1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quy định pháp luật về phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản

73 74 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quy định pháp luật về phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản
Tác giả Ngô Bách
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Văn Vân
Trường học Trường Đại Học Luật TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, thực tế nhiều trường hợp bên mua bảo hiểm vẫn chưa nắm rõ các quy định của pháp luật về phí bảo hiểm tài sản, cũng như nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm tài sả

Trang 2

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ PHÍ BẢO HIỂM TRONG HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TÀI SẢN

Chuyên ngành: Luật Kinh tế Định hướng nghiên cứu

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên Ngô Bách, là học viên lớp Cao học Luật Khóa 28, chuyên ngành Luật Kinh tế, mã số học viên: 17280710212

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi, chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào, được hoàn thiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Văn Vân

Các số liệu, nội dung được trình bày trong luận văn này là hoàn toàn hợp

lệ và đảm bảo tuân thủ các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình

TP Hồ Chí Minh, ngày …… tháng …… năm 2020

Học viên thực hiện

Ngô Bách

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ PHÍ BẢO HIỂM VÀ PHÁP LUẬT VỀ PHÍ BẢO HIỂM TRONG HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TÀI SẢN 8

1.1 Tổng quan về phí bảo hiểm 8

1.1.1 Khái niệm phí bảo hiểm 8

1.1.2 Đặc điểm phí bảo hiểm 11

1.1.3 Các yếu tố tác động đến phí bảo hiểm 14

1.2 Tổng quan pháp luật về phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản 17

1.2.1 Cơ sở lý luận về nghĩa vụ phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản 17

1.2.2 Khái niệm và đặc điểm pháp luật về phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản 22

Kết luận Chương 1 27

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ PHÍ BẢO HIỂM TRONG HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TÀI SẢN VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 28

2.1 Thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản 28

2.1.1 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng bảo hiểm tài sản liên quan đến phí bảo hiểm 28

2.1.2 Mối quan hệ giữa nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm tài sản và trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm 34

2.1.3 Hậu quả pháp lý do vi phạm nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm tài sản 44

2.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản 47

Trang 6

2.2.1 Yêu cầu và định hướng hoàn thiện pháp luật về phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản 47 2.2.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản 50 2.2.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản 55

Kết luận Chương 2 59 KẾT LUẬN 60 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong cuộc sống mỗi con người, gia đình và xã hội từ xưa đến nay luôn phải đối mặt với yếu tố không thuận lợi, ngoài ý muốn: đó là hiểm họa, rủi ro Nguyên nhân gây ra những rủi ro là yếu tố tự nhiên, kỹ thuật và các yếu tố xã hội khác Mặc dù xã hội ngày càng hiện đại với khoa học kỹ thuật phát triển nhưng chúng ta vẫn không thể loại trừ được những yếu tố bất lợi có tính khách quan đó

Dù muốn hay không, nhiều hiểm hoạ, rủi ro đã, đang và sẽ còn xuất hiện chi phối đến cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình, doanh nghiệp và toàn xã hội Đứng trước thực trạng đó, con người luôn có hành động tích cực, chủ động bằng tất cả khả năng của mình để ngăn ngừa, hạn chế, khắc phục nhằm giảm tới mức thấp nhất những thiệt hại về người và của để sớm phục hồi lại quá trình sản xuất kinh doanh cũng như đời sống Một trong những biện pháp hữu hiệu nhất để hạn chế, khắc phục các hậu quả của rủi ro đó chính là bảo hiểm

Bảo hiểm thực chất là việc con người phải dành ra một phần thu nhập trong kết quả lao động hàng ngày của mình để lập ra quỹ dự trữ đủ lớn bằng vật hoặc bằng tiền (quỹ đó gọi là quỹ dự trữ bảo hiểm) nhằm hỗ trợ tài chính cho việc đề phòng và hạn chế tổn thất khi hiểm họa chưa hoặc đang xảy ra và bù đắp, bồi thường kịp thời những thiệt hại và tổn thất về người, tài sản khi có hiểm họa xảy ra Khi nền kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu bảo hiểm ngày càng đòi hỏi đa dạng do rủi ro khách quan là loại trừ, chỉ có thể hạn chế ở mức

độ nào đó, thậm chí có nhiều hiểm họa rủi ro mới xuất hiện Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, người dân có thu nhập ngày càng cao, nhu cầu cần được bảo vệ một cách chủ động càng lớn Từ nhu cầu đó, nhiều loại hình bảo hiểm khác nhau ra đời như bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm dân sự, bảo hiểm con người1

Ở Việt Nam, hoạt động bảo hiểm ra đời muộn hơn so với các nước trên thế giới, ngày 18 tháng 12 năm 1993 Chính phủ ban hành Nghị định 100-CP đã đánh dấu sự hình thành khung pháp lý điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam Thực tế hoạt động bảo hiểm được thực hiện dựa trên tiền đề là rủi ro nên bản thân hoạt động kinh doanh bảo hiểm càng

1

Bùi Thị Hằng Nga (2015), Pháp luật kinh doanh bảo hiểm, Nxb Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, tr.17-18

Trang 8

chứa đựng nhiều rủi ro Vì vậy, mục đích đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh bảo hiểm đòi hỏi pháp luật cần

có những quy định đầy đủ và phù hợp nhằm tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm phát triển đồng thời đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia bảo hiểm

Trong các loại hình bảo hiểm, nhu cầu về bảo hiểm tài sản chiếm tỉ trọng khá cao Bảo hiểm tài sản ra đời và phát triển do nhu cầu khách quan của con người Đồng thời là một loại hình bảo hiểm phổ biến và xuất hiện sớm nhất so với các loại hình bảo hiểm khác như bảo hiểm y tế, bảo hiểm trách nhiệm dân

sự Bảo hiểm tài sản được hình thành dựa trên nhu cầu bảo vệ quyền lợi tài chính của chủ sở hữu tài sản khi có rủi ro xảy ra2 Mối quan hệ giữa doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm là mối quan hệ hợp đồng Hợp đồng bảo hiểm được các bên thoả thuận vừa là công cụ thực hiện pháp luật vừa là sản phẩm của thị trường bảo hiểm3 Trong đó nghĩa vụ cơ bản nhất của bên mua bảo hiểm tài sản chính là đóng phí bảo hiểm Đây là điều kiện tiên quyết để bên mua bảo hiểm được hưởng các quyền lợi theo hợp đồng bảo hiểm tài sản Phí bảo hiểm không đơn thuần mang ý nghĩa là khoản tiền bên mua phải đóng để được hưởng quyền như các loại phí theo hợp đồng dịch vụ thông thường khác Phí bảo hiểm còn mang ý nghĩa xã hội nhằm chia sẻ rủi ro theo cách “lấy số đông bù cho số ít4” Đối với doanh nghiệp bảo hiểm, số phí bảo hiểm sẽ được đầu tư có hiệu quả, đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp và góp phần tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, thực tế nhiều trường hợp bên mua bảo hiểm vẫn chưa nắm rõ các quy định của pháp luật về phí bảo hiểm tài sản, cũng như nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm tài sản Phí bảo hiểm là sợi dây kết nối giữa doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm, là yếu tố thu hút khách hàng đến với bất kỳ gói bảo hiểm tài sản nào của doanh nghiệp bảo hiểm Nguồn thu từ phí bảo hiểm là nguồn vốn chủ yếu của doanh nghiệp bảo hiểm Việc sử dụng hiệu quả mức phí bảo hiểm sẽ quyết định đến lợi nhuận

Trần Phước Thu (2014), Pháp luật về hợp đồng bảo hiểm tài sản ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học,

Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.06

Trang 9

hoạt động của doanh nghiệp5

Tuy nhiên pháp luật về phí bảo hiểm tài sản hiện nay còn chưa rõ ràng và đầy đủ Điều này dễ dẫn đến việc các chủ thể khác trong quan hệ kinh doanh bảo hiểm thực hiện hành vi trục lợi nhằm mục đích kiếm lời bất hợp pháp từ khoản phí bảo hiểm Các hành vi trục lợi này đã gây thiệt hại đáng kể cho các doanh nghiệp bảo hiểm, những người tham gia bảo hiểm và ảnh hưởng đến toàn xã hội Nếu các hành vi trục lợi trong bảo hiểm nói chung và bảo hiểm tài sản nói riêng không được ngăn chặn kịp thời sẽ dẫn đến trật tự kỹ cương của xã hội bị phá vỡ, ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của thị trường bảo hiểm nói chung và bảo hiểm tài sản nói riêng6

Vì các

lý do trên, tác giả xin chọn đề tài “Quy định pháp luật về phí bảo hiểm trong

hợp đồng bảo hiểm tài sản” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong khoa học pháp lý, phí bảo hiểm tài sản là vấn đề tương đối mới Do

đó chưa nhận được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học, luật gia Tuy nhiên, trong thời gian qua, đã có một số công trình nghiên cứu đã đề cập đến phí bảo hiểm ở các cấp độ và khía cạnh khác nhau Có thể kể đến các nghiên cứu sau:

- Sách chuyên khảo “Pháp luật bảo hiểm tài sản tại Việt Nam” do Nhà

xuất bản Hồng Đức phát hành năm 2017 của TS Nguyễn Thị Thủy Đây là một nghiên cứu chuyên sâu về bản chất, ý nghĩa, các đặc điểm của loại hình bảo hiểm tài sản và các quy định của pháp luật bảo hiểm tài sản tại Việt Nam Nghiên cứu đã đề cập đến những thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật bảo hiểm tài sản trong đó có một phần về phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản Dựa trên việc đánh giá các mặt tích cực và hạn chế của thực trạng thông qua việc phân tích các bản án cũng như các số liệu thực tế, nghiên cứu đã đưa ra được các định hướng xây dựng và hoàn thiện pháp luật bảo hiểm tài sản tại Việt Nam

- Khóa luận tốt nghiệp “Quy định pháp luật về phí bảo hiểm tài sản –

Thực trạng và giải pháp” thực hiện tại Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh

Trang 10

năm 2013 của tác giả Trần Tôn Châu Giang Công trình đã nghiên cứu khái quát các quy định của pháp luật Việt Nam về phí bảo hiểm tài sản và đi sâu nghiên cứu vấn đề này về mặt thực tiễn dưới góc độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm trên thị trường bảo hiểm Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ dừng lại ở việc sử dụng phương pháp phân tích luật để đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật; vẫn chưa giải thích được tính hợp lý hay tính khả thi của quy định trong thực tế

- Bài viết “Về nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm và thời điểm phát sinh trách

nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm” đăng tải trên Tạp chí Khoa học

pháp lý số 5(42) năm 2007 của tác giả Nguyễn Thị Thủy Bài viết nghiên cứu cở

sở lý luận của quy định về nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm Theo tác giả cơ sở để hình thành nên quy định về trách nhiệm đóng phí bảo hiểm của bên mua bảo hiểm dựa vào hai phương diện kinh tế và pháp lý Đồng thời, nghiên cứu thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm và đề xuất kiến nghị hoàn thiện

- Bài viết “Rủi ro pháp lý trong việc dừng đóng phí bảo hiểm nhân thọ và

điều khoản miễn đóng phí” đăng tải trên Tòa án nhân dân số 03 của tác giả Bạch

Thị Nhã Nam Bài viết phân tích hậu quả pháp lý của các trường hợp bên mua bảo hiểm không có khả năng tài chính để tiếp tục đóng phí cho hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và giới thiệu nội dung mẫu của điều khoản quyền lợi miễn đóng phí bảo hiểm Theo tác giả, trong quá trình giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, phía bên mua bảo hiểm có thể phải đối mặt với nhiều rủi ro Trong các trường hợp đó, phía bên mua bảo hiểm có thể sẽ đối mặt với tình huống rủi ro nhất là không được nhận lại khoản phí bảo hiểm đã đóng cho doanh nghiệp Giải pháp hợp lý mà bên mua nên cân nhắc để bảo vệ quyền lợi của mình là yêu cầu nhận giá trị hoàn lại; hoặc nếu hợp đồng có đề cập đến thuật ngữ “giá trị hoàn lại”, bên mua cần xem xét ký biểu phí sản phẩm bảo hiểm trong thỏa thuận để chủ động chấm dứt hợp đồng khi không có khả năng tiếp tục đóng phí và nhận giá trị hoàn lại từ phía doanh nghiệp bảo hiểm

Bên cạnh đó, cũng có một số công trình nghiên cứu đề cập “gián tiếp” đến

đề tài nghiên cứu, bao gồm:

Trang 11

- Bài viết “Các yếu tố chi phối quy định của pháp luật trong bảo hiểm tài

sản” của tác giả Nguyễn Thị Thủy đăng tải trên tạp chí Khoa học pháp lý số

04(35) năm 2006;

- Luận án tiến sĩ Kinh tế “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng phí bảo

hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam” của tác giả Trần Hùng

Dũng thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân năm 2009;

- Luận văn thạc sĩ luật học “Hợp đồng bảo hiểm tài sản” của tác giả

Vương Việt Đức thực hiện tại Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2002;

Do đó, trên cơ sở kế thừa, tác giả tập trung phân tích làm rõ hơn nữa thực trạng các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản trong thời gian qua Đồng thời, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản

3 Mục đích, và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài tập trung giải quyết những vấn đề sau đây:

- Làm rõ những vấn đề lý luận về phí bảo hiểm và pháp luật về phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản;

- Xác định những bất cập trong quy định pháp luật cũng như những hạn chế còn tồn tại từ thực trạng áp dụng pháp luật về phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản;

- Đưa ra những giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu phân tích các quy định pháp luật về phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản; nhằm lý giải tại sao khi tham gia bảo hiểm, người mua

bảo hiểm phải hoàn thành nghĩa vụ nộp phí bảo hiểm

- Phân tích mối quan hệ giữa nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm tài sản và trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm Đồng thời, xác định hậu quả pháp

lý do vi phạm nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm tài sản

Trang 12

- Phân tích thực trạng áp dụng pháp luật và đề xuất các kiến nghị nhằm

hoàn thiện pháp luật về phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu thì đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định pháp luật về phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản trong Luật Kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày 09/12/2000; Luật sửa đổi bổ sung Luật kinh doanh bảo hiểm số 61/2010/QH12 ngày 24/11/2010; Nghị Định 73/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật kinh doanh bảo hiểm và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh

bảo hiểm;

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: Pháp luật về phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm

tài sản là một quá trình, có phạm vi khá rộng, tuy nhiên giới hạn phạm vi Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp

dụng các quy định pháp luật;

- Phạm vi thời gian: Khi nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn áp

dụng pháp luật về phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản; tác giả lấy mốc thời gian kể từ khi Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi bổ sung năm 2010) và các văn bản pháp luật có liên quan được ban hành cho đến giai đoạn

hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở sử dụng nhiều phương pháp khác nhau như phân tích, tổng hợp, so sánh, …; và tùy thuộc vào chương/hoặc mục sẽ sử

dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp với vấn đề đặt ra

Đồng thời, để hoàn thành mục đích nghiên cứu, tác giả đã có sự kết hợp

giữa các phương pháp trong từng phần của đề tài, trong đó phương pháp phân tích và tổng hợp là phương pháp được sử dụng nhiều nhất trong đề tài này Việc sử dụng các phương pháp này trong việc nghiên cứu sẽ giúp tác giả xem xét các vấn đề từ nhiều khía cạnh khác nhau và tổng hợp lại để có cái nhìn

Trang 13

toàn diện, khách quan về pháp luật về phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm

tài sản

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

- Đề tài bổ sung và phát triển về mặt lý thuyết những vấn đề lý luận cơ

bản đối với pháp luật về phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản, tạo cơ

sở khoa học cho việc nghiên cứu nhằm tiếp tục xây dựng, hoàn thiện pháp luật

về phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản Đồng thời, những luận cứ dựa trên sự phân tích, đánh giá của đề tài còn là cơ sở để đối chiếu và điều chỉnh thực tiễn thực hiện pháp luật về phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm

tài sản;

- Đề tài cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình

nghiên cứu, tìm hiểu về các vấn đề liên quan đến phí bảo hiểm

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn bao gồm những phần sau: Mục lục, Mở đầu, Nội dung, Kết luận

và Danh mục tài liệu tham khảo Phần Nội dung gồm hai chương:

Chương 1 Tổng quan về phí bảo hiểm và pháp luật về phí bảo hiểm trong

hợp đồng bảo hiểm tài sản

Chương 2 Thực trạng pháp luật về phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo

hiểm tài sản và giải pháp hoàn thiện

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ PHÍ BẢO HIỂM VÀ PHÁP LUẬT VỀ PHÍ BẢO HIỂM

TRONG HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TÀI SẢN 1.1 Tổng quan về phí bảo hiểm

1.1.1 Khái niệm phí bảo hiểm

Duới góc độ kinh tế học, TS Hoàng Văn Châu định nghĩa: “Bảo hiểm là phương pháp chia nhỏ tổn thất của một người hay một số ít người cho nhiều người cùng có khả năng gặp những tổn thất như vậy, bằng cách thu của họ một

số tiền nào đấy tuỳ theo mức độ rủi ro (xác suất tổn thất) mà họ có thể gặp để lập

ra một quỹ chung và khi có thiên tai hoặc tai nạn bất ngờ thì từ quỹ chung đó bồi thường cho họ những tổn thất mà họ phải chịu Nhờ cách chia nhỏ như vậy, những tổn thất lẽ ra rất nặng nề và nghiêm trọng đối với một người, một số ít người sẽ trở nên ít nghiêm trọng hơn, ít nặng nề hơn, thậm chí không đáng kể đối với cả cộng đồng những người tham gia bảo hiểm”7

Theo Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam định nghĩa: “Bảo hiểm là biện pháp chia sẻ rủi ro của một người hay một số ít người cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp rủi ro cùng loại bằng cách mỗi người trong cộng đồng góp một số tiền nhất định vào một quỹ chung và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho các thành viên trong cộng đồng không may bị thiệt hại do những rủi

ro đó gây ra8”

