1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hợp đồng bảo hiểm tài sản pdf

112 554 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 581,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đó, Hợp đồng bảo hiểm chính là thoả thuận chuyển giao rủi ro giữa Bên mua bảo hiểm cho bên bảo hiểm, bằng việc Bên mua bảo hiểm trả cho bên bảo hiểm một số tiền gọi là phí bảo hiểm,

Trang 1

Khoa luật

-

V-ơng Việt Đức

hợp đồng bảo hiểm tài sản

Chuyên ngành : Luật kinh tế

Mã số : 50515

Luận văn thạc sĩ khoa học luật

Ng-ời h-ớng dẫn khoa học Tiến sĩ nguyễn Am Hiểu

Hà nội 2002

Trang 2

Luận văn Thạc sĩ khoa học Luật

Mục lụC

Trang

Phần mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích, đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu 3

3 Cở sở ph-ơng pháp luận và ph-ơng pháp nghiên cứu 3

4 Đóng góp khoa học và thực tiễn của đề tài 3

5 Cơ cấu của luận văn 4

Chuơng I: nhận thức chung về Hợp đồng bảo hiểm tài sản 1.1.Khái niệm Hợp đồng bảo hiểm tài sản 1.1.1 Khái niệm chung về Hợp đồng bảo hiểm 5

1.1.2 Khái niệm Hợp đồng bảo hiểm tài sản 7

1.2.ý nghĩa, vai trò của hợp đồng bảo hiểm tài sản 11

1.3 Quyền bảo hiểm tài sản 13

1.4 Sự hình thành và phát triển của pháp luật điều chỉnh về hợp đồng bảo hiểm taì sản 17

Ch-ơng II: Thực trạng pháp luật về Hợp đồng bảo hiểm tài sản 2.1.Chủ thể Hợp đồng bảo hiểm và những ng-ời liên quan

2.1.1.Doanh nghiệp bảo hiểm 24

2.1.2.Bên mua bảo hiểm 24

2.2.Hình thức của Hợp đồng bảo hiểm tài sản 25

2.3.Hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm tài sản

2.3.1.Hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực 27

2.3.2.Hợp đồng bảo hiểm vô hiệu 29

Trang 3

Luận văn Thạc sĩ khoa học Luật

V-ơng Việt Đức - Khoá 1999-2002

2.4.Quyền và nghĩa vụ của các bên

2.4.1.Nghĩa vụ của các bên 32 2.4.2.Quyền của các bên 36

2.5.Chuyển nh-ợng Hợp đồng bảo hiểm tài sản

2.5.1.Điều kiện để Hợp đồng bảo hiểm tài sản có thể đ-ợc chuyển nh-ợng 38 2.5.2.Thời điểm tồn tại quyền lợi có thể đ-ợc bảo hiểm

và nguyên tắc chuyển nh-ợng hợp đồng 42

2.6.Chuyển giao Hợp đồng bảo hiểm tài sản 50 2.7.Giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo hiểm tài sản 51

đặc tr-ng pháp lý cơ bản của Hợp đồng bảo hiểm tài sản

2.8.Giới hạn quyền lợi bảo hiểm theo giá trị tài sản

2.8.1.Nguyên tắc xác định số tiền bảo hiểm 52 2.8.2.Giá trị bảo hiểm, giá trị thực tế của tài sản bảo hiểm 54

2.9.Hợp đồng bảo hiểm trùng 56 2.10.Tổn thất và đề phòng hạn chế tổn thất trong bảo hiểm tài sản

2.10.1.Khái niệm và phân loại tổn thất 59 2.10.2.Trách nhiệm đề phòng hạn chế tổn thất 64

2.11.Giải quyết bồi th-ờng trong bảo hiểm tài sản

2.11.1.Nguyên tắc bồi th-ờng 65 2.11.2.Hình thức bồi th-ờng 68

2.12.Nguyên tắc thế quyền hợp pháp của Doanh nghiệp bảo hiểm

2.12.1.Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền nhân danh chính mình trực tiếp

truy đòi ng-ời thức ba gây thiệt hại 70 2.12.2.Thời điểm phát sinh quyền thế quyền hợp pháp

của Doanh nghiệp bảo hiểm 71 2.12.3.Giới hạn của quyền thế quyền hợp pháp

truy đòi ng-ời thứ ba gây thiệt hại 74 2.12.4.Căn cứ xác định trách nhiệm của ng-ời thứ ba 75

Trang 4

Luận văn Thạc sĩ khoa học Luật

Ch-ơng III: Một số nhận xét và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

về hợp đồng bảo hiểm tài sản

3.1 Nhận xét chung 78

3.2 Một số vấn đề cụ thể và kiến nghị hoàn thiện 3.2.1 Sự phân biệt HĐKT - HĐDS 81

3.2.2 Ng-ời đại diện giao kết và cách thức ký kết hợp đồng 85

3.2.3 Bằng chứng giao kết hợp đồng, bằng chứng chấp nhận bảo hiểm 88

3.2.4 Thời điểm phát sinh hiệu lực của Hợp đồng bảo hiểm 89

3.2.5 Nội dung hợp đồng bảo hiểm liên quan đến "Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm" tại Điều 16 Luật KDBH 91

3.2.6 Nghĩa vụ cung cấp thông tin và giải thích hợp đồng 95

3.2.7 Qui định về Hợp đồng bảo hiểm trùng tại Điều 44 Luật KDBH 96

3.2.8 Qui định về quyền thế quyền hợp pháp của Doanh nghiệp bảo hiểm 98

Phần kết luận 102

Tài liệu tham khảo 104

Trang 5

V-ơng Việt Đức - Khoá 1999-2002 1

Phần mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hoạt động kinh doanh bảo hiểm giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Kinh doanh bảo hiểm đ-ợc coi là tấm lá chắn kinh tế cho các cá nhân, tổ chức khắc phục những thiệt hại, rủi ro nhằm ổn

định đời sống kinh tế xã hội, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế thông qua chức năng trung gian tài chính đầu t- cho nền kinh tế

Kinh doanh bảo hiểm liên quan tới những mối quan hệ đặc biệt giữa Doanh nghiệp bảo hiểm và ng-ời tham gia bảo hiểm, thể hiện bằng hình thức

pháp lý là Hợp đồng bảo hiểm Ngoài những đặc tr-ng pháp lý chung mà tất cả

các loại hợp đồng đều có, Hợp đồng bảo hiểm còn có một số đặc tr-ng riêng, xuất phát từ tính chất đặc biệt thuộc lĩnh vực dịch vụ tài chính, xác lập và điều chỉnh các quan hệ tài chính phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình hình thành, phân phối và sử dụng quĩ bảo hiểm th-ơng mại Các thoả thuận trong Hợp đồng bảo hiểm gắn với các sự kiện rủi ro bất ngờ trong t-ơng lai, đ-ợc thực hiện ng-ợc với chu trình sản xuất kinh doanh bình th-ờng, ở đó Bên mua bảo hiểm khi đã trả tr-ớc phí bảo hiểm thì chỉ nhận đ-ợc cam kết bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm, có vẻ nh- vô hình, và không thể định tr-ớc đ-ợc chất l-ợng Việc mua bán sản phẩm bảo hiểm không mang tính "ngang giá" Ng-ời mua thì phải trả tiền ngay (phí bảo hiểm) nh-ng lại không nhận đ-ợc ngay tại thời điểm đó các cam kết tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm Các cam kết này chỉ đ-ợc thực hiện khi xảy ra những sự kiện nhất định trong hợp đồng (bảo hiểm nhân thọ); hoặc khi xảy ra những rủi ro bất ngờ, gây thiệt hại về ng-ời và tài sản, hay làm phát sinh trách nhiệm của Bên mua bảo hiểm

Hợp đồng bảo hiểm là hình thức pháp lý quan trọng, xác lập và đảm bảo quyền lợi của các bên tham gia quan hệ hợp đồng, đặc biệt là bảo vệ quyền lợi của Bên mua bảo hiểm trong tr-ờng hợp không may gặp những sự cố, rủi ro thiệt hại trong cuộc sống Quan hệ Hợp đồng bảo hiểm luôn là đối t-ợng đặc biệt quan trọng đ-ợc pháp luật điều chỉnh Các n-ớc trên thế giới, mặc dù đã có luật chung

về Hợp đồng nh-ng hầu hết các n-ớc đều đ-a vào Luật bảo hiểm các qui định về

Trang 6

Hợp đồng bảo hiểm, hoặc có luật riêng về Hợp đồng bảo hiểm ( nh- Cộng hoà liên bang Đức, Pháp, úc, Philipine, Trung Quốc ) Hiện nay, pháp luật Việt nam

đã có nhiều văn bản điều chỉnh về Hợp đồng bảo hiểm - ngoài các qui định pháp luật chung về hợp đồng kinh tế, hợp đồng dân sự, Hợp đồng bảo hiểm đã đ-ợc qui định cụ thể trong Bộ luật dân sự, Bộ luật hàng hải, và Luật kinh doanh bảo hiểm Vì vậy, việc nghiên cứu, lý giải các vấn đề pháp lý về Hợp đồng bảo hiểm

là cần thiết

Nghiên cứu các vấn đề pháp lý về Hợp đồng bảo hiểm là vấn đề đ-ợc nhiều nhà nghiên cứu n-ớc ngoài rất quan tâm, từ lâu ở Việt nam đã có nhiều công trình, bài viết về lĩnh vực này Cũng đã có một số luận văn Thạc sỹ có đề cập đến những vấn đề liên quan đến Hợp đồng bảo hiểm nh-:

+ Tr-ơng Hồng Hải - Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam thực trạng và ph-ơng h-ớng hoàn thiện -luận văn thạc sỹ luật học -1997;

+ Nguyễn Thị Thu Hà - Những vấn đề cơ bản về Hợp đồng bảo hiểm theo quy định của BLDS Việt nam - luận văn thạc sỹ luật học 1999;

+ Thái Văn Cách - Thực trạng pháp luật về kinh doanh bảo hiểm, ph-ơng h-ớng hoàn thiện - luận văn thạc sỹ luật học 2001;

+ Nguyễn Anh Tú - Một số vấn đề pháp lý về Hợp đồng bảo hiểm - luận văn thạc sỹ luật học 2001

+ Hoàng Trọng Huy - một số vấn đề pháp lý về Hợp đồng bảo hiểm theo Luật KDBH - Luận văn thạc sỹ luật học 2002

Các công trình này chủ yếu tập trung nghiên cứu các vấn đề pháp lý chung về Hợp đồng bảo hiểm, mà ch-a nghiên cứu từng loại Hợp đồng bảo hiểm

cụ thể Do tính chất đặc thù và phức tạp của hợp đồng thuộc lĩnh vực dịch vụ tài chính, nhiều vấn đề pháp lý về Hợp đồng bảo hiểm cần tiếp tục đ-ợc nghiên cứu, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, sau khi Luật KDBH đ-ợc ban hành, với

xu h-ớng hội nhập quốc tế và phát triển đa dạng hoá thị tr-ờng, các sản phẩm bảo hiểm ngày càng phong phú (hiện nay đã có trên 100 sản phẩm bảo hiểm cả nhân thọ và phi nhân thọ đ-ợc áp dụng trên thị tr-ờng); đối t-ợng của Hợp đồng bảo hiểm rất đa dạng trong mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội

Bảo hiểm tài sản là một lĩnh vực rộng lớn chiếm đa số các sản phẩm bảo hiểm và cũng chiếm thị phần quan trọng trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm,

Trang 7

V-ơng Việt Đức - Khoá 1999-2002 3

ngày càng đóng vai trò tất yếu quan trọng và không thể thiếu trong đời sống xã hội và mọi lĩnh vực của sản xuất kinh doanh, nhất là trong giai đoạn đầu phát

triển kinh tế thị tr-ờng Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài " Hợp đồng bảo hiểm tài

sản" làm đề tài luận văn thạc sỹ luật học

2 Mục đích, đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ các vấn đề pháp lý đặc thù liên quan đến Hợp đồng bảo hiểm tài sản, phân biệt với các Hợp đồng bảo hiểm khác nh- Hợp đồng bảo hiểm con ng-ời và Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự trong kinh doanh bảo hiểm Trên cơ sở đối chiếu, liên hệ với thực tiễn giao kết, thực hiện Hợp đồng bảo hiểm ở Việt nam, cũng nh- nguyên lý, tập quán bảo hiểm và kinh nghiệm lập pháp của các n-ớc trên thế giới để đ-a ra nhận xét và kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện các qui định pháp luật về Hợp

đồng bảo hiểm tài sản

Đối t-ợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận văn là các vấn đề pháp lý chung, đặc thù của Hợp đồng bảo hiểm tài sản

Căn cứ pháp lý dựa trên các qui định pháp luật chung về hợp đồng kinh tế, hợp đồng dân sự và các quy định cụ thể điều chỉnh về Hợp đồng bảo hiểm trong Luật KDBH, BLDS và BLHH Việt nam

3 Cơ sở ph-ơng pháp luận và ph-ơng pháp nghiên cứu

Cơ sở ph-ơng pháp luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác Lê Nin, quan điểm của Đảng và Nhà n-ớc ta về kinh doanh bảo hiểm

Ph-ơng pháp nghiên cứu là chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch

sử, trên cơ sở nghiên cứu, phân tích các tài liệu pháp lý liên quan, kết hợp và tổng hợp thực tiễn, so sánh, đối chiếu và tham khảo kinh nghiệm của các n-ớc trên thế giới để rút ra kết luận

4 Những đóng góp khoa học và thực tiễn của luận văn

Trên cơ sở tập trung nghiên cứu các vấn đề pháp lý chung và đặc thù của Hợp đồng bảo hiểm tài sản, xuất phát từ những nguyên lý và thực tiễn của hoạt

động kinh doanh bảo hiểm với sự điều chỉnh và quá trình phát triển của pháp luật thực định về Hợp đồng bảo hiểm ở Việt nam, luận văn đã có những đóng góp nh-:

Trang 8

- Nghiên cứu và phân tích các vấn đề pháp lý chung và đặc thù của Hợp

đồng bảo hiểm tài sản;

- Đánh giá thực trạng pháp luật điều chỉnh về Hợp đồng bảo hiểm tài sản Chỉ ra những tồn tại, xung đột và tính phức tạp, đan xen của hệ thống văn bản pháp lụât thựe định về Hợp đồng bảo hiểm tài sản, cũng nh- các vấn đề pháp lý

đặc thù của bảo hiểm tài sản cần đ-ợc tiếp tục nghiên cứu, điều chỉnh và h-ớng dẫn thống nhất;

