Ngoài ra, hợp đồng bảo hiểm tài sản thường do doanh nghiệp bảo hiểm soạn thảo sẵn – hợp đồng mẫu, hiếm có hợp đồng bảo hiểm tài sản nào được thông qua do sự thỏa thuận của hai bên và phá
Trang 1KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 36 (2010 – 2014)
TRỤC LỢI TRONG BẢO HIỂM TÀI SẢN Ở
VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ
HƯỚNG HOÀN THIỆN
MSSV: 5105873 Lớp: Luật Thương mại 1- K36
Cần Thơ, 2013
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trải qua gần 4 năm học tập tại trường Đại Học Cần Thơ, được sự chỉ bảo tận tình của các Thầy Cô, nhất là Thầy Cô Khoa Luật đã tạo cho em một nền tảng kiến thức khá vững chắc trước khi bước vào cuộc sống thực tế Đặc biệt trong quá trình học tập, nghiên cứu em đã nhận được sự quan tâm, ủng hộ của gia đình, Giáo viên hướng dẫn nhờ đó mà
em đã hoàn thành khá tốt luận văn của mình Với kiến thức và điều kiện nghiên cứu có hạn nên nội dung luận văn còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được sự chỉ dạy và góp ý của quý Thầy Cô để luận văn của em được hoàn chỉnh hơn
Em xin cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại Học Cần Thơ, quý Thầy Cô Khoa Luật
đã trang bị kiến thức cho em trong suốt thời gian học tập tại trường
Em xin cảm ơn Cô Đoàn Nguyễn Minh Thuận đã tận tình hướng dẫn, chỉnh sửa
để em hoàn thành tốt Luận văn của mình
Sau cùng, em xin chúc quý Thầy Cô, Ban lãnh đạo nhà trường dồi dào sức khỏe
và luôn thành công trong cuộc sống
Chân thành cảm ơn!
Cần Thơ, ngày 30 tháng 11 năm 2013 Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Lan
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Cần Thơ, ngày…tháng…năm 2013
Giáo viên hướng dẫn
Trang 4NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Cần Thơ, ngày…tháng…năm 2013
Giáo viên phản biện
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DNBH Doanh nghiệp bảo hiểm BHTS Bảo hiểm tài sản
Trang 6MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU……….1
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM TÀI SẢN VÀ TRỤC LỢI TRONG BẢO HIỂM TÀI SẢN……….….5
1.1 Khái quát chung về bảo hiểm tài sản……….….5
1.1.1 Lý luận chung về bảo hiểm……….….5
1.1.2 Khái quát chung về bảo hiểm tài sản……… …15
1.1.2.1 Khái niệm tài sản… 15
1.1.2.2 Khái niệm bảo hiểm tài sản 15
1.1.2.3 Đặc điểm của bảo hiểm tài sản 16
1.1.2.4 Bản chất của bảo hiểm tài sản 17
1.1.2.5 Các loại tài sản được bảo hiểm 18
1.2 Lý luận chung về trục lợi trong bảo hiểm tài sản……… 19
1.2.1 Khái niệm trục lợi trong bảo hiểm tài sản……… 19
1.2.2 Bản chất của trục lợi trong bảo hiểm tài sản……… 21
1.2.3 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trục lợi trong bảo hiểm tài sản……… 22
1.2.4 Các hình thức trục lợi trong bảo hiểm tài sản………23
1.3 Pháp luật điều chỉnh về trục lợi trong bảo hiểm tài sản……….25
CHƯƠNG 2 CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC ĐIỀU CHỈNH VẤN ĐỀ TRỤC LỢI TRONG BẢO HIỂM TÀI SẢN Ở VIỆT NAM ….28
2.1 Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản……… 28
2.1.1 Quyền của doanh nghiệp bảo hiểm………29
2.1.1.1 Quyền trước khi hợp đồng bảo hiểm được ký kết 29
2.1.1.2 Quyền trong quá trình thực hiệp hợp đồng 29
2.1.1.3 Quyền trong việc chấm dứt thực hiện hợp đồng 33
2.1.1.4 Các quyền khác theo quy định của pháp luật 35
2.1.2 Nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm……… 35
Trang 72.1.2.1 Nghĩa vụ thông tin 35
2.1.2.2 Nghĩa vụ cấp hợp đồng hoặc bằng chứng về hợp đồng 36
2.1.2.3 Nghĩa vụ bồi thường khi xảy ra sự kiện bảo hiểm 37
2.1.2.4 Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật 38
2.2 Quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản 38
2.2.1 Quyền của bên mua bảo hiểm……… …… 38
2.2.1.1 Quyền trong việc xác lập, giao kết hợp đồng 38
2.2.1.2 Quyền trong quá trình thực hiện hợp đồng 40
2.2.1.3 Quyền trong việc chấm dứt thực hiện hợp đồng 42
2.2.1.4 Các quyền khác theo quy định của pháp luật 42
2.2.2 Nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm……… 43
2.2.2.1 Nghĩa vụ nộp phí bảo hiểm 43
2.2.2.2 Nghĩa vụ cung cấp thông tin cho việc giao kết hợp đồng 44
2.2.2.3 Nghĩa vụ thông báo những thay đổi liên quan đến việc thực hiện hợp đồng 44
2.2.2.4 Nghĩa vụ thông báo xảy ra sự kiện bảo hiểm 45
2.2.2.5 Nghĩa vụ thực hiện các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất 46
2.2.2.6 Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật 46
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG TRỤC LỢI TRONG BẢO HIỂM TÀI SẢN, HƯỚNG HOÀN THIỆN ĐỂ HẠN CHẾ TRỤC LỢI TRONG BẢO HIỂM TÀI SẢN Ở VIỆT NAM……….………… 48
3.1 Thực trạng trục lợi trong bảo hiểm tài sản ở Việt Nam hiện nay……….48
3.2 Hướng hoàn thiện để hạn chế trục lợi trong bảo hiểm tài sản……… 54
3.2.1 Hướng hoàn thiện về hệ thống pháp luật điều chỉnh……… 54
3.2.2 Hướng hoàn thiện quy định về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm………58
3.2.3 Hướng hoàn thiện quy định về quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm 60
3.2.4 Hướng hoàn thiện về bộ máy quản lý của cơ quan Nhà nước……… 62
KẾT LUẬN………66 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu đề tài
Bảo hiểm không chỉ đáp ứng nhu cầu của người dân trong nước mà còn rất quan trọng trong việc hợp tác, giao lưu quốc tế, đặc biệt là trong thời kỳ xây dựng một đất nước Việt Nam phát triển về mọi mặt Chính vì thế Nhà nước rất quan tâm trong vấn
đề xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về bảo hiểm cũng như có các hình thức quản lý các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm trong nước, ưu đãi thu hút đầu tư từ nước ngoài rất hiệu quả
Tuy nhiên, do không thể dự đoán được tình hình phát triển của bảo hiểm cũng như sự cố phát sinh trong quá trình thực hiện pháp luật về bảo hiểm, nên dẫn đến nhiều
hệ lụy khó giải quyết Điển hình là tình trạng trục lợi bảo hiểm ngày càng gia tăng Đặc biệt là các quy định điều chỉnh hành vi trục lợi bảo hiểm còn rất mơ hồ, làm cho tranh chấp giữa các bên chưa được giải quyết triệt để
Bên cạnh đó, việc áp dụng pháp luật về kinh doanh bảo hiểm cũng khó khăn đối với doanh nghiệp bảo hiểm, bên mua bảo hiểm vì họ không thể nắm rõ hết các quy định của pháp luật Cơ quan quản lý Nhà nước cũng gặp rắc rối trong việc thi hành pháp luật vì một số lý do nào đó như trình độ chuyên môn về bảo hiểm còn yếu kém hoặc thiếu trách nhiệm trong công việc Những yếu tố này đã vô hình dẫn đến tình trạng một số cá nhân, tổ chức có cơ hội thực hiện hành vi gian dối khi tham gia bảo hiểm – đó là trục lợi bảo hiểm
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên cho thấy việc nghiên cứu đề tài “Trục lợi
trong bảo hiểm tài sản ở Việt Nam - Thực trạng và hướng hoàn thiện” là cấp thiết
và mang tính thời sự Đó cũng chính là lý do thúc đẩy người viết lựa chọn và nghiên cứu đề tài này
2 Mục tiêu nghiên cứu
Về mặt khoa học, mục đích nghiên cứu đề tài “Trục lợi trong bảo hiểm tài sản
ở Việt Nam - Thực trạng và hướng hoàn thiện” nhằm làm sáng tỏ một số vấn đề lý
luận, pháp lý và thực tiễn về trục lợi trong bảo hiểm tài sản
Về lý luận, trục lợi trong bảo hiểm tài sản là hành vi gian dối và gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng vì nó liên quan đến nhiều chủ thể khác nhau trong xã hội (bao gồm doanh nghiệp bảo hiểm, bên mua bảo hiểm, đại lý bảo hiểm, môi giới bảo hiểm, cán bộ y tế, công an…) Do đó cần phải có những biện pháp ngăn ngừa hành vi trục lợi bảo hiểm nói chung, bảo hiểm tài sản nói riêng
Trang 9Về mặt pháp lý, hiện tại người viết nhận thấy chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào điều chỉnh về vấn đề chế tài đối với hành vi trục lợi bảo hiểm Các thuật ngữ chuyên ngành thường không được giải thích thành quy phạm pháp luật làm cho bên mua bảo hiểm không hiểu hoặc hiểu sai ý nghĩa của các thuật ngữ đó, dẫn đến bên bảo hiểm có cơ hội thực hiện ý đồ trục lợi Mặt khác sẽ không đảm bảo sự công bằng
về quyền và nghĩa vụ của các bên
Ngoài ra, hợp đồng bảo hiểm tài sản thường do doanh nghiệp bảo hiểm soạn thảo sẵn – hợp đồng mẫu, hiếm có hợp đồng bảo hiểm tài sản nào được thông qua do
sự thỏa thuận của hai bên và pháp luật cũng không can thiệp vào vấn đề này, do quy định tại Điều 388 của Bộ luật Dân sự là “hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận của các bên…” Điều này gây ra sự không công bằng cho bên mua bảo hiểm Vấn đề phí bảo hiểm cũng không được quy định thống nhất, từ đó làm xuất hiện nhiều hành vi gian dối trong bảo hiểm tài sản Giải pháp đề ra là cần hoàn thiện các quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm, đặc biệt là các quy định điều chỉnh hành vi trục lợi bảo hiểm tài sản Đó sẽ là tiền đề cho một nền kinh tế phát triển nói chung, kinh doanh bảo hiểm nói riêng Đồng thời phòng chống hành vi trục lợi trong bảo hiểm tài sản
Về thực tiễn, đề tài luận văn này có thể sử dụng làm tài liệu cho việc nghiên cứu, tham khảo và góp phần mở rộng hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng chống trục lợi bảo hiểm nói chung, bảo hiểm tài sản nói riêng
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài luận văn này, người viết đã sử dụng một số phương phương pháp nghiên cứu sau:
Trang 10Phương pháp sưu tầm tài liệu: Trong quá trình nghiên cứu người viết cần tham
khảo nhiều tài liệu liên quan đến đề tài để có cái nhìn tổng quát hơn về trục lợi trong bảo hiểm tài sản Từ đó có thể tránh được những sai lầm, thiếu sót trong đề tài nghiên cứu
Phương pháp thu thập và xử lý thông tin: Phương pháp này giúp cho việc xác
định và đánh giá vấn đề cần nghiên cứu được chính xác hơn Người viết đã tiến hành việc thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau như sách, báo, tạp chí, truy cập vào các trang web để việc nghiên cứu hoàn chỉnh hơn
Phương pháp phân tích câu chữ: Việc người viết sử dụng phương pháp này
nhằm mục đích hiểu rõ ý chí của người làm luật Từ đó có thể đưa ra những đánh giá không trái với quy định của pháp luật, những giải pháp hoàn thiện các quy định đó Đồng thời hoàn thiện hơn về nội dung của đề tài
