1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiếp cận và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của nữ công nhân nhập cư và các yếu tố ảnh hưởng” (nghiên cứu trường hợp tại khu công nghiệp VSIP II, thành phố thủ dầu một, tỉnh bình dương)

118 636 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bối cảnh như vậy, tác giả đã quyết định chọn vấn đề “ Tiếp cận và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của nữ công nhân nhập cư và các yếu tố ảnh hưởng” Nghiên cứu trường hợp tại Khu

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN QUYẾT THẮNG

TIẾP CẬN VÀ SỬ DỤNG DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHỎE CỦA NỮCÔNG NHÂN NHẬP CƢ VÀ

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

GS.TS TRỊNH DUY LUÂN

HÀ NỘI - 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào, lời cảm ơn luôn chiếm một vị trí trang trọng nhất bởi lẽ đó là sự tri ân mà tác giả muốn gửi đến các cá nhân và tập thể đã hỗ trợ để đề tài được hoàn thành Và khi là tác giả của một luận văn, tôi thực sự hiểu nhiều hơn như thế

Lời cảm ơn đầu tiên, tôi xin gửi đến 200 nữ công nhân nhập cư đã tham gia trả lời phỏng vấn, vì nếu không có các chị thì luận văn sẽ không hoàn thành Tôi hiểu rằng luận văn này không giúp được gì nhiều cho họ, nhưng tôi hy vọng được chuyển tải những tâm tư, tình cảm và nguyện vọng của họ đến những người quan tâm

Tôi xin cảm ơn quý Thầy/Cô giảng dạy khóa cao học năm 2014 – 2016, quý Thầy/Cô trong Khoa Xã hội học và các cán bộ phòng Đào tạo Sau đại học, Ban giám đốc Học viện Khoa học Xã hội đã cung cấp cho tôi những kiến thức khoa học và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này

Trên tất cả, tôi xin gửi lòng biết ơn sâu sắc đến người hướng dẫn khóa học: Thầy Trịnh Duy Luân Qua hướng dẫn chuyên môn cũng như những lời động viên, chia sẻ của Thầy đã giúp tôi tăng thêm ý chí và nghị lực trong suốt quá trình làm luận văn Nếu không có sự tận tâm hướng dẫn mà Thầy dành cho tôi thì thực sự luận văn này không thể hoàn thành

Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Quý thầy, cô, bạn bè và người thân

Hà Nội, ngày tháng năm 1016

Học viên thực hiện Trần Quyết Thắng

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của GS.TS Trịnh Duy Luân Mọi trích dẫn từ các tài liệu đều được ghi xuất xứ rõ ràng; các sự kiện, tư liệu trong luận văn này là trung thực Nếu

có gì sai sót, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Hà Nội, ngày tháng năm 1016

Học viên thực hiện

Trần Quyết Thắng

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 16

1.1.Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 16

1.2.Cách tiếp cận chính trong nghiên cứu đề tài 17

1.3.Sơ lược về địa bàn nghiên cứu và đặc điểm mẫu nghiên cứu 20

Chương 2.THỰC TRẠNG SỨC KHỎE, NHU CẦU TIẾP CẬN VÀ SỬ DỤNG DỊCH VỤ CSSK CỦA NỮ CÔNG NHÂN NHẬP CƯ 28

2.1 Một số đặc điểmnhân khẩu xã hội của nữ công nhân nhập cư 28

2.2 Thực trạng về bệnh tật của nữ công nhân nhập cư hiện nay 34

2.3 Hành vi trong việc chăm sóc sức khỏe của nữ công nhân nhập cư 41

2.4 Nhận thức của nữ công nhân nhập cư trong việc CSSK 44

2.5 Mức độ hài lòng trong quá trình tiếp cận và sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe 46

Chương 3.NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC TIẾP CẬN VÀ SỬ DỤNG CÁC DỊCH VỤ CSSK CỦA NỮ CÔNG NHÂN NHẬP CƯ 54

3.1 Tình trạng hôn nhân gia đình 54

3.2 Thời gian làm việc 57

3.3 Độ tuổi 60

3.4 Đặc điểm về CSVC phục vụ khám chữa bệnh 62

3.5 Các chính sách công ty 64

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 68

1 Nhận định đánh giá 68

2 Đề xuất khuyến nghị 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Một số ch tiêu văn hóa – xã hội của t nh Bình Dương

giai đoạn 2010-2020 21

Bảng 1.2 Thống kê số lượng cơ sở y tế trên địa bàn t nh Bình Dương 25

Bảng 2.1: Độ tuổi nữ công nhân nhập cư 29

Bảng 2.2: Vùng miền của nữ công nhân nhập cư 29

Bảng 2.3: Tình trạng hôn nhân 30

Bảng 2.4: Tình trạng nhà ở của nữ công nhân nhập cư 31

Bảng2.5 Diện tích nhà ở của nữ công nhân nhập cư 32

Bảng 2.6 Tình trạng thu nhập của nữ công nhân nhập cư 34

Bảng 2.7 Mỗi quan hệ giữa thu nhập và mức độ thường xuyên đi khám bệnh định kỳ 35

Bảng 2.8 Mức độ thường xuyên đi khám bệnh của nữ công nhân nhập cư 36

Bảng 2.9 Mỗi quan hệ giữa sức khỏe và mức độ thường xuyên đi khám bệnh trong 12 tháng qua của nữ công nhân nhập cư 36

Bảng 2.10 Mức độ thường xuyên khám bệnh định kỳ của nữ CNNC 37

Bảng 2.11 Thực trạng chữa bệnh trong 12 tháng qua của NCNNC 38

Bảng 2.12 Thực trạng sử dụng bảo hiểm y tế của nữ công nhân nhập cư 39

Bảng 2.13 Hình thức đi khám đình kỳ của nữ công nhân nhập cư 41

Bảng 2.14 Nơi đi khám định kỳ của nữ công nhân nhập cư 42

Bảng 2.15 Nơi chữa bệnh của nữ công nhân nhập cư 43

Bảng 2.16 Nhận thức của nữ công nhân nhập cư trong việc để khám chữa bệnh định kỳ 45

Bảng 2.17 Môi quan hệ của độ đi khám định kỳ với sự hài lòng của nữ công nhân nhập cư đối với thái độ phục vụ của NVYT 47

Bảng 2.18 Đánh giá về việc chăm lo sức khỏe cho nữ công nhân nhập cư tại Khu công nghiệp VSIP 2 51

Bảng 3.1.Mỗi quan hệ giữa tình trạng hôn nhân và mức độ thường xuyên đi khám bệnh 55

Bảng 3.2 Mỗi quan hệ giữa thời gian và mức độ thường xuyên đi khám bệnh của nữ công nhân nhập cư 58

Bảng 3.3 Mỗi quan hệ giữa độ tuổi và mức độ thường xuyên đi khám bệnh của nữ công nhân nhập cư 60

Bảng 3.4 Ảnh hưởng của CSVC y tế tới việc CSSK của nữ công nhân nhập cư 62

Bảng 3.5 Mỗi quan hệgiữa chính sách công ty đến việc tiếp cận, sử dụng dịch vụ CSSK 65

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Tình trạng sức khỏe của nữ công nhân nhập cư 35Biểu đồ 2.2 Mức độ hài lòng của nữ công nhân về thái độ phục vụcủa NVYT 46 Biểu đồ 2.3 Mức độ hài lòng về CSVC phục vụ khám bệnh và chữa bệnh 49

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sức khỏe là một trong những yếu tố hết sức quan trọng của mỗi con người, như ông cha ta đã từng có câu “Có sức khỏe là có tất cả” điều này

để chúng ta thấy rằng sức khỏe là vấn đề cần được bảo vê, chăm sóc thường xuyên, và có tính định kỳ, đặc biệt là đối với lực lượng nữ công nhân đang làm việc trong các khu công nghiệp và khu chế xuất, họ đang là những người góp phần quan trọng cho tương lai phát triển của đất nước, quốc gia và dân tộc

Những năm gần đây, tốc độ phát triển kinh tế ngày càng cao, nhiều khu công nghiệp mọc lên ở hầu hết các t nh, thành ở nước ta đã thu hút một lực lượng lớn nữ công nhân làm việc tại đây Theo Tổng cục thống kê nữ giới chiếm 49,65% lực lượng lao động, ba ngành nghề tập trung nhiều lao động

nữ là dệt may, da giầy và chế biến thực phẩm (Dệt 75%; Da giầy 85%; Chế biến thuỷ sản 85%; Giáo dục 70%; Y tế 63%)

Đối với nữ công nhân nhập cư hiện nay, đa phần có tuổi đời khá trẻ (từ 18- 40 tuổi chiếm 97.9%), trình độ chuyên môn, kỹ thuật còn hạn chế và phải

thuê nhà trọ (theo kết quả đề tài nghiên cứu “Thực trạng mức sống của lao động nữ nhập cư tại các khu công nghiệp, khu chế xuất hiện nay” do Ban Nữ

công Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phối hợp cùng tổ chức ActionAid Việt Nam thực hiện)

Hầu hết nữ công nhân nhập cư đang phải lao động trong môi trường chưa đảm bảo, họ thường xuyên phải tiếp xúc với các yếu tố tác hại nghề nghiệp như: tiếng ồn, bụi, nhiệt độ cao, hóa chất… trong môi trường sản xuất

Họ phải tăng ca thường xuyên, và phải làm việc liên tục trong nhiều giờ, trong khi đó điều kiện sinh hoạt tập trung của họ cũng không được đầy đủ Những người công nhân nữ thường phải sống tại các phòng trọ chật chội, điều kiện sinh hoạt thiếu thốn, thiếu nước sạch, điều kiện công trình vệ sinh không

Trang 10

2

đảm bảo, các bữa ăn không đảm bảo dinh dưỡng, thiếu các điều kiện thông tin truyền thông tối thiểu điều này làm ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của nữ công nhân Mặc dù nữ công nhân có nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến nghề nghiệp rất cao, nhưng do điều kiện sống của họ còn quá nhiều hạn chế, nên việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe của nữ công nhân chưa thật sự đảm bảo

Bình Dương là một trong những t nh tập trung nhiều khu công nghiệp lớn, hiện nay toàn t nh có khoảng 28 khu công nghiệp được xây dựng trên tổng diện tích 8.751 ha, hiện có 24 khu công nghiệp,Khu công nghiệp VSIP, Khu công nghiệp Đại Đăng…thu hút một lực lượng công nhân nhập cư lớn tính đến cuối năm 2011, tại Bình Dương có khoảng 718.000 công nhân làm việc, trong đó lao động nữ chiếm gần 70% và lao động ngoài t nh chiếm khoảng 85% Với lực lượng nữ công nhân nhập cư đông như vậy đã đặt ra nhiều vấn đề nhằm đảm bảo đời sống cho họ, trong đó có vấn đề chăm sóc sức khỏe

Trong bối cảnh như vậy, tác giả đã quyết định chọn vấn đề “ Tiếp cận

và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của nữ công nhân nhập cư và các yếu tố ảnh hưởng” (Nghiên cứu trường hợp tại Khu công nghiệp VSIP II,

Thành phố Thủ Dầu Một, t nh Bình Dương) làm luận văn cao học cho khóa học của mình

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

2.1 Vấn đề về dịch vụ chăm sóc sức khỏe của Việt Nam hiện nay

Chăm sóc sức khỏe đang là vấn đề cần được quan tâm hàng đầu, không

ch đối với công nhân nói chung và đối với nữ công nhân nhập cư nói riêng

Đã có nhiều đề tài, các công trình nghiên cứu, các cuộc khảo sát liên quan đến vấn đề về dịch vụ chăm sóc sức khỏe của Việt Nam hiện nay, trong đó nổi bật lên một số công trình như:

Trang 11

y tế và các ngành có liên xây dựng chính sách, nhằm đạt được các mục tiêu y

tế đã đặt ra Mẫu điều tra được chọn trên phạm vi 61 t nh/thành, phân bổ cả ở thành thị, nông thôn, ven biển, miền núi, bao gồm 36.000 hộ gia đình trong 1.200 xã/phường, 1.195 phòng khám đa khoa khu vực hoặc Trạm Y tế xã, 1.171 nhân viên y tế thôn bản và 1.489 thầy thuốc tư nhân

Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá chất lượng dịch vụ y tế công, thực hiện công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu tại trạm y tế xã/phường và phân tích các yếu tố ảnh hưởng nhằm cung cấp thông tin cho các nhà lập chính sách để nâng cao chất lượng dịch vụ y tế trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Điều tra sử dụng phương pháp định lượng, thu thập số liệu qua các bảng kiểm trạm y tế, theo các tiêu chí quy định chuẩn của Trạm y tế do Bộ y

tế ban hành Kết hợp với định tính được thể hiện qua các bảng khảo sát cán bộ

y tế cơ sở, dân địa phương nhiều câu hỏi mở, để người được khảo sát đưa những ý kiến, nhận định vấn đề

“Điều tra y tế quốc gia 2001-2002” đưa ra những ch số thiếu hụt về nguồn lực, cơ sở vật chất trang thiết bị và cho đó cũng là một trong những nguyên nhân giải thích cho tình trạng quá tải trong khám chữa bệnh ở các bệnh viện do hệ thống chuyển tuyến bị phá vỡ trong khi trạm y tế xã lại là cơ

sở y tế đầu tiên của hệ thống y tế tiếp cận với người dân trong cộng đồng Nghiên cứu này ch chú trọng phân tích chất lượng đầu vào của dịch vụ y tế

Trang 12

4

tại trạm y tế xã/phường theo chuẩn quốc gia Ở các tuyến khác số liệu không được thu thập đầy đủ nên không phân tích được chất lượng dịch vụ một cách toàn diện cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ tại các tuyến này Hạn chế của nghiên cứu là không trả lời được câu hỏi lý do nào khiến người dân không hài lòng với các dịch vụ y tế mà họ nhận được, do thông tin này không được thu thập trong cuộc điều tra

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Sơn “ Đánh giá mức độ hài lòng

về dịch vụ y tế cơ sở tại huyện Bình Chánh năm 2006”[2]

Nghiên cứu này là đánh giá mức độ hài lòng của người dân địa phương

về dịch vụ y tế công trạm y tế qua thái độ phục vụ của viên chức tại trạm y tế Tác giả sử dụng phương pháp định lượng kết hợp định tính trong khảo sát bằng bảng hỏi đối người dân tại 16 xã thuộc huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh Nội dung là đánh giá tình hình tiếp cận các chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu của người dân huyện Bình Chánh, và mức độ hài lòng của người dân đối với dịch vụ y tế công tại địa phương Kết quả nghiên cứu trên 1.470 người dân về dịch vụ y tế công tại trạm y tế cho thấy: bình quân đánh giá sự hài lòng trên số mẫu đạt 53,46%, ch số người dân khi có nhu cầu cần đến trạm y tế 55%

Theo kết quả nghiên cứu thì nhu cầu người dân đối với trạm y tế luôn

có, mặc dù sự hài lòng không đạt bằng ch số nhu cầu Ch số mong đợi của người dân được phục vụ tốt khi đến trạm y tế chiếm 54,1% trên tổng số mẫu, trong khi đó ch số kiến nghị trang bị thêm các máy móc trang thiết bị cho trạm chiếm 44,8% Trong đó phần nào đã đưa ra được nguyên vọng của người dân được đối xử, phục vụ đúng như những tiêu chí ngành y tế Bên cạnh đó phải được trang bị những máy móc trang bị tối thiểu đáp ứng được nhu cầu thông thường của người dân

Kết quả nghiên cứu không có số liệu, giải thích nơi cung cấp dịch vụ, nên trong phần kết luận tác giả chưa đưa được lý do tại sao người dân trông

Trang 13

5

chờ vào dịch vụ y tế cơ sở, nhưng không tiếp cận, lại tiếp tục đến với bệnh viện huyện, bệnh viện thành phố với nhu cầu đơn giản, trạm y tế có thể giải quyết được

Nghiên cứu của tác giả Lê Văn Gắt “Đánh giá kết quả hoạt động chăm sóc sức khỏe ban đầu của các trạm y tế xã huyện Bình Chánh thành phố Hồ Chí Minh năm 2007”[2]

Tác giả đã nghiên cứu toàn bộ hiện trạng của trạm y tế về cơ sở vật chất, trang thiết bị, nguồn lực, thuốc thiết yếu, kiến thức cán bộ y tế về các chương trình chăm sức khỏe ban đầu, mức độ tiếp cận của người dân địa phương đối với các chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu theo kiến thức, thái độ, hành vi Nguồn số liệu của tác giả thu thập dựa vào nội dung bảng điểm, tiêu chuẩn đánh giá trạm y tế của Bộ y tế qua kiểm tra năm 2007 Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang cùng với phương pháp định tính và định lượng

Kết quả nghiên cứu, tác giả đã chứng minh được sự tác động của nguồn lực, đối với việc khám chữa bệnh của người dân địa phương, qua các ch số mối liên hệ giữa nguồn lực với khám chữa bệnh, tác giả cho rằng ch số “số lượng cán bộ y tế cơ sở /1000 dân có mối tương quan chặt chẽ trong việc khám chữa bệnh ban đầu của người dân địa phương”

Nghiên cứu đã cung cấp nguồn số liệu thực tế về hiện trạng của trạm y

tế, cơ sở ban đầu cho việc đánh giá thực trạng của nơi cung cấp dịch vụ Tác giả cũng đã nghiên cứu mức độ tiếp cận của người dân địa phương theo kiến thức, thái độ, hành vi đưa ra được những giải thích cụ thể rõ ràng các yếu tố tác động của nơi cung cấp dịch vụ với người tiếp cận dịch vụ Nghiên cứu tác giả cũng ch ra số lượng cán bộ y tế của trạm y tế là một trong những yếu tố chính tác động đến việc cung cấp dịch vụ

Trang 14

6

2.2 Chăm sóc sức khỏe cho người nhập cư

Theo “Báo cáo Dân số và phát triển Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới 2011-2020” của UNFPA (2009), người di cư cho biết họ vẫn gặp

khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế, hay giáo dục cho con em họ Việc đăng ký tạm trú chính thức ở nơi ở mới là không phải dễ dàng và điều này đã gây nên những khó khăn nhất định trong việc tiếp cận các chế độ an sinh xã hội, cũng như các dịch vụ xã hội y tế, giáo dục tại địa phương cư trú Ngoài ra, một vấn đề liên quan khác là người nhập cư là phụ nữ trẻ, chưa lập gia đình thường có ít kiến thức về sức khỏe sinh sản

Theo nghiên cứu của UNFPA về “Tận dụng cơ hội dân số “vàng” ở Việt Nam: Cơ hội, thách thức và các gợi ý chính sách” cho thấy, chuyển dịch

lao động thông qua di cư, đặc biệt là lao động trẻ tuổi, sẽ tạo động lực phát triển kinh tế, góp phần giảm nghèo nhanh Lao động di cư trong thanh niên tăng lên nhanh, những chính sách lao động, việc làm và các dịch vụ xã hội liên quan, còn nhiều bất cập Khả năng tiếp cận các dịch vụ an sinh xã hội của nhóm lao động di cư còn rất thấp, khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế của các nhóm dân số khác nhau, trong đó người nghèo, người dân tộc thiểu số và người di cư ít có khả năng tiếp cận hơn

Báo cáo “Di cư trong nước và Phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam: Kêu gọi hành động” của UNDP (2010) nhận thấy hệ thống đăng ký hộ khẩu

ở Việt Nam đã ảnh hưởng đến sự tiếp cận của người di cư tới các dịch vụ cơ bản và các dịch vụ hỗ trợ đặc biệt của Chính phủ Các dịch vụ do Chính phủ cung cấp chẳng hạn như các dịch vụ y tế (bao gồm cả sức khỏe sinh sản, giáo dục, chăm sóc và điều trị HIV) và tiếp cận với các dịch vụ xóa đói giảm nghèo đều gắn chặt với hệ thống đăng ký hộ khẩu Người dân di cư không bị hạn chế về mặt luật pháp trong việc tiếp cận một số dịch vụ nhưng trên thực tế

họ thường phải chịu những hạn chế này

Trang 15

7

Chẳng hạn rất nhiều người dân di cư không đăng ký hộ khẩu làm việc trong khu vực phi chính thức và sống trong các ngôi nhà không an toàn và không hợp vệ sinh và chính những điều đó khiến họ dễ gặp rủi ro hơn về sức khỏe Trongbối cảnh khi mà các chi phí sinh hoạt tại thành thị ngày càng tăng

mà mức tăng lương lại không tương đương với mức tăng giá, thì việc thiếu các dịch vụ hỗ trợ xã hội cho người dân di cư tại thành thị sẽ là vấn đề đặc biệt đáng báo động

Theo báo cáo “Theo dõi nghèo đô thị theo phương pháp cùng tham gia, báo cáo tổng hợp 5 năm” của Oxfam và AAV (2012), hạn chế về y tế là bất lợi chung của người nghèo, đặc biệt là người nghèo nhập cư Tình trạng quá tải tuyến y tế xã/phường vẫn tiếp tục xảy ra, nên một số trẻ em nhập cư không được hưởng đầy đủ dịch vụ Một số trẻ em nhập cư phải về quê tiêm chủng hoặc tiêm theo dịch vụ do cha mẹ chưa biết thông tin về thủ tục đăng

ký tiêm chủng tại phường cho trẻ, do trạm y tế thiếu vắcxin Người nhập cư làm nghề tự do vẫn ít quan tâm đến BHYT tự nguyện Giá mua BHYT liên tục tăng nên người nhập cư phải cân nhắc với các khoản chi phí khác, hoặc

họ chưa nắm được thông tin về nơi mua

Theo bài viết “Đời sống xã hội của thanh niên nhập cư lao động phổ thông tại các cơ sở sản xuất nhỏ ở TP Hồ Chí Minh” của Phạm Thanh Thôi đăng trên Tạp chí Khoa học Trường Đại học Mở TP Hồ Chí Minh, số 5 –

2013 Cho thấy, đời sống văn hóa, giải trí và khả năng tiếp cận các dịch vụ y

tế của thanh niên nhập cư còn nghèo nàn Một khi người lao động tai nạn lao động hay bệnh tật, tất cả họ phải tự chịu trách nhiệm, chủ cơ sở có giúp chăng cũng mang tính hỗ trợ một phần Các cơ sở sản xuất chưa có chính sách hay kế hoạch gì để cải thiện vấn đề này trong chiến lược đầu tư, phát triển kinh tế của họ

Trang 16

8

Nhìn chung, những nghiên cứu về dịch vụ y tế của lao động nhập cư được đề cập ở mức độ nhất định Nhiều vấn đề liên quan đến tìm hiểu việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ này của nhóm đối tượng lao động nhập cư đối với việc tiếp cận dịch vụ y tế đang còn rải rác, chưa tập trung

2.3 Sức khỏe và việc tiếp cận, sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe của công nhân hiện nay tại các khu công nghiệp

Sức khỏe đang là vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của công nhân nhập cư Tác giả Bùi Thế Cường trong bài viết “HIV/AIDS nơi làm việc, hiểu biết chính sách vai trò của phúc lợi doanh nghiệp”, đã mô tả thực trạng hầu hết các công nhân trong các doanh nghiệp được nghiên cứu để nghe

và biết đến HIV/AIDS, nhưng ch ở mức cơ bản, họ có vẻ dửng dưng mặc dù biết nó là một căn bệnh lây nhiễm và có thể chết Mặt khác thái độ của các nhà quản lý của doanh nghiệp không quan tâm và cũng không có chính sách

rõ ràng về căn bệnh nguy hiểm này Căn cứ vào cách tuyển dụng lao động các doanh nghiệp quốc doanh và tư nhân, loại hình công nhân thời vụ ngắn hạn, gần như không được hưởng bất kỳ quyền lợi cơ bản nào như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, khám sức khỏe định kỳ Đối với các chủ doanh nghiệp và công nhân ngắn hạn này kiểu quan hệ trên nguyên tắc chức năng, sòng phẳng Ngược lại doanh nghiệp có quy mô lớn luôn quan tâm đến công nhân có tay nghề cao,được hưởng tất cả các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, sự phân biệt này được tác giả đưa ra nhận định, phúc lợi doanh nghiệp trong thời kỳ bao cấp rất được quan tâm vì nó là hệ thống phúc lợi xã hội do nhà nước ch đạo.Chuyển qua cơ chế thị trường, các doanh nghiệp nhà nước vẫn có hệ thống phúc lợi xã hội khá tốt, nhất là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Còn các công ty tư nhân trong loại hình kinh doanh vừa và nhỏ trong mẫu khảo khôngmấy quan tâm nhiều chế độ phúc lợi xã hội cho công nhân

Trang 17

9

Theo điều tra của Viện YHLĐ & VSMT về thực trạng cung cấp dịch vụ

y tế lao động cơ bản(DVYTLĐCB) ở Việt Nam cho thấy nhân lực cung cấp DVYTLĐCB tại các tuyến về cơ bản còn thiếu và chưa được đào tạo đầy đủ

về lĩnh vực an toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ) để đáp ứng được các công tác chuyên môn Tình trạng trang thiết bị quá thiếu ở hầu hết các lĩnh vực và ở hầu hết các tuyến, đặc biệt là ở tuyến huyện Năng lực cung cấp DV YTLĐCB của các tuyến còn yếu và hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu của

xã hội Hầu hết các dịch vụ đo hơi khí độc và bụi mới ch được thực hiện ở các đơn vị tuyến t nh và Bộ/Ngành, tại tuyến nàyđộ bao phủ của cung cấp DV YTLĐCB từ 2,3-13% tùy theo nội dung Đối với tuyến Quận/Huyện, việc cung cấp DVYTLĐCB còn rất hạn chế Điều này cho thấy năng lực cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho công nhân đang gặp nhiều khó khăn và độ bao phủ còn rất thấp Với tình trạng phát triển nhanh số lượng công nhân nữ ở một

số ngành chính ở các khu công nghiệp thì gánh nặng chăm sóc sức khỏe cho

Công trình vào năm 2000 của Hà Thị Phương Tiến và Hà Quang Ngọc

đã cho xuất bản cuốn sách “Lao động nữ di cư tự do nông thôn – thành thị” Đây là công trình nghiên cứu về lao động nữ di cư tự do được tiến hành ở ba thành phố lớn đó là: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Mình và Đà Nẵng và một số địa phương khác trong cả nước, cuốn sách đã cung cấp cho người đọc một bức tranh khá toàn diện về thực trạng cuộc sống của lao động nữ di cư tự do

từ nông thôn ra thành thị

Trang 18

10

Cụ thể tác giả đi sâu vào phân tích nguyên nhân lao đông nữ di cư vào

đô thị, điều kiện sống ở nơi nhập cư, quan hệ xã hội và tình trạng sức khỏe Đồng thời tác giả phân tích sâu những ảnh hưởng tích cực của di dân tự

do đối với nơi xuất cư và nhập cư, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp, kiến nghị cho vấn đề này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe của nữ công nhân nhập cư trên địa bàn Khu công nghiệp VSIP 2 (Thủ Dầu Một, Bình Dương) Từ đó tìm ra những giải pháp hỗ trợ cho nữ công nhân nhập cư có được những điều kiện thuận lợi hơn trong tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Xuất phát từ mục đích nghiên cứu trên, những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể cho đề tài là:

+ Thứ nhất: Tìm hiểu thực trạng, nhận thức về vấn đề chăm sóc sức khỏe cho công nhân nói chung và nữ công nhân nói riêng hiện nay;

+ Thứ hai: Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe của nữ công nhân trên địa bàn được khảo sát + Thứ ba: Đề xuất một số giải pháp nhằm giúp các cơ quan chức năng có những biện pháp hỗ trợ nữ công nhân trong tiếp cận và sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho họ

Trang 19

11

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Tiếp cận và sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe của nữ công nhân nhập cư, và các yếu tố ảnh hưởng, Khu công nghiệp VSIP 2, Thủ Dầu Một, Bình Dương

4.2 Phạm vi nghiên cứu

4.2.1 Về nội dung

Thực trạng sức khỏe, nhận thức của nữ công nhân nhập cư về sức khỏe, CSSK và các yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe

Sức khỏe là một khái niệm rộng bao gồm: thể chất, tinh thần và xã hội, trong điều kiện cho phép về mặt thời gian của luận văn, trong khả năng, tác giả ch đi sâu nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe về mặt thể chất của nữ công nhân nhập cư

4.2.2 Về khách thể nghiên cứu

Nữ công nhân nhập cư (trong độ tuổi từ 18 đến 55 tuổi) Theo luật lao động của nước ta hiện nay thì 18 tuổi mới đủ tuổi lao động, và được lao động trong các nhà máy, xí nghiệp

4.2.3 Về không gian nghiên cứu

Khu công nghiệp VSIP 2 – Thủ Dầu Một, Bình Dương

4.2.4 Thời gian nghiên cứu

Đề tài được tiến hành trong khoảng thời gian từ tháng 1 năm 2016 đến tháng 7 năm 2016

Trang 20

12

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Câu hỏi nghiên cứu

Xuất phát từ mục đích và mục tiêu nghiên cứu của đề tài, tác giả đưa ra một số câu hỏi nghiên cứu như sau:

+ Thứ nhất: Nhận thức về sức khỏe và bảo vệ sức khỏe của lao động nữ trong các doanh nghiệp hiện nay có ảnh hưởng như thế nào tới việc tiếp cận

và sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho họ?

+ Thứ hai: Chất lượng của hệ thống các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho công nhân nói chung, và nữ công nhân nói riêng,trên địa bàn t nh Bình Dương hiện nay, có tác động như thế nào tới việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe?

+ Thứ ba: Ý thức bảo vệ sức khỏe của nữ công nhân nói chung, và đặc biệt là nữ công nhân nhập cư hiện nay như thế nào?

5.2 Giả thuyết nghiên cứu

Từ những câu hỏi nêu trên thì giả thuyết nghiên cứu được đặt ra ở đây là: + Thứ nhất: Vì lý do lợi nhuận, hầu hết các công ty trên địa bàn khu công nghiệp VSIP 2, Bình Dương chưa quan tâm nhiều đến việc bảo vệ và chăm sóc sức khỏe lao động nữ nhập cư

+ Thứ hai: Hệ thống dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho nữ công nhân hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu khám và chữa bệnh cho nữ công nhân, trong Khu công nghiệp VSIP 2, Bình Dương

+ Thứ ba: Ý thức bảo vệ và chăm sóc sức khỏe của nữ công nhân nhập

cư còn thấp, còn xem nhẹ vấn đề bảo vệ và chăm sóc sức khỏe của chính bản thân họ

Trang 21

13

5.3 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài này tác giả sử dụng cả hai phương pháp điển hình trong nghiên cứu Xã hội hoc, cụ thể như sau:

+ Phương pháp nghiên cứu định tính:Tìm hiểu và sử dụng các tài liệu thứ cấp như sách,báo, các tạp chí xã hội học lên quan, các công trình nghiên cứu…, từ đó rút ra những thông tin liên quan để làm dẫn chứng cho đề tài của mình Cùng với đó là phương pháp quan sát, phương pháp phỏng vấn sâu để thu thập những thông tin một cách sâu các khía cạnh, các yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe của nữ công nhân nhập để có cái nhìn sâu hơn trong vấn đềnghiên cứu

Đề tài thực hiện 6 cuộc phỏng vấn sâu theo các tiêu chí:

Độ tuổi: Phỏng vấn nữ công nhân nhập cư từ 18 tuổi đến 55 tuổi, đang làm việc tại các nhà máy, trong Khu công nghiệp VSIP 2

+ Phương pháp nghiên cứu định lượng: Thu thập số liệu qua bảng hỏi, mẫu thu thập thông tin định lượng là chọn mẫu thuận tiện, nhưng vẫn đảm bảo được các tiêu chí mà mục tiêu nghiên cứu của đề tài đã đề ra vàđược tiến hành theo tiêu chí sau:

Về độ tuổi: 3 nhóm tuổi được chọn làm mẫu để thu thập thông tin là, từ

18 tuổi đến 30 tuổi; từ 31 tuổi đến 40 tuổi; từ 40 tuổi đến 55 tuổi

Dung lượng mẫu: 200 nữ công nhân

Phương pháp lấy mẫu:

Là công nhân của hầu hết các công ty đóng trên địa bàn Khu công nghiệp VSIP 2 Họ sản xuất theo dây chuyền trong các nhà máy, và phải thường xuyên tiếp xúc với môi trường độc hại, nguy cơ ảnh hưởng xấu đến tình hình sức khỏe Luận văn sẽ sử dụng phương pháp lấy mẫu thuận tiện, bao

Trang 22

14

gồm các nữ công nhân đang làm việc trong các nhà máy thuộc Khu công nghiệp VSIP 2 Họ đang sinh sống xung quanh Khu công nghiệp VSIP 2, bao gồm nữ công nhân nhập cư ở trọ, ở cùng nhà người thân họ hàng, ở ký túc xá công ty, nằm trong tiêu chí chọn mẫu của đề tài

Thông tin định lượng, thu thập được từ bảng hỏi, sẽ được xử lý bằng phần mềm SPSS và hệ thống hóa theo nội dung của đề tài

5.4 Khung phân tích

Trang 23

15

6 Ýnghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận của đề tài

Kết quả nghiên cứu có thể đóng góp vào hệ thống lý luận và phương pháp luận về tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế của nữ công nhân Là một nguồn tài liệu tham khảo cho các đề tài, các nghiên cứu có cùng chủ đề

Luận văn sẽ thử nghiệm vận dụng một số lý thuyết xã hội học vào nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho nữ công nhân Khu công nghiệp, qua đó có được những kiến thức mới về vận dụng lý thuyết vào thực tế

6.2 Ý ngĩa thực tiễn của đề tài

Thông qua nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe; hiểu biết rõ hơn về những thuận lợi cũng như những khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe của nữ công nhân; từ đó xây dựng một số ý kiến mang tính khuyến nghị để các nhà hoạch định chính sách tham khảo trong việc sửa đổi, bổ sung các nội dung liên quan về vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người dân nói chung và nữ công nhân nói riêng, nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng của các dịch vụ chăm sóc sức khỏe của hệ thống y tế

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Khuyến nghị, nội dung luận văn gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu đề tài

Chương 2: Thực trạng sức khỏe, nhu cầu tiếp cận và sử dụng dịch vụ CSSK của nữ công nhân nhập cư

Chương 3: Những yếu tố tác động đến việc tiếp cận và sử dụng các dịch

vụ CSSK của nữ công nhân nhập cư

Trang 24

16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

1.1 Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài

1.1.1 Khái niệm công nhân nhậpcư

Công nhân nhập cư là những người hiện đang làm việc tại các nhà máy,

xí nghiệp ở các đô thị, các trung tâm công nghiệp Công nhân nhập cư hay còn gọi là người di cư xuất thân từ nhiều tầng lớp, nghề nghiệp, lứa tuổi khác nhau, nhưng có một đặc điểm chung là xuất thân từ các vùng nông thôn hay các t nh thành khác đến thành phố tìm kiếm việc làm Họ di dân tự do từ các vùng nông thôn ra thành phố một cách tự do hay có tổ chức

Công nhân nhập cư tiến hành nghiên cứu trong đề tài này là công nhân

nữ di cư tự do và đang làm việc trong các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hay các công ty tư nhân, đa số có trình độ học vấn không cao, trình độ chuyên môn thấp và có thu nhập thấp

Người nhập cư nói chung và nữ công nhân nhập cư nói riêng hiện nay

có rất nhiều cách hiểu khác nhau, và chưa đi đến một sự thống nhất trong cách hiểu có người thì cho rằng người nhập cư là người từ nơi khác chuyển đến cho dù có hộ khẩu, hay không có hộ khẩu Nhưng cũng có quan điểm cho rằng người nhập cư là người từ nơi khác chuyển đến nhưng không có hộ khẩu thường trú Ngoài ra việc xác định khoảng thời gian có hộ khẩu bao lâu thì được gọi là người nhập cư thì hiện nay vẫn chưa được thống nhất

Trong phạm vi của luận văn, chúng tôi ch tìm hiểu nữ công nhân nhập

cư là người di chuyển từ nơi khác tới làm công nhân tại Khu công nghiệp VSIP 2, và không có hộ khẩu thường trú

Trang 25

17

1.1.2 Khái niệm tiếp cận

Tiếp cận là từng bước, hoặc bằng những phương pháp nhất định tìm hiểu một đối tượng nào đó [11, tr953] Cơ hội tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khỏe là những điều kiện thuận lợi gặp được giúp cá nhân trong xã hội có thể sử dụng các dịch vụ tại các CSYT và các chương trình chăm sóc SK Trong phạm vi của luận văn, tác giả sự dụng từ tiếp cận ở đây nhằm để ch việc họ có thể sử dụng dịch vụ nếu như họ muốn

1.1.3 Khái niệm sức khỏe và chăm sóc sức khỏe

Theo định nghĩa của Tổ chức y tế thế giới, sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái của con người về thể chất, tâm thần và xã hội chứ không phải là bệnh tật Việc chăm sóc sức khỏe không những mang lại hạnh phúc cho mỗi người mà còn vì sự hưng thịnh của một xã hội Do đó chăm sóc bảo

vệ sức khỏe trước hết là trách nhiệm của một cá nhân, mỗi gia đình và cũng là nhiệm vụ chung của cộng đồng [29]

1.1.4 Khái niệm dịch vụ chăm sóc sức khỏe

Trong phạm vi luận văn, khái niệm dịch vụ chăm sóc sức khỏe được hiểu là các dịch vụ y tế, bao gồm các dịch vụ như: khám bệnh và chữa bệnh… nhằm đảm bảo cho con người có được một trạng thái hoàn toàn khỏe mạnh, thoải mái về thể chất và xã hội

1.2 Cách tiếp cận chính trong nghiên cứu đề tài

1.2.1 Lý thuyết lựa chọn hợp lý

Thuyết lựa chọn hợp lý cho rằng “Con người luôn hành động một cách

có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu nhất” [10, tr 305]

Điều này để lý giải rằng khi con người ý thức được mức độ nghiêm trọng của bệnh tật và tầm quan trọng của sức khỏe đối với bản thân họ và đối với công việc mà họ đang làm, thì họ sẽ có những tính toán, cân đong đo đếm

Trang 26

18

để đánh đổi về mặt lợi ích như thời gian, vật chất cũng như những tiềm lực

mà họ có để tiếp cận và chăm sóc sức khỏe tốt hơn Còn nếu ngược lại họ chủ quan và xem nhẹ về vấn đề sức khỏe đối với bản thân và công việc họ đang làm, thì họ sẽ ít chú trọng hơn đến vấn đề sức khỏe của họ

Lý thuyết lựa chọn hợp lý còn cho rằng hành động có mục đích của cá nhân hướng tới một mục tiêu và do đó cả hành động định hình bởi các giá trị hay các sở thích, cá nhân lựa chọn các hành động đó sẽ tối đa hóa các lợi ích hoặc sự thỏa mãn các nhu cầu và mong muốn của họ để giải thích và chứng minh cho tần suất tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe của nữ công nhân nhập

cư Khi có nhu cầu về chăm sóc sức khỏe, nữ giới sẽ có những lựa chọn nơi tiếp cận mà họ thỏa mãn về mặt vật chất và tinh thần “Sự lựa chọn ch hợp lý dựa trên cơ sở đánh giá các yếu tố, điều kiện khách quan của hành động từ phía bản thân chủ thể, từ góc độ chủ quan của người ra quyết định” [10, tr 317]

Khi ra quyết định tiếp cận và sử dụng dịch vụ, thì họ sẽ cân nhắc xem CSYT nào được đánh giá cao hơn giá cả dịch vụ so với điều kiện kinh tế bản thân, thì khả năng lựa chọn CSYT đó càng nhiều hơn

Khi chọn nữ công nhân nhập cư lựa chọn dịch vụ tại một CSYT nào đó thì họ cảm thấy yên tâm và cho rằng sự lựa chọn của mình là đúng, cái đúng

đó phù hợp theo suy nghĩ của cá nhân thực hiện hành vi vậy việc thỏa mãn nó

ch phù hợp với cá nhân này còn cá nhân khác thì không

Như vậy với lý thuyết này, tác giả sử dụng trong đề tài để giải thích lý

do vì sao nữ công nhân nhập cư lại sử dụng hoặc không sử dụng dịch vụ CSSK Quyết định tiếp cận và sử dụng dịch vụ CSSK là một quyết định cá nhân, là sự lựa chọn hợp lý dựa trên cơ sở cân nhắc các chi phí và lợi ích đạt được, các lựa chọn này được điều kiện hóa bởi các yếu tố khác quan và các yếu tố chủ quan mà họ đang có

Trang 27

19

1.2.2 Tiếp cận lý thuyết nhu cầu của Maslow

Thuyết nhu cầu của A Maslow là thuyết đạt tới đ nh cao của việc nhận dạng các nhu cầu tự nhiên của con người nói chung Theo thuyết A Maslow, nhu cầu tự nhiên của con người được chia thành các thang bậc khác nhau từ

“đáy” lên tới “đ nh”, phản ánh mức độ “cơ bản” của nó đối với sự tồn tại và phát triển của con người vừa là một sinh vật của tự nhiên, vừa là một thực thể của xã hội

Học thuyết của ông được dựa trên những con người khỏe mạnh, sáng tạo, những người sử dụng tất cả tài năng, tiềm năng và năng lực trong công việc Vào thời điểm đó, phương pháp này khác biệt với các công trình nghiên cứu tâm lý con người khác được dựa trên việc quan sát con người bị chi phối bởi các phiền muộn là chủ yếu Có 2 nhóm nhu cầu chính của con người: Nhu cầu

cơ bản (basic needs) và nhu cầu bậc cao (meta needs)

Cấu trúc tháp nhu cầu của Maslow có 5 tầng, trong đó những nhu cầu của con người được liệt kê theo một trật tự thứ bậc hình tháp, kiểu kim tự tháp, những nhu cầu cơ bản ở phía đáy tháp phải được thỏa mãn trước khi nghĩ đến các nhu cầu cao hơn Các nhu cầu bậc cao sẽ nảy sinh và mong muốn được thỏa mãn ngày càng mãnh liệt khi tất cả các nhu cầu cơ bản ở dưới (phía dưới đáy tháp) đã được đáp ứng đầy đủ

5 thang bậc trong tháp nhu cầu của Maslow:

Thang bậc nhất: Bao gồm toàn bộ những nhu cầu căn bản nhất thuộc “thể

lý như thức ăn, nước uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, ngh ngơi… Thang bậc hai: Nhu cầu an toàn, cần có cảm giác yên tâm về an toàn thân thể, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo

Thang bậc thứ ba: Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc Muốn được trong một cộng đồng nào đó, muốn gia đình yên ấm, bạn bè thân hữu tin cậy

Thang bậc thứ tư: Nhu cầu được quý trọng, kính mến, cần phải có cảm giác được tôn trọng, kính mến, được tin tưởng

Trang 28

20

Thang bậc thứ năm: Nhu cầu được thể hiện bản thân, muốn sáng tạo, được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình, có được và được công nhận là thành đạt

Với lý thuyết nhu cầu,đề tài sử dụng nhằm giải thích CSSK là nhu cầu cơ bản của mỗi công nhân, đặc biệt đối với nữ công nhân nhập cư thì nhu cầu này là hết sức cần thiết, sau khi chọn các cơ sở CSSK, nữ công nhân nhập cư bắt đầu xem xét đến thực tế sức khỏe của bản thân mình, thông qua đó họ xem xét nhu cầu của họ trong việc CSSK, từ đó đưa ra quyết định chọn cơ sở CSSK, phù hợp với tình trạng sức khỏe của mỗi cá nhân, qua đóđưa ra những chọn lựa cơ sở y tế, CSSK cho bản thân, phù hợp với tình hình sức khỏe cũng như khả năng của mình

1.3 Sơ lƣợc về địa bàn nghiên cứu và đặc điểm mẫu nghiên cứu

1.3.1 Sơ lược về địa bàn nghiên cứu

Bình Dương là t nh thuộc miền Đông Nam bộ, nằm trongVùng kinh tế trọng điểm phía Nam Phía Đông giáp t nh Đồng Nai, phía Bắc giáp t nh Bình Phước, phía Tây giáp t nh Tây Ninh và một phần thành phố Hồ Chí Minh, phía Nam giáp thành phố Hồ Chí Minh và một phần t nh Đồng Nai Bình Dương có diện tích tự nhiên là 2.694,43 km2 (chiếm khoảng 0,83% diện tích

cả nước, khoảng 12% diện tích miền Đông Nam Bộ); dân số 1.802.500 người (Tổng cục Thống kê – tháng 10/2014); 09 đơn vị hành chính cấp huyện (gồm: thành phố Thủ Dầu Một, thị xã Dĩ An, thị xã Thuận An, thị xã Bến Cát, thị xã Tân Uyên và các huyện Bàu Bàng, Bắc Tân Uyên, Dầu Tiếng, Phú Giáo) và

tư, quản lý sản xuất và bảo vệ môi trường như KCN VSIP 1, 2, KCN Mỹ Phước, KCN Đồng An, … Bằng những chính sách phù hợp, đến tháng 10

Trang 29

21

năm 2014, Bình Dương đã thu hút được 2.356 dự án đầu tư nước ngoài với số

vốn là 20 tỷ 200 triệu đô la Mỹ, trên 17.000 doanh nghiệp trong nước Nhiều

khu đô thị và dân cư mới văn minh, hiện đại được hình thành, trong đó tiêu

biểu nhất là thành phố mới Bình Dương với điểm nhấn là Trung tâm hành

chính tập trung của t nh đã chính thức đi vào hoạt động từ ngày 20/02/2014

Không ch ấn tượng bởi kinh tế phát triển, năng động, Bình Dương xưa

và nay còn được biết đến với bề dày lịch sử, văn hóa phát triển rất phong phú

Tính đến nay, t nh Bình Dương có 11 di tích lịch sử, văn hóa được công nhận

cấp quốc gia, 39 di tích lịch sử, văn hóa được công nhận cấp t nh Bình

Dương cũng tạo dấu ấn với các sản phẩm thủ công được chế tác từ những

làng nghề nổi tiếng có từ hơn 300 năm

Bình Dương luôn là vùng đất của hội tụ Thế và lực của Bình Dương

hôm nay là kết quả phấn đấu kiên cường, năng động của thời kỳ công nghiệp

hóa, hiện đại hóa

ảng 1.1: Một số chỉ tiêu văn hóa – xã hội của tỉnh ình Dương

Trang 30

22

Khu công nghiệp VSIP 2

VSIP 2 được coi là một biểu tượng cho sự hợp tác giữa 2 Chính phủ Việt Nam và Singapore, là một dự án hợp tác phát triển cơ sở hạ tầng thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam và tăng cường vị trí toàn cầu của khu vực như là một địa điểm đầu tư lý tưởng, bền vững Sau 10 năm đi vào hoạt động, được đánh giá là một KCN thành công nhất tại Việt Nam, Công ty Liên doanh TNHH VSIP 2, chủ đầu tư dự án, đã tiếp tục triển khai VSIP 2 tại Khu liên hợp công nghiệp - dịch vụ - đô thị Bình Dương VSIP 2 có diện tích 345 ha, nằm ngay vị trí trung tâm của khu liên hợp, được xây dựng đúng theo mô hình VSIP 2, với kết cấu hạ tầng kỹ thuật hiện đại, nhằm mang lại cho các nhà đầu tư một môi trường kinh doanh đạt tiêu chuẩn quốc tế

Theo Công ty Liên doanh TNHH VSIP 2, đến nay VSIP 2 đã thu hút được 40 dự án đầu tư với tổng số vốn đạt trên 300 triệu USD, diện tích đất đã cho thuê đạt 65% trên tổng diện tích 354 ha Hiện đã có 10 quốc gia, vùng lãnh thổ đến đầu tư tại VSIP 2, trong đó Nhật Bản đang là quốc gia đứng đầu

về số vốn và dự án, kế đến là Đài Loan, Malaysia, Singapore, Hàn Quốc các nhà đầu tư trong nước cũng có 7 dự án đầu tư tại VSIP 2 Phần lớn các dự án đầu tư tại VSIP 2 tập trung vào các lĩnh vực có chiều sâu như điện tử, thiết bị

ô tô, y tế, công nghiệp hỗ trợ và thực phẩm

Khu công nghiệp VSIP 2 đang thu hút một lượng lớn công nhân và đặc biệt là nữ công nhân làm việc tại đây Hầu hết họ phải làm việc trong thời gian kéo dài (8 đến 12 tiếng) mỗi ngày, họ đến từ nhiều t nh thành khác nhau trong cả nước, phần lớn họ phải làm việc trong môi trường phải thường xuyên tiếp xúc với các loại hóa chất độc hại, có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe

Lực lượng công nhân nhập cư lớn làm việc tại đây đang đặt ra nhiều vấn đề trong việc bảo đảm an ninh, môi trường sống và đặc biệt là vấn đề chăm sóc sức khỏe cho công nhân đối với mỗi công ty, cũng như đối với các

cơ quan, tổ chức liên quan

Trang 31

23

1.3.2 Khái quát về thực trạng tình hình chăm sóc sức sức khỏe

1.3.2.1 Thực trạng tình hình chăm sóc sức sức khỏe trên cả nước

Theo báo cáo đánh giá công tác vệ sinh lao động, chăm sóc sức khỏe người lao động năm 2014 và định hướng năm 2015 của Cục quản lý môi trường y tế

Khám sức khỏe định kỳ:

Trong năm 2014, các cơ sở y tế đã khám sức khỏe định kỳ cho 1.112.948 người lao động giảm 46,2% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó sức khỏe loại I là 208.402 (chiếm 18.7%), sức khỏe loại II là 430.330 (chiếm 38.7%), sức khỏe loại III là 295.085 (chiếm 26.5%), sức khỏe loại IV là 151.158 (chiếm 13.6%), sức khỏe loại V là 27.973 (chiếm 2.5%) Người lao động có sức khỏe loại IV và V có xu hướng tăng ( tăng 6.1%) so với cùng kỳ năm 2013

Như vậy chúng ta thấy tỷ lệ sức khỏe của người lao động trong năm

2013 sức khỏe yếu và rất yếu đang chiếm tỷ lệ cao, điều này đòi hỏi lực lượng lao động nói chung cần phải đi khám bệnh thường xuyên, cần phải tích cực CSSK, để nâng cao chất lượng cuộc sống của họ hơn nữa, cải thiện tình hình sức khỏe, góp phần giảm số người có sức khỏe yếu và rất yếu xuống mức thấp nhất

Trang 32

443 trường hợp trong đó có 130 trường hợp được hưởng trợ cấp một lần và

265 trường hợp được nhận trợ cấp thường xuyên Tổng số cộng dồn trường hợp mắc bệnh nghề nghiệp đến tháng 31/12/2014 là 28.274 trường hợp

Với điều kiện làm việc chưa được đảm bảo, thiếu trang thiết bị bảo hộ lao động, người lao động thường phải làm việc trong môi trường độc hại, tiếp xúc thường xuyên với các loại hóa chất, có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe như hiện nay, thì việc khám bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người lao động chưa được đảm bảo, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế, cũng như giải quyết triệt để được những vấn đề mà người lao động đang gặp phải như hiện nay

1.3.2.2 Thực trạng tình hình chăm sóc sức sức khỏe trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Hiện nay trên địa bàn t nh Bình Dương có tổng cộng 1.055 cơ sở dịch vụ

y tế lớn nhỏ Số liệu cụ thể được trình bày trong bảng dưới đây:

Trang 33

y tế

Phòng khám đa khoa/chuyên khoa/Tƣ nhân

Phòng khám đa khoa khu vực/ Trạm

y tế

Phòng mạch

Nguồn:Trung tâm Sức khỏe lao động môi trường tỉnh Bình Dương

Bệnh viện đa khoa và các đơn vị y tế trực thuộc:T nh Bình Dương

hiện có 03 bệnh viện tuyến t nh; 06 bệnh viện tuyến huyện; 02 đơn vị bệnh viện ngành; 10 bệnh viện ngoài công lập, 09 Trung tâm y tế Huyện và 11 đơn

vị y tế trực thuộc

Phòng khám đa khoa - phòng mạch tư nhân:Hiện nay trên địa bàn

t nh Bình Dương có 42 phòng khám đa khoa ngoài công lập và khoảng 891 phòng nha, phòng mạch, phòng chuẩn bị y học cổ truyền, cơ sở hành nghề y

tư nhân

Phòng khám khu vực và các trạm y tế: Đối với các đơn vị y tế xã có

10 phòng khám đa khoa khu vực và 81 trạm y tế phường xã đang hoạt động

Trang 34

26

trên địa bàn t nh Ngoài ra còn có 11 trạm y tế của nông trường cao su và một

số lượng lớn trạm y tế của các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trên địa bàn

t nh Bình Dương

Theo báo cáo sơ kết công tác 6 tháng đầu năm 2015 của Sở y tế Bình Dương,công tác khám bệnh có3.534.615 lượt người đạt 50,72% kế hoạch tăng 4,32% so với cùng kỳ; trong đó y tế ngoài công lập khám 790.618 lượt người, chiếm tỷ lệ 22,36%; số lần khám bệnh bình quân/người dân đạt 1,82 lần; điều trị nội trú 92.830 lượt người, trong đó y tế ngoài công lập 25.024 lượt người, chiếm tỷ lệ 26,95%, số lượt người bệnh nội trú/10.000 dân là 479,84; điều trị ngoại trú 120.847 lượt người

Tỷ số giường bệnh thực tế/10.000 dân (tính cả giường của Trạm y tế) đạt 25,6 giường, so với Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ t nh lần thứ IX là 27 giường Nếu tính theo Thông tư số 28/2014/TT-BYT ngày 14/8/2014 của Bộ Y

tế (không tính giường của Trạm y tế), tỷ số giường bệnh kế hoạch/10.000 dân

đạt 22,67 giường và tỷ số giường thực tế/10.000 dân là 23,1 giường

Công suất sử dụng giường bệnh (CSSDGB) trung bình: tuyến t nh đạt 87,9%, trong đó: BVPHCN đạt 101,4%, BVĐK t nh 93,8%, Bệnh viện y học

cổ truyền 68,4%; tuyến huyện 86,6%, trong đó Trung tâm y tế: Thuận An 148,2%, Phú giáo 87,7%, Dĩ an 80,7%, Bến cát 75,4%, Tân uyên 64,8% và Dầu tiếng 63%

Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng:

Các dự án, công trình do Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng t nh làm chủ đầu tư (tính đến 29/05/2015):

Đang thi công BVĐK t nh 1.500 giường; Bệnh viện Lao và bệnh phổi

đã thi công xong phần thô đơn nguyên 3; nghiệm thu hoàn thành công trình Trung tâm CSSKSS; tổ chức đấu thầu thi công, tư vấn giám sát bệnh viện chuyên khoa Tâm thần Đang lập thiết kế xây dựng mới BVPHCN và khu điều trị 300 giường khoa sản BVĐK t nh UBND t nh có Công văn số 2139/UBND-KTTH ngày 29/06/2015 v/v tạm dừng quyết định chủ trương đầu tư dự án Bệnh viện chuyên khoa nhi và Bệnh viện chuyên khoa ung

Trang 35

27

bướu; theo đó: UBND t nh sẽ cân đối và trình HĐND t nh xem xét quyết định

chủ trương đầu tư 02 dự án trên vào thời điểm thích hợp

Tình hình về trang thiết bị y tế:

Hiện nay, các đơn vị trong ngành từ t nh đến TYT cơ bản đều được đầu

tư TTBYT theo quy định, đáp ứng được yêu cầu thực hiện nhiệm vụ Trong 6

tháng đầu năm 2015, ngành Y tế xây dựng danh mục TTB đầu tư mới cho

bệnh viện chuyên khoa Tâm thần; nhiều đơn vị tiếp tục đầu tư bổ sung, thay

thế, nâng cấp TTB như: Bệnh viện đa khoa t nh, Bệnh viện Y học cổ truyền,

Bệnh viện Phục hồi chức năng, Trung tâm Y tế thị xã Bến Cát vv Tất cả

trang thiết bị đầu tư đều được Hội đồng tư vấn TTB Sở Y tế họp thông qua

Sở Y tế phối hợp với Sở Tài chính, UBND cấp huyện đã, đang điều chuyển

TTB giữa các đơn vị nhằm khai thác, tăng cường hiệu quả sử dụng như: điều

chuyển 01 máy sinh hóa bán tự động và 01 kính hiển vi từ Chi cục ATVSTP

về TTYT Bắc Tân Uyên, đang tiếp tục điều chuyển TTB giữa các đơn vị khác

theo nhu cầu

Như vậy hiện nay mặc dù t nh Bình Dương đã có những quan tâm chăm

sóc sức khỏe cho người dân, tuy nhiên trên thực tế hiện nay điều kiện cơ sở hạ

tầng vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh cho

người dân, tình trạng quá tải ở các bệnh viện tuyến t nh vẫn còn xảy ra thường

xuyên, các cơ sở y tế tuyến dưới chưa đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh

cho người dân, với tình trạng này cũng đã gây niên những khó khăn nhất định

trong quá trình CSSK cho công nhân và đặc biệt là nữ công nhân nhập cư,

trong tương lai tới, Bình Dương cần phải chú trọng nhiều hơn nữa cơ sở vật

chất và đội ngũ chuyên môn hoạt động trong lĩnh vực y tế, cho các tuyến

dưới Tăng cường vai trò hơn nữa các cơ sở y tế tuyến dưới, góp phần cải

thiện tình hình chăm sóc sức khỏe cho người dân nói chung, và đối với nữ

công nhân nhập cư nói riêng, trên địa bàn t nh Bình Dương

Trang 36

28

Chương 2

THỰC TRẠNG SỨC KHỎE, NHU CẦU TIẾP CẬN VÀ SỬ DỤNG

DỊCH VỤ CSSK CỦA NỮ CÔNG NHÂN NHẬP CƯ

Quá trình nghiên cứu, khảo sát chúng tôi nhận thấy rằng, phần lớn nữ công nhân nhập cư, trên địa bàn Khu công nghiệp VSIP 2, tuổi đời còn trẻ, chủ yếu nằm trong độ tuổi từ 19 đến 30 tuổi, họ đến từ nhiều t nh thành khác nhau trên cả nước, phần lớn họ phải thuê trọ, phải sống trong không gian nhà

ở chật hẹp

Mặc dù làm việc trong môi trường nhà máy, thường xuyên phải tiếp xúc với nhiều loại hóa chất độc hại, nguy cơ mắc bệnh cao, song trên thực tế hiện nay, việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ CSSK của nữ công nhân nhập

cư chưa được đảm bảo Phần lớn họ còn chủ quan, chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc khám và chữa bệnh theo định kỳ, hiện nay hầu hết nữ công nhân ch đi khám bệnh định kỳ theo yêu cầu của công ty, và còn mang nặng tính đối phó, họ chưa có được sự tự giác cần thiết trong việc bảo vệ sức khỏe cho bản thân mình, điều này sẽ được thể hiện rõ hơn qua các số liệu cụ thể phân tích dưới đây

2.1 Một số đặc điểmnhân khẩu xã hội của nữ công nhân nhập cư

2.1.1 Độ tuổi

Độ tuổi của 200 nữ công nhân được khảo sát, trẻ nhất là 19 tuổi và lớn tuổi nhất là 50 tuổi Nếu chia tổng số nữ công nhân của mẫu theo 5 nhóm tuổi, ta có cơ cấu độ tuổi ở Bảng 2.1 dưới đây

Chiếm tỷ lệ thấp nhất là nhóm trên 40 tuổi (1,5%), nhóm tuổi từ 36 đến

40 tuổi chiếm 3,5%, nhóm từ 31 đến 35 tuổi chiếm 6,5%

Chiếm tỷ lệ cao là nhóm tuổi trẻ, trong đó nhóm 19 - 25 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất 51,0%, và tiếp đến là nhóm 26 - 30 tuổi chiếm 37,5%

Như vậy tuổi đời của nữ công nhân còn khá trẻ, chủ yếu nằm trong độ

Trang 37

Nguồn: số liệu điều tra của đề tài

2.1.2 Đặc điểm vùng miền xuất xứ

Nữ công nhân nhập cư tại khu công nghiệp VSIP 2, đến từ nhiều t nh thành khác nhau trên cả nước.Chúng tôi đã phân nhóm nữ công nhân nhập cư theo địa bàn xuất xứ từ các t nh thành khác nhau vào 6 vùng kinh tế

Bảng 2.2 cho thấy trong số 200 người được khảo sát, thì số công nhân quê ở Đồng bằng sông Cửu Long và Bắc trung bộ chiếm tỷ lệ cao nhất

Bảng 2.2: Vùng miền của nữ công nhân nhập cƣ

Trang 38

30

Cụ thể cao nhất là Bắc trung bộ chiếm 33,5%, kế đến là vùng Đồng bằng sông cửu long chiếm 27,5%, thấp nhất là Đông nam bộ chiếm 4,5% và Tây nguyên chiếm 8%, Bắc trung bộ chiếm 8% Vùng Nam trung bộ chiếm tỷ

lệ khá đông18,5%

2.1.3 Tình trạng hôn nhân

Trong tổng số 200 nữ công nhân nhập cư thì tỷ lệ người độc thân và có gia đình gần bằng nhau, cụ thể trên bảng 2.3 tỷ lệ người đã lập gia đình chiếm 48,5%, người chưa lập gia đình là 46%, nữ công nhân nhập cư sống ly thân, và

ly hôn chiến tỷ lệ thấp ch chiếm 5,5%

Nguồn: Số liệu điều tra của đề tài

Trong số những người đã lập gia đình, và những người đã ly thân, ly hôn, số người đã sinh một con chiếm tỷ lệ cao nhất 50%, tiếp sau đó là số người đã có hai con chiếm tỷ lệ 27,8%, số người đã lập gia đình nhưng chưa

có con chiếm tỷ lệ thấp nhất 22,2%(xem bảng 1, phụ lục 1)

Với những nữ công nhân đã lập gia đình và có con, nhìn chung con của

họ chủ yếu ở nhóm tuổi từ 1 đến 10 tuổi 71,4%, nhóm tuổi 10 đến 18 tuổi chiếm 21,4%, nhóm tuổi từ 18 đến dưới 30 tuổi chiếm tỷ lệ thấp 7,1%.(xem bảng 2, phụ lục 1)

Như vậy tình trạng hôn nhân và con cái của nữ công nhân có thể là những yếu tố ảnh hưởng tới việc tiếp cận và CSSK của nữ công nhân nhập cư trên địa bàn nơi đây

Trang 39

2.1.5 Tình trạng nhà ở

Số liệu trên bảng 2.4 cho thấy, đa số (87,4%) nữ công nhân được phỏng vấn đang thuê trọ ở bên ngoài Điều này đang gây ra những khó khăn nhất định cho việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho bản thân họ và con cái 8% nữ công nhân hiện đang ở tại KTX của công ty, 5% còn lại đang ở nhà họ hàng, người thân

Nhà ở của nữ công nhân nhập cư này chủ yếu là nhà bán kiên cố xây tường, gạch (chiếm 65%), số công nhân nữ nhập cư phải sống trong các ngôi nhà tạm chiếm 1,5%, khoảng 1/3 (33,5%) công nhân được sống trong những ngôi nhà kiên cố, mái bê tông (xem bảng 4, phụ lục 1)

Bảng 2.4: Tình trạng nhà ở của nữ công nhân nhập cƣ

Nguồn: số liệu điều tra của đề tài, tại KCN VSIP 2, Bình Dương

Nhà trọ thường chật hẹp, không gian sống chật chội, và nóng nực Bảng 2.5 cho thấy 62,5% nữ công nhân sống đang sống trong nhà có diện tích sàn

Trang 40

32

từ 6m2 đến 12m2, 32% nữ công nhân sống trong diện tích nhà ở từ 13 m2 tới

25 m2và ch có 5,5% được sống trong diện tích nhà ở trên 25m2

Bảng2.5 Diện tích nhà ở của nữ công nhân nhập cƣ

Nguồn: số liệu điều tra của đề tài

Những người sống trong không gian rộng từ 20m2 trở lên chủ yếu rơi vào nhóm nữ công nhân đã lập gia đình, còn nhóm nữ công nhân độc thân thì chủ yếu sống trong những không gian nhỏ, từ 6m2 đến 12m2

Môi trường sống chật hẹp, ẩm thấp như vậy, cũng là một yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới tình trạng sức khỏe, của nữ công nhân nhập cư ở đây

2.1.6 Tình trạng thu nhập

Hầu hết nữ công nhân nhập cư phải làm việc với cường độ làm việc cao, phải làm việc trong thời gian từ 8 tiếng đến 12 tiếng mỗi ngày, nhưng trên thực tế thu nhập bình quân hàng tháng của nữ công nhân nhìn chung còn chưa cao

Bảng 2.6 cho thấy, trong tổng số 200 nữ công nhân khảo sát, phần lớn

có thu nhập hàng tháng thấp, chủ yếu nằm trong khoảng từ 3 đến 6 triệu đồng/ tháng chiếm 60%, tiếp đến nhóm nữ công nhân có thu nhập từ trên 6 triệu đến trên 9 triệu chiếm 24%, thấp nhất là nhóm có thu nhập từ 10 triệu đến 15triệu chiếm 16%

Nhìn chung mức thu nhập của nữ công nhân nhập cư không khác biệt nhau nhiều, chủ yếu nằm trong khung từ 3 triệu đến 6 triệu đồng/ tháng Đối

Ngày đăng: 12/10/2016, 15:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành TW Đảng (2002), “Củng cố hòan thiện mạng lưới y tế cơ sở”, Ch thị 06/CT-TW ngày 22/01/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Củng cố hòan thiện mạng lưới y tế cơ sở
Tác giả: Ban chấp hành TW Đảng
Năm: 2002
2. Ban chấp hành W Đảng (1993), “Những vấn đề cấp bách trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân”, Nghị quyết IV khóa VII ngày 14/01/1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cấp bách trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân
Tác giả: Ban chấp hành W Đảng
Năm: 1993
18. Nguyễn thị thanh Nga, Chu Bích Thu, Nguyễn Ngọc Trâm, Nguyễn Thúy Khanh, Phạm Hùng Việt (2002), Từ điển tiếng việt phổ thông, Viện ngôn ngữ học, Nhà xuất bản TPHCM. 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng việt phổ thông
Tác giả: Nguyễn thị thanh Nga, Chu Bích Thu, Nguyễn Ngọc Trâm, Nguyễn Thúy Khanh, Phạm Hùng Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản TPHCM. 27
Năm: 2002
28. Nguyễn Thanh Sơn (2007) “ Đánh giá mức độ hài lòng về dịch vụ y tế cơ sở tại Huyện Bình Chánh năm 2006” Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá mức độ hài lòng về dịch vụ y tế cơ sở tại Huyện Bình Chánh năm 2006
3. Ban chấp hành TW Đảng (2005), Nghị quyết của Bộ chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe cho nhân dân trong tình hình mới Khác
4. Bộ y tế (2002), Quyết định số 437/QĐ-BYT của Bộ Trưởng Bộ Y tế ngày 20//2/2002 về việc ban hành, danh mục trang thiết bị y tế cho bệnh viện đa khoa, tĩnh, huyện, phòng khám đa khoa khu vực, trạm y tế xã và túi y tế thôn bản” Khác
5. Bộ y tế (2000), Chương trình hành động của Bộ y tế thực hiện nghị quyết đại hội lần thứ IX và Quyết định số 35 của Thủ Tướng Chính Phủ về chiến lược chăm sóc sức khỏe và bảo vệ sức khỏe nhân dân giai đọan 2001-2010 Khác
6. Bộ y tế (2001), Chương trình hành động của ngành y tế thực hiện Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IV va quyết định 35 của Thủ Tướng Chính phủ và chiến lược chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân giai đọan 2001-2010 Khác
7. Bộ Y tế (2002), Quyết định số 2271/2202/QĐ-BYT ngày 17/6/2002 của Bộ Trưởng Bộ Y tế về việc ban hành tiêu chuẩn thiết kế trạm y tế cơ sở tiêu chuẩn ngành 52/CN-TCYT 001 : 20020 Khác
8. Bộ Y Tế (2002), Điều tra y tế quốc gia 2001-2002 do Bộ Y tế và Tổng Cục Thống Kê thực hiện Khác
9. Nguyễn Quang Cừ, Những thuận lợi và thách thức trong thực hiện chính sách khám chữa bệnh cho người nghèo ở Việt Nam www.moh.gov.vn truy cập ngày 12/07/2008. 24 Khác
10. Chính Phủ (2005), Quyết định 243/2005/QĐ-TT ngày 5/10/2004 của Thủ Tướng Chính Phủ về việc Ban hành chương trình hành động của Chính Phủ thực hiện nghị Quyết số 46/NQ-TW ngày 23/2/2005 của Bộ Chính trị về Công tác bảo vệ và chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới Khác
11. Chính phủ (2006), Quyết định số 153/2001/QĐ-TTg ngày 30/0/2006 của Thủ Tướng chính phủ về phê duyệt qui họach tổng thể phát triển hệ thống y tế Việt Nam giai đọan 2010 và tấm nhìn 2020 Khác
12. G.Endruweit và G.trommsdorff (2002) Từ điển xã hội học/ Người dịch là Nguyễn Hữu Tâm và Nguyễn Hoài Bão, Nhà xuất bản thế giới, Hà Nội Khác
13. Lê Văn Gắt (2008), Đánh giá kết quả hoạt động chăm sóc sức khỏe ban đầu của các trạm y tế xã huyện Bình Chánh thành phố Hồ Chí Minh năm 2007, Luận án chuyên khoa cấp II Trường Đại Học Y Khoa Huế.20 Khác
14. Vũ Quang Hà (2002), Các lỹ thuyết xã hội học, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.1 Khác
15. Lê Ngọc Hùng (2002), Lịch sử và lý thuyết xã hội học, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
16. Hồ Minh Nên (2005), Nghiên cứu tình hình hoạt động của các TYT huyện Sơn Hà t nh Quảng Ngãi từ năm 2000- 2004, Luận án chuyên khoa cấp II, Trường đại học Y Khoa Huế.18 Khác
17. Nguyễn Văn Ngọt (2007), Hiệu quả hoạt động của trạm y tế xã dựa trên các chuẩn quốc gia về y tế xã tại huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh, năm 2007, Luận án chuyên khoa cấp II, Trường Đại Học Y Khoa Tp.Hồ Chí Minh .25 Khác
19. Therese L.Baker (1998) Thực hành nghiên cứu xã hội học, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2. Thống kê số lượng cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh  ình Dương - Tiếp cận và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của nữ công nhân nhập cư và các yếu tố ảnh hưởng” (nghiên cứu trường hợp tại khu công nghiệp VSIP II, thành phố thủ dầu một, tỉnh bình dương)
Bảng 1.2. Thống kê số lượng cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh ình Dương (Trang 33)
Bảng 2.2 cho thấy trong số 200 người được khảo sát, thì số công nhân  quê ở Đồng bằng sông Cửu Long và Bắc trung bộ chiếm tỷ lệ cao nhất - Tiếp cận và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của nữ công nhân nhập cư và các yếu tố ảnh hưởng” (nghiên cứu trường hợp tại khu công nghiệp VSIP II, thành phố thủ dầu một, tỉnh bình dương)
Bảng 2.2 cho thấy trong số 200 người được khảo sát, thì số công nhân quê ở Đồng bằng sông Cửu Long và Bắc trung bộ chiếm tỷ lệ cao nhất (Trang 37)
Bảng 2.6. Tình trạng thu nhập của nữ công nhân nhập cƣ - Tiếp cận và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của nữ công nhân nhập cư và các yếu tố ảnh hưởng” (nghiên cứu trường hợp tại khu công nghiệp VSIP II, thành phố thủ dầu một, tỉnh bình dương)
Bảng 2.6. Tình trạng thu nhập của nữ công nhân nhập cƣ (Trang 41)
Bảng 2.7. Mỗi quan hệ giữa thu nhập và mức độ thường xuyên đi - Tiếp cận và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của nữ công nhân nhập cư và các yếu tố ảnh hưởng” (nghiên cứu trường hợp tại khu công nghiệp VSIP II, thành phố thủ dầu một, tỉnh bình dương)
Bảng 2.7. Mỗi quan hệ giữa thu nhập và mức độ thường xuyên đi (Trang 42)
Bảng 2.8. Mức độ thường xuyên đi khám bệnh của nữ công nhân nhập cư - Tiếp cận và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của nữ công nhân nhập cư và các yếu tố ảnh hưởng” (nghiên cứu trường hợp tại khu công nghiệp VSIP II, thành phố thủ dầu một, tỉnh bình dương)
Bảng 2.8. Mức độ thường xuyên đi khám bệnh của nữ công nhân nhập cư (Trang 44)
Bảng 2.10. Mức độ thường xuyên khám bệnh của nữ CNNC  Mức độ thường xuyên đi khám - Tiếp cận và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của nữ công nhân nhập cư và các yếu tố ảnh hưởng” (nghiên cứu trường hợp tại khu công nghiệp VSIP II, thành phố thủ dầu một, tỉnh bình dương)
Bảng 2.10. Mức độ thường xuyên khám bệnh của nữ CNNC Mức độ thường xuyên đi khám (Trang 45)
Bảng 2.14. Nơi đi khám bệnh của nữ công nhân nhập cƣ - Tiếp cận và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của nữ công nhân nhập cư và các yếu tố ảnh hưởng” (nghiên cứu trường hợp tại khu công nghiệp VSIP II, thành phố thủ dầu một, tỉnh bình dương)
Bảng 2.14. Nơi đi khám bệnh của nữ công nhân nhập cƣ (Trang 50)
Bảng 2.16. Nhận thức của nữ công nhân nhập cƣ trong việc để khám - Tiếp cận và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của nữ công nhân nhập cư và các yếu tố ảnh hưởng” (nghiên cứu trường hợp tại khu công nghiệp VSIP II, thành phố thủ dầu một, tỉnh bình dương)
Bảng 2.16. Nhận thức của nữ công nhân nhập cƣ trong việc để khám (Trang 53)
Bảng 3.1.Mỗi quan hệ giữa tình trạng hôn nhân và mức độ thường xuyên - Tiếp cận và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của nữ công nhân nhập cư và các yếu tố ảnh hưởng” (nghiên cứu trường hợp tại khu công nghiệp VSIP II, thành phố thủ dầu một, tỉnh bình dương)
Bảng 3.1. Mỗi quan hệ giữa tình trạng hôn nhân và mức độ thường xuyên (Trang 63)
Bảng 3.2. Mỗi quan hệ giữa thời gian và mức độ thường xuyên đi khám - Tiếp cận và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của nữ công nhân nhập cư và các yếu tố ảnh hưởng” (nghiên cứu trường hợp tại khu công nghiệp VSIP II, thành phố thủ dầu một, tỉnh bình dương)
Bảng 3.2. Mỗi quan hệ giữa thời gian và mức độ thường xuyên đi khám (Trang 66)
Bảng 3.4 cho thấy phần lơn nữ công nhân nhập cư ít khi đi khám bệnh  định kỳ cho rằng, CSVC phục vụ cho việc khám, chữa bệnh hiện nay là chưa  tốt, điều này có ảnh hưởng tới việc tiếp cận các dịch vụ CSSK cho họ - Tiếp cận và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của nữ công nhân nhập cư và các yếu tố ảnh hưởng” (nghiên cứu trường hợp tại khu công nghiệp VSIP II, thành phố thủ dầu một, tỉnh bình dương)
Bảng 3.4 cho thấy phần lơn nữ công nhân nhập cư ít khi đi khám bệnh định kỳ cho rằng, CSVC phục vụ cho việc khám, chữa bệnh hiện nay là chưa tốt, điều này có ảnh hưởng tới việc tiếp cận các dịch vụ CSSK cho họ (Trang 70)
Bảng 2. Nhóm tuổi của con - Tiếp cận và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của nữ công nhân nhập cư và các yếu tố ảnh hưởng” (nghiên cứu trường hợp tại khu công nghiệp VSIP II, thành phố thủ dầu một, tỉnh bình dương)
Bảng 2. Nhóm tuổi của con (Trang 83)
Bảng 3. Trình độ học vấn - Tiếp cận và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của nữ công nhân nhập cư và các yếu tố ảnh hưởng” (nghiên cứu trường hợp tại khu công nghiệp VSIP II, thành phố thủ dầu một, tỉnh bình dương)
Bảng 3. Trình độ học vấn (Trang 83)
Bảng 4.  Loại hình nhà ở - Tiếp cận và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của nữ công nhân nhập cư và các yếu tố ảnh hưởng” (nghiên cứu trường hợp tại khu công nghiệp VSIP II, thành phố thủ dầu một, tỉnh bình dương)
Bảng 4. Loại hình nhà ở (Trang 84)
Bảng 5. Thực trạng bệnh tật của nữ công nhân - Tiếp cận và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của nữ công nhân nhập cư và các yếu tố ảnh hưởng” (nghiên cứu trường hợp tại khu công nghiệp VSIP II, thành phố thủ dầu một, tỉnh bình dương)
Bảng 5. Thực trạng bệnh tật của nữ công nhân (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w