- Trên cơ sở đó, luận văn đã có những đề xuất và kiến nghị cụ thể nhằm

bổ sung, hoàn thiện pháp luật về Hợp đồng bảo hiểm tài sản

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể đóng góp vào việc nghiên cứu hoàn thiện các qui định pháp luật điều chỉnh về Hợp đồng bảo hiểm, đồng thời là tài liệu tham khảo có giá trị trong quá trình giao kết, thực hiện Hợp đồng bảo hiểm tài sản, cũng nh- trong việc áp dụng pháp luật về Hợp đồng bảo hiểm ở Việt nam, hạn chế những tranh chấp xảy ra

5 Cơ cấu của luận văn

Ngoài Lời nói đầu và phần Kết luận, Nội dung đ-ợc chia làm 3 Ch-ơng: Ch-ơng I: Nhận thức chung về Hợp đồng bảo hiểm.tài sản

Ch-ơng II: Thực trạng pháp luật điều chỉnh về Hợp đồng bảo hiểm tài sản Ch-ơng III: Một số nhận xét và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

về Hợp đồng bảo hiểm tài sản

Trang 9

V-ơng Việt Đức - Khoá 1999-2002 5

Ch-ơng I

Nhận thức chung về Hợp đồng bảo hiểm tài sản

1.1 Khái niệm Hợp đồng bảo hiểm tài sản

1.1.1 Khái niệm chung về Hợp đồng bảo hiểm

Luật KDBH đã đ-a ra định nghĩa chung và khái quát về Hợp đồng bảo

hiểm, theo đó “ Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa Bên mua bảo hiểm và

doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó Bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho ng-ời thụ h-ởng hoặc bồi th-ờng cho ng-ời đ-ợc bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm" (Điều 12)

Định nghĩa trên cho thấy đặc tr-ng cơ bản của Hợp đồng bảo hiểm, đó là việc ghi nhận sự thoả thuận và thực hiện cam kết của các bên gắn với việc xảy ra một "sự kiện bảo hiểm" Theo qui định của pháp luật Việt nam, "sự kiện bảo

hiểm" đ-ợc định nghĩa là “ sự kiện khách quan do các bên thoả thuận hoặc pháp

luật qui định mà khi sự kiện đó xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho ng-ời thụ h-ởng hoặc bồi th-ờng cho ng-ời đ-ợc bảo hiểm" (Điều

3.10 Luật KDBH)

Về nguyên lý kỹ thuật của bảo hiểm th-ơng mại, khái niệm của Hợp đồng

bảo hiểm, cũng nh- bản chất của nó gắn liền với các sự kiện rủi ro xảy ra gây

tổn thất, thiệt hại đến quyền lợi, khả năng tài chính của Bên mua bảo hiểm, và vì

nhằm tìm kiếm một cam kết hỗ trợ về tài chính từ phía Doanh nghiệp bảo hiểm

để nhằm bù đắp những quyền lợi bị thiệt hại của Bên mua bảo hiểm mà Hợp

đồng bảo hiểm đ-ợc thiết lập Theo đó, Hợp đồng bảo hiểm chính là thoả thuận chuyển giao rủi ro giữa Bên mua bảo hiểm cho bên bảo hiểm, bằng việc Bên mua bảo hiểm trả cho bên bảo hiểm một số tiền gọi là phí bảo hiểm, coi nh- là giá của rủi ro, để đổi lấy một cam kết đảm bảo về tài chính có điều kiện, gắn với một tình huống nhất định trong tr-ờng hợp Bên mua bảo hiểm phải gánh chịu những tổn thất về tài chính do sự kiện rủi ro đ-ợc bảo hiểm đó gây ra

Nh- vậy, "Sự kiện bảo hiểm" theo qui định của pháp luật Việt nam đ-ợc hiểu bao hàm hai nội dung: Thứ nhất, xảy ra những rủi ro có thể đ-ợc bảo hiểm

Đó là những rủi ro xảy ra khách quan; mang tính ngẫu nhiên và bất ngờ; không

Trang 10

biết tr-ớc đ-ợc về khả năng xảy ra, về thời gian xảy ra rủi ro, cũng nh- hậu quả khi xảy ra rủi ro đó Rủi ro đó phải có tính chất hợp pháp, phù hợp trật tự công

cộng và đạo đức xã hội [22; tr7,8] Thứ hai, các rủi ro đ-ợc bảo hiểm đó phải

gây thiệt hại cho Bên mua bảo hiểm, hay nói cách khác Bên mua bảo hiểm phải gánh chịu tổn thất tài chính hoặc phát sinh/hay gia tăng trách nhiệm khi nguyên nhân của tổn thất/thiệt hại do các rủi ro đ-ợc bảo hiểm đó gây ra, khi đó mới phát sinh trách nhiệm trả tiền/bồi th-ờng bảo hiểm của bên bảo hiểm[18; Điều 2

và 23; tr3]

Mặc dù khi đề cập đến khái niệm về Hợp đồng bảo hiểm, pháp luật Việt nam chỉ chú trọng qui định việc xảy ra sự kiện bảo hiểm (đ-ợc hiểu là việc xảy những sự kiện rủi ro khách quan) gây thiệt hại cho Bên mua bảo hiểm, mà đã không đề cập đến nội dung quan trọng và đặc tr-ng của kinh doanh bảo hiểm, đó

là những rủi ro đó khi xảy ra sẽ tác động trực tiếp lên đối t-ợng nào? hay "đối t-ợng" nào mới thực sự ở trong tình trạng chịu sự đe doạ và bị tổn thất trực tiếp bởi những rủi ro đ-ợc bảo hiểm bảo hiểm gây ra, mà hậu quả của những tổn thất này mới ảnh h-ởng, gây thiệt hại trực tiếp đến quyền lợi của Bên mua bảo hiểm?

Vì vậy, vấn đề này cần phải đ-ợc nhận thức khi xem xét đến khái niệm Hợp đồng bảo hiểm Về nguyên lý bảo hiểm, cũng nh- qui định của pháp luật thì

đó chính là "đối t-ợng bảo hiểm" là những đối t-ợng có khả năng bị tổn thất vật chất, chịu sự đe doạ trực tiếp bởi các rủi ro có thể xảy ra ( rủi ro thiên tai bất khả kháng, cháy nổ, ốm đau, bệnh tật ) Đối t-ợng bảo hiểm bao gồm nhiều loại, có

thể là “ con ng-ời, tài sản, trách nhiệm dân sự và các đối t-ợng khác theo qui

định của pháp luậ t” (Điều 573 BLDS) Vì mục đích cung cấp đảm bảo tài chính cho quyền lợi của Bên mua bảo hiểm có thể bị thiệt hại do các đối t-ợng bảo hiểm này bị tổn thất ( phát sinh chi phí khắc phục thiệt hại, chi phí nhằm khôi phục, tái tạo lại đối t-ợng bảo hiểm để ổn định cuộc sống và hoạt động sản xuất kinh doanh) mà Hợp đồng bảo hiểm đ-ợc ký kết

Từ những phân tích trên cho phép khái quát đặc tr-ng cơ bản của Hợp

đồng bảo hiểm, đó là cam kết và thoả thuận của các bên trong hợp đồng gắn với các sự kiện ngẫu nhiên mang tính may rủi (không chắc chắn) nh-ng không phải

là hình thức đánh bạc hay cá c-ợc Việc thực hiện Hợp đồng bảo hiểm chính là

giải quyết hậu quả của rủi ro, hợp đồng mang tính may rủi do không thể xác

Trang 11

V-ơng Việt Đức - Khoá 1999-2002 7

định tr-ớc đ-ợc hiệu quả khi ký kết, nghĩa là việc thực hiện hợp đồng của một bên - doanh nghiệp bảo hiểm phụ thuộc vào việc có xuất hiện các sự kiện ngẫu nhiên mang tính may rủi hay không Chỉ khi xuất hiện điều đó mới xác định

đ-ợc hiệu quả của hợp đồng từ việc trả tiền của doanh nghiệp bảo hiểm Trong khi đó, hình thức đánh bạc hay cá c-ợc cũng đ-ợc coi là có tính chất may rủi, đó

là tính may rủi của một sự kiện không chắc chắn về khả năng xảy ra hoặc không chắc chắn về thời điểm xảy ra Nh-ng, thông qua hình thức đánh bạc, các bên

đều có dự định (mục đích) về lợi ích thu đ-ợc thông qua sự may rủi đó; các bên tìm cách đạt đ-ợc vận may, sự giàu có nhằm tăng tài sản một cách không công

bằng Còn trong Hợp đồng bảo hiểm, các bên tìm kiếm (m-u cầu) khả năng để phân phối những tổn thất có thể xảy ra do sự không may mắn; các bên tìm cách tránh điều bất hạnh, san sẻ rủi ro, nhằm làm cân bằng tài sản Mục đích

của bảo hiểm là bù đắp tài chính để khắc phục thiệt hại, nhằm khôi phục lại tình trạnh tài chính của Bên mua bảo hiểm nh- ban đầu khi ch-a bị tổn thất Về nguyên tắc, thì sự đền bù này chỉ có thể bằng mà không thể tốt hơn trạng thái ban đầu của đối t-ợng bảo hiểm khi ch-a bị tổn thất, Bên mua bảo hiểm không thể đ-ợc h-ởng lợi thông qua việc ký kết Hợp đồng bảo hiểm Đây cũng là nội dung cơ bản của nguyên tắc bồi th-ờng áp dụng trong Hợp đồng bảo hiểm tài sản

1.1.2 Khái niệm Hợp đồng bảo hiểm tài sản

Hợp đồng bảo hiểm tài sản là một loại Hợp đồng bảo hiểm, có đối t-ợng bảo hiểm là tài sản Pháp luật Việt Nam có sự phân loại Hợp đồng bảo hiểm

t-ơng ứng theo đối t-ợng bảo hiểm khác nhau, là con ng-ời, tài sản hay trách

nhiệm dân sự Theo qui định của Luật KDBH thì "Đối t-ợng của Hợp đồng bảo hiểm tài sản là tài sản, bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá đ-ợc bằng tiền

và các quyền tài sản" (Điều 40)

Xuất phát từ đối t-ợng bảo hiểm là tài sản mà Hợp đồng bảo hiểm tài sản

đ-ợc phân biệt với các loại Hợp đồng bảo hiểm khác nh-: Hợp đồng bảo hiểm

con ng-ời, có đối t-ợng bảo hiểm là tuổi thọ, tính mạng, sức khoẻ và tai nạn con

ng-ời (Điều 31.1 Luật KDBH); và Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự có đối

t-ợng bảo hiểm là trách nhiệm dân sự của ng-ời đ-ợc bảo hiểm đối với ng-ời thứ

ba theo qui định pháp luật, có thể là trách nhiệm dân sự phát sinh theo hợp hợp

Trang 12

đồng hoặc trách nhiệm dân sự phát sinh ngoài hợp đồng (Điều 52 Luật KDBH)

Đối t-ợng bảo hiểm là căn cứ chủ yếu và cơ bản nhất để phân loại Hợp đồng bảo hiểm, thể hiện và phân biệt các đặc tr-ng, nguyên tắc cơ bản của từng loại Hợp

đồng bảo hiểm bảo hiểm Do đó Hợp đồng bảo hiểm tài sản có nhiều nguyên tắc

đặc thù khác với các loại Hợp đồng bảo hiểm con ng-ời hay trách nhiệm dân sự

Tr-ớc khi phân tích các đặc thù của Hợp đồng bảo hiểm tài sản thì cần phải xác định rõ đối t-ợng bảo hiểm của hợp đồng bao gồm những tài sản gì, hay những tài sản nào theo quan niệm về tài sản của pháp luật thực định Việt nam có thể trở thành đối t-ợng bảo hiểm của Hợp đồng bảo hiểm tài sản

Trở lại qui định tại Điều 40 Luật KDBH về đối t-ợng của Hợp đồng bảo hiểm tài sản viện dẫn ở trên cho thấy, phạm vi đối t-ợng tài sản bảo hiểm theo

qui định của Luật KDBH đ-ợc định nghĩa rất rộng, bao gồm tất cả các đối t-ợng

đ-ợc coi là tài sản theo qui định của Điều 172 BLDS Nh- vậy, có phải tất cả

các loại tài sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá đ-ợc bằng tiền và các quyền tài sản đều có thể là đối t-ợng bảo hiểm theo quy định của Điều 40 Luật

KDBH hay không? Nghiên cứu các qui định pháp lý về tài sản trong BLDS cho thấy:

- Tài sản là đối t-ợng của chế định quyền sở hữu và là khách thể của phần lớn những quan hệ pháp luật dân sự, mà theo đó, BLDS có rất nhiều tiêu chí để phân loại tài sản theo bản chất, tính năng sử dụng và giá trị kinh tế khác nhau của

chúng Vật có thực, là một bộ phận của thế giới vật chất, tồn tại hữu hình mà con

ng-ời có thể chiếm giữ đ-ợc, có lợi ích cho con ng-ời, đ-ợc đ-a vào giao dịch

dân sự nhằm đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng, kinh doanh của con ng-ời; Tiền với

tính chất là ph-ơng tiện thanh toán, cất trữ, đại diện cho chủ quyền quốc gia; tiền

đ-ợc sử dụng và định đoạt tuân thủ nghiêm ngặt những quy định của pháp luật

tài chính, ngân hàng; Giấy tờ trị giá đ-ợc bằng tiền đ-ợc hiểu và bao gồm: cổ

phiếu, kỳ phiếu, công phiếu, công trái, séc, tín phiếu, sổ tiết kiệm, giấy uỷ nhiệm

chi ; và Các quyền tài sản là những quyền gắn liền với tài sản mà khi thực hiện

các quyền đó chủ sở hữu sẽ có đ-ợc một tài sản, đó là quyền đòi nợ, quyền sở hữu đối với phát minh, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, quyền tác giả Các quyền này phải có giá trị đ-ợc bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao l-u dân sự

Trang 13

V-ơng Việt Đức - Khoá 1999-2002 9

- Trên cơ sở đó, BLDS phân loại các tài sản thành: động sản và bất động sản (Điều 181); hoa lợi và lợi tức (Điều 182); vật chính và vật phụ (Điều 183); vật chia đ-ợc và vật không chia đ-ợc (Điều 184); vật tiêu hao và vật không tiêu hao (Điều 185); vật cùng loại và vật đặc định (Điều 186); vật đồng bộ (Điều 187)

và quyền tài sản (Điều 188)

