Cho đến nay tại Bình Định nghiên cứu dành cho các bà mẹ có con nhỏ dưới 2 tuổi là rất hạn chế, mặc khác cũng chưa có nghiên cứu nào tập trung sâu về thực trạng kiến thức, thực hành và tì
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăm sóc sức khoẻ sinh sản là lĩnh vực y tế luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm và giành nhiều ưu tiên trong sự nghiệp bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân [3] Trong giai đoạn hiện nay, công tác này được tiếp cận một cách bao quát, rộng lớn hơn thể hiện bằng các chiến lược, chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sinh sản, cụ thể như “Chiến lược Quốc gia về CSSKSS giai đoạn 2001 - 2010”; “Hướng dẫn Chuẩn Quốc gia về các dịch vụ CSSKSS”
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, mỗi năm có hơn 585.000 phụ nữ tử vong
do các nguyên nhân sản khoa, 640 triệu phụ nữ ốm yếu do liên quan đến thai nghén, 64 triệu phụ nữ phải chịu đựng những biến chứng khi sinh, 500 triệu phụ nữ phải chịu đựng sự thiếu hụt dinh dưỡng Trong đó 90% trường hợp tử vong mẹ xảy ra ở Châu Á và Châu Phi, 25-30% số tử vong ở vào độ tuổi sinh sản ở các nước đang phát triển [1],[22],[41]
Tại các nước đang phát triển, mang thai và sinh đẻ là nguyên nhân chính dẫn đến tử vong, bệnh tật và tàn phế cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, chiếm ít nhất 18% gánh nặng bệnh tật ở nhóm tuổi này - nhiều hơn bất kỳ một vấn đề sức khoẻ nào khác [34] Hàng năm có 8 triệu thai nhi và trẻ sơ sinh chết vào cuối thời kỳ thai nghén, vào lúc lọt lòng và ngay sau khi sinh ít lâu, nguyên nhân chủ yếu là do sức khỏe của bà mẹ kém hay biến chứng sau sinh
Tử vong sơ sinh chủ yếu xảy ở các nước đang phát triển, chiếm 96% trẻ sơ sinh chết hàng năm trên thế giới [22]
Tại Việt Nam tỷ lệ tử vong mẹ toàn quốc là 80/100.000 trẻ đẻ sống vào năm 2005[5] Tỷ lệ tử vong mẹ khác nhau ở từng khu vực, ở miền núi và vựng sõu, vựng xa tỷ lệ tử vong mẹ cao hơn khu vực đồng bằng Năm 2002,
Vụ Bảo vệ bà mẹ trẻ em ước tính tử vong mẹ ở miền núi và trung du là 269/100.000 và ở đồng bằng là 81/100.000 Về nguyên nhân, 75 - 80% trường
Trang 2hợp tử vong mẹ là do các biến chứng và bệnh nhiễm trùng xảy ra trong quá trình mang thai [34].
Nhu cầu sử dụng dịch vụ y tế sinh sản là rất khác nhau ở cỏc nhúm đối tượng; đặc biệt các bà mẹ nuôi con nhỏ dưới 2 tuổi thì nhu cầu này là rất cao, bởi lẽ sự thay đổi về tâm sinh lý và những thách thức mà họ phải đối mặt sau khi vượt cạn: chăm sóc bé sơ sinh như thế nào? Chế độ dinh dưỡng, sinh hoạt, nghỉ ngơi, vệ sinh cá nhân và quan hệ tình dục sau sinh .ra sao để đảm bảo cho mẹ khỏe, con khỏe và gia đình hạnh phúc? Mối quan tâm này không chỉ gặp ở phụ nữ miền xuôi mà còn cả miền ngược Vì rất nhiều lý do nên việc đáp ứng nhu cầu cho các bà mẹ có con nhỏ dưới 2 tuổi vẫn chưa được cải thiện như mong muốn
Trên phạm vi cả nước đó cú khá nhiều nghiên cứu về kiến thức và thực hành CSSKSS của bà mẹ giai đoạn trước sinh tuy nhiên nghiên cứu giai đoạn trong sinh và sau sinh vẫn còn rất ít [25]
Cho đến nay tại Bình Định nghiên cứu dành cho các bà mẹ có con nhỏ dưới 2 tuổi là rất hạn chế, mặc khác cũng chưa có nghiên cứu nào tập trung sâu về thực trạng kiến thức, thực hành và tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức và thực hành chăm sóc trước, trong và sau sinh của các bà mẹ trên
Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu một
số yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng dịch vụ chăm sóc trước, trong và sau sinh của các bà mẹ nuôi con nhỏ dưới 2 tuổi tại Bình Định năm 2008-
2009 ” với các mục tiêu:
1 Mô tả việc sử dụng dịch vụ chăm sóc trước, trong và sau sinh của các
bà mẹ nuôi con nhỏ dưới 2 tuổi tại tỉnh Bình Định, năm 2008-2009.
2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ chăm sóc trước, trong và sau sinh của các bà mẹ nêu trên.
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới, “Sức khoẻ sinh sản là sự thoải mái hoàn toàn về thể chất, tinh thần và xã hội, không chỉ đơn thuần là không có bệnh tật hoặc tàn phế của hệ thống sinh sản Điều này cũng hàm ý là mọi người, kể cả nam và nữ, đều có quyền được nhận thông tin và tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, các biện pháp kế hoạch hoá gia đình an toàn,
có hiệu quả và chấp nhận được theo sự lựa chọn của mình, bảo đảm cho người phụ nữ trải qua quá trình thai nghén và sinh đẻ an toàn, tạo cho các cặp
vợ chồng cơ may tốt nhất để sinh được đứa con lành mạnh” [3]
Thai nghén và sinh đẻ là quá trình sinh lý tự nhiên, đồng thời có nhiều thay đổi về giải phẫu, tâm sinh lý của người mẹ Những thay đổi này có thể xảy ra rất sớm và diễn ra liên tục trong suốt thời kỳ thai nghén để đáp ứng với nhu cầu sinh lý của người mẹ và sự phát triển của thai nhi
Trong mỗi lần mang thai và sinh nở, người phụ nữ phải đối mặt với nhiều nguy cơ liên quan tới những tai biến đột ngột và khó lường trước Những tai biến này có thể dẫn tới thương tật thậm chí tử vong cho bà mẹ và thai nhi.
