1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu về nghèo ảnh hưởng lên tình trạng sức khỏe, mô hình bệnh tật và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người dân tỉnh Tây Ninh, 2012

8 107 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 357,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung bài viết trình bày về so sánh mô hình bệnh tật và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người dân tại huyện Bến Cầu và thị xã Tây Ninh thuộc tỉnh Tây Ninh. Nghiên cứu tiến hành mô tả với cỡ mẫu là 800 đối tượng tại khu vực huyện Bến Cầu và thị xã Tây Ninh và sử dụng bộ câu hỏi của nghiên cứu STEP (WHO).

Trang 1

MÔ HÌNH BỆNH TẬT VÀ SỬ DỤNG DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHỎE 

CỦA NGƯỜI DÂN TỈNH TÂY NINH, 2012 

Lê Hoàng Ninh*, Phùng Đức Nhật*, Cao Nguyễn Hoài Thương*, Bùi Thị Hy Hân* 

TÓM TẮT 

Đặt  vấn  đề: Nghèo là một trong số các yếu tố xã hội có ảnh hưởng đến mô hình bệnh tật và mô hình tử 

vong của cộng đồng thông qua lối sống. Với những lý do đó, việc đo lường tác động của nghèo lên sức khỏe và  việc sử dụng dịch vụ y tế ở của người dân tỉnh Tây Ninh là một việc hết sức cần thiết.  

Mục  tiêu: So sánh mô hình bệnh tật và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người dân tại huyện Bến 

Cầu và thị xã Tây Ninh thuộc tỉnh Tây Ninh. 

Phương  pháp  nghiên  cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả với cỡ mẫu là 800 đối tượng tại khu vực huyện 

Bến Cầu và thị xã Tây Ninh và sử dụng bộ câu hỏi của nghiên cứu STEP (WHO). 

Kết quả: Sự cách ly về địa lý và hạn chế phương tiện giao thông được nhận thấy là hai chướng ngại quan 

trọng cho việc tiếp cận các cơ sở y tế. Người dân với thu nhập gia đình thấp dễ bị bệnh mạn tính hơn người có  thu nhập cao. Tỷ lệ người nghèo ở huyện Bến Cầu sử dụng bảo hiểm y tế cao hơn đáng kể so với đối tượng ở thị 

xã Tây Ninh. 

Trong mười bệnh gây tử vong hàng đầu, nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, tăng huyết áp và đái tháo đường 

là ba bệnh hàng đầu gây tử vong ở tỉnh Tây Ninh năm 2011. Trong số mười bệnh có tỷ lệ hiện mắc cao nhất, gồm  đái tháo đường, viêm họng và viêm amiđan và tăng huyết áp cấp là ba bệnh hàng đầu với tỷ lệ hiện mắc cao nhất.  

Kết  luận:  Chính quyền địa phương nên tập trung nỗ lực để giúp người nghèo giảm các hành vi nguy cơ 

như hút thuốc và uống rượu. Chính sách về bảo hiểm y tế toàn dân cần được thực hiện càng sớm càng tốt để bớt  cho người nghèo về gánh nặng chi phí y tế khi mô hình chuyển đổi bệnh tật từ bệnh lây là chính sang hướng bệnh  không lây.  

Từ khóa: Nghèo, mô hình bệnh tật, sử dụng dịch vụ y tế, Tây Ninh. 

SUMMARY 

STUDY ON POVERTY AND ITS EFFECT ON HEALTH STATUS, A MODEL OF MORBIDITY  

AND HEALTH CARE SERVICE UTILITY IN TAY NINH PROVINCE, 2012 

Le Hoang Ninh, Phung Duc Nhat, Cao Nguyen Hoai Thuong, Bui Thi Hy Han 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 7 – 14 

Background:  Poverty  is  one  of  the  social  factors  that  affect  morbidity  and  mortality  patterns  of  the 

community. Poverty might result in unhealthy lifestyles (drinking, smoking, eating habits, unhealthy physical  activities). For these reasons, the measurement of the influence of poverty on health and health service utility in  Tay Ninh province is very necessary. 

Objectives: To compare morbidity and health care service utility in Ben Cau district and Tay Ninh town, 

Tay Ninh province. 