Nh- vậy, tài sản theo qui định của BLDS bao gồm rất nhiều loại, có thể biểu hiện ở d-ới dạng một hình thái vật chất nhất định mà ta có thể cầm nắm và

cảm nhận bằng giác quan của mình gọi là tài sản hữu hình (nhà cửa, ph-ơng tiện,

vận chuyển, hoa màu, vật nuôi ); Hoặc, không có hình thái vật chất, không thể

đ-ợc nhận biết bằng giác quan tiếp xúc, mà phải thông qua những ý niệm về những mối quan hệ pháp luật giữa ng-ời có quyền khai thác lợi ích của tài sản và

ng-ời thứ ba [ 34; Tr 72], gọi là tài sản vô hình (chẳng hạn nh- các quyền về tài

sản, quyền đòi nợ, phát minh sáng chế, lợi thế trong kinh doanh )

Trong quan hệ pháp luật Hợp đồng bảo hiểm tài sản, mặc dù theo phạm vi qui định của Luật KDBH, thì về nguyên tắc "tài sản" là đối t-ợng bảo hiểm phải

đ-ợc hiểu và bao gồm các loại tài sản theo định nghĩa và cách phân loại trên của BLDS Tuy nhiên, do đặc thù của lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, mà không hẳn tất cả các loại tài sản theo định nghĩa của BLDS cũng đều có thể trở thành đối t-ợng bảo hiểm, do:

- Việc phân biệt và phân loại các loại tài sản trong BLDS không chỉ hiểu theo nghĩa phân loại thông th-ờng về chủng loại, hình dáng, kích cỡ của các loại tài sản, mà vấn đề quan trọng là phân biệt các chế độ pháp lý riêng đối với từng loại tài sản, với ý nghĩa pháp lý quan trọng trong việc xác định đối t-ợng của quyền sở hữu cũng nh- xác định khách thể của các quan hệ pháp luật dân sự nh-: các quy định về cầm cố, thế chấp; các quy định liên quan đến chuyển quyền sở hữu (mua, bán, tặng cho tài sản); cũng nh- các quan hệ về "nghĩa vụ và HĐDS", các quan hệ về thừa kế tài sản; các quan hệ về sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ Ngoài ra, chế độ pháp lý về tài sản còn đ-ợc nghiên cứu bởi nhiều ngành luật khác, liên quan đến các quy định pháp luật về kinh doanh và thành lập doanh nghiệp; xác định tài sản nợ, có và khả năng thanh toán của một chủ thể nào đó

Trang 14

- Trong khi đó, do đặc thù của Hợp đồng bảo hiểm tài sản, mà đối t-ợng

bảo hiểm là tài sản phải đảm bảo các yếu tố: có khả năng bị tổn thất vật chất do

những rủi ro tai nạn bất ngờ gây ra; thiệt hại của tài sản phải quy ra đ-ợc bằng tiền, hay nói cách khác, tài sản đó phải có thực và có thể quy ra đ-ợc bằng tiền

Nh- vậy, thông th-ờng tài sản là đối t-ợng bảo hiểm thì tài sản đó phải là tài sản có thực, tài sản hữu hình có khả năng bị tổn thất vật chất do ngoại lực tác

động ( bị h- hỏng, tổn thất do tai nạn, thiên tai, cháy, nổ ) Đối với các tài sản

hay các quyền tài sản vô hình không thể bị thiệt hại bởi ngoại lực vật chất tác

động, mà thông th-ờng nó bị tổn thất, thiệt hại bởi các rủi ro về pháp lý (tranh chấp, vi phạm nghĩa vụ, vi phạm bản quyền, hết thời hiệu ), với hậu quả trực tiếp là sự vi phạm, hạn chế hoặc t-ớc mất quyền tài sản của một chủ thể Vì vậy, về nguyên tắc không thể trở thành đối t-ợng bảo hiểm Tuy nhiên nó lại có thể trở thành quyền lợi có thể đ-ợc bảo hiểm của một chủ thể, nếu tài sản hữu hình gắn với nó là đối t-ợng bảo hiểm của một Hợp đồng bảo hiểm tài sản

Trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm, tài sản là đối t-ợng bảo hiểm có

thể là các tài sản hiện có hoặc các lợi ích gắn liền với tài sản, phát sinh trong

quá trình sử dụng, khai thác tài sản (hoa màu, lợi tức, lãi -ớc tính của hàng hoá; c-ớc vận chuyển; lãi trong kinh doanh ) Theo đó, các loại hình bảo hiểm tài sản th-ờng đ-ợc hình thành trên cơ sở phân nhóm tài sản hoặc phân loại rủi ro

theo đặc tính vật lý nhất định của tài sản, nh-: Tài sản là những sinh vật sống (vật nuôi, cây trồng); Tài sản đang trong thời kỳ hình thành (xây dựng, lắp đặt, chế tạo ); Tài sản đang trong quá trình khai thác, sử dụng (nhà x-ởng, máy móc, trang thiết bị, đồ dùng cá nhân ); Tài sản đang nằm trong kho quỹ (nguyên, nhiên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, tiền mặt); Tài sản đang

trên đ-ờng vận chuyển (hàng hoá, tiền bạc )

Ngoài ra, do những nhóm rủi ro tiểu biểu gây tổn thất cho tài sản mà

nhiều n-ớc trên thế giới phân thành bảo hiểm tài sản trong lĩnh vực hàng hải và

lĩnh vực bảo hiểm phi hàng hải Bảo hiểm hàng hải do những đặc tr-ng của

những rủi ro tổn thất phát sinh trong hoạt động hàng haỉ, liên quan đến quyền lợi bảo hiểm của nhiều chủ thể ở các quốc gia khác nhau trong quá trình hành hải, giao l-u buôn bán quốc tế, mà kỹ thuật bảo hiểm đ-ợc quốc tế hoá rất cao, chịu

sự chi phối của luật pháp và tập quán hàng hải quốc tế Vì vậy, bảo hiểm tài sản

Trang 15

V-ơng Việt Đức - Khoá 1999-2002 11

trong lĩnh vực hàng hải có nhiều nguyên tắc và đặc thù riêng so với các qui định bảo hiểm tài sản trong lĩnh vực phi hàng hải - chủ yếu chịu sự điều chỉnh của pháp luật trong n-ớc, mang tính đối nội Pháp luật của Việt nam đã dành cả nội dung Ch-ơng XVI BLHH Việt nam (1990) để qui định về Hợp đồng bảo hiểm

hàng hải, theo đó đối t-ợng tài sản trong bảo hiểm hàng hải có thể là bất kỳ

quyền lợi vật chất nào liên quan đến các hoạt động hàng hải mà có thể quy ra tiền, bao gồm: tầu biển, hàng hoá, tiền c-ớc vận chuyển, tiền công vận chuyển hành khách, tiền thuê tầu, tiền thuê - mua tầu, tiền lãi -ớc tính của hàng hoá, các khoản hoa hồng, chi phí tổn thất chung, các khoản tiền đ-ợc bảo đảm bằng tầu, hàng hoá hoặc tiền c-ớc vận chuyển Ngoài ra, đối t-ợng bảo hiểm hàng hải còn có thể là tầu đang đóng (Điều 201 BLHH)

ở Việt Nam hiện nay, các nghiệp vụ bảo hiểm tài sản phát triển rất đa dạng, bao gồm nhiều loại nh-: Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển đ-ờng bộ, đ-ờng biển, đ-ờng sông, đ-ờng sắt và đ-ờng hàng không; Bảo hiểm thân tàu biển; Bảo hiểm vật chất xe cơ giới; Bảo hiểm thân máy bay;Bảo hiểm cháy nổ; Bảo hiểm xây dựng và lắp đặt;Bảo hiểm dầu khí; Bảo hiểm nông nghiệp (cây trồng và vật nuôi); Bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính; Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh

Nh- vậy, cho dù Luật KDBH xác định phạm vi khái niệm tài sản là đối t-ợng bảo hiểm t-ơng tự nh- định nghĩa về tài sản theo qui định của BLDS, nh-ng về nguyên lý nghiệp vụ bảo hiểm thì tài sản là đối t-ợng của Hợp đồng bảo hiểm chỉ có thể là những tài sản có thực hữu hình, có thể là tài sản hiện có hoặc các lợi ích gắn liền với tài sản đó; có khả năng bị tổn thất vật chất do những rủi ro tai nạn bất ngờ gây ra; thiệt hại của tài sản phải quy ra đ-ợc bằng tiền Đối với các tài sản hay các quyền tài sản vô hình không đắp ứng đ-ợc các yêu cầu này, vì vậy không thể trở thành đối t-ợng bảo hiểm của Hợp đồng bảo hiểm tài sản

1.2 ý nghĩa, vai trò của Hợp đồng bảo hiểm tài sản

Hợp đồng bảo hiểm tài sản đ-ợc thiết lập nhằm cung cấp sự đảm bảo về tài chính cho những quyền lợi của Bên mua bảo hiểm có thể bị thiệt hại phát sinh trực tiếp từ việc đối t-ợng tài sản bảo hiểm có thể bị h- hỏng hay tổn thất bởi việc xảy ra một sự kiện bảo hiểm

Trang 16

Đối t-ợng mà Hợp đồng bảo hiểm tài sản trực tiếp bảo vệ không phải là tài sản (với t- cách là đối t-ợng bảo hiểm), mà là quyền lợi tài chính mà Bên mua bảo hiểm có trong đối t-ợng tài sản đó bảo hiểm Quyền lợi đó sẽ đ-ợc đảm bảo nếu tài sản đó an toàn không bị tổn thất, và ng-ợc lại, chủ thể đó sẽ phải chịu thiệt hại nếu tài sản đó bị rủi ro tổn thất Vì vậy, với mong muốn bảo đảm cho quyền lợi đó và nhằm giảm nhẹ thệt hại tài chính trong tr-ờng hợp tài sản bị tổn thất, mà Hợp đồng bảo hiểm tài sản đ-ợc thiết lập

Thực tế, trong Hợp đồng bảo hiểm tài sản với rủi ro cháy cho một ngôi nhà, thì mặc dù ngôi nhà đó chính là đối t-ợng tài sản bảo hiểm, là đối t-ợng trực tiếp bị đe doạ và bị tổn thất, phá huỷ khi xảy ra cháy, nh-ng bản chất và vai trò của Hợp đồng bảo hiểm đ-ợc cấp ra không phải là bảo hiểm hay bảo vệ trực tiếp cho bản thân ngôi nhà hay các vật liệu tạo lên ngôi nhà đó (đối t-ợng bảo hiểm),

mà Hợp đồng bảo hiểm tài sản cung cấp sự bảo vệ cho quyền lợi của Bên mua bảo hiểm có trong ngôi nhà đó Dịch vụ " bảo hiểm" đ-ợc cung cấp thông qua Hợp đồng bảo hiểm không đồng nghĩa với những hình thức "bảo hiểm, bảo vệ" trực tiếp khác nh-: đeo dây bảo hiểm thì sẽ không bị ngã; đội mũ bảo hiểm thì

sẽ bảo vệ trực tiếp cho cái đầu không bị chấn th-ơng khi đi xe máy; hoặc lắp thiết bị báo cháy, thiết bị dập cháy tự động có thể làm cho ngôi nhà không bị cháy, hạn chế khả năng bị cháy Khi một Hợp đồng bảo hiểm cấp ra, nó không thể cung cấp hay đ-ợc sử dụng nh- là một ph-ơng tiện trực tiếp bảo vệ cho ngôi nhà khỏi bị cháy nh- các thiết bị bảo hiểm trên (thực tế ngôi nhà có thể bị cháy bất cứ khi nào nếu không đ-ợc bảo quản chăm sóc, cũng nh- thực hiện tốt các biện pháp phòng cháy, chữa cháy ), bản chất và chức năng của Hợp đồng bảo hiểm trong tr-ờng hợp này sẽ cung cấp đảm bảo tài chính cho Bên mua bảo hiểm để có thể giải quyết, khắc phục hậu quả, thiệt hại sau khi cháy, sửa chữa lại hay xây ngôi nhà mới Chức năng bảo vệ tài sản thông qua việc giao kết Hợp

đồng bảo hiểm chỉ đ-ợc thể hiện một cách gián tiếp qua việc thực hiện các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất của Doanh nghiệp bảo hiểm Doanh nghiệp bảo hiểm có thể khuyến nghị cho Bên mua bảo hiểm áp dụng các biện pháp phòng tránh để đảm bảo an toàn cho tài sản, cũng nh- trực tiếp cung cấp các dịch

vụ hỗ trợ, trang bị các ph-ơng tiện phòng tránh làm giảm thiểu khả năng xảy ra tổn thất cho đối t-ợng tài sản

Trang 17

ở Gia lâm, Hà nội với thiệt hại về tài sản trên 5 tỷ đồng là minh chứng rõ ràng nhất về sự bất cẩn của con ng-ời dẫn đến những hậu quả thiệt hại khôn l-ờng cho

đời sống, kinh tế xã hội Vì vậy, Bảo hiểm tài sản có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế, thông qua việc trả tiền bồi th-ờng, cung cấp sự trợ giúp hữu hiệu về tài chính cho Bên mua bảo hiểm tr-ớc những rủi ro tổn thất, nhanh chóng khắc phục hậu quả, ổn định đời sống, sản xuất kinh doanh Với sự phát triển, mở rộng

đa dạng các loại hình bảo hiểm tài sản hiện nay nh-; bảo hiểm hàng hoá vận chuyển đ-ờng bộ, đ-ờng biển, đ-ờng sông, đ-ờng sắt và đ-ờng hàng không; bảo hiểm thân tàu biển; bảo hiểm vật chất xe cơ giới; bảo hiểm thân máy bay; bảo hiểm cháy nổ; bảo hiểm nhà t- nhân; bảo hiểm xây dựng và lắp đặt; bảo hiểm dầu khí; bảo hiểm nông nghiệp (cây trồng và vật nuôi); bảo hiểm tín dụng và rủi

ro tài chính; bảo hiểm gián đoạn kinh doanh Bảo hiểm tài sản ngày càng thể hiện vai trò quan trọng và không thể thiếu trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội, sản xuất, kinh doanh

1.3 Quyền bảo hiểm tài sản

Quyền bảo hiểm tài sản của một chủ thể phát sinh từ sự tồn tại một quyền lợi có thể đ-ợc bảo hiểm của chủ thể đó có trong đối t-ợng tài sản bảo hiểm

Quyền lợi có thể đ-ợc bảo hiểm là một trong những nguyên tắc chung cơ bản và quan trọng nhất của bảo hiểm th-ơng mại, đó là những quyền lợi mà một chủ thể có trong đối t-ợng bảo hiểm, vì bảo vệ cho quyền lợi này mà Hợp đồng bảo hiểm đ-ợc thiết lập Quyền lợi có thể đ-ợc bảo hiểm của một chủ thể có thể