Ngoài ra, người viết còn sử dụng một số phương pháp phân tích khác như quy nạp, diễn dịch, liệt kê, phân tích…để hoàn thành tốt đề tài luận văn này
5 Cấu trúc của đề tài
Đề tài nghiên cứu luận văn này gồm có ba chương:
- Chương 1: Lý luận chung về bảo hiểm tài sản và trục lợi trong bảo hiểm tài sản Trong phần này, người viết sẽ khái quát chung về bảo hiểm tài sản, trục lợi trong
bảo hiểm tài sản và các hình thức trục lợi bảo hiểm thường gặp để có thể đề phòng hành vi trục lợi trong quan hệ bảo hiểm tài sản
- Chương 2: Các quy định của pháp luật liên quan đến việc điều chỉnh vấn đề trục lợi trong bảo hiểm tài sản ở Việt Nam Ở chương này, người viết trình bày các
quy định của pháp luật về quyền, nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng bảo hiểm tài sản để tìm ra một số nguyên nhân dẫn đến việc trục lợi của các bên nhằm hạn chế hành vi trục lợi trong bảo hiểm tài sản Đồng thời, phân tích những thiếu sót trong các quy định của pháp luật có thể dẫn tới hành vi trục lợi ngày càng gia tăng
- Chương 3: Thực trạng trục lợi trong bảo hiểm tài sản ở Việt Nam, hướng
hoàn thiện để hạn chế trục lợi trong bảo hiểm tài sản Ở chương 3, người viết nêu
ra một số vụ việc điển hình về trục lợi trong bảo hiểm tài sản Đồng thời đưa ra ý kiến, giải pháp để hạn chế hành vi trục lợi
Đề tài nghiên cứu “Trục lợi trong bảo hiểm tài sản ở Việt Nam - Thực trạng
và hướng hoàn thiện” là một vấn đề liên quan đến nhiều chủ thể khác nhau trong xã
hội, quyền và nghĩa vụ của các bên đòi hỏi người nghiên cứu đề tài này cần có kiến thức sâu rộng về bảo hiểm, các lĩnh vực trong đời sống xã hội và cả kiến thức về lý
Trang 11luận lẫn thực tiễn Là một sinh viên, lần đầu tiên làm quen với việc nghiên cứu một
đề tài khoa học luật mà thời gian nghiên cứu còn hạn chế cũng như vốn hiểu biết có giới hạn Vì vậy, việc có những khiếm khuyết, thiếu sót hay sai lầm trong đề tài nghiên cứu này là điều không thể tránh khỏi
Từ đó, người viết rất mong nhận được sự thông cảm cũng như những ý kiến đóng góp, đánh giá, phê bình của quý Thầy (Cô), các nhà nghiên cứu pháp luật và các bạn sinh viên để Luận văn được hoàn thiện hơn và là cơ sở để người viết tiếp tục nghiên cứu sau này
Trang 12CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM TÀI SẢN VÀ TRỤC LỢI
TRONG BẢO HIỂM TÀI SẢN
Bảo hiểm Việt Nam ra đời khá muộn, không phát triển cũng như không được tin dùng so với các nước trên thế giới Tuy nhiên, để chứng tỏ vai trò quan trọng của mình, ngành nghề kinh doanh bảo hiểm đã không ngừng hoàn thiện, cho ra đời các sản phẩm bảo hiểm chất lượng được nhiều người sử dụng Từ đó, các công ty bảo hiểm xuất hiện ngày một nhiều góp phần tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho ngân sách Nhà nước
Tuy nhiên, là một thị trường non trẻ, kinh nghiệm quản lý của Nhà nước cũng như các doanh nghiệp bảo hiểm còn yếu kém nên dẫn đến phát sinh nhiều vấn đề bất lợi Mặt khác, cơ chế chính sách về bảo hiểm chưa hoàn thiện, phương thức cạnh tranh không đạt hiệu quả cũng góp phần làm cho kinh doanh bảo hiểm bị ngưng trệ, tồn đọng nhiều vấn đề chưa được giải quyết triệt để Một nguyên nhân khác không kém phần quan trọng làm cho thị trường bảo hiểm bước từng bước chậm chạp trên đà phát triển chính là “trục lợi bảo hiểm” Trục lợi bảo hiểm đã và đang gặm nhấm từ từ sự phát triển của nền kinh tế nói chung, kinh doanh bảo hiểm nói riêng Hành vi trục lợi bảo hiểm diễn ra trên tất cả các loại hình nghiệp vụ, làm cho doanh nghiệp bảo hiểm tổn thất nặng nề về tài chính cũng như uy tín bị giảm sút, từ đó làm cho người dân không còn lòng tin vào bảo hiểm Các hợp đồng bảo hiểm theo đó cũng ngày càng ít
đi, các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ lâm vào nguy cơ phá sản, nền kinh tế cũng bị ảnh hưởng ít nhiều vì nó có mối liên hệ về tài chính rất mật thiết với doanh nghiệp bảo hiểm Do hành vi trục lợi bảo hiểm khó bị phát hiện và chế tài của pháp luật chưa đủ sức răn đe nên tình trạng trục lợi bảo hiểm ngày càng gia tăng
Vậy nên, để có thể biết rõ về hành vi trục lợi bảo hiểm nói chung, bảo hiểm tài sản nói riêng, trước tiên ta cần tìm hiểu một số vấn đề lý luận chung về bảo hiểm để hiểu rõ các quy định của pháp luật bảo hiểm Qua đó có thể hạn chế phần nào hành vi trục lợi của các chủ thể khi tham gia quan hệ bảo hiểm
1.1 Khái quát chung về bảo hiểm tài sản
1.1.1 Lý luận chung về bảo hiểm
Để tìm hiểu về bảo hiểm tài sản cũng như cách thức thực hiện hành vi trục lợi bảo hiểm tài sản, trước tiên ta cần nghiên cứu để có thể hiểu một cách khái quát hơn
về bảo hiểm nói chung Từ đó có cái nhìn sâu sắc hơn về bảo hiểm tài sản, để khi tham gia vào quan hệ bảo hiểm đó sẽ không lúng túng hay bị một số tổ chức, cá nhân lừa gạt với mục đích hưởng lợi bất chính
Trang 13 Khái niệm bảo hiểm
Trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày cũng như trong hoạt động sản xuất kinh doanh, dù đã luôn chú ý ngăn ngừa, đề phòng nhưng con người vẫn luôn phải đối mặt với nguy cơ rủi ro trong mọi lĩnh vực từ đời sống, kinh tế đến xã hội Các rủi ro này vẫn luôn rình rập và ập đến một cách không ngờ như bão, lũ lụt, hạn hán, bệnh dịch, tai nạn…Đương nhiên các rủi ro đó đều đe dọa đến khả năng tài chính của mỗi cá nhân, tổ chức, họ là những người không may gặp tai nạn Như một điều tất yếu, người
ta sẽ nghĩ đến việc đoàn kết cộng đồng, liên hợp nhiều người lại để chia sẻ mất mát với những người kém may mắn Đó cũng là nguyên nhân làm các công ty bảo hiểm
dần dần xuất hiện và ngày càng phát triển mạnh mẽ
Theo Dennis Kessler thì: “Bảo hiểm chính là sự đóng góp vốn hay tài sản của số đông bù vào sự bất hạnh của số ít”1 Còn theo Monique Gaullier: “Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi
là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc để cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản tiền đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác - đó là người bảo hiểm Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn
bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê”2
Tập đoàn bảo hiểm AIG (American International Group) của Mỹ lại định nghĩa:
“Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này, một người, một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho công ty bảo hiểm, công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm”3
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm Việt Nam năm
2000 sửa đổi, bổ sung năm 2010 (sau đây người viết gọi là Luật Kinh doanh bảo hiểm) thì: “Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra
sự kiện bảo hiểm” Theo đó thì Luật Việt Nam không định nghĩa bảo hiểm là gì mà chỉ định nghĩa về kinh doanh bảo hiểm Ta có thể hiểu, cũng như các doanh nghiệp kinh doanh các lĩnh vực khác nhau có hoạt động kinh doanh khác nhau thì kinh doanh
Trang 14bảo hiểm là hoạt động chính và chủ yếu của doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) để thu
về lợi nhuận
Tóm lại, bảo hiểm là một hình thức góp vốn để đề phòng rủi ro, là sự chia sẻ rủi
ro của số ít cho số đông thông qua một quỹ chung – quỹ dự trữ bảo hiểm, do DNBH làm trung gian thanh toán
Đặc điểm của bảo hiểm
Thứ nhất, bảo hiểm là một dịch vụ tài chính đặc biệt Đây là một dịch vụ mang
tính chuyên biệt trong nền kinh tế thị trường Là một dịch vụ mang tính vô hình, là sự bảo đảm về mặt tài chính trước rủi ro cho người được bảo hiểm và kèm theo các dịch
vụ có liên quan Người tham gia bảo hiểm nộp phí cho DNBH để đổi lấy lời hứa hay cam kết là sẽ trả tiền bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra Như vậy, ở đây có sự cam kết từ hai phía, DNBH và người tham gia bảo hiểm, trong đó người tham gia bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, còn DNBH là bên trung gian nhận tất cả rủi ro của người tham gia bảo hiểm và cam kết sẽ bồi thường hay trả tiền bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra
Thứ hai, bảo hiểm vừa mang tính bồi hoàn vừa không mang tính bồi hoàn Trong
thời gian bảo hiểm không có sự kiện bảo hiểm xảy ra thì DNBH không phải trả tiền hay bồi thường bảo hiểm Ngược lại nếu có sự kiện bảo hiểm xảy ra thì DNBH phải bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm Đặc điểm này tạo ra khả năng nhàn rỗi trong quỹ bảo hiểm, DNBH đã sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi này đem đầu tư sinh lời Tuy nhiên, khác với các khâu tài chính khác, chi trả, bồi hoàn của bảo hiểm phụ thuộc vào tính bất ngờ của rủi ro bảo hiểm cả không gian, thời gian và quy mô Do đó, DNBH phải thành lập các quỹ dự phòng để thực hiện cam kết của mình trước bên tham gia bảo hiểm Quỹ bảo hiểm được sử dụng để tham gia đầu tư nhưng phải đảm bảo được tính thanh toán cao Do số tiền bồi thường trong hợp đồng bảo hiểm là rất lớn, có thể lớn hơn rất nhiều lần tiền phí bảo hiểm mà người tham gia bảo hiểm đã đóng
Bản chất của bảo hiểm
Bảo hiểm thực chất là việc con người phải dành ra một phần sản phẩm hay thu nhập trong kết quả lao động hằng năm của mình để lập ra quỹ dự trữ đủ lớn về vật chất hoặc bằng tiền (quỹ đó gọi là quỹ dự trữ bảo hiểm) nhằm hỗ trợ tài chính cho việc đề phòng và hạn chế tổn thất khi hiểm họa chưa hoặc đang xảy ra, bù đắp và bồi thường kịp thời những thiệt hại và tổn thất về người và tài sản sau khi xảy ra rủi ro Bảo hiểm còn là việc phân chia tổn thất của một hoặc một số người cho tất cả những người tham gia bảo hiểm theo hình thức số đông bù số ít Mỗi cá nhân hay đơn vị chỉ cần đóng góp một khoản tiền trích từ thu nhập cho các DNBH Khi tham gia một
Trang 15nghiệp vụ bảo hiểm nào đó, nếu gặp tổn thất do rủi ro gây ra, người được bảo hiểm sẽ được bồi thường Khoản tiền bồi thường này được lấy từ số phí mà tất cả những người tham gia bảo hiểm đã nộp Tất nhiên chỉ có một số ít người tham gia bảo hiểm sẽ gặp tổn thất, còn những người không bị tổn thất sẽ mất trắng số phí bảo hiểm đã đóng Như vậy, bản chất của bảo hiểm là việc phân chia tổn thất của một hoặc một số người cho tất cả những người tham gia bảo hiểm cùng chịu Do đó một nghiệp vụ bảo hiểm muốn tiến hành được phải có nhiều người tham gia, tức là bảo hiểm chỉ hoạt động được trên cơ sở luật số đông, càng nhiều người tham gia thì DNBH càng có lời Vậy nên, phân chia tổn thất và phòng ngừa rủi ro là bản chất đặc trưng của bảo hiểm