Các học giả của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân định nghĩa: “Bảo hiểm thực chất là quá trình phân phối lại tổng sản phẩm trong nước giữa những người tham gia nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính phát sinh khi tại nạn, rủi ro bất ngờ xảy

ra gây tổn thất đối với người tham gia bảo hiểm9”

Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010 định nghĩa: “Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh

Trang 15

nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm10”

Theo tác giả, bảo hiểm là một hoạt động tạo lập ra quỹ bảo hiểm của bên bảo hiểm được hình thành chủ yếu từ phí bảo hiểm của bên mua bảo hiểm Bên bảo hiểm sử dụng quỹ này để tiến hành chi trả cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra Nghiên cứu về hợp đồng bảo hiểm thì phí bảo hiểm là điều khoản cơ bản của hợp đồng bảo hiểm Do đó, về nguyên tắc các bên phải có sự thỏa thuận với nhau về điều khoản này thì hợp đồng mới được coi là đã được giao kết Điều này xuất phát bởi lý do “hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”11

Hiện nay, khái niệm phí bảo hiểm được tiếp cận dưới nhiều khía cạnh khác nhau

Từ điển Cambridge định nghĩa phí bảo hiểm là một khoản tiền theo thỏa thuận mà khách hàng phải thanh toán cho công ty bảo hiểm để mua bảo hiểm12; hoặc theo Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam (IAV) định nghĩa phí bảo hiểm là giá cả của dịch vụ bảo hiểm (sản phẩm bảo hiểm), là số tiền mà bên mua bảo hiểm phải trả theo hợp đồng để doanh nghiệp bảo hiểm đảm bảo cho họ trước các rủi ro13

Dưới khía cạnh pháp lý, Từ điển luật học Black's Law Dictionary (Hoa Kỳ) định nghĩa phí bảo hiểm là khoản thanh toán định kỳ để duy trì hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm14; hoặc phí bảo hiểm là số tiền mà bên tham gia bảo hiểm phải nộp cho doanh nghiệp bảo hiểm15

Theo tác giả Bùi Thị Hằng Nga định nghĩa phí bảo hiểm (còn gọi là giá cả của sản phẩm bảo hiểm) là số tiền mà người tham gia bảo hiểm phải trả cho công

Trang 16

ty bảo hiểm để đổi lấy sự bảo đảm trước các rủi ro chuyển sang cho công ty bảo hiểm Thuật ngữ phí bảo hiểm thường được dùng trong các công ty bảo hiểm, trong khi đó các tổ chức hay hội tương hỗ lại sử dụng thuật ngữ “mức đóng góp” Thông thường cơ cấu của phí bảo hiểm bao gồm hai phần:

Thứ nhất, phí thuần, là khoản phí phải thu cho phép công ty bảo hiểm đảm

bảo chi trả, bồi thường cho các khoản tổn thất được bảo hiểm khi nó xảy ra Khoản phí này thường chiếm tỉ trọng lớn trong tổng phí toàn bộ và được tính toán dựa trên các căn cứ như: (i) Xác suất xảy ra rủi ro (khả năng xảy ra tổn thất phải bồi thường); (ii) Cường độ tổn thất (tính khốc liệt, mức độ trầm trọng của tổn thất); (iii) Số tiền bảo hiểm; (iv) Thời hạn bảo hiểm (Thời hạn bảo hiểm là khoảng thời gian doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện trách nhiệm bảo hiểm); (v) Lãi suất đầu tư (thông thường đây là yếu tố chi phối rất nhiều đến phí thuần trong bảo hiểm nhân thọ);

Thứ hai, phụ phí là khoản chi phí cần thiết để công ty bảo hiểm đảm bảo

cho các hoạt động nghiệp vụ bảo hiểm như chi hoa hồng, chi quản lý hành chính, chi đề phòng hạn chế tổn thất, chi thuế nhà nước, …

Khái niệm phí bảo hiểm được các nhà lập pháp ghi nhận chính thức trong Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi bổ sung năm 2010 Theo

đó, phí bảo hiểm là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm phải đóng cho doanh nghiệp bảo hiểm theo thời hạn và phương thức do các bên thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm16

Trước đây, khái niệm phí bảo hiểm không chỉ được đề cập trong Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi bổ sung năm 2010, mà còn được ghi nhận cả trong BLDS năm 2005 Cụ thể, tại Điều 572, Mục 11 Hợp đồng bảo hiểm, Phần các hợp đồng dân sự thông dụng của BLDS năm 2005 định nghĩa:

“Phí bảo hiểm là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm phải đóng cho bên bảo hiểm Thời hạn đóng phí bảo hiểm theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật Phí bảo hiểm có thể đóng một lần hoặc theo định kỳ Trong trường hợp bên mua bảo hiểm chậm đóng phí bảo hiểm theo định kỳ thì bên bảo hiểm ấn định một thời hạn để bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm; nếu hết thời hạn đó mà bên

16

Khoản 11, Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi bổ sung năm 2010

Trang 17

mua bảo hiểm không đóng phí bảo hiểm thì hợp đồng chấm dứt” BLDS năm

2015 đã bỏ các quy định về hợp đồng bảo hiểm, với lý do BLDS năm 2015 chỉ quy định về những hợp đồng mang tính đặc trưng và đại diện17 Do đó, BLDS năm 2015 không quy định về hợp đồng bảo hiểm, bởi các quy định về hợp đồng bảo hiểm đã được điều chỉnh bởi Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 sửa đổi bổi sung năm 2010, với tư cách là đạo luật chuyên ngành Như vậy, các quy định về phí bảo hiểm hiện nay được điều chỉnh trực tiếp bởi đạo luật duy nhất đó là Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 sửa đổi bổi sung năm 2010 và các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành

1.1.2 Đặc điểm phí bảo hiểm

Về nguyên tắc, trong tất cả các giao dịch cung ứng dịch vụ, bên nhận cung ứng dịch vụ phải trả cho bên cung ứng dịch vụ một khoản tiền nhất định Khoản tiền này chính là giá cả của dịch vụ được cung ứng Bản chất của giá cả trong quan hệ này chính là phần chi phí mà nhà cung ứng phải bỏ ra để tạo ra dịch vụ

và khoản lợi nhuận mà họ thu được từ hoạt động cung ứng dịch vụ này Xuất phát từ yêu cầu này, do đó, phí bảo hiểm có các đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, phí bảo hiểm là nghĩa vụ thanh toán mà bên mua bảo hiểm

phải thực hiện đối với doanh nghiệp bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm tài sản

đã xác lập;

Hợp đồng bảo hiểm tài sản được hiểu là thỏa thuận bằng văn bản giữa bên mua bảo hiểm và DNBH nhằm xác lập các quyền và nghĩa vụ của các bên thông qua việc doanh nghiệp bảo hiểm cam kết bồi thường cho người được bảo hiểm khi đối tượng tài sản mà họ mua bảo hiểm gặp tổn thất do những rủi ro được bảo hiểm mang lại Chủ thể trong hợp đồng bảo hiểm tài sản phải có bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm

Một là, Bên mua bảo hiểm bao gồm cá nhân, tổ chức Theo quy định tại

Khoản 6, Điều 3 Luật KDBH năm 2000, sửa đổi bổ sung năm 2010 thì bên mua bảo hiểm là tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm và đóng phí bảo hiểm

17

Đỗ Văn Đại (2016), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật dân sự năm 2015, Nxb Hồng Đức-

Hội luật gia Việt Nam, tr.389

Trang 18

Hai là, Doanh nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức

và hoạt động theo quy định của pháp luật có liên quan để kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm18 Theo quy định tại Điều 59 Luật KDBH năm 2000, sửa đổi bổ sung 2010 thì các doanh nghiệm bảo hiểm bao gồm: Công ty cổ phần bảo hiểm; Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm; Hợp tác xã bảo hiểm; Tổ chức bảo hiểm tương hỗ

Tham gia vào hợp đồng bảo hiểm tài sản, bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ thanh toán khoản phí bảo hiểm cho DNBH theo thỏa thuận giữa các bên trong hơp đồng đã xác lập Việc bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ nộp phí bảo hiểm, xuất phát từ hợp đồng bảo hiểm tài sản là dạng hợp đồng dịch vụ “là sự thỏa thuận giữa bên cung ứng với bên thuê mà theo đó bên cung ứng thực hiện một công việc nhất định nhằm đem lại lợi ích cho bên thuê và bên thuê có nghĩa vụ trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng trên cơ sở các nội dung quy định về quyền, nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật19” Theo đó, bên mua bảo hiểm sử dụng dịch vụ bảo hiểm là việc chuyển dịch các rủi ro về tài sản sang cho bên DNBH, và được bồi thường các thiệt hại, tổn thất về tài sản khi sự kiện bảo hiểm xảy ra Vì vậy để được sử dụng dịch vụ bảo hiểm và được bồi thường cho các thiệt hại và tổn thất về tài sản (trả tiền bảo hiểm) khi sự kiện bảo

hiểm xảy ra thì bên mua bảo hiểm phải thực hiện nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm

Trong một số trường hợp, việc bên mua bảo hiểm tạm ngừng, hoặc chấm dứt thanh toán phí bảo hiểm là căn cứ để thực hiện việc tạm ngừng thực hiện hợp đồng bảo hiểm, hoặc chấm dứt hợp đồng

Cần hiểu rằng, về bản chất, kinh doanh bảo hiểm là hoạt động cung ứng dịch vụ của doanh nghiệp bảo hiểm cho người tiêu dùng Theo quy định của pháp luật thương mại thì cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (sau đây gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận20 Như vậy, cung ứng dịch vụ thực chất là việc thực hiện một hoặc một số

Trang 19

công việc có tính chất chuyên môn theo yêu cầu của người khác nhằm hưởng thù lao21 Tuy nhiên, khác với hoạt động cung ứng dịch vụ thông thường, kinh doanh bảo hiểm có đối tượng kinh doanh chính là rủi ro, quan hệ bảo hiểm chính là sự chuyển giao rủi ro giữa chủ thể này sang chủ thể khác Sản phẩm của hoạt động kinh doanh bảo hiểm tài sản (điều mà doanh nghiệp bảo hiểm cung ứng cho người tiêu dùng) là cam kết bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Thông qua hợp đồng bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm sẽ cam kết bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm để có thể khôi phục tình trạng tài chính ban đầu trước khi xảy ra rủi ro Giá cả của sản phẩm bảo hiểm chính là phí bảo hiểm

Thứ hai, Phí bảo hiểm là cơ sở để xác lập trách nhiệm bảo hiểm của doanh

nghiệp bảo hiểm Theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm, trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm bắt đầu kể từ khi hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết hoặc có bằng chứng về việc hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết và bên mua bảo hiểm đã đóng đủ phí bảo hiểm (trừ trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận cho bên mua bảo hiểm nợ phí bảo hiểm)22 Như vậy, trong hợp đồng bảo hiểm tài sản thì việc bên mua bảo hiểm thực hiện nghĩa vụ nộp đủ phí bảo hiểm là căn cứ để phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm, trừ trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận cho bên mua bảo hiểm nợ phí bảo hiểm Do đó, khi sự kiện bảo hiểm xảy ra trong các trường hợp được bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm phải có nghĩa vụ bồi thường cho những tổn thất

và thiệt hại về tài sản là đối tượng bảo hiểm; trong phạm vi bảo hiểm Khi xảy ra

sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường theo thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm; trong trường hợp không có thỏa thuận về thời hạn thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả bồi thường trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ về yêu cầu trả tiền bồi thường23 Thời hạn bên mua bảo hiểm yêu cầu bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm tài sản là một năm, kể từ ngày xảy ra sự kiện bảo hiểm24

Trang 20

Như vậy, nếu khi xảy ra sự kiện bảo hiểm mà bên mua bảo hiểm không đóng hoặc không đóng đủ phí bảo hiểm thì có thể là căn cứ để doanh nghiệp bảo hiểm từ chối việc bồi thường cho những thiệt hại, tổn thất về tài sản là đối tượng bảo hiểm

Thứ ba, phí bảo hiểm là cơ sở để tạo lập quỹ bảo hiểm Như đã đề cập, bảo

hiểm là một hoạt động tạo lập quỹ bảo hiểm của bên bảo hiểm được hình thành chủ yếu từ phí bảo hiểm của bên mua bảo hiểm Quỹ bảo hiểm trước hết và chủ yếu được sử dụng để bù đắp những tổn thất cho người được bảo hiểm khi xảy ra các rủi ro được bảo hiểm làm ảnh hưởng đến sự vận hành liên tục của đời sống sinh hoạt, hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể trong xã hội Bên cạnh

đó, quỹ bảo hiểm còn được sử dụng để trang trải cho các chi phí để phục vụ cho hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm25 Đồng thời, quỹ bảo hiểm là nguồn hình thành vốn đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm Theo pháp luật quy định, nguồn vốn đầu tư bao gồm hai loại chủ yếu là nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp

vụ và nguồn vốn chủ sở hữu26 Nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ của doanh nghiệp bảo hiểm là tổng dự phòng nghiệp vụ trừ các khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm dùng để trả tiền bảo hiểm thường xuyên trong kỳ Đối với nguồn vốn này, về bản chất là trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm đối với khách hàng nhưng tạm thời chưa sử dụng nên được phép đầu tư27

1.1.3 Các yếu tố tác động đến phí bảo hiểm

Khi doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp sản phẩm bảo hiểm ra thị trường thì điều mà số đông người mua bảo hiểm quan tâm đầu tiên đó là giá của sản phẩm Như đã đề cập, phí bảo hiểm thực chất là giá của sản phẩm bảo hiểm Do đó, các doanh nghiệp bảo hiểm thường đưa ra các kế hoạch mục tiêu cụ thể khi đưa ra các mức giá đối với từng loại hình bảo hiểm riêng biệt Cụ thể, đối với loại hình bảo hiểm tự nguyện thì hợp đồng bảo hiểm được giao kết dựa trên nguyên tắc thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, do đó mức phí bảo hiểm sẽ do các bên “tự do” thỏa thuận Tuy nhiên đối với loại hình bảo hiểm

Trang 21

tài sản bắt buộc theo quy định tại Nghị định số 23/2018/NĐ-CP ngày 23/02/2018 của Chính Phủ được áp dụng nhằm mục đích bảo vệ lợi ích công cộng và an toàn

xã hội nên bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật về điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tối thiểu

Thứ nhất, phí bảo hiểm phụ thuộc vào chi phí hoạt động của doanh

nghiệp bảo hiểm Như đã đề cập, phí bảo hiểm thực chất là giá của sản phẩm bảo hiểm Đặc trưng nổi bật của hoạt động kinh doanh bảo hiểm chính là việc xác định chi phí để cấu thành nên giá cả của sản phẩm Khi đưa ra giá cả của một sản phẩm bảo hiểm nhất định, các doanh nghiệp bảo hiểm thường xem xét dưới hai khía cạnh28

:

Một là, giá bán kỹ thuật còn gọi là mức giá hợp lý nhằm giúp doanh

nghiệp hình thành nên quỹ tài chính và thanh toán cho các chi phí duy trì các hoạt động của doanh nghiệp như chi phí nhân công, chi phí văn phòng, chi phí quảng cáo

Hai là, giá bán thực tế còn gọi là giá thương mại Đây là mức giá mà

doanh nghiệp bảo hiểm đưa ra để chào hàng và tiến hành thương lượng, đàm phán ký kết hợp đồng với người mua bảo hiểm Giá bán này đảm bảo được lợi nhuận của doanh nghiệp để thực hiện hoạt động đầu tư, đảm bảo tính cạnh tranh, chiếm giữ thị phần trên thị trường, đồng thời giúp tạo nên lợi thế cạnh tranh thu hút khách hàng

Giá của sản phẩm được tạo nên từ tổng hợp các chí phí khác nhau, bao gồm cả chi phí hoạt động doanh nghiệp, nghĩa vụ thuế và lợi nhuận Thông thường các chi phí hoạt động doanh nghiệp bảo hiểm thường được phân chia

thành 02 loại: Một là, chi phí trực tiếp là những chi phí liên quan đến việc bảo

hiểm như bồi thường, chi trả tiền bảo hiểm, thẩm định rủi ro, xử lý các tranh

chấp; Hai là, chi phí gián tiếp là những chi phí không liên quan đến sản phẩm

bảo hiểm mà gắn liền với việc duy trì hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm như chi phí văn phòng, nhân viên, nghĩa vụ thuế,… Theo chu trình hoạt động kinh doanh bảo hiểm, thông thường các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ tiến hành thu phí

28

Trần Tôn Châu Giang (2013), tldd (5), tr.08

Trang 22

bảo hiểm của người mua bảo hiểm, sau đó dùng khoản phí này để tiến hành các hoạt động kinh doanh nhằm tìm kiếm lợi nhuận bảo đảm cho việc thực hiện các cam kết với người mua bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm

Thứ hai, phí bảo hiểm phụ thuộc vào giá trị của tài sản là đối tượng được

bảo hiểm

Khác với phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ phụ thuộc vào khả năng tài chính của bên mua bảo hiểm thì phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản phụ thuộc vào “giá trị” của tài sản Như vậy, việc quy định mức phí mà bên mua bảo hiểm phải thanh toán cho DNBH được căn cứ trên giá trị tài sản là đối tượng bảo hiểm Trường hợp, tài sản có giá trị “lớn” như tàu biển, nhà xưởng, hàng hoá giá trị cao, … thì bên mua bảo hiểm phải thanh toán mức phí bảo hiểm lớn, và ngược lại Ví dụ, theo nội dung của bản án dân sự sơ thẩm số 03/2019/DS-ST, ngày 28/01/2019 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội bị kháng cáo xác định: Ngày 10/6/ 2016, bà Nguyễn Thị P đã ký Hợp đồng bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt (gọi tắt là Hợp đồng bảo hiểm) số: 00000159/HD/016-PKD6/TS.3.2/2016 với Công ty Bảo hiểm B Thăng Long thuộc Tổng Công ty Cổ

phần Bảo hiểm B, đối tượng bảo hiểm bao gồm: hàng hóa, nguyên vật liệu, nội

thất, ghế sofa, nhà xưởng, máy móc thiết bị,…(theo Danh mục tài sản đính kèm với Hợp đồng bảo hiểm) thuộc cơ sở sản xuất kinh doanh đồ gỗ nội thất Phúc Sinh (do

bà P làm chủ hộ kinh doanh) Theo Hợp đồng, điều kiện được bảo hiểm khi xảy ra

sự kiện cháy nổ, số tiền được bảo hiểm là 15.000.000.000 đồng, tổng phí bảo hiểm

là 37.500.000 đồng; thời hạn bảo hiểm từ 16h00’ ngày 23/06/2016 đến 16h00’ ngày 23/06/2017 Hoặc, theo bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm số