đ-ợc hiểu khái quát là quyền lợi hợp pháp đ-ợc bảo hiểm, phát sinh từ mối quan hệ tài chính (financial relationship) đ-ợc công nhận bởi luật pháp giữa chủ thể đó và đối t-ợng bảo hiểm [22, tr135] Từ đó cho thấy một số yếu tố cơ

bản của quyền lợi có thể đ-ợc bảo hiểm, đó là:

Trang 18

- Phải tồn tại một tài sản, quyền, lợi ích, cuộc sống hay trách nhiệm có thể

đ-ợc bảo hiểm; và những tài sản, quyền, lợi ích, cuộc sống hay trách nhiệm đó phải là đối t-ợng của một bảo hiểm;

- Ng-ời đ-ợc bảo hiểm phải có mối quan hệ với đối t-ợng bảo hiểm đó, và ng-ời đ-ợc bảo hiểm sẽ có lợi từ sự an toàn của đối t-ợng bảo hiểm, và phải gánh chịu thiệt hại nếu đối t-ợng bảo hiểm đó bị tổn thất;

- Mối quan hệ giữa ng-ời đ-ợc bảo hiểm và đối t-ợng bảo hiểm phải là hợp pháp, đ-ợc pháp luật công nhận

Để hiểu rõ hơn vấn đề này, có thể tham chiếu qui định về quyền lợi có thể

đ-ợc bảo hiểm trong Luật bảo hiểm hàng hải Anh 1906 “ 1 Theo qui định của

luật này, ng-ời có quyền lợi có thể đ-ợc bảo hiểm là ng-ời liên quan đến một hành trình đ-ờng biển 2 Một ng-ời đ-ợc coi là liên quan đến một hành trình

đ-ờng biển khi ng-ời ấy có liên quan hợp pháp và công bằng đối với hành trình hoặc bất cứ tài sản có thể bảo hiểm nào chịu rủi ro trong hành trình đó, mà theo

đó ng-ời ấy có thể h-ởng lợi nếu tài sản có thể bảo hiểm ấy đ-ợc an toàn hay về

đ-ợc đến bến đúng hạn, hoặc có thể bị thiệt hại nếu tài sản đó bị tổn thất hay tổn hại, hay bị cầm giữ hoặc có thể chịu trách nhiệm về những tổn thất đó” (Điều 5)

Bất kỳ một tài sản nào, gắn liền với sự tồn tại của nó, là các quan hệ về quyền lợi tài chính hợp pháp mà một chủ thể có trong tài sản đó Điều này thể hiện quyền lợi của chủ thể đó sẽ đ-ợc đảm bảo nếu tài sản đó an toàn không bị tổn thất, và ng-ợc lại, chủ thể đó sẽ phải chịu thiệt hại nếu tài sản đó bị rủi ro tổn thất Mục đích của việc thiết lập một Hợp đồng bảo hiểm tài sản là nhằm bảo

đảm và bảo vệ cho những quyền lợi tài chính của một chủ thể có trong đối t-ợng tài sản bảo hiểm, và vì mục đích này mà Hợp đồng bảo hiểm đó tồn tại Do đó, bất kỳ ai có một quyền lợi tài chính, hay nói cách khác, có một quyền lợi có thể

đ-ợc bảo hiểm trong đối t-ợng là tài sản thì đều có thể yêu cầu giao kết Hợp

đồng bảo hiểm tài sản để đảm bảo cho những quyền lợi đó Quyền lợi có thể

đ-ợc bảo hiểm của một chủ thể là quyền lợi đang tồn tại, có thực; cũng có thể

còn phôi thai (đang bắt đầu) hình thành trên cơ sở sự tồn tại của quyền lợi có thực; hoặc bất kỳ sự kỳ vọng về quyền lợi nào mà nếu tài sản đó còn an toàn, còn tồn tại (không bị tổn thất) thì sẽ phát sinh quyền lợi đó

Trang 19

V-ơng Việt Đức - Khoá 1999-2002 15

Theo qui định của Luật KDBH, quyền lợi có thể đ-ợc bảo hiểm trong Hợp

đồng bảo hiểm tài sản thể hiện và phát sinh từ mối quan hệ về quyền sở hữu,

chiếm hữu, sử dụng và quyền tài sản mà Bên mua bảo hiểm có trong đối t-ợng

tài sản bảo hiểm (Khoản 9 Điều 3) Quyền lợi có thể đ-ợc bảo hiểm trong bảo hiểm tài sản không những gắn liền và phát sinh từ mối quan hệ tài chính hợp pháp từ tài sản đó, mà còn bị giới hạn bởi giá trị thực tế của tài sản, cũng nh- bị giới hạn bởi lợi ích tài chính mà ng-ời đó có thể đ-ợc h-ởng nếu tài sản đó không bị tổn thất Đây là nguyên tắc quan trọng và xuyên suốt áp dụng trong Hợp đồng bảo hiểm tài sản, một ng-ời không thể đ-ợc h-ởng lợi hơn những thiệt hại mà anh ta có thể phải chịu khi đối t-ợng tài sản bảo hiểm bị tổn thất

Theo qui định của pháp luật, giao kết Hợp đồng bảo hiểm sẽ không có hiệu lực nếu bên mua bảo hiểm không có quyền lợi có thể đ-ợc bảo hiểm (Điều 22.1 Luật KDBH) Sự tồn tại quyền lợi có thể đựơc bảo hiểm trong đối t-ợng bảo hiểm của bên mua bảo hiểm để đảm bảo hợp đồng không bị vô hiệu là nguyên tắc cơ bản cuả giao kết Hợp đồng bảo hiểm Quyền lợi có thể đ-ợc bảo hiểm trong Hợp đồng bảo hiểm tài sản tr-ớc tiên phát sinh từ mối quan hệ sở hữu đối t-ợng bảo hiểm Ngoài ra, còn có các mối quan hệ hợp pháp và quan hệ tài chính khác - với tích chất là các quan hệ phái sinh từ quyền sở hữu tài sản Vì thế, Hợp

đồng bảo hiểm tài sản có thể do ng-ời chủ sở hữu trực tiếp ký kết, và đồng thời là ng-ời đ-ợc bảo hiểm nếu chủ sở hữu thực hiện đầy đủ quyền năng của chủ sở hữu trong việc chiếm hữu, khai thác sử dụng tài sản đó Tuy nhiên, trong tr-ờng hợp chủ sở hữu giao tài sản cho ng-ời khác chiếm hữu, sử dụng, thì những ng-ời này - vì trách nhiệm và quyền lợi của họ trong việc chiếm hữu, sử dụng tài sản

đó, cũng phát sinh một quyền lợi có thể đ-ợc bảo hiểm đối với tài sản đó, và vì vậy sẽ là ng-ời trực tiếp đứng ra ký kết và là ng-ời đ-ợc bảo hiểm trong quan hệ Hợp đồng bảo hiểm tài sản Tóm lại, trong quá trình tài sản đ-ợc dịch chuyển trong giao l-u tế dân sự thì bất kỳ một chủ thể nào có mối quan hệ về lợi ích tài chính liên quan trực tiếp đến tài sản đó thì đều phát sinh một quyền lợi có thể

đ-ợc bảo hiểm, và có quyền ký kết Hợp đồng bảo hiểm tài sản để bảo đảm cho quyền lợi hợp pháp đó, họ cũng chính là ng-ời đ-ợc bảo hiểm Xin dẫn chiếu một số quan hệ tiêu biểu:

Trang 20

- Quan hệ đồng sở hữu: thể hiện một ng-ời có một phần quyền lợi trong

khối tài sản, tuy nhiên họ đ-ợc cói là có quyền bảo hiểm toàn bộ giá trị tài sản đó (chứ không chỉ là giời hạn bởi quyền lợi thực tế có của anh ta) Nh-ng, điều này không có nghĩa là anh ta sẽ đ-ợc h-ởng tất cả quyền lợi bảo hiểm khi tài sản đó

bị tổn thất, mà chỉ đ-ợc h-ởng quyền lợi t-ơng ứng với phần quyền lợi có trong tài sản bảo hiểm Trong tr-ờng hợp này pháp luật xem xét anh ta nh- là ng-ời

đ-ợc uỷ thác (Trustee) trông nom tài sản cho những ng-ời đồng sở hữu khác

- Quan hệ cầm cố: Khi một tài sản đ-ợc đ-a ra cầm cố bởi một bên, thì về

nguyên tắc bên nhận cầm cố có quyền lợi có thể đ-ợc bảo hiểm đối với tài sản đó phát sinh từ nghĩa vụ phải bảo quản, giữ gìn tài sản đó nh- là tài sản của chính mình và phải bồi th-ờng thiệt hại cho bên đem cầm cố nếu làm mất mát hoặc h- hỏng tài sản đó (Điều 334 Khoản 1 và Khoản 5 BLDS)

- Quan hệ uỷ thác trông giữ tài sản thì bên nhận uỷ thác có quyền lợi có

thể đ-ợc bảo hiểm đối với tài sản đ-ợc uỷ thác phát sinh từ việc gánh vác trách nhiệm trông nom, quản lý tài sản đó; Trong quan hệ cầm, giữ hợp pháp tài sản để thực hiện một công việc nào đó, chẳng hạn chủ hiệu giặt là, dịch vụ sửa chữa, chủ hiệu gia công vàng bạc đều có quyền lợi có thể đ-ợc bảo hiểm đối với tài sản

đó phát sinh từ trách nhiệm phải chăm sóc bảo quản một cách hợp lý đối với tài sản nh- thể họ chính là ng-ời sở hữu tài sản đó

Nh- vậy, quyền tham gia bảo hiểm tài sản của một chủ thể phát sinh trên cơ sở tồn tại một quyền lợi có thể đ-ợc bảo hiểm của một chủ thể đó đối với tài sản, không chỉ phát sinh trực tiếp từ quyền năng của chủ sở hữu trong việc chiếm hữu, sử dụng và các quyền tài sản của chủ sở hữu đối với tài sản, mà còn phát sinh từ các mối quan hệ tài chính hợp pháp khác trong quá trình tài sản đ-ợc sử dụng trong giao l-u kinh tế dân sự, trong quan hệ thực hiện nghĩa vụ dân sự và quan hệ hợp đồng dân sự

Trong bảo hiểm tài sản, do đặc thù của đối t-ợng tài sản bảo hiểm và các mối quan hệ pháp lý và lợi ích tài chính có liên quan đến tài sản, mà quyền tham gia bảo hiểm tài sản của một chủ thể đ-ợc xác định và phát sinh trên những căn

cứ khác biệt so với quyền tham gia bảo hiểm con ng-ời và quyền tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự

Trang 21

V-ơng Việt Đức - Khoá 1999-2002 17

- Trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự thì một ng-ời có quyền lợi có thể

đ-ợc bảo hiểm trong phạm vi trách nhiệm pháp lý tiểm ẩn mà anh ta có thể phải chịu đối với ng-ời khác theo qui định của pháp luật, và vì vậy phát sinh quyền tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ thể đó

- Trong bảo hiểm con ng-ời, quyền lợi có thể đ-ợc bảo hiểm của bên mua

bảo hiểm phát sinh chủ yếu từ quyền, nghĩa vụ nuôi d-ỡng, cấp d-ỡng đối với

đối t-ợng bảo hiểm là con ng-ời Về nguyên tắc, bên mua bảo hiểm có quyền mua bảo hiểm cho chính bản thân mình Bên mua bảo hiểm chỉ có quyền yêu cầu bảo hiểm cho một ng-ời khác, nếu có một quyền lợi có thể đ-ợc bảo hiểm liên

quan đến đối t-ợng ng-ời đ-ợc bảo hiểm, phát sinh từ mối quan hệ huyết thống,

nghĩa vụ nuôi d-ỡng, cấp d-ỡng của bên mua bảo hiểm đối với ng-ời đ-ợc bảo

hiểm Vì vậy, theo qui đinh của Luật KDBH thì : Bên mua bảo hiểm chỉ có thể

mua bảo hiểm cho: a/ bản thân bên mua bảo hiểm; b/ Vợ, chồng, con,cha mẹ của bên mua bảo hiểm ; c/ anh chị em ruột, ng-ời có quan hệ nuôi d-ỡng và cấp d-ỡng; d/ ng-ời khác, nếu bên mua bảo hiểm có thể có quyền lợi có thể đ-ợc bảo hiểm” (Khoản 2 Điều 31)

Xác định quyền bảo hiểm tài sản của một chủ thể phát sinh trên cơ sở phải tồn tại một quyền lợi có thể đ-ợc bảo hiểm có trong đối t-ợng tài sản bảo hiểm là nguyên tắc đặc thù của Hợp đồng bảo hiểm tài sản Đóng vai trò quan trọng và tiên quyết xuyên xuốt quá trình giao kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng và bồi th-ờng bảo hiểm: không chỉ là điều kiện để đảm bảo cho Hợp đồng bảo hiểm tài sản có hiệu lực, mà nó còn cho phép xem xét các tr-ờng hợp làm vô hiệu hợp

đồng, các tr-ờng hợp chấm dứt hợp đồng, cũng nh- các điều kiện để Hợp đồng bảo hiểm tài sản có thể đ-ợc chuyển nh-ợng

1.4 Sự hình thành và phát triển của pháp luật về Hợp đồng bảo hiểm

Trang 22

thể hoặc tài sản hoặc phát sinh trách nhiệm dân sự phải bồi th-ờng theo quy định của luật pháp và trong khuôn khổ những cam kết của ng-ời bảo hiểm Tính đặc thù còn thể hiện ở chỗ ngay cả ng-ời bảo hiểm và ng-ời đ-ợc bảo hiểm cũng đều không biết khi nào thì sự kiện bảo hiểm xảy ra (trừ bảo hiểm nhân thọ khi đến hạn hợp đồng) bởi trong bảo hiểm phi nhân thọ ng-ời bảo hiểm chỉ nhận những rủi ro có thể xảy ra chứ không chắc chắn sẽ xảy ra Và đây cũng chính là yếu tố không ngang giá xảy ra trong quá trình mua bán (thảo luận và ký kết hợp đồng) Ng-ời bảo hiểm thì trả phí mà không thể có kết luận ngay là đắt hay rẻ và ng-ời bảo hiểm thì càng không thể biết rằng mình đã ôm một rủi ro lớn đến mức nào so với số tiền mà mình đã nhận

Chính vì đặc thù đó mà ở hầu hết các n-ớc trên thế giới đều đặc biệt coi trọng tầm quan trọng của Hợp đồng bảo hiểm Do các yếu tố lịch sử và truyền thống pháp lý ở các n-ớc khác nhau, mà có các qui định khác nhau về Hợp đồng bảo hiểm