Methods:  A  cross‐sectional  study  with  a  sample  size  of  800  subjects  in  Ben  Cau  district  and  Tay  Ninh 

town, STEP questionnaire made by World Health Organisation was used. 

* Viện Y tế Công cộng thành phố Hồ Chí Minh 

Tác giả liên lạc: Ths. Bùi Thị Hy Hân  ĐT: 0932424098   Email: Buithihyhan@gmail.com 

Trang 2

Result: The geographic isolation and limited transport were found to be two important obstacles to accessing 

health facilities. People in low‐income households were more vulnerable to chronic diseases than those with high  income.(The poverty rate in Ben Cau district using health insurance was significantly higher when comparing  with rate in Tay Ninh town). Upper respiratory tract infection, hypertension and diabetes are the top three fatal  diseases in Tay Ninh province in 2011. The highest prevalence involved diabetes, pharyngitis and tonsillitis, and  hypertension. 

Conclusion:  Local  governments  should  focus  their  efforts  on  helping  the  poor  reduce  high‐risk  behaviors 

such as smoking and drinking. The policy of universal health insurance should be implemented as soon as possible  for the poor to reduce the cost burden of medical costs. 

Keywords: Poverty, mobidity model, health care service utility, Tay Ninh province. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Ảnh hưởng tiêu cực của tình trạng thu nhập 

lên  trạng  thái  sức  khỏe  được  nhấn  mạnh  trong 

nhiều  nghiên  cứu  ở  nhiều  nước  khác  nhau.  Tại 

Mỹ, ở mọi lứa tuổi, những người trong gia đình 

có  thu  nhập  từ  50.000  USD  trở  lên  có  kì  vọng 

sống  cao  hơn  25%  so  với  những  người  sống 

trong  gia  đình  có  thu  nhập  thấp  hơn  5.000 

USD(4).  Sự  chênh  lệch  về  thu  nhập  cũng  ảnh 

hưởng  đến  bệnh  tật.  Kết  quả  của  nghiên  cứu 

trên  9003  người  tình  nguyện  tại  Anh,  Wales  và 

Scotland  đã  chỉ  ra  rằng  những  chỉ  số  bệnh  tật 

tương quan tuyến tính với chỉ số thu nhập. Việc 

tăng thu nhập sẽ mang lại các chỉ số về bệnh tật 

tốt hơn và sức khỏe tốt hơn(6).  

Ngoài  ảnh  hưởng  của  thu  nhập  lên  tình 

trạng  sức  khỏe  và  bệnh  tật,  tình  trạng  kinh  tế 

cũng ảnh hưởng đến sử dụng dịch vụ chăm sóc 

sức  khỏe.  Theo Điều tra  y  tế  dân số  quốc  gia  ở 

Canada  (2000),  cho  biết  rằng  những  nhóm  có 

kinh  tế  cao  đến  khám  bệnh  chuyên  gia  nhiều 

hơn  nhóm  kinh  tế  thấp  hơn.  Nghiên  cứu  cũng 

chỉ  ra  rằng  mặc  dù  Chính  phủ  Canada  đã  áp 

dụng  chăm  sóc  sức  khỏe  toàn  dân,  người  dân 

Canada  với  thu  nhập  thấp  đến  khám  tại  các 

chuyên  gia  y  tế  với  tỷ  lệ  thấp  so  với  nhóm  thu 

nhập trung bình và cao(5). 

Theo  nhiều  nghiên  cứu  trên  thế  giới,  nghèo 

được xem là một trong những yếu tố quyết định 

xã hội hình thành nên những mô hình bệnh tật 

và  tử  vong  trong  cộng  đồng,  tác  động  tiêu  cực 

lên tình trạng sức khỏe và sử dụng dịch vụ sức 

khỏe  trong  chăm  sóc  sức  khỏe.  Nó  ảnh  hưởng  qua lối sống (nghiện rượu, hút thuốc, thói quen 