Phân loại bảo hiểm
Bảo hiểm là một ngành nghề kinh doanh có nhiều loại hình nghiệp vụ và được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau Mỗi DNBH sẽ lựa chọn loại nghiệp vụ tùy theo ý muốn của mình và tất nhiên phải đăng ký với cơ quan quản lý Nhà nước về kinh doanh bảo hiểm Để phân loại bảo hiểm ta cần dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau như:
Thứ nhất, phân loại theo mục đích Có loại hình bảo hiểm vì mục đích lợi nhuận
và mục đích cho sự phát triển ổn định của xã hội
Bảo hiểm vì mục đích lợi nhuận là bảo hiểm thương mại, bao gồm:
Bảo hiểm nhân thọ: Bảo hiểm trọn đời; bảo hiểm sinh kỳ; bảo hiểm tử kỳ; bảo hiểm hỗn hợp; bảo hiểm trả tiền định kỳ; bảo hiểm liên kết đầu tư; bảo hiểm hưu trí4
Bảo hiểm phi nhân thọ: Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại; bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đường bộ, đường biển, đường thủy nội địa, đường sắt và đường hàng không; bảo hiểm hàng không; bảo hiểm xe cơ giới; bảo hiểm cháy, nổ; bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu; bảo hiểm trách nhiệm; bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính; bảo hiểm thiệt hại kinh doanh; bảo hiểm nông nghiệp5
Bảo hiểm không vì mục đích lợi nhuận bao gồm bảo hiểm xã hội; bảo hiểm tiền
gửi
Thứ hai, phân loại theo tính chất ràng buộc pháp lý
Bảo hiểm bắt buộc: Bảo hiểm xã hội; bảo hiểm tiền gửi; bảo hiểm hàng hải;
bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới, người vận chuyển hàng không; trách nhiệm nghề nghiệp của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm; bảo hiểm cháy, nổ
Trang 16
Bảo hiểm không bắt buộc: Các loại hình bảo hiểm còn lại như bảo hiểm tai
nạn con người; bảo hiểm y tế; bảo hiểm chăm sóc sức khỏe6
Các nguyên tắc của bảo hiểm
Ngành nghề kinh doanh bảo hiểm có những nguyên tắc riêng của nó và mọi hoạt động đều phải tuân theo những nguyên tắc này, như nguyên tắc chỉ bảo hiểm cho rủi
ro, nguyên tắc trung thực, nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm, nguyên tắc bồi thường và nguyên tắc thế quyền
Nguyên tắc thứ nhất, chỉ bảo hiểm cho rủi ro Những tai nạn hoặc tổn thất chắc
chắn xảy ra hoặc đã xảy ra thì sẽ không được bảo hiểm, mà chỉ bảo hiểm cho những
biến cố ngẫu nhiên, tai nạn xảy ra bất ngờ ngoài ý muốn của con người Ví dụ như: Con tàu đã bị hư hao phần thân rồi mà chủ tàu mới mua bảo hiểm cho thân tàu đó thì
sẽ không được bảo hiểm
Nguyên tắc thứ hai, nguyên tắc trung thực Các bên phải trung thực trong việc
cung cấp thông tin, không được gian dối lẫn nhau Bên bảo hiểm thì phải công khai các điều kiện được bảo hiểm, không được bảo hiểm, thủ tục thông báo và bồi thường Còn bên được bảo hiểm thì kê khai rõ ràng và trung thực các thông tin khi được yêu cầu và khi có sự thay đổi ảnh hưởng đến mức độ rủi ro của đối tượng bảo hiểm
Nguyên tắc thứ ba, nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm Đối với tài sản
thì quyền lợi có thể được bảo hiểm là quyền sở hữu, chiếm hữu, sử dụng và định đoạt, khi người nắm giữ tài sản có một trong các quyền này thì khi tài sản bị tổn thất sẽ được công ty bảo hiểm bồi thường Còn đối với con người là sức khỏe, tính mạng, quyền nuôi dưỡng, cấp dưỡng
Nguyên tắc thứ tư, nguyên tắc bồi thường Theo nguyên tắc này thì bên công ty
bảo hiểm chỉ bồi thường cho những tổn thất, thiệt hại xảy ra trên thực tế Tức là, thiệt hại đó có thể xác định được như nhìn thấy và cầm nắm được Giá trị bồi thường tối đa bằng giá trị thiệt hại, tức chỉ có thể bồi thường bằng hoặc thấp hơn mức độ thiệt hại chứ không vượt quá mức thiệt hại thực tế Không bên nào được lợi dụng bảo hiểm để thu lợi bất chính
Nguyên tắc thứ năm, nguyên tắc thế quyền Nguyên tắc thế quyền là một trong
những nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm, nó là kết quả tất yếu của nguyên tắc bồi thường vì nó ngăn ngừa một người có thể đòi bồi thường từ hai nguồn về cùng một
tổn thất và như thế là kiếm lời bất chính Ví dụ như: Một tài sản đã được mua bảo hiểm mà người gây ra tổn thất không phải là các bên trong hợp đồng bảo hiểm mà là bên thứ ba nào đó có thể xác định được trách nhiệm của họ Khi đó bên bảo hiểm sẽ
Trang 17
bồi thường cho người được bảo hiểm, sau đó bên bảo hiểm được quyền đòi lại số tiền
đã bồi thường từ bên thứ ba gây ra thiệt hại này Nếu không có nguyên tắc này thì
một số cá nhân, tổ chức tham gia bảo hiểm lợi dụng rủi ro đó để thu lợi từ hai phía, bên bảo hiểm và bên thứ ba
Thế quyền là biện pháp mà pháp luật cho phép áp dụng nhằm tránh việc kiếm lời không hợp lý từ việc tham gia bảo hiểm Với nguyên tắc thế quyền này, bên bảo hiểm có quyền thay thế quyền hạn người được bảo hiểm để đòi bên có trách nhiệm bồi hoàn trong giới hạn số tiền bồi thường đã trả mà không cần có quyền sở hữu được chuyển qua cho họ Tuy nhiên, trước khi thực hiện việc thế quyền, bên bảo hiểm phải trả tiền bồi thường cho bên được bảo hiểm Bên cạnh đó quyền lợi bảo hiểm còn được chuyển giao sang người chấp nhận cầm cố, nhận thế chấp tài sản
Sự cần thiết của bảo hiểm trong đời sống kinh tế - xã hội
Nghiên cứu về bảo hiểm chúng ta có thể thấy tác dụng của bảo hiểm thể hiện rõ trên nhiều phương diện Ngoài việc giúp bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất, bảo hiểm còn sử dụng hiệu quả những khoản tiền nhàn rỗi, tạo được nguồn vốn lớn để đầu tư vào những lĩnh vực khác Cũng nhờ bảo hiểm mà ngân sách nhà nước hằng năm có nguồn đóng góp không nhỏ thông qua việc nộp thuế, mọi người có được tâm lý an tâm trong kinh doanh, trong cuộc sống Vì những tổn thất, rủi ro đã được chuyển sang cho công ty bảo hiểm, công tác để phòng và hạn chế tổn thất được tăng cường, đồng thời tạo thêm nhiều công ăn việc làm mới
Một là, bảo hiểm bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất rất hiệu quả Bù đắp thiệt
hại, khắc phục tổn thất là tác dụng chủ yếu của bảo hiểm và cũng xuất phát chính từ nhu cầu này mà bảo hiểm đã ra đời Nói đến bảo hiểm là nói đến khả năng bồi thường khi có tổn thất xảy ra, và vai trò của các công ty bảo hiểm là cung cấp các dịch vụ đặc biệt nhằm khôi phục khả năng vật chất, tài chính như trước khi xảy ra rủi ro, hoặc bồi thường cho người thụ hưởng trong hợp đồng bảo hiểm con người Khi có tổn thất xảy đến với đối tượng được bảo hiểm thì nhiệm vụ cơ bản của bảo hiểm là khắc phục những hậu quả đó theo như hợp đồng đã giao kết trước đó với bên mua bảo hiểm, ổn định đời sống và quá trình sản xuất, kinh doanh Có thể nói, chỉ có công ty bảo hiểm mới bù đắp thiệt hại, tổn thất do trước đó công ty đã nhận một khoản phí của bên mua
bảo hiểm
Các cá nhân, tổ chức khi mua bảo hiểm tức là họ đã chuyển rủi ro cho các công
ty bảo hiểm từ đó tạo tâm lý an toàn để sản xuất, kinh doanh có hiệu quả hơn, giúp ổn định cuộc sống, các tổ chức thì bảo toàn được vốn, tài sản, giữ cho chu kỳ sản xuất – kinh doanh không bị gián đoạn, không bị phá sản khi gặp thiệt hại quá nặng nề
Trang 18Hai là, tăng cường công tác đề phòng và hạn chế tổn thất Bên cạnh khả năng
giải quyết các hậu quả của rủi ro, bảo hiểm cũng góp phần thực hiện một nội dung khác quan trọng không kém, đó là đề phòng và hạn chế mức thấp nhất những tổn thất
có thể xảy đến Do bảo hiểm chỉ đền bù cho những biến cố ngẫu nhiên, có khả năng xảy ra và đã được thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm khi giao kết chứ không phải trong mọi trường hợp đều bồi thường Nhờ đó những thiệt hại đáng tiếc về người và tài sản được giảm thiểu và những hậu quả về kinh tế - xã hội được chủ động phòng
tránh
Ba là, sử dụng hiệu quả những khoản tiền nhàn rỗi, tạo được nguồn vốn lớn để đầu tư vào lĩnh vực khác Khoản phí mà bên mua bảo hiểm đóng sẽ không sử dụng để
bồi thường một cách đồng loạt mà sẽ bồi thường rải rác, do không phải lúc nào cũng
có tổn thất đối với đối tượng được bảo hiểm Vậy nên các công ty bảo hiểm sẽ sử dụng khoản tiền đó đem đi đầu tư, nhưng vẫn đảm bảo mức độ an toàn tương đối về khả năng tài chính khi xảy ra rủi ro mà vẫn không gây đọng vốn, qua đó làm tăng thu nhập cho các công ty bảo hiểm Ngày nay các công ty bảo hiểm là một kênh huy động vốn không thể thiếu của nền kinh tế và ngày càng được khai thác hiệu quả do phạm vi hoạt
động rộng và các loại hình bảo hiểm phong phú
Bốn là, tăng thu ngân sách Nhà nước Hằng năm, thông qua nộp thuế, bảo hiểm
đã góp một phần không nhỏ vào ngân sách Nhà nước Như đã nói ở trên, bảo hiểm chỉ bồi thường cho những biến cố ngẫu nhiên, trong một số trường hợp nhất định nên bảo hiểm đã góp phần tiết kiệm cho ngân sách thông qua việc phòng ngừa và hạn chế tổn thất giúp bảo vệ tài sản công cộng, giảm đến mức thấp nhất những thiệt hại đáng tiếc Điều này giúp nhà nước giảm bớt chi tiêu những khoản lớn để bù đắp những tổn thất như phải xây dựng đường xá, cầu cống, nhà xưởng, công trình Ngoài ra, một thị trường bảo hiểm phát triển mạnh mẽ và ổn định sẽ thu hút các cá nhân và tổ chức mua bảo hiểm của công ty bảo hiểm trong nước, góp phần tiết kiệm một khoản ngoại tệ
lớn cho ngân sách nhà nước
Năm là, tác dụng của bảo hiểm là tạo tâm lý an tâm trong kinh doanh, trong cuộc sống Môi trường kinh doanh cũng như môi trường xã hội đang dần xuất hiện
những rủi ro mới mà chúng ta không thể lường trước được Những rủi ro thiên nhiên như bão, lũ lụt, hạn hán, cháy rừng tự nhiên đang diễn ra hết sức phức tạp, thế giới diễn biến nhiều điều khó đoán như chiến tranh, khủng bố, xung đột Vậy nên để bảo đảm cho tính mạng, sức khỏe và tài sản được an toàn và nếu có tổn thất cũng không phải lo khắc phục thì bảo hiểm chính là một giải pháp phù hợp góp phần tích cực tạo
ra tâm lý an tâm trong kinh doanh cũng như trong cuộc sống con người
Trang 19 Lịch sử phát triển của bảo hiểm
Thứ nhất, trên thế giới Trong cuộc sống con người luôn luôn hướng tới mục
