Ưu đãi xã hội thành một bộ phận riêng trong hộ thống Báo đảm xã hội Việt nam là một nét đặc thù xuất phát từ truyền thống, đạo lý và lịch sử của dân tộc và đây thực sự là bộ phận không thổ thiếu được trong hệ thống Bảo đám

xã hội Việt nam

Ưu đãi xã hội được hiểu là sự phàn ánh trách nhiệm của Nhừ nước rộiiiỊ dồng và toàn x ã hội, lù sự d ã i ngộ đ ặ c biệl hơn mức bình thường vê m ọi

m ặt troiiiị đời sông vậí chá) và linh thần dối với người có công vù đang gập

khó khăn trong cuộc số n g 19 Đây là một chính sách xã hội lớn nhung dưới góc độ là một bộ phận của hệ thống Bảo đảm xã hội, sự ưu đãi xã hội trong Bảo đàm xã hội chỉ thực hiện đối với những đối tượng có công với đấl nước,

họ được hưởng những ưu liên, ưu đãi hơn so với những đối tượng khác có cùng hoàn cảnh

- Đỏi tượng hưởng ưu đãi xã hội là những người có công với cách mạng và thân nhân của họ như Liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, Anh hùng lực lượng

vũ Irang, Bà mẹ Việt nam anh hùng, thương bệnh hĩnh

- Những người hướng ưu đãi xã hội không phải đóng góp Khi mộl người được công nhận là có công với Cách mạng thì đưưng nhiên người đỏ cũng ihuộc diện hưởng các chế độ ưu đãi Cơ sỏ để xác định mức Irợ cấp ưu đãi xã hội là thời gian và mức độ cống hiến của đối tương

- Quyền hưởng trợ cấp Ưu đãi xã hội không chỉ dừng lại ở các mức trợ cấp (hàng tháng, 1 lần, mai táng phí .) mà còn được hướntỉ những thuận lợi

Trang 26

hem ưu đãi hơn trong các hoạt động về văn hoá, giáo dục, đàơ tạo, giải quyết

việc làm trự cấp quyền sử dụng đất, miễn giảm thuế

- Nguồn chi trả trợ cấp Ưu đãi xã hội chú yếu do Nhà nước đám nhiệm, ngoài ra còn huv động cả kinh phí cua các quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”,

quỹ quốc gia về giải quyết việc làm và từ các cá nhân, tổ chức Việt nam

và quốc tế

Với các bộ phận cư bản cấu thành hê thống Bảo đảm xã hội Viêt nam

như đã trình bày là phù hựp với điều kiện lịch sử, kinh tế xã hội cúa Việt nam

và thông lệ chung của quốc tế Tuy nhiên, trong mỗi hộ phận cấu thành của

hệ thống Bảo đảm xã hội Việt nam lại có những điềm khác biệt và có phạm

vi tác động riêng mặc dù đều chung một mục đích là tạo một hệ thống “lưới

an toàn” nâng đỡ đời sống vật chất và linh thần cho toàn bộ thành viên xã

hội Ch áng hạn, về đối tượng, trong hệ thống Bảo hiểm xã hội đối tượng

chính là người lao động gắn liền với quan hệ lao động Đối tượng cúa Cứu trợ

xã hội bao gồm toàn dân không phân biệt tuổi tác, giói tính, thành phần

mà chi xem xét đến hoàn cảnh cá nhân, tình trạng tài sản tại thời điểm phát

sinh nhu cầu cứu trợ Còn Ưu đãi xã hội có đối tượng chủ yếu là những người

có công với đất nước, với nhân dân thể hiện truyền thống đạo lv của dân

tộc Điều đó cho thấy m ặc dù là bộ phận chính, giữ vai trò quan trọng nhất,

vai trò “trụ cột” , “xương sống” của toàn bộ hệ ihống Bảo đảm xã hội vói

phạm vi đối tượng hưởng rộng lớn nhưng không có nghĩa là Bảo hiểm xã hội

bao trọn được tất cả mọi thành viên trong xã hội mà còn phải cần đốn các bộ

phận khác để tạo ra “tầng tầng lớp lớp” hệ thống bảo vệ đối với toàn bộ dân

cư Trên góc độ toàn diện, đôi tưựng hưởng trong từng bộ phận của hệ thống

Báo đảm xã hội không những không tách biệt rõ ràng, không loại trừ nhau

mà có khi lại trùng nhau, bổ sung cho nhau nhằm đưa đến sự báo vệ toàn

diện cho toàn bộ dân chúng Đây cũng là cơ sở để lý giải mội thực tế trong

nhiều trường hợp đối tượng hưởng cua các chế độ trong hệ thống Báo đảm xã

hội lại trùng nhau, họ được hưứnũ, quyền lợi từ tất cả chế độ Bảo đảm xã hội

nếu đu điều kiện

Ngoài ra cũng cần xem xét một số điểm khác biệt nữa giữa các hộ

phận cúa hệ thống Bảo đảm xã hội Việt nam để có nhận thức toàn diện hơn

khi đề cập đến các bộ phận cấu thành hệ thống Bảo đảm xã hội

Về trợ cấp, Bảo hiểm xã hội nhằm hù đắp những thiếu hụt khi đối

iượnỉỊ bị giảm hoặc mất thu nhập thường xuyên Nói cách khác, trong khi

Trang 27

Bảo hiếm xã hội đánh vào thu nhập thường xuyên của người lao động thì Cứu trự xã hội chí trợ giúp, giúp đỡ cho những người lâm vào hoàn cảnh thực sự khỏ khăn túng quẫn cần có sự giúp đỡ về vật chất mới có thể vượt qua được hoàn cảnh hiện tại Còn trợ cấp Ưu đãi xã hội, ngoài việc nhằm đảm bảo ổn định đời sống của đối tượng hưởng còn nhằm suy tôn công trạng, cổ vũ phát huy truyền thống hi sinh cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc khi đất nước lâm nguy.