1.1 Chăm sóc trước sinh:
1.1.1 Khái niệm:
Chăm sóc bà mẹ khi có thai còn được gọi là chăm sóc trước sinh Chăm sóc trước sinh là những chăm sóc sản khoa cho người phụ nữ tính từ thời điểm có thai cho đến trước khi đẻ nhằm đảm bảo cho quá trình mang thai được an toàn, sinh con khỏe mạnh
Chăm sóc bà mẹ khi có thai có tầm quan trọng to lớn, vì nếu khám thai đầy
đủ sẽ giảm được tử vong và bệnh tật cho cả mẹ lẫn con [11]
Chǎm sóc chu đáo trong thời kỳ mang thai là đǎng ký quản lý thai và theo dõi thai từ khi mang thai cho đến khi chuyển dạ và phải khám thai ít nhất là 3 lần để xác định những nguy cơ, biến chứng của thai nghén; Giáo dục vệ sinh và hiểu biết về thai nghén [11].
Trang 4Diễn biến sức khỏe của người phụ nữ trong giai đoạn mang thai có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của thai nhi, của em bé trong giai đoạn sơ sinh Ví dụ: tình trạng thiếu máu nặng ở mẹ sẽ dẫn đến trẻ có thể bị ngạt, bị chết lưu hoặc nhẹ cân; hay điều kiện thiếu vệ sinh khi đẻ rất có thể dẫn đến việc trẻ sơ sinh bị uốn ván, bị nhiễm khuẩn v.v
1.1.2 Một số nội dung trong chăm sóc trước sinh:
Nội dung chǎm sóc trước sinh bao gồm: giáo dục, điều trị những tình trạng bệnh lý hoặc biến chứng xảy ra trong thời kỳ có thai, sàng lọc những nguy cơ, hướng dẫn và xác định nơi thai phụ sinh để đảm bảo an toàn Giải thích những biến chứng có thể xảy ra và sẽ thường xảy ra khi nào và nếu xảy ra thỡ nờn đến khám và
xử trí ở đâu để đảm bảo độ an toàn, sinh phải được thực hiện một cách toàn diện và
Trang 51.1.2.2 Tiêm phòng uốn ván
Bệnh uốn ván là một trong năm tai biến sản khoa thường gặp, đây là một bệnh nặng, tỷ lệ tử vong cao cho mẹ và trẻ sơ sinh [4] Để dự phòng tai biến này, khi có thai các thai phụ cần đi khám thai sớm và khám thai định kỳ
đủ 3 lần, qua khám thai cán bộ y tế sẽ giúp thai phụ tiêm phòng uốn ván, đồng thời kiểm tra xem việc tiêm phòng uốn ván có được thực hiện đầy đủ không
1.1.2.3 Khám thai
Thai nghén là giai đoạn nhiều nguy cơ tiềm ẩn, có thể dẫn dến những vấn đề sức khoẻ trầm trọng như bệnh tật và tử vong mà bất cứ một phụ nữ nào cũng có thể mắc phải trong thời kỳ mang thai Để hạn chế những vấn đề sức khỏe đó, khám thai là một biện pháp hết sức quan trọng Ở Việt Nam, theo qui định của Bộ Y tế, trong một kỳ thai nghén người phụ nữ cần được khám thai định kỳ ít nhất 3 lần [4],[11]
Người mẹ đi khám thai sớm và đầy đủ cho đến khi sinh là yếu tố quan trọng để tránh rủi ro cho bà mẹ và thai nhi Khám thai mỗi tháng 1 lần cho đến khi được 28 tuần tuổi, sau đó cứ hai tuần một lần cho đến khi được 36 tuần, và sau đó nờn khỏm hàng tuần cho đến tuần thứ 40 Chất lượng bảo vệ thai tăng lên theo số lần khám thai [4]
Bảng 1.1 Số lần khám thai và chất lượng bảo vệ thai [2]
Nhận xét
Khám
thai
không được bảo vệ
lần
xx
Trang 61.1.2.4.Tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ
• Giải thích lợi ích của bú mẹ
• Hỏi kinh nghiệm nuôi con của bà mẹ
• Giải thích tầm quan trọng của việc chăm sóc vú và núm vú, xin phép khám
• Tạo niềm tin là tất cả bà mẹ đều có thể nuôi con bằng sữa mẹ
1.1.3 Tình hình chăm sóc trước sinh trên thế giới:
Tỷ lệ phụ nữ có thai khám thai ít nhất 1 lần trên toàn thế giới là 68%, thấp nhất là ở Châu Phi 63%, Châu Á 65%, châu Mỹ La Tinh 73%, cao nhất
là Bắc Mỹ và Châu Âu 97% Ở cấp độ quốc gia việc sử dụng dịch vụ này còn thấp hơn nhiều như ở Nepal 15% Độ bao phủ của các dịch vụ chăm sóc trước sinh ở các nước cũng khác nhau, tại Srilanka là 97%, Mexico 91%, Pakistan 26% [24] Một cuộc điều tra ở Ấn độ cho thấy khoảng 60% phụ nữ cảm thấy chăm sóc thai nghén là không cần thiết [34] Ndyomugyenyi và cộng sự (1998) thấy rằng rất nhiều phụ nữ trong nghiên cứu của họ tại vùng nông thôn Uganda không biết rằng chăm sóc thai nghén là để theo dõi sự phát triển của thai nhi và tình trạng sức khoẻ của bà mẹ
Theo WHO, có khoảng 550.000 trẻ sơ sinh chết vì uốn ván rốn mỗi năm, trong đó có 220.000 trường hợp ở khu vực Đông Nam Á, chiếm 37% uốn ván rốn trên thế giới Theo Caro Bellamy, giám đốc điều hành UNICEF, một trong những nguyên nhân làm cho phụ nữ mang thai ít nhận được các dịch vụ chăm sóc trước sinh là do những ưu điểm của nó chưa được nhấn mạnh và chịu ảnh hưởng của trình độ văn hoá cũng như điều kiện kinh tế của
bà mẹ [30]
Trang 71.1.4 Tình hình chăm sóc trước sinh ở Việt Nam:
Một số nghiên cứu trong các năm gần đây cho thấy các bà mẹ đi khám
thai từ 3 lần trở lên như sau: Tại Hương Long - Huế 60,6% (2002) [15], tại
Chí Linh - Hải Dương 70,2% (2002) [29], tại Hà Tây 71,3% [14], tại Tiên Du
- Bắc Ninh 70,7% (2003) [21]
Báo cáo điều tra ban đầu về thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản năm 2003 tại Bình Định của Quỹ dân số Liên Hiệp quốc thì 2,9% phụ nữ không khám thai lần nào trước khi sinh; 21,4% khám thai chưa đủ 3 lần;
Theo nghiên cứu của Hà Anh Thạch tại Bình Định năm 2004 có 96,47% phụ nữ có thai được khám thai; 74,87% số phụ nữ có thai được cán
bộ trạm y tế khám thai; tỷ lệ bà mẹ nuôi con nhỏ dưới 2 tuổi đi khám thai là 97,67%; tỷ lệ khám thai đủ 3 lần là 81,83%; tỷ lệ khám thai tại trạm y tế là 74% [19]
Trang 8Bảng 1.2 Tình hình tiêm phòng uốn ván [18],[19].