tiêu đã đặt ra của bản thân Để làm được điều đó họ cần có sự đảm bảo an toàn về tính mạng và tài sản của mình trước những rủi ro, bất hạnh Ngay từ thời tiền sử đã xuất hiện các ý tưởng, các tổ chức gần giống với bảo hiểm Từ thời Trung cổ, các quy tắc về bảo hiểm hàng hải đã được hình thành như: ở Trung Hoa 500 TCN con người
đã biết chia hàng hóa trên nhiều đoàn thuyền khi vận chuyển trên sông Dương Tử để phân chia rủi ro, miền bắc Italia: 1182 TCN xuất hiện Polico (đơn mua) chỉ hợp đồng bảo hiểm hàng hóa…Xong phải đến thế kỷ XIX thì bảo hiểm mới phát triển toàn diện, mạnh mẽ kéo theo sự ra đời, tồn tại và phát triển của tất cả các loại hình bảo hiểm như bảo hiểm thương mại, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp
Những tài liệu khảo cứu về lịch sử nền văn minh thế giới đã ghi nhận những dấu
ấn phôi thai của hoạt động cộng đồng hóa rủi ro – nguyên tắc căn bản của bảo hiểm thời nay Các nhà khảo cổ học đã tìm được các vết tích chứng minh ở Ai Cập cổ đại
từ 4500 năm trước Công nguyên những người thợ đẽo đá đã hình thành Quỹ tương trợ để giúp đỡ các nạn nhân trong các vụ tai nạn Những người Trung Hoa cổ đại vào thời nhà Chu 500 năm trước Công nguyên đã biết bảo nhau khi được mùa, thiên tai, đói kém Hoặc những nhà buôn chủ yếu đi bằng thuyền trên biển, song đi biển thường gặp nhiều rủi ro Để phòng vệ, họ đã san bớt hàng hóa của mình sang những thuyền buôn khác nhau, khi gặp sự cố họ chỉ bị mất một phần hàng hóa7 Ở Babylone, vào khoảng 1700 năm trước Công nguyên và ở Athens (Hy Lạp) khoảng 500 năm trước Công nguyên đã xuất hiện quan hệ tín dụng với lãi xuất cao trong lĩnh vực buôn bán, vận chuyển hàng hóa trên biển và qua sa mạc Điều đặc biệt trong quan hệ tín dụng này là nếu hàng hóa bị tổn thất thì người cho vay phải chịu rủi ro mất vốn và lãi Tại Rome, hệ thống cho vay với điều kiện tương tự cũng đã ra đời, lãi xuất có thể lên đến 50% Thực chất đó đã là một sự kết hợp giữa hoạt động tín dụng với ý đồ bảo hiểm Hoạt động này tại Rome kéo dài đến tận thời kỳ Trung Cổ - thời kỳ thống trị của Nhà thờ Thiên chúa giáo8
Cần phải tìm một phương thức mới giúp những người cho vay lấy lại được số vốn của mình đã bỏ ra và người đi vay không phải chịu lãi suất cắt cổ Phương thức
đó đã ra đời, đó là Bảo hiểm trong lĩnh vực hàng hải, bản hợp đồng bảo hiểm cổ xưa nhất mà người ta tìm thấy tại Genes vào năm 1347 trước Công nguyên, bản hợp đồng
sẽ bị hủy ngay khi tàu cập bến Cũng tại Genes (nước Italy ngày nay) công ty bảo hiểm hàng hải đầu tiên đã ra đời Từ thế kỷ XIII, các văn bản luật liên quan đến buôn
7 Võ Thị Pha, Giáo trình lý thuyết bảo hiểm, Nxb Tài chính, năm 2005, trang 37
8 Võ Thị Pha, Giáo trình lý thuyết bảo hiểm, Nxb Tài chính, năm 2005, trang 38
Trang 20bán đường biển và hàng hải liên tục ra đời, đó là các quy phạm của Orleron năm 1266, luật Wisby của Thụy Điển năm 1288, các chiếu chỉ Barcelon 1435; các quy định của phòng bảo hiểm Bruges năm 1310 Như vậy trong lịch sử hình thành và phát triển của bảo hiểm, bảo hiểm hàng hải là loại hình bảo hiểm thương mại ra đời đầu tiên Tiếp
đó một số loại hình bảo hiểm thương mại khác đã nhanh chóng ra đời và phát triển Hợp đồng bảo hiểm đầu tiên ký vào năm 1583 tại nước Anh, sau vụ hỏa hoạn ngày 2/9/1866, các công ty bảo hiển hỏa hoạn đầu tiên ra đời tại London Năm 1846, công
ty tái bảo hiểm chuyên nghiệp đầu tiên ra đời tại CHLB Đức Trong suốt thế kỷ XIX, các nghiệp vụ bảo hiểm thương mại mà ngày nay đang phát triển cũng đã ra đời như: Bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm trộm cắp, bảo hiểm trách nhiệm dân sự, bảo hiểm
kỹ thuật Thế kỷ XX, ngành bảo hiểm thương mại có bước phát triển vượt bậc và đã đóng góp đáng kể vào sự phát triển và tăng trưởng của nềm kinh tế9
Thứ hai, tại Việt Nam Bảo hiểm Việt Nam ra đời khá muộn so với sự phát triển
chung của ngành bảo hiểm trên thế giới do điều kiện chủ quan cũng như khách quan Tuy nhiên, ngành bảo hiểm đang dần dần bắt kịp xu thế phát triển chung của bảo hiểm trong khu vực và quốc tế qua đó ngày càng chứng tỏ vai trò không thể thiếu được của mình đối với nền kinh tế
Trước năm 1986, hoạt động bảo hiểm ở nước ta ít nhiều cũng có những bước phát triển ngay từ thời thực dân Pháp Điển hình như: vào năm 1880 các Hội bảo hiểm ngoại quốc như hội bảo hiểm Anh, Pháp, Thụy Sĩ, Hoa Kỳ bắt đầu hoạt động ở Đông Dương; năm 1926 chi nhánh công ty Franco – Asietique được thành lập, tiếp đó vào năm 1929 Việt Nam bảo hiểm công ty (trụ sở Sài Gòn): Bảo hiểm xe ô tô chính thức hoạt động Cho tới khi miềm bắc được giải phóng, đất nước bị chia cắt, hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở miền Nam khá phát triển dưới chế độ Ngụy quyền
Ở miền Nam trước năm 1975 có hơn 52 công ty bảo hiểm (trong và ngoài nước)
đã triển khai các loại hình nghiệp vụ khá đa dạng như bảo hiểm hỏa hoạn, bảo hiểm chuyên chở, bảo hiểm xe tự động, bảo hiểm sinh mạng, bảo hiểm tai nạn lao động…Các công ty hoạt động khá mạnh mẽ, đáp ứng được phần nào nhu cầu về bảo hiểm trên toàn thị trường miền Nam Các công ty bảo hiểm trong nước được thành lập dưới dạng Hội vô danh và Hội tương hổ Các công ty nước ngoài thành lập ở Việt Nam dưới hình thức công ty chi nhánh Hầu hết các công ty đều đặt trụ sở chính ở Sài Gòn Mạng lưới trung gian bảo hiểm là môi giới và đại lý bảo hiểm được sử dụng phổ biến để kinh doanh bảo hiểm trên phạm vi toàn miền Nam Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh được trôi chảy, cạnh tranh lành mạnh, các công ty bảo hiểm đã sớm thành
http://kientrucsaigon.net/KINH-TE/KTBH/C1/SU-RA-DOI-VA-PHAT-TRIEN-CUA-BAO-HIEM-VIET-NAM.html, truy cập ngày 1/8/2013
Trang 21lập hiệp hội nghề nghiệp bảo hiểm của mình Hiệp hội có chức năng thông tin tư vấn, đào tạo, tạo ra một môi trường hợp tác Việc quản lý nhà nước đối với hoạt động bảo hiểm được thực hiện thông qua Bộ Tài Chính Các văn bản pháp luật điều chỉnh như Luật bảo hiểm cũng sớm ra đời Ngoài ra, Hội đồng tư vấn bảo hiểm quốc gia cũng đóng vai trò khá quan trọng10
Ở miền Bắc trước năm 1975 hoạt động bảo hiểm chỉ thực sự bắt đầu khi có sự
ra đời của Bảo Việt Để đáp ứng nhu cầu về bảo hiểm trong hoạt động ngoại thương, ngày 17/12/1964 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định thành lập công ty Bảo hiểm Việt Nam gọi tắt là Bảo Việt Đến ngày 15/01/1965, Bảo Việt chính thức đi vào hoạt động Đây cũng là công ty bảo hiểm Nhà nước duy nhất đại diện cho ngành bảo hiểm Việt Nam Từ ngày thành lập cho đến trước năm 1975, do những điều kiện khó khăn của chiến tranh, hoạt động của Bảo Việt ở miền Bắc chưa phát triển Lúc bấy giờ, Bảo Việt chỉ có trụ sở ở Hà Nội và chi nhánh ở Hải Phòng thực hiện chủ yếu ba nghiệp vụ: bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu, bảo hiểm thân tàu và tái bảo hiểm Tỉ lệ tái bảo hiểm cho Trung Quốc, Bắc Triều Tiên và Ba Lan lúc đó cũng tương đối cao11 Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, cũng như tất cả các ngành kinh tế khác, các công ty bảo hiểm cũ của miền Nam được tiến hành quốc hữu hóa Công ty Bảo hiểm và Tái bảo hiểm Việt Nam được thành lập để thực hiện tiếp trách nhiệm của công ty cũ đối với những người được bảo hiểm muốn tiếp tục hợp đồng Đối với các công ty bảo hiểm nước ngoài, công ty có trách nhiệm thanh toán và đòi nợ theo đúng hợp đồng Năm 1976, khi hoàn toàn thống nhất đất nước về mặt Nhà nước, công ty được chuyển thành chi nhánh của công ty bảo hiểm Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh Thời kỳ này, Bảo Việt là công ty duy nhất hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam theo chế độ hoạch toán kế toán kinh tế thống nhất toàn ngành Công ty trực thuộc Bộ Tài chính, có chức năng giúp Bộ Tài chính thống nhất quản lý công tác bảo hiểm Nhà nước và trực tiếp tiến hành nghiệp vụ bảo hiểm trong cả nước Trong giai đoạn này ở Việt Nam, Bảo Việt độc quyền kinh doanh Bảo Hiểm nên các sản phẩm của Bảo Việt chưa đa dạng, chủ yếu thực hiện các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ với khoảng 20 sản phẩm bảo hiểm
Vào ngày 18/12/1993, Nghị định 100/NĐ-CP về hoạt động kinh doanh bảo hiểm được ban hành đã đánh dấu bước phát triển mới cho ngành bảo hiểm Việt Nam Sau năm 1995 là sự ra đời của các công ty bảo hiểm khác như: Bảo Minh, PVI (Particle
http://kientrucsaigon.net/KINH-TE/KTBH/C1/SU-RA-DOI-VA-PHAT-TRIEN-CUA-BAO-HIEM-VIET-NAM.html, truy cập ngày 1/8/2013
http://kientrucsaigon.net/KINH-TE/KTBH/C1/SU-RA-DOI-VA-PHAT-TRIEN-CUA-BAO-HIEM-VIET-NAM.html, truy cập ngày 1/8/2013
Trang 22Image Velocimetry), PJICO (Petrolimex Joint Stock Insurance Company), và một số công ty liên doanh như: UIC (Uniersity of IIIinois at Chicago)12
1.1.2 Khái quát chung về bảo hiểm tài sản
1.1.2.1 Khái niện tài sản
Khi nói đến tài sản, chúng ta sẽ nghĩ ngay: Tài sản là những gì hiện có, những vật có giá trị như tiền, những thứ có thể lưu trữ và quy đổi ra được bằng tiền Những tài sản đó chứng tỏ người sở hữu có khả năng về tài chính hay không, khả năng đó đến mức độ nào, nhiều hay ít Theo quy định của pháp luật hiện hành thì tài sản bao gồm vật, tiền, các loại giấy tờ có giá và các quyền tài sản13 Giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác14, bao gồm các loại giấy tờ sau: Hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công
cụ chuyển nhượng khác15; Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu16; Tín phiếu, hối phiếu, trái phiếu, công trái và các công cụ khác làm phát sinh nghĩa vụ trả nợ17; Các loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán; hợp đồng góp vốn đầu tư; các loại chứng khoán khác do Bộ Tài chính quy định)18; trái phiếu doanh nghiệp19
1.1.2.2 Khái niệm bảo hiểm tài sản
Theo quy định tại Khoản 18 Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 sửa đổi