09/2017/KDTM-ST ngày 26 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân quận Ngô

Quyền, thành phố Hải Phòng xác định: “Ngày 20-11-2015, sau khi Công ty C và Công ty B ký kết Hợp đồng vận chuyển hàng hóa số 05/HĐVC-TC để vận chuyển hàng là chân gà đông lạnh chứa trong container (số hiệu SZLU9153615) bằng xe ô

tô đầu kéo mang biển kiểm soát số 15C-094.36, địa điểm giao hàng Móng Cái, Đại Vai, Bắc Phong Sinh, Lục Chắn, Đồng Văn, Hoành Mô (Quảng Ninh); Chi Ma, Hữu Nghị, Bình Nghi (Lạng Sơn); Tà Lùng, Trùng Khánh, Pò Peo, Trà Lĩnh (Cao Bằng), Bát Xát, Mường Khương (Lào Cai), Công ty A Quảng Ninh đã cấp đơn bảo

Trang 23

hiểm cho 02 container số hiệu TTNU 8285588 và SZLU9153615 cho Công ty C

Số tiền bảo hiểm là 60.000 USD cho 02 container”

Tuy nhiên, có trường hợp xảy ra đó là mặc dù cùng một loại “tài sản” được doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận nhưng mức phí bảo hiểm là khác nhau, điều này phụ thuộc vào các yếu tố của tài sản như: Tài sản mới hoặc đã qua sử dụng; Thời hạn sử dụng, khai thác “còn lại” đối với tài sản đã qua sử dụng, … Bên cạnh đó, cũng có trường hợp cùng một loại tài sản, tuy nhiên khi được bảo hiểm ở các doanh nghiệp bảo hiểm khác nhau thì mức phí có sự quy định chênh lệch, lý giải điều này phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân trong đó có xuất phát từ việc các DNBH sử dụng các phương pháp định giá tài sản khác nhau, dẫn đến có thể cùng một loại tài sản, tuy nhiên có doanh nghiệp định giá cao, và doanh nghiệp định giá thấp, dẫn đến mức phí bảo hiểm không đồng nhất

1.2 Tổng quan pháp luật về phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản

1.2.1 Cơ sở lý luận về nghĩa vụ phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản

Bảo hiểm là hoạt động chia sẻ thiệt hại do rủi ro gây ra Thiệt hại mà rủi ro gây ra có thể đối với tính mạng, sức khỏe, tài sản, những thứ khác con người có nhu cầu bảo vệ Tài sản là một khái niệm quen thuộc đối với bất kỳ ai Trong cuốn Deluxe Black’s Law Dictionary, tài sản được giải nghĩa là một từ được sử dụng chung để chỉ mọi thứ là đối tượng của quyền sở hữu, hoặc hữu hình hoặc

vô hình, hoặc động sản hoặc bất động sản29 Bộ luật dân sự năm 2015 định nghĩa: “tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Tài sản bao gồm bất động sản và động sản30” Tài sản là công cụ của đời sống xã hội Con người không thể sống nếu không có tài sản Tài sản là mục tiêu, đồng thời là phương tiện để phát triển kinh tế xã hội31 Vì vậy, khi tài sản có nguy cơ gặp rủi ro dẫn đến thiệt hại thì chủ sở hữu tài sản có thể tìm đến bảo hiểm Bảo hiểm tài sản được hình thành dựa trên nhu cầu bảo vệ quyền lợi tài chính của chủ sở hữu tài

29

Vũ Thị Hồng Yến (2015), “Khái niệm tài sản trong pháp luật dân sự và kiến nghị sửa đổi Bộ luật Dân sự

năm 2005”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 21 (301), tr 30 – 36

Trang 24

sản hay người đang chiếm hữu và sử dụng hợp pháp tài sản đó Nói đến bảo hiểm tài sản là nói đến sự bảo vệ đối với những tài sản được bảo hiểm với những tổn thất có thể xảy ra do những rủi ro thiên nhiên, kỹ thuật, xã hội thông qua việc giúp khôi phục hoặc góp phần khôi phục tình trạng tài chính của người được bảo hiểm có trước khi rủi ro xảy ra32

Bảo hiểm tài sản là loại hình bảo hiểm theo đó doanh nghiệp bảo hiểm thu phí bảo hiểm của người mua bảo hiểm theo một tỉ lệ phần trăm nhất định trên giá trị của tài sản và cam kết bồi thường cho người mua bảo hiểm khi họ rơi vào các trường hợp sự kiện bảo hiểm xảy ra Từ khái niệm trên, có thể thấy bảo hiểm tài sản có các đặc trưng cơ bản sau đây:

Thứ nhất, Bên mua bảo hiểm phải có quyền lợi đối với tài sản được bảo

hiểm Gắn liền với sự tồn tại của tài sản là quyền sở hữu của chủ tài sản Về nguyên tắc, khi mua bảo hiểm cho tài sản có nghĩa là chủ tài sản muốn chuyển giao một phần hoặc toàn bộ tổn thất tài sản sang cho doanh nghiệp bảo hiểm Vì vậy, số tiền bồi thường từ phía doanh nghiệp bảo hiểm sẽ thuộc về chủ sở hữu tài sản Trên thực tế, chủ sở hữu có thể chuyển quyền chiếm hữu, sử dụng, khai thác, quản lý cho người khác dưới hình thức như ủy quyền, cho thuê, mượn,…Trong BLDS năm 2015 đã quy định các quyền khác đối với tài sản bên

cạnh quyền sở hữu như quyền địa dịch, quyền hưởng dụng, quyền bề mặt Ví dụ,

Điều 257 BLDS năm 2015 quy định: “Quyền hưởng dụng là quyền của chủ thể được khai thác công dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức đối với tài sản thuộc quyền

sở hữu của chủ thể khác trong một thời hạn nhất định Và những người này, dưới

sự ủy quyền của chủ sở hữu tài sản cũng có quyền được mua bảo hiểm cho tài sản Như vậy, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu tài sản, pháp luật chỉ cho phép những chủ thể nào có quyền đối với tài sản mới được phép mua bảo hiểm tài sản;

Thứ hai, giới hạn trách nhiệm bảo hiểm theo giá trị tài sản Về nguyên

tắc, tài sản chỉ có thể được phép bảo hiểm khi xác định được giá trị của nó Giá trị của tài sản là một yếu tố quyết định về việc thỏa thuận số tiền bảo hiểm và phí bảo hiểm Bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm có thể thỏa thuận

32

Nguyễn Thị Thủy (2017), tlđd (2), tr 14

Trang 25

bảo hiểm một phần hoặc toàn bộ giá trị tài sản Trong bảo hiểm tài sản, giá trị tài sản là căn cứ để doanh nghiệp bảo hiểm tính phí bảo hiểm Phí bảo hiểm trong bảo hiểm tài sản đóng vai trò quan trọng trọng việc xác định số tiền bồi thường Cụ thể, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ vận dụng quy tắc tỉ lệ khi xác định

số tiền bồi thường

Thứ ba, Để gánh chịu tổn thất thay cho người được bảo hiểm, doanh

nghiệp bảo hiểm phải có khả năng tài chính Cụ thể, khi người bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm trên cơ sở thu phí của người mua bảo hiểm, thì điều này có nghĩa rằng doanh nghiệp bảo hiểm đã cam kết sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Để thực hiện điều này, doanh nghiệp bảo hiểm cần duy trì tình trạng tài chính để đảm bảo thực hiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm

Nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm của bên mua bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản được hiểu là việc bên mua bảo hiểm tài sản phải chuyển giao một khoản tiền nhất định cho doanh nghiệp bảo hiểm dựa trên các điều khoản về mức phí bảo hiểm mà hai bên thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm tài sản nhằm xác lập quỹ bảo hiểm Như đã đề cập, phí bảo hiểm tài sản là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm tài sản phải trả cho doanh nghiệp bảo hiểm để hình thành nên quỹ bảo hiểm Nếu quỹ bảo hiểm chưa thiết lập, doanh nghiệp bảo hiểm không thể bồi thường cho bên mua bảo hiểm Do vậy, nếu bên mua bảo hiểm chưa đóng phí bảo hiểm thì trách nhiệm bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm chưa thể phát sinh Căn cứ để phát sinh nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm là hợp đồng bảo hiểm tài sản