Tiêm phòng uốn ván
Kết quả điều tra nhân khẩu học
83,3% (2002) [12], tại Chí Linh - Hải Dương 85,4% (2002) [23], tại Tiên Du -
Bắc Ninh 90,5% (2003) [20]
1.2 Chăm sóc bà mẹ trong khi sinh:
Chuyển dạ là một quá trình quan trọng nhất, dễ xảy ra tai biến nhất cho
cả mẹ và đứa trẻ vì vậy cần phải chuẩn bị tâm lý tốt cho sản phụ và được người có chuyên môn giúp đỡ trong qỳa trỡnh này
1.2.1 Tư vấn cho sản phụ:
Nguyên tắc chung về tư vấn trong chuyển dạ là động viên để sản phụ bớt lo âu, lắng nghe những điều khiến bản thân gia đình và sản phụ lo lắng, thông cảm và tôn trọng những truyền thống văn hoá và tôn giáo của sản phụ Nói cho sản phụ và gia đình họ biết những điều có thể xảy
ra và làm cho sản phụ hiểu về tình trạng của sản phụ và cách xử trí để làm giảm sự lo âu và giúp họ chuẩn bị trước cho những tình huống có thể xảy
ra Thông báo cho sản phụ và gia đình về những tai biến thường gặp khi chuyển dạ
Trang 91.2.2 Các nguyên tắc theo dừi khi chuyển dạ thường:
Tốt nhất bà mẹ phải được theo dõi chuyển dạ tại cơ sở y tế Người nữ
hộ sinh phải giải thích những lợi ích của việc đẻ tại cơ sở y tế để được chăm sóc chu đáo Trong trường hợp không thể đến được cơ sở y tế, nên mời cán bộ y tế cú chuyờn môn đỡ
Phải theo dừi chuyển dạ bằng biểu đồ chuyển dạ một cách toàn diện,
có hệ thống, phải thành thạo các thao tác chuyên môn, phải biết ghi và phân tích được một biểu đồ chuyển dạ để phát hiện các yếu tố bất thường trong theo dõi chuyển dạ, kịp thời gửi đi bệnh viện tuyến trên để đảm bảo sự an toàn cho mẹ và con
Nếu sản phụ được quyết định đẻ tại cơ sở y tế, người nữ hộ sinh cần chuẩn bị những dụng cụ tối thiểu, cần thiết và đảm bảo vô khuẩn cùng với những dụng cụ để chăm sóc sơ sinh ngay sau đẻ Nếu sản phụ đẻ tại nhà phải
sử dụng gói đẻ sạch
Khi đỡ đẻ, đỡ rau, kiểm tra rau, làm rốn sơ sinh phải thao tác đúng qui trình Một số trường hợp phải bóc rau nhân tạo, kiểm soát tử cung, khâu tầng sinh môn cũng phải thao tác đúng qui trình và đảm bảo vô khuẩn mới hy vọng góp phần hạ bớt tỷ lệ 5 tai biến sản khoa
Tận tình, kiên nhẫn và tỷ mỷ là những đức tính cần thiết của người chăm sóc chuyển dạ Trong quá trình theo dõi chuyển dạ cán bộ y tế cần động viên, hỗ trợ về tinh thần để giúp cho sản phụ giảm bớt sự lo âu
1.2.3.Theo dõi - chăm sóc bà mẹ trong 2 giờ đầu sau đẻ
• Sản phụ vẫn nằm ở phòng đẻ
• Theo dõi mẹ: theo dõi thể trạng, mạch, huyết áp, co hồi tử cung, ra máu tại các thời điểm 15 phút, 30 phút, 45 phút, 60 phút, 90 phút và
120 phút
Trang 101.2.4.Tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ ngay sau đẻ
1.2.4.1.Tư vấn về con nằm chung với mẹ
• Mẹ sẽ chăm sóc con kịp thời hơn
• Trẻ ớt khúc hơn
• Thời gian bú mẹ sẽ được lâu hơn
1.2.4.2.Tư vấn về bú sớm
• Lợi ích của sữa non
• Không vắt bỏ sữa non, cần cho bú cả sữa non
• Cho trẻ nằm thoải mải trên ngực người mẹ, da áp da
• Cho trẻ bắt vú (dấu hiệu trẻ sẵn sàng là mở miệng, quay về phía vú, nhìn quanh)
1.2.4.4.Tư thế bỳ đỳng
• Giữ cho đầu và thõn bộ thẳng
• Mặt bé hướng về phía vú, mũi ứng với núm vú
• Áp thõn bộ vào thân người mẹ
• Nâng toàn bộ thõn bộ, không chỉ nâng cổ và vai
• Bà mẹ cho núm vú chạm vào mụi bộ
Trang 11• Ðợi khi miệng bé mở rộng chuyển nhanh núm vú vào miệng bộ, giỳp
bộ ngậm sâu tới tận quầng vú
• Mỳt vú có hiệu quả là mút chậm, sõu, cú nghỉ
• Hỗ trợ tại nhà nếu cần thiết
• Hướng dẫn các tư thế cho trẻ bú: ngồi, nằm nghiêng
1.2.5 Tình hình chăm sóc trong sinh trên Thế giới
Trên thế giới, hầu hết các ca chết mẹ đều chủ yếu do 5 nguyên nhân chính: băng huyết, nhiễm trùng, tai biến do phá thai không an toàn, sản giật
và vỡ tử cung Rất nhiều những bà mẹ dù đã qua được “cơn vượt cạn” lại phải chịu các tai biến sau sinh
1.2.6 Tình hình chăm sóc trong sinh tại Việt Nam
Đảm bảo cho cuộc đẻ an toàn có liên quan trực tiếp nhất đến vấn đề tử vong mẹ Ở Việt Nam có hai lựa chọn của người phụ nữ khi sinh: sinh ngoài
cơ sở y tế (sinh tại nhà và sinh ở nhà các bà mụ vườn) và sinh tại cơ sở y tế (y tế tư nhân, trạm y tế xã và các cơ sở y tế tuyến cao hơn)
Sinh con tại cơ sở y tế đang trở nên là một lựa chọn phổ biến, đặc biệt
ở những nơi đô thị và có điều kiện kinh tế Sinh con tại nhà cũng còn gặp hầu hết các cộng đồng với mức độ phổ biến khác nhau, từ những cuộc đẻ không có sự trợ giúp nào cho tới những cuộc đẻ được trợ giúp bởi những người được đào tạo Thực hành của những người trợ giúp các cuộc đẻ tại nhà còn gây nhiều nguy cơ và hầu như không bao gồm chăm sóc trẻ sơ sinh
và theo dõi sau sinh
Nghiên cứu thực trạng tình hình dịch vụ làm mẹ an toàn ở Việt Nam tháng 7/2003 cho thấy, tỷ lệ sử dụng dịch vụ y tế cho cuộc đẻ khác nhau ở các tỉnh khác nhau, trong đó chiếm tỷ lệ cao nhất vẫn là trạm y tế xã và bệnh
Trang 12viện huyện.
Theo cuộc điều tra về thực trạng tình hình dịch vụ làm mẹ an toàn ở Việt Nam tháng 7/2003, người đỡ đẻ cho các sản phụ cũng khác nhau ở các tỉnh khác nhau Tỷ lệ sản phụ được người cú chuyờn môn đỡ đẻ cao nhất ở những tỉnh đồng bằng (Hà Tõy, Kiờn Giang) và thấp nhất ở những tỉnh miến núi (Đắc Lắc) và còn một tỷ lệ khá lớn các bà mẹ sinh con với sự giúp đỡ của các bà mụ vườn (14,3% ở Đắc Lắc và 13,3% ở Cao Bằng)
Điều tra y tế Quốc gia 2001 - 2002 do Bộ Y tế phối hợp với Tổng cục Thống kê thì tỷ lệ phụ nữ đẻ tại trạm y tế xã là 29,8% (thành thị 9,7%, nông thôn 35,1%), đẻ tại nhà là 22,5% (thành thị 5,5%, nông thôn 26,9%); Tỷ lệ phụ nữ được cán bộ y tế trợ giúp khi đẻ là 82,4% (thành thị 96,6%, nông thôn 78,7%)
Báo cáo tổng kết công tác chăm sóc SKSS năm 2005 và phương hướng năm 2006 của Bộ Y tế tỷ lệ phụ nữ toàn quốc đẻ có cán bộ y tế đỡ là 94,7% (2004) và 93,26% (2005)
Báo cáo đánh giá cuối kỳ về thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ CSSKSS tại 11 tỉnh tham gia Chu kỳ Quốc gia 6 UNFPA Việt Nam năm 2005thì tỷ lệ ca đẻ tại cơ sở y tế Nhà nước là 81,7% (2003) và 88,2%(2005); Tỷ lệ
ca đẻ được nhân viên y tế đỡ là 89,3% (2003) và 93,2% (2005)
Tại Binh Định tỷ lệ phụ nữ đẻ tại trạm y tế là 15,33%; tỷ lệ bà mẹ nuôi con nhỏ dưới 2 tuổi đẻ tại các cơ sở y tế là 93,25%; tỷ lệ bà mẹ nuôi con nhỏ dưới 2 tuổi đẻ tại trạm y tế xã là 15,58%; Còn 6,75% bà mẹ đẻ tại nhà; Tỷ lệ
bà mẹ đẻ được NVYT đỡ là 95,58%
Báo cáo rà soát các nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe tại Việt Nam giai đoạn 2000-2005 của Quỹ dân số Liên Hiệp quốc thì hầu hết các phụ nữ tử vong ở trong giai đoạn sau sinh hơn 4/5 (80-83%) là chết ngay trong ngày đầu tiên sau đẻ Số còn lại chủ yếu chết trong tuần lễ đầu tiên [6], [8] Các nghiên
Trang 13cứu đều thống nhất rằng khoảng 80% phụ nữ Việt Nam sinh tại các cơ sở y tế hay tại nhà với người đỡ được đào tạo [9], [13], [17], [18] Tỷ lệ sinh tại nhà dao động từ khoảng 2% -16,7% ở các khu vực đồng bằng [13], [21] và 50 - 58% tại các khu vực miền sâu, xa và miền núi [9], [14], [17] Ở một số vùng nông thôn, phần lớn các ca đẻ diễn ra ở nhà với sự giúp đỡ của nữ hộ sinh hoặc bà đỡ dân gian [7] Trong các phụ nữ đẻ tại nhà thì 35,4% số người được nhận gói đẻ sạch, song họ chỉ được sử dụng một số dụng cụ trong gói đẻ sạch này [17]
Một nghiên cứu về sinh tại nhà ở tỉnh Ninh Bình chỉ ra tỷ lệ băng huyết là 3,3%, 30,6% trẻ được cắt rốn với dụng cụ không hợp vệ sinh và 41,7% trường hợp không đạt tiêu chuẩn vệ sinh khác [13] Các tai biến được báo cáo còn cao hơn nhiều trong số các phụ nữ dân tộc ở cỏc vựng miền núi vì điều kiện thiếu vệ sinh, thiếu người đỡ được đào tạo và các phong tục lạc hậu [10], [13]
Rất ít các nghiên cứu tìm hiểu về kiến thức của phụ nữ trong khi sinh
nở Mặc dù thai phụ mong muốn được đến một cơ sở y tế khi sinh, nhưng nhiều trong số họ đã không thể đến
1.3 Chăm sóc sau khi sinh:
1.3.1 Khái niệm:
Chăm sóc sau sinh là những chăm sóc cho bà mẹ bao gồm chăm sóc giai đoạn sau sinh, kế hoạch hóa gia đình, phòng chống nhiễm trùng, vệ sinh, dinh dưỡng và cho con bú Về mặt lý thuyết, phụ nữ sau sinh cần phải được thăm khám 2 lần: một lần trong ngày đầu tiên và một lần trong vòng 42 ngày sau sinh
1.3.2 Theo dõi - chăm sóc bà mẹ từ giờ thứ ba đến hết ngày đầu
• Sau khi theo dõi tích cực 2 giờ đầu, nếu bình thường tiếp tục theo dõi
từ giờ thứ 3 đến giờ thứ 6 theo hướng dẫn sau:
Trang 14• Ðưa bà mẹ và bé về phòng, theo dõi 1 giờ một lần.
• Ðặt bé nằm cạnh mẹ
• Ủ ấm cho bé
• Người mẹ có băng vệ sinh sạch, đủ thấm
• Giúp người mẹ ăn uống, ngủ yên
• Vận động nhẹ sau 6 giờ
• Giúp và khuyến khích cho con bú sớm
• Hướng dẫn người mẹ cách chăm sóc con, theo dõi chảy máu rốn
• Yêu cầu bà mẹ và người nhà gọi ngay nhân viên y tế khi bộ khụng bỳ, khụng thở, tím tái, chảy máu rốn
• Yêu cầu gọi ngay nhân viên y tế khi sản phụ chảy máu nhiều, đau bụng tăng, nhức đầu chóng mặt hoặc có bất cứ vấn đề gỡ khỏc
• Theo dõi từ giờ thứ 7
• Theo dõi mẹ: thể trạng, co hồi tử cung (rắn-trũn), băng vệ sinh (kiểm tra lượng máu mất)
• Theo dõi con: thở (nếu khó thở, đếm nhịp thở), da (nếu lạnh, đo thân nhiệt, rốn (có chảy máu không), bú mẹ (đã bú mẹ chưa)
1.3.3 Chế độ ăn uống và sử dụng thuốc
• Uống nhiều nước
• Ăn đủ chất và tăng bữa
• Giải thích về những thức ăn và những yếu tố có ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng sữa (kể cả các thuốc)
Trang 15• Sử dụng bất kỳ thuốc gì phải có ý kiến của thầy thuốc.
1.3.4.Cho con bú trong những ngày đầu
• Giải thích những thay đổi về vú trong những ngày đầu
• Không hạn chế số lần bú
• Bú theo nhu cầu
• Bú hết sữa một bên vú mới chuyển sang bên kia
• Không dứt vú khi bé chưa muốn thụi bỳ
• Giải thích cho bà mẹ hiểu tại sao không cho uống thêm nước hoặc thức ăn khác
Cân năng
Kiểm tra vú (các vấn đề về cho bú)
Có thiếu máu
Có nhiễm khuẩn
Có bệnh lý khác
Nếu bình thường
Ðiều trị thiếu máu
Ðiều trị nhiễm khuẩn
Chuyển tuyến
Thảo luận và hướng dẫn thực hiện một biện pháp KHHGÐ.Ghi phiếu theo dõi
Trang 16Ðã giao hợp lại
chưa?
Các nhu cầu về
KHHGÐ
1.3.6 Tình hình chăm sóc sau sinh trên Thế giới:
Ở nhiều nơi trên thế giới, nhiều phụ nữ thích sinh con ở nhà với sự giúp
đỡ của các bà mụ vườn hoặc người thõn Một trong những nguyên nhân đó là yếu
tố văn hoá Bên cạnh đó, còn có một vài lý do khác như môi trường chăm sóc y
tế không thân thiện hoặc sự thiếu cảm thông của nhân viên y tế Ở một vài nơi khác sự có mặt của các nam nhân viên y tế là điều không thể chấp nhận được đối với nền văn hoá của một số dân tộc (Sundari,1992) [34].
1.3.7 Tình hình chăm sóc sau sinh tại Việt Nam:
Báo cáo rà soát các nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe tại Việt Nam giai đoạn 2000-2005 của Quỹ dân số liên hiệp quốc thì khoảng 3/4 phụ nữ biết về thời điểm chính xác cho bú sữa/cai sữa [26], [35] Nhiều phụ nữ dân tộc thiểu số (54%) không biết cách sử dụng sữa non cho con bú [35] Trong giai đoạn sau sinh, phụ nữ không biết thời điểm chính xác để có quan hệ tình dục trở lại, chế độ dinh dưỡng cần thiết
và các BPTT phù hợp [31] Tỷ lệ phụ nữ khám sau sinh thấp hơn nhiều nếu so sánh với tỷ lệ khám thai, dao động từ 1/4 (23,8%) cho đến 2/3 (70%) phụ thuộc từng tỉnh Chất lượng của chăm sóc sau sinh cũng không đáp ứng nhu cầu của bà mẹ Chỉ 1/3 (31,0%) được khuyến khích nhận các thăm khám thường xuyên trong vòng 42 ngày sau đẻ [39] Tỷ lệ cho con bú sữa mẹ cũng khác nhau giữa các nghiên cứu Nói chung, tỷ lệ này vào khoảng từ một nửa đến 2/3 ở cỏc vựng sõu, xa và miền núi [27] ,[35], [37] Tuy thế, nhiều các bà mẹ dân tộc thiểu số không sử dụng sữa non cho con bú và khoảng một nửa số trẻ được nuôi bằng các nguồn thực phẩm khác (như gạo) trong tháng đầu sau đẻ [35] Trái ngược với tình trạng này, tỷ lệ cho con bú trong phụ nữ dân tộc Kinh cao hơn đạt tới 2/3 số các bà mẹ [32], [37]
Trang 17Theo Báo cáo tổng kết công tác chăm sóc SKSS năm 2005 và phương hướng năm 2006 của Bộ Y tế, tỷ lệ bà mẹ được chăm sóc sau sinh chung cả nước là 86% (2003) và 86,2% (2005) và khu vực Nam Trung bộ là 90% (2003) và 92,63% (2005).
Theo báo cáo của Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản tỉnh Bình Định tỷ lệ sản phụ được chăm sóc sau khi sinh ít nhất 1 lần là 97,5% (2003)
và 97,92% (2005)
Tuy nhiên theo Báo cáo điều tra ban đầu về thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản năm 2003 tại Bình Định của Quỹ dân số Liên Hiệp quốc thì có 27,1% các bà mẹ sinh con tại nhà, chỉ có 86,7%
bà mẹ được nhân viên y tế đỡ đẻ, 24,3% sử dụng các BPTT truyền thống (tớnh vũng kinh, xuất tinh ngoài âm đạo), 19,5% không áp dụng BPTT nào
Theo nghiên cứu của Hà Anh Thạch tỷ lệ bà mẹ nuôi con nhỏ dưới 2 tuổi được cán bộ trạm y tế thăm khám tại nhà sau khi sinh là 75,33%
1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ chăm sóc trước, trong và sau sinh:
Tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khoẻ bà mẹ là dịch vụ chăm sóc đảm bảo nhu cầu cho những người cần thiết: họ có thể dễ dàng và không có sự cản trở nào trong việc sử dụng dịch vụ như là sự sẵn có của dịch vụ, hoặc là
vì quá nghèo khó hoặc chất lượng chăm sóc của cán bộ y tế không đảm bảo? (World Health Day 1998)
Kinh nghiệm triển khai các chương trình dịch vụ y tế cho thấy, thiếu tiếp cận với các dịch vụ y tế nói chung sẽ làm gánh nặng bệnh tật tăng lên
và trong một số trường hợp thậm chí còn dẫn đến tử vong
Theo mô hình sử dụng dịch vụ y tế của Anderson 1968 và được Friedler sửa đổi năm 1981 Có 3 nhóm yếu tố:
Trang 18• Các yếu tố về đặc trưng cá nhân và các yếu tố về lịch sử sinh sản.
• Các yếu tố khả năng kinh tế, khả năng tiếp cận
• Các yếu tố về dịch vụ y tế
Trang 191.4.1 Ảnh hưởng nhóm yếu tố về đặc trưng cá nhân và yếu tố về lịch sử sinh sản
Thực tế cho thấy phụ nữ tuổi càng cao thì càng ít tiếp cận với dịch vụ y tế; những người dân tộc thiểu số thì khả năng tiếp cận kém hơn so với người kinh; những phụ nữ sinh nhiều con, đẻ dày, nạo hút thai nhiều lần thì càng
ít có cơ hội tiếp cận và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản
1.4 2.Tiếp cận về địa lý:
Tiếp cận địa lý không chỉ bao gồm khoảng cách từ nhà đến cơ sở y tế
mà còn là chất lượng của đường xá, sự sẵn có của các loại phương tiện giao thông Sự khan hiếm của các phương tiện đi lại, đặc biệt ở những vùng sâu vùng xa và điều kiện đường xá không đảm bảo đã ảnh hưởng đến việc tiếp cận cơ sở y tế của phụ nữ Ở nhiều nơi khó khăn, phụ nữ đi bộ đến cơ sở
y tế là việc thường gặp Nhìn chung, khoảng cách đến cơ sở y tế thường được đo lường bằng thời gian đến cơ sở y tế bởi các phương tiện thông thường Theo Campell và cộng sự, các yếu tố ảnh hưởng đến việc tìm kiếm dịch vụ chăm sóc trước sinh là địa điểm của cơ sở y tế và sự sẵn có của phương tiện đi lại Nếu thời gian đến cơ sở y tế trên 30 phút bằng các phương tiện thông thường tại địa phương thì nhìn chung các bà mẹ sẽ không đến cơ sở y tế mặc dù họ ốm nặmg Điều này được giải thích bởi vấn
đề tài chính và chi phí cơ hội quá cao Thêm vào đó người phụ nữ phải bỏ thời gian để đi một quãng đường quá dài mà có thể cán bộ y tế lại không có mặt tại cơ sở y tế
1.4 3.Tiếp cận về kinh tế:
Đo lường bằng khả năng chi trả các loại chi phí trực tiếp (bằng tiền túi của mình) để được chăm sóc y tế (gồm các loại chi phí chính thức và không chính thức, phí vận chuyển, ăn ở, chi phí cho người chăm nuôi ) Nghiên cứu ở Code D’Voire và Peru cho thấy chi phí là một yếu tố cản trở hầu hết phụ nữ ở đây sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và những
Trang 20những người nghèo hơn thì thường tìm đến những cơ sở kém chất lượng hơn Điều đó cũng có nghĩa là những người có thu nhập cao thì đến những
cơ sở y tế có chất lượng chăm sóc tốt cho dù khoảng cỏch cú xa hơn [40]
Những người phụ nữ nghèo thường ở nhà và tự điều trị bằng những thuốc cổ truyền hoặc đến các bác sĩ tư gần nhà Ở nhiều vùng của châu Phi, điều kiện kinh tế là yếu tố ảnh hưởng quan trọng tới việc tiếp cận dịch vụ y
tế [40]
Bên cạnh đó, mùa màng và vụ thu hoạch cũng phần nào ảnh hưởng tới việc sử dụng dịch vụ y tế Ở Công gô, 13 bà mẹ chết trên tổng số 20 người thường xảy ra vào vụ mùa thu hoạch, đó là thời gian mà phụ nữ phải làm việc vất vả trờn đồng ruộng không có thời gian đến cơ sở y tế (Navvaro, 1998) [40]
1.4 4.Tiếp cận về văn hoá:
Đo lường bằng sự phù hợp về văn hoá, phong tục tập quán và khả năng giao tiếp với các nhóm thiểu số không nói được ngôn ngữ phổ thông Niềm tin văn hoá, cấu trúc xã hôi và đặc tính của mỗi cá nhân cũng rất quan trọng Nhiều phụ nữ cho rằng không cần thiết phải đi khám thai Một cuộc điều tra ở Ấn độ cho thấy khoảng 60% phụ nữ cảm thấy chăm sóc thai nghén là không cần thiết Ở một số nơi, mang thai được xem như vấn đề sức khoẻ bình thường không cần phải chăm sóc y tế, hoặc sự chăm sóc chỉ cần thiết khi người phụ nữ mang thai cảm thấy có vấn đề Ndyomugyenyi và cộng sự (1998) thấy rằng rất nhiều phụ nữ trong nghiên cứu của họ tại vùng nông thôn Uganda không biết rằng chăm sóc thai nghén là để theo dõi
sự phát triển của thai nhi và tình trạng sức khoẻ của bà mẹ Sự thiếu hiểu biết của phụ nữ về thai sản là một vấn đề chính Sự mang thai ngoài ý muốn cũng là lý do làm cho các bà mẹ không đi khám thai 60% số người không nhận được chăm sóc thai nghén là mang thai ngoài ý muốn [34]
Trang 21Yếu tố bình đẳng về giới cũng là một vấn đề quan trọng ở nhiều vùng trên thế giới Việc quyết định sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho
bà mẹ nhiều khi được quyết định bởi mẹ chồng, chồng hoặc các thành viên khác trong gia đình, còn tiếng nói của bản thân người phụ nữ lại rất ít trọng lượng Ở nhiều nơi trên thế giới, nhiều phụ nữ thích sinh con ở nhà với sự giúp đỡ của các bà mụ vườn hoặc người thõn Một trong những nguyên nhân
đó là yếu tố văn hoá Bên cạnh đó, còn có một vài lý do khác như môi trường chăm sóc y tế không thân thiện hoặc sự thiếu cảm thông của nhân viên y tế Ở một vài nơi khác sự có mặt của các nam nhân viên y tế là điều không thể chấp nhận được đối với nền văn hoá của một số dân tộc (Sundari,1992) [34]
Báo cáo rà soát các nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe tại Việt Nam giai đoạn 2000-2005 của Quỹ dân số Liên Hiệp quốc thì:
Một số yếu tố kinh tế - xã hội được kể đến như học vấn thấp, tuổi trẻ, tín ngưỡng (thiên chúa giáo), dân tộc thiểu số, và thu nhập thấp của bà mẹ có tác động rõ rệt đến các thực hành sau sinh [29], [31], [33], [35]
Các yếu tố khác được coi là cản trở cho phụ nữ có thể tiếp cận chăm sóc trước sinh và chăm sóc sau sinh như hiểu biết kém, khoảng cách sinh, xấu
hổ khi tiếp cận dịch vụ và yếu tố về di cư [36]
Chất lượng dịch vụ thấp cũng là rào cản đối với tiếp cận của thai phụ [29], [38]
Trong giai đoạn sau khi sinh, phụ nữ có chăm sóc trước sinh tốt sẽ có thực hành tốt hơn khi sinh, và phụ nữ có chăm sóc trước sinh và khi sinh tốt có hành vi chăm sóc sau sinh tốt hơn [35] Với các tập quán chăm sóc sau sinh truyền thống, các thực hành này được tạo ra do văn hóa và các yếu tố xã hội Niềm tin tại địa phương, tập quán, phụ nữ có quan hệ thân thuộc có ảnh hưởng
Trang 22quyết định việc các bà mẹ tuân thủ những hành vi này [28], [29], [32], [36], [38]
Các yếu tố ảnh hưởng bao gồm cả việc thiếu nhân lực, do khoảng cách
xa, đường xỏ khú đi hay thiếu các phương tiện vận chuyển (đặc biệt ở vùng sâu và xa), và thói quen, phong tục của người dân địa phương trong việc chăm sóc bà mẹ tại nhà Thêm vào đó, văn hóa, truyền thống, gia đình và các yếu tố kinh tế cũng là yếu tố thuận lợi cản trở sự tiếp cận của phụ nữ đến dịch
vụ chăm sóc SKSS [8], [15]
Quyết định về địa điểm sinh bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác nhau như truyền thống đẻ tại nhà, đường đến các cơ sở y tế xa, thiếu người trông coi gia đình khi phụ nữ sinh tại cơ sở y tế, chi phí và quan niệm về dịch vụ y tế cũn kộm tại trạm y tế xã [16]
Sau khi sinh tại các cơ sở y tế, các bà mẹ trở về nhà và phải tuân theo rất nhiều các phong tục truyền thống theo thiết chế gia đình và cộng đồng Nhiều nghiên cứu định tính và định lượng về các tập quán truyền thống chăm sóc sau sinh đã được thực hiện Tập quán này bao gồm rất nhiều các thực hành như chế độ ăn, vệ sinh và các hành vi hồi sức sau sinh,… Nhiều các tập quán này được thực hiện với niềm tin như “trỏnh giú”, ngồi hơ lửa, tránh ra khỏi nhà, không tắm sau sinh Thời gian cho mỗi tập quán theo mô tả có thể
từ 7 đến 100 ngày Các thực hành sau khi sinh này là khác biệt giữa các dân tộc [28], [29], [31], [36] Một số thực hành được xếp là có lợi, tuy thế, rất nhiều các tập quán khác là trung tính và/hoặc có hại [31]
Tại Bình Định các yếu tố có liên quan đến sự tiếp cận và sử dụng dịch
vụ CSSKSS tại trạm y tế của bà mẹ là khu vực, khoảng cách từ trung tâm xã đến trung tâm y tế, bệnh viện tỉnh, trạm y tế xó đã đạt Chuẩn Quốc gia về y tế hay chưa, dân tộc và trình độ văn hoá của bà mẹ
Trang 23Kết quả nghiên cứu “Đỏnh giỏ hành vi tìm kiếm và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản của phụ nữ dân tộc thiểu số” của cho thấy kiến thức, hiểu biết của phụ nữ dân tộc thiểu số Tõy Nguyờn về chăm sóc sức khoẻ trước, trong và sau sinh còn rất hạn chế, mơ hồ thậm chí còn hiểu sai Mô hình hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khoẻ còn mang tính bị động Ở đây còn tồn tại nhiều phong tục tập quán, thói quen có ảnh hưởng xấu đến hành vi chăm sóc sức khoẻ, coi việc sinh nở là chuyện kín đáo, cúng bái, tin vào các bà đỡ Bên cạnh đú thỡ khoảng cách địa lý, điều kiện kinh tế xã hội của địa phương, năng lực kinh tế của gia đình, trình độ học vấn, ngôn ngữ cũng ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức, thái độ và hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khoẻ bà mẹ của phụ nữ dân tộc thiểu số Ngoài ra, sự tham gia của cộng đồng như chồng, người thân đối với hoạt động chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, chưa khuyến khích được phụ nữ tiếp cận nhiều hơn với các dịch vụ y tế.
Trang 24Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Đối tượng: Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu:
- Các bà mẹ sinh con từ ngày 1 tháng 9 năm 2006 đến nay
- Hiện đang sống tại tỉnh
- Tự nguyện tham gia nghiên cứu
- Tiêu chuẩn loại trừ:
- Những bà mẹ có con đã bị chết vì bất cứ lý do gì
- Không tự nguyện tham gia nghiên cứu
- Địa điểm: 30 xã được chọn ngẫu nhiên tại 11 huyện của tỉnh Bình Định
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10/2008 đến tháng 4/2009
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Đây là một nghiờn cứu mô tả (định lượng kết hợp với nghiên cứu định tính)
2.2.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu
2.2.2.1 Nghiên cứu định lượng
- Cỡ mẫu: để đảm bảo cho kết quả nghiên cứu đại diện cho cả tỉnh nên các bà mẹ từ cả vùng núi và vùng đồng bằng đều được chọn vào mẫu nghiên cứu Công thức tính cỡ mẫu :
n1=n2= Z2
(1- α /2) [p1 (1-p1)/d12] + [p2 (1-p2)/d22] Trong đó:
* n1: cỡ mẫu cho vùng núi
Trang 25* n2: cỡ mẫu cho vùng đồng bằng.
* Z(1- α /2) : Hệ số tin cậy (Với độ tin cậy 95% thì Z = 1,96)
* p1: Tỷ lệ bà mẹ đẻ tại trạm y tế xã vùng núi năm 2005(= 16%) [5]
* p2: Tỷ lệ bà mẹ đẻ tại TYTX vùng đồng bằng năm 2005(= 80%) [5]
* d1: Độ chính xác mong muốn cho vùng núi (= 5%)
* d2: Độ chính xác mong muốn cho vùng đồng bằng (= 10%)
* DE: Hệ số chọn mẫu (1,5)
Vậy cỡ mẫu cần chọn là n1=n2= 300 bà mẹ
Trong nghiên cứu có so sánh giữa 2 vùng sinh thái là đồng bằng và miền núi nên cỡ mẫu được chọn là 600 bà mẹ
2.2.2.2 Nghiên cứu định lượng
Phỏng vấn sâu 15 bà mẹ về chăm sóc trước sinh, trong sinh và sau sinh
2.2.3 Kỹ thuật chọn mẫu
2.2.3.1 Nghiên cứu định lượng : Áp dụng chọn mẫu nhiều bậc.
- Bước1: Lập danh sách 159 xã toàn tỉnh theo vùng miền núi và đồng bằng
- Bước 2: Tạo thăm (xã) theo 2 vùng miền núi và đồng bằng
- Bước 3: Bốc thăm ngẫu nhiên chọn 15 xã từ mỗi vùng
- Bước 4: Chon ngẫu nhiên 3 thụn / xó đó được chọn
- Bước 5: Chọn ngẫu nhiên đơn từ 6-7 bà mẹ theo danh sách đã được lập, tùy thuộc vào số lượng các bà mẹ trong thôn
2.2.3.2 Nghiên cứu định tính:
Chọn 15 bà mẹ không thực hành tốt chăm sóc trước, trong, sau sinh từ
300 bà mẹ ở vùng nỳi đó tham gia vào nghiên cứu định lượng
Trang 262.2.3.3 Nghiên cứu định tính
Phỏng vấn sâu các bà mẹ không đi khám thai, khụng tiờm uốn ván, sinh con tại nhà ( dự kiến 5 bà mẹ/xã/ huyện tại cả 3 huyện miền núi )
* Công cụ: máy, băng ghi âm
* Địa điểm phỏng vấn: hộ gia đình
- Tỷ lệ % theo nhóm tuổi (≤24 và >24 tuổi).
- Tỷ lệ % theo dân tộc (kinh, khác).
- Tỷ lệ % theo vùng (miền núi, đồng bằng)
- Tỷ lệ % theo trình độ học vấn (không biêt chữ, tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông, cao đẳng - đại học trở lên).
- Tỷ lệ % theo khả năng nói tiếng Việt (thành thạo, có khó khăn, không nói được).
- Tỷ lệ % theo số con ( (≤2con và >2con
- Dấu hiệu bà mẹ mang thai đang gặp nguy hiểm là gì?
- Bà mẹ sẽ xử trí thế nào nếu xuất hiện các dấu hiệu nguy hiểm khi mang thai?
- Có khám thai trong lần mang thai vừa qua không ?
-Tỷ lệ % bà mẹ trả lời ( có /không)
- Tỷ lệ % theo tổng số dấu hiệu bà mẹ kể được (sốt, phù, chảy máu âm đạo )
- Tỷ lệ % theo cách xử trí của bà mẹ ( để tự khỏi, tự điều trị, đến phòng khám tư, cúng, thầy lang )
-Tỷ lệ % theo số lần khám thai (0 lần, < 3 lần
và ≥ 3 lần).
Trang 27- Nơi khám thai ở đâu?
- Có tiêm phòng uốn ván không?
- Tỷ lệ % theo nơi khám thai( TYTX, bệnh viện, nhà NVYT xã, cơ sở tư, mụ vườn )
- Tỷ lệ % theo số lần tiêm phòng uốn ván (< 2 lần và ≥ 2 lần)
-Dấu hiệu bà mẹ chuyển dạ đang gặp nguy hiểm?
- Bà mẹ đã sinh con ở đâu?
- Người đỡ đẻ cho bà mẹ lần sinh vừa qua là ai?
- Bà mẹ có được tư vấn sau khi sinh không ?
Tỷ lệ % theo người đỡ đẻ tốt nhất( NVYT, mụ vườn, chồng, không cần ai ).
- Tỷ lệ % theo tổng số dấu hiệu bà mẹ kể được (đau bụng dữ dội, chảy máu nhiều, sốt, co giật, vỡ ối sớm ).
Tỷ lệ % theo nơi sinh ( cơ sở y tế nhà nước, tư nhân, tại nhà).
Tỷ lệ % theo người đỡ đẻ ( NVYT, mụ vườn, chồng, không cần ai )
-Tỷ lệ % theo số lượng nội dung được tư vấn (nuôi con sữa mẹ, tiêm chủng cho bé, BPTT, dặn nhưng không nhớ ).
-Bà mẹ có được khám trong vòng 42 ngày sau sinh ?
-Tỷ lệ % theo tổng số dấu hiệu bà mẹ kể được (ra máu nhiều và tăng lên, sốt kéo dài, co giật, đau bụng kéo dài và tăng lên )
- Tỷ lệ % theo cách xử trí (để tự khỏi, tự điều trị, đến phòng khám tư, cúng, thầy lang ) -Tỷ lệ % bà mẹ trả lời (có/không)
3 Mục tiêu 2: Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ chăm
sóc trước, trong và sau sinh
Mối liên quan
-Có liên quan giữa tuổi, dân tộc, khả năng nói tiếng việt, trình độ học vấn, số con, số
- Phân tích đa biến với biến phụ thuộc là có khám thai ≥ 3 lần và biến độc lập là các yếu tố đặc trưng cá nhân và lịch sử sinh sản (có/không).
- Phân tích đa biến với biến phụ thuộc là có tiêm phòng uốn ván≥ 2 lần và biến độc lập
là các yếu tố đặc trưng cá nhân và lịch sử
Trang 28lần có thai và tiêm phòng uốn ván ≥ 2 lần ?
-Có liên quan giữa tuổi, dân tộc, khả năng nói tiếng việt, trình độ học vấn, số con, số lần có thai và người đỡ đẻ có chuyên môn?
- Phân tích đa biến với biến phụ thuộc là nơi sinh tại nhà và biến độc lập là các yếu tố đặc trưng cá nhân và lịch sử sinh sản (có/không).
- Phân tích đa biến với biến phụ thuộc là người đỡ đẻ có chuyên môn và biến độc lập là các yếu tố đặc trưng cá nhân và lịch
- Phân tích đa biến với biến phụ thuộc là có khám thai lại sau sinh ≥ 1 lần và biến độc lập là các yếu tố đặc trưng cá nhân và lịch
sử sinh sản (có/không).
2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.5 1 Công cụ thu thập số liệu:
• Nghiên cứu định lượng: Phỏng vấn theo bộ câu hỏi đóng
• Nghiên cứu định tính: Máy ghi âm, băng ghi âm, bộ câu hỏi mở
2.2.5.2 Kỹ thuật thu thập số liệu:
- Phỏng vấn tại nhà các bà mẹ đã được chọn đưa vào nghiên cứu
- Điều tra viên là 17 giáo viên của Trường Cao đảng Y tế Bình Định
- Điều tra thử bộ câu hỏi: Sau khi xây dựng bộ câu hỏi, chúng tôi tiến hành Pretest điều tra thử sử dụng bộ câu hỏi điều tra 1 lần trên 10 bà mẹ sinh con trong năm 2006 tại một xó đó chọn nghiên cứu và sửa lại một số câu hỏi trong bộ câu hỏi đã thiết kế ban đầu cho phù hợp