Luật Bảo hiểm có lịch sử phát triển rất sớm ở châu Âu Tại Bồ Đào Nha,

đạo luật đầu tiên về bảo hiểm đ-ợc ban hành từ thế kỷ 14 và bắt nguồn từ việc thể chế hoá các tập quán đ-ơng thời về bảo hiểm hàng hải Đến nay, sau nhiều lần thay đổi, hệ thống pháp luật về bảo hiểm đã hình thành vững chắc và không ngừng đ-ợc hoàn thiện Hoạt động kinh doanh bảo hiểm của các n-ớc chịu sự

điều chỉnh của hai luật chính là Luật về doanh nghiệp bảo hiểm (hay luật về quản

lý giám sát bảo hiểm) và Luật về Hợp đồng bảo hiểm Một số loại bảo hiểm đặc thù nh- bảo hiểm hàng hải, bảo hiểm hàng không, bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới hay Tái bảo hiểm, th-ờng đ-ợc điều chỉnh bằng những văn bản riêng nh- Luật Bảo hiểm Hàng hải năm 1906 (Anh); Luật Hàng hải (ý); Đạo luật Bảo hiểm Trách nhiệm Dân sự chủ xe cơ giới đối với ng-ời thứ ba (Đức) v.v Ngoài ra, các n-ớc nh- Bồ Đào Nha, Hy Lạp là một trong số ít các n-ớc có các quy định pháp luật về bảo hiểm đ-ợc tập hợp trong Bộ luật Th-ơng mại Trong khi đó, một số n-ớc khác nh- ý, lại sử dụng BLDS để điều chỉnh nội dung, hình thức, việc giao kết, thực hiện Hợp đồng bảo hiểm

Nhìn chung, các n-ớc theo hệ thống Luật thành văn ( nh- Cộng hoà liên bang Đức, Pháp, úc, Philipine, Trung Quốc ) mặc dù đã có Luật về hợp đồng, nh-ng các n-ớc này đều đ-a vào Bộ luật bảo hiểm một ch-ơng qui định riêng về

Trang 23

V-ơng Việt Đức - Khoá 1999-2002 19

Hợp đồng bảo hiểm, hoặc ban hành một Luật riêng về Hợp đồng bảo hiểm nhằm

điều chỉnh các mối quan hệ giữa ng-ời bảo hiểm và ng-ời đ-ợc bảo hiểm

ở Việt nam, một Luật riêng mang tính chuyên ngành điều chỉnh về hoạt

động kinh doanh bảo hiểm và Hợp đồng bảo hiểm mới chỉ có từ khi Quốc hội Việt nam thông qua Luật KDBH ngày 09/12/2000, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/4/2001

Thực tế, vào giai đoạn đầu sơ khai của hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt nam, chỉ có duy nhất một công ty bảo hiểm (Tổng công ty bảo hiểm Việt nam - Bảo Việt, đ-ợc thành lập bởi Quyết định số 179/CP ngày 17/12/1964 của Thủ t-ớng Chính Phủ), hoạt động theo cơ chế Nhà n-ớc độc quyền, thì các qui

định pháp luật điều chỉnh về Hợp đồng bảo hiểm còn thiếu và có hiệu lực pháp lý thấp Tr-ớc những năm 90, bên cạnh việc thiếu vắng khung pháp luật chung về hợp đồng trong hệ thống pháp luật Việt nam, những qui định liên quan đến Hợp

đồng bảo hiểm nói chung và Hợp đồng bảo hiểm tài sản chủ yếu đ-ợc điều chỉnh bởi các Quyết định hay Thông t- h-ớng dẫn của Bộ Tài chính cho phép Bảo Việt triển khai một số nghiệp vụ bảo hiểm và ban hành theo đó một số Qui tắc Điều khoản bảo hiểm đ-ợc phép áp dụng; hoặc cho phép Bảo Việt ban hành một số Qui tắc, Điều khoản bảo hiểm Hầu hết các Qui tắc, Điều khoản bảo hiểm đều là

sự sao chép các Điều khoản bảo hiểm của n-ớc ngoài đ-ợc áp dụng vào Việt nam, với tính chất là một Hợp đồng bảo hiểm theo mẫu, đ-ợc qui định sẵn trong Qui tắc bảo hiểm, do một bên doanh nghiệp bảo hiểm đ-a ra Vì vậy, không tránh khỏi việc áp đặt ý chí chủ quan của một bên chủ thể doanh nghiệp bảo hiểm, các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia trong quan hệ Hợp đồng bảo hiểm ch-a thực sự đ-ợc bình đẳng

Từ những đòi hỏi thực tiễn của cơ chế đổi mới kinh tế xã hội Việt nam, các văn bản pháp luật điều chỉnh về các lĩnh vực về hợp đồng đã lần luợt ban hành: Pháp lệnh HĐKT ngày 25/9/1989; Pháp lệnh HĐDS ngày 29/4/1991) Tuy nhiên, nội dung các văn bản này ch-a đủ để điều chỉnh những vấn đề đặc thù của Hợp đồng bảo hiểm Bộ luật hàng hải đ-ợc Quốc hội thông qua ngày 30/6/1990,

có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/1991 đã dành Ch-ơng XVI , gồm 41 Điều qui

định về Hợp đồng bảo hiểm hàng hải Có thể coi BLHH là văn bản luật đầu tiên,

có giá trị pháp lý cao điều chỉnh về Hợp đồng bảo hiểm, tuy nhiên, các nội dung

Trang 24

qui định này cũng chỉ điều chỉnh giới hạn các vấn đề liên quan đến Hợp đồng bảo hiểm trong lĩnh vực bảo hiểm hàng hải Nghị định 100 CP ngày 18/12/1993

điều chỉnh về hoạt động kinh doanh bảo hiểm đ-ợc coi là cơ sở pháp lý đầu tiên, quan trọng hình thành và phát triển thị tr-ờng bảo hiểm sôi động hiện nay Nh-ng, chỉ với 38 Điều, Nghị định 100 CP đã không qui định và bao quát đ-ợc những yếu tố cơ bản của thị tr-ờng bảo hiểm Các qui định này chỉ tập trung điều chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm, mà lại không có các qui định

cụ thể ghi nhận và bảo vệ các quyền và lợi ích của những ng-ời tham gia bảo hiểm Bộ luật dân sự ra đời, có hiệu lực từ ngày 01/7/1996, mặc dù dành 14 Điều (từ điều 571 đến điều 584) trong Mục 11 Ch-ơng II, Phần thứ ba qui định về Hợp

đồng bảo hiểm, với các qui định mang tính nguyên tắc và quá sơ l-ợc, ch-a bao hàm hết các khía cạnh của Hợp đồng bảo hiểm Bộ Tài chính cũng đã ban hành Qui chế tạm thời về các qui định chung của Hợp đồng bảo hiểm (theo Quyết định

số 581a TC/TCNH ngày 1/7/1996 ) áp dụng cho tất cả các Hợp đồng bảo hiểm không phải là Hợp đồng bảo hiểm hàng hải, trong đó điều chỉnh một số nội dung

và nguyên tắc quan trọng liên quan đến từng loại Hợp đồng bảo hiểm, tuy nhiên, ch-a bao hàm hết các khía cạnh của Hợp đồng bảo hiểm, và có giá trị pháp lý thấp

Nh- vậy, trong một thời gian dài hình thành và phát triển của thị tr-ờng kinh doanh bảo hiểm Việt nam, pháp luật điều chỉnh về Hợp đồng bảo hiểm còn tản mạn và không đồng bộ Nguồn chính của pháp luật về Hợp đồng bảo hiểm là các Qui tắc bảo hiểm, điều khoản bảo hiểm do các Doanh nghiệp bảo hiểm áp dụng hoặc ban hành Nền tảng cho sự phát triển vững chắc và lành mạnh của một thị tr-ờng bảo hiểm là việc đảm bảo và bảo vệ các quyền lợi chính đáng của một bên chủ thể tham gia thị tr-ờng - đó là những ng-ời tham bảo hiểm, ch-a

đ-ợc pháp luật quan tâm và điều chỉnh đúng mức Việc ban hành một văn bản Luật chuyên ngành, có hiệu lực pháp luật mang tính thống nhất, điều chỉnh và bảo vệ quyền lợi của một bên những ng-ời tham gia bảo hiểm là đòi hỏi tất yếu của quá trình phát triển

Luật KDBH [2001] đã đ-ợc ban hành ngày 22/12/200, với tính chất là văn bản luật chuyên ngành đầu tiên qui định về hoạt động kinh doanh bảo hiểm và ghi nhận các vấn đề đặc thù của Hợp đồng bảo hiểm Có thể nói, lần đầu tiên -

Trang 25

V-ơng Việt Đức - Khoá 1999-2002 21

quyền và lợi ích hợp pháp của những ng-ời tham gia bảo hiểm, đ-ợc ghi nhận và

điều chỉnh t-ơng đối đầy đủ thông qua 46 Điều của Chế định Hợp đồng bảo hiểm tại Ch-ơng II, Luật KDBH

Ngoài các qui định chung về Hợp đồng bảo hiểm, Luật KDBH đã có các qui định điều chỉnh cụ thể từng loại Hợp đồng bảo hiểm theo đối t-ợng bảo

hiểm là con ng-ời, tài sản hay trách nhiệm dân sự Thông qua đó, Luật đã pháp

điển hoá nhiều thuật ngữ, khái niệm đặc thù đ-ợc sử dụng trong kỹ thuật bảo hiểm Đặc biệt là các nguyên tắc đặc thù trong Hợp đồng bảo hiểm tài sản, nh- nguyên tắc xác định số tiền bảo hiểm, nguyên tắc bồi th-ờng/ trả tiền bảo hiểm,

và các qui định đặc thù về bảo hiểm trùng, chuyển quyền truy đòi ng-ời thứ ba gây thiệt trong bảo hiểm tài sản

Hoạt động kinh doanh bảo hiểm là một trong những loại quan hệ th-ờng

có yếu tố n-ớc ngoài, luôn đòi hỏi tính hội nhập và t-ơng đồng quốc tế thông qua các hoạt động Tái bảo hiểm và hợp tác quốc tế, vì vậy, sự xung đột pháp luật

về kinh doanh bảo hiểm và Hợp đồng bảo hiểm giữa các quốc gia khác nhau là không thể tránh khỏi Hợp đồng bảo hiểm không thể chỉ mang tính chất đối nội trong một quốc gia, mà nó đòi hỏi phải có sự giao l-u, t-ơng đồng nhất định đối với các vấn đề mà các quốc gia trên thế giới ghi nhận Đặc biệt, đối với Hợp

đồng bảo hiểm tài sản, chịu sự điều chỉnh đan xen của nhiều văn bản pháp luật Ngoài qui định về bảo hiểm tài sản trong Luật KDBH và các qui định chung về pháp luật HĐKT dân sự, Hợp đồng bảo hiểm tài sản còn chịu sự điều chỉnh và bị chi phối bởi pháp luật quốc tế và tập quán bảo hiểm quốc tế

Các đối t-ợng tài sản bảo hiểm trong bảo hiểm hàng không, bảo hiểm dầu khí, luôn có quan hệ mật thiết và chịu ảnh h-ởng sâu sắc của thị tr-ờng bảo hiểm quốc tế Đặc biệt là các đối t-ợng tài sản trong bảo hiểm hàng hải (nh- hàng hoá

và thân tàu biển, c-ớc phí vận chuyển .) luôn đ-ợc tiến hành trên bình diện quốc tế, đ-ơng đầu với các thị tr-ờng mở, các qui định của pháp luật đòi hỏi tính mềm dẻo và không bị khép lại trong một phạm vi cứng nhắc, nên để các bên các bên có khả năng tự phân sử hoặc tự do thoả hiệp Các nguyên tắc và nội dung cơ bản của các điều khoản bảo hiểm luôn bị chi phối bởi luật pháp và tập quán hàng hải, th-ơng mại quốc tế, đ-ợc thực hiện theo những mẫu đơn bảo hiểm tiêu chuẩn đã thừa nhận và áp dụng rộng rãi trên thị tr-ờng bảo hiểm quốc tế, điển

Trang 26

hình là việc áp dụng Luật hàng hải Anh 1906 và các bộ điều khoản bảo hiểm hàng hoá của Anh ICC 1/1/1963 và ICC 1/1/ 1982 đối với bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu; cũng nh- việc áp dụng các điều khoản bảo hiểm thân tàu của Hiệp hội bảo hiểm Luân đôn ITC 1/10/1983

Ngoài ra, cũng cần khẳng định rằng các qui định của luật thực định trong n-ớc điều chỉnh về Hợp đồng bảo hiểm hàng hải không thể không tôn trọng hay

bỏ qua sự ảnh h-ởng và chi phối của tập quán th-ơng mại quốc tế đối với quan

hệ mua bán, vận chuyển, giao nhận và bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu Điển hình là các điều kiện th-ơng mại quốc tế ICOTERMS 1990 của Phòng Th-ơng mại Quốc tế, điều chỉnh ba hợp đồng tách bạch ( hợp đồng bán hàng; hợp đồng vận chuyển; và Hợp đồng bảo hiểm ) nh-ng không thể tách rời, liên quan đến việc đóng góp vào việc thực hiện duy nhất và cùng một mục tiêu là giao hàng hoá đến nơi nhận tận tay ng-ời mua Ba hợp đồng này mặc dù độc lập nh-ng không thể tách rời, bởi vì chúng bổ sung cho nhau, cùng tạo thành một chỗ dựa pháp lý không thể thiếu đ-ợc cho việc thực hiện mọi hoạt động th-ơng mại, từ bán đến xuất khẩu hàng hoá Các hợp đồng này không thể thay thế đ-ợc cho nhau, nh-ng nếu bỏ đi một hợp đồng sẽ làm hại đến cân bằng tổng thể đang tồn tại giữa chúng Vì vậy, bảo hiểm hàng hải, hay bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu không chỉ là đối tuợng của hoạt động kinh doanh bảo hiểm, mà nó còn là một ph-ơng tiện tín dụng và là một ph-ơng tiện của ngành ngoại th-ơng Một ngân hàng không thể chấp thuận tr-ớc cho bên mua nếu nh- không nắm đ-ợc các chứng từ có thể th-ơng l-ợng đ-ợc, đó là một vận đơn vận chuyển đ-ờng biển và một bằng chứng về một Hợp đồng bảo hiểm Tín dụng th- đ-ợc mở phải

đ-ợc điều hoà bằng sự tồn tại của một Hợp đồng bảo hiểm hàng hải Các điều kiện th-ơng mại này thể hiện là các hợp đồng mẫu trong mua bán hàng hoá quốc

tế, qui định quyền lợi và trách nhiệm của các bên, thời điểm chuyển giao ruỉ ro, chuyển giao trách nhiệm liên quan đến hàng hoá, mà kéo theo đó là trách nhiệm mua bảo hiểm hàng hoá, các nguyên tắc tiếp nhận một quyền lợi bảo hiểm liên quan đến hàng hoá, nguyên tắc ký phát đơn bảo hiểm, chuyển nh-ợng Hợp đồng bảo hiểm đ-ợc thực hiện theo tập quán, t-ơng tự nh- đối với Vận đơn hàng hải