bổ sung năm 2010 thì: “Bảo hiểm phi nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và các nghiệp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ” Theo khái niệm trên thì bảo hiểm tài sản (BHTS) là một loại hình của bảo hiểm thương mại Bên bảo hiểm sẽ thu phí bảo hiểm của bên mua bảo hiểm theo một tỷ lệ phần trăm nhất định trên giá trị của tài sản và cam kết bồi thường cho bên được bảo hiểm khi tài sản được bảo hiểm bị những rủi ro trong phạm vi bảo hiểm dẫn đến tổn thất20 BHTS là một loại hình bảo hiểm phổ biến và xuất hiện sớm nhất so với các loại hình bảo hiểm khác như bảo hiểm y tế, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm trách nhiệm dân
12 Võ Thị Pha, Giáo trình lý thuyết bảo hiểm, Nxb Tài chính, năm 2005, trang 40
13 Điều 163 Bộ Luật dân sự năm 2005
18 Khoản 1 Điều 6 Luật Chứng khoán
20 Nguyễn Thị Thủy, Pháp luật bảo hiểm tài sản tại Việt Nam, Nxb Thanh niên, trang 18
Trang 23sự, vv…Sở dĩ con người cần tới nghiệp vụ BHTS là vì không phải lúc nào có tài sản con người cũng đem cất giữ, đem gửi ngân hàng hoặc quy đổi ra thành những thứ có giá trị như vàng để bỏ vào két sắt Những tài sản chưa sử dụng ngay thì họ mới có thể
áp dụng những cách thức trên để bảo quản tài sản Còn đại đa số các tài sản mà con người mua sắm đều để phục vụ cho những nhu cầu thiết yếu hằng ngày hoặc cho hoạt động sản xuất kinh doanh Do đó, để có thể khai thác, sử dụng tài sản cho sản xuất kinh doanh và đảm bảo an toàn tài chính khi những tài sản này thiệt hại, mất mát do rủi ro, con người đã mua bảo hiểm cho tài sản đó Theo đó BHTS là loại bảo hiểm lấy tài sản làm đối tượng bảo hiểm Khi xảy ra rủi ro, tổn thất về tài sản như mất mát, hủy hoại vật chất, bên bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường cho bên được bảo hiểm căn cứ vào giá trị thiệt hại thực tế và mức độ đảm bảo thuận tiện hợp đồng, giúp cho người được bảo hiểm tránh hoặc giảm các thiệt hại về vật chất khi rủi ro xảy ra Ta cũng có thể hiểu, hợp đồng bảo hiểm tài sản là sự thỏa thuận của các bên về tài sản được bảo hiểm và phải xác định được giá trị thực tế của tài sản Tất nhiên, bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường cho bên mua bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Các điều kiện về phát sinh hiệu lực, bồi thường (hình thức bồi thường có thể là sửa chữa tài sản bị hiệt hại; thay thế bằng tài sản khác; trả tiền bồi thường), chấm dứt hợp đồng bảo hiểm phải tuân theo các quy định của pháp luật hiện hành
1.1.2.3 Đặc điểm của bảo hiểm tài sản
Là một loại hình bảo hiểm thương mại nên bảo hiểm tài sản cũng có những đặc điểm của bảo hiểm thương mại như:
Là một trung gian tài chính Thông qua việc bên tham gia bảo hiểm đóng phí
bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm đã huy động được một nguồn vốn lớn góp phần phát triển quỹ tài chính Số tiền nhàn rỗi này được DNBH đem đi đầu tư, tài trợ các
dự án, giải ngân cho các tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế
Là một ngành dịch vụ đặc biệt Với sản phẩm vô hình, bản chất của bảo hiểm là
một dịch vụ, một lời hứa, một lời cam kết mà công ty bảo hiểm đưa ra với khách hàng Nhưng khách hàng lại chính là người không muốn sử dụng dịch vụ này, vì bảo hiểm
là sự đề phòng các rủi ro, tổn thất, mất mát mà con người không mong muốn Nên họ không thích sử dụng dịch vụ này
Là hoạt động vừa mang tính tích cực, vừa mang tính rủi ro Khách hàng chỉ
tham gia bảo hiểm khi có cảm giác không an toàn về tài sản của mình, hoặc những tài sản đó có giá trị cao, do đó tài sản rất có khả năng bị thiệt hại vậy nên họ mới tham
Trang 24gia bảo hiểm Những cá nhân tham gia bảo hiểm tức là họ biết cách tiết kiệm có kế hoạch, hợp lý và hiệu quả Vì khi tài sản gặp rủi ro thì DNBH sẽ đền bù cho họ, ngược lại nếu tài sản còn nguyên vẹn thì khi hết hợp đồng DNBH sẽ hoàn số tiền bảo hiểm
mà người tham gia bảo hiểm đã đóng Ngoài ra họ còn bảo vệ cho tài sản của mình khi xảy ra rủi ro
Là sự chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia bảo hiểm Vì bảo hiểm là dựa
trên quy luật số đông bù số ít, là sự phân chia tổn thất của một hoặc một số người cho tất cả những người tham gia bảo hiểm cùng chịu Sự chia sẻ này thông qua DNBH, nhờ có DNBH mà những tài sản gặp rủi ro sẽ được bù đắp
1.1.2.4 Bản chất của bảo hiểm tài sản
Qua phân tích trên, phần nào đã thấy sự cần thiết của BHTS đối với cuộc sống của con người Bản chất của BHTS thể hiện ở một số đặc trưng đáng lưu ý sau:
Thứ nhất, bảo hiểm tài sản được hình thành từ nhu cầu bảo vệ quyền lợi tài chính
của chủ sở hữu tài sản hay người đang chiếm hữu và sử dụng hợp pháp tài sản đó Nói đến BHTS là nói đến sự bảo vệ đối với tài sản của người được bảo hiểm với những tổn thất có thể xảy ra do những rủi ro thiên nhiên, kỹ thuật, xã hội thông qua việc giúp khôi phục hoặc góp phần khôi phục lại tình trạng tài chính mà người được bảo hiểm
có trước khi rủi ro xảy ra
Thứ hai, sự chia sẻ mang tính cộng đồng trong bảo hiểm tài sản Yếu tố chia sẻ
mang tính cộng đồng là một trong những đặc trưng của bảo hiểm nói chung, BHTS nói riêng Hoạt động kinh doanh bảo hiểm là quá trình phân phối nguồn tài chính giữa những người tham gia bảo hiểm nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính phát sinh khi rủi ro bất ngờ xảy ra gây tổn thất đối với người được bảo hiểm Tuy nhiên, sự phân phối trong BHTS là sự phân phối không đồng đều bởi vì không phải ai tham gia bảo hiểm cũng nhận được sự phân phối này mà phụ thuộc vào yếu tố rủi ro Chỉ những người
bị rủi ro về tài sản trong phạm vi trách nhiệm bảo hiểm thì mới được bồi thường Khoản tiền bồi thường này được lấy từ quỹ bảo hiểm của tất cả người tham gia bảo hiểm, đó là hình thức lấy số đông bù cho thiệt hại của số ít, tính cộng đồng cũng từ đó
mà ra Vì vậy, mọi hành vi gian dối để hưởng lợi trong trường hợp không có tổn thất hoặc tổn thất trên thực tế ít hơn đã khai báo với doanh nghiệp bảo hiểm của bên được bảo hiểm là hành vi vi phạm pháp luật, cần phải có những biện pháp tích cực để ngăn chặn những ý đồ xấu của các bên trong quan hệ bảo hiểm tài sản
Thứ ba, bảo hiểm tài sản là cam kết chi trả tài chính từ bên bảo hiểm cho bên
được bảo hiểm Sở dĩ bên bảo hiểm cam kết sẽ chi trả cho bên được bảo hiểm là vì bên bảo hiểm đã thu phí bảo hiểm của bên được bảo hiểm, ở đây mang tích chất có
Trang 25qua có lại, tức nếu DNBH đã hưởng một lợi ích của bên mua bảo hiểm thì sẽ có nghĩa
vụ thực hiện yêu cầu của bên mua bảo hiểm Để thực hiện nghĩa vụ chi trả cho bên được bảo hiểm thì DNBH phải đảm bảo khả năng tài chính ổn định và sẵn sàng khi
có rủi ro xảy ra đối với tài sản được bảo hiểm
Trên đây là một vài vấn đề phân tích để làm rõ hơn bản chất của BHTS, vậy pháp luật về kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam quy định như thế nào về những loại tài sản là đối tượng của hợp đồng bảo hiểm tài sản Người viết sẽ nghiên cứu trong phần tiếp theo về các loại tài sản thường được mua bảo hiểm
1.1.2.5 Các loại tài sản được bảo hiểm
Theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm Việt Nam thì không thấy quy định đề cập đến những loại tài sản nào là đối tượng của hợp đồng bảo hiểm tài sản và những tài sản nào không được bảo hiểm Vì cuộc sống con người rất đa dạng
và phong phú, khoa học kỹ thuật không ngừng phát triển Ngày càng có nhiều thứ giá trị xuất hiện trên thị trường nên pháp luật không thể liệt kê một cách chi tiết tên các loại tài sản được bảo hiểm Quy định mở như thế để các bên tự do trong việc giao kết hợp đồng bảo hiểm tài sản và làm cho đối tượng của BHTS ngày càng phong phú hơn Thông thường các hợp đồng bảo hiểm tài sản có các đối tượng sau đây là chủ yếu21:
Bảo hiểm cho hàng hóa xuất nhập khẩu; bảo hiểm hàng hóa vận chuyển trong nước
Bảo hiểm thân tàu biển; bảo hiểm thân tàu, thuyền khác
Bảo hiểm thân máy bay và bảo hiểm tổn thất hệ quả
Bảo hiểm thiệt hại vật chất xe cơ giới
Bảo hiểm công trình xây dựng, lắp đặt
Bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt
Bảo hiểm máy móc thiết bị; bảo hiểm máy móc thiết bị điện tử
Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
Bảo hiểm vật nuôi, cây trồng
Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu
Bảo hiểm tiền, bảo hiểm trộm cắp
Bảo hiểm công trình ngoài khơi, giàn khoan, đường ống…trong thăm dò và khai thác dầu khí
Trên đây là một số loại hình BHTS thông dụng được nhiều người biết đến và tham gia bảo hiểm khi cần
21 Võ Thị Pha, Giáo trình lý thuyết bảo hiểm, Nxb Tài chính, năm 2005, trang 24
Trang 261.2 Lý luận chung về trục lợi trong bảo hiểm tài sản
1.2.1 Khái niệm trục lợi bảo trong hiểm tài sản
Sau khi Nghị định 100 NĐ – CP ngày 18/12/1993 về kinh doanh bảo hiểm ra đời thì nhiều doanh nghiệp mới được thành lập trên thị trường bảo hiểm Việt Nam từ
đó sự cạnh tranh của các doanh nghiệp cũng ngày càng khốc liệt, gay gắt hơn Khi thị trường bảo hiểm phát triển thì các hình thức gian lận, trục lợi cũng ngày càng gia tăng Trục lợi bảo hiểm là một yếu tố làm tăng chi phí cho các doanh nghiệp bảo hiểm, ảnh hưởng không nhỏ đến lợi nhuận thu được của mỗi công ty, lòng tin của công chúng vào các dịch vụ bảo hiểm
Theo hiệp hội bảo hiểm Canada thì: “Trục lợi bảo hiểm là một hành vi cố tình gian dối, lừa đảo có thể có chủ ý ngay từ khi tham gia bảo hiểm hoặc phát sinh sau khi đã xảy ra rủi ro cho đối tượng bảo hiểm nhằm chiếm đoạt một số tiền từ doanh nghiệp bảo hiểm mà đáng lý ra họ không được hưởng”
Theo quy định tại Thông tư 31/2004/TT-BTC của Bộ Tài Chính hướng dẫn thực hiện Nghị định 118/2003/NĐ-CP ngày 13/10/2003 của Chính Phủ quy định xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm thì: “Hành vi trục lợi trong việc tham gia bảo hiểm, bồi thường bảo hiểm, trả tiền bảo hiểm và giải quyết khiếu nại bảo hiểm là hành vi cố ý lừa dối của tổ chức, cá nhân nhằm thu lợi bất chính khi tham gia bảo hiểm, yêu cầu, giải quyết bồi thường bảo hiểm, trả tiền bảo hiểm, giải quyết khiếu nại bảo hiểm” Vậy, trục lợi bảo hiểm là hành vi của tổ chức, cá nhân thực hiện một cách cố ý nhằm thu lợi bất chính Các tổ chức, cá nhân đó có thể là bên mua bảo hiểm, bên được bảo hiểm hoặc doanh nghiệp bảo hiểm thậm chí có thể là hành vi gian lận của đại lý bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm Các chủ thể này, để thực hiện được hành vi trục lợi, trước hết họ tham gia vào quan hệ kinh doanh bảo hiểm Qua các khái niệm, quy định trên, trục lợi bảo hiểm được hiểu là việc các bên tham gia vào quan hệ bảo hiểm nhằm thực hiện các hành vi lừa dối để được hưởng quyền lợi tài chính mà đáng lý ra mình không được hưởng hoăc hưởng lợi lớn hơn quyền lợi tài chính mà mình được hưởng