ăn uống, vận động thể chất), cách điều trị, tuân  thủ điều trị, các hành động phòng bệnh. Nghèo  cũng có thể ảnh hưởng đến những bệnh nhân bị  mắc  một  số  bệnh  (như  bệnh  nhân  HIV/AIDS,  lao, ung thư)(8) hay ảnh hưởng đến những nhóm  nguy  cơ  (như  phụ  nữ,  người  già,  người  nghèo,  người  nhập  cư).  Với  những  lý  do  đó,  việc  đo  lường sự tác động của nghèo lên bệnh tật và tử  vong  ở  Tây  Ninh,  Việt  Nam,  sẽ  giúp  chúng  ta  tìm  kiếm  mười  căn  bệnh  hàng  đầu  và  mười  nguyên  nhân  gây  tử  vong  hàng  đầu  trong  khu  vực  và  xem  xét  những  khác  biệt  giữa  khu  vực  giàu  và  nghèo.  Các  số  liệu  có  thể  giúp  chính  quyền  tỉnh  Tây  Ninh  có  những  chính  sách  tốt  hơn và có lợi cho sức khỏe hơn để cải thiện sức  khỏe  của  người  nghèo  và  để  đánh  giá  chương  trình xóa đói giảm nghèo hay hệ thống bảo hiểm 

y tế hỗ trợ như thế nào đến người nghèo trong  việc chăm sóc sức khỏe và sử dụng dịch vụ y tế. 

Từ  đó  sẽ  định  hướng  cho  nỗ  lực  của  họ  trong  việc  can  thiệp  như  thế  nào  để  có  sức  khỏe  tốt  hơn cho người dân, đặc biệt là người nghèo. Mặc 

dù  tỉ  lệ  hộ  gia  đình  nghèo  ở  Tây  Ninh  không  phải  là  rất  cao  (6%  vào  năm  2008),  nhưng  với  chuẩn  nghèo  mới  của  chính  sách  xóa  đói  giảm  nghèo  của  chính  phủ  vẫn  là  một  trong  những  mục tiêu chính của chính quyền địa phương.  

ĐỐI TƯỢNG ‐PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Đối  tượng  nghiên  cứu:  Một  nghiên  cứu  cắt  ngang mô tả được thực hiện trên 800 người đang  sống tại huyện Bến Cầu và thị xã Tây Ninh, 800 

Trang 3

tỷ lệ sử dụng các dịch vụ y tế ở hai huyện khác 

nhau, với alpha = 0,05 (5%), beta = 0,8, p1 được 

ước  lượng  bằng  0,17  (tương  đương  tỷ  lệ  người 

dân sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe để kiểm 

tra  sức  khỏe  định  kỳ  vào  năm  trước,  tại  quận 

Bình  Thuỷ,  thành  phố  Cần  Thơ,  một  khu  vực 

thành thị giàu có ở tỉnh Cần Thơ, WHO 2009), p2 

được  ước  lượng  bằng  0,09  (tương  đương  tỷ  lệ 

người dân sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe 

để kiểm tra sức khỏe định kỳ vào năm trước, tại 

quận  Vị  Thuỷ,  tỉnh  Hậu  Giang,  một  khu  vực 

nông  thôn  nghèo  khó  thuộc  tỉnh  Hậu  Giang, 

WHO 2009), 

Sử  dụng  bộ  câu  hỏi  của  nghiên  cứu  STEP 

của WHO để nghiên cứu bệnh mạn tính và các 

mối  liên  quan.  Dùng  kiểm  định  Chi  bình 

phương để phân tích sự khác biệt và kiểm định t 

để  so  sánh  trung  bình  hai  nhóm.  Ước  lượng 

khoảng tin cậy của 95% và giá trị p được xem là 

có ý nghĩa thống kê ở mức 0,05 (p<0,05). 

KẾT QUẢ 

Mô  hình  bệnh  tật  của  người  dân  sống  tại 

tỉnh Tây Ninh 

Trong nghiên cứu này, số liệu hồi cứu được 

thu thập từ Sở Y tế ở tỉnh Tây Ninh để xác định 

mô  hình  bệnh  tật  của  người  dân  sinh  sống  vào 

năm 2011.  