Chẳng hạn trong mua bán hàng hoá với điều kiện CIF ( Cost, Insurance and

Freight ), thì ng-ời bán hàng phải mua bảo hiểm với Đơn bảo hiểm mang tên

Trang 27

V-ơng Việt Đức - Khoá 1999-2002 23

mình (hay tên của đại lý hay môi giới của ng-ời bán), đơn bảo hiểm đ-ợc chuyển nh-ợng bằng cách ký hậu để trống, sau đó đ-ợc chuyển cho ngân hàng cùng với các tài liệu về chủ quyền hàng hoá, và khi bộ chứng từ này đ-ợc rút ra bởi ng-ời mua hàng tại nơi hàng đến - ng-ời này sẽ ký tên vào Đơn bảo hiểm với t- cách là ng-ời đ-ợc chuyển nh-ợng, có toàn quyền khiếu nại đòi bồi th-ờng bảo hiểm Những đặc thù này, về nguyên tắc đã đ-ợc ghi nhận và chịu sự điều chỉnh của BLHH Việt nam Nh- vậy, pháp luật và tập quán bảo hiểm, th-ơng mại quốc tế cùng song hành tồn tại đồng thời với các qui định pháp luật bảo hiểm trong n-ớc điều chỉnh các vấn đề có liên quan về bảo hiểm tài sản trong các lĩnh vực bảo hiểm khác nhau, hàng hải và phi hàng hải

Những nội dung trên cho thấy tính phức tạp và sự phong phú của nguồn các văn bản pháp luật cũng nh- tập quán th-ơng mại hàng hải, tập quán bảo hiểm quốc tế có liên quan điều chỉnh về Hợp đồng bảo hiểm tài sản Việc cho phép các bên trong quan hệ Hợp đồng bảo hiểm có thể thoả thuận áp dụng tập quán quốc tế, nếu tập quán đó không trái với pháp luật Việt nam, cũng nh- lựa chọn luật áp dụng hay cơ quan giải quyết tranh chấp Hợp đồng bảo hiểm là trọng tài hay toà án n-ớc ngoài không chỉ là những nguyên tắc đ-ợc ghi nhận trong BLDS, mà đã đ-ợc ghi nhận cụ thể tại Điều 5 và Điều 242 BLHH, cũng nh- đã

đ-ợc qui định rõ tại Điều 2 Luật KDBH Đồng thời, với t- cách là Luật chuyên ngành về kinh doanh bảo hiểm, Điều 12 Luật KDBH cũng đã giới hạn phạm vi

điều chỉnh của Chế định Hợp đồng bảo hiểm trong Luật chỉ đ-ợc áp dụng đối với những vấn đề liên quan đến Hợp đồng bảo hiểm hàng hải mà BLHH không qui

định; và những vấn đề liên quan đến Hợp đồng bảo hiểm nếu không đ-ợc qui

định trong Luật KDBH, sẽ áp dụng các qui định của BLDS và các qui định của pháp luật khác có liên quan để điều chỉnh

Hiện nay, cùng với các qui định về Hợp đồng bảo hiểm trong BLDS, BLHH, các qui định pháp luật chung về HĐKT, HĐDS có liên quan và các qui

định đặc thù chung về Hợp đồng bảo hiểm, cũng nh- các qui định đặc thù về từng loại Hợp đồng bảo hiểm trong Luật KDBH đã hình thành khung pháp luật t-ơng đối đầy đủ điều chỉnh về Hợp đồng bảo hiểm, Hợp đồng bảo hiểm tài sản,

đảm bảo quan hệ và quyền lợi bình đẳng giữa các chủ thể tham gia quan hệ Hợp

đồng bảo hiểm

Trang 28

Ch-ơng II

Thực trạng pháp luật về Hợp đồng bảo hiểm tài sản

2.1 Chủ thể và những ng-ời liên quan trong hợp đồng

Hợp đồng bảo hiểm tài sản đ-ợc thiết lập giữa bên bảo hiểm và Bên mua bảo hiểm

2.1.1 Doanh nghiệp bảo hiểm :

Là doanh nghiệp đ-ợc thành lập, tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm theo qui định của Luật KDBH Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ có thể đ-ợc thành lập d-ới các hình thức: Doanh nghiệp Nhà n-ớc; Công ty cổ phần; tổ chức bảo hiểm t-ơng hỗ; Doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh và Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu t- n-ớc ngoài [4; Điều 59] Kinh doanh bảo hiểm là loại hình kinh doanh có điều kiện, do đó các Doanh nghiệp bảo hiểm đều do Bộ Tài chính cấp phép thành lập và hoạt động [4, Điều 62]

Để trở thành một bên trong quan hệ Hợp đồng bảo hiểm tài sản, Doanh nghiệp bảo hiểm phải đ-ợc phép kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm tài sản

2.1.2 Bên mua bảo hiểm

Theo qui định của Khoản 6 Điều 3 Luật KDBH, Bên mua bảo hiểm là tổ chức, các nhân giao kết Hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm và đóng phí bảo hiểm Bên mua bảo hiểm có thể đồng thời là ng-ời đ-ợc bảo hiểm và ng-ời thụ h-ởng Thông th-ờng, trong bảo hiểm tài sản, chủ thể Bên mua bảo hiểm có thể là cá nhân, hoặc tổ chức thực hiện việc yêu cầu bảo hiểm, ký kết hợp

đồng và trả phí bảo hiểm, đồng thời họ cũng chính là Ng-ời đ-ợc bảo hiểm - là nguời có tài sản là đối t-ợng bảo hiểm

Mặc dù, Luật KDBH không sử dụng thuật ngữ " Ng-ời thụ h-ởng" quyền lợi bảo hiểm trong Hợp đồng bảo hiểm tài sản (mà chỉ đ-ợc sử dụng trong bảo hiểm con ng-ời theo qui định của Điều 3.8 Luật KDBH) Tuy nhiên, trong Hợp

đồng bảo hiểm tài sản, thực tế cũng tồn tại một chủ thể khác (không phải là Bên mua bảo hiểm hay ng-ời đ-ợc bảo hiểm), đ-ợc chỉ định để h-ởng quyền lợi bảo hiểm Chẳng hạn, ngân hàng cho vay vốn để mua sắm tài sản, thiết bị sản xuất, th-ờng yêu cầu ng-ời đi vay mua bảo hiểm cho tài sản đó để bảo toàn vốn vay,

Trang 29

V-ơng Việt Đức - Khoá 1999-2002 25

và chỉ định Ngân hàng sẽ là ng-ời đ-ợc h-ởng tiền bồi th-ờng trong tr-ờng hợp

tài sản đó bị tổn thất Những đối t-ợng đ-ợc h-ởng quyền lợi bảo hiểm trong

những tr-ờng hợp này ch-a đ-ợc ghi nhận trong Luật KDBH, tuy về bản chất

không khác gì với “ ng-ời thụ h-ởng” trong bảo hiểm con ng-ời

Ng-ời yêu cầu bảo hiểm và ký kết hợp đồng phải đảm bảo năng lực chủ thể khi giao kết Hợp đồng bảo hiểm tài sản Nếu là tổ chức, thì phải là ng-ời đại diện đ-ơng nhiên hoặc theo uỷ quyền của tổ chức đó, nếu là cá nhân phải đảm bảo năng lực chủ thể theo qui định chung của pháp luật về hợp đồng Bên mua bảo hiểm chỉ có thể yêu cầu bảo hiểm và ký kết Hợp đồng bảo hiểm khi có

“quyền lợi có thể đ-ợc bảo hiểm”(Insurable interest) trong đối t-ợng tài sản bảo

hiểm, nếu không Hợp đồng bảo hiểm đ-ợc ký kết sẽ vô hiệu theo qui định tại Khoản 1a Điều 22 Luật KDBH (những nội dung chi tiết đã đ-ợc phân tích tại mục 1.3 Ch-ơng I của luận văn liên quan đến quyền bảo hiểm tài sản của Bên mua bảo hiểm )

2.2 Hình thức của Hợp đồng bảo hiểm tài sản

Để đảm bảo giá trị pháp lý của những nội dung cam kết đặc thù trong Hợp

đồng bảo hiểm, mà pháp luật của các n-ớc trên thế giới đều qui định hình thức của Hợp đồng bảo hiểm phải đ-ợc lập thành văn bản Các qui định của pháp luật Việt Nam, cụ thể là Điều 574 BLDS; Khoản 3 Điều 200 BLHH; Điều 14 Luật

KDBH đều qui định Hợp đồng bảo hiểm, bằng chứng giao kết hợp đồng phải lập

thành văn bản

Ngoài các qui định của BLDS và BLHH về bằng chứng giao kết hợp đồng

là Giấy chứng nhận bảo hiểm, Đơn bảo hiểm, Luật KDBH còn mở rộng thêm những hình thức mới nh- “ .điện báo, tele x, fa x và các hình thức khác do

pháp luật qui định “ cũng đ-ợc coi là bằng chứng giao kết Hợp đồng bảo hiểm

(Điều 14) Các bằng chứng giao kết hợp đồng không phải là văn bản thể hiện ghi nhận toàn bộ nội dung hợp đồng, quyền và nghiã vụ của các bên, mà chỉ ghi nhận những nội dung chính chủ yếu, cụ thể nhất của hợp đồng, thể hiện giữa các bên đã thiết lập một quan hệ Hợp đồng bảo hiểm nh-: ngày giờ giao kết; ng-ời

tham gia bảo hiểm; đối t-ợng bảo hiểm; số tiền bảo hiểm; thời hạn bảo hiểm; Qui tắc bảo hiểm hay đơn bảo hiểm (cấp kèm theo) đ-ợc áp dụng; chữ ký của

Trang 30

doanh nghiệp bảo hiểm, trong nhiều tr-ờng hợp có thể có chữ ký của bên tham gia bảo hiểm

Do tính chất đặc thù của Hợp đồng bảo hiểm, mà ở đó các điều khoản ghi

nhận nội dung của Hợp đồng bảo hiểm th-ờng đ-ợc soạn theo mẫu do một bên Doanh nghiệp bảo hiểm đ-a ra, thông th-ờng đó là các Quy tắc bảo hiểm, Đơn

bảo hiểm do Bộ tài chính ban hành hoặc do Doanh nghiệp bảo hiểm ban hành

trên cơ sở có sự phê chuẩn, chấp nhận của Bộ tài chính Nội dung các Quy tắc,

Điều khoản bảo hiểm này có thể thấy chứa đựng hầu hết các nội dung phải có của một Hợp đồng bảo hiểm tài sản theo quy định của Điều 13 - Luật KDBH

(nh- Đối t-ợng bảo hiểm; Phạm vi bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, điều khoản

bảo hiểm; Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm; Số tiền bảo hiểm, giá trị tài sản đ-ợc bảo hiểm; Thời hạn bảo hiểm; Mức phí bảo hiểm, ph-ơngthức đóng phí bảo hiểm; Thời hạn, ph-ơng thức trả tiền bảo hiểm hoặc bồi th-ờng; Các quy định giải quyết tranh chấp Vì vậy, Hợp đồng bảo hiểm nói chung, cũng nh-

Hợp đồng bảo hiểm tài sản có hình thức khác với các hình thức hợp đồng trong các lĩnh vực kinh tế, dân sự

Hình thức Hợp đồng bảo hiểm th-ờng không đựơc thể hiện bằng một văn

bản hợp đồng, qui định đầy đủ các nội dung cam kết cũng nh- quyền và nghĩa vụ

của các bên, mà thông th-ờng nó bao gồm một bộ Hợp đồng, với các bộ phận

cấu thành tạo lên một bộ Hợp đồng bảo hiểm hoàn chỉnh, có giá trị pháp lý ràng

buộc trách nhiệm của các bên Một bộ Hợp đồng bảo hiểm hoàn chỉnh th-ờng

bao gồm: Giấy yêu cầu bảo hiểm; Giấy chứng nhận bảo hiểm; Đơn bảo hiểm

hoặc Qui tắc, Điều khoản, điều kiện bảo hiểm; Phụ lục của Hợp đồng bảo hiểm; các sửa đổi bổ sung Giấy yêu cầu bảo hiểm, mặc dù không đ-ợc pháp luật điều

chỉnh và không có giá trị pháp lý ràng buộc các bên, nh-ng cũng đ-ợc coi là một

bộ phận cấu thành Hợp đồng bảo hiểm Trong thực tiễn, nó lại có vai trò quan trọng thể hiện ý chí tự nguyện tham gia bảo hiểm của Bên mua bảo hiểm, cũng nh- có thể đ-ợc sử dụng là bằng chứng khi các bên có tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ khai báo của Bên mua bảo hiểm khi yêu cầu giao kết Hợp đồng bảo hiểm Giấy yêu cầu chủ yếu bao gồm các nội dụng về khai báo rủi ro, đối t-ợng bảo hiểm, số tiền bảo hiểm và các thông tin khác, cùng với cam kết và chữ ký của Bên mua bảo hiểm Khi đã chấp nhận bảo hiểm, giấy yêu cầu bảo hểm đ-ợc

Trang 31

ký xác nhận của Bên mua bảo hiểm, thì khi chấp nhận bảo hiểm - Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ cần đơn ph-ơng ký vào văn bản chấp nhận bảo hiểm (giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm hoặc các hình thức khác theo qui định) và cấp cho Bên mua bảo hiểm Pháp luật chung về hợp đồng kinh tế, dân sự không cho phép nh- vậy Pháp luật chuyên ngành điều chỉnh về Hợp đồng bảo hiểm, cụ thể là Luật KDBH cũng nh- các văn bản h-ớng dẫn thi hành cũng ch-a ghi nhận và

điều chỉnh vấn đề này, tuy nhiên đây là đặc thù xuất phát từ thực tiễn và tính chất kinh doanh bảo hiểm mà pháp luật cần phải xem xét, điều chỉnh

2.3 Hiệu lực của Hợp đồng bảo hiểm tài sản

2.3.1 Hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực

Một Hợp đồng bảo hiểm sẽ có hiệu lực kề từ thời điểm giao kết Theo quy

định của Điều 15 Luật KDBH thì " Trách nhiệm bảo hiểm phát sinh khi Hợp

đồng bảo hiểm đã đ-ợc giao kết hoặc có bằng chứng là Doanh nghiệp bảo hiểm

đã chấp nhận bảo hiểm và Bên mua bảo hiểm đã đóng phí bảo hiểm, trừ khi có thoả thuận khác trong Hợp đồng bảo hiểm"

Qua nội dung qui định này cho thấy, đây là qui định về hiệu lực của Hợp

đồng bảo hiểm, tuy nhiên Luật KDBH lại gọi điều khoản này là " Thời điểm phát

sinh trách nhiệm bảo hiểm" Chúng tôi cho rằng cách đặt tên điều khoản nh- vậy

là không chính xác, không bao hàm nghĩa xác định đ-ợc thời điểm Hợp đồng

bảo hiểm phát sinh hiệu lực đối với các trách nhiệm của Bên mua bảo hiểm (cụ

thể vấn đề này xin đ-ợc phân tích cụ thể tại Ch-ơng III của Luận văn liên quan

đến các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về Hợp đồng bảo hiểm tài sản)

Nh- vậy, có thể coi bản chất nội dung qui định này qui định về thời điểm

có hiệu lực của hợp đồng Theo qui định của Điều 15 Luật KDBH đã viện dẫn, tồn tại hai điều kiện để Hợp đồng bảo hiểm đ-ợc xác định là đã đ-ợc giao kết và bắt đầu có hiệu lực Tuy nhiên có bắt buộc trong mọi tr-ờng hợp phải xảy ra

Trang 32

đồng thời cả hai điều kiện này hay không sẽ đ-ợc xem xét cụ thể d-ới những phân tích sau đây:

- Thứ nhất: Hợp đồng bảo hiểm đã đ-ợc giao kết, bằng chứng của việc giao kết là Doanh nghiệp bảo hiểm đã cấp giấy chứng nhận, đơn bảo hiểm, điện

báo, telex và các hình thức khác do pháp luật quy định (Điều 14 Luật KDBH);

Hoặc khi có bằng chứng Doanh nghiệp bảo hiểm đã chấp nhận bảo hiểm và Bên

mua bảo hiểm đã đóng phí bảo hiểm

- Thứ hai: Bên mua bảo hiểm đã đóng phí bảo hiểm, trừ tr-ờng hợp có

thoả thuận khác trong Hợp đồng bảo hiểm

Về nguyên tắc, Hợp đồng bảo hiểm chỉ có hiệu lực khi Bên mua bảo hiểm

đã đóng phí bảo hiểm, tức là phải xảy ra đồng thời cả hai điều kiện: trả phí bảo hiểm để đ-ợc chấp nhận bảo hiểm (Doanh nghiệp bảo hiểm đã cấp ra văn bản là bằng chứng thể hiện Hợp đồng bảo hiểm đã đ-ợc giao kết nh- giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm ; hoặc có bằng chứng thể hiện doanh nghiệp đã chấp nhận bảo hiểm)

Tuy nhiên, pháp luật lại cho phép các bên có thể thoả thuận việc đóng phí, ph-ơng thức trả phí Điều 15 Luật KDBH qui định các bên có thể có thoả thuận

khác trong hợp đồng; Điều 576 BLDS qui định " thời hạn đóng phí bảo hiểm

theo thoả thuận hoặc theo qui định của pháp luật Phí bảo hiểm có thể đ-ợc

đóng một lần hoặc theo định kỳ Vì vậy, từ những phân tích này cho thấy, theo

pháp luật hiện hành thì Hợp đồng bảo hiểm có thể đ-ợc coi là đã đ-ợc giao kết

và có hiệu lực ngay cả khi Bên mua bảo hiểm vẫn nợ phí bảo hiểm

Thực tiễn giao kết Hợp đồng bảo hiểm tài sản cho thấy, các bên th-ờng thoả thuận về việc chậm nộp phí sau một khoảng thời gian nhất định sau khi Hợp

đồng bảo hiểm đ-ợc giao kết Doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm và cấp giấy chứng nhận bảo hiểm trên cơ sở Bên mua bảo hiểm vẫn nợ toàn bộ số phí bảo hiểm, và thoả thuận này pháp luật không cấm (theo qui định đã dẫn chiếu

ở trên), vì vậy, nếu tr-ờng hợp tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm, và xảy ra trong thời gian cho nợ phí, thì Hợp đồng bảo hiểm vẫn có hiệu lực, Doanh nghiệp bảo hiểm vẫn phải trả tiền bồi th-ờng bảo hiểm

Nh- vậy, nhìn chung - Hợp đồng bảo hiểm tài sản có hiệu lực kể từ thời

điểm ghi trong Giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm đ-ợc cấp, nó trở thành

Trang 33

V-ơng Việt Đức - Khoá 1999-2002 29

"luật" và ràng buộc trách nhiệm đối với các bên tham gia quan hệ Hợp đồng bảo hiểm Thông th-ờng hợp đồng có hiệu lực trong suốt thời hạn hợp đồng và sẽ kết thúc hiệu lực vào thời điểm hết hạn hợp đồng, trừ khi có các tr-ờng hợp làm thay

đổi, chấm dứt hiệu lực hợp đồng tr-ớc thời hạn Trong Hợp đồng bảo hiểm tài sản, thời hạn hợp đồng rất khác nhau phụ thuộc chủ yếu vào loại tài sản, thông th-ờng là 01 năm, nh-ng cũng có thể là theo tiến độ thi công, xây dựng công trình; theo chuyến vận chuyển hàng hoá Thời hạn này đ-ợc ghi rõ trong nội dung Hợp đồng bảo hiểm tài sản

Tuy nhiên, liên quan đến việc đảm bảo và xác định hiệu lực của hợp đồng, còn có một số vấn đề mà pháp luật thực định của Việt nam ch-a qui định cụ thể

và rõ ràng Cụ thể:

- Bên cạnh các bằng chứng giao kết hợp đồng thì pháp luật còn qui định hình thức khác là bằng chứng chấp nhận bảo hiểm, tuy nhiên lại ch-a quy định

rõ thế nào là "Bằng chứng chấp nhận" bảo hiểm, nó phải thể hiện bằng văn bản

nào và gồm những nội dung gì? Pháp luật của nhiều n-ớc trên thế giới đều quy

định khi Doanh nghiệp bảo hiểm ch-a thể cấp chính thức một Giấy chứng nhận

bảo hiểm hoặc đơn bảo hiểm thì có thể cấp "Giấy chứng nhận bảo hiểm tạm thời"

(Cover Note) và có giá trị trong khoảng thời gian nhất định nhằm đảm bảo hiệu lực của Hợp đồng bảo hiểm tr-ớc khi có thể cấp ra một Giấy chứng nhận bảo hiểm chính thức [22; Tr107]

- Mặc dù có thể cho nợ phí bảo hiểm, nh-ng khoản phí bảo hiểm đầu tiên

bắt buộc phải đóng khi giao kết để đảm bảo Hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực hay không thì ch-a đ-ợc pháp luật Việt Nam điều chỉnh cụ thể Khi qui định về thời

điểm phát sinh hiệu lực của Hợp đồng bảo hiểm, pháp luật của nhiều n-ớc không cho phép nợ toàn bộ phí bảo hiểm và qui định Bên mua bảo hiểm phải đóng phí

bảo hiểm, có thể là khoản phí bảo hiểm đầu tiên để Hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực Chẳng hạn Điều 77 Luật bảo hiểm của Philippine quy định rõ " Bất

kể có thoả thuận gì trong hợp đồng, không hợp đồng hoặc đơn bảo hiểm nào có hiệu lực trừ khi và đến khi phí bảo hiểm đã đ-ợc trả, loại trừ trong Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có áp dụng thời gian gia hạn nộp phí"

Trang 34

2.3.2 Hợp đồng bảo hiểm tài sản vô hiệu

Một hợp đồng bị coi là vô hiệu khi thiếu một trong những điều kiện mà pháp luật qui định để đảm bảo một hợp đồng có hiệu lực Hợp đồng bảo hiểm tài sản, hay Hợp đồng bảo hiểm nói chung, với bản chất có thể là một hợp đồng kinh

tế, cũng có thể là một HĐDS, vì vậy, cũng bị vô hiệu theo các quy định của pháp luật chung về Hợp đồng kinh tế, HĐDS Xem xét các qui định về một hợp đồng vô hiệu theo qui định tại Điều 136 BLDS, và Điều 8 Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế, thì Hợp đồng bảo hiểm tài sản có thể vô hiệu theo qui định pháp luật chung về

hợp đồng, khi có một trong các yếu tố sau đây: a/ Một trong các bên không đảm

bảo khả năng và năng lực chủ thể khi giao kết Hợp đồng bảo hiểm; b/ Mục đích, nội dung giao kết Hợp đồng bảo hiểm trái pháp luật và đạo đức xã hội; c/ Việc giao kết Hợp đồng bảo hiểm không đảm bảo nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng,

tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực, ngay thẳng, có hành vi lừa dối, lừa đảo; d/ Hình thức hợp đồng không phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành

Ngoài các tr-ờng hợp vô hiệu trên theo qui định chung của pháp luật hợp

đồng, Luật KDBH còn qui định 4 tr-ờng hợp Hợp đồng bảo hiểm vô hiệu tại

Điều 22, khi: a/ Bên mua bảo hiểm không có quyền lợi có thể đ-ợc BH; b/ Tại

thời điểm giao kết hợp đồng đối t-ợng bảo hiểm không tồn tại; c/ Tại thời điểm giao kết hợp đồng, Bên mua bảo hiểm biết sự kiện BH đã xảy ra; d/ Bên mua bảo hiểm hoặc Doanh nghiệp bảo hiểm có hành vi lừa dối khi giao kết Hợp đồng bảo hiểm

Hợp đồng bảo hiểm vô hiệu không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hơp đồng kể từ thời điểm hợp đồng đ-ợc xác lập Hợp đồng bảo hiểm vô hiệu khác với Hợp đồng bảo hiểm mất hiệu lực (do bị huỷ bỏ ) hoặc bị chấm dứt hiệu lực do một bên có quyền đơn ph-ơng đình chỉ thực hiện hợp đồng, vì việc mất hiệu lực hay bị chấm dứt hiệu lực có thể xảy ra ở bất kỳ thời điểm nào khi xuất hiện các điều kiện cần thiết có thể do pháp luật qui định hoặc các bên thoả thuận, và không có hiệu lực hồi tố Đối với Hợp đồng bảo hiểm bị Toà tuyên xác định là vô hiệu thì toàn bộ quan hệ hợp đồng đ-ợc coi nh- không tồn tại kể từ thời điểm giao kết

Trang 35

V-ơng Việt Đức - Khoá 1999-2002 31

Trong thực tiễn pháp lý, xuất phát từ việc nghiên cứu các tr-ờng hợp hợp

đồng bị vô hiệu nói chung cho thấy, Hợp đồng bảo hiểm tài sản vô hiệu cũng cần

đ-ợc xem xét và phân loại là vô hiệu toàn phần hay từng phần; vô hiệu tuyệt đối

hay t-ơng đối Qua đó cho thấy khả năng các bên có thể sữa chữa để làm cho nó

có hiệu lực Chẳng hạn nh- việc ký kết sai thẩm quyền, hình thức hợp đồng ch-a phù hợp có thể coi là vô hiệu t-ơng đối, các bên có thể sửa chữa để đảm bảo các

điều kiện có hiệu lực của hợp đồng Tuy nhiên, nếu nội dung Hợp đồng bảo hiểm

vi phạm điều cấm của pháp luật; hoặc vi phạm 04 tr-ờng hợp bị vô hiệu theo

Điều 22 Luật KDBH trích dẫn ở trên phải đ-ợc xem là vô hiệu tuyệt đối, các bên không thể bằng cách gì sửa chữa để nó có hiệu lực

Việc xử lý Hợp đồng bảo hiểm tài sản vô hiệu đ-ợc thực hiện theo các qui

định của BLDS và các qui định pháp luật khác có liên quan Theo qui định của

Điều 146 BLDS và Điều 39 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế thì hậu quả pháp lý của

hợp đồng vô hiệu là: Không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên kể từ

thời điểm xác lập; Các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu và hoàn trả cho nhau tất cả những gì đã nhận từ việc thực hiện hợp đồng Tuy nhiên, việc giải

quyết vấn đề thiệt hại, bồi th-ờng thiệt hại phát sinh do hợp đồng bị vô hiệu theo các qui định của BLDS và Pháp lệnh HĐKT là khác nhau: Theo khoản 2 Điều

146 BLDS qui định bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi th-ờng; Theo khoản 2(c)

Điều 39 Pháp lệnh HĐKT lại qui định là có thiệt hại phát sinh các bên phải chịu Nh- vậy, khi xử lý Hợp đồng bảo hiểm tài sản vô hiệu, các bên có thiệt hại phát sinh thì áp dụng theo qui định nào? Bởi tính chất đặc thù của Hợp đồng bảo hiểm

là vừa mang tính dân sự, vừa mang tính là một hợp đồng kinh tế

Nh- vậy, vấn để cần làm tr-ớc khi giải quyết hậu quả pháp lý của một Hợp đồng bảo hiểm tài sản vô hiệu là phải xác định đó là hợp đồng kinh tế hay

dân sự Hệ quả là, cùng với bản chất là việc xử lý Hợp đồng bảo hiểm tài sản vô

hiệu, nh-ng có thể đ-ợc áp dụng theo các qui định khác nhau, với kết quả không thống nhất Đây là một vấn đề rất phức tạp, không chỉ trong lý luận mà còn trong

thực tiễn xét xử, do hệ thống pháp luật thực định có sự điều chỉnh phân biệt giữa HĐKT và HDDS Chúng tôi xin đ-ợc trình bày thêm ở nội dung đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật liên quan đến Hợp đồng bảo hiểm tài sản

Trang 36

2.4 Quyền, nghĩa vụ của các bên

Với tích chất của Hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng song vụ, quyền và nghĩa vụ của các bên t-ơng ứng với nhau, quyền của bên này là nghĩa vụ phải thực hiện t-ơng ứng của bên kia và ng-ợc lại Vì vậy, nội dung của Luận văn tập

trung nghiên cứu theo h-ớng: chỉ ra những nghĩa vụ cơ bản nhất mà các bên

phải thực hiện khi giao kết và thực hiện Hợp đồng bảo hiểm tài sản; và quyền của một bên sẽ phát sinh t-ơng ứng (khi một bên không thực hiện nghĩa vụ)

trong tr-ờng hợp sửa đổi, đình chỉ, chấm dứt Hợp đồng bảo hiểm tài sản

2.4.1 Nghĩa vụ của các bên

a Nghĩa vụ của Bên mua bảo hiểm :

- Khai báo rủi ro và cung cấp thông tin liên quan đến đối t-ợngtài sản

bảo hiểm là nghiã vụ đầu tiên mà Bên mua bảo hiểm phải thực hiện khi đề nghị

giao kết hợp đồng, trên cơ sở các nội dung đ-ợc đ-a ra trong mẫu Giấy yêu cầu bảo hiểm do Doanh nghiệp bảo hiểm soạn thảo Trên cơ sở đó, Doanh nghiệp bảo hiểm mới có căn cứ để đánh giá rủi ro và quyết định có chấp nhận hay không chấp nhận bảo hiểm, cũng nh- định ra số phí mà ng-ời đ-ợc bảo hiểm phải trả Hợp đồng bảo hiểm đ-ợc giao kết và thực hiện trên nguyên tắc tin t-ởng và trung

thực tuyệt đối (utmost good faith), vì vậy, pháp luật cấm Bên mua bảo hiểm cung

cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết Hợp đồng bảo hiểm để đ-ợc trả tiền bảo hiểm hoặc đ-ợc bồi th-ờng

- Trả phí bảo hiểm đầy đủ và đúng hạn theo thoả thuận trong hợp đồng

Đây là nghĩa vụ quan trọng và tiên quyết mà Bên mua bảo hiểm bảo hiểm phải thực hiện để Hợp đồng bảo hiểm phát sinh hiệu lực, cũng nh- tiếp tục duy trì hiệu lực trong quá trình thực hiện Điều 15 Luật KDBH cho phép các bên có thể

thoả thuận về việc đóng phí bảo hiểm, theo đó Bên mua bảo hiểm có đóng phí bảo hiểm một lần hoặc theo định kỳ

- Thông báo những tr-ờng hợp có thể làm tăng rủi ro hoặc làm phát sinh

thêm trách nhiệm của Doanh nghiệp bảo hiểm trong quá trình thực hiện hợp

đồng theo yêu cầu của Doanh nghiệp bảo hiểm Bất cứ sự gia tăng rủi ro nào cho

đối t-ợng bảo hiểm cũng đều ảnh h-ởng đến việc phải tăng phí bảo hiểm cũng nh- xem xét lại các điều kiện chấp nhận bảo hiểm của Doanh nghiệp bảo hiểm Vì vậy, tr-ờng hợp Bên mua bảo hiểm không thực hiện nghĩa vụ này hoặc không

Trang 37

việc xảy ra sự kiện bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng" (Điểm d Khoản 2

Điều 18) Thông th-ờng các bên trong hợp đồng thoả thuận về việc thông báo phụ thuộc vào từng loại hình bảo hiểm, có thể thông báo ngay nhanh nhất bằng

điện thoại, điện tín và sau bao nhiêu ngày phải xác nhận lại bằng văn bản Việc thông báo ngay sự kiện bảo hiểm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Doanh nghiệp bảo hiểm trong việc kiểm soát tổn thất, giám định tổn thất, cũng nh- kịp thời có các biện pháp cần thiết để ngăn chặn và hạn chế thiệt hại Việc Bên mua bảo hiểm vi phạm nghĩa vụ này thì sẽ phát sinh quyền của Doanh nghiệp bảo hiểm áp dụng quy định loại trừ bảo hiểm để từ chối bồi th-ờng đ-ợc qui định tại

Điểm Khoản 3 Điều 16 Luật KDBH

- Nghĩa vụ áp dụng các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất nhằm bảo

đảm an toàn cho đối t-ợngtài sản bảo hiểm là nghĩa vụ bắt buộc của Bên mua

bảo hiểm Theo quy định của Điều 50 Luật KDBH thì nghĩa vụ đó có thể là "phải

thực hiện các quy định về phòng cháy, chữa cháy, an toàn lao động, vệ sinh lao

động và những quy định khác của pháp luật có liên quan nhằm đảm bảo an toàn cho đối t-ợng đ-ợc bảo hiểm" Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền kiểm tra các

điều kiện an toàn cho đối t-ợng bảo hiểm hoặc khuyến nghị, yêu cầu ng-ời đ-ợc baỏ hiểm áp dụng các biện pháp an toàn, hạn chế ro Quy định này thể hiện trách nhiệm "mẫn cán hợp lý" với mọi khả năng có thể của Bên mua bảo hiểm để đảm bảo sự an toàn của đối t-ợng bảo hiểm, bên bảo hiểm luôn phải thận trọng, coi sóc tài sản nh- thể khi ch-a mua bảo hiểm Việc Bên mua bảo hiểm không thực hiện nghĩa vụ này thì sẽ phát sinh quyền tăng phí bảo hiểm hoặc đơn ph-ơng

đình chỉ thực hiện Hợp đồng bảo hiểm của Doanh nghiệp bảo hiểm (Khoản 3

Điều 50 và Điểm c Khoản 1 Điều 17 Luật KDBH ); hoặc trong tr-ờng hợp thiệt hại xảy ra do các biện pháp phòng ngữa đã không đ-ợc thực hiện thì Doanh nghiệp bảo hiểm quyền không trả tiền bảo hiểm (Khoản 2 Điều 578 BLDS)

- Nghĩa vụ phải bảo l-u và chuyển quyền yêu cầu đòi ng-ời thứ ba gây thiệt hại cho Doanh nghiệp bảo hiểm Đây là qui định đặc thù của Hợp đồng bảo

Trang 38

hiểm tài sản Nếu ng-ời đ-ợc bảo hiểm từ chối chuyển quyền cho Doanh nghiệp bảo hiểm, không bảo l-u hoặc từ bỏ quyền yêu cầu ng-ời thứ ba bồi th-ờng thì Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền khấu trừ số tiền bồi th-ờng tùy theo mức độ lỗi của nguời đ-ợc bảo hiểm (Điều 49 Luật KDBH)

- Ngoài ra còn có các nghĩa vụ khác theo qui định của pháp luật

b Nghĩa vụ của Doanh nghiệp bảo hiểm

- Doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ cung cấp mọi thông tin liên quan

đến Hợp đồng bảo hiểm; giải thích về điều kiện, điều khoản bảo hiểm, điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm cho Bên mua bảo hiểm khi giao kết hợp

đồng (Điều 16, 17 và Điều 19 Luật KDBH)

Đây là qui định đặc thù của Hợp đồng bảo hiểm nói chung và Hợp đồng

bảo hiểm tài sản Với tính chất là hợp đồng theo mẫu, nội dung chủ yếu đ-ợc qui

định và điều chỉnh theo các Qui tắc bảo hiểm, mẫu đơn bảo hiểm có sẵn (đã phân tích tại mục 2.2 của luận văn), mà nguyên tắc tự do thoả thuận, bình đẳng tự

nguyện của các bên, đặc biệt là bên mua bảo hiểm phần nào bị hạn chế Các

điều khoản trong hợp đồng không phải kết quả của việc thoả thuận và nh-ợng bộ của các bên, Bên mua bảo hiểm chỉ có thể tán đồng nếu chọn và không thể thoả thuận để thay đổi theo ý chí của mình Thông th-ờng các Hợp đồng bảo hiểm mẫu này có nội dung rất phức tạp, th-ờng đ-ợc diễn đạt với các từ ngữ chuyên môn nghiệp vụ bảo hiểm, cũng nh- tính phức tạp của phạm vi bảo hiểm, đặc biệt

là "điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm" Thực tiễn kinh doanh bảo hiểm cho thấy các tranh chấp Hợp đồng bảo hiểm tài sản th-ờng có nguyên nhân phát sinh từ việc các bên không hiểu đúng các qui định có liên quan đến " điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm" Đây là nội dung đặc thù của Hợp đồng bảo hiểm, thể hiện tính chất có điều kiện của cam kết bồi th-ờng bảo hiểm, mặc dù tổn thất xảy ra thuộc phạm vi bảo hiểm, những nếu Bên mua bảo hiểm vi phạm các qui

định của điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm, thì Doanh nghiệp bảo hiểm

sẽ không có trách nhiệm phải bồi th-ờng Vì tính phức tạp của nội dung điều khoản này, mà lần đầu tiên đã ghi nhận và điều chỉnh cụ thể tại Điều 16 Luật KDBH, Doanh nghiệp bảo hiểm phải giải thích rõ cho Bên mua bảo hiểm khi giao kết hợp đồng

Trang 39

V-ơng Việt Đức - Khoá 1999-2002 35

Ngoài ra, liên quan đến vấn đề này, để đảm bảo quyền lợi cho Bên mua bảo hiểm, hạn chế việc Doanh nghiệp bảo hiểm sự dụng lợi thế trong việc áp đặt nội dung hợp đồng, cũng nh- sử dụng nhiều thuật ngữ nghiệp vụ chuyên ngành khi soạn thảo hợp đồng, pháp luật đã qui định trách nhiệm của Doanh nghiệp bảo hiểm phải đăng ký với Bộ Tài chính các qui tắc, điều khoản bảo hiểm tr-ớc khi

áp dụng, đồng thời qui định các biện pháp xử lý, chế tài t-ơng ứng trong tr-ờng hợp các Doanh nghiệp bảo hiểm vi phạm nghĩa vụ này[13, Điều 4] Trong tr-ờng hợp Hợp đồng bảo hiểm có điều khoản không rõ ràng thì điều khoản đó đ-ợc giải thích theo h-ớng có lợi cho Bên mua bảo hiểm (Điều 21 Luật KDBH) Tr-ờng hợp Doanh nghiệp bảo hiểm cố cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng, thì Bên mua bảo hiểm có quyền đơn ph-ơng đình chỉ thực hiện hợp đồng và Doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi th-ờng thiệt hại do việc cung cấp thông tin sai sự thật (Khoản 3 Điều 19 Luật KDBH)

- Nghĩa vụ cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm thể hiện là bằng

chứng giao kết hợp đồng theo yêu cầu của Bên mua bảo hiểm là nghĩa vụ bắt buộc mà Doanh nghiệp bảo hiểm phải thực hiện, là bằng chứng pháp lý ràng buộc trách nhiệm của Doanh nghiệp bảo hiểm đối với các tổn thất mà Bên mua bảo hiểm phải gánh chịu khi xảy ra một sự kiện bảo hiểm

- Nghĩa vụ giảm phí bảo hiểm theo yêu cầu của Bên mua bảo hiểm khi có

những yếu tố làm giảm rủi ro đối với đối t-ợng đ-ợc bảo hiểm ( Khoản 1Điều 20 Luật KDBH) Trong thực tế , có nhiều tr-ờng hợp dẫn đến việc làm giảm rủi ro cho đối t-ợng đ-ợc bảo hiểm - chẳng hạn khi mua bảo hiểm cháy cho ngôi nhà, tại thời điểm giao kết hợp đồng ở đó có một cửa hàng bán xăng đang hoạt động, vì vậy đó chính là cơ sở gia tăng rủi ro để Doanh nghiệp bảo hiểm tính tăng thêm phí bảo hiểm Tuy nhiên, sau đó cây xăng này đã đ-ợc chuyển đi nơi khác, vì vậy đó là yếu tố làm giảm rủi ro cháy đối với ngôi nhà, là cơ sở để tính giảm phí bảo hiểm cho thời gian còn lại Tr-ờng hợp Doanh nghiệp bảo hiểm không thực hiện nghĩa vụ tính giảm phí theo yêu cầu của Bên mua bảo hiểm, thì Bên mua bảo hiểm có quyền đơn ph-ơng đình chỉ thực hiện hợp đồng theo quy định tại Khoản 1 Điều 20 Luật KDBH

- Nghĩa vụ bồi th-ờng và trả tiền bảo hiểm Doanh nghiệp bảo hiểm phải

thực hiện cam kết bồi th-ờng hay trả tiền theo những thoả thuận trong hợp đồng

Trang 40

khi sự kiện bảo hiểm xảy ra Theo qui định của Điều 28 Luật KDBH, thì thời hạn

yêu cầu Doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm hoặc bồi th-ờng của Bên mua bảo hiểm là một năm, kể từ ngày xảy ra sự kiện bảo hiểm Doanh nghiệp bảo

hiểm có trách nhiệm trả tiền kịp thời và đầy đủ theo thời hạn ghi trong hợp đồng;

trong tr-ờng hợp không có thoả thuận về thời hạn thì Doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền hoặc bồi th-ờng trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đ-ợc đầy

đủ hồ sơ hợp lệ (Điều 29 Luật KDBH) Ngoài ra, Điều 580 BLDS còn có qui

định tr-ờng hợp bên bảo hiểm chậm trả tiền bảo hiểm thì phải trả cả lãi đối với

số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà n-ớc qui định tại thời điểm trả tiền bảo hiểm t-ơng ứng với thời gian chậm trả

Trong tr-ờng hợp từ chối bồi th-ờng bảo hiểm đối với thiệt hại xảy ra không thuộc phạm bảo hiểm bảo hiểm hoặc tr-ờng hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm, thì Doanh nghiệp bảo hiểm phải giải thích bằng văn bản lý do từ chối trả tiền bảo hiểm hoặc từ chối bồi th-ờng (Điều 17 Luật KDBH )

- Các nghiã vụ khác theo qui định của pháp luật

2.4.2 Quyền của các bên

a Sửa đổi, bổ sung Hợp đồng bảo hiểm tài sản :

Điều 25 Luật KDBH qui định các bên có thể thoả thuận về việc sửa đổi,

bổ sung phí bảo hiểm, điều kiện, điều khoản bảo hiểm, trừ tr-ờng hợp pháp luật

có qui định khác Mọi sửa đổi bổ sung phải lập thành văn bản Trong bảo hiểm tài sản, có nhiều lý do để các bên có thể thoả thuận sửa đổi bổ sung hợp đồng, th-ờng xảy ra khi muốn kéo dài thời hạn hiệu lực của hợp đồng (do việc phải kéo dài thời hạn vận chuyển, xây dựng hay lắp đặt tài sản); s-ả đổi về số tiền bảo hiểm; mở rộng phạm vi bảo hiểm, địa điểm bảo hiểm Việc sửa đồi bổ sung th-ờng phát sinh thêm t-ơng ứng về phí bảo hiểm phải trả

b Chấm dứt Hợp đồng bảo hiểm :

Luật KDBH qui định các tr-ờng hợp đ-ơng nhiên chấm dứt Hợp đồng bảo hiểm tại Điều 23, khi:

- Bên mua bảo hiểm không còn quyền lợi có thể đ-ợc bảo hiểm Có thể

xảy ra khi không còn đối t-ợng tài sản bảo hiểm ( có thể do tài sản đó không còn tồn tại; hay tài sản đó đã đ-ợc chuyển nh-ợng cho ng-ời khác mà không kéo theo một sự chuyển nh-ợng Hợp đồng bảo hiểm); Hoặc bị pháp luật t-ớc bỏ các

Ngày đăng: 18/12/2015, 20:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w