Về điều kiện hưởng trợ cấp Để được hưởng trợ cấp Bảo hiểm xã hội

người lao động phải đáp ứng một số điều kiện như độ tuổi, mức đóng góp bảo hiểm xã hội, độ suy giảm khá năng lao động Tuỳ từng chế độ hưởng cụ thể

mà các điều kiện này trở thành chú yếu hay thứ yếu Trong Cứu trợ xã hội, điều kiện để hương trợ cấp cứu trợ xã hội lại không căn cứ vào mức đóng góp, mức thu nhập trược khi phát sinh nhu cầu cứu trợ mà chỉ xem xél đến hoàn cảnh cá nhân, tình trạng tài sản tại thời điểm phát sinh nhu cầu cứu trợ Trái lại điều kiện hưởng trợ cấp Ưu đãi xã hội lại không đặt ra cho các đối tượng hưởng Một khi đã được công nhận là có công với đất nước, đáp ứng các vêu cầu trư thành Liệt sỹ, thương binh, Anh hùng lực lượng vũ trang, Bà

mẹ Việt nam anh hùng thì đương nhiên được hưửng trợ cấp ưu đãi xã hội theo quy định

Về nghĩa vụ và quyền lợi của người hưởng trợ cấp Trong Báo hiểm xã

hội, để được hưởng trợ cấp người lao động phải đỏng góp phí vào quỹ bảo hiểm còn đối tưựng hưởng của Cứu trự xã hội và Ưu đãi xã hội không phải đóng góp Về quyền lợi, trong Bảo hiểm xã hội người lao động được hưởng các chế độ trợ cấp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tứ luất tuỳ theo loại hình tham gia, ngoài ra họ còn được hưởng bảo hiểm

V tế theo Điều lệ Bảo hiểm y tế Với Cứu trợ xã hội, có các chế độ cứu trợ xã hội thường xuyên và cứu trợ xã hội đột xuất áp dụng đối với các đối tượng cụ thể Do tính chất của Ưu đãi xã hội là “đền ơn đáp nghĩa” nên quyền lợi của người hưởng ngoài việc được hưởng trợ cấp hàng tháng, một lần các đối lượng và nhân thân của họ còn được hưởng những ihuận lợi hơn trong các hoạt động về văn hoá, giáo dục đào tạo, giải quyết việc làm, vay vốn phát triển kinh tế, miễn giảm thuế

Về nguồn kinh phị phục vụ cho các chế độ trợ cấp Việc thực hiện Ưu

đãi xã hội, Cứu trợ xã hội, Bảo hiểm xã hội được đảm bảo từ các nguồn và phương tiện tài chính khác nhau Đối với Bao hiểm xã hội, nguồn kinh phí

Trang 28

chi trá cho các chế độ trự cấp được lấy từ quv bảo hiểm xã hội Quỹ này được hình thành chủ yếu do sự đóng góp của người lao động, người sứ dụng lao động và Nhà nuớc hỗ trợ trong những trường hợp nhất định Trong khi đó, công tác Cứu trợ xã hội và Ưu đãi xã hội là trách nhiệm chung của toàn xã hội nôn nguồn kinh phí đế thực hiện được Ỉ1UV động từ mọi nguồn lực, chu yếu vẫn là ngân sách Nhà nước ngoài ra còn có sự đóng góp của cá nhân, cơ quan lổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước và từ chính từ nỗ lực bán ihân đối tương, Trong việc thực hiện chế độ Uu đãi xã hội với người có công, ngoài phần chi của ngân sách Nhà nước, Nhà nước còn sử dụng kinh phí trong quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”, quỹ quốc gia về việc làm, quỷ xỏa đói giảm nghèo và khuyến khích các tổ chức, cá nhân trực tiếp giúp đỡ chăm nuôi

nu ười cỏ cỏn‘4

2 NGUYÊN TẮC CỦA BẢO ĐẢM XÃ IIỘI

Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, chúng tồi xin trình bày một sô nguyên tắc cơ bản cúa Bào đảm xã hội theo quan niệm cúa ILO2" Theo ILO, Bào đám xã hội phái tuân theo những nguyên tắc sau:

- Bào đứrn xã hội thực hiện đôi với mọi thành viên xã hội Cơ sở của

nguyên lắc này xuất phát từ lịch sứ ra đời và mục đích của Bảo đảm xã hội Bảo đám xã hội chỉ đạt được mục đích của mình khi bảo vệ được lất cả các thành viên xã hội mà không có sự phân biệt Nói cách khác, Báo đảm xã hội không phải là đặc quyền của cá nhân, tổ chức hay nhỏm xã hội nào mà là quyền cúa mọi cá nhàn sống trong cộng đồng Mỗi cá nhân đều là thành viên cúa cộng đồng, Bảo đảm xã hội lại là sự tương trợ cộng đổng do vậy không thể loại trừ cá nhân nào nếu không sẽ làm mất tính xã hội của Bảo đám xã hội Không những thế, Bảo đảm xã hội còn được ghi nhận như một quyền cơ hán của con người ( Điều 22 - Tuyên ngôn nhân quyền của Liên hiệp quốc) Thực tố cho thấy mỗi quốc gia đều nhận thức rõ vấn đề này và đều quy định phạm vi áp dụng của Báo đảm xã hội là mọi ihành viên xã hội khi gặp phải những biến cố, rủi ro, hất hạnh với hệ thông các chế độ trợ cấp cụ thể

- Xác định vai trò của Nhà nước lủ vô cùng quan trọng trong hoạt íỉộm> Hào đảm xã hội Lịch sử ra đời của Bảo đảm xã hội đã chứng minh một

cách hùng hổn vai trò của Nhà nước trong hoạt động Bảo dam xã hội Nếu không có sự can thiệp cúa Nhà nước, hoạt động Bảo đảm xã hội đơn thuần

Xem ihêín: - “Cẩm nang An sinh xà hội” tập 1, 2 Síid;

- “Đổi mới chính sách xã hội - Luận cứ và giải pháp” - NXb (ìiính trị quốc gia 1997;

Trang 29

chí dừnu lại ớ những phương thức đơn giản như tiết kiệm, “ tích cốc phòng

cơ, lích y phòng hàn” và không đảm bảo tính công bằng trong phạm vi rộng Trong xã hội hiện đại, vai trò của Nhà nước càng trỏ nên quan trọng hơn hao giờ hết Bằng pháp luật Nhà nước quy định hệ thống chế độ, tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện hoạt động Bảo đảm xã hội Hầu hết ở các nước, nguồn chi trả trợ cấp Bảo đảm xã hội đều có sự đóng góp của Nhà nước

(thè hiện rõ nhất ờ chế độ Cứu trợ xã hội, hệ thống các dịch vụ công và

thậm chí kể cả trong Bảo hiểm xã hội) Qua đây chúng ta thấy Nhà nước bao giờ cũng gánh vác một trách nhiệm rất nặng nề, giữ trọng trách điều tiết toàn

hộ sự nghiệp Bảo đảm xã hội Và có lẽ, trong một cộng đồng chính trị, chí có Nhà nước mới có đầy đủ các điều kiện, khả năng thực thi các công việc đó Mặt khác, cũng cần phải thấy rằng Báo đàm xã hội còn là trách nhiệm của Nhà nước đôi với công dân của mình, thể hiện trình độ văn minh của xã hội

do vạy không thể thiếu được vai trò quan trọng cúa Nhà nước

- Bão đảm x ã hội thực hiện trên sà ,ãsố đông hù sô í t ” Nền tảng

của Báo đảm xã hội là sự tương trợ cộng đồng, gánh vác chia sẻ rủi ro, khó

khăn iheo tinh thần “mọ/ người vì mội người, một người vì mọi người" Việc

huy động số đỏng người đóng góp cho số ít người hướng thụ là hán chất của Bảo đám xã hội Phải thực hiên lốt nguyên tấc này thì mới có thể đảm bảo lài chính cho hoại động Bảo đảm xã hội và mặt khác, thể ý nghía nhân đạo, nhân văn d ía Bảo đảm xã hội Nguyên tắc này thể hiên trong tất cả các chế độ Bảo đảm xã hội Iheo đó cà cộng đồng gánh vác rủi ro cho số lì người “yếu thế”, khó khăn; người khỏe, có việc làm, có thu nhập chia sẻ bớt cho những người

ốm đau, già cả, thất nghiệp, tai nạn Theo nguyên tắc đó những rủi ro, khó khăn được dàn trải trong phạm vi rộng để đối tượng có cơ hội dỗ dàng vượt qua khỏ khăn, hoà nhập cộng đồng

- Bảo đảm xã hội phải thực hiện trên nguyên tấc cóng bằng và bình dẳng Báo đám xã hội phải có tính thống nhất trong phạm vi quốc gia, có tính

đến các yếu tố đặc thù (khí hậu, môi trường, điều kiện cư sở hạ tầng )

- Trong một số các chế độ Báo đảm xã hội phải thực hiện nguyên tắc cản đôi iịiììa đóng góp và hưởng ilìự (nguyên tắc phân phối theo lao động)

Phần lớn các chế độ Bảo đảm xã hội gắn liền với thu nhập của người lao động (Bảo hiểm xã hội) do vậy phải đảm hảo được sự công hằng xã hội, ai đónu góp nhiều hướng nhiều, đóng góp ít hương ít, mức trợ cấp không được cao hơn thu nhập khi làm việc, người không làm việc được hương ít hơn

Trang 30

người đang làm việc Sư dì phái thực hiện nguyên lắc này bởi lẽ ngoài việc manu trong mình mục đích cao cả, tính xã hội sâu sắc, Bảo đảm xã hội còn mang trong mình nội dung kinh tế Nguyên tấc này chủ yếu thể hiện trong các chế độ Bảo hiểm xã hội.

- Da dạng ìioá cá c hình ihức Bảo đảm hội và m ở rộng đ ố i tượng hương trên CƯ sở phù hợp điều kiện kinh t ế x ã hội Đây vừa là nguyên tác

của Bảo đảm xã hội, vừa là mục đích phấn đấu của hầu hết các quốc gia Lịch

sứ đã chứng m inh sự phát triển của Bảo đảm xã hội bằng việc ngày càng bổ sung các chế độ trợ cấp và mở rộng phạm vi đối tượng hưởng Tuy nhiên, mỗi quốc gia đều phải căn cứ vào điểu kiện kinh tế, chính trị xã hội và lịch sử của mình để quy định nhàm đám báo tính khả thi và sự phát triển chung của

đã thay đổi mà Bảo đảm xã hội không đổi mới thì sẽ là trì trệ, là vật cản cho

sự phát triển Do vậy cần sự kết hợp hài hoà đồng bộ giữa Bảo đảm xã hội và các chính sách kinh tế xã hội khác

3 Ý NGHĨA CỦA BẢO ĐẢM XÃ HỘI

- Trước hết Bảo đâm x ã hội th ể hiện một cách r õ nét quyên con người -

quyền được sống trong hoà bình và trật tự, được hình đắng giữa các thành viên trong xã hội, giữa những người bình thường và những người tàn tật khiếm khuyết hay những người không may rơi vào hoàn cảnh khó khăn đặc hiệt; quyền được thương yêu đùm bọc, che chắn và bảo vệ trước nhữnu biến

cố, hất lợi xảy ra với họ Quyền này đã được ghi nhận trong Tuyên ngồn

nhân quyền cúa Liên hiệp quốc ngày 10 thang 12 năm 1948 " mọi người đều cố quyền liưởng một cuộc sống đủ đ ể đảm bảo sức khoe' và nhu yếu của mình cùng gia đình nhất là về ăn uống, nhà ở, thuốc men, mọi người đều có

Trang 31

qu y én hương bả o đảm x ã hội trong cá c trường hợp thất nghiệp, ốm đau í CUI lật 1ỊOÚ bụa, tuổi giù hoặc trong cá c trường hợp m ất kết sinh nhai x ả y ru ngoài ý muốn Như vậy với lư cách là thành viên của xã hội mọi người đều

cỏ quyền hưởng Bảo đám xã hội.21

Mỗi quốc gia đều thiết lập cho mình một hệ thống các chế độ Bảo đảm

xã hội nhằm đảm bảo quyền con người, quyền này được xây dựng trên nền lãnụ thoá mãn các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá cần thiết cho phẩm giá và

sự phát triổn nhân cách cua mỗi cá nhân, Nói cách khác, khi các nhu cầu thiết yếu của con người không được đám hảo rất dễ dẫn đến phẩm giá và nhân cách của họ không được đảm bảo, xã hội sẽ trở thành bất ổn, thiếu an toàn Cũng chính vì vậy mà ở một khía cạnh nào đó Báo đảm xã hội là thước

đo độ an loàn cúa xã hội thể hiện trình độ vãn minh, tiến bộ của mỗi quốc gia

- B ảo đảm x ã hội V nghĩa nliún dạ o ca o đẹp Báo đảm xã hội tạo cho những người hất hạnh, kém may mắn có nhiều điều kiện, lực đây cần Ihiêì để khác phục những biến cố những rủi ro giúp họ có cơ hội phát iriển

đê hoà nhập với cộng đồng, kích thích tính lích cực trong mỗi cá nhân, chống

lại lói sống ích kỷ, tư tưởng “đèn nhà ai, nhà ấy rạ n g ” Bảo đảm xã hội

nhằm hướng tới những điều cao đẹp trong cuộc sống, hoà đổng mọi người, không phàn hiệt chính kiến, tôn giáo, chủng tộc, đảng phái vào một xã hội nhàn ái, một cuộc sống công bằng bình yên và an toàn cho mọi thành viên Thực tế cho thấy mồi quốc gia Báo đảm xã hội đã trở thành “lưới đỡ" cứu

vớt những thân phận “yếu thê" trong xã hội, là sự bảo vệ không thể thiếu

được đôi với mỗi cá nhân

- Hào đảm x ã hội góp phần thực hiện công bằng x ã hội Dưới giác độ

xã hội Báo đám xã hội là công cụ để cải thiện đời sống của mọi tầng lởp dàn

cư, đặc hiệt là những người nghèo khỏ, hất hạnh Ó khía cạnh khác, Bảo đám xã hội lại là công cụ đê thực hiện công hằng xã hội, Ihựe hiện chức năng phân phối lại thu nhập quốc dân bằng các hình thức “phân p h ô i theo chiều

d ọ c ' '"'phân plìối theo chiều ngang” Theo đó “phản p h ố i theo chiều dọc”

đặc biệt cỏ ý nghĩa trong việc thực hiện cồng bằng xã hội bằng việc “chuyển giao" một phần thu nhập của người có thu nhập cao cho người có thu nhập thấp thông qua các hình thức trực tiếp và gián tiếp Seing, cũng xin lưu ý rằng điều này không có nghĩa là lấy của người giàu chia cho người nghèo một

:i Xem ihỏin: “ Mội sô vấn (iề về chính sách hảo đảm xà hội ở nước ta hiện nay” - Viện khoa học lao (lộng

Trang 32

cách cực đoan hay phân phối bình quân mà còn phái đảm háo tính công bằng ngay trong cơ chế đóng góp, hưởng thụ, phàn chia nguồn lực.

- tìảo đàm x ã hội góp phản thúc đẩy tiến bộ xã hội Xét cho cùng, các

chiến lược phát triển của các quốc gia đều nhằm vào mục đích cuối cùng là đảm háo và có những cải thiện nhất định cho hạnh phúc của mỏi người dân

và lợi ích cho toàn xã hội Trong sự phát triển đó Bảo đảm xã hội có những đónti góp quan trọng Ý nghĩa của Bảo đám xã hội thể hiện ở chồ bằng hệ

thông "lưới an toàn của mình", Bảo đảm xã hội làm giảm bỏt sự khó khăn

khôn cùng cho những người nghèo khổ nâng đỡ họ khỏi rơi xuống đáy của xã hội từ chỗ đó sẽ thu hẹp dần mức sống, giảm bớt bần cùng nghèo đói, cải Ihiện dần đời sống của mọi thành viên xã hội, thúc đẩy sự liến bộ xã hội Sự phát triển của Báo đảm xã hội là minh chứng cho vai trò và ý nghĩa của Bảo đám xã hội trong việc thúc đẩy tiến bộ xã hội hằng việc ngày càng mở ra sự

đa dạng và phong phú trong hoạt động Báo đảm xã hội, llioá mãn nhiều hơn nhu cầu eúa các thành viên trong xã hội làm cho xã hội phát triển hơn theo hướng liến bộ

Mật khác, cũng phải nhận thức rõ vai trò của Báo đám xã hội với tiết kiệm và đầu tư Các loại quỳ Báo đảm xã hội, đặc hiệt là quỹ Báo hiểm xã hôi cũng là nguồn tiết kiệm nội hộ quan Uọng của mỗi quốc gia Đôi với những nước có dân số trẻ, mức sống cao thì đây càng là nguồn quan trọng vì các khoản chi trợ cấp chưa dùng đến được tích tụ dài ngày, nếu biết vận hành lốt sẽ sinh lợi, giúp tăng trưởng quỹ Pháp luật hầu hốt các nước đều cho phép dùng tiền nhàn rỗi của quỹ Bảo hiểm xã hội để đầu tư sinh lợi với những nguyên lấc chật chẽ Với những hoạt động này cho thấy Báo đảm xã hội khônu chỉ có ý nghĩa góp phần thúc đáy tiến bộ xã hội mà còn có ý nghĩa tro nu việc tiết kiệm nội bộ và đầu tư, phát triển kinh tế

- Báo đảm xã hội thê hiện sự đoàn kết tương thân tương ái của cộng dồng, ró V nghĩa tronỊỊ việc hoàn thiện những giá trị nhún bàn của con người

Khổng vì mục đích kinh doanh, lợi nhuận, Báo dám xã hội xuất phát từ nhu cáu tự nhiên của con người, dựa trên sự san sẻ của cộng đồng, gánh vác rúi

ro cứu VỚI nhau lúc hoạn nạn Điều đó thể hiện lòng nhân đạo, tình người tronu mỗi thành viên cua xã hội Trong sự phát triển chung cúa thế giới, khi

những giá trị vật chất ngày càng “ỉên ngôi” thì Báo đảm xã hội ngày càng đặc

biệl có ý nghĩa hơn khi nó không chí dừng lại ở việc phát huy tính từ tâm, sống có nghĩa cỏ tình của cộng đồng dân cư mà hơn thố nữa nó còn góp phần

Trang 33

giác) dục và hoàn thiện những giá trị nhân bản của con ngưòri nhằm đảm bảo

cho xã hội phái triển lành mạnh

- Báo đảm xã hội không chỉ có ý nghĩa đối với quốc gia mà còn

có ỳ nghĩa quốc tể Ngoài việc thuộc phạm trù quyền con người, là hiểu hiện

trình độ văn minh tiến bộ của mỗi quốc gia, ngày nay trong xã hội hiện đại,

mỗi quốc gia đều nhận thức được rằng Báo đảm xã hội nhận được sự quan

tâm của loàn nhân loại, toàn nhân loại phải có trách nhiệm với nhau hơn

irong một thố giới chung Việc thực hiện Bảo đảm xã hội không bị giới hạn

bới bâì kỳ rào cản chính trị hay địa lý nào (thể hiện rõ nhất trong các hoạt

động cứu irợ xã hội, các hiệp định hợp tác về hảo hiểm xã hội giữa các quốc

gia) vì một thê giới hoà hình, ổn định và phát triển hơn

4 MỘT S ố QUY ĐỊNH VK BẢO ĐẢM XÃ HỘI Ở MỘT s ố QUỐC GIA

Ngay từ khi ra đời, Báo đảm xã hội đã được nhân loại đón nhận như một

sự đám hảo cho họ trong cuộc sống Là một sự bảo vệ phổ cập và đồng nhất

với mọi thành viên cua xã hội vì vấn đề công bằng xã hội và dựa trên nguyên

tắc liên kết, Bảo đảm xã hội ngày càng phát huy vai trò của mình trong đời

sốnu xã hội ở mồi quốc gia Cho đến nay, Báo dam xã hội đã được thực hiện

với hơn 170 nước trên thế giới Tham kháo qua bang tổng kết sau cho thấy sự

phái Il ion cúa Báo đảm xã hội với sự tham gia thực hiện ngày càng tăng của

các quốc gia:

Các loai chê đô \ năm 1949 1958 1969 1979 1989 1995 1999

(Nguồn: "Social Security Programs Throughout the W orld” page xì ì - Social

Sưrurity Acỉminislration - ỉ 999 - Thư viện Trung tâm K ỉ ỉ Bảo hiểm x ã hội

Việt nam)

Trang 34

Nlũrnu con sô trên cho thấy không một nước nào thực hiện được hết ngay từ đầu các chế độ Báo đảm xã hội Thỏniĩ thường hầu hết các nước đã thiết lập hệ thống Bảo đảm xã hội đều chú ý tập Irung vào việc bảo vệ rúi ro (Jo tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đầu tiên Tiếp đó là sự mở rộng sự háo

vệ đến những lĩnh vực lúi ro, biến cô khác Có nước lựa chọn chế độ chăm sóc y lê hay trự cấp ốm đau thai sán là những nhánh có thâm niên đóng góp ngắn, được hưởng trợ cấp nhanh lại dễ đem lại sự tín nhiệm cho hệ thống để thực hiện đầu tiên ( Đức, Hoa kỳ, C anada ), có nước lại chọn trơ cấp hưu trí

để tích tụ được nhiều vốn, tăng đầu tư sinh lợi, có nước lại thiết lập hệ thống háo đám xã hội đầu liên hằng các chế độ cứu trọ' xã hội (các nước Bắc Âu

úc, N iudilân ) Như vậy mặc dù Tổ chức lao động quốc tế (ILO) có đưa ra các quy phạm tối thiểu cho Bảo đảm xã hội nhưng việc tổ chức thực hiện như thố nào hắt đầu từ đâu lại phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội

và lịch sứ Iruyén thống cúa mỗi quốc gia Nhìn vào bảng thống kê cho thấy,

số nước có chê độ bảo hiểm tai nạn bệnh nghề nghiệp là lớn nhất Tiếp đến

là các chế độ hảo hiểm tuổi già, tàn tật và tử tuất Chi khoảng 1/4 số nước được ihỏng kê là có chế độ bảo hiểm thất nghiệp, chú yếu !à ở các nước công nuhiệp theo điều kiện kinh tế thị trường Xu thế chung của Báo đảm xã hội thế uiiVị là mớ rộng tối đa đối tượng hưởng và đa dạng các chế độ trợ cấp nhàm ngày càng bảo vệ hơn nữa các thành viên của xã hội

Từ nãm 1998 Việt nam chính thức tham gia với tư cách là thành viên Hiệp hội an sinh ASEAN Đây thể hiện sự phát triển của hệ thống Bảo đảm

xã hội Việt nam trong những năm vừa qua Hơn thế nữa, Việt nam còn được đánh uiá là một trong những nước rất thành công trong sự nghiệp phát triển

hệ thống Bảo đảm xã hội những năm gầm đây Hiện nay Việl nam đang giữ vai trò Chú tịch Hiệp hội An sinh ASEAN Trong phạm vi đề cập, chúng tôi xin trinh bày hệ thống Báo đảm xã hội một số nước (đặc hiệt là các nước trong khu vực) để có cách nhìn toàn diện hơn, nhàm tiếp thu những thành công của các mổ hình Báo đám xã hội các nước

* B ả o đ ả m x ã h ộ i ở P h ilipin

Trong khu vực, hệ thống bảo đảm xã hội của Philipin được đánh giá là khá thành công, thực hiện nhiệm vụ Bảơ đảm xã hội có hiệu quá nhất trong Hiệp hội Báo đảm xã hội ASEAN Bảo đảm xã hội Philipin hao gồm Hệ thống Báo đảm xã hội (viết tắt là SSS) được thành lập từ 1954 theo Luậl Bảo đảm xã hội ngày 18/6/1954 (đưực sửa đổi năm 1997), hệ thống Bảo hiểm xã

Trang 35

hội giành cho công nhân viên chức nhà nước (viết tắt là GSIS) được thành lập

từ năm 1936 Ngoài ra còn có các chương trình tích luỹ dưỡng cấp tư nhân theo ngành nghề, loại hình này chỉ áp dụng giới hạn cho người lao động Irong các doanh nghiệp tư nhân có quy mô lớn

Qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, sss hiện đang íhực hiện theo Luật Bảo đám xã hội 1997 phê chuẩn ngày 24/5/1997 sss quản lý hai chương trình: Chê độ Báo đảm xã hội và chế độ đền hù cho người lao động Trước năm

1995 sss còn có nhiệm vụ quản lý chế độ chăm sóc y tố hiện nay nhiệm vụ này được chuyển sang cho Liên đoàn Báo hiểm y tế Philipin quản lý sss

được điều hành và kiểm soát bới Hội đồng Bảo đám xã hội gồm 9 thành viên Chú tịch Hội đồng dơ Tổng thống hổ nhiệm

Về đối tượng tham gia, theo Luật bảo đảm xã hội có hai dạng đối lượng tham gia bắt buộc và tự nguyện Nét đặc biệt là ngoài người lao động thuộc khu vực tư nhân, nhóm đối lượng lao động tự do, nông dân, dân chài, người làm việc nhà, người giúp viộc gia đình cũng thuộc đối tượng tham gia hăt buộc nếu đảm bảo một mức Ihu nhập Iheo quy định Đối tượng tự nguyện là những người không còn là hoặc đã ỉà thành viên của sss, người lao động ớ nước ngoài, vợ hoặc chồng người lao động không có việc làm Hiện nay, đối tượng tham gia cúa sss là 21 triệu người chiếm hơn 2/3 lực lượng lao động khu vực tư nhân Các chế độ hưởng Bảo đảm xã hội hao gồm trự cấp

ốm đau, thai sản, mất sức lao động, hưu trí và tử tuất Mức đóng góp vào quỹ hiện nay là 8,4% mức lương Iháng, trong đó người lao động đóng 3,33 %, người sứ dụng đóng 5,07% Ngoài ra, còn cỏ chế độ đồn hù cho người lao động (do chú sử dụng lao động đóng góp hằng 1% lương tháng) nhằm trợ

ui úp cho người lao động khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp như dịch

vụ y tô trợ giúp, điều trị phục hồi chức năng, trợ cấp bằng tiền Ngườihướng các chế độ đền hù lừ Quỷ đền hù cho người lao động vẫn được hưởng các chế độ Bảo đám xã hội hình ill ườn g nếu thoả mãn điều kiện Bên cạnh

đó, sss còn thực hiện cho cá nhân người tham gia đóng góp được vay tiền theo một tỷ lệ nhất định để phụ vụ cho các mục đích xây nhà, đầu tư và giáo dục (đây là nét độc đáo trong hoạt động tăng trưởng quỹ và là một thành công của Phi li pin)

Hệ thống bảo hiểm dịch vụ nhà nước (GSIS) thực hiện bảo hiểm bắt buộc cho tất cả nu ười lao động làm việc trong hệ thống cơ quan hành pháp

và các doanh nghiệp quốc gia khi chưa đến 65 tuổi với các chế độ trợ cấp thất

Trang 36

nghiệp, hưu irí, tứ tuất, thương tật( TNLĐ), trợ cấp nuôi dưỡng và các khoán hảo hiếm nhân thọ khác Mức đóng góp luv thuộc thu nhập, tối thiểu là 9% đối với người lao động, 12% đối với chú sứ dụng lao động.

Philipin là mộl nước thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý và chi trả chế độ Báo đám xã hội cho các đối tượng hưởng Trong khu vực, đây là một nước áp dụng ihông tin hiện đại vào quán lý Báo đám xã hội có hiệu quả nhất điển

hình với mô hình "kiôt thông tin ” cuny cấp thông tin và giải đáp thắc mắc

qua dịch vụ điện thoại 24/24 giờ, hệ thống thu các khoản đóng góp qua hệ thống irao đổi dừ liệu điện tử (EDI) và hệ thống nhận dạng sử dụng sinh trắc học bằng the với các đối tượng22

* H ệ th ô n g bảo đảm x ã h ộ i ở M alaysia

Báo đảm xã hội ở Malay sia được thực hiện chú yếu bởi hai tổ chức: Quỹ phòng xa cho người lao động (EPF) và Tổ chức Báo đảm xã hội (SOSCO)

SOSCO được thành lập ngày 1/1/1971 quản lý việc thực hiện một số chê độ cho người lao động khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, mất sức lao động và chốt theo Luật bảo đám xã hội dành cho người lao động ban hành

! % () và Điều lệ chung về Bảo đảm xã hội han hành 1971 Mức đỏng góp vào quỹ eúa người sứ dụng lao động là 1.7% và người lao động là 0,5% lương tháng Chê độ hưởng hao gồm: chế độ bảo hiểm tai nạn lao động (chế độ y tế, chế độ tàn lật tạm thời, chế độ tàn tật vinh viễn, trợ cấp cho người phục vụ thường xuyên, chế độ đối với thân nhân, trợ cấp mai láng phí, chế độ phục hồi chức năng, chế độ hưởng về giáo dục), chế độ dưỡng cấp m ất sức (dưữnỉí cấp mất sức lao động, trự cấp mấl sức lao động một lần trự cấp cho người phục vụ thường xuyên, dưững cấp tuất, trợ cấp mai táng phí, chế độ phục hồi chức năntĩ)

Quỷ phòng xa cho người lao động (EPF) được thành lập ngày 1/10/1951 và là Quỹ phòng xa cỏ tuổi đời nhiều nhất trên th ế giới Hiên nay quỹ này thực hiện theo Luật Quỹ phòng xa cho người lao động năm 1991 sửa đổi hố sung năm 1995 EPF là hệ thống tiết kiệm bắt buộc của quốc gia do người lao động và người sử dụng lao động đóng góp với hai loại hình bắl buộc và tự nguyện Hàng tháng khoản đỏng góp này được chuyển vào tài

Xem them: http://www.sss.gov.pli.

2')

Trang 37

khoán cá nhân của lừng người Số tiền đóng góp vào quỹ sẽ được đầu tư sinh lợi lợi nhuận được chia và ghi vào tài khoản của từng cá nhân và được tính như liền lãi cổ phẩn hàng năm Khi người lao động đạt được những điều kiện theo quy định thì họ sẽ được nhận lại toàn bộ sô tiền đã đỏng góp cùng tiền lãi Hình thức tham gia của người lao động có hai hình thức bắt buộc và tự nuuyện với phạm vi đối tượng và mức đóng góp riêng Chế độ hưởng bao ụổm: Chê độ hưu trí khi đú 55 tuổi (với các hình thức: rút toàn hộ số tiền đã gứi một lần hướng hàng tháng, chí hưởng liền lãi hàng năm hay lút tất cả để mua háo hiểm nhân thọ) và Chế độ hương trước tuổi nghỉ hưu ( với các chế

độ nhà ở, giáo dục đào tạo, chăm sóc y tế, rút toàn bộ số tiền khi 50 tuổi) Ngoài ra, còn một số chế độ hưởng khác như trợ cấp mất sức lao động, rút toàn hộ số tiền khi khổng tiếp tục cư trú ở Malaysia hay đổi quốc tịch, chế độ thừa kế khi người tham gia chốt, chế độ đầu tư cúa thành viên quỹ, chế độ báo hiểm nhân thọ.2'

* B ả o đ á m x ã h ộ i N h ặ t bản

Hệ ihống bảo đám xã hội ớ Nhật bán hao gồm Bảo hiểm xã hội, Bảo vệ sức khoe cho người cao tuổi, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, phúc lợi xã hội

và trợ giúp cộng đồng Xét về hệ thống chế độ, Nhậl bản cỏ chế độ hưu trí, tai nạn lao động, việc làm, chăm sóc sức khoẻ, trợ cấp gia đình

Nhậi bản có hệ thống đảm bảo chế độ hưu trí cho nhiều tầng lớp dân

cư khác nhau ihông qua “Quỹ hiệp hội tưưng Irự”, “ Quỹ hưu trí cho người lao động do Nhà nước quản lý”, “ Quỹ hưu trí quốc gia” Với ba hệ thống quỹ hoạt động theo Luật hưu trí (sửa đổi bổ sung năm 1985) hầu hết người lao động Nhật bản đều được hưởng cấp hưu trí v ề tai nạn lao động, đối tượng hương là mọi người lao động làm việc trong các đơn vị sản xuất kinh doanh không có sự phân biệt nào Chê độ trợ cấp này hao gồm: trợ cấp y tế, trự cấp giảm sút thu nhập, trự cấp thương bệnh tật, trợ cấp khuyết tật thana thể, trọ’ cấp thân nhân, trự cấp phục vụ, trợ cấp chi phí chôn cất và chi cho các chương trình phúc lợi liên quan đến lao động Báo hiểm việc làm được thực hiện với các chê độ trợ cấp thất nghiệp và ha loại dịch vụ là dịch vụ ổn định việc làm, dịch vụ phát triển năng lực, dịch vụ phúc lợi xã hội cho người lao động v ề chăm sóc sức khoẻ bao gồm bảo hiểm chăm sóc sức khoẻ quốc gia

áp dụng cho nhứng người thường trú tại Nhật bản không thuộc đối tượng của

.Xem ilicin : lmp://wwvv aseau-ssa.org.

Trang 38

Báo hiểm chăm sóc sức khoẻ cho người lao động và Bảo hiểm chăm sóc sức khoe cho người lao động áp dụnt:, cho tất cả công dân Nhậi bản đang tham gia lao động Trợ cấp gia đình áp dụng cho những người thường trú tại Nhậl bản có từ 1 con dưới 3 tuổi trở lên trong đó người sử dụng lao động và Nhà nước cùng đóng góp.

* Bảo đảm x ã hội T rung quốc.

Bảo đảm xã hội Trung quốc cấu thành bởi 4 bộ phân: Các hang mục Bảo đảm xã hội (Trung quốc dùni>, từ “ Bảo chướng xã hội” với niíhĩa “Social Security”) do tài chính quốc gia chi phối gồm Cứu trợ xã hội, phúc lợi xã hội

ưu đãi - trợ cấp - bô trí cho các đối tượng chính sách; Bảo hiểm xã hội do Nhà nước, đơn vị và cá nhân cùng gánh vác; Tương tế xã hội và Đảm hảo hằng dành dụm tích luỹ theo phương thức cá nhân tự trợ Trong đó, Bảo hiểm

xã hội được coi là “hại nhân” của hệ thống Năm 1998 Trung quốc đã có cải

cách lớn trong sự nghiệp Bảo đảm xã hội bằng việc thành lập một bộ mới -

Bộ Lao động và Bảo đảm xã hội (một sỏ tài liệu dịch !à Bộ Lao động và An sinh xã hội) thống nhất tổ chức và quán lý các nội dung Bảo đảm xã hội

Về Cứu trợ xã hội được thực hiện với các chế độ cứu trợ thiên tai, cứu Irự đặc biệt (đối tượng gần như cứu trự thường xuyên của Việt nam), cứu trự nghèo khổ, cứu trự Ihất nghiệp Phúc lợi xã hội gồm ba nội dung: trự cấp xã hội, phúc lựi nghề nghiệp và phục vụ xã hội Chế độ Uu đãi được thực hiện với các nội dung biểu dương các liệt sỹ cách mạng, thành lập các trung tâm nuôi dưỡng, điều trị và tổ chức các hoạt động ủng hộ quân đội và ưu ái gia đình quân nhân Ngoài ra, còn có các chế độ bố trí việc làm, bố trí nơi sinh sống cho các đối tượng với việc nêu cao trách nhiệm của chính quyền địa phương

Bộ phận thứ hai của hệ thống Bảo đảm xã hội Trung quốc là Bảo hiểm

xã hội do Nhà nước, đơn vị và cá nhân cùng gánh vác với việc đóng góp cua

ha hên Chế độ hảo hiểm xã hội hao gồm Bảo hiểm tuổi già, Bảo hiểm thất nghiệp, Báo hiểm y tế Bộ phận thứ ha trong hệ thống Bảo đảm xã hội là Tương lố với mô hình bảo hiểm bổ sung do các đơn vị và đoàn thể thực hành (điển hình là bảo hiểm tương tế của công nhân viên chức Trung quốc) Đây là

mô hình mới triển khai ở Trung quốc nhưng rất được hoan nghênh với các

chế độ tuổi già, y tế, an táng, íhất nghiệp, thương tật trong lao động hoặc các rúi ro khác Bảo hiểm thương mại ở Trung quốc phát Iriển rất kém, không iưưng xứng với với tầm vóc một quốc gia đông dân và phát triển như hiện

Trang 39

nay Vì vậy Trung quốc đanu triển khai phát triển Bảo hiểm thương mại (đặc biệt là bao hiểm nhân thọ) theo kiểu cá nhân để dành tiền với phương châm

bổ sung, hỗ trợ cho Báo hiểm xã hội hòng thực thi kế hoạch láu dài tư hữu hoá phúc lợi xã hội24

Xcni ihêm: "Những quan (iiêĩĩu chu trương của Trung quốc trong việc cải cách va mỏng nhất quán lý

an sinh xã hỏi” - Trích từ cuốn “ Kêu gọi tiến tới một nén an sinh xã hội mới’' của Nhạc Tụng Đỏng -

1998 - Tài liệu khảo sát Truug quốc của Bảo hiểm xã hội Việt nam trong chương trìn h soạn thảo Luật bảo lìicm xà hội VN - bản dịch của Hà Ngọc Quế.

Trang 40

Dưới chế độ phong kiến, nhũtti; hoạt động chứa đựng các nội dung Bảo đám xã hội đã dược các nhà nước phong kiến cụ thế hằng những hoại động như thành lập quỳ "nghía điền", "nghía thương", các hội, phường nhằm cưu mang những người nghèo đói bất hạnh Các sử gia phong kiến cũng đều ghi lại việc kê khai công trạng eúa những người có cồng để ban phát bổng lộc việc vi hành của các ông Vua nhân lúc mất mùa, đói kém thăm hỏi bàcon han phát cứu giúp những người khốn khỏ, đói nghèo Đây khổng chỉ

là nghĩa vụ nhân đạo mà còn là nguyên lắc làm yên dân thịnh nước

Dưới thời Pháp thuộc, m ặc dù bị đô hộ nhưng nhân dân ta vẫn phát huy truyền thống của mình, các hoạt động Báo đảm xã hội vẫn được thực hiện trong từng cộng đồng làng, xã Để mị dân, thực dân Pháp cũng cho xày dựng những cô nhi viện, nhà tế bần, Ihực hiện một số chế độ írợ cấp tai nạn lao động, ốm đau cho thợ mỏ, thực hiện chế độ hưu bổng cho những người làm Irong hộ máy Nhà nước cúa chúng Đây cũng chính là những chế độ Báo hiếm xã hội đẩu tiên xuất hiện ở V iệt nam mặc dù đối tượng còn rất hạn hẹp

Như thông lệ quốc tế, sự phát triển pháp luật Bảo đảm xã hội của mỗi quốc gia đi từ sơ khai đến hoàn thiện dần với việc ngày càng bổ sung thêm các chế độ trự cấp nhằm báo vệ hơn nữa cho các thành viên xã hội Sự phát triôn này phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức về Báo đám xã hội, điều kiện kinh tố xã hội và đặc điểm của mỗi quốc gia Trong phần này, chúng lôi xin

Ngày đăng: 25/01/2020, 21:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w