Bảng 1:Mười bệnh gây tử vong hàng đầu và mười 

bệnh hiện mắc cao nhất ở tỉnh Tây Ninh năm 2011 

10 bệnh gây tử vong Số trường hợp

Nhiễm khuẩn đường hô hấp trên cấp 280

Cao huyết áp cấp 219

Tiểu đường 196

Viêm khớp 50

Bệnh về cột sống 49

10 bệnh hiện mắc Số trường hợp

Tiểu đường 37.669

10 bệnh hiện mắc Số trường hợp

Cao huyết áp cấp 31.151 Viêm đường hô hấp trên cấp 30.063

Bệnh về tai và bệnh liên quan đến

Bệnh hô hấp 19.185

Trong  mười  bệnh  gây  tử  vong  hàng  đầu,  nhiễm  khuẩn  đường  hô  hấp  trên,  cao  huyết  áp  cấp  và  tiểu  đường  là  ba  bệnh  hàng  đầu  gây  tử  vong ở tỉnh Tây Ninh năm 2011. Trong số mười  bệnh có tỷ lệ hiện mắc cao nhất, gồm tiểu đường,  viêm họng và viêm amiđan và cao huyết áp cấp 

là ba bệnh hàng đầu với tỷ lệ hiện mắc cao nhất. 

Số  liệu  trên  chứng  tỏ  cao  huyết  áp  cấp  là  một  trong những bệnh gây tử vong cao và tỷ lệ hiện  mắc cao ở tỉnh Tây Ninh. 

Đặc điểm mẫu nghiên cứu 

Về giới, nữ trội hơn với 55,4%. Hơn một nửa  người  tham  gia  có  tuổi  từ  40‐60  tuổi  trong  khi  người cao tuổi chiếm một phần mười tổng số. Về  tình  trạng  học  vấn,  đa  số  mọi  người  tham  gia  trong  nghiên  cứu  này  đã  tốt  nghiệp  cấp  hai  trong khi số người có trình độ từ cao đẳng, đại  học trở lên cũng khá cao (14,0%). Tỷ lệ tự đánh  giá  thu  nhập  trung  bình  trong  gia  đình  ở  mức  trung bình là 62,8% trong khi qua việc ước lượng  qua  đồ đạc và  đồ  dùng trong  gia đình thì  tỷ  lệ  này  ở  mức  trung  bình  chỉ  22%.  Khi  phân  tầng  thu  nhập  hộ  gia  đình  thành  hai  mức,  số  lượng 

hộ gia đình không nghèo cũng cao hơn số hộ gia  đình nghèo. 

Sự tiếp cận các trạm y tế 

Tại thị xã Tây Ninh, qua khoảng cách từ nhà  đến trạm y tế, các đối tượng nghèo hầu như dễ  dàng tiếp xúc trạm y tế (đa số ngắn hơn 1km với  43,7%), trong khi những đối tượng tại huyện Bến  Cầu khó khăn trong việc đi đến trạm (84,2% đối  tượng sống xa trên 5 km so với trạm y tế). Đa số  đối tượng nghèo báo cáo rằng họ tiếp xúc với nhân  viên y tế dễ dàng hơn đối tượng không nghèo. 

Trang 4

Bảng 2: Sự tiếp cận các trạm y tế 

Thị xã Tây Ninh (n=400) Huyện Bến Cầu (n=400) Tổng (n=800) Nghèo

n (%)

Không nghèo

n (%)

Nghèo

n (%)

Không nghèo

n (%)

Nghèo

n (%)

Không nghèo

n (%) Khoảng cách từ nhà đến trạm y tế

Tiếp xúc với nhân viên y tế

Bảng 3: Sự tiếp cận thông tin y tế 

Thị xã Tây Ninh (n=400) Huyện Bến Cầu (n=400) Tổng (n=800) Nghèo

n (%)

Không nghèo

n (%)

Nghèo

n (%)

Không nghèo

n (%)

Nghèo

n (%)

Không nghèo

n (%) Nhận được thông tin y tế

Nguồn thông tin

Trong  khi  tỷ  lệ  đối  tượng  không  nghèo  và 

nghèo nhận được thông tin y tế là tương đương 

tại  huyện  Bến  Cầu,  đối  tượng  không  nghèo  tại 

thị xã Tây Ninh dường như tiếp xúc thông tin y 

tế nhiều hơn người nghèo. Hơn nữa, nhân viên y 

tế được báo cáo như là người hỗ trợ thông tin y 

tế  cho  đa  số  người  không  nghèo  ở  thị  xã  Tây  Ninh. Tuy nhiên, đối tượng nghèo ở huyện Bến  Cầu nhận được đa số thông tin y tế từ nhân viên 

y tế địa phương khi so với nhóm không nghèo.  