Cơ sở lý luận để hình thành nên quy định về nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm của bên mua bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản dựa vào các lý do sau:

Thứ nhất, xét về phương diện kinh tế, để thực hiện được hoạt động kinh

doanh bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm phải bỏ ra những chi phí nhất định Các chi phí này thường được sử dụng để chi trả tiền bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm theo các thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm tài sản và chi phí được sử dụng để “thanh toán” cho việc duy trì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm Để tạo lập được nguồn quỹ để chi trả cho các

Trang 26

chi phí này, đồng thời bổ sung nguồn vốn để doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện

các hoạt động đầu tư với hai mục đích: một là, làm gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp bảo hiểm; và hai là, tăng cường khả năng chi trả và gia tăng lợi ích cho

người tham gia bảo hiểm33

Do đó, khi tiến hành giao kết hợp đồng bảo hiểm tài sản doanh nghiệp bảo hiểm có quyền thỏa thuận với khách hàng về mức phí bảo hiểm tương ứng với giá trị tài sản; và các vấn đề pháp lý phát sinh nếu bên mua

vi phạm nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm (không đóng hoặc đóng không đủ) như lãi chậm trả Đồng thời, khi tiến hành thực hiện hợp đồng, doanh nghiệp bảo hiểm

có quyền yêu cầu bên mua bảo hiểm phải hoàn thành nghĩa vụ đóng phí theo thỏa thuận hợp đồng, có quyền áp dụng các biện pháp xử lý (chế tài) nếu bên mua không thực hiện đúng hợp đồng Về nguyên tắc, phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản phải đủ để:

Một là, doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện cam kết bồi thường cho người

được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Một trong những nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm tài sản là bồi thường Bồi thường bảo hiểm là vấn đề trọng tâm của hoạt động kinh doanh bảo hiểm34

Bồi thường trong hợp đồng bảo hiểm tài sản được hiểu là “sự đền bù” của DNBH đối với bên mua bảo hiểm dựa trên thiệt hại, tổn thất thực tế về tài sản và số tiền bảo hiểm mà bên mua bảo hiểm đã thanh toán cho DNBH Khác với bồi thường trong pháp luật dân sự có thể được quy định trong hợp đồng hoặc theo pháp luật về bồi thường ngoài hợp đồng, tuy nhiên đều phụ thuộc vào các yếu tố: lỗi, quan hệ nhân quả, hành vi có lỗi gây ra thiệt hại, thì “bồi thường” trong bảo hiểm tài sản là “sự thỏa thuận” giữa DNBH

và bên mua Khi phát sinh sự kiện bảo hiểm, mặc dù DNBH không hề có lỗi cũng như không có hành vi nào gây thiệt hại nhưng vẫn “bồi thường”, vì quy định về trách nhiệm bồi thường của DNBH đối với bên bảo hiểm đã được các bên “thỏa thuận” trong hợp đồng

Hai là, đảm bảo cho doanh nghiệp thực hiện các nghĩa vụ lập dự phòng

nghiệp vụ, quỹ dự trữ bắt buộc; và quỹ bảo vệ người được bảo hiểm theo quy định tại Điều 96, 97 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi bổ sung năm

2010 Ví dụ, theo quy định của pháp luật KDBH thì doanh nghiệp kinh doanh

Trang 27

bảo hiểm tài sản phải trích lập các loại dự phòng nghiệp vụ bao gồm dự phòng toán học, dự phòng bồi thường, dự phòng phí chưa được hưởng, dự phòng chia lãi và dự phòng đảm bảo cân đối Do mỗi loại dự phòng lại có nhiều phương pháp tính khác nhau, nên về nguyên tắc, Bộ Tài chính cho phép các doanh nghiệp bảo hiểm chủ động lựa chọn phương pháp trích lập nhưng phải được Bộ Tài chính phê chuẩn trước khi thực hiện và không được thay đổi phương pháp trích lập trong năm tài chính

Ba là, đảm bảo doanh nghiệp bảo hiểm đủ khả năng để thanh toán các

khoản chi phí quản lý doanh nghiệp như tiền lương, tiền thuê trụ sở, tiền văn phòng phẩm, chi phí quảng cáo, hoa hồng và thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước như nộp thuế, phí, lệ phí35

Thứ hai, xét về phương diện pháp lý Khi tham gia vào hợp đồng bảo hiểm

tài sản, bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp đều hướng đến những lợi ích nhất định Ví dụ, Bên mua bảo hiểm mong muốn chuyển giao một phần hoặc toàn bộ rủi ro về tài sản sang cho doanh nghiệp bảo hiểm, và nhận được khoản bồi thường

do tổn thất về tài sản khi xảy ra sự kiện bảo hiểm; bên cạnh đó, doanh nghiệp bảo hiểm mong muốn nhận được số tiền phí bảo hiểm theo thỏa thuận hợp đồng để thanh toán cho các khoản chi phí vận hành doanh nghiệp và thực hiện hoạt động đầu tư vốn nhằm mục tiêu phát sinh lợi nhuận Với tư cách là hợp đồng song vụ,

do đó để được hưởng lợi ích, các bên phải thực hiện nghĩa vụ Việc bên mua bảo hiểm tài sản phải trả phí bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm là nghĩa vụ trả tiền phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm tài sản Theo đó, để nhận được khoản bồi thường khi tài sản là đối tượng bảo hiểm gặp tổn thất do những rủi ro mang lại (sự kiện bảo hiểm) thì bên mua bảo hiểm phải thực hiện nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm Nói cách khác, để được hưởng lợi ích bảo hiểm, bên mua bảo hiểm phải thực hiện nghĩa vụ36

Nghĩa vụ này phát sinh từ thời điểm hợp đồng bảo hiểm tài sản phát sinh hiệu lực thực hiện, theo đó bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ đóng mức phí bảo hiểm đã được các bên thỏa thuận theo hợp đồng, và nếu bên mua bảo hiểm không đóng hoặc đóng không đủ mức phí bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền

35

Nguyễn Thị Thủy (2007), “Về nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm và thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm

của doanh nghiệp bảo hiểm”, Tạp chí Khoa học pháp lý, Số 5(42) tr.28-32

36

Nguyễn Thị Thủy (2017), tlđd (2), tr.93

Trang 28

yêu cầu bên mua bảo hiểm phải hoàn thành nghĩa vụ đóng phí theo thỏa thuận hợp đồng đồng thời có quyền áp dụng các chế tài xử lý vi phạm nếu bên mua không thực hiện hoặc thực hiện không đúng theo hợp đồng (trừ trường hợp các bên thỏa thuận về điều khoản DNBH cho phép bên mua bảo hiểm được “nợ” phí bảo hiểm) Vì vậy, pháp luật phải có những quy định cụ thể về trách nhiệm và quyền lợi của bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm liên quan đến phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản trong từng trường hợp

1.2.2 Khái niệm và đặc điểm pháp luật về phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản

Là một bộ phận của pháp luật bảo hiểm tài sản, do đó, theo tác giả thì pháp luật về phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm tài sản liên quan đến phí bảo hiểm

Pháp luật về phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản có điểm đặc trưng cơ bản sau đây:

Thứ nhất, phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản được hình thành

dựa trên cơ sở sự thỏa thuận giữa doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm Bảo hiểm tài sản được ra đời xuất phát từ nhu cầu muốn bảo vệ tài sản, và các quyền lợi liên quan đến tài sản của chủ sở hữu, hoặc người sử dụng, quản lý, khai thác hợp pháp tài sản Để được đảm bảo việc nhận cam kết bồi thường khi phát sinh sự kiện bảo hiểm từ doanh nghiệp bảo hiểm khi tham gia vào hợp đồng bảo hiểm tài sản thì bên mua bảo hiểm phải thực hiện nghĩa vụ đóng một khoản phí cho doanh nghiệp bảo hiểm theo điều khoản đã thiết lập trong hợp đồng Tuy nhiên, tùy thuộc vào giá trị của “tài sản” được bảo hiểm thì người mua bảo hiểm

sẽ thỏa thuận với doanh nghiệp bảo hiểm sẽ thỏa thuận các mức phí bảo hiểm khác nhau Bên cạnh đó, thực tiễn hoạt động kinh doanh bảo hiểm cho thấy, các doanh nghiệp bảo hiểm thường quy định các mức biểu phí bảo hiểm khác nhau phụ thuộc vào phương pháp được áp dụng để tính phí, vì vậy để lựa chọn cho mình mức phí bảo hiểm phù hợp thì cần phải có sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm Do đó, pháp luật quy định phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản là do bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm là

Trang 29

hoàn toàn phù hợp Tuy nhiên, việc thỏa thuận về mức phí bảo hiểm cần tuân thủ các quy định của pháp luật:

Một là, tài sản chỉ được bảo hiểm khi xác định dưới giá trị, có nghĩa là

giá trị của đối tượng bảo hiểm cần phải được tính ra bằng tiền cụ thể Điều này xuất phát từ việc tham gia vào quan hệ bảo hiểm tài sản, yếu tố mà bên mua bảo hiểm muốn bảo vệ là quyền lợi vật chất đối với tài sản của họ Do đó, giá trị của tài sản là yếu tố quyết định đến việc thỏa thuận về số tiền bảo hiểm, tức

là giới hạn trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm trong quan hệ bảo hiểm Theo TS Nguyễn Thị Thủy: “Thực tế cho thấy giá trị của tài sản có thể thay đổi theo thời gian Có nghĩa là, trong quá trình thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản thì quyền lợi vật chất của người sở hữu đối với tài sản sẽ thay đổi theo giá trị của tài sản Do đó, khi mua bản hiểm bên mua bảo hiểm chỉ được mua tối đa không quá giá trị tài sản tại thời điểm bảo hiểm Đồng thời doanh nghiệp cũng chỉ bồi thường tối đa không quá giá trị tài sản tại thời điểm xảy ra tổn thất Đặc trưng này xuất phát từ quan điểm tại thời điểm tổn thất, bên mua bảo hiểm sở hữu tài sản có giá trị bao nhiêu thì được bồi thường bấy nhiêu Bởi không có lý

do gì mà một người sở hữu một tài sản có giá trị thấp lại hưởng một số tiền bảo hiểm lớn hơn giá trị tài sản khi gặp tổn thất”37 Ở góc độ pháp lý, Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010 quy định: “Doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm không được giao kết hợp đồng bảo hiểm tài sản trên giá trị Trong trường hợp hợp đồng bảo hiểm tài sản trên giá trị được giao kết do lỗi vô ý của bên mua bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải hoàn lại cho bên mua bảo hiểm số phí bảo hiểm đã đóng tương ứng với số tiền bảo hiểm vượt quá giá thị trường của tài sản được bảo hiểm, sau khi trừ các chi phí hợp

lý có liên quan Trong trường hợp xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại không vượt quá giá thị trường của tài sản được bảo hiểm38”

Hai là, phí bảo hiểm tài sản phụ thuôc vào các yếu tố số tiền bảo hiểm, tỉ

lệ bảo hiểm, và thời hạn bảo hiểm Theo đó, số tiền bảo hiểm là số tiền mà bên

37

Nguyễn Thị Thủy (2016), “Mối quan hệ pháp lý giữa quyền lợi được bảo hiểm và hiệu lực của hợp đồng

bảo hiểm tài sản”, Tạp chí Luật học, Số 10, tr 52 – 61

38

Điều 42 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010

Trang 30

mua bảo hiểm yêu cầu bảo hiểm cho tài sản đó39 Thời hạn bảo hiểm là khoảng thời gian nhằm xác định thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm và thời điểm chấm dứt trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm Đây là khoảng thời gian mà nếu rủi ro trong phạm vi bảo hiểm xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm phải có nghĩa vụ bồi thường40

Trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm tài sản các bên có quyền thỏa thuận sửa đổi, bổ sung về mức phí bảo hiểm, nói cách khác các bên có quyền thỏa thuận “lại” về mức phí bảo hiểm Bởi vì trong quá trình sử dụng tài sản của chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu, sử dụng, quản lý, khai thác tài sản hợp pháp không thể tránh khỏi những hao mòn tài sản cố định hoặc hao mòn không cố định xuất phát từ các yếu tố khách quan làm ảnh hưởng đến tài sản

Do đó, khi có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm dẫn đến việc giảm thiểu các rủi ro hoặc gia tăng các rủi ro thì các bên có quyền thỏa thuận “lại” về mức phí bảo hiểm cho hợp lý đảm bảo sự phù hợp, và cân bằng lợi ích các bên

Thứ hai, phí bảo hiểm tài sản là một trong các căn cứ xác định số tiền bồi

thường Quan hệ bảo hiểm tài sản là quan hệ bồi thường Nguyên tắc bồi thường

là nguyên tắc chủ đạo chi phối đến các quy định về bồi thường trong bảo hiểm tài sản Theo đó, tổng số tiền bồi thường trong hợp đồng bảo hiểm tài sản không vượt quá giá thị trường của tài sản tại thời điểm tổn thất và nơi xảy ra tổn thất Các bên

có thể thỏa thuận một trong các phương pháp bồi thường: (i) Sửa chữa tài sản bị thiệt hại; (ii) Thay thế tài sản khác; (iii) Bồi thường bằng tiền Trường hợp không

có thỏa thuận thì bồi thường bằng tiền Việc xác định số tiền bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm không phải là việc làm dễ dàng cho tất cả các trường hợp41 Nghiên cứu hợp đồng bảo hiểm tài sản của các doanh nghiệp bảo hiểm, điều khoản về xác định tổn thất đối với tài sản được bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm phải chịu trách nhiệm bồi thường thường mang tính chất “định tính”42;

Trang 31

Cơ sở để xác định số tiền bồi thường trong hợp đồng bảo hiểm tài sản thường dựa trên mức phí bảo hiểm, hình thức bảo hiểm và thiệt hại thực tế do rủi ro gây ra, thời gian đóng phí, quy định về giới hạn trách nhiệm Thực tế, hoạt động kinh doanh bảo hiểm cho thấy, trong thời gian đóng phí bảo hiểm thì doanh nghiệp vẫn phải bồi thường trả tiền khi có sự kiện xảy ra 43;

Thứ ba, phí bảo hiểm là điều khoản cơ bản của hợp đồng bảo hiểm tài

sản Vì vậy, các bên phải thỏa thuận với nhau về điều khoản này thì hợp đồng mới được coi là đã được giao kết Điều khoản về phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản là điều khoản xác định bên mua bảo hiểm phải trả phí bao nhiêu và cách thức đóng như thế nào cho doanh nghiệp bảo hiểm Trong hợp đồng bảo hiểm tài sản, phí bảo hiểm thường tính theo tỉ lệ phần trăm trên giá trị tài sản bảo hiểm Tùy thuộc vào mức độ rủi ro của đối tượng bảo hiểm (tài sản bảo hiểm) mà tỉ lệ phần trăm này có thể cao hoặc thấp khác nhau Đồng thời, các bên có thể thỏa thuận về phương thức đóng khoản phí bảo hiểm hàng tháng, hàng quý (03 tháng); nửa năm (06 tháng), nộp phí bảo hiểm hàng năm, nộp phí bảo hiểm một lần Vì phí bảo hiểm được tính vào mức độ rủi ro của tài sản bảo hiểm nên khi có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm giảm phí cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm Trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không chấp nhận giảm phí bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm

có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm, nhưng phải thông báo ngay bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm Khi có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm, dẫn đến tăng các rủi ro được bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền tính lại phí bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm Trong trường hợp bên mua bảo hiểm không chấp nhận tăng phí bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm, nhưng phải thông báo ngay bằng văn bản cho bên mua bảo hiểm44

Thứ tư, phí bảo hiểm là căn cứ xác định thời điểm trách nhiệm bảo hiểm

của doanh nghiệp bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản Nghĩa vụ đóng

Trang 32

phí bảo hiểm là nghĩa vụ bắt buộc phải có đối với bên mua bảo hiểm Đây là yếu tố quyết định đến thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm Chủ thể được bảo hiểm phải thực hiện nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm trong suốt cả thời gian hợp đồng có hiệu lực45 Trong hợp đồng bảo hiểm tài sản, đối với bên mua bảo hiểm, nghĩa vụ đóng phí là nghĩa vụ cơ bản trong hợp đồng bảo hiểm và khi bên mua thực hiện nghĩa vụ đóng phí đầy đủ sau khi giao kết hợp đồng bảo hiểm mới làm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm

45

Bạch Thị Nhã Nam (2019), “Rủi ro trong việc đóng phí của bên mua bảo hiểm và điều khoản miễn đóng

phí trong hợp đồng bảo hiểm “, Tạp chí Dân chủ & Pháp luật, Số chuyên đề tháng 5, tr.16-21

Trang 33

Kết luận Chương 1

Bảo hiểm tài sản là một cơ chế mà theo đó người nhận bảo hiểm (hay doanh nghiệp bảo hiểm) vì nhận một khoản tiền (được gọi là phí bảo hiểm) từ người mua bảo hiểm mà phải bồi thường số tiền bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra (có nghĩa là có rủi ro xảy ra gây thiệt hại về tài chính cho người được bảo hiểm hay người thụ hưởng bảo hiểm) Phí bảo hiểm là căn cứ để xác lập và hình thành quan hệ bảo hiểm Do đó, quy định về phí bảo hiểm là chế định của pháp luật kinh doanh bảo hiểm; đồng thời phí bảo hiểm là điều khoản

cơ bản của hợp đồng bảo hiểm tài sản Trong phạm vi Chương 1, Luận văn đã giải quyết được các vấn đề sau đây:

Thứ nhất, Làm rõ khái niệm, đặc điểm của phí bảo hiểm và các yếu tố tác

động đến nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm của bên mua bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản Theo đó, phí bảo hiểm được hiểu là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm phải đóng cho doanh nghiệp bảo hiểm theo thời hạn và phương thức do các bên thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm;