Tương tự như trục lợi trong bảo hiểm, trục lợi bảo hiểm tài sản là các bên tham gia vào quan hệ BHTS nhằm thực hiện các hành vi lừa dối để được hưởng quyền lợi tài chính mà lẽ ra mình không được hưởng hoặc hưởng lợi lớn hơn quyền lợi mà mình được hưởng Do đó, hành vi trục lợi trong bảo hiểm tài sản có thể xuất pháp từ hai phía, bên được bảo hiểm và DNBH, có thể xảy ra ngay từ khi tham gia bảo hiểm hoặc sau khi rủi ro đã xảy ra cho đối tượng bảo hiểm
Trang 27Các dấu hiệu để nhận dạng một hành vi trục lợi nói chung, trục lợi bảo hiểm tài sản nói riêng là:
Có hành vi lừa dối, hành vi lừa dối là hành vi của một chủ thể đưa ra những
thông tin hoặc bằng chứng để người khác tin rằng những thông tin bằng chứng ấy là đúng sự thật Khi người đó đã tin thì chủ thể có hành vi lừa dối sẽ tiếp tục những hành
vi khác nhằm đạt được mục đích của mình
Mục đích là trục lợi, tức là để được hưởng một quyền lợi về tài chính lẽ ra mình
không được hưởng hoặc hưởng lợi nhiều hơn quyền lợi mà mình được hưởng
Mang tính bất công, vì mục đích hưởng lợi một cách gian dối của mình mà làm
ảnh hưởng đến quyền lợi tài chính của các chủ thể khác Trong nền kinh tế của bất kỳ quốc gia nào thì việc phát triển thị trường tài chính đóng vai trò hết sức quan trọng Thị trường tài chính là công cụ hữu hiệu để tiến hành huy động vốn nhàn rỗi trong nhân dân nhằm đầu tư phát triển kinh tế Thị trường bảo hiểm là một bộ phận quan trọng của thị trường tài chính Tuy nhiên, bất kỳ thị trường nào cũng có những cá nhân, tổ chức bất hảo chỉ biết nghĩ cho riêng mình Thị trường bảo hiểm cũng không ngoại lệ, khi đã được nhà nước tạo điều kiện phát triển thì dễ bị các hành vi trục lợi cản trở làm gián đoạn, ngưng trệ hoạt động kinh doanh
Để đạt được mục đích hưởng lợi bất hợp pháp, các chủ thể tham gia quan hệ bảo hiểm đã có những hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của người khác bằng các cách thức tinh vi Hành vi trục lợi bảo hiểm tài sản đã làm mất đi sự tương trợ mang tính cộng đồng vì bảo hiểm là lấy thiệt hại của số ít san sẻ cho số đông những người cùng tham gia bảo hiểm Khi thực hiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm tài sản, DNBH sẽ tạo lập quỹ bảo hiểm trên cơ sở thu phí bảo hiểm của nhiều người và sử dụng để bồi thường cho những người bị rủi ro thuộc trách nhiệm bảo hiểm
Tuy nhiên, rủi ro có thể xảy ra hoặc không xảy ra nên phí bảo hiểm mà bên mua bảo hiểm bỏ ra để bảo hiểm cho tài sản thường chiếm một tỷ lệ phần trăm rất nhỏ trên tổng giá trị tài sản Nhưng khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra, bên được bảo hiểm sẽ nhận khoản tiền bồi thường lớn hơn nhiều số phí bảo hiểm mà họ đã đóng Trong khi đó, bảo hiểm tài sản là hoạt động mang tính kinh doanh, do vậy tổng phí bảo hiểm thu được phải lớn hơn số tiền bồi thường
Do vậy, nếu các chủ thể tham gia vào quan hệ bảo hiểm nhằm mục đích trục lợi
sẽ làm mất đi ý nghĩa của sự chia sẻ mang tính cộng đồng Ngoài ra trục lợi bảo hiểm tài sản còn làm cho quyền lợi tài chính của những chủ thể tuân thủ đúng các cam kết trong hợp đồng, tuân thủ đúng quy định của pháp luật về bảo hiểm bị những chủ thể coi thường pháp luật, vi phạm cam kết hợp đồng tước đoạt
Trang 28Trục lợi bảo hiểm còn làm mất lòng tin của công chúng vào sự đảm bảo của bảo hiểm tài sản Trên thực tế, ở góc độ người tiêu dùng bảo hiểm vẫn còn là vấn đề xa lạ với người dân khi họ chưa có đủ khả năng chi trả cho những nhu cầu cấp bách về ăn mặc, ở, học hành, bệnh tật…thì bảo hiểm sẽ không được công chúng tham gia một cách rộng rãi Tuy nhiên, cùng với sự phát triển, tăng trưởng của nền kinh tế thì thu nhập và mức sống của người dân Việt Nam ngày càng được cải thiện, trình độ dân trí
và hiểu biết về bảo hiểm cũng được tăng lên Từ đó, nhu cầu về bảo hiểm ngày càng được chú trọng trong nền kinh tế ngày càng phát triển
Thị trường bảo hiểm ngày một đổi mới với các nghiệp vụ bảo hiểm đa dạng, phong phú để người dân có nhiều lựa chọn Tuy nhiên, hiện tượng trục lợi bảo hiểm theo đó cũng nảy sinh, có những tác động rất tiêu cực đối với quá trình xây dựng và phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam Như đã phân tích, trục lợi bảo hiểm có thể đến từ hai phía, bên mua bảo hiểm và DNBH Nếu trục lợi bảo hiểm được thực hiện bởi DNBH thì đây là hành vi cố tình không thực hiện cam kết chi trả trong hợp đồng bảo hiểm dẫn đến các thiệt hại cho người được bảo hiểm Từ đó, tổ chức, cá nhân không còn coi bảo hiểm là biện pháp bảo vệ tài sản khi có rủi ro và điều đó cũng có nghĩa rằng họ sẽ không còn tham gia vào quan hệ bảo hiểm nữa
Như vậy, trong bảo hiểm tài sản, nếu có hiện tượng trục lợi bảo hiểm xảy ra sẽ làm cho tính chất tương trợ mang tính cộng đồng của bảo hiểm tài sản bị phá vỡ Công chúng không còn tin vào sự đảm bảo của doanh nghiệp bảo hiểm và sẽ không tham gia vào quan hệ bảo hiểm dẫn đến việc doanh nghiệp bảo hiểm lâm vào nguy cơ phá sản
1.2.2 Bản chất của trục lợi trong bảo hiểm tài sản
Là một hành vi được thực hiện nhằm động cơ vụ lợi, nhằm mục đích thu lợi bất chính từ việc tham gia bảo hiểm Xét về ý thức, trục lợi trong bảo hiểm tài sản là hành
vi được thực hiện một cách cố ý, cho dù sự cố ý đó có thể được tính toán trước khi giao kết hợp đồng bảo hiểm hoặc mới phát sinh trong quá trình giải quyết bồi thường Trục lợi có thể xảy ra tại bất kỳ công đoạn nào trong chu kỳ bảo hiểm từ khi giao kết hợp đồng, khiếu nại bồi thường đến giải quyết khiếu nại Song chủ yếu, trục lợi bảo hiểm được phát hiện ở khâu tiếp nhận và giải quyết bồi thường
Về chủ thể thực hiện hành vi trục lợi bảo hiểm có thể là bất kỳ ai bao gồm bên tham gia bảo hiểm, trong và ngoài doanh nghiệp bảo hiểm Bên cạnh người tham gia bảo hiểm còn có thể có sự đồng lõa, tiếp tay của đại lý hoặc nhân viên doanh nghiệp bảo hiểm, các cơ sở cung cấp dịch vụ có liên quan Trục lợi bảo hiểm có thể có từ hai
Trang 29phía, bên bảo hiển và bên tham gia bảo hiểm và cũng có thể liên quan đến các chủ thể khác
Tóm lại, trục lợi bảo hiểm tài sản thực chất là hành vi cố ý gian dối của một trong các bên tham gia vào quan hệ hợp đồng bảo hiểm tài sản hoặc những người có liên quan trong việc giải quyết tranh chấp hay bồi thường thiệt hại Mục đích của những người này là để hưởng lợi ích về tài chính lẽ ra không được hưởng hoặc hưởng nhiều hơn so với thiệt hại thực tế
1.2.3 Nguyên nhân dẫn tới tình trạng trục lợi trong bảo hiểm tài sản
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trục lợi trong bảo hiểm tài sản, điển hình là nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan cùng nhiều nguyên nhân khác
Nguyên nhân khách quan, đây là nguyên nhân không thuộc phạm vi kiểm soát
của các doanh nghiệp bảo hiểm, nó chịu sự chi phối tác động của các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp Những nguyên nhân khách quan chủ yếu là:
Một là, qua phân tích người viết nhận thấy các quy định của pháp luật về kinh
doanh bảo hiểm còn chưa rõ ràng, nhất quán, vấn đề chế tài cho các hành vi trục lợi bảo hiểm còn chưa có quy định cụ thể hoặc còn quá nhẹ không đủ sức răn đe Điều chỉnh về kinh doanh bảo hiểm còn có nhiều ngành luật khác như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hàng hải, Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, nên khó áp dụng luật trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm
Hai là, nhận thức của người dân về pháp luật nói chung và pháp luật về bảo hiểm
nói riêng còn nhiều yếu kém, hạn chế Pháp luật của một quốc gia là quy tắc để mọi người xử sự điều chỉnh hành vi của mình Tuy nhiên, hiện nay do trình độ dân trí của người dân còn thấp nên mọi người cũng hiểu một cách mơ hồ về các văn bản pháp luật Một bộ phận không nhỏ người dân cho rằng quỹ bảo hiểm là một quỹ phúc lợi
xã hội, nhiều người còn đứng ra làm chứng giả cho các đối tượng trục lợi với suy nghĩ
là mình đã giúp đỡ người khác và làm được một việc tốt Nhưng, đây lại là một tinh thần nhân đạo đặt không đúng chỗ, một nhận thức hết sức sai lầm vì kinh doanh bảo hiểm thực hiện được là dựa trên quy luật số đông bù số ít Mọi người tham gia bảo hiểm không những bảo vệ được tài sản của mình mà còn san sẻ rủi ro giữa những người tham gia bảo hiểm với nhau Điều này thể hiện tính nhân văn sâu sắc của bảo hiểm
Ba là, do địa hình địa lý phức tạp, hiểm trở, đôi khi tai nạn xảy ra ở những nơi
như ngoài biển khơi hoặc ở những nơi đèo dốc vắng nằm ngoài tầm kiểm soát của các doanh nghiệp bảo hiểm Vì vậy công tác giám định trở nên khó khăn và khó có thể
Trang 30xác minh được chính xác tổn thất thực tế là bao nhiêu Từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho những hành vi trục lợi diễn ra
Nguyên nhân chủ quan, đây là một nguyên nhân quan trọng nằm trong nội bộ
doanh nghiệp mà doanh nghiệp có thể kiểm soát được, những nguyên nhân này bao gồm:
Thứ nhất, sự non kém thiếu kinh nghiệm của cán bộ, nhân viên bảo hiểm Nói
chung các cán bộ nhân viên bảo hiểm đều có trình độ chuyên môn nghiệp vụ về bảo hiểm Tuy nhiên, trong quá trình khai thác bảo hiểm họ còn có trình độ về các lĩnh vực khác để đánh giá rủi ro đối tượng bảo hiểm nhưng họ lại thiếu kinh nghiệm thực
tế về những lĩnh vực này Do đó rất khó đối phó với những mánh khóe ngày càng tinh
vi hơn của những kẻ trục lợi
Thứ hai, ý thức đạo đức nghề nghiệp của các nhân viên bảo hiểm Một số cán bộ
nhân viên bảo hiểm đã thông đồng với khách hàng để thực hiện hành vi trục lợi Đây
là một hành vi rất nguy hiểm bởi các nhân viên bảo hiểm là người hiểu rất rõ và biết làm thế nào để chỉ đường cho bên được bảo hiểm qua mắt các bộ phận khi bị kiểm tra
Thứ ba, thị trường bảo hiểm ngày càng phát triển nên cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp cũng ngày càng gay gắt quyết liệt Vì vậy việc trao đổi thông tin giữa các doanh nghiệp với nhau còn rất hạn chế và hầu như không có Mọi doanh nghiệp luôn muốn giữ kín thông tin liên quan đến khách hàng của mình Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến trục lợi trong bảo hiểm tài sản diễn ra thuận lợi
Thứ tư, sự chủ quan của các doanh nghiệp trong quá trình giám định bồi thường
Hầu hết đối với các hồ sơ có số tiền bồi thường nhỏ (< 10 triệu đồng) thì các doanh nghiệp rất chủ quan không đánh giá xem xét kỹ càng Vì vậy các vụ trục lợi với số tiền nhỏ xảy ra rất nhiều mà ít bị phát hiện
Chính vì những nguyên nhân trên mà tình trạng trục lợi trong bảo hiểm tài sản ngày càng gia tăng và khó kiểm soát triệt để
1.2.4 Các hình thức trục lợi trong bảo hiểm tài sản
Do bảo hiểm tài sản có đối tượng bảo hiểm là tài sản và trường áp dụng một số nguyên tắc như nguyên tắc bồi thường, nguyên tắc thế quyền, bảo hiểm trùng…Vì vậy hiện tượng trục lợi trong bảo hiểm tài sản không giống như trong bảo hiểm con người, bảo hiểm trách nhiệm dân sự Đối với bảo hiểm tài sản hành vi trục lợi thường diễn ra dưới các hình thức như:
Xảy ra sự kiện bảo hiểm rồi mới tiến hành mua bảo hiểm Có nghĩa là khi tổn
thất thực tế đã xảy ra chủ sở hữu tài sản mới đi mua bảo hiểm Đây là hình thức trục
Trang 31lợi rất phổ biến Kiểu trục lợi này thường nảy sinh khi sự cố, tai nạn đã xảy ra mà chủ
tài sản chưa tham gia bảo hiểm cho tài sản
Khai tăng số tiền tổn thất từ các vụ tai nạn Một trong những nguyên tắc của
bảo hiểm là nguyên tắc bồi thường (số tiền bồi thường = giá trị thiệt hại thực tế nhân cho (số tiền bảo hiểm/giá trị bảo hiểm)) Vì vậy trong mọi trường hợp số tiền bồi thường mà người tham gia bảo hiểm nhận được không thể vượt quá giá trị thiệt hại thực tế Vì thế một số trường hợp trục lợi bằng cách khai tăng số tiền tổn thất trong các vụ tai nạn dưới nhiều hình thức như thực tế tài sản không bị hư hỏng, không bị sữa chữa nhưng người tham gia bảo hiểm vẫn kê khai vào hồ sơ khiếu nại đòi bồi
thường
Tự phá tài sản để nhận tiền bồi thường Vì bảo hiểm tài sản có đối tượng bảo
hiểm là tài sản và khi tài sản bị hư hỏng, thiệt hại thuộc phạm vi bảo hiểm thì người tham gia bảo hiểm có quyền yêu cầu các DNBH bồi thường Do đó một số người lợi dụng hình thức này đã tự phá hủy tài sản để được bồi thường Để thực hiện hành vi trục lợi này, người tham gia bảo hiểm có thể có kế hoạch từ trước, chuẩn bị công phu
Đây là hình thức trục lợi bảo hiểm nghiêm trọng và khó phát hiện
Lập hồ sơ hiện trường giả Đối với hình thức trục lợi này những kẻ trục lợi
thường cố tình tạo ra một hiện trường tai nạn rủi ro giống như một vụ tai nạn thật Nhưng thực tế thì không hề có vụ tai nạn nào xảy ra Hồ sơ còn được hợp thức hóa làm bằng chứng để doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường Ở đây có thể có sự thông đồng của một số cá nhân như công an, bác sỹ, nhân viên bảo hiểm, người làm chứng, cũng
có thể là đại lý bán bảo hiểm
Trục lợi bảo hiểm thông qua bảo hiểm trùng Trong bảo hiểm tài sản áp dụng
nguyên tắc đóng góp khi có bảo hiểm trùng Bảo hiểm trùng là trường hợp cùng một đối tượng bảo hiểm được bảo hiểm bởi nhiều đơn khác nhau (hai đơn trở lên) cho cùng một thời hạn bảo hiểm cùng một phạm vi bảo hiểm và có tổng số tiền bảo hiểm
từ tất cả các hợp đồng bảo hiểm lớn hơn giá trị bảo hiểm Khi có tổn thất xảy ra thì tổng số tiền bồi thường từ tất cả các đơn không vượt quá giá trị thiệt hại thực tế của tài sản Số tiền bồi thường của mỗi công ty được phân bổ theo nguyên tắc đóng góp
dựa trên số tiền bảo hiểm hoặc phí bảo hiểm của từng đơn
Dựa vào nguyên tắc này một số kẻ đã trục lợi bằng cách dùng tài sản để tham gia bảo hiểm ở nhiều công ty bảo hiểm khác nhau Đương nhiên khi có rủi ro xảy ra thì đòi tất cả các công ty bảo hiểm bồi thường Do các công ty cạnh tranh gay gắt nên việc trao đổi thông tin khách hàng với nhau là điều khó có thể xảy ra Chính vì vậy
Trang 32cùng một đối tượng bảo hiểm có thể tham gia bảo hiểm ở nhiều công ty khác nhau mà các công ty không hề hay biết
Cần phân biệt giữa bảo hiểm trùng và đồng bảo hiểm Bảo hiểm trùng thì người viết đã phân tích ở trên, còn đồng bảo hiểm có thể hiểu là: Một tài sản được các DNBH cùng bảo hiểm, và việc bảo hiểm sẽ được các DNBH thực hiện từng phần Nghĩa là
sẽ chia ra phần quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm Nếu tài sản bị thiệt hại
mà thuộc nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm nào thì DNBH đó sẽ chịu trách nhiệm bồi thường Tiền phí bảo hiểm cũng được chia ra đóng cho các DNBH theo tỉ lệ phần trăm dựa vào sự thỏa thuận của các bên
Đại lý bán bảo hiểm nhưng không nộp phí về cho công ty bảo hiểm Thông
thường các hợp đồng bảo hiểm thường có thời hạn ngắn dưới một năm thậm chí có hợp đồng chỉ tồn tại có mấy ngày Do đó các đại lý bảo hiểm không nộp về công ty
mà bỏ vào túi riêng Khi có tổn thất xảy ra với tài sản được bảo hiểm thì công ty bảo hiểm mới phát hiện và phải phải bồi thường cho khách hàng vì đại lý bảo hiểm là bên
đại diện cho công ty bảo hiểm đi bán dịch vụ cho khách hàng
Hiện tại pháp luật cũng như các DNBH đã có những biện pháp tích cực phòng chống trục lợi bảo hiểm Bên mua bảo hiểm thì trang bị cho mình kiến thức pháp luật
về bảo hiểm trước khi tham gia bảo hiểm nên phần nào tránh được hành vi xấu của bên bảo hiểm Do đó mà các hành vi trục lợi bảo hiểm tài sản ngày càng tinh vi, khó nhận biết hơn với những hình thức, công cụ khác nhau Vậy nên cần đề cao cảnh giác với những cá nhân, tổ chức tham gia bảo hiểm, nhân viên bảo hiểm…khi ký kết hợp đồng bảo hiểm để tránh tình trạng trục lợi bảo hiểm diễn ra ngày một phức tạp và nhiều hơn
1.3 Pháp luật điều chỉnh về trục lợi trong bảo hiểm tài sản
Bất cứ quan hệ nào phát sinh trong xã hội cũng được pháp luật điều chỉnh Cũng nhờ có pháp luật mà đời sống xã hội mới ổn định và phát triển bền vững Chúng ta thử hình dung một đất nước nếu không được điều chỉnh bằng pháp luật thì nhà nước
đó sẽ ra sao, mọi người sẽ sinh hoạt không có nền nếp, trật tự, bạo lực sẽ hoành hành,
xã hội sẽ phát sinh nhiều tệ nạn như cướp của, giết người…Vì thế mà không một đất nước nào là không có hệ thống pháp luật để ổn định trật tự xã hội
Pháp luật bảo hiểm tài sản hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thành lập, giải thể, phá sản của các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm tài sản cũng như các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động
Trang 33kinh doanh bảo hiểm tài sản và quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo hiểm tài sản22 Hiện nay, văn bản pháp luật được sử dụng chung và rộng rãi nhất để điều chỉnh các quan hệ là Bộ Luật dân sự 2005 Vì các giao dịch trong quan hệ bảo hiểm tài sản thuộc
về giao dịch dân sự nên sẽ chịu sự điều chỉnh của Bộ luật này
Ngoài ra, pháp luật bảo hiểm tài sản cũng có mối quan hệ với Bộ luật Hàng hải
Do đặc thù của hoạt động hàng hải là hoạt động chịu nhiều rủi ro từ thiên nhiên cũng như con người Mối quan hệ giữa pháp luật bảo hiểm tài sản với Bộ luật Hàng hải là bởi vì Bộ luật Hàng hải là luật riêng của Luật Kinh doanh bảo hiểm Cho đến thời điểm hiện tại, hệ thống pháp luật về kinh doanh bảo hiểm không ngừng được hoàn thiện, chỉnh sửa và bổ sung Ngày 09 tháng 12 năm 2000, Luật Kinh doanh bảo hiểm được Quốc Hội Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 8, khóa X và có hiệu lực ngày 01/04/2001, đặt nền móng pháp lý cơ bản cho sự phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam Do sự phát triển liên tục của thị trường bảo hiểm
mà hiện nay một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 không còn phù hợp nữa nên Quốc Hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm ngày 24 tháng 10 năm 2010, có hiệu lực ngày 01 tháng 07 năm 2011 Luật Kinh doanh bảo hiểm được ban hành và hướng dẫn thực hiện theo quy định của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 Các vấn đề về bảo hiểm cũng được điều chỉnh bởi Bộ Luật dân sự năm 2005; Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2004 được sửa đổi bổ sung năm 2011; Bộ Luật hình sự năm 1999; Bộ Luật tố tụng dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 và các văn bản luật khác
Bên cạnh đó còn có các nghị định và thông tư hướng dẫn thi hành như: Nghị định số 45/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của luật kinh doanh bảo hiểm Nghị định số 46/2007/NĐ-CP ngày 27/ 03 /2007 quy định chế độ tài chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm Nghị định số 41/2009/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm Thông tư số 155/2007/TT-BTC ngày 20 tháng 12 năm 2007 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thi hành Nghị định số 45/2007/NĐ-CP ngày 27/3/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm Thông tư số 156/2007/TT-BTC của Bộ Tài chính: Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 46/2007/NĐ-
CP ngày 27 tháng 3 năm 2007 của Chính phủ quy định chế độ tài chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm
22 Nguyễn Thị Thủy, Pháp luật bảo hiểm tài sản tại Việt Nam, Nxb Thanh niên, trang 118
Trang 34Trên đây là một số vấn đề lý luận về bảo hiểm tài sản và hành vi trục lợi trong
bảo hiểm tài sản Từ đó có thể hiểu rõ hơn về bảo hiểm tài sản là gì và như thế nào là
trục lợi trong bảo hiểm tài sản Ngoài ra, pháp luật cũng có những quy định điều chỉnh
hành vi trục lợi bảo hiểm nói chung, bảo hiểm tài sản nói riêng từ đó tạo sự ổn định
trong ngành nghề kinh doanh bảo hiểm cũng như tâm lý an toàn của người dân khi
tham gia bảo hiểm Pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ về bảo hiểm bằng nhiều hình
thức khác nhau để đảm bảo cho việc phát triển thị trường bảo hiểm tại Việt Nam cũng
như hạn chế tối đa tổn thất do hành vi trục lợi bảo hiểm mang lại Để tìm hiểu rõ hơn
về nguyên nhân dẫn đến hành vi trục lợi trong bảo hiểm tài sản, người viết sẽ trình
bày trong nội dung chương 2 của đề tài: “Các quy định của pháp luật liên quan đến
việc điều chỉnh vấn đề trục lợi trong bảo hiểm tài sản ở Việt Nam”
Trang 35CHƯƠNG 2 CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC ĐIỀU CHỈNH VẤN ĐỀ TRỤC LỢI TRONG BẢO HIỂM TÀI SẢN Ở VIỆT
NAM
Để thực hiện được hành vi trục lợi bảo hiểm nói chung, bảo hiểm tài sản nói riêng các bên phải tham gia vào quan hệ bảo hiểm hoặc có ý đồ trục lợi sau khi xảy ra
sự kiện bảo hiểm
Như đã phân tích, trục lợi bảo hiểm có thể được thực hiện bởi DNBH, bên mua bảo hiểm, đại lý bảo hiểm, cán bộ quản lý Nhà nước về bảo hiểm và các cá nhân có liên quan khác như công an, bác sỹ Trục lợi bảo hiểm có thể được thực hiện khi giao kết hợp đồng, trong quá trình thực hiện hợp đồng cũng như khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Nghĩa là trục lợi bảo hiểm có thể xảy ra vào bất kỳ thời điểm nào kể từ khi giao kết cho đến khi kết thúc hợp đồng bảo hiểm Một bằng chứng để chứng minh các bên tham gia vào quan hệ bảo hiểm chính là “hợp đồng bảo hiểm” Theo quy định của pháp luật, nội dung của hợp đồng bảo hiểm sẽ có điều khoản về quyền và nghĩa vụ của các bên Chính việc quy định quyền và nghĩa vụ sẽ giúp cho việc thực hiện hợp đồng diễn ra thuận lợi và khi có tranh chấp cũng dựa vào điều khoản này mà xác định tránh nhiệm thuộc về ai Tất nhiên, thực hiện hợp đồng chính là việc thực hiện quyền
và nghĩa vụ, nếu các bên nghiêm túc thực hiện đúng như những gì đã thỏa thuận trong hợp đồng thì sẽ không có tranh chấp cũng như phát sinh hành vi trục lợi bảo hiểm Vì một số tổ chức, cá nhân lợi dụng sơ hở trong các quy định của pháp luật và trong các điều khoản đã thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng bảo hiểm để thực hiện
2.1 Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm tài sản 23
Hợp đồng bảo hiểm tài sản là một dạng hợp đồng song vụ, đi đôi với quyền lợi được hưởng thì phải thực hiện nghĩa vụ đối ứng Đồng thời, nghĩa vụ của bên này sẽ
là quyền của bên kia và ngược lại Để hợp đồng bảo hiểm được giao kết và thực hiện
Trang 36
nhanh chóng thì các bên trong quan hệ hợp đồng phải thực hiện nghiêm túc quyền và nghĩa vụ của mình để không bên nào có thể lợi dụng sơ hở của bên nào thực hiện ý
đồ trục lợi
2.1.1 Quyền của doanh nghiệp bảo hiểm
2.1.1.1 Quyền trước khi hợp đồng bảo hiểm được ký kết
Để thuận tiện cho việc ký kết hợp đồng, pháp luật về kinh doanh bảo hiểm đã quy định cho DNBH quyền được yêu cầu bên mua bảo hiểm cung cấp đầy đủ, trung thực những thông tin liên quan và cần thiết cho việc thực hiện hợp đồng như loại tài sản được bảo hiểm; giá trị thực của tài sản; hiện trạng của tài sản vào lúc giao kết hợp đồng như thế nào; tài sản đó có bị hư chỗ nào hay không; tài sản đó hiện có bị cầm cố hay thế chấp không Mặc dù, trước khi ký kết hợp đồng DNBH có quyền kiểm tra, xem xét tài sản đó nhưng về nguyên tắc bên mua bảo hiểm cũng phải thực hiện những yêu cầu của DNBH để hợp đồng diễn ra thuận lợi Thông thường DNBH áp dụng quyền này trước khi ký kết hợp đồng để kiểm tra tình trạng của đối tượng được bảo hiểm Nhằm tránh trường hợp bên tham gia bảo hiểm mua bảo hiểm khi tài sản đã bị
hư hỏng - một hình thức trục lợi bảo hiểm tài sản thường gặp nhất Một khi đã kiểm tra tài sản một cách kỹ lưỡng thì sẽ hạn chế được tình trạng trục lợi bảo hiểm
Tuy nhiên qua nghiên cứu, người viết nhận thấy pháp luật hiện hành chưa quy định rõ cách thức để bên mua bảo hiểm thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin về tài sản được bảo hiểm cho DNBH Đồng thời, trong trường hợp DNBH không yêu cầu cung cấp thông tin thì bên mua bảo hiểm cũng không phải thực hiện nghĩa vụ này Quy định còn thiếu sót này của pháp luật đã vô tình giúp cho các thành phần bất hảo thực hiện được ý đồ trục lợi của mình Do đó, cần thiết phải hoàn thiện quy định của pháp luật để giúp cho DNBH thực hiện tốt quyền này của mình để hạn chế phần nào hành vi trục lợi trong bảo hiểm tài sản
2.1.1.2 Quyền trong quá trình thực hiện hợp đồng
Bên cạch quyền trong việc xác lập, giao kết hợp đồng thì những quyền trong quá trình thực hiện hợp đồng rất quan trọng đối với DNBH Các quyền này sẽ giúp DNBH bảo vệ các lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm và nhờ có những quyền này
mà việc kinh doanh của DNBH phát triển bền vững hơn, đó là:
Thu phí bảo hiểm
Thu phí bảo hiểm là một quyền cơ bản và quan trọng nhất của DNBH, đồng thời cũng là một điều khoản không thể thiếu trong bất kỳ hợp đồng bảo hiểm nào Bất kỳ
Trang 37một doanh nghiệp nào muốn hoạt động và tồn tại cũng cần phải thu phí bảo hiểm và
đó là hoạt động đặc thù của ngành bảo hiểm nói chung, bảo hiểm tài sản nói riêng Theo quy định của pháp luật thì các bên có quyền tự do thỏa thuận mức phí bảo hiểm dựa trên sự đánh giá khả năng rủi ro đối với tài sản được bảo hiểm, giá trị của tài sản được bảo hiểm, khả năng tài chính của bên mua bảo hiểm Đồng thời, rủi ro càng cao thì phí bảo hiểm càng cao để DNBH có thể bù đắp được thiệt hại khi xảy ra
sự kiện bảo hiểm Ví dụ như mức phí bảo hiểm cho thân tàu đi biển sẽ nhiều hơn mức phí bảo hiểm cho thân tàu, thuyền khác; phí bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu sẽ cao hơn phí bảo hiểm hàng hóa trong nước Việc thu phí cũng có thể thực hiện một
lần hoặc chia ra làm nhiều lần để bên mua bảo hiểm đóng trong trường hợp bên mua bảo hiểm không có điều kiện đóng phí trong một lần Pháp luật quy định DNBH quyền thu phí bảo hiểm với mục đích bắt buộc bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm khi tham gia vào quan hệ bảo hiểm Ngoài ra, DNBH còn được tự do thỏa thuận cách thức thu phí với bên mua bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm nhằm giúp cho DNBH chủ động hơn trong quá trình thực hiện hợp đồng và huy động vốn để đầu tư đem lại lợi nhuận
Tuy nhiên, một số tổ chức, cá nhân đã lợi dụng việc đóng phí bảo hiểm để trục lợi bằng cách tự phá hủy tài sản khi đã đóng một khoản phí bảo hiểm trong trường hợp phí bảo hiểm được đóng làm nhiều lần Hoặc chậm trễ trong việc đóng phí cho DNBH để thu về lợi nhuận từ số tiền chậm đóng phí đó – đây cũng là cách thức trục lợi bảo hiểm, vì trục lợi bảo hiểm tài sản thực chất là việc thực hiện một hành vi nào
đó nhằm hưởng lợi ích về mặt tài chính lẽ ra không được hưởng
Ngoài ra, DNBH cũng có thể thực hiện hành vi trục lợi từ bên mua bảo hiểm trong quá trình thực hiện quyền thu phí bảo hiểm Đó là DNBH lợi dụng sự thiếu hiểu biết của bên mua bảo hiểm để lừa gạt về giá trị của tài sản bảo hiểm trong lúc giám định trước khi giao kết hợp đồng để tăng mức phí bảo hiểm Vì bên mua bảo hiểm thường là người dân bình thường nên không thể nắm rõ hết các quy định của pháp luật Do đó, cần phải có những biện pháp giúp cho người dân hiểu rõ hơn pháp luật
về bảo hiểm để không bị DNBH lừa dối trong quan hệ bảo hiểm
Yêu cầu bên mua bảo hiểm áp dụng các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất
Kinh doanh bảo hiểm là một ngành nghề khá bấp bênh trên thị trường, bởi không phải DNBH nào cũng ký được nhiều hợp đồng bảo hiểm trong một năm, thậm chí chỉ
ký được một hợp đồng Bên cạnh đó, những mối nguy hiểm luôn luôn rình rập đối tượng được bảo hiểm, mà DNBH cũng không thể dự đoán trước tất cả các rủi ro xảy
ra với đối tượng được bảo hiểm để đề phòng tổn thất Ngoài ra, nếu hoạt động riêng
Trang 38lẻ thì nguy cơ dẫn đến phá sản rất cao đối với DNBH, vì trong thực tế có không ít trường hợp tài sản được bảo hiểm trong một hợp đồng bảo hiểm có giá trị lớn hơn toàn bộ tài sản, vốn liếng của DNBH Kinh doanh bảo hiểm cũng như các ngành nghề kinh doanh khác, đều có mong muốn thu được lợi nhuận, hạn chế tổn thất và phá sản
Để thực hiện được mong muốn đó thì không chỉ có sự đầu tư quan tâm của DNBH mà ngay cả Nhà nước và người tham gia bảo hiểm cũng góp phần rất quan trọng, vì người tham gia bảo hiểm cũng không muốn tài sản của mình bị tổn thất, muốn bảo vệ tài sản của mình họ mới mua bảo hiểm cho tài sản đó
Cho nên, để hạn chế tối đa tổn thất xảy ra cho DNBH và đối tượng được bảo hiểm thì pháp luật đã quy định DNBH quyền được yêu cầu bên mua bảo hiểm áp dụng các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất nhưng quyền này cũng phải thực hiện trong khuôn khổ của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật
có liên quan Nếu pháp luật không quy định cho DNBH quyền được yêu cầu bên mua bảo hiểm thực hiện các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất sẽ dễ dẫn đến tình trạng trục lợi bảo hiểm tài sản bằng cách bên mua bảo hiểm tự phá hủy tài sản của mình để nhận được bồi thường bảo hiểm Hoặc thực hiện một cách qua loa, không có chủ ý bảo vệ cho tài sản của mình vì với tâm lý tài sản đã được mua bảo hiểm thì khi có tổn thất DNBH sẽ bồi thường Do đó mà trục lợi bằng hình thức bày rất phổ biến, DNBH
có phát hiện ra cũng không làm gì được bên mua bảo hiểm Vì pháp luật không quy định chế tài cho hành vi không thực hiện nghĩa vụ đề phòng, hạn chế tổn thất của bên mua bảo hiểm
Quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng
Một bên được quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng là khi có một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình theo những gì đã thỏa thuận trong hợp đồng Tuy nhiên, không phải lúc nào hợp đồng cũng được thực hiện đúng theo nội dung đã thỏa thuận Vì trong quá trình thực hiện hợp đồng sẽ có nhiều vấn đề phát sinh không lường trước được Quyền này sẽ được áp dụng khi trong quá trình thực hiện hợp đồng phát sinh các điều kiện làm cho hợp đồng không thể tiếp tục thực hiện hoặc thực hiện sẽ gây tổn thất, bất lợi Các điều kiện đó có thể là hành vi của bên mua bảo hiểm; yếu tố tự nhiên dẫn đến việc tăng trách nhiệm bảo hiểm Việc
cố ý cung cấp thông tin không đúng sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm để được trả tiền bảo hiểm hoặc được bồi thường và không thực hiện các nghĩa vụ trong việc cung cấp thông tin cho DNBH là hành vi của bên mua bảo hiểm24 Dựa vào những hành vi này, DNBH có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng