1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Mối Liên quan giữa cholesterol toàn phần và HDL cholesterol huyết tương với ý tưởng và hành vi tự sát ở bệnh nhân rối loạn trầm cảm chủ yếu

6 113 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 382,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của bài viết là tìm hiểu mối liên quan giữa nồng độ cholesterol toàn phần và HDL-cholesterol trong huyết tương với ý tưởng tự sát ở bệnh nhân rối loạn trầm cảm chủ yếu.

Trang 1

MỐI LIÊN QUAN GIỮA CHOLESTEROL TOÀN PHẦN VÀ HDL-CHOLESTEROL HUYẾT TƯƠNG VỚI Ý TƯỞNG VÀ

HÀNH VI TỰ SÁT Ở BỆNH NHÂN RỐI LOẠN TRẦM CẢM CHỦ YẾU

Nguyễn Trọng Đạo 1 ; Trịnh Quốc Việt 2

Nguyễn Hữu Chỉnh 3

; Bùi Quang Huy 1

TÓM TẮT

Mục tiêu: tìm hiểu mối liên quan giữa nồng độ cholesterol toàn phần và HDL-cholesterol trong

huyết tương với ý tưởng tự sát ở bệnh nhân rối loạn trầm cảm chủ yếu Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 74 bệnh nhân rối loạn trầm cảm chủ yếu điều trị tại Khoa Tâm thần, Bệnh viện Quân y 103 Bệnh nhân được chia thành ba nhóm: nhóm 1 gồm 30 bệnh nhân trầm cảm không có ý tưởng tự sát; nhóm 2 gồm 27 bệnh nhân trầm cảm có ý tưởng tự sát và nhóm 3: 17 bệnh nhân trầm cảm có hành vi tự sát Định lượng nồng độ cholesterol toàn phần và HDL-cholesterol ở cả ba nhóm bệnh nhân Kết quả: có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nồng độ HDL-cholesterol giữa ba nhóm bệnh nhân nam giới trầm cảm Trong phân tích đường cong ROC đối với ý tưởng tự sát và hành vi tự sát ở bệnh nhân nam trầm cảm, nồng độ HDL-cholesterol giúp tiên lượng ý tưởng tự sát và hành vi tự sát lần lượt là 1,07 mmol/l và 0,9 mmol/l Không có sự khác biệt về nồng độ cholesterol toàn phần giữa ba nhóm bệnh nhân Kết

luận: HDL-cholesterol có khả năng tiên lượng ý tưởng tự sát ở bệnh nhân rối loạn trầm cảm

chủ yếu nam giới

* Từ khóa: Rối loạn trầm cảm chủ yếu; Ý tưởng tự sát; Hành vi tự sát; Cholesterol toàn phần; HDL-cholesterol

The Association between Serum Total Cholesterol, HDL-Cholesterol and Suicidal Ideation and Behavior in Patients with Major Depressive Disorder

Summary

Objectives: To evaluate the association between serum total cholesterol, cholesterol in high density lipoprotein and suicidal ideation and behavior in patient with major depressive disorder Subjects and methods: A cross-sectional study was conducted on 74 inpatients with major depressive disorder in Department of Psychiatry, 103 Military Hospital Patients were divided into three groups: group 1 included 30 depressive patients without suicidal ideation; group 2 included 27 depressive patients with suicidal ideation and group 3 included 17 depressive patients with suicidal behavior Quantitative assays of serum total cholesterol and HDL-cholesterol

1 Bệnh viện Quân y 103

2 Đại học Y Dược Hải Phòng

3 Bệnh viện Tâm thần TW I

Người phản hồi (Corresponding): Nguyễn Trọng Đạo (trongdao103@gmail.com)

Ngày nhận bài: 16/07/2018; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 15/09/2018

Trang 2

for all three groups were done Results: Significant differences in serum HDL-cholesterol levels were observed among three groups In ROC analysis, the cut-off points of mean serum HDL-cholesterol which can be used as indicator for suicidal ideation and suicidal behavior were 1.07 mmol/L and 0.9 mmol/L, respectively Conclusion: Serum HDL-cholesterol can be used

as an indicator for diagnosis of suicidal ideation and behavior in male patients with major depressive disorder

* Keywords: Major depressive disorder; Suicidal ideation; Suicidal behavior; Total cholesterol; HDL-cholesterol

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rối loạn trầm cảm là nguyên nhân hàng

đầu dẫn đến hành vi tự sát (HVTS) Nhiều

nghiên cứu cho thấy có tới 75% số trường

hợp tự sát liên quan đến trầm cảm; trong đó

10 - 15% bệnh nhân (BN) tự sát thành công

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, mỗi năm trên

toàn cầu có gần một triệu người tử vong do

tự sát, cứ 40 giây có một trường hợp tự sát

thành công và số người có ý định tự sát cao

gấp 20 lần Vì vậy, phát hiện sớm ý tưởng

tự sát (YTTS) ở BN trầm cảm và có phương

án điều trị kịp thời có ý nghĩa to lớn

Trên thế giới, nhiều nghiên cứu chỉ ra

mối liên quan giữa nồng độ cholesterol với

ý tưởng, HVTS ở BN rối loạn trầm cảm

Theo Engelberg H, suy giảm nồng độ

cholesterol huyết tương có liên quan đến

thay đổi về tính thấm của màng tế bào

thần kinh, chức năng thụ thể và chất dẫn

truyền serotonin, cũng như giảm tiền chất

serotonin; từ đó làm gia tăng ý tưởng và

HVTS Tuy nhiên, tại Việt Nam hiện nghiên

cứu về vấn đề này còn chưa nhiều Vì vậy,

chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm

mục tiêu: Phân tích mối liên quan giữa

cholesterol toàn phần, HDL-cholesterol trong huyết tương với ý tưởng và HVTS

ở BN rối loạn trầm cảm chủ yếu

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

74 BN (≥ 18 tuổi) điều trị nội trú tại Khoa Tâm thần, Bệnh viện Quân y 103,

BN được chẩn đoán rối loạn trầm cảm chủ yếu theo tiêu chuẩn chẩn đoán DSM-5 của Hội Tâm thần học Hoa Kỳ và chia thành

ba nhóm:

- Nhóm 1: 30 BN rối loạn trầm cảm chủ yếu không có YTTS

- Nhóm 2: 27 BN rối loạn trầm cảm chủ yếu có YTTS

- Nhóm 3: 17 BN rối loạn trầm cảm chủ yếu có HVTS

2 Phương pháp nghiên cứu

- Thiết kế: tiến cứu, mô tả cắt ngang;

BN được lấy máu tĩnh mạch xét nghiệm vào sáng hôm sau ngày nhập viện, BN nhịn ăn trong vòng 6 giờ trước thời điểm lấy máu

- Phân loại mức độ HDL-C dựa vào phân loại của Khoa Sinh hóa, Bệnh viện

Trang 3

Quân y 103: nồng độ HDL-C bình thường

> 0,9 mmol/l

- Xử lý thống kế bằng phần mềm

SPSS 20.0 Trong đó, tương quan của

các biến định danh được phân tích qua

bảng 2 x 2 với phép kiểm Chi bình phương

hoặc Fisher’s exact (nếu một ô có giá trị

mong đợi < 2 hoặc 25% các ô có giá trị

mong đợi < 5) Sự khác biệt về các biến

định lượng có phân phối chuẩn trong

3 nhóm không có YTTS, có YTTS và có

HVTS được phân tích bằng kiểm định

phương sai ANOVA và kiểm định hậu

ANOVA bằng phương pháp Tamhane’s

T2

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ

BÀN LUẬN

* Đặc điểm lâm sàng của rối loạn trầm cảm chủ yếu:

Khí sắc giảm: 73 BN (98,65%); mất hoặc giảm hứng thú, sở thích trước đây: 67 BN (90,54%); mất, giảm cảm giác ngon miệng:

70 BN (94,59%); mất ngủ: 74 BN (100%);

rối loạn tâm thần vận động: 53 BN (71,62%);

mệt mỏi: 73 BN (98,65%); cảm giác vô dụng: 32 BN (43,24%); giảm tập trung, chú ý: 65 BN (87,84%); có ý tưởng, HVTS:

44 BN (59,46%) Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Sadock B.J (2015): hầu hết

BN trầm cảm đều có khí sắc giảm, mất hứng thú và sở thích, mất ngủ và chán ăn

Bảng 1: Mối liên quan giữa nồng độ cholesterol toàn phần với ý tưởng và HVTS

Nồng độ cholesterol toàn phần

Nam

> 0,05

Nữ

> 0,05

Kết quả cho thấy không có sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê về nồng độ cholesterol

toàn phần với ý tưởng, HVTS giữa ba

nhóm BN ở cả hai giới

Kết quả này tương tự như với một số

nghiên cứu trước đó Park S và CS (2012)

nghiên cứu trên 221 BN trầm cảm (67 BN

tử vong do tự sát và 175 BN không có YTTS) nhận thấy không có sự khác biệt

về nồng độ cholesterol toàn phần giữa hai nhóm Park Y.M và CS (2014) nghiên cứu 73 BN trầm cảm cũng nhận thấy không có mối liên quan giữa nồng độ cholesterol toàn phần và LDL-C giữa hai nhóm có YTTS và không có YTTS

Trang 4

Bảng 2: Mối liên quan giữa nồng độ HDL-C ở ba nhóm BN nam không có YTTS,

có YTTS và HVTS

Nồng độ HDL-C

BN

Ở nam, BN trầm cảm có nồng độ HDL-C mức độ cao chủ yếu gặp ở BN không có YTTS (52,38%), tiếp đến là nhóm có YTTS (28,57%) và thấp nhất ở nhóm BN có HVTS (19,05%) Như vậy, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nồng độ HDL-C giữa

ba nhóm BN với p = 0,006

Dimopoulos N và CS nghiên cứu trên BN trầm cảm cao tuổi cũng cho thấy BN có YTTS có nồng độ HDL-C thấp hơn so với nhóm BN trầm cảm không có YTTS Theo Maes M và CS (1994), mối liên quan giữa cholesterol với ý tưởng và HVTS ở BN trầm cảm là do bất thường của haptoglobin kết nối với nhiễm sắc thể 16, là nơi mã hóa enzym lecithin cholesterol acetyltransferase (LCAT) Enzym LCAT chịu trách nhiệm chính trong việc ester hóa hầu hết cholesterol tự do trong huyết tương

Bảng 3: Mối liên quan giữa nồng độ HDL-C ở ba nhóm BN nữ không có YTTS,

có YTTS và HVTS

Nồng độ HDL-C

BN

Ở nữ, chúng tôi ghi nhận BN có nồng độ HDL-C cao chủ yếu tập trung ở nhóm không có YTTS (38,10%) Tuy nhiên, sự khác biệt về nồng độ HDL-C giữa ba nhóm BN không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05

Trang 5

Hình 1: Đường cong ROC của nồng độ

HDL-C giữa hai nhóm có YTTS và

có HVTS ở nam giới

HDL-C giữa hai nhóm không có YTTS và

có YTTS ở nam giới

Phân tích đường cong ROC giữa hai

nhóm có YTTS và nhóm có HVTS ở nam

giới, diện tích dưới đường cong là 0,818

(95%CI: 0,610 - 1,026), p = 0,026 Như vậy,

đường cong ROC có ý nghĩa để xác định

YTTS và HVTS ở BN trầm cảm nam giới

Với điểm cắt HDL-C = 0,95 mmol/l,

xét nghiệm HDL-C có độ chính xác cao

nhất giúp chẩn đoán HVTS với độ nhạy

100,0%, độ đặc hiệu 57,1%

Trong phân tích đường cong ROC giữa hai nhóm không có YTTS và có YTTS, diện tích dưới đường cong là 0,741 (95%CI: 0,552 - 0,931), p = 0,036 Như vậy, đường cong ROC có ý nghĩa trong xác định YTTS và HVTS ở BN trầm cảm nam giới Theo chỉ số Youden, với điểm cắt HDL-C = 1,07 mmol/l, xét nghiệm HDL-C giúp xác định HVTS với độ nhạy 90,9%,

độ đặc hiệu 62,5%

Chúng tôi xác định hai điểm cắt của nồng độ HDL-C huyết tương nhằm góp phần giúp các bác sỹ có cơ sở xác định

ý tưởng và HVTS ở BN rối loạn trầm cảm chủ yếu Từ đó, có kế hoạch điều trị và tiên lượng kịp thời Hiện nay mới chỉ có một nghiên cứu của Kim Y.K và CS (2004) dùng điểm cắt của nồng độ cholesterol toàn phần để xác định YTTS ở BN trầm cảm

KẾT LUẬN

Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nồng độ cholesterol toàn phần giữa ba nhóm BN trầm cảm không

có YTTS, trầm cảm có YTTS và trầm cảm

có HVTS

Nồng độ HDL-C ở nam khác biệt có

ý nghĩa thống kê giữa ba nhóm BN không

có YTTS , có YTTS và HVTS

Với điểm cắt 0,95 mmol/l và 1,07 mmol/l, nồng độ HDL-C giúp xác định HVTS và YTTS ở BN trầm cảm nam giới

1- Độ đặc hiệu

1- Độ đặc hiệu

Trang 6

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Trần Văn Cường Điều tra dịch tễ lâm

sàng một số bệnh tâm thần thường gặp ở các

vùng kinh tế - xã hội khác nhau ở nước ta

hiện nay Đề tài Nghiên cứu Khoa học cấp Bộ

(đã nghiệm thu) Bệnh viện Tâm thần Trung

ương I Hà Nội 2002

2 Sadock B.J S.V.A, Ruiz P Kaplan &

Sadock's Synopsis of Psychiatry Lippincott

Williams & Wilkins, Philadelphia 2015, Vol 11,

p.1472

3 Sarchiapone M, Roy A, Camardese G et al

Further evidence for low serum cholesterol

and suicidal behaviour J Affect Disord 2000,

61 (1-2), pp.69-71

4 Engelberg H Low serum cholesterol and

suicide Lancet 1992, 339 (8795), pp.727-729

5 Kim Y.K, Myint A.M Clinical application

of low serum cholesterol as an indicator for

suicide risk in major depression J Affect Disord

2004, 81 (2), pp.161-166

6 Park S, Yi K.K, Na R et al No association

between serum cholesterol and death by suicide in patients with schizophrenia, bipolar

affective disorder, or major depressive disorder Behavioral and Brain Functions BBF 2013, 9,

pp.253-261

7 Park Y.M, Lee B.H, Lee S.H The

association between serum lipid levels, suicide ideation, and central serotonergic activity in patients with major depressive

disorder J Affect Disord 2014, 159, pp.62-65

8 Dimopoulos N, Piperi C, Salonicioti A et

al Characterization of the lipid profile in

dementia and depression in the elderly

J Geriatr Psychiatry Neurol 2007, 20 (3), pp.138-144

9 Maes M, Smith R, Christophe A et al

Lower serum high-density lipoprotein cholesterol (HDL-C) in major depression and in depressed men with serious suicidal attempts: Relationship

with immune-inflammatory markers Acta

Psychiatr Scand 1997, 95 (3), pp.212-221.

Ngày đăng: 22/01/2020, 18:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w