Thứ hai, Nghiên cứu cơ sở lý luận về nghĩa vụ phí bảo hiểm trong hợp

đồng bảo hiểm tài sản được hình thành dưới 02 góc độ: (i) Phương diện kinh tế;

và (ii) Phương diện pháp lý

Đồng thời, luận văn đưa ra khái niệm và đặc điểm pháp luật về phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản Theo đó, pháp luật về phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm tài sản liên quan đến phí bảo hiểm

Trang 34

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ PHÍ BẢO HIỂM TRONG HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TÀI SẢN VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

2.1 Thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản

2.1.1 uyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng bảo hiểm tài sản liên quan đến phí bảo hiểm

Phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản là sợi dây liên kết quan trọng để các bên tiến hành giao kết và thực hiện hợp đồng Xuất phát từ tầm quan trọng của phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản do đó pháp luật cần quy định cụ thể và rõ ràng về quyền lợi và trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm, người mua bảo hiểm

2.1.1.1 Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm

Thứ nhất, Quyền của doanh nghiệp bảo hiểm

(i) Doanh nghiệp bảo hiểm được quyền nhận phí bảo hiểm từ bên mua bảo hiểm Việc doanh nghiệp bảo hiểm thu phí bảo hiểm để đảm bảo cung ứng dịch

vụ bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm là hoàn toàn hợp lý Phí bảo hiểm mà bên mua bảo hiểm đóng không những được sử dụng để chi trả bảo hiểm mà còn giúp cho doanh nghiệp bảo hiểm duy trì được hoạt động kinh doanh của mình, đảm bảo cung ứng sản phẩm bảo hiểm cho xã hội46

(ii) Doanh nghiệp bảo hiểm được quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm và thu phí bảo hiểm đến thời điểm đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm khi bên mua bảo hiểm thực hiện hành vi: (i) Cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm để được trả tiền bảo hiểm hoặc được bồi thường; hoặc (ii) Không thực hiện các nghĩa vụ trong việc thông báo những trường hợp có thể làm tăng rủi ro hoặc làm phát sinh thêm trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm

46

Nguyễn Thị Thủy (2007), tlđd (35), tr.28-32

Trang 35

Thứ hai, Nghĩa vụ doanh nghiệp bảo hiểm

(i) Giải thích cho bên mua bảo hiểm về các điều kiện, điều khoản về phí bảo

hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản Theo tác giả N.V.Ctepanjuk thì việc đặt ra yêu cầu giải thích hợp đồng với lý do: “Giải thích hợp đồng có thể do nhiều nguyên nhân Đối với một bên, có thể xuất hiện sự cần thiết phải xác định nội dung của một điều khoản này hoặc một điều khoản kia trong hợp đồng vì nó được thể hiện chưa

rõ ràng với một bên khác – hoặc để bổ sung điều khoản của hợp đồng trong trường hợp tồn tại thiếu sót đối với nội dung của hợp đồng hoặc để khắc phục những điều khoản có sự mâu thuẫn”47 Hợp đồng có hiệu lực ràng buộc các bên giao kết, các bên phải thực hiện đúng các cam kết đã thỏa thận Do đó, người ta chỉ căn cứ vào hợp đồng để phán xét xem bên nào thực hiện đúng, thực hiện không đúng Tuy nhiên, có những hợp đồng được soạn thảo theo mẫu có sẵn (hợp đồng theo mẫu) chứa đựng các điều khoản do doanh nghiệp với đội ngũ chuyên gia pháp lý soạn thảo, dẫn đến việc người tiêu dùng khó khăn trong xác định nội dung hợp đồng để thực hiện Do đó cần phải giải thích hợp đồng Về nguyên tắc giải thích hợp đồng không có nghĩa là thay đổi nội dung của hợp đồng mà chỉ làm rõ và đúng với ý nghĩa của sự cam kết, hay nói cách khác giải thích hợp đồng làm cho nội dung của hợp đồng được hiểu một cách đúng với ý chí của các bên tham gia giao kết hợp đồng48

Trong hợp đồng bảo hiểm tài sản, nội dung hợp đồng thường được doanh nghiệp soạn thảo sẵn do tính chất phức tạp đặc thù của quan hệ bảo hiểm Một bộ phận quan trọng của hợp đồng bảo hiểm tài sản chính là điều khoản mẫu (standard clauses) Theo Enrico Baffi (2012) thì điều khoản mẫu có hai nghĩa cơ bản: một là,

đó là những quy định do một bên của hợp đồng đưa ra và bên kia không thể thương lượng; hai là, khi đó là những quy tắc, thỏa thuận đã được áp dụng và trở nên chuẩn mực, các chủ thể của những hợp đồng tương tự sau đó chỉ việc áp dụng, thậm chí không cần thiết phải sửa chữa hay bổ sung49 Do đó, doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ giải thích cho bên mua bảo hiểm về các điều kiện, điều khoản về phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản

47

Hà Thị Thúy (2017), “Các học thuyết giải thích hợp đồng trên thế giới và việc vận dụng vào chế định giải

thích hợp đồng ở Việt Nam”, Tạp chí Dân chủ & Pháp luật, Bộ Tư pháp, số 6 (303), tr 11

48

Hà Thị Mai Hiên, Hà Thị Thúy (2015), “ Bàn về chế định giải thích hợp đồng trong Dự thảo Bộ luật Dân

sự (sửa đổi”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Số 3(323), tr.42-48; 55

49

Enrico Baffi (2012), “Public goods and contract standard clauses”, Social Science Research Network http://ssrn.com/abstract=2010999

Trang 36

(ii) Giảm phí bảo hiểm theo yêu cầu của bên mua bảo hiểm khi có yếu tố làm giảm rủi ro đối với đối tượng được bảo hiểm50 Khi tham gia ký kết hợp đồng bảo hiểm tài sản vì nhiều lý do khác nhau mà doanh nghiệp bảo hiểm tăng phí bảo hiểm, trong quá trình thực hiện hợp đồng những lý do đó không còn mà bên mua vẫn phải đóng phí với mức giá cao thì bên mua bảo hiểm có quyền yêu cầu doanh nghiệp giảm mức phí bảo hiểm tương ứng với mức độ rủi ro của tài sản được bảo hiểm

Thực tiễn, các tranh chấp về nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm là dạng tranh chấp “phổ biến” về điều khoản phí trong hợp đồng bảo hiểm tài sản được cơ quan tài phán (Tòa án) thụ lý và giải quyết trong thời gian qua Cụ thể, Tranh chấp giữa Anh Phạm Ng (Nguyên đơn) và Tổng công ty cổ phần bảo hiểm B (Bị đơn) về Hợp đồng bảo hiểm tàu cá số QBI.D0.06.TC.17.HDDE ngày 22/6/2017 Tại bản án số 26/2019/DS-PT ngày 18/10/2019 của Tòa án nhân dân Tỉnh Quảng Bình nhận định: Điều 21 Luật kinh doanh bảo hiểm quy định trường hợp hợp đồng bảo hiểm có điều khoản không rõ ràng thì điều khoản đó được giải thích theo hướng có lợi cho bên mua bảo hiểm Do đó, trong trường hợp này Giấy chứng nhận bảo hiểm số 363 ngày 20/9/2017 cấp cho anh Ng không ghi về kỳ hạn, thời hạn nộp phí bảo hiểm, nên được coi là trường hợp

“các bên có thoả thuận khác” đó là trường hợp bên bán bảo hiểm chấp nhận cho phía mua bảo hiểm được cấp giấy chứng nhận bảo hiểm trước và nộp phí bảo hiểm sau khi có thông báo thu phí bảo hiểm Kỳ hạn, thời hạn nộp phí bảo hiểm giữa anh Ng và B bắt buộc phải được thể hiện cụ thể trong “thông báo thu phí bảo hiểm” của B gửi cho anh Ng như quy định tại Điều 17 Quy tắc bảo hiểm tàu cá Do Giấy chứng nhận bảo hiểm số 363 ngày 20/9/2017 cấp cho anh Ng

là bằng chứng để khẳng định B đã biết việc chuyển nhượng tàu cá giữa anh H

và anh Ng51”;

Tuy nhiên, Luật kinh doanh bảo hiểm chỉ dừng lại ở quy định nguyên tắc giải thích hợp đồng bảo hiểm mà không quy định cách thức giải thích hợp đồng này như thế nào Có ý kiến cho rằng: Việc pháp luật kinh doanh bảo hiểm thiếu

Ngày đăng: 21/04/2021, 19:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ luật dân sự (Luật số 33/2005/QH11) ngày 14/06/2005 Khác
2. Bộ luật dân sự (Luật số 68/2014/QH13) ngày 24/11/2015 Khác
3. Bộ luật hàng hải Việt Nam (Luật số 95/2015/QH13) ngày 25/11/2015 Khác
4. Luật Kinh doanh bảo hiểm (Luật số 24/2000/QH10) ngày 09/12/2000 Khác
5. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm (Luật số 61/2010/QH12) ngày 24/11/2010 Khác
6. Luật Thương mại (Luật số 36/2005/QH11) ngày 14/06/2005 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w