Bảng 4:Sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và tình trạng sức khỏe ở tỉnh Tây Ninh 

Thị xã Tây Ninh (n=400) Huyện Bến Cầu (n=400) Tổng (n=800) Nghèo

n (%)

Không nghèo

n (%)

Nghèo

n (%)

Không nghèo

n (%)

Nghèo

n (%)

Không nghèo

n (%) Bệnh mạn tính

Sử dụng dịch vụ khám sức khỏe và điều trị bệnh (n=359)

Dạng cơ sở đã từng đến kiểm tra và điều trị

Bảo hiểm y tế

Tại  tỉnh  Tây  Ninh,  tỷ  lệ  đối  tượng  bị  bệnh 

mạn  tính  trong  nhóm  không  nghèo  cao  hơn 

nhóm nghèo, và đặc biệt cao tại thị xã Tây Ninh. 

Tỷ  lệ  đối  tượng  không  nghèo  sử  dụng  dịch  vụ 

Trang 5

kiểm  tra  và  chữa  trị  cao  hơn  đối  tượng  nghèo. 

Trạm  y  tế  dường  như  được  nhiều  đối  tượng 

nghèo  đến  thăm  khám  trong  khi  người  không 

nghèo thường hay  đến  khám bệnh  viện tư,  bệnh 

viện  tuyến  tỉnh  và  huyện.  Số  đối  tượng  không  nghèo có bảo hiểm y tế cao hơn nhóm đối tượng  nghèo ở tỉnh Tây Ninh, đặc biệt ở thị xã Tây Ninh. 

Bảng 5:Hành vi nguy cơ cho sức khỏe 

Thị xã Tây Ninh (n=400) Huyện Bến Cầu (n=400) Tổng (n=800) Nghèo

n (%)

Không nghèo

n (%)

Nghèo

n (%)

Không nghèo

n (%)

Nghèo

n (%)

Không nghèo

n (%)

Đã từng hút thuốc

Hút thuốc mỗi ngày

Đã từng uống rượu

Vẫn còn uống rượu

Nhiều muối trong bữa ăn

Vận động thể chất

Ở tỉnh Tây Ninh, đối tượng nghèo có nhiều 

hành  vi  nguy  cơ  cho  sức  khỏe  ảnh  hưởng  tiêu 

cực  đến  sức  khỏe  của  họ  như  hút  thuốc  mỗi 

ngày,  ăn  mặn  và  vận  động  thể  chất  hơn  nhóm 

người không nghèo. Tuy nhiên, đối tượng nghèo 

có tỷ lệ thấp về việc hút thuốc và uống rượu hơn  nhóm không nghèo. 

Bảng 6:So sánh việc sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe giữa hai nhóm đối tượng nghèo ở thị xã Tây Ninh 

(n 1 =400) và nhóm đối tượng nghèo ở huyện Bến Cầu (n 2 =400) 

Khoảng cách từ nhà đến trạm y tế

Thời gian đến trạm y tế

Tiếp cận với nhân viên y tế

Khoảng cách từ nhà đến các cơ sở y tế khác

Tiếp cận với nhân viên y tế

Trang 6

Tiếp cận các thông tin y tế

Bệnh mạn tính

Sử dụng dịch vụ khám và điều trị

Bảo hiểm y tế

Bảng  6  chỉ  ra  rằng  các  đối  tượng  nghèo  ở 

huyện  Bến  Cầu  thật  sự  có  nhiều  khó  khăn  hơn 

về việc đến các trạm y tế so với thị xã Tây Ninh 

bởi  vì  những  trở  ngại  bởi  khoảng  cách  và  thời 

gian  (p<0,001).  Tuy  nhiên, khi được  hỏi  về  cảm 

giác khi tiếp cận với nhân viên y tế ở trạm y tế, 

tỷ lệ đối tượng nghèo ở huyện Bến Cầu cảm thấy 

dễ dàng khi tiếp xúc với nhân viên y tế cao hơn 

đáng  kể  so  với  đối  tượng  nghèo  ở  thị  xã  Tây 

Ninh. Với việc tiếp cận với các cơ sở y tế khác có 

sự tương đồng. Hơn nữa, tỉ lệ đối tượng nghèo ở 

huyện Bến Cầu nhận được thông tin y tế cao hơn 

đáng kể so với nhóm này ở thị xã Tây Ninh. Tỉ lệ 

bệnh mạn tính trong số đối tượng nghèo ở thị xã 

Tây  Ninh  thấp  hơn  đáng  kể  so  với  huyện  Bến 

Cầu  (p<0,001).  Hơn  nữa,  đối  tượng  nghèo  ở 

huyện  Bến Cầu sử  dụng nhiều hơn  đáng kể  về 

việc sử dụng dịch vụ y tế trong 12 tháng vừa qua 

so với nhóm đối tượng nghèo ở thị xã Tây Ninh. 

Về bảo hiểm y tế, tỷ lệ đối tượng nghèo ở thị xã 

Tây Ninh có bảo hiểm y tế thấp hơn đáng kể so 

với đối tượng nghèo ở huyện Bến Cầu. 

BÀN LUẬN 

Sự cách ly về địa lý và hạn chế phương tiện 

giao  thông  được  nhận  thấy  là  hai  chướng  ngại 

quan  trọng  để  tiếp  cận  các  cơ  sở  y  tế.  Kết  quả 

này phù hợp với nhiều nghiên cứu khác trên thế 

giới.  Một  trường  đại  học  ở  Texas  nghiên  cứu 

khoảng  cách  và  phương  tiện  giao  thông  ảnh 

hưởng  như  thế  nào  đến  việc  tiếp  cận  chữa  trị 

bệnh ung thư. Nghiên cứu phát hiện rằng nhiều 

bệnh nhân không đi chữa trị bệnh ung thư bởi vì 

vấn  đề  giao  thông.  Những  bệnh  nhân  này  cho  rằng những cản trở như khoảng cách, tiếp cận xe 

ô  tô  và  có  sẵn  ai  đó  để  chở  họ  đi  chữa  bệnh  là  những vấn đề chính. Những trở ngại như đi xa 

và  không  có  sẵn  phương  tiện  có  liên  quan  đến  việc giảm sử dụng các dịch vụ y tế và sức khỏe  kém  hơn(8).  Kết  quả  này  cũng  được  tìm  thấy  trong  nghiên  cứu  bởi  Carrillo  và  cộng  sự,  đặc  biệt  là  người  ở  khu  vực  nông  thôn  cũng  tương  đương  với  thị  xã  Tây  Ninh  và  huyện  Bến  Cầu.  Người  dân  có  cách  biệt  về  địa  lý  có  thể  không  được  tiếp  cận  ngay  lập  tức  với  các  dịch  vụ  cấp  cứu. Họ có thể phải đi xa để được chăm sóc y tế 

cơ bản, và còn xa hơn nữa nếu họ cần phải khám 

ở một chuyên gia(3). Báo cáo y tế của trường đại  học Y khoa Stanford về sự chênh lệch và rào cản  trong việc chăm sóc y tế bao gồm giao thông và  khoảng  cách.  Một  vài  kết  quả  chính  bao  gồm  người dân cần đi một khoảng cách xa để tiếp cận  những cơ sở y tế chuyên khoa. Những cơ sở y tế  trong khu vực này thì nhỏ và thường cung cấp  những  dịch  vụ  giới  hạn.  Thông  thường,  do  khoảng  cách  địa  lý,  điều  kiện  thời  tiết  khắc  nghiệt, cản trở về môi trường và thời tiết, thiếu  các phương tiện công cộng và những con đường  khó đi, dân cư vùng nông thôn có thể bị giới hạn  trong  việc  tiếp  cận  các  dịch  vụ  chăm  sóc  y  tế(10).  Trong nghiên cứu này, số người dân sống tại Bến  Cầu,  một  huyện  nghèo,  cao  hơn  đáng  kể  so  với  người sống tại thị xã Tây Ninh, một thị xã giàu. 

Bệnh  mạn  tính  và  tình  trạng  nghèo  khó  dường như là một vòng luẩn quẩn. Theo báo cáo 

Trang 7

cao  sức  khỏe,  người  nghèo  có  nhiều  nguy  cơ 

nhất về phát triển bệnh mạn tính và chết trẻ em 

bởi vì họ phơi nhiễm các yếu tố nguy cơ nhiều 

hơn  và  bị  hạn  chế  việc  tiếp  cận  dịch  vụ  y  tế(12). 

Hơn  nữa,  báo  cáo  hàng  năm  của  chính  phủ  về 

sức khỏe  ở Mỹ năm 2011  đã  khám phá  ra  rằng 

người dân với thu nhập cao sẽ có tỷ lệ thấp mắc 

các  bệnh  mạn  tính  so  với  những  người  có  thu 

nhập ở mức thấp(3). Phân tích của Beaglehole và 

cộng  sự  về  gánh  nặng  của  bệnh  mạn  tính  báo 

cáo rằng các nước thu nhập thấp và trung bình 

chịu  gánh  nặng  về  các  bệnh  mạn  tính  như  đau 

tim,  ung  thư,  đái  tháo  đường  và  rối  loạn  tâm 

thần  cao  hơn  so  với  các  nước  thu  nhập  cao(2). 

Cuối cùng, nghèo tạo nên bệnh mạn tính. Người 

nghèo dễ bị những căn bệnh mạn tính và ngược 

lại  bệnh  mạn  tính  dường  như  làm  hao  mòn  đi 

tình trạng tài sản hiện có của họ. Trong khi đó sự 

giàu  có  có  thể  giúp  người  dân  tránh  hầu  hết 

những nguy cơ phát triển của các bệnh mạn tính 

và dễ dàng tiếp cận với các dịch vụ y tế. 

Tỷ lệ người nghèo ở huyện Bến Cầu sử dụng 

bảo hiểm y tế cao hơn nhiều so với đối tượng ở 

thị  xã  Tây Ninh.  Kết  quả  này  tương  đương  với 

báo  cáo  của  Sở  y  tế  tỉnh  Tây  Ninh  về  số  lượng 

bảo hiểm y tế của người nghèo ở thị xã Tây Ninh 

và  huyện  Bến  Cầu  năm  2011  (12.420  so  với 

631)(9). Chính phủ Việt Nam với triển vọng bảo 

hiểm y tế toàn dân hỗ trợ bảo hiểm y tế miễn phí 

cho  người  nghèo.  Hơn  nữa,  huyện  Bến  Cầu 

dường  như  là  một  trong  những  huyện  nghèo 

nhất ở tỉnh Tây Ninh trong khi thị xã Tây Ninh 

là một trong những huyện giàu. Cho nên, trong 

nghiên  cứu  này  số  lượng  người  nghèo  có  bảo 

hiểm  y tế  ở huyện  Bến Cầu  cao  hơn  thị  xã  Tây 

Ninh. Và bảo hiểm y tế cho người nghèo ở Việt 

Nam khá khác biệt so với Mỹ. Qua báo cáo về độ 

bao phủ bảo hiểm y tế ở Mỹ, người dân có thu 

thập  thấp  sử  dụng  hơn  10%  thu  nhập  hộ  gia 

đình của họ trong việc chăm sóc sức khỏe, so với 

8% người có thu nhập cao. Hộ gia đình với thu 

nhập  trung  bình  sử  dụng  trung  bình  khoảng 

22% thu nhập trong việc chăm sóc y tế(11).  

KẾT LUẬN 

Nghiên cứu cho thấy bệnh mạn tính đang có 

xu hướng chiếm tỷ lệ cao trong 10 bệnh gây tử  vong  hàng  đầu  tại  tỉnh  Tây  Ninh.  Đối  tượng  thuộc hộ nghèo có xu hướng tiếp xúc thông tin y 

tế  ít  thuận  lợi  hơn  so  với  nhóm  không  nghèo.  Song song đó, đối tượng nghèo có nhiều hành vi  nguy  cơ  cho  sức  khỏe  ảnh  hưởng  tiêu  cực  đến  sức  khỏe  của  họ  như  hút  thuốc  mỗi  ngày,  ăn  mặn  và  vận  động  thể  chất  hơn  nhóm  người  không nghèo. Tuy nhiên, nhóm nghèo lại ít mắc  bệnh  mạn  tính  hơn  so  với  nhóm  không  nghèo. 

Tỷ  lệ  người  nghèo  ở  huyện  Bến  Cầu  sử  dụng  bảo hiểm y tế cao hơn đáng kể so với đối tượng 

ở thị xã Tây Ninh.  

KIẾN NGHỊ 

Những  hành  vi  nguy  cơ  dẫn  đến  sức  khỏe  kém trong nhóm nghèo là việc uống rượu và hút  thuốc,  kết  hợp  với  việc  ăn  mặn  và  thiếu  vận  động  thể  chất.  Cho  nên,  các  chính  quyền  địa  phương nên tập trung nỗ lực giúp người nghèo  giảm  các  hành  vi  nguy  cơ  như  hút  thuốc  và  uống  rượu.  Những  thông  điệp  trong  mối  liên  quan giữa những hành vi này và sức khỏe kém  nên  được  tuyên  truyền  rộng  rãi  để  tăng  nhận  thức  của  người  dân  sống  tại  những  khu  vực  nghèo  để  họ  ngừng  uống  rượu  và  bỏ  thuốc.  Người nghèo không dễ tiếp cận đến các dịch vụ  chăm sóc y tế như người giàu do họ có hai vấn 

đề  chính:  phương  tiện  vận  chuyển  và  chi  phí  dịch  vụ  y  tế.  Chúng  tôi  để  nghị  chính  sách  về  bảo hiểm y tế toàn dân cần được thực hiện càng  sớm càng tốt để giảm bớt cho người nghèo gánh  nặng chi phí y tế/ chi phí bệnh viện khi mô hình  chuyển  đổi  bệnh  tật  từ  bệnh  lây  là  chính  sang  hướng bệnh không lây. Giáo dục sức khỏe về cả  hành  vi khỏe mạnh  (bỏ hút  thuốc,  ngừng  uống  rượu)  và  các  bệnh  không  lây sẽ  cùng  nhau  bảo 

vệ  người  nghèo  và  cả  cộng  đồng  từ  dịch  bệnh  mạn tính. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

Kidd  M,  Haines  A,  (2008).  Improving  the  prevention  and 

Trang 8

management  of  chronic  disease  in  low‐income  and  middle‐

income countries: a priority for primary health care.The Lancet, 

372 (9642): 940‐949. 

A,  Byron  AT  (2011).  Defining  and  Targeting  Health  Care 

Access Barriers.Journal of health care for the poor and underserved, 

22(2): 562‐575. 

Health  Insurance  Coverage  and  Health  Care  Utilization  ‐ 

http://www.cdc.gov/mmwr/preview/mmwrhtml/mm59e1109

a1.htm 

and  the  utilisation  of  physiciansʹ  services:  results  from  the 

Canadian National Population Health Survey. Social Science 

& Amp. Medicine, 51(1): 123‐133. 

nature  of  the  relationship?.  Social  Science  &  Medicine,  48(5): 

693‐705. 

Balfour  JL,et  al  (1998).  Income  inequality  and  mortality  in 

metropolitan  areas  of  the  United  States.American  Journal  of 

Public Health.88(7) 1074‐1080. 

for Patient Attending a Community Health Center. Portland  State University.pp. 56‐67. 

khỏe  và  sử  dụng  dịch  vụ  chăm  sóc  sức  khỏe  tại  tỉnh  Tây 

Ninh. Tr 4‐6. 

10 Stanford  University  (2010).  Healthcare  Disparities  and 

http://ruralhealth.stanford.edu/health‐

pros/factsheets/disparities‐barriers.html   

11 The  U.S.  Department  of  Health  and  Human  Services  (2012).  Hidden  Cost  of  Health  Care.  Retrieved  22/6/2012.  from 

http://www.who.int/chp/chronic_disease_report/part2_ch2/en /index.html 

 

Ngày nhận bài báo:       15/5/2014  Ngày phản biện nhận xét bài báo:   17/6/2014  Ngày bài báo được đăng:     14/11/2014   

 

Ngày đăng: 23/01/2020